Do đó, muốn nền kinh tế trong nước tăng trưởng ổn định và bắt nhịp được với sự phát triển của nền kinh tế Thế giới thì cần chú trọng đến khâu phân phối đối với các sản phẩm sản xuất tron
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa
Thương mại và Kinh tế quốc tế đã giảng dạy và truyền đạt cho em những
kiến thức vô cùng quý báu Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và chỉ
bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện chuyên đề
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị tại công ty TNHH thương
mại quốc tế và dịch vụ siêu thị Big C Thăng Long đã tạo điều kiện giúp
đỡ em trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại công ty
Do kiến thức còn hạn hẹp nên nội dung chuyên đề không thể tránh
khỏi có những sai sót Kính mong các thầy cô giáo góp ý để chuyên đề
được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Nguyễn Thanh Huyền
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Chuyên đề thực tập chuyên ngành đề tài: ” Mở cửa dịch vụ bán lẻ
ở Việt Nam theo cam kết WTO (trường hợp BigC)” do em thực hiện
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thường Lạng và sự giúp đỡ
của các anh chị tại công ty TNHH thương mại quốc tế và dịch vụ siêu
thị Big C Thăng Long
Em xin cam đoan chuyên đề không sao chép từ bất kỳ chuyên đề
nào Các số liệu có trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn
gốc rõ ràng, do em thu thập được từ các tài liệu và do các anh chị tại
công ty TNHH thương mại quốc tế và dịch vụ siêu thị Big C Thăng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
Trang 41 Bảng 1.1 Quy mô nhân sự BigC Thăng Long năm 2010 6
Nghĩa tiếng anh Nghĩa tiếng việt
1 B2B Bussiness to bussiness Hình thức thương mại điện tử
10 GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm quốc nội
14 UAE United Arab Emirates Các tiểu vương quốc Ả Rập
15 WTO World trade organization
Trang 54 Bảng 2.3 Tổng mức doanh thu bán lẻ của BigC Thăng
Long theo giá danh nghĩa ( 2005 - 2010) 48
5 Biểu đồ 2.1 Tổng mức bán lẻ giai đoạn 2000 – 2006 31
6 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu mạng lưới bán lẻ Việt Nam 34
7 Biểu đồ 2.3
Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ của cả nước phân theo cơ cấu các thành phần kinh tế giai đoạn 2000 - 2005
35
8 Biểu đồ 2.4 Diện tích bán buôn giai đoạn 2005 - 2012 42
9 Biểu đồ 2.5 Doanh thu và số lượng siêu thị 2005 - 2014 44
10 Biểu đồ 2.6 Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội
11 Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty 7
12 Sơ đồ 2.1 Cấu trúc kênh phân phối thị trường bán lẻ 8
13 Sơ đồ 2.2 Minh họa cho các cửa hàng làm người trung
14 Sơ đồ 2.3 Các kênh phân phối từ người sản xuất đến
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động phân phối – bán lẻ là một khâu quan trọng trong chu trình tái sản xuất xã hội, đó là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Hoạt động phân phối – bán lẻ phát triển sẽ tạo động cơ thúc đẩy quá trình sản xuất, qua đó kích thích nền kinh tế phát triển Do đó, muốn nền kinh tế trong nước tăng trưởng ổn định và bắt nhịp được với sự phát triển của nền kinh tế Thế giới thì cần chú trọng đến khâu phân phối đối với các sản phẩm sản xuất trong nước, nhất là thông qua hệ thống bán
lẻ hiện đại
Hội nhập kinh tế quốc tế đi kèm với các cam kết của Việt Nam trong việc mở cửa thị trường, giảm dần bảo hộ Điều đó mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam Mở của dịch vụ bán lẻ là một trong những cam kết của Chính phủ Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO Thị trường bán lẻ hiện đại Việt Nam là một lĩnh vực khá mới mẻ với nhiều doanh nghiệp sản xuất và người tiêu dùng, tuy nhiên lại có đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế, phân phối – bán lẻ đóng góp khoảng 14% GDP, sử dụng hơn 5 triệu lao động, cao nhất trong các ngành dịch vụ Với dân số khoảng 86 triệu người (Số liệu
từ cuộc Tổng điều tra dân số 2009- Tổng cục thống kê), cơ cấu dân số vàng, đi kèm với những điều kiện thuận lợi khác đã khiến Việt Nam trở thành mảnh đất màu mỡ cho việc phát triển hệ thống bán lẻ Để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ khi Việt Nam thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, xây dựng và phát triển theo mô hình chuỗi siêu thị là một trong những phương cách
mà BigC hướng tới để nhằm đạt được sự thành công Việt Nam chính thức mở cửa thị trường bán lẻ cho các nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình gia nhập WTO từ ngày 1/1/2009 Do đó, sự cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ sẽ rất lớn và khốc liệt đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước nói chung và BigC riêng Các nhà phân phối, bán lẻ trong nước sẽ phải ý thức được điều đó để xây dựng cho mình những chiến lược kinh doanh cụ thể có tính khả thi cao sao cho có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài
Trang 7BigC đang từng bước nâng cao chất lượng phục vụ và có những biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh để có thể đứng vững và phát triển Tuy nhiên, việc thực hiện cam kết mở cửa dịch vụ sau khi gia nhập WTO cần nhiều khó khăn và
BigC vẫn còn có những lúng túng nhất định Chính vì vậy đề tài: “Mở cửa dịch vụ bán lẻ ở Việt Nam theo cam kết WTO ( trường hợp BigC).” được chọn để
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mở cửa dịch vụ bán lẻ của Việt Nam theo cam kết WTO ( trường hợp BigC)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thời gian: Số liệu nghiên cứu tổng hợp từ năm 2007 đến năm 2010
Về mặt địa điểm : Siêu thị BigC Thăng Long
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
-Thông tin được thu thập dựa trên các báo cáo các sách báo và tài liệu khác
-Phương pháp thông kê, ước lượng, so sánh và đối chiếu số liệu
-Phương pháp ước tính và dự báo dựa trên cơ sở của kinh tế lượng
Trang 85 Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, mục lục, danh mục đồ thị bảng biểu, danh mục từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được trình bày trong 3 chương:
-Chương 1 Giới thiệu cơ sở thực tập và thị trường bán lẻ
-Chương 2.Thực trạng mở cửa thị trường bán lẻ của Việt Nam theo cam kết WTO và hoạt động của BigC
-Chương 3 Triển vọng và giải pháp thúc đẩy mở cửa thị trường bán lẻ Việt Nam theo cam kết WTO
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP VÀ THỊ
TRƯỜNG BÁN LẺ1.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH thương mại quốc tế và dịch vụ siêu thị Big C Thăng Long
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH thương mại quốc tế và dịch vụ siêu thị Big C Thăng Long là công ty thành viên của hệ thống siêu thị BigC tại Việt Nam – chi nhánh của tập đoàn bán lẻ Châu Âu Caisino
BigC là thương hiệu của tập đoàn Casino, một trong những tập đoàn bán lẻ hàng đầu Châu Âu với hơn 9000 cửa hàng tại Việt Nam, Thái Lan, Achentina, Uruguay, Vênezuela, Braxin, Colombia, Ân Độ Dương, Hà Lan, Pháp…sử dụng trên 19000 nhân viên
Hệ thống 8 siêu thị BigC trên toàn quốc hiện nay đang sử dụng gần 6000 lao động, kinhdoanh trên 50000 mặt hàng, trong đó 95% hàng hóa sản xuất tại Việt Nam Ngoài hoạt động kinh doanh bán lẻ, BigC còn xuất khẩu trên 1000 container hàng hóa mỗi năm với kim ngạch trên 13 triệu USD sang hệ thống các cửa hàng tập đoàn Casino tại Châu Âu và Nam Mỹ Tập đoàn siêu thị hàng đầu thế giới BigC Thăng Long rộng 12000 m2, tọa lạc tại đường Trần Duy Hưng, quận Cầu Giấy, chính thức đi vào hoạt động 21/1/2005
Sau hơn 3 năm hoạt động ngày 8/1/2008, trung tâm thương mại BigC đã chính thức khai trương BigC Thăng Long vừa hoàn thành việc mở rộng với 3 tầng lầu bao gồm một đại siêu thị lớn nhất tại Việt Nam với diện tích kinh doanh tự chọn 9000m2 và trung tâm mua sắm trên 10000m2 với 135 cửa hiệu kinh doanh, nhiều loại hình dịch vụ đa dạng và phong phú nhiều thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam cũng như trên thế giới, ngoài ra còn có các khu vui chơi, giải trí, ẩm thực
Trang 101.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của công ty
Chức năng và nhiệm vụ chính của siêu thị BigC Thăng Long bán lẻ - bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng với phương châm “ BigC – Giá rẻ cho mọi nhà”
Thương hiệu « Big C » thể hiện hai tiêu chí quan trọng nhất trong đinh hướng
kinh doanh và chiến lược để thành công của chúng tôi
« Big » có nghĩa tiếng Việt là “To lớn”, điều đó thể hiện quy mô lớn của các cửa hàng và sự lựa chọn rông lớn về hàng hóa mà chung tôi cung cấp Hiện tại, mỗi Big C có khoảng hơn 40.000 mặt hàng để đáp ứng cho nhu cầu của Khách hàng « C » là cách viết tắt của chữ “Customer” (Tiếng Anh), có nghĩa tiếng Việt là
“Khách hàng”, Chữ “C” đề cập đến những Khách hàng thân thiết của chúng tôi, họ
là chìa khóa dẫn đến thành công trong chiến lược kinh doanh của Big C
Với sự nỗ lực không ngừng của tập thể trên 5.600 thành viên, Big C tự hào giới thiệu đến người tiêu dùng trên toàn quốc những không gian mua sắm hiện đại, thoáng mát, thoải mái với chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú, chất lượng kiểm soát và giá cả hợp lý, đi cùng với những dịch vụ khách hàng thật hiệu quả Bên cạnh
đó, tất cả các cửa hàng Big C trên toàn quốc đều cung cấp những kinh nghiệm mua sắm với nhiều dịch vụ tiện ích cho khách hàng
Lĩnh vực kinh doanh: BigC Thăng Long kinh doanh theo mô hình thể nghiệm mới ( Trung tâm thương mại cao cấp), kết hợp giữa cửa hàng kinh doanh bán lẻ với giá bán thưc phẩm lấy thẳng từ nhà sản xuất Đặc biệt 95%hàng hóa có mặt tại siêu thị là made in Việt Nam Với cơ cấu mặt hàng kinh doanh đa dạng và phong phú, chiều dài lên tới trên 50000 mặt hàng các loại,bao gồm các mặt hàng thực phẩm tươi sống, hàng may mặc, hàng bách hóa,các mặt hàng có sức tiêu thụ lớn như : đồ
ăn khô, các loại gia vị,đồ uống,bánh,rượu, thuốc lá, hóa chất, thực phẩm, mỹ phẩm… đáp ứng tối đa nhu cầu mua sắm ngày càng cao và phong phú của người dân ở lân cận và trong thành phố Hà Nội
1.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
Big C Thăng Long sử dụng gần 3.000 nhân viên trong hệ thống siêu thị, hầu hết các nhân viên của Big C tại các cửa hàng có trình độ THPT và đang học ĐH,
Trang 11CĐ chủ yếu là nhân viên bán hàng và thu ngân, nhân viên trình độ trên ĐH có tỷ lệ thấp nhất
Bảng 1.1 : Quy mô nhân sự của BigC Thăng Long năm 2010 phân theo trình độ học
(Nguồn: Tổ chức nhân sự tại siêu thị Big C Thăng Long)
Về đặc điểm bộ máy quản lý, Big C có quy mô quản lý gọn nhẹ và có hệ thống, bộ máy gián tiếp được sắp xếp phù hợp với khả năng có thể kiêm được nhiều việc
Giám đốc
Điều hành hoạt động kinh doanh, đưa ra những định hướng phát triển sự tồn tại của công ty, phụ trách những vấn đề đối nội, đối ngoại, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Bộ Công thương về các hoạt động và hiệu quả kinh doanh của toàn công ty Điều hành quản lý công ty theo luật doanh nghiệp và các quy định khác có liên quan theo thỏa ước lao động, hợp đồng lao động, quy chế điều khiển công ty
Phó giám đốc
Giúp việc cho Giám đốc, thay mặt Giám đốc chỉ đạo, điều hành công việc của Trung tâm khi Giám đốc vắng mặt.Trực tiếp phụ trách một số công việc cụ thể được Giám đốc phân công như: phụ trách mảng công việc tổng hợp - nghiệp vụ, biên tập, phát hành
Trang 12Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty
2.1 Tổng quan về thị trường bán lẻ
2.1.1 Định nghĩa về thị trường bán lẻ
Bán lẻ là hoạt động bán các sản phẩm hoàn chỉnh và dịch vụ cho người tiêu thụ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình Nói cách khác, bán lẻ gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh
Người bán lẻ là các cá nhân hay tổ chức làm công việc bán lẻ thông qua các hình thức đa dạng như bán hàng trực tiếp, bán qua điện thoại, bán hàng qua internet…
Thị trường bán lẻ là thị trường ở đó diễn ra hoạt động bán lẻ Những người bán
lẻ và người tiêu dùng là hai tác nhân chính của thị trường Những người bán lẻ (cá
Văn phòng công ty Bộ phận bán hàng
Phó giám đốc
Phòng nhân
sự Phòng thu
mua
Dịch vụ khách hàng
Trang 13Người sản
xuất
nhân, tổ chức) và người tiêu dùng tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa trong một khuôn khổ khung pháp lý nhất định
2.1.2 Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ
Sơ đồ 2.1: Cấu trúc kênh phân phối cảu thị trường bán lẻ
Dù hàng hoá được phân phối như thế nào thì kênh phân phối của thị trường bán lẻ
về cơ bản bao gồm 3 thành viên: người sản xuất, người trung gian và người tiêu dùng cuối cùng
- Người sản xuất: là người trực tiếp sản xuất ra hàng hoá đó Đôi khi người sản xuất cũng là người bán thẳng hàng hoá đó tới tay người tiêu dùng không cần qua trung gian
- Người trung gian: là những người tham gia vào việc phân phối hàng hoá tới người tiêu dùng Người trung gian có thể gồm: đại lý môi giới, người bán buôn, người bán lẻ (cửa hàng tiện dụng, siêu thị và đại siêu thị, cửa hàng bách hoá, cửa hàng đại hạ giá, cửa hàng chuyên doanh, trung tâm thương mại )
Người trung gian
Người tiêu dùng
Trang 14Sơ đồ 2.2 : Minh hoạ cho các cửa hàng làm người trung gian bán lẻ
- Người tiêu dùng: là người cuối cùng nhận được hàng hoá đó Họ nhận hàng hoá đó với mục đích để tiêu dùng
Do sự đa dạng của khâu trung gian mà hàng hoá có thể đến tay của người tiêu dùng theo nhiều con đường dài ngắn khác nhau:
- Người sản xuất trực tiếp đưa hàng hoá của mình tới tận tay người tiêu dùng
mà không qua một khâu trung gian nào khác Hàng hoá được bán tại các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của mình hoặc qua điện thoại, qua mạng, qua đơn đặt hàng
+ Ưu điểm: Ưu điểm của trường hợp này là hàng hoá tiêu thụ nhanh chóng Vì hàng hoá đến thẳng tay người tiêu dùng nên giá cả hợp lý hơn Đồng thời, do không phải qua khâu trung gian nên nhà sản xuất có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn Đặc
Môi giới
CH nhượng quyền
CH Bán và giới thiệu sản phẩm
Người tiêu dùng
Trang 15biệt, ưu điểm lớn nhất đó là nhà sản xuất có thể dễ dàng nắm bắt, nhận biết nhu cầu của khách hàng.
+Nhược điểm: Để thực hiện đưa hàng hoá theo con đường này và đảm bảo được nguyên tắc lợi nhuận thì người tiêu dùng ở đây phải là người có nhu cầu tiêu thụ lớn và ổn định Trên thực tế, rất khó doanh nghiệp có thể tìm kiếm được những người tiêu dùng đáp ứng được yêu cầu đó
+ Ứng dụng: Con đường trực tiếp thường được áp dụng trong trường hợp bán những hàng hoá có giá trị lớn, những hàng hoá có tính chất thương phẩm đặc biệt (hàng tươi sống, hàng lâu bền) Ví dụ: bán ô tô, cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm
- Người sản xuất đưa hàng hoá của mình tới tay người tiêu dùng thông qua khâu trung gian là những nhà bán lẻ hoặc là thông qua nhà bán buôn rồi đến người bán lẻ cuối cùng là đến người tiêu dùng
Trường hợp hàng hoá theo con đường ngắn chỉ có một người trung gian là người bán lẻ:
+ Ưu điểm: Trong trường hợp này thì người sản xuất có thể tận dụng được vị trí bán hàng, hệ thống phân phối của người bán lẻ Qua đó, nhà sản xuất có thể tăng được uy tín của hàng hoá Ngoài ra, người sản xuất cũng dễ dàng điều chỉnh hoạt động bán hàng của mình
+ Nhược điểm: Rõ ràng trong trường hợp này lợi nhuận đã bị phân chia một phần cho nhà bán lẻ Người sản xuất cũng khó điều phối hàng hoá của mình do các địa điểm bán hàng thuộc sở hữu nhiều người bán lẻ khác nhau
+ Ứng dụng: Các người sản xuất có quy mô nhỏ nên thường kiêm cả hoạt động bán buôn thì áp dụng trường hợp này Các người bán lẻ cần phải đáp ứng được yêu cầu là phải có vốn lớn và mạng lưới rộng rãi
Trường hợp hàng hoá theo con đường trung bình là qua người bán buôn đến người bán lẻ rồi đến người tiêu dùng
Trang 16+ Ưu điểm: Để mở rộng được thị trường của mình thì người sản xuất cần phải
có vốn lớn, quan hệ rộng rãi, có bí quyết trong sản xuất, phân phối, bảo quản hàng
hoá Không phải người sản xuất nào cũng có thể đáp ứng được yêu cầu đó Khi đó,
để mở rộng thị trường thì những người sản xuất này sẽ nhờ đến vai trò của người
bán buôn
+ Nhược điểm: Chi phí sản xuất hàng hoá chắc chắn sẽ tăng lên, từ đó người
sản xuất bị chia sẻ lợi nhuận nhiều hơn Người sản xuất cũng không thể tự mình
điều chỉnh được thị trường phân phối của mình do còn phải phụ thuộc vào người
bán buôn
+ Ứng dụng: Mở rộng thị trường phân phối hàng hoá
- Ngoài ra, hàng hoá có thể đến tay người tiêu dùng qua những con đường dài
hơn Hàng hoá đi từ nhà môi giới đến những nhà bán buôn rồi đến những nhà bán lẻ
cuối cùng mới là người tiêu dùng
+ Ưu điểm: Trong trường hợp này người sản xuất có thể chuyên tâm vào sản
xuất, khâu phân phối được giao phối các người môi giới
+ Nhược điểm: Chi phí tăng lên rất nhiều
+ Ứng dụng: Trường hợp này áp dụng khi hàng hoá phải thâm nhập vào những
thị trường có những luật lệ quy tắc khó khăn hoặc là những thị trường đầu tiên mà
người sản xuất bán hàng hoá của mình Tại những thị trường này, để có thể bán
được hàng hoá thì cần những người am hiểu sâu sắc thị trường, có mối quan hệ tốt
với các người bán buôn Người đó chính là người môi giới
Cụ thể phân tích trên sơ đồ sau:
Người
Người
sản xuất
Người Người Người
tiêu dùng
Trang 17Sơ đồ 2.3: Các kênh phân phối từ người sản xuất đến người tiêu dùng
Qua sơ đồ trên ta thấy, người sản xuất có rất nhiều cách để đưa hang hoá của
mình đến người tiêu dùng Họ có thể bán hàng trực tiếp tới tay người tiêu dùng thông qua các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm, bán buôn cho những người bán
lẻ để phân phối được nhiều sản phẩm, đồng thời họ có thể bán hàng thông qua môi giới khi đưa hàng hoá của mình sang thị trường nước ngoài Kết hợp nhiều con đường phân phối khác nhau giúp người sản xuất vừa am hiểu nhu cầu của thị trường
để điều chỉnh sản xuất vừa tiêu thụ sản phẩm được tốt hơn Khi lựa chọn các con đường phân phối hàng hoá của mình thì người sản xuất cần căn cứ vào:
+ Nhu cầu của thị trường: Nhu cầu của thị trường được xem xét trên các góc
độ sau: số lượng của hàng hoá thị trường cần nhiều hay ít; quy mô, những khu vực
có nhu cầu đối với sản phẩm hàng hoá; chu kỳ sống của sản phẩm
+ Điều kiện của người sản xuất: Điều kiện ở đây là thực tế về vốn, về mạng lưới phân phối của người sản xuất Điều kiện cũng có thể hiểu đó là người sản xuất muốn tung ra sản phẩm mới hay là mở rộng thị trường
+ Chiến lược phân phối hàng hoá của người sản xuất
2.1.3 Các loại hình bán lẻ
Các loại hình bán lẻ vô cùng phong phú và đa dạng Dựa trên các tiêu chí khác nhau người ta có thể phân loại ra nhiều loại hình bán lẻ khác nhau Ví dụ phân loại theo quy mô thì các loại hình bán lẻ có các cơ sở bán lẻ lớn, vừa và nhỏ Hay phân loại theo các chủ thể tham gia bán lẻ thì các loại hình bán lẻ gồm có doanh nghiệp bán lẻ, hợp tác xã bán lẻ, cá thể hộ gia đình Tuy nhiên, phổ biến và dễ hiểu nhất
Người tiêu dùng
Người bán lẻ
Người bán lẻ
Người môi giới
Người bán buôn
Người bán buôn
Trang 18thì người ta thường phân loại thị trường bán lẻ theo tiêu thức cách thức bán hàng và hàng hoá kinh doanh.
Theo đó, trong thị trường bán lẻ các loại hình bán lẻ gồm có bán lẻ tại cửa hàng, bán lẻ không qua cửa hàng và bán lẻ dịch vụ:
- Bán lẻ tại cửa hàng: Đây là loại hình bán lẻ phổ biến nhất hiện nay Theo loại bán lẻ này, các tổ chức hay cá nhân bán lẻ có một địa điểm kinh doanh cố định Tại đây, người ta tổ chức trưng bày hàng hoá và người tiêu dùng tới đây để mua và thanh toán trực tiếp Các địa điểm bán hàng này tuỳ theo quy mô, tính chất của từng loại cửa hàng mà người ta phân loại ra các loại cửa hàng khác nhau Hiện nay có các loại cửa hàng bán lẻ như sau:
Chợ: Chợ là một loại hình bán lẻ truyền thống lâu đời và phổ biến khắp nơi trên thế giới Chợ có thể hiểu là một nơi quy tụ nhiều người bán lẻ và người tiêu dùng để tiêu thụ các loại hàng hoá khác nhau Hoạt động buôn bán của chợ có thể diễn ra hàng ngày hoặc định kỳ theo một khoảng thời gian nhất định
Siêu thị: Siêu thị là một loại hình bán lẻ hiện đại, xuất hiện chưa lâu tại Việt Nam Siêu thị được hiểu là một cửa hàng bán lẻ kinh doanh theo phương thức tự phục vụ, được trang bị cơ sở vật chất tương đối hiện đại, bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu phong phú của người dân Giá cả tại siêu thị thường cố định theo
sự ấn định của người kinh doanh không linh hoạt như giá cả tại chợ là kết quả thương lượng giữa người bán và người mua Siêu thị thường phải đáp ứng được một
số quy định nhất định về cơ sở vật chất: quy mô, địa điểm, kho Quy định này tuỳ thuộc vào cơ quan quản lý của siêu thị này
Cửa hàng bán lẻ độc lập: Loại hình bán lẻ này tồn tại rất phổ biến Các cửa hàng này thường thuộc sở hữu của cá nhân hay hộ gia đình Nó tồn tại dưới hình thức các cửa hàng, cửa tiệm nhỏ tại các mặt phố, khu dân cư Các loại hàng hoá tại các cửa hàng này thường là các hàng tiêu dùng, dân dụng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày
Trang 19Cửa hàng bán lẻ dạng hợp tác xã: Hợp tác xã bán lẻ được hình thành bởi một nhóm người bán lẻ liên kết với nhau để cùng buôn bán, phân phối hàng hoá Sự liên kết này dựa trên sự tự nguyện, đồng thời các thành viên có quyền tự do gia nhập tách khỏi hợp tác xã và tự cung ứng hàng hoá từ các nguồn ngoài hợp tác xã.
Cửa hàng bách hoá: Đây là loại hình cửa hàng lớn cả về quy mô và số lượng hàng hoá Các cửa hàng bách hoá thường được xây dựng tại các khu dân cư tập trung đông đúc Hàng hoá tại đây phong phú về chủng loại và mẫu mã nên thường được bày bán chuyên biệt tại các khu vực riêng của cửa hàng
Cửa hàng đại lý: Các cửa hàng này được người sản xuất hoặc người phân phối trung gian cho việc tiêu thụ hàng hoá trên cơ sở hợp đồng đại lý Hoạt động của các cửa hàng này thường độc lập và hưởng một khoản hoa hồng nhất định
Cửa hàng nhượng quyền thương mại: Đây là một hình thức mới mẻ, nó bắt đầu xuất hiện tại Mỹ từ đầu thế kỷ 20 và ngày càng phát triển mạnh mẽ Cửa hàng này thường được kí hợp đồng để được nhượng quyền kinh doanh một loại hàng hoá dịch vụ nhất định từ nhà sản xuất Các cửa hàng nhượng quyền là các cửa hàng có vốn sẵn và địa điểm kinh doanh Các cửa hàng này kinh doanh dựa vào thương hiệu của một hãng đã nổi tiếng trên thị trường Ngoài ra, các cửa hàng này cũng nhận được sự tư vấn, cung cấp bí quyết về marketing, tổ chức quản lý, đào tạo nguồn nhân lực từ đơn vị trao quyền kinh doanh Để đổi được điều đó, thì ngoài số tiền đóng lúc đầu ,các cửa hàng còn phải đóng thêm một khoản phí nhất định
Cửa hàng chuyên doanh: Đây là hình cửa hàng kinh doanh chuyên sâu Nó chỉ cung cấp một hay một nhóm hàng hoá nhất định hay chỉ phục vụ một nhóm người tiêu dùng nhất định Ví dụ:cửa hàng chuyên doanh có thể là cửa hàng chỉ bán một loại hàng hoá như quần áo, giày dép hay một nhóm sản phẩm như hàng tươi sống, hàng đông lạnh; cửa hàng chuyên bán hàng cho trẻ em, người già
Cửa hàng giảm giá, hạ giá: Cửa hàng này bán các loại hàng hoá với giá thấp hơn với giá bán lẻ theo yêu cầu của người sản xuất hoặc tính chất của sản phẩm
Trang 20Cửa hàng kho: Cửa hàng này mang tính chất như một kho hàng Các cửa hàng này thường không trưng bày hàng hoá, không quảng cáo tận dụng được diện tích và chi phí.
Cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm: Cửa hàng thuộc sở hữu của người sản xuất Đây là kênh phân phối của trực tiếp của người sản xuất tới người tiêu dùng
- Bán lẻ không qua cửa hàng: Theo đó các tổ chức và cá nhân bán lẻ không cần thiết phải có một địa điểm bán hang cố định Người ta có thể bán hàng tận nhà bán hàng qua bưu điện, bán hàng qua mạng…
- Bán lẻ dịch vụ: Tức là, ở đây hàng hoá là dịch vụ chứ không phải là hàng hoá đơn thuân Các loại hình bán lẻ dịch vụ như: cho thuê phòng ở, giặt là, cho thuê phương tiện…
Mặc dù, các cửa hàng bán lẻ vẫn còn phổ biến nhưng cùng với sự phát triển của cuộc sống thì các loại hình bán lẻ không qua cửa hàng và bán lẻ dịch vụ cũng ngày càng phổ biến hơn Do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, công nghệ viễn thông đặc biệt là mạng internet thì hiện nay hoạt động thương mại điện tử (giới thiệu, bán hàng và thanh toán qua mạng) đang rất phát triển Đồng thời, thu nhập của người tiêu dùng tăng lên dẫn tới nhu cầu di lại, nghỉ ngơi, ăn uống tăng lên kéo theo các loại hình dịch vụ tăng lên không ngừng
2.1.4 Vai trò của thị trường bán lẻ
Khi hoạt động bán lẻ phát triển tốt, lành mạnh thì nhờ đó sản xuất tăng, phục vụ được nhu cầu của người tiêu dùng và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Hoạt động bán lẻ có vai trò điều tiết hàng hoá Nó điều tiết hàng hoá từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng Nó điều tiết hàng hoá ở tất cả các vùng miền từ thành phố, nông thôn, vùng sâu vùng xa bất kể nơi đâu có nhu cầu Hoạt động bán lẻ phát triển
nó đảm bảo cung cấp hàng hoá công bằng cho mọi người dân trên khắp các vùng trên cả nước Do vậy, hoạt động bán lẻ cũng có vai trò góp phần vào việc giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực
Trang 21Cơ cấu thương mại có những biến đổi sâu sắc khi mà hoạt động bán lẻ phát triển Khi đó thị trường ngày càng lành mạnh, cạnh tranh hiệu quả hơn.
Sự phát triển của hoạt động bán lẻ cũng tăng cường khả năng tự điều tiết ít chịu ảnh hưởng của Nhà nước của thị trường hơn Khi hoạt động bán lẻ phát triển tức là hàng hoá phong phú và với nhiều nhà phân phối cộng với các quy định cạnh tranh lành mạnh thì chắc chắn người tiêu dùng sẽ nhận được những hàng hoá tốt nhất với giá cả hợp lý nhất
Trong nền sản xuất hàng hoá kinh tế thị trường có xuất hiện mâu thuẫn cơ bản giữa một nền sản xuất hàng hoá lớn và nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Sở dĩ
có mâu thuẫn đó là do vô số người tiêu dùng khác nhau lại có những nhu cầu, sở thích khác nhau Khi xã hội càng phát triển thì sự đa dạng của những nhu cầu này ngày càng tăng Trong khi đó các doanh nghiệp phải tăng quy mô sản xuất để tối đa hoá lợi nhuận Và hoạt động bán lẻ có vai trò giải quyết được mâu thuẫn cơ bản đó
2.1.5 Chức năng của hoạt động bán lẻ:
Hoạt động bán lẻ có rất nhiều chức năng Nhưng các chức năng chính của bán
lẻ là mua, bán, vận chuyển, lưu kho, phân loại, tài chính, chịu rủi ro và thông tin thị trường
- Chức năng cơ bản nhất của hoạt động bán lẻ là chức năng mua và bán: Chức năng mua tức là tìm kiếm, đánh giá, so sánh giá trị các loại hàng hoá dịch vụ Chức năng bán là tiêu thụ, phân phối các loại sản phẩm này Lợi nhuận của các nhà bán lẻ chính là nhờ vào sự chênh lệch giữa giá hàng hoá bán ra và mua vào Do đó để tối
đa hoá lợi nhuận các nhà bán lẻ cố gắng mua hàng với giá rẻ và bán ra với số lượng lớn và giá cao
- Chức năng cung cấp tài chính: Chức năng này thể hiện ở việc các nhà bán lẻ cung cấp tài chính tín dụng cần thiết cho một hoạt động sản xuất hàng hoá nào đó
Có thể nhà bán lẻ cung cấp tài chính trước một phần để nhà sản xuất Việc thực hiện chức năng này tuỳ thuộc vào khả năng tài chính của nhà bán lẻ và mối quan hệ giữa nhà bán lẻ và nhà sản xuất
Trang 22- Chức năng thông tin: Chức năng thông tin của hoạt động bán lẻ được thể hiện
ở hai chiều Thông qua các hoạt động quảng bá, marketing của các nhà bán lẻ thì các thông tin về sản phẩm được giới thiệu tới người tiêu dùng Đồng thời, qua hoạt động bán lẻ các nhà bán lẻ là người tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng Họ là những người hiểu rõ nhu cầu, thị hiếu, thu nhập của người tiêu dùng nhất Qua đó, nhà bán lẻ sẽ cung cấp những thông tin phản hồi tới nhà sản xuất để nhà sản xuất có thể điều chỉnh sản xuất để đưa ra những sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất với nhu cầu của người tiêu dùng
- Chức năng vận tải: dựa vào việc mua bán hàng hoá của nhà sản xuất để bán cho người tiêu dùng thì nhà bán lẻ có thể tự mình thực hiện chức năng vận tải hàng hoá trong hệ thống phân phối của mình
- Chức năng phân loại và tiêu chuẩn hoá các loại hàng hoá: Người tiêu dùng có nhu cầu, thu nhập rất đa dạng Người tiêu dùng ở nông thôn có thu nhập khác với người tiêu dùng ở thành thị Người trẻ có yêu cầu về mẫu mã chất lượng hàng hoá khác với người già Hoạt động bán lẻ đã thực hiện chức năng sắp xếp, phân loại số lượng hàng hoá gần nhất với nhu cầu của người tiêu dùng Tiêu chuẩn hoá là công việc tìm kiếm những sản phẩm đồng nhất giữa các nhà sản xuất có thể thay thế cho nhau
- Chức năng lưu kho, bảo quản sản phẩm: Đối với mọi hàng hoá đều có thời hạn
sử dụng và điều kiện bảo quản nhất định Chức năng này của hoạt động bán lẻ là đảm bảo hàng hoá đảm bảo chất lượng nguyên gốc nhất có thể khi đến tay người tiêu dùng Thước đo của chức năng này là khả năng đảm bảo sự ăn khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng
- Chức năng chia sẻ rủi ro: Mức độ chia sẻ rủi ro tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa nhà bán lẻ và nhà sản xuất Nếu như nhà sản xuất tự phân phối hàng hoá của mình thì sự chia sẻ rủi ro bằng không Nếu như nhà bán lẻ mua đứt hàng hoá của nhà sản xuất thì sau đó họ sẽ tự chịu trách nhiệm về bảo hành, vận chuyển hàng hoá cho khách hàng Khi đó rủi ro đối với nhà sản xuất đã được chuyển tới nhà bán lẻ tại thời điểm bán xong sản phẩm đó Trong trường hợp các nhà sản xuất gửi bán sản
Trang 23phẩm, hay nhà bán lẻ là đại lý hoa hồng, tiêu thụ cho nhà sản xuất thì rủi ro được chia sẻ đối với cả người sản xuất và bán lẻ đến khi bán, bảo hành xong sản phẩm.
- Một số chức năng khác: Các nhà bán lẻ như các siêu thị hiện đại còn thực hiện chức năng chế biến nhất đối với hàng thực phẩm Ngoài ra, các nhà bán lẻ còn thực hiện các công việc khác như đóng gói, gắn nhãn mác
Tóm lại, hoạt động bán lẻ có vai trò, chức năng vô cùng quan trọng Nó được coi
là một mắt xích không thể thiếu của quá trình tái sản xuất mở rộng đảm bảo cho quá trình này thông suốt từ đó đem lại hiệu quả kinh tế xã hội
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tới thị trường bán lẻ:
+ Các chính sách của Nhà nước: Đây là yếu tố có tác động quyết định tới sự hình thành và phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ Các phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ như: phân phối kế hoạch hoá; tự do buôn bán hay hoạt động theo cơ chế thị trường có quản lý Các chính sách của Nhà nước thông qua các văn bản pháp luật sẽ quyết định phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ Hiện nay, chính sách của Nhà nước Việt Nam là thị trường bán lẻ phát triển theo kiểu kinh tế thị trường có quản lý Chính sách của Nhà nước cũng thể hiện định hướng, chiến lược phát triển thị trường bán lẻ theo từng nhóm hàng; nhóm đối tượng tham gia vào thị trường Ví dụ như tại Việt Nam các chính sách liên quan tới thị trường bán lẻ đều có những quy định hạn chế tiêu dùng những mặt hàng cao cấp hay hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp, cơ sở bán lẻ trong nước
Các chính sách của Nhà nước còn có vai trò trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các nhóm đối tượng tham gia vào thị trường bán lẻ Các thị trường bán lẻ càng phát triển thị các chính sách của Nhà nước càng có xu hướng thông thoáng và tạo ra môi trường kinh doanh công bằng hơn Ngoài ra, các chính sách của Nhà nước cũng thể hiện mức độ can thiệp của vào các hoạt động kinh doanh thương mại + Các yếu tố kinh tế: Đối với thị trường bán lẻ thì các yếu tố kinh tế được hiểu
là tổng cung và cầu về hàng hoá dịch vụ bán lẻ Một số yếu tố kinh tế có liên quan tới thị trường bán lẻ:
Trang 24Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: thể hiện mức độ gia tăng lượng hàng hoá dịch vụ cung ứng trên thị trường bán lẻ.
cư nghèo đói, mức chi tiêu nhỏ bé
+ Cơ sở hạ tầng: các yếu tó về cơ sở hạ tầng có liên quan sản xuất kinh doanh trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tập thể, cá nhân tham gia thị trường bán lẻ Sự phát triển của cơ sở hạ tầng góp phần to lớn vào sự phát triển của thị trường bán lẻ Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế liên quan tới sự phát triển của thị trường bán lẻ bao gồm một số yếu tố sau:
Trình độ hiện đại của hệ thống giao thông đường xá, bến bãi, thông tin liên lạc
Chi phí vận chuyển bảo quản hàng hoá
Chi phí xây mới thuê, mua mặt bằng kinh doanh
+ Yếu tố khoa học kỹ thuật: Các yếu tố khoa học kỹ thuật quyết định và chi phối việc ứng dụng KH&KT trên thị trường; quyết định sự ra đời của sản phẩm mới, hình thành phương thức kinh doanh mới, ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu dùng của người dân Một số yếu tố KH& KT tác động đến thị trường bán lẻ:
Trình độ trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế
Trang 25Mức độ đầu tư khoa học công nghệ và tốc độ triển khai của ứng dụng mới trong nền kinh tế.
Chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia
3.2 Thị trường bán lẻ Việt Nam theo các cam kết gia nhập WTO:
3.2.1 Các cam kết trong WTO của Việt Nam về mở cửa thị trường bán lẻ:
Trong cam kết WTO, Việt Nam cam kết mở cửa lĩnh vực dịch vụ trong đó ngành dịch vụ phân phối hàng hóa được thương lượng rất kỹ Quá trình mở cửa thị trường phân phối hàng hóa gồm 3 giai đoạn cơ bản:
Giai đoạn 1: Các doanh nghiệp nước ngoài muốn tham gia cung cấp dịch vụ phân phối hàng hóa sẽ phải liên doanh với các doanh nghiệp của Việt Nam Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, phần vốn góp của nước ngoài sẽ bị giới hạn ở mức tối đa
là 49%
Giai đoạn 2: 1/1/2008 Tỷ lệ góp vốn 49 % sẽ được dỡ bỏ Các công ty có vốn
đầu tư nước ngoài được phép làm đại lý, là nhà bán buôn và kinh doanh bán lẻ tất
cả các mặt hàng nhập khẩu hợp pháp và các sản phẩm trong nước theo quy định của pháp luật, ngoại trừ xi măng và clinker, lốp (bào gồm cả lốp máy bay), sản phẩm giấy, các loại máy kéo, xe tải, xe con và xe máy, sắt và thép, thiết bị nghe nhìn, rượu các sản phẩm có cồn, phân bón
Giai đoạn 3: Tại thời điểm 1/1/2009, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài sẽ
được phép tham gia làm đại lý, kinh doanh bán buôn và bán lẻ các loại sản phẩm: máy kéo, xe tải, xe con và xe máy Sau 3 năm tính từ thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, tất cả những hạn chế trên sẽ được dỡ bỏ Việc thành lập các đại lý cung cấp dịch vụ bán lẻ sẽ được cho phép trên cơ sở “xem xét nhu cầu nền kinh tế”
3.2.2 Cơ hội và thách thức khi gia nhập WTO của thị trường bán lẻ Việt Nam:
Thông qua những phân tích và dự đoán ở trên, dưới đây đề tài xin tóm tắt lại những cơ hội và thách thức đối với thị trường bán lẻ Việt Nam khi gia nhập WTO:
Trang 26Cơ hội: Đây là một thời điểm thị trường bán lẻ Việt Nam phát triển có rất nhiều
cơ hội để phát triển:
- Các chính sách của Việt Nam ngày càng minh bạch hoá: Các chính sách luật pháp luôn được coi là yếu tố bản lề, định hướng phát triển cho thị trường bán lẻ Với các cam kết gia nhập WTO, thì các chính sách về kinh tế nói chung và thương mại nói riêng sẽ đảm bảo sự tương thích nhất định với luật pháp quốc tế Đồng thời, chính sách cũng được phổ biến rộng rãi cho toàn bộ các doanh nghiệp Theo cam kết gia nhập WTO có rất nhiều các ngành khi quy định các chính sách luật pháp liên quan phải công khai phổ biến và lấy ý kiến của người dân Như vậy, người dân và cộng đồng các doanh nghiệp có thể tiếp cận với nguồn luật một cách dễ dàng Hơn thế nữa, họ còn có thể đóng góp ý kiến để xây dựng các chính sách này Từ đó, các chính sách luật pháp này sẽ đảm bảo được tính chính xác, khách quan tránh sự duy
ý chí của những người xây dựng luật như trước kia Ngoài ra, các chính sách luật pháp của Việt Nam sẽ phải đảm bảo được sự ổn định nhất định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể yên tâm kinh doanh hơn
- Kéo theo sự minh bạch và ổn định của các chính sách pháp luật thì các thủ tục hành chính sẽ được tối giản và hiệu quả: Thực tế hiện nay thì các thủ tục hành chính cũng đã được đơn giản hơn trước Nhiều tỉnh, thành phố đã thực hiện có chế “một cửa, một dấu” tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân Khi Việt Nam gia nhập WTO thì các thủ tục này sẽ ngày càng tối giản hơn Một mặt là do các cam kết gia nhập Một mặt là do để thu hút được nguồn vốn nước ngoài nhiều hơn nữa thì một trong những biện pháp là giảm các thủ tục hành chính
- Hệ thống cơ sở hạ tầng ( kho, bãi, đường, cảng ) phát triển: Khi gia nhập WTO thì Việt Nam sẽ tăng cường thu hút được nhiều vốn đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất ,qua đó thúc đẩy phát triển thị trường bán lẻ
- Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có cơ hội để tiếp thu những tri thức công nghệ tiên tiến để phát triển phương thức kinh doanh hiện đại, góp phần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động
Trang 27Chính sức ép cạnh tranh trên thị trường là cơ hội để các doanh nghiệp có thể học tập từ những đối thủ cạnh tranh và đổi mới chính mình.
- Ngoài ra, khi gia nhập WTO thì các hàng hoá tràn vào Việt Nam sẽ rẻ hơn, phong phú đa dạng do cam kết giảm thuế, do cơ hội để xâm nhập thị trường Việt Nam dễ dàng hơn Các dịch vụ ngân hàng, tài chính thanh toán sẽ trở nên thuận tiện, phát triển hơn Do đời sống phát triển nên nhu cầu của người dân tăng lên… Những điều đó cũng góp phần thúc đẩy thị trường bán lẻ Việt Nam phát triển
Thực tiễn cho thấy, thị trường bán lẻ Việt Nam đã phát triển rất nhanh chóng từ khi Chính phủ thực hiện chủ trương mở cửa và hội nhập nền kinh tế quốc tế Nhiều phương thức bán lẻ đặc biệt là các siêu thị đã phát triển rộng khắp, phổ biến tại hầu hết các tỉnh, thành phố Các sàn giao dịch hàng hoá đang dần xuất hiện và có cơ hội
để phát triển Rõ ràng, cùng với hội nhập kinh tế quốc tế mà dấu mốc là sự kiện gia nhập WTO thì thị trường bán lẻ Việt Nam có rất nhiều cơ hội để tiếp cận với những thành tựu về kinh tế, khoa học, phương thức quản lý của nền kinh tế thế giới.Thách thức:
- Thách thức lớn nhất của thị trường bán lẻ vẫn là nguy cơ chiếm lĩnh thị trường của các tập đoàn bán lẻ ngoài nhập
Khả năng này có rất nhiều cơ sở Các công ty đa quốc gia đang trở thành một lực lượng quan trọng của nền sản xuất thế giới Các công ty này chi phối gần 50% sản lượng công nghiệp sản xuất ra hàng năm trên thế giới, từ 50 đến 60 % tổng kim ngạch mậu dịch, 90 % giá trị đầu tư trực tiếp và chuyển giao công nghệ Các tập đoàn này trong đó có các tập đoàn bán lẻ sẽ không bỏ lỡ cơ hội này để xâm nhập thị trường Việt Nam
Thực tế hiện nay mặc dù có chưa nhiều ở Việt Nam song hầu hết các tập đoàn bán lẻ nước ngoài đều lấn lướt các doanh nghiệp trong nước Họ mạnh về mặt tài chính, quản lý đặc biệt hơn hẳn trong khâu marketing tiếp cận hình ảnh tới người tiêu dùng Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều mặt hạn chế Cơ sở vật chất kỹ thuật về tài chính, nguồn nhân lực, kỹ năng ngoại ngữ, kỹ năng quản lý,
Trang 28khả năng nắm bắt thông tin còn yếu kém Đặc biệt là khả năng thích ứng trước sự thay đổi của thị trường của các doanh nghiệp bán lẻ là chưa cao Vậy trong một vài năm tới, khi các tập đoàn nước ngoài tràn vào Việt Nam thì sự chi phối thị trường là
có thể tiên đoán
- Sự cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày càng gay gắt hơn
Sự cạnh tranh sẽ không chỉ gay gắt giữa các nhà bán lẻ trong nước và các nhà bán lẻ nước ngoài Mà sự cạnh tranh còn xuất phát giữa các nhà bán lẻ trong nước với nhau, giữa các hộ gia đình kinh doanh với các doanh nghiệp, giữa phương thức kinh doanh truyền thống và hiện đại Khi đó, vai trò của Chính phủ sẽ là vô cùng quan trọng đó là phải tạo ra được một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho tất cả chủ thể, phương thức bán lẻ trên thị trường
- Khi hàng hoá tràn vào Việt Nam với giá rẻ vừa là cơ hội vừa là thách thức.Thách thức ở chỗ nếu hàng hoá quá rẻ thì hàng hoá Việt Nam sẽ mất dần thị phần các siêu thị, trung tâm mua sắm Khi đó nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường nên các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vì lợi nhuận nên dù muốn nhưng không thể nhập, bán hàng của các doanh nghiệp sản xuất trong nước nếu giá quá cao Như vậy, không chỉ các doanh nghiệp bán lẻ mà các doanh nghiệp sản xuất cũng có nguy cơ bị thua ngay trên “sân nhà”
3.2.3 Yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phát triển của thị trường bán lẻ:
Trong những năm vừa qua nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi sâu sắc
Nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế quan liêu bao cấp kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường Nền kinh tế từ chỗ chỉ quan hệ thương mại với một số nước tới nay Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với hầu hết với các quốc gia trên thế giới Dấu mốc của sự thay đổi đó chính là sự kiện Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại Thế giới năm 2007
Chính những thay đổi đó, đòi hỏi thị trường bán lẻ Việt Nam cần phát triển mạnh mẽ hơn nữa Đặc biệt với cam kết mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ vào
Trang 29ngày 1-1-2009 của Việt Nam thì thị trường bán lẻ Việt Nam cần có những yêu cầu nhiệm vụ mới.
Bởi lẽ, các tổ chức cá nhân bán lẻ Việt Nam sẽ không còn được nhận những bảo trợ của Nhà nước nữa mà phải cạnh tranh trực tiếp, công bằng với các tập đoàn bán
lẻ nước ngoài Với lợi thế về tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản lý, tính chuyên nghiệp thì các tập đoàn bán lẻ nước ngoài hoàn toàn có thể chiếm lĩnh thị trường bán lẻ Việt Nam.Tránh nguy cơ bị lấn át thì các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân bán
lẻ trong nước phải thực sự mạnh, năng động mới có khả năng cạnh tranh Do vậy, yêu cầu đổi mới các tổ chức, cá nhân bán lẻ là cấp thiết Các doanh nghiệp cần thay đổi cung cách làm việc tránh tình trạng làm ăn theo kiểu quan liêu bao cấp Cần có
sự tăng cường liên kết giữa các nhà bán lẻ trong nước, giữa nhà bán lẻ với nhà cung cấp để thành lập được những tập đoàn tầm cỡ đủ sức cạnh tranh Đối với các cá nhân, hộ gia đình cần năng động, nghiên cứu những hàng hoá, dịch vụ mạng tính chuyên biệt, độc đáo để đứng vững trước phương thức bán lẻ hiện đại và đồng thời đáp ứng nhu cầu phong phú của người tiêu dùng
Đồng thời, dù nền kinh tế có chuyển hướng sang tự do cạnh tranh thì vai trò của Nhà nước không hề giảm sút Nhà nước cần xác định rõ quan điểm và định hướng phát triển thị trường bán lẻ Hệ thống luật pháp cần minh bạch rõ ràng để đảm bảo được môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể tham gia vào thị trường bán lẻ Ngoài ra, hệ thống cở sở phụ trợ như thông tin, ngân hàng, cảng đường, kho bãi cũng cần nâng cấp, phát triển
3.2.4 Một số bài học kinh nghiệm từ các nước có thể áp dụng cho Việt Nam:
Rõ ràng, thị trường bán lẻ Việt Nam đang chịu một sức ép rất lớn từ thực tiễn phát triển đất nước và các đối thủ cạnh tranh Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường bán lẻ của các nước trên thế giới và rút ra những bài học bổ ích có thể áp dụng cho thị trường bán lẻ Việt Nam chính là một bước đi mang tính “đi tắt, đón đầu”
Trang 30Thông qua nghiên cứu sự phát triển của các thị trường bán lẻ hoàn chỉnh và phát triển (Hoa Kỳ, Nhật Bản ); hay các thị trường bán lẻ có điều kiện tương đồng với Việt Nam song có nhiều thành tựu trong phát triển thị trường bán lẻ (Trung Quốc, Thái Lan ) có thể rút ra một số kinh nghiệm:
+ Xây dựng một hệ thống luật hoàn chỉnh và riêng biệt liên quan tới thị trường bán lẻ:
Nhật Bản: Năm 1971 luật Thị trường bán buôn (Wholesale Markets Law) được ban hành để thay thế luật Thị trường bán buôn tập trung (Central Wholesale Markets Law) năm 1923 Theo luật này hàng hoá được bán theo phương thức đấu giá công khai Năm 1974 luật Cửa hàng bán lẻ có quy mô lớn được ban hành thay thế cho luật Cửa hàng Bách hoá năm 1954 Luật này được sửa đổi năm 1979 và vẫn được áp dụng tới nay Theo đó, các cửa hàng bán lẻ quy mô lớn phải được đệ trình lên các cơ quan của chính phủ để xem xét phê duyệt
Thái Lan: Thị trường bán lẻ Thái Lan chịu sự chi phối của hệ thống các luật như sau: Luật về Giá hàng hoá và dịch vụ năm 1999; luật Cạnh tranh năm 1999; luật Buôn bán hàng nông sản giao sau năm 1999; luật Kiểm soát đối với kinh doanh kho, hầm chứa và kho lạnh năm 1992
Thực tế từ sự phát triển các thị trường này thì hệ thống luật định điều chỉnh có vai trò then chốt trong việc đảm bảo cạnh tranh lành mạnh trên thị trường bán lẻ Các quy định về cạnh tranh, quy cách số lượng các cửa hàng, trung tâm mua sắm
ra đời kịp thời cũng phần nào ngăn cản sự thống trị của các nhà phân phối nước ngoài và làm bình ổn thị trường bán lẻ Nội dung của các luật định trên luôn dễ hiểu
rõ ràng đồng thời luôn được điều chỉnh theo hướng giảm thiểu quản lý hành chính tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường
+ Triển khai các mô hình bán lẻ phù hợp với thu nhập, tập quán tiêu dùng của từng khu vực lãnh thổ:
Hoa Kỳ: Do đặc điểm dân cư thu nhập cao và đa dạng về nhu cầu nên mô hình phát triển thị trường của nước này chủ yếu theo hướng hiện đại Các loại hình như
Trang 31đại siêu thị, các chuỗi cửa hàng tiện ích, bán hàng qua mạng, qua điện thoại rất phát triển.
Nhật Bản: Mặc dù, là một nước phát triển thị trường phát triển hiện đại song ở Nhật Bản vẫn tồn tại khá nhiều cửa hàng bán lẻ nhỏ lẻ Những cửa hàng bán lẻ sử dụng trung bình từ 1- 49 nhân viên ở Nhật Bản là 13 cửa hàng cho 1000 dân cao hơn so với tỷ lệ 6,6 ở Đức; 6,1 ở Anh Nếu tính về số lượng ở Nhật Bản là 1,6 triệu còn ở Hoa Kỳ là 1,5 triệu trong khi dân số Hoa Kỳ lớn hơn gấp 2,1 lần Nhật Bản Các cửa hàng được hỗ trợ và rất phát triển ở Nhật Bản bởi lẽ: Các cửa hàng này có dịch vụ tốt và tiện lợi; do diện tích sinh sống nhỏ bé nên người dân Nhật Bản thường đi mua sắm liên tục; thói quen muốn giao lưu với người bán hàng
Như vậy, khi thị trường phát triển các mô hình bán lẻ hiện đại xuất hiện thì bán
lẻ theo phương thức truyền thống vẫn có vai trò riêng của nó Kinh nghiệm cho thấy cần phải hỗ trợ xúc tiến các mô hình bán lẻ hiện đại song không xoá bỏ các hệ thống phân phối truyền thống khi nó vẫn có ưu thế riêng đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa
+ Phát triển thương mại điện tử:
Hoa Kỳ: Do thương mại điện tử ở nước này phát triển ở trình độ cao nên ngoài một số quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, chật lượng quy cách mẫu mã thì luật Chữ ký điện tử trong thương mại điện tử và luật Giao dịch điện tử thống nhất đã được ban hành có hiệu lực từ ngày 1-10 -2000 Hoa Kỳ đã xây dựng được một số trang web bán lẻ rất danh tiếng và uy tín như:www.amazon.com; www.ebay.com;
www.dell.com Doanh thu từ việc bán lẻ năm 2006 tại Hoa Kỳ là 102,1 tỉ đôla tăng 24% so với năm 2005 Ngoài ra, nước này những sàn giao dịch trên mạng (chủ yếu là các sản phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp) như: www.thesem.com (chuyên kinh doanh các mặt hàng bông qua mạng); www.farms.com ( sàn giao dịch đối với hàng nông nghiệp và thực phẩm tại Bắc Mỹ )
Trung Quốc: Do số lượng người truy cập internet liên tục tăng qua các năm qua (đến cuối tháng 6-2004 ước tính tại Trung Quốc có khoảng 87 triệu người truy cập)
Trang 32nên thương mại điện tử tại Trung Quốc tăng khá nhanh.Cổng thương mại điện tử
www.chinaec.com kết nối 30 doanh nghiệp tới người tiêu dùng (chủ yếu là các doanh nghiệp trong lĩnh vực đồ gỗ gia dụng, quà tặng, phần mềm sách) hiện nay rất phát triển
Thương mại điện tử phát triển không chỉ ở các nước phát triển mà nó đã thực sự đang bùng nổ trên toàn thế giới Ở Việt Nam, số người truy cập internet tăng liên tục chính là cơ sở tiền đề để Việt Nam phát triển thương mại điện tử Kinh nghiệm
từ việc xây dựng luật pháp, phát triển các lĩnh vực phụ trợ như bảo mật, thẻ thanh toán của các nước đi trước rất cần xem xét phân tích để áp dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam
+ Nhượng quyền thương mại:
Thái Lan: Nhượng quyền thương mại là một hình thức buôn bán khá phổ biến tại nước này Tại Thái Lan năm 2001 có hơn 7500 cửa hàng nhượng quyền và doanh số đạt tới 2 tỉ đôla Tốc độ tăng hàng năm của ngành này lên tới 10%/ năm Chính phủ Thái Lan đã chi ra 23 triệu đôla để hỗ trợ các nhà nhượng quyền nước này khởi nghiệp
Nhượng quyền thương hiệu là một hình thức rất có lợi đối với những còn kém phát triển như Việt Nam Hình thức này cho phép người kinh doanh được sử dụng thương hiệu, dịch vụ buôn bán, tư vấn, kiểm soát hàng hoá của các thương hiệu phân phối nổi tiếng trên thế giới Qua đó, các doanh nghiệp cũng như công nhân có thể học tập được nhiều từ các doanh nghiệp chủ quản này
+ Thực hiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp bán lẻ trong nước:
Để vừa phù hợp với thông lệ quốc tế vừa đảm bảo hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước Chính phủ Thái Lan và Trung Quốc đã có nhiều cách Họ hỗ trợ các doanh nghiệp bằng cách: hỗ trợ thông tin, đào tạo kỹ năng quản lý, nghiên cứu thị trường, chuyển giao công nghệ, tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm…
Trang 33Thực hiện chính sách ưu tiên phát triển siêu thị, trung tâm thương mại tại các địa phương đủ điều kiện: Trung Quốc giai đoạn đầu siêu thị phát triển quá ồ ạt tại các thành phố lớn khiến nhu cầu ở đây đã bão hòa trong khi đó ở các thành phố nhỏ lại hầu như không có siêu thị nào Thấy được điều đó, Chính phủ Trung Quốc thực hiện ưu tiên phát triển các siêu thị ở vùng biên Thực tế các siêu thị này phát triển rất tốt, đáp ứng được nhu cầu của người dân nơi đây.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỞ CỬA DỊCH VỤ BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM THEO CAM KẾT WTO VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA BIGC2.1 Khái quát chung về thị trường bán lẻ Việt Nam
Hình thức phân phối hàng hoá ở Việt nam trước năm 1986 đa phần theo hình thức tem phiếu Khi đó hầu hết các hàng hoá đều do nhà nước thu thập rồi phân phối theo kiểu phổ thông đầu phiếu Vớ kiểu phân phối này người dân đều được
Trang 34nhận một số lượng hàng hoá như nhau Ban đầu, hình thức này tỏ ra vô cùng hiệu quả đặc biệt trong trường hợp chiến tranh Nhưng sau này, khi giành được độc lập cuộc sống của người dân bắt đầu thay đổi thị hình thức phân phối này không còn phù hợp nữa.
Sau năm 1986 cùng với sự thay đổi của đất nước thị thị trường bán lẻ Việt Nam cũng có sự thay đổi Hàng hoá đã bắt đầu được phân phối theo kiểu thị trường tức là theo nhu cầu, thu nhập của người dân Hệ thống cửa hàng bán lẻ và các chợ phát triển nở rộ Hàng hoá được tự do lưu thông trên thị trường Trên thị trường bắt đầu xuất hiện nhiều mặt hàng ngoại nhập Cùng với sự nở rộ của thị trường hàng loạt các doanh nghiệp bán lẻ và tầng lớp thường gia được hình thành
Người tiêu dùng Việt Nam bắt đầu làm quen với các kênh phân phối hiện đại từ năm 1993, khi một siêu thị nhỏ Minimart khai trương tại thành phố Hồ Chí Minh Siêu thị đầu tiên ở Hà Nội cũng là siêu thị Minimart ở tầng hai chợ Hôm được khai trương vào năm 1995 Do nền khinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng và đặc biệt sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 thị hệ thống siêu thị ở Việt Nam phát triển nở rộ Trong thời gian này, nổi danh trong lĩnh vực bán lẻ như Saigonco.op với hệ thông siêu thị Co.opmart; công ty Đông Hưng với hệ thống siêu thị Citimart
Đến năm 1999, thị trường bán lẻ Việt Nam bắt đầu có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đi đầu là tập đoàn Bourbon của Pháp với siêu thị đầu tiên BigC tại Đồng Nai Tiếp sau đó hàng loạt các tên tuổi khác Metro Cash& Carry (Đức), Parkson( Malaixia) thâm nhập thị trường bán lẻ Việt Nam
Đến năm 2007 là mốc quan trọng của thị trường bán lẻ Việt Nam Năm 2007, Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giớ WTO và với cam kết mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ vào năm 2009 Khi đó, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ có sự góp mặt của các doanh nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài
Trang 35Sau 25 năm đổi mới, thị trường bán lẻ Việt Nam phát triển nhanh chóng Tổng mức bán lẻ tăng trung bình khoảng 20% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội cả năm 2010 đạt 1.570.013 tỷ đồng, tăng 25,2% so với năm 2009.
2.2 Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam:
2.2.1 Giai đoạn trước khi gia nhập WTO (2000 – 2006):
Qua phân tích ở phần trên, thị trường bán lẻ Việt Nam thực sự phát triển giai đoạn sau năm 2000 Đây là giai đoàn có yếu tố nước ngoài trên thị trường bán lẻ Chính những doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài này đã đem tới động lực mới, phương thức kinh doanh mới… cho thị trường bán lẻ Việt Nam
2.2.1.1 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ:
Theo số liệu của tổng cục thống kê thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của
cả nước luôn đạt tốc độ tăng trưởng trên 10% Số liệu chi tiết thể hiện thông qua biểu đồ:
Biểu đồ 2.1 Tổng mức bán lẻ giai đoạn 2000-2006
Trang 36Nguồn: Tổng cục thống kê
Ta có thể nhận thấy tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ luôn tăng đều đặn năm sau cao hơn năm trước Mức tăng trung bình giai đoạn 2000-2006 là 18% cao hơn gấp 2 lần mức tăng trưởng GDP cùng thời kỳ Đặc biệt năm 2006 tốc độ tăng đạt kỷ lục 20,9 % và tổng giá trị đạt tới 580,5 ngàn tỷ đồng gấp gần 3 lần so với tổng mức bán lẻ năm 2000 Giải thích cho sự tăng đều đặn của tổng mức bán lẻ có thể do hai nguyên nhân: Thứ nhất, đời sống, sức mua của người dân ngày một tăng; thứ hai xuất hiện nhiều loại hình, của hàng bán lẻ hấp dẫn kích thích sức mua của người dân
Tuy nhiên, tổng mức bán lẻ này không có sự đóng góp đồng đều từ các vùng miền trên cả nước Do điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau nên hoạt động bán lẻ trên các vùng miền trên cả nước cũng có sự khác biệt
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ tính theo các vùng miền được thống
kê ở bảng dưới đây
Trang 37Bảng 2.1 Tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ tính theo các vùng trên cả nước
Đơn vị: tỷ đồng
(Nguồn : Tổng cục thống kê)
Nhìn chung, sự phát triển hoạt động bán lẻ