Khái niệm Phân tích tình hình tài chính là một tập hợp các công cụ và phương pháp chophép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanhnghiệp, nhằm đánh
Trang 1
Trang 2
Trang 3
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 3
1.1 Một số vấn đề về tài chính doanh nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tài chính doanh nghiệp 3
1.1.2 Chức năng , vai trò của tài chính doanh nghiệp 3
1.2 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiêp 5
1.2.1 Khái niệm 5
1.2.2 Mục đích phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 5
1.2.3 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 6
1.3 Phương pháp phân tích tài chính 8
1.3.1 Phương pháp so sánh 8
1.3.2 Phương pháp liên hệ cân đối 9
1.3.3 Phương pháp tỷ lệ 10
1.3.4 Phương pháp loại trừ 10
1.4 Nội dung phân tích tài chính 11
1.5 Tài liệu để phân tích tài chính 12
1.5.1 Bảng cân đối kế toán (mẫu B01-DN) 12
1.5.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (mẫu B02-DN) 13
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ XDGT 16
2.1 Giới thiệu công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Xây dựng Giao thông 16
2.1.1 Giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của Công ty: 16
2.1.2 Phạm vi hoạt động và các công trình tiêu biểu của công ty: 16
2.1.2.1 Ngành nghề kinh doanh 16
2.1.2.2 Phạm vi hoạt động và các công trình tiêu biểu 17
Trang 4dựng giao thông vận tải 21
2.3 Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty tư vấn đầu tư và xây dựng giao thông vận tải năm 2009 22
2.4 Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Xây dựng Giao thông 23
2.4.1 Ý nghĩa của phân tích khái quát tình hình tài chính 23
2.4.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty qua Bảng cân đối kế toán 23
2.4.2.1 Phân tích qui mô vốn 23
2.4.2.2 Phân tích khả năng huy động vốn 24
2.4.3 Phân tích khả năng tự chủ và khả năng thanh toán 25
2.4.3.1 Phân tích khả năng tự chủ tài chính 25
2.4.3.2 Phân tích khả năng thanh toán 27
2.4.4 Phân tích tình hình đầu tư dài hạn 28
2.5 Tốc độ phát triển 29
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CHI TIẾT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG GIAO THÔNG VẬN TẢI 32
3.1 Phân tích chi tiết tình hình phân bố vốn và cơ cấu nguồn vốn 32
3.1.1 Phân tích tình hình biến động và phân bố tài sản 32
3.1.1.1 Phương pháp phân tích 32
3.1.1.2 Phân tích biến động tài sản 35
3.1.1.3 Phân tích phân bổ tài sản 36
3.1.2 Phân tích tình hình biến động và cơ cấu nguồn vốn: 37
3.1.2.1 Phương pháp phân tích 37
3.1.2.2 Phân tích biến động nguồn vốn 39
3.1.2.3 Phân tích cơ cấu nguồn vốn 39
Trang 53.2.1 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh bằng nguồn vốn chủ sở hữu 40
3.2.2 Phân tích tình hình đảm bảo vốn kinh doanh bằng nguồn vốn chủ sở hữu cộng với vay ngắn hạn và vay dài hạn 42
3.3 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán 43
3.3.1 Phân tích tình hình công nợ 43
3.3.1.1 Phân tích các khoản phải thu 43
3.3.1.2 Phân tích các khoản phải trả 46
3.3.2 Phân tích khả năng thanh toán 49
3.3.3 Thanh toán với nhà nước 56
3.3.3.1 Phương pháp phân tích 57
3.3.3.2 Phân tích tình hình thanh toán với ngân sách nhà nước của công ty tư vấn đầu tư và xây dựng giao thông vận tải 58
3.4 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn 59
3.4.1 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định 60
3.4.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động 64
3.4.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh 69
3.5 Phân tích tình hình tài chính qua Báo cáo kết quả kinh doanh 71
3.5.1 Phân tích nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng chi phí 72
3.5.2 Phân tích nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh: 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Hạch toán kế toán và phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp là một bộphận cấu thành quan trọng của hệ công cụ quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò tíchcực trong việc quản lý, điều hành, kiểm soát các hoạt động kinh doanh Hiện nay,
-*** -cơ chế quản lý kinh tế, tài chính ở nước ta đã và đang có những đổi mới sâu sắc vàtriệt để Chúng ta đã và đang định hướng và điều chỉnh các mục tiêu kinh tế ở từnggiai đoạn của một nền kinh tế thị trường, năng động có sự quản lý, điều tiết của Nhànước Hàng loạt chính sách kinh tế mới được đề cao và đặt đúng vai trò, vị trí củaNhà nước trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát nền kinh tế bằng luật pháp vàbằng các biện pháp kinh tế, các hệ công cụ quản lý kinh tế
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển đỏi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải có lãi Để đạt được kết quả cao nhất trong sản xuất và kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định phương h-ướng mục tiêu trong đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện sẵn có về các nguồn nhân tài, vật lực Muốn vậy, các Công ty cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức
độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở của phân tích tình hình tài chính Công ty
Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư và giao thông vận tải,
và sự phân công của bộ môn Kinh tế Xây dựng, em xin trình bày đề tài “Phân tíchtình hình tài chính ở Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng giao thông vận tảinăm 2009”
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô đã trang bị những kiến thức bổ ích cho
Trang 7em trong những năm học vừa qua, và đặc biệt là cảm ơn thầy TS Nguyễn Quỳnh
Sang đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đề tài này
Hà Nội, Ngày 26 tháng 3 năm 2011
Sinh viên
Hồ Thị Thu Thủy
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP1.1 Một số vấn đề về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tài chính doanh nghiệp
a Khái niệm:
Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trìnhtạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp
b Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp:
- Gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có các quan
hệ tài chính doanh nghiệp đa dạng phát sinh như quan hệ nộp, cấp giữa doanhnghiệp với nhà nước, quan hệ thanh toán với chủ thể khác trong xã hội, với ngườilao động trong doanh nghiệp
- Sự vận động của quỹ tiền tệ, vốn kinh doanh có những nét riêng biệt đó là: sựvận động của vốn kinh doanh luôn gắn liền với các yếu tố vật tư và lao động, ngoàiphần tạo lập ban đầu chúng còn được bổ sung từ kết quả kinh doanh; sự vận độngcủa vốn kinh doanh vì mục tiêu doanh lợi
1.1.2 Chức năng , vai trò của tài chính doanh nghiệp
a Chức năng của tài chính doanh nghiệp
- Chức năng phân phối: chức năng phân phối là một chức năng vốn có kháchquan của tài chính doanh nghiệp Nó thể hiện công dụng của tài chính trong việcphân phối của cải xã hội trên các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh vì để tiếnhành sản xuất kinh doanh cần có vốn để xây dựng nhà cửa, mua sắm máy móc thiết
bị (vốn cố định), nguyên vật liệu, nhân công (vốn lưu động) Mặt khác sau khi kếtthúc một chu kì sản xuất doanh nghiệp sẽ thu được một khoản thu nhập nhằm bùđắp những hao phí bỏ ra, nộp cho nhà nước, một phần được chia cho các thành viên
và nhập quỹ doanh nghiệp
- Chức năng giám đốc: là chức năng vốn có của tài chính doanh nghiệp Nó thểhiện khả năng của tài chính trong việc giám sát tính mục đích, tính hiệu quả củaviệc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Biểu hiện của chức năng này
là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ
Trang 9b Vai trò của tài chính doanh nghiệp:
- Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp
Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trước hết phải có mộtyếu tố tiền đề đó là vốn kinh doanh Vai trò của tài chính trước hết được thể hiện ởviệc xác định đúng đắn nhu cầu cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trongtừng thời kỳ Tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốnthích hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn về hoạt động của các doanh nghiệpđược thực hiện một cách nhịp nhàng liên tục với chi phí huy động vốn thấp nhất
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả
Việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại vàphát triển của mọi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọngtrong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra dự án đầu tư tối ưu; huy độngtối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, phân bổ hợp lý các nguồn vốn, sửdụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lờicủa vốn kinh doanh
- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh
Vai trò của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo ra sứcmua hợp lý để thu hút vốn đầu tư , lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giábán hợp lý khi phát hành cổ phiếu, hàng hoá bán, dịch vụ và thông qua hoạt độngphân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ tiền thưởng, quỹ tiền lương,thực hiện các hợp đồng kinh tế
- Giám sát kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung thựcnhất mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các chỉ tiêu tài chínhthực hiện mà các nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trìnhkinh doanh của doanh nghiệp, để từ đó có thể đánh giá khái quát và kiểm soát đượccác mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại
để từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm đạt tớimục tiêu đã định
Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trước hết làphụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài chính, sau nữa còn
Trang 10phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính doanh nghiệp và cácnguyên tắc cần quán triệt trong mọi hoạt động tài chính doanh nghiệp.
1.2 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiêp
1.2.1 Khái niệm
Phân tích tình hình tài chính là một tập hợp các công cụ và phương pháp chophép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanhnghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính hiện tại và trong quá khứ của doanhnghiệp, đánh giá hiệu quả kinh doanh cũng như đánh giá khả năng và tiềm lực củadoanh nghiệp, giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định tài chính và quyết địnhquản lý phù hợp
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp, mà trọng tâm là phân tích các báocáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phươngpháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp cho việc đánh giá toàn diện, tổng hợp,khái quát và xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính của doanh nghiệp Trên
cơ sở đó nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra các quyết định tài chính, quyết địnhtài trợ đầu tư phù hợp
1.2.2 Mục đích phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
- Phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho cácnhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác để họ có thể ra các quyết định
về đầu tư, tín dụng và các quyết định tương tự Thông tin phải dễ hiểu đối vớinhững người có một trình độ tương đối về kinh doanh và các hoạt động kinh tế màmuốn nghiên cứu các thông tin này
- Phân tích tài chính doanh nghiệp cũng nhằm cung cấp thông tin để giúp cácnhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác đánh giá số lượng thời gian vàrủi ro của những khoản thu bằng tiền từ cổ tức hoặc lãi Vì các dòng tiền của cácnhà đầu tư liên quan với các dòng tiền của doanh nghiệp nên quá trình phân tíchphải cung cấp thông tin để giúp họ đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của cácdòng tiền thu thuần dự kiến của doanh nghiệp
- Phân tích tài chính doanh nghiệp cũng phải cung cấp thông tin về các nguồnlực kinh tế của một doanh nghiệp, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các nguồn lựcnày và các tác động của những nghiệp vụ kinh tế, những sự kiện và những tìnhhuống mà có làm thay đổi các nguồn lực đó
Trang 11Phân tích tài chính doanh nghiệp căn cứ trên những nguyên tắc về tài chínhdoanh nghiệp để phân tích đánh giá tình hình thực trạng và triển vọng của hoạtđộng tài chính, vạch ra những mặt tích cực và tồn tại của việc thu chi tiền tệ, xácđịnh nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố Trên cơ sở đó đề ra cácbiện pháp tích cực nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp.
Phân tích tài chính không phải là một quá trình tính toán các tỷ số mà là quátrình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý và điều hành tài chính ở doanh nghiệp
mà được phản ảnh trên các báo cáo tài chính
Phân tích tài chính là đánh giá những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽxẩy ra, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triệt để các điểm mạnhkhắc phục các điểm yếu làm sao cho các con số trên các báo cáo phân tích đó
“biết nói” để những người sử dụng chúng có thể hiểu rõ tình hình tài chính củadoanh nghiệp và các mục tiêu, các phương pháp hành động của những nhà quản
lý doanh nghiệp đó
1.2.3 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp có mối quan hệ trực tiếp với hoạtđộng sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp Do đó tất cả các hoạt động sản xuấtkinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Ngượclại tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối vớiquá trình sản xuất kinh doanh
Hoạt động tài chính là nội dung chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh.Các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tình hình của các mặt hoạt động củadoanh nghiệp, bằng các chỉ tiêu kinh tế, những báo cáo này do kế toán soạn thảođịnh kỳ, nhằm mục đích cung cấp thông tin về kết quả và tình hình tài chính củadoanh nghiệp, hoặc của tổ chức cho những người cần sử dụng chúng Tuy nhiên,nhu cầu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của những người sử dụng rấtkhác nhau, phụ thuộc vào hoạt động chức năng của họ nội dung này được kháiquát như sau
a Đối với nhà quản trị doanh nghiệp
Cần sử dụng thông tin cho việc quyết định cho các mục tiêu điều hành hoạtđộng sản xuất kinh doanh, thực sự hiệu quả thể hiện cụ thể ở cả hai lĩnh vực: lĩnh
Trang 12vực sản xuất kinh doanh và lĩnh vực tài chính Trong sản xuất kinh doanh, vấn đềđặt ra là quản lý chi phí và giá thành trong mối quan hệ với chất lượng sản phẩm,
tổ chức tốt khâu cung ứng đầu vào và ra Trong hoạt động tài chính, cần chú ývấn đề vốn và nguồn huy động sao cho cơ cấu của nguồn vốn đảm bảo chi phí sửdụng vốn là tối ưu Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp nhàquản trị có một cái nhìn tổng quát của việc điều hành hoạt động sản xuất kinhdoanh trong năm qua, dự đoán năng lực tài chính của doanh nghiệp để từ đó lập
kế hoạch cho dự đoán tương lai, cần đầu tư dài hạn và chiến lược sản phẩm vàthị trường với những thông tin có dạng lựa chọn phương án nào, sẽ cho hiệu quảcao nhất, nên huy động nguồn đầu tư nào
b Đối với các nhà đầu tư
Cần sử dụng thông tin cho việc quyết định các mục tiêu có nên đầu tư vàodoanh nghiệp này hay không, với yếu tố dự đoán giá trị đầu tư nào sẽ thu đượctrong tương lai, các lợi ích khác có thể thu được trong tương lai không, và sẽnhận được từ các thông tin năng lực của doanh nghiệp trong điều hành kinhdoanh và huy động vốn đầu tư như thế nào
c Đối với các nhà cho vay
Cần sử dụng thông tin cho việc quyết định các mục tiêu có nên cho doanhnghiệp này vay vốn hay không, và cần dự đoán doanh nghiệp có khả năng trả nợtheo đúng hợp đồng hay không, các lợi ích khác đối với nhà cho vay Và nhậnđược các thông tin có dạng tình hình công nợ của doanh nghiệp, lợi tức có đượcchủ yếu từ hoạt động nào, tình hình khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp
d Đối với cơ quan nhà nước
Cần quyết định cho các mục tiêu các khoản đóng góp cho nhà nước, với cácyếu tố cần dự đoán cho tương lai hoạt động của doanh nghiệp có thích hợp vàhợp pháp không, với thông tin nhận được có thể có biến động gỡ về vốn và thunhập trong tương lai
e Người làm công sử dụng thông tin
Về phía người lao động, mối quan tâm của họ hướng đến việc trả lời chocâu hỏi là thu nhập, quyền lợi của họ có được tăng thêm hay không, có nên tiếptục hợp đồng không
Trang 13Như vậy, có thể nói, mục đích quan trọng nhất của phân tích tình hình tàichính là giúp những người ra quyết định đánh giá chính xác thực trạng, tiềm năngcủa doanh nghiệp, từ đó lựa chọn phương án hành động tối ưu.
1.3 Phương pháp phân tích tài chính
Phân tích tình hình tài chính là một bộ phận của phân tích hoạt động kinh tế,
có quá trình phát triển lâu dài Do đó, nó có rất nhiều phương pháp phân tích hiệnđại và phong phú.Các phương pháp như sau:
1.3.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi để xác định hướng và mức độ biếnđộng của các chỉ tiêu phân tích Trong phương pháp này trước hết cần phải xác địnhmục tiêu so sánh, gốc so sánh và điều kiện so sánh
a Gốc so sánh
Tuỳ theo mục đích của việc so sánh mà ta chọn gốc khác nhau:
- Nếu nghiên cứu nhịp độ biến động hay tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu thìgốc là trị số của chỉ tiêu (đó thực hiện) của kỳ trước
- Nếu đánh giá sự biến động so với mục tiêu dự kiến thì gốc là trị số của chỉtiêu đặt ra trong kế hoạch
- Nếu nghiên cứu khả năng đáp ứng với nhu cầu của thị trường thì gốc là mứccủa hợp đồng đó ký Ngoài ra cũng có thể so sánh theo không gian (giữa các đơn vịtrực thuộc) khi đó gốc là trị số của các chỉ tiêu của một đơn vị điển hình nào đótrong từng lĩnh vực
b Điều kiện so sánh
Khi so sánh đặc biệt là so sánh theo thời gian cần phải chú ý các điều kiện sau:
- Nội dung kinh tế của các chỉ tiêu so sánh phải giống nhau
- Phương pháp tính các chỉ tiêu cần so sánh phải giống nhau
- Đơn vị tính của các chỉ tiêu phải giống nhau
- Phạm vi tính toán của các chỉ tiêu phải giống nhau
- Độ dài thời gian tính các chỉ tiêu phải giống nhau
c Mục tiêu so sánh
Để đáp ứng các mục tiêu so sánh, các chỉ tiêu được thể hiện dưới ba hình thứcdưới đây:
Trang 14- Số tuyệt đối: là kết quả so sánh giữa các kỳ phân tích được thực hiện bằngphép trừ (-) giữa các mức độ của chỉ tiêu đang xem xét ở các kỳ khác nhau Kết quả
so sánh bằng số tuyệt đối phản ánh biến động về mặt quy mô hoặc khối lượng củachỉ tiêu phân tích
- Số tương đối: là kết quả so sánh giữa các kỳ phân tích được thực hiện bằngphép chia (:) giữa các mức độ của chỉ tiêu đang xem xét ở các kỳ khác nhau Kết quả
so sánh bằng số tương đối phản ánh mối quan hệ tỷ lệ, kết cấu của từng chỉ tiêu trongtổng thể hoặc biến động về tốc độ của chỉ tiêu nghiên cứu giữa các kỳ khác nhau
- Số bình quân là chỉ tiêu biểu hiện tính phổ biến, tính đại chúng, tính đại diệncủa các chỉ tiêu khi so sánh giữa các kỳ phân tích
d Phân tích theo chiều dọc và phân tích theo chiều ngang
- Quá trình so sánh, xác định, các tỷ lệ, quan hệ tương quan giữa các dữ kiện trênBáo cáo tài chính của kỳ hiện hành được gọi là quá trình phân tích theo chiều dọc
- Quá trình so sánh xác định tỷ lệ và chiều hướng tăng giảm của các dữ kiệntrên Báo cáo tài chính của nhiều kỳ khác nhau được gọi là quá trình phân tích theochiều ngang Tuy nhiên, phân tích theo chiều ngang cần chú ý là trong điều kiện xảy
ra lạm phát, kết quả tính được chỉ có ý nghĩa khi chúng ta đã loại trừ ảnh hưởng củabiến động về giá
1.3.2 Phương pháp liên hệ cân đối
Mọi quá trình sản xuất kinh doanh đều có quan hệ mật thiết với nhau giữa cácmặt, các bộ phận, phương pháp này lượng hoá được các mối liên hệ, xác định trình
độ chặt chẽ giữa các nguyên nhân và kết quả, tìm được nguyên nhân chủ yếu của sựphát triển, biến động của chỉ tiêu
Cơ sở của phương pháp này là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của các yếu
tố và quá trình sản xuất kinh doanh
- Tổng số vốn và tổng số nguồn vốn
- Nguồn thu, huy động và việc sử dụng các quỹ
- Nhu cầu và khả năng thanh toán
- Nguồn cung cấp vật tư và tình hình sử dụng vật tư
- Giữa thu và chi
Sự cân đối về lượng giữa các yếu tố dẫn đến sự cân bằng về mức biến động vềlượng giữa chúng
Trang 15Phương pháp này nhằm xác định ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan dướidạng tổng số.
1.3.3 Phương pháp tỷ lệ
Đây là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tíchtài chính Là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngàycàng được bổ sung và hoàn thiện Bởi lẽ:
+ Nguồn thông tin kế toán tài chính được cải tiến và được cung cấp đầy đủhơn Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một
tỷ số của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
+ Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanhquá trình tính toán hàng loạt các tỷ số
+ Phương pháp này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu vàphân tích một cách hệ thống hàng loạt các tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặctheo từng giai đoạn
- Nội dung của phương pháp phân tích tỷ lệ là đi sâu phân tích rất nhiều các tỷ lệtài chính của doanh nghiệp Trong đó trọng tâm là bốn nhóm tỷ lệ tài chính đặc trưng,phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
+ Tỷ số về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánhgiá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
+ Tỷ số về cơ cấu tài sản và nguồn vốn: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh mức độ
ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp
+ Tỷ số về khả năng hoạt động: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sửdụng tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp
+ Tỷ số về khả năng sinh lời: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuấtkinh doanh tổng hợp nhất của một doanh nghiệp
Tuỳ theo mục tiêu phân tích tài chính mà phân tích chú trọng nhiều hơn đếnnhóm tỷ số này hay nhóm tỷ số khác Mỗi nhóm tỷ số trên bao gồm nhiều tỷ số vàtrong từng trường hợp các tỷ số được lựa chọn sẽ phụ thuộc vào quy mô, bản chấtcủa hoạt động phân tích
Trang 16+ Khi sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng, phải để: nhân tố số lương đứng trước,nhân tố chất lượng đứng sau Nếu có nhiều nhân tố số lượng cùng ảnh hưởng thìnhân tố thứ yếu xếp sau và không được đảo lộn trật tự sắp xếp đó trong suốt quátrình tính toán.
+ Khi xem xét ảnh hưởng của 1 nhân tố nào đó thì ta cố định các nhân tố khác,xem như chúng không thay đổi
- Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp này là trường hợp đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn.Phương pháp này có nguyên tắc áp dụng giống như phương pháp thay thế liên hoàn vàđược sử dụng khi có ít nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích (2 hoặc 3 nhân tố)
- Phương pháp chỉ số
Nguyên tắc áp dụng:
+ Các nhân tố ảnh hưởng có mối quan hệ tích số với chỉ tiêu phân tích
+ Khi sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng tuân theo nguyên tắc: nhân tố chất lượngđứng trước, nhân tố số lượng đứng sau và trật tự này không thay đổi trong suốt quátrình tính toán
+ Khi phân tích nhân tố ảnh hưởng của nhân tố nào thì coi như các nhân tố làkhông thay đổi
+ Phương pháp chỉ số chỉ được dùng chủ yếu trong thống kê
1.4 Nội dung phân tích tài chính
Để tiến hành sản xuất - kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có mộtlượng vốn nhất định bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và vốn chuyên dùng khác(quỹ xí nghiệp, vốn xây dựng cơ bản ) Doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức, huyđộng các loại vốn cần thiết cho nhu cầu kinh doanh Đồng thởi, tiến hành phân phối,quản lý và sử dụng số vốn hiện có một cách hợp lý, có hiệu quả cao nhất trên cơ sởchấp hành các chế độ, chính sách quản lý kinh tế tài chính và kỷ luật thanh toán củaNhà nước Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp chongười sử dụng thông tin nắm được thực trạng hoạt động tài chính, xác định rõnguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính Trên
cơ sở đó, đề xuất các biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định cần thiết để nâng caohiệu quả kinh doanh
Trang 17Nội dung chủ yếu phân tích tình hình tài chính bao gồm:
- Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
- Phân tích tình hình biến động và phân bổ tài sản và nguồn vốn
- Phân tích tình hình đảm bảo vốn kinh doanh
- Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán
- Phân tích hiệu quả sử dụng vốn
- Phân tích tình hình thanh toán với ngân sách nhà nước
- Phân tích báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
1.5 Tài liệu để phân tích tài chính
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính, người phân tích phải sử dụng rấtnhiều tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính Báo cáo tàichính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp và là nguồn thông tin tài chínhchủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp Báo cáo tài chính không nhữngcho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo mà còn cho thấynhững kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt được trong tình hình đó Sau đây, xingiới thiệu 3 báo cáo tài chính chủ yếu là :
- Bảng cân đối kế toán (mẫu B01-DN)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (mẫu B02-DN)
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính (mẫu B03-DN)
Ngoài ra, các doanh nghiệp có thể lập thêm một báo cáo mang tính hướng dẫnnhư: báo cáo lưu chuyển tiền tệ
1.5.1 Bảng cân đối kế toán (mẫu B01-DN)
a Khái niệm, ý nghĩa
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tàisản của doanh nghiệp, tại một thời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trịtài sản và nguồn hình thành tài sản Về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảngcân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả
Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng để nghiên cứu, đánh giá một cáchtổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triểnvọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
b Kết cấu của bảng gồm 2 phần :
Phần phản ánh giá trị tài sản gọi là “Tài sản”
Phần phản ánh nguồn hình thành tài sản gọi là “Nguồn vốn”
Trang 18Hai phần “Tài sản” và “Nguồn vốn” có thể được chia 2 bên (bên trái và bên phải)hoặc một bên (phía trên và phía dưới) Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộngcủa hai phần bao giờ cũng bằng nhau vì phản ánh cùng một lượng tài sản, tức là: : Tài sản = Nguồn vốn
: Tài sản = Vốn chủ sở hữu + nợ phải trả
: Vốn chủ sở hữu = Tài sản - nợ phải trả
Về mặt kinh tế, qua việc xem xét phần “Tài sản”, cho phép đánh giá tổng quátnăng lực và trình độ sử dụng tài sản Về mặt pháp lý, phần “Tài sản” thể hiện sốtiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thuđược các khoản lợi ích trong tương lai
Khi xem xét phần “Nguồn vốn”, về mặt kinh tế, người sử dụng thấy được thựctrạng tài chính của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, người sử dụng bảng cân đối kếtoán thấy được trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanhvới Nhà nước về số tài sản đã hình thành bằng vốn vay Ngân hàng và vốn vay đốitượng khác cũng như trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ với người laođộng, với cổ đông, với nhà cung cấp, với trái chủ, với ngân sách, v.v
c Nguồn số liệu
- Bảng cân đối kế toán ngày 31 tháng 12 năm trước
- Các sổ cái tài khoản tổng hợp và phân tích
- Bảng cân đối tài khoản kỳ phân tích
- Các tài liệu liên quan khác (Sổ chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết,bảng kê)
Nguyên tắc phải hoàn tất việc ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết,tiến hành khoá sổ kế toán; Kiểm tra, đối chiếu số liệu kế toán giữa các sổ sách cóliên quan, bảo đảm khớp đúng
Kiểm tra lại số liệu ghi trên cột “ số cuối kỳ “ của bảng cân đối kế toánngày 31 tháng 12 năm trước Số liệu ở cột này sẽ được chuyển vào cột “ Số đầunăm “ của bảng cân đối kế toán của năm nay
1.5.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (mẫu B02-DN)
a Khái niệm, ý nghĩa
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một trong những báo cáo tài chínhtổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
Trang 19nghiệp, đồng thời phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từngloại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán và tình hình thựchiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản khác.
Căn cứ vào số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, người sử dụng thông tin có thể có nhận xét và đánh giá khái quát tình hình
và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như tình hình thanh toáncác khoản với Nhà nước Thông qua việc phân tích số liệu trên báo cáo này, ta cóthể biết được xu hướng phát triển và hiệu quả kinh doanh của Công ty kỳ này so vớicác kỳ trước.v.v
b Kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 18 chỉ tiêu sau:
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
2 Các khoản giảm trừ doanh thu
3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dich vụ
4 Giá vốn bán hàng
5 Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
6 Doanh thu hoạt động tài chính
7 Chi phí tài chính
Trong đó: chi phí lãi vay
8 Chi phí bán hàng
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
11 Thu nhập khác
12 Chi phí khác
13 Lợi nhuận khác
14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
15 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
16 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn kại
17 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
18 Lãi cơ bản trên cổ phiếu
Trang 20Bản thuyết minh báo cáo tài chính (mẫu B03-DN)
I Bản thuyết minh bổ sung báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tìnhhình hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồngthời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa trình bàymột cách rõ ràng và cụ thể
Bản thuyết minh bổ sung báo cáo gồm các thông tin chính như nguyên tắc hoạtđộng của doanh nghiệp, đặc điểm chế độ kế toán áp dụng ở doanh nghiệp và chi tiếtmột số chỉ tiêu trong báo cáo kế toán (tăng giảm TSCĐ, tăng giảm đầu tư ngắn hạn,tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách)
Các chỉ tiêu này được phản ánh cả tình hình đầu kỳ, tăng giảm trong kỳ và tìnhhình cuối kỳ
II Cơ sở số liệu để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính
- Các sổ kế toán kỳ báo cáo
- Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo (Mẫu B 01 - DN)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo (Mẫu B02 - DN)
- Thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước, năm trước (MẫuB 04 -DN)
III Phương pháp thuyết minh báo cáo tài chính
- Phần trình bày bằng lời văn phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu Phần trình bàybằng số liệu phải thống nhất với số liệu trên các báo cáo khác
- Đối với báo cáo quý, các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại Công
ty phải thống nhất trong cả niên độ kế toán Nếu có sự thay đổi phải trình bầy rõràng lý do thay đổi
- Trong các biểu số liệu, cột số kế hoạch thể hiện số liệu kế hoạch của kỳ báocáo cột số thực hiện kỳ trước thể hiện số liệu của kỳ ngay trước kỳ báo cáo
- Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của Công ty chỉ sử dụngtrong thuyết minh báo cáo tài chính năm
Mối liên hệ giữa các báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Các báo cáo tài chính doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau, mỗi sựthay đổi một chỉ tiêu trong báo cáo này hoặc trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng tớibáo cáo kia, trình tự đọc hiểu và kiểm tra các báo cáo tài chính phải đựơc bắt đầu từbáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ kết hợp vớiBảng cân đối kế toán kỳ trước để đọc và kiểm tra Bảng cân đối kế toán kỳ này
Trang 21CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ XDGT2.1 Giới thiệu công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Xây dựng Giao thông
A Giới thiệu chung
Tên công ty : Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng GTVT Tên viết tắt : TRICC – JSC
Trụ sở chính : Ngõ 371, Đường Kim Mã – Quận Ba Đình – TP Hà Nội
2.1.1 Giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của Công ty:
Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng GTVT (TRICC - JSC) đượcthành lập vào năm 1964 trên cơ sở sát nhập 3 đơn vị: Công ty KS thiết kế Đường sắt(1964); Công ty Nghiên cứu thiết kế Đầu máy Toa xe (1978); Ban khoa học kinh tế
kỹ thuật – Tổng Cục Đường Sắt, đến năm 1994 đổi tên thành Công ty Tư vấn Đầu
tư và Xây dựng Tháng 12/2005 công ty hoàn thành cổ phần hóa chuyển đổi từDoanh nghiệp Nhà nước Công ty là đơn vị khoa học kỹ thuật đầu ngành, Tư vấnchuyên ngành có bề dày lịch sử và kinh nghiệm của Đường sắt Việt Nam, là doanhnghiệp loại 1 liên tục từ năm 1994 đến nay
Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng GTVT được trang bị hệ thốngmáy móc hiện đại, nguồn nhân lực có chất lượng cao Trong những năm qua Công
ty đã liên danh tư vấn với các đối tác nước ngoài như: Công ty Tư vấn giao thôngNhật Bản (JTC), TONICHI, Công ty Tư vấn Dosh Consult (CHLB Đức) và cáccông ty Tư vấn khác của Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan
2.1.2 Phạm vi hoạt động và các công trình tiêu biểu của công ty:
2.1.2.1 Ngành nghề kinh doanh
Tư vấn đầu tư và xây dựng các công trình giao thông gồm:
- Lập quy hoạch, báo cáo đầu tư, dự án đầu tư xây dựng công trình và mua sắmthiết bị và phương tiện vận tải
- Khảo sát, thiết kế và lập tổng dự toán các công trình đường sắt và đường bộ(bao gồm: cầu, cống, đường, ga, trạm, hệ thống TTTH, xây dựng công nghiệp vàdân dụng)
Trang 22- Thiết kế đóng mới, phục hồi, hoán cải đầu máy, toa xe, phương tiện thiết bị
cơ khí chuyên dùng cho ngành đường sắt
- Thẩm tra các báo cáo đầu tư, dự án đầu tư, thẩm tra thiết kế và dự toáncông trình
- Tư vấn kiểm định, tư vấn giám sát chất lượng thi công xây dựng các côngtrình giao thông; Tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông;
Tư vấn soạn thảo các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành giaothông vận tải
Thi công xây dựng các công trình thực nghiệm và các công trình ứng dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật mới
Mua bán máy móc, thiết bị và phụ tùng thay thế
Kinh doanh bất động sản với quyền sở hữu hoặc đi thuê, cho thuê vănphòng làm việc, cho thuê máy móc thiết bị
Cho thuê nhân lực trong phạm vi luật định
Tư vấn giám sát chất lượng quá trình lắp đặt và chuyển giao công nghệmáy móc, thiết bị công nghiệp và các phương tiện giao thông vân tải
Thiết kế kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp
Thiết kế cấp thoát nước
Đại lý bán vé tầu hỏa
Mua bán phế liệu
Mua bán hàng điện tử, điện lạnh
Xuất nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh
2.1.2.2 Phạm vi hoạt động và các công trình tiêu biểu
TRICC - JSC cung cấp các dịch vụ thuộc lĩnh vực kinh doanh trong tất cả cáclĩnh vực liên quan về: đường sắt, đường bộ, cầu, hầm, xây dựng dân dụng, côngnghiệp v.v… trong vi toàn quốc và quốc tế
Công ty đã và đang thực hiện các quy hoạch và dự án như:
Lập chiến lược phát triển GTVT Đường sắt đến 2020 và tầm nhìn 2050
Lập quy hoạch phát triển giao thông vận tải Đường sắt đến 2020 đã đượcThủ tướng Chính Phủ phê duyệt tại quyết định QDD06/2002/QĐ-TTG ngày07/01/2002 và hầu hết các quy hoạch thuộc lĩnh vực phát triển ngành Đường sắtnhư Quy hoạch mạng Đường sắt cao tốc Việt Nam, chương trình Công nghiệp hóa,hiện đại hóa ngành Đường sắt
Dự án đường sắt: Dự án đường sắt trên cao Hà Nội và các tuyến giao thông
đô thị khác (tuyến số 3, số 4,5 …); Dự án đường sắt Yên Viên – Phả Lại – Hạ Long
Trang 23– Cái Lân; Dự án đường sắt hành lang Đông Tây; Dự án khôi phục cầu đường sắtThống Nhất; Dự án cải tạo sửa chữa 4 hầm đường sắt Thống Nhất; Dự án hiện đạihóa thông tin tín hiệu trên các tuyến Đường sắt; Dự án khôi phục nâng cấp cầuLong Biên; Dự án hầm đường sắt Hải Vân; Dự án nâng cấp điện khí hóa đường sắt
Hà Nội – Hải Phòng; v.v… và hiện đang lập BCĐT các dự án: đường sắt cao tốcBắc Nam, Dự án Đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và Hà Nội – Đồng Đăngthuộc chương trình phát triển 2 hành lang – 1 vành đai kinh tế và Đường sắt Mụ Giạ
Trong lĩnh vực cơ khí Đường sắt, Công ty đã tham gia thiết kế, chế tạo toa
xe khách hai tầng; toa xe thế hệ 1; toa xe thế hệ 2; đoàn tàu kéo đẩy; cải tạo xe đoMatisa thành đầu máy kéo; Lập dự án chế tạo, lắp ráp đầu máy Diesel trong nước vàhầu hết các loại toa xe hàng v.v…
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, Công ty đã và đang thựchiện nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước và đề tài cấp ngành: Đề tài KC-10-10TVBT hai khối dùng cóc hồi Nabla; Đề tài quy hoạch dùng sức kéo; Đề tài quyhoạch mạng lưới ga đường sắt; Đề tài xây dựng tiêu chuẩn tà vẹt bê tông dự ứng lực
và các phụ kiện; Đề tài Nghiên cứu thiết kế chế tạo giá chuyển hướng toa xe kháchcao cấp dùng lò xo không khí, đoàn xe vận chuyển ray hàn dài; v.v…
Trong lĩnh vực tự động hóa, Công ty đã nghiên cứu thành công hệ thống tựđộng cảnh báo đường ngang; thiết kế ga điện khí tập trung; thiết bị giám sát từ xa hệthống cảnh báo đường ngang
Với những cống hiến và thành tích đã đạt được, Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu
tư và Xây dựng GTVT đã được ngành Đường sắt Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải,Nhà nước tặng thưởng nhiều bằng khen, danh hiệu thi đua và phần thưởng cao quýHuân chương Lao động hạng 2 (năm 2002) , hạng Nhất (năm 2004) và Huânchương Độc lập hạng 3 (năm 2009)
Trang 24Để nâng cao chất lượng, thỏa mãn yêu cầu của các khách hàng, Chủ đầu tưtrong xu thế nền kinh tế thị trường Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựngGTVT đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 – 2000 và tiếp tục đầu
tư hơn nữa về công tác đào tạo đội ngũ tư vấn có trình độ khoa học công nghệ, trangthiết bị và tiếp cân các tiến bộ mới trong lĩnh vực tư vấn giao thông vận tải ở khuvực châu Á – Thái Bình Dương
Khách hành chủ yếu của Công ty là ngành đường sắt, ngành giao thôngvận tải Đầy là một thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng, nhưng cũng đòi hỏi sảnphẩm tư vấn khảo sát thiết kế với chất lượng cao Để có thể đáp ứng yêu cầu củacác Chú đầu tư, các khách hàng, vương xa hơn, hòa nhập và phát triển với khu vực,Công ty sẽ đầu tư hơn nữa về công tác đào tạo đội ngũ tư vấn có năng lực khoa họccông nghệ và trang thiết bị cũng như tiếp cận các tư duy mới, cách thức hoạt độngtrong lĩnh vực tư vấn giao thông vận tải ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương
B Sơ đồ tổ chức công ty
Trang 25ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
Trang 26Công ty được chia thành các phòng ban quản lý bao gồm: phòng tổ chức cán
bộ -lao động; phòng tài chính kế toán; phòng quản lý kinh tế chiến lược; văn phòngcông ty; phòng hợp tác quốc tế Mỗi một phòng ban có chức năng, quyền hạn vànghĩa vụ riêng
Phòng tài chính kế toán:
Chức năng:
Tham mưu cho Tổng Giám Đốc công ty:
- Công tác quản lý tài chính, hạch toán kế toán của công ty ;
- Công tác quản lý tài chính, hạch toán kế toán tại các chi nhánh, xí nghiệp,đơn vị;
- Công tác thuế và nghĩa vụ với ngân sách nhà nước;
- Lợi nhuận và công tác trích lập các quỹ, phân chia cổ tức;
- Công tác kiểm toán, thanh tra tài chính;
- Công tác báo cáo, thống kê
Nhiệm vụ:
- Quản lý vốn, tài sản;
- Thanh toán, thu hồi vốn;
- Phối hợp với P.QLKD quản lý giá thành trên cơ sở giá trúng thầu, lấy giáđầu ra của sản phẩm để so sánh, quản lý và khống chế chi phí đầu vào;
- Thanh quyết toán nội bộ, các nhà thầu phụ và đối tác liên danh, liên kết;
- Phân phối vốn vay, lãi vay theo kế hoạch cho từng dự án, công trình;
- Hạch toán kế toán, đảm bảo nghiệp vụ thủ quỹ theo quy định;
- Phân tích hoạt động kinh tế
- Kiểm toán, thanh tra tài chính;
- Kiểm tra, tập huấn nghiệp vụ kế toán
2.2 Bảng cân đối kế toán của Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng giao thông vận tải
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổngquát toàn bộ tài sản của Công ty theo hai cách đánh giá: vốn và nguồn hình thànhvốn của Công ty tại thời điểm lập báo cáo Như vậy, bảng cân đối kế toán nhằm mô
tả sức mạnh tài chính của Công ty bằng cách trình bày những thứ mà nó có vànhững thứ mà nó nợ tại một thời điểm Người ta coi bảng cân đối kế toán như mộtbức ảnh chụp nhanh, bởi vì nó được lập vào thời điểm cuối niên độ kế toán Đâycũng chính là nhược điểm của bảng cân đối kế toán khi chúng ta sử dụng số liệu của
nó phục vụ cho phân tích tài chính
Trang 27Phần phản ánh tài sản theo kết cấu cho biết tài sản của Công ty tại thời điểmbáo cáo là bao nhiêu, tình hình phân bổ tài sản đó như thế nào? tỷ trọng từng loạitài sản trong tổng số v.v Còn phần phản ánh nguồn hình thành tài sản cho biết tàisản của Công ty được hình thành từ đâu? từ những nguồn nào? cơ cấu từng nguồnhình thành xem xét nguồn hình thành tài sản để thấy được tài sản của Công tyđược hình thành từ những nguồn chính đáng, đảm bảo tính pháp lý và quyền sở hữutài sản của Công ty.
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hìnhtài chính của Công ty thông qua việc phân tích các chỉ tiêu tài chính liên quan
2.3 Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty tư vấn đầu tư và xây dựng giao thông vận tải năm 2009
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một trong những báo cáo tài chínhtổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của Công
ty, đồng thời phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loạihoạt động kinh doanh của Công ty trong một kỳ kế toán và tình hình thực hiệnnghĩa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản khác
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho biết toàn bộ kết qủa hoạt động kinhdoanh của Công ty sau một thời kỳ nhất định Đồng thời, cho biết được các yếu tốliên quan đến việc tính toán xác định kết quả kinh doanh của từng loại hoạt động(SXKD; đầu tư tài chính, hoạt động bất thường)
Ngoài ra, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn cho biết tình hình thựchiện nghĩa vụ với Nhà nước của Công ty về các khoản thuế, phí, lệ phí, bảo hiểm xãhội, kinh phí công đoàn.v.v
Trong quá trình phân tích khái quát ta không những chỉ căn cứ vào bảng cânđối kế toán để phân tích mà còn kết hợp với báo cáo kết quả kinh doanh để phântích thì mới thấy được đầy đủ hơn về tình hình tài chính của Công ty
Quá trình đánh giá khái quát tình hình tài chính ở Công ty thông qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể đi sâu đánh giá ba nội dung sau:
- Đánh giá sơ bộ kết quả các loại hoạt động
- Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chính
- Đánh giá tình hình chấp hành thanh toán với nhà nước
Trang 282.4 Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Xây dựng Giao thông
2.4.1 Ý nghĩa của phân tích khái quát tình hình tài chính
Cung cấp những thông tin khái quát về tình hình tài chính của Công ty trong
kỳ là khả quan hay không khả quan
Phân tích khái quát còn cho chủ Công ty biết rõ thực chất của sản xuất kinh doanh
Phân tích được khả năng phát triển hay suy thoái của Công ty
Cho biết khả năng tự đảm bảo về tài chính (hay mức độ độc lập) của Công ty
Cho biết khái quát về khả năng thanh toán của doanh nghiêp
2.4.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty qua Bảng cân đối
kế toán
2.4.2.1 Phân tích qui mô vốn
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một yếu tố và là tiền đề cần thiết cho việchình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp Hay nói cáchkhác vốn của doanh nghiệp là tất cả các yếu tố cần thiết để tiến hành hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một yếu tố rất quan trọng gắn liền với sựhình thành và phát triển của doanh nghiệp Do vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải tổchức tốt nguồn vốn
Phân tích quy mô vốn để tìm ra sự biến động tăng giảm vốn của doanh nghiệp,tìm ra nguyên nhân của sự biến động đó
Phương pháp phân tích:
- Phân tích tổng tài sản cuối kỳ so với đầu năm để đánh giá khái quát tình hìnhsản xuất kinh doanh và dự đoán khả năng phát triển hay suy thoái của doanh nghiệp
- So sánh tài sản loại A, loại B với tổng tài sản để thấy được sự thay đổi về quy
mô vốn của doanh nghiệp
- Trên cơ sở đó nhận xét về sự tăng giảm qui mô vốn của doanh nghiệp cũngnhư tìm nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thay đổi đó
- Khi phân tích căn cứ vào bảng cân đối kế toán của công ty để lập biểu phân tích
Căn cứ bảng cân đối kế toán ta có bảng phân tích sau:
Trang 29n v : ng Đơn vị : đồng ị : đồng đồng
Nhận xét: Qua biểu phân tích trên so sánh tổng tài sản giữa cuối kỳ và tổng tài
sản đầu năm ta thấy cuối kỳ so với đầu năm tổng tài sản đã tăng 71.442.114.767đồng.Mức tăng tương đối là 113,05% Trong đó:
- TS ngắn hạn cuối kỳ so đầu năm tăng 30.067.488.182 đ hay tăng 52,44%
- TS dài hạn cuối kỳ so đầu năm tăng mức tuyệt đối là 41.374.626.585đ hay tăng 706,89%
Qua phân tích này cho thấy tổng tài sản của doanh nghiệp ở cuối năm sovới đầu năm tăng lên khá nhiều do TSNH tăng lên và giá trị TSDH tăng lên rấtnhiều Doanh nghiệp có chú trọng trang bị TS ngắn hạn, dài hạn cho SXKD, TSngắn hạn tăng nhanh sẽ tạo điều kiện phát triển cho doanh nghiệp và khiến doanhnghiệp có thể chủ động hơn trong các quyết định của mình
2.4.2.2 Phân tích khả năng huy động vốn
Để tiến hành kinh doanh doanh nghiệp không thể không có vốn Đây là yếu tốkhông thể thiếu nó quyết định doanh nghiệp có được phép tiến hành kinh doanh haykhông Một doanh nghiệp đang hoạt động cũng cũng không thể tồn tại được nếuthiếu vốn Vì thế việc huy động vốn đảm bảo đủ vốn phục vụ nhu cầu sản xuất kinhdoanh đồng thời huy động vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp là một trongnhững chính sách quan trọng và là nhiệm vụ luôn được quan tâm Để đưa ra quyếtđịnh về việc huy động vốn để có đánh giá hợp lí về chính sách huy động vốn, trướchết cần xem xét những nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể khai thác huy động.Thông thường doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn: Vốn chủ sở hữu và nợphải trả Sự kết hợp này phụ thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ sở xemxét tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp
Phương pháp phân tích.
Trang 30- So sánh tổng nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ.
- So sánh các khoản mục: Nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu giữa cuối kỳ vàđầu kỳ
- Trên cơ sở sự so sánh đó đánh giá về khả năng huy động vốn của doanhnghiệp trong năm, khả năng huy động vốn tăng hay giảm chủ yếu là do việc tănggiảm khả năng huy động loại nguồn vốn nào
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán năm 2009 của công ty ta có biểu phân tích
tổng nguồn vốn đầu năm ta thấy tổng nguồn vốn cuối kỳ so với đầu năm đã tăng71.442.114.767đồng Mức tăng tương đối là 113,05% Trong đó:
- Nợ phải trả cuối kỳ so với đầu năm tăng 71.687.337.574đ hay tăng 180,54%
- Nguồn vốn chủ sở hữu cuối kỳ so với đầu năm giảm 245.222.807đ haygiảm 1,04%
Như vậy trong năm qua tổng nguồn vốn của công ty đã tăng lên đáng kểtrong đó chủ yếu là sự tăng lên của khoản nợ phải trả Điều này cũng cho thấy khảnăng huy động vốn của doanh nghiệp là rất tốt Tuy nhiên, trong tổng nguồn vốncủa công ty thì tỷ trọng nợ phải trả luôn cao hơn tỷ trọng vốn chủ sở hữu và có xuhướng tăng nhiều về cuối năm chứng tỏ mức độ độc lập về tài chính của công tythấp và ngày càng giảm
- Tỷ trọng nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn cũng cho thấy
sự rủi ro rất lớn cho vấn đề về khả năng thanh toán, trả nợ của công ty
2.4.3 Phân tích khả năng tự chủ và khả năng thanh toán
2.4.3.1 Phân tích khả năng tự chủ tài chính
Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng độc lập tự chủ về mặt tài chính của doanhnghiệp Đây là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm vốngóp ban đầu, phần bổ sung từ kết quả kinh doanh và phần vốn tăng từ phát hành cổ
Trang 31phiếu mới (đối với các công ty cổ phần) Cùng với việc huy động và sử dụng vốnthì khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính cũngcho thấy một cách khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp Khả năng độc lập
và tự chủ về mặt tài chính này của doanh nghiệp được thể hiện rõ thông qua chỉ tiêu
ép từ các chủ nợ
- Khi phân tích thì so sánh tỷ suất tài trợ đầu kỳ, cuối kỳ
Căn cứ vào số liệu trên bảng cân đối kế toán năm 2009 của công ty ta cóbiểu sau:
n v : ng Đơn vị : đồng ị : đồng đồng
Chỉ tiêu
kỳ Nguồn vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn Tỉ suất tự tài trợ
Nhận xét: Nhìn vào biểu phân tích trên, so sánh tỷ suất tự tài trợ giữa cuối kỳ và
đầu năm ta thấy tỷ suất tự tài trợ cuối kỳ đã giảm so với đầu năm Nhìn chung cả ởđầu năm và cuối kỳ tỷ suất tự tài trợ đều thấp, tức là khả năng tự chủ về mặt tài chínhcủa công ty là chưa được đảm bảo (chủ yếu nguồn vốn của công ty vẫn được huyđộng từ nguồn nợ phải trả), công ty có chính sách huy động vốn tốt nhưng cần chú ý
để tăng tính tự chủ trong kinh doanh tránh bị động, phụ thuộc Điều này là do đặc thù
Trang 32của các doanh nghiệp giao thông là có nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ.
2.4.3.2 Phân tích khả năng thanh toán
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có vốn, trườnghợp đã huy động hết các nguồn vốn bên trong doanh nghiệp mà vẫn không đủ đápứng nhu cầu vốn thì doanh nghiệp buộc phải tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài.Việc huy động vốn từ bên ngoài thường được thực hiện bằng cách đi vay hoặcchiếm dụng và đối với loại nguồn này thì khi đến thời hạn doanh nghiệp sẽ phảihoàn trả Số nợ phải trả lớn hay nhỏ không phải là điều đáng ngại đối với doanhnghiệp, mà điều quan trọng là khả năng trang trải nợ của doanh nghiệp ở mọi thờiđiểm Khả năng thanh toán là chỉ tiêu thể hiện rõ nhất tình trạng tài chính của doanhnghiệp Việc đánh giá khái quát khả năng thanh toán của doanh nghiệp được thựchiện thông qua chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán tổng quát
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ tiêu biểu thị mối quan hệ tỷ lệgiữa tổng số tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng với tổng số nợ màdoanh nghiệp phải trả:
- Ý nghĩa:
1 đồng mắc nợ được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản
H s n y c ng cao thì kh n ng thanh toán c ng cao ệ số này càng cao thì khả năng thanh toán càng cao ố này càng cao thì khả năng thanh toán càng cao ày càng cao thì khả năng thanh toán càng cao ày càng cao thì khả năng thanh toán càng cao ả năng thanh toán càng cao ăng thanh toán càng cao ày càng cao thì khả năng thanh toán càng cao
Nhận xét: Qua bảng số liệu trên ta thấy cả ở đầu kì và cuối kì doanh nghiệp
đều có hệ số khả năng thanh toán lớn hơn 1 vì vậy doanh nghiệp có đủ khả năngthanh toán nhưng mức độ đảm bảo rất thấp và cuối kì còn giảm đi Điều này chứng
tỏ cuối năm tổng tài sản tăng nhưng bên cạnh đó thì tổng nợ của doanh nghiệp cũngtăng lên rất nhiều, từ đó sẽ gây áp lực lớn cho doanh nghiệp về tình hình công nợ
2.4.4 Phân tích tình hình đầu tư dài hạn
- Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định, đặc biệt là đối
Hệ số khả năng thanh toán
Tổng tài sản Tổng nợ phải trả
Trang 33với thiết bị công nghệ là một trong các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp, bởi:
Tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng sảnphẩm tốt, chi phí tạo ra sản phẩm thấp, tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm,tăng doanh thu và do đó doanh nghiệp mới có đủ sức cạnh tranh trên thị trường Xéttrên góc độ này, đầu tư đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lý trở thành vấn đềsống còn đối với mỗi doanh nghiệp
Đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lý còn có ý nghĩa quan trọng trong việcgiải phóng lao động thủ công nặng nhọc, đảm bảo an toàn cho người lao động, tạo
ra tư thế tác phong của người công nhân sản xuất lớn
Xét trên góc độ tài chính doanh nghiệp, sự nhạy cảm trong đầu tư đổi mới tàisản cố định là một nhân tố quan trọng để giảm chi phí như: Chi phí sửa chữa tài sản
cố định, hạ thấp hao phí năng lượng, hạn chế hao mòn vô hình trong điều kiện cáchmạng khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, mạnh như hiện nay Việc tăng cường đổimới tài sản cố định kịp thời, đúng hướng tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp trong thuhút và đầu tư cho kinh doanh, tạo ra triển vọng lớn cho doanh nghiệp không chỉ thịtrường trong nước mà cả thị trường khu vực và quốc tế
- Khi phân tích sử dụng tỷ suất đầu tư để thấy được mức độ tập trung đầu tưcho tài sản cố định của công ty
- Tỷ suất đầu tư dài hạn được tính bằng cách:
Tổng các khoản đầu tư dài hạn
Trang 34Tổng tài sản 134.636.136.635 63.194.021.868
Nhận xét : Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ suất đầu tư ở cuối năm tăng lên
nhiều so với đầu năm Nếu ở đầu năm tỷ suất đầu tư là 9,26% thì ở cuối năm tỉ lệnày tăng lên là 35,08% Chứng tỏ doanh nghiệp có chú trọng đầu tư vào máy móc,trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh
2.5 Tốc độ phát triển
Tốc độ phát triển là chỉ tiêu dùng để đánh giá hiện tượng đã phát triển trong
một thời gian với tốc độ cụ thể là bao nhiêu.
Tốc độ phát triển liên hoàn
Là tỷ số giữa mức độ của kỳ nghiên cứu (yi) với mức độ của kỳ đứng ngaytrước nó (yi-1) Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển của hiện tượng qua hai thời kỳliền nhau
Tốc độ phát triển liên hoàn được xác định bằng thương của hai mức độ liền
yi : là mức độ của kỳ nghiên cứu
yi-1: l m c ày càng cao thì khả năng thanh toán càng cao ức độ của kỳ đứng trước kỳ nghiên cứu độ của kỳ đứng trước kỳ nghiên cứu ủa kỳ đứng trước kỳ nghiên cứu c a k ỳ đứng trước kỳ nghiên cứu đức độ của kỳ đứng trước kỳ nghiên cứu ng tr ước kỳ nghiên cứu c k nghiên c u ỳ đứng trước kỳ nghiên cứu ức độ của kỳ đứng trước kỳ nghiên cứu
(y 1 )
Năm 2008 (y 2 )
Năm 2009 (y 3 ) Doanh thu thuần 44.836.879.215 60.979.693.067 69.318.766.614
Lợi nhuận sau thuế 3.338.023.312 3.310.648.576 4.225.604.695 Vốn sản xuất bq 24.009.576.520 28.029.972.088 39.311.414.685
- T c ố này càng cao thì khả năng thanh toán càng cao độ của kỳ đứng trước kỳ nghiên cứu phát tri n liên ho n : ển liên hoàn : ày càng cao thì khả năng thanh toán càng cao
Trang 35Doanh thu thuần 136% 114%
Nhận xét: Qua bảng số liệu ta thấy:
Doanh thu năm 2009 tăng so với năm 2008 là 14% và mức tăng thấp hơn năm
2008 tăng so với năm 2007 là 36%
Lợi nhuận năm 2008 có giảm đi so với năm trước tuy nhiên năm 2009 lợinhuận của doanh nghiệp thu được đó tăng lên so với năm 2008
Vốn sản xuất năm 2008 tăng so với năm 2007 là 17% tới năm 2009 tăng cao
so với năm 2008 là 40% Doanh nghiệp đã tích cực có các biện pháp làm tăng vốnsản xuất bằng cách huy động thêm nguồn vốn từ các khoản vay hoặc đi chiếm dụngvốn dưới từ các đơn vị dưới nhiều hình thức khác nhau
- Lấy số liệu của năm 2007 làm gốc để so sánh
- B ng s li u: ả năng thanh toán càng cao ố này càng cao thì khả năng thanh toán càng cao ệ số này càng cao thì khả năng thanh toán càng cao
Trang 36Vốn sản xuất bq 117% 164%
Nhận xét: Qua bảng số liệu ta thấy:
- Doanh thu năm 2009 tăng 54% so với năm 2008 còn năm 2008 doanh thutăng 36% so với năm 2007
- Năm 2008 lợi nhuận giảm so với năm 2007 là 1% nhưng năm 2009 doanhnghiệp có lợi nhuận tăng 26% so với năm 2007
- Vốn sản xuất đều tăng trong các năm liên tiếp và tốc độ tăng vốn lưu độngnăm 2009 đã tăng nhanh 1 cách đáng kể so với vốn sản xuất năm 2007 Điều đóchứng tỏ doanh nghiệp đã có các biện pháp huy động vốn năm 2009 rất hiệu quả
Tốc độ phát triển bình quân năm
- Là tốc độ phát triển điển hình của hiện tượng trong suốt thời gian phát triển
- Là số bình quân nhân của các tốc độ phát triển liên hoàn:
Nhận xét: Qua kết quả tính toán các tốc độ phát triển trên ta thấy: hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty từ năm 2007 đến năm 2009 có chiều hướng pháttriển tốt Vốn sản xuất bình quân ,doanh thu, lợi nhuận có xu hướng tăng Như vậytrong 3 năm qua thì năm tốc độ phát triển của năm 2009 là khả quan nhất biểu hiện
là doanh thu, lợi nhuận, vốn sản xuất đều tăng nhiều
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH CHI TIẾT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
GIAO THÔNG VẬN TẢI
Trang 37Qua việc đánh giá khái quát tình hình tài chính của Công ty, chúng ta mớichỉ có thể thấy được sự thay đổi của quy mô vốn mà Công ty sử dụng trong kỳcũng như khả năng huy động vốn của Công ty Tuy nhiên, để nắm được một cáchđầy đủ thực trạng tài chính của Công ty cần thiết phải đi sâu phân tích, xem xétcác mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán
3.1 Phân tích chi tiết tình hình phân bố vốn và cơ cấu nguồn vốn
3.1.1 Phân tích tình hình biến động và phân bố tài sản
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty cần phải có tài sản baogồm 2 loại: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Tài sản nhiều hay ít, tăng hay giảm,phân bổ cho từng khâu, từng giai đoạn hợp lý hay không sẽ ảnh hưởng lớn đến kếtquả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp Phân tích sựbiến động và tình hình phân bổ tài sản là để đánh giá tình hình tăng giảm tài sản,phân bổ tài sản như thế nào từ đó đánh giá việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp cóhợp lý không
3.1.1.1 Phương pháp phân tích
Thứ nhất: xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản
- Thấy được biến động về qui mô kinh doanh, năng lực kinh doanh củadoanh nghiệp
- So sánh giữa cuối kì với đầu năm cả về số tuyệt đối và tương đối của tổng sốtài sản cũng như chi tiết từng loại tài sản để thấy được nguyên nhân chủ yếu gâynên sự biến động tài sản do khoản mục nào, tác động của từng loại tài sản với quátrình kinh doanh Cụ thể:
Sự biến động của tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn ảnh hưởng đến khả năngứng phó với các khoản nợ đến hạn
Sự biến động của hàng tồn kho chịu ảnh hưởng lớn bởi quá trình xây dựng,bàn giao công trình
Sự biến động của các khoản phải thu chịu ảnh hưởng của công việc thanhtoán và chính sách tín dụng của doanh nghiệp
Sự biến động của tài sản cố định cho thấy qui mô và năng lực sản xuất hiện
có của doanh nghiệp
Thứ hai: xem xét cơ cấu vốn có hợp lý hay không
- Cơ cấu vốn có tác động thế nào đến hoạt động sản xuất kinh doanh
- Xác định tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản đồng thời so sánh tỷ
Trang 38trọng từng loại giữa cuối kì với đầu năm để thấy sự biến động cơ cấu tài sản và tìmnguyên nhân cụ thể của sự biến động về tỷ trọng đó Cụ thể:
Tỷ trọng của tài sản ngắn hạn chiếm trong tổng tài sản Tỷ trọng này cànglớn chứng tỏ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được đầu tư nhiều Trong đó cầnxem xét các chỉ tiêu sau:
Tỷ trọng của tiền chiếm trong tổng tài sản Nếu chỉ tiêu này cao sẽ cho thấytiền của doanh nghiệp nhàn rỗi quá lớn, vốn không được huy động vào sản xuấtkinh doanh dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp Nếu chỉ tiêu này quá thấp cũng gâykhó khăn lớn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thậm chí khôngđảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành được liêntục Điều này cũng dẫn đến việc sử dụng vốn kém hiệu quả
Tỷ trọng các khoản phải thu chiếm trong tổng tài sản Nếu tỷ trọng này thấpchứng tỏ trong kỳ doanh nghiệp đã tích cực thu hồi nợ, hạn chế được sự chiếm dụngvốn của các đối tác Ngược lại nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ trong năm doanh nghiệp
đã không tích cực thu hồi nợ, vốn của doanh nghiệp bị các đối tượng khác chiếmdụng ngày càng nhiều và doanh nghiệp cần có các biện pháp thúc đẩy quá trình thuhồi các khoản nợ phải thu
Tỷ trọng của hàng tồn kho chiếm trong tổng tài sản Chỉ tiêu này càng caochứng tỏ hàng tồn kho của doanh nghiệp nhiều và có thể dẫn đến tình trạng ứ đọngvốn Cần tìm biện pháp giải quyết dứt điểm lượng hàng tồn kho không cần thiết đặcbiệt là phải chú ý tới việc tập trung thi công dứt điểm các công trình và hạng mụccông trình dở dang nhằm thu hồi vốn để sử dụng vốn có hiệu quả hơn
- Tỷ trọng của tài sản dài hạn chiếm trong tổng tài sản Chỉ tiêu càng lớn, nănglực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng tăng
- Các tỷ trọng tăng hay giảm giữa cuối năm và đầu kì là hợp lý hay không dotừng loại hình kinh doanh cụ thể, sự phù hợp hay không của doanh nghiệp với sựbiến động của thị trường, do biến động sản xuất trong một kì Nếu doanh nghiệp sảnxuất thì tỷ trọng lượng vật liệu dự trữ so với tổng tài sản tăng đủ cho nhu cầu sảnxuất là hợp lý Nếu doanh nghiệp cần phải đầu tư trang bị tăng khả năng cạnh tranhthì tỷ suất đầu tư phải tăng hợp lí, nêú doanh nghiệp muốn chủ động hơn thì trongsản xuất thì tỉ trọng tiền so với tổng tài sản tăng mới hợp lý còn hàng tồn kho, tàisản ngắn hạn khác tăng là không hợp lý vì như vậy thu tạm ứng không tốt, xử lí tàisản yếu chưa hợp lý
Trang 39- Dựa vào bảng cân đối kế toán năm 2009 của công ty cổ phần đầu tư và xâydựng giao thông vận tải ta có bảng số liệu sau:
BẢNG 3.1:PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG VÀ CƠ CẤU VỐN
Giá trị ( đ)
Tỷ trọng (%) ± (đ)
562,0 0
II Các khoản đầu tư tài
I Các khoản phải thu dài
IV Tài sản dài hạn khác 601.484.386 10,28 809.015.378 1,71 207.530.992 34,50
TỔNG CỘNG TÀI SẢN 63.194.021.86 8 100,0 0 134.636.136.63 5 100,0 0 71.442.114.76 7 113,0 5
3.1.1.2 Phân tích biến động tài sản
- Qua bảng phân tích trên ta có thể rút ra nhận xét: Tổng tài sản cuối năm so
với đầu năm đã tăng lên 71.442.114.767 đ, tương ứng với tỷ lệ tăng là 113,05%
Trang 40(trong đó tài sản ngắn hạn đã tăng so với đầu năm là 30.067.488.182 đ, tương ứngvới tỷ lệ tăng là 52,44%, tài sản dài hạn cuối năm so với đầu năm là 41.374.626.585
đ, tương ứng với tỷ lệ tăng là 706,89%) Việc tăng tổng tài sản nói trên cùng với sựtăng lên của tài sản cố định cho thấy quy mô về vốn của doanh nghiệp tăng lên Khảnăng về cuối kỳ quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng
Đi vào xem xét từng loại tài sản ta thấy:
- Ở phần tài sản ngắn hạn:
+ Tài sản ngắn hạn cuối năm so với đầu năm tăng lên 30.067.488.182 đ là dotiền và các khoản tương tiền cuối năm so với đầu năm tăng 34.822.992.293 đ, tươngứng với tỷ lệ 562%, lượng tiền mặt tăng nhiều làm cho doanh nghiệp có khả năngứng phó tốt với các khoản nợ ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh cũng tăng tạođiều kiện để thực hiện giao dịch bằng tiền.Tuy nhiên việc để quá nhiều tiền cũnggây ảnh hưởng đến việc huy động vốn sản xuất
+ Hàng tồn kho tăng 3.284.279.711 đ, tương ứng với tỷ lệ 43,05% Nhưng bêncạnh đó, các khoản phải thu ngắn hạn giảm đi 7.987.032.481 đ, tương ứng tỷ lệ19,43%, tài sản ngắn hạn khác giảm đi 52.751.341 đ, với tỷ lệ giảm 2,18%
+ Các khoản phải thu ngắn hạn cuối năm giảm đáng kể so với ở đầu năm
(71,67% ở đầu năm và 37,88% ở cuối năm) chứng tỏ doanh nghiệp đã có biện pháptích cực để thu hồi các khoản nợ hợp lý, giảm ứ đọng vốn trong thanh toán Về bảnchất đây chính là các khoản nợ mà doanh nghiệp bị chiếm dụng Tỷ trọng các khoảnphải thu ngắn hạn thấp thể hiện khả năng tài chính của doanh nghiệp để nắm bắt các
cơ hội đầu tư
+ Do quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm tăng lên làmcho hàng tồn kho của doanh nghiệp cũng tăng lên.doanh nghiệp cần có biện phápgiảm ứ đọng vốn,giảm hàng tồn kho như thi công dứt điểm tránh tràn lan, đẩynhanh nghiệm thu bàn giao công trình thụ hồi vốn
- Ở phần tài sản dài hạn:
Tài sản dài hạn cuối năm tăng so với đầu năm 41.374.626.585 đ, tương ứngvới tỷ lệ 706,89% là do: tài sản cố định hữu hình tăng 1.934.909.516 đ, với tỷ lệ37,89% so với đầu năm thể hiện trong năm cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
đã được tăng cường điều này góp phần làm tăng sức khả năng cạnh tranh của doanh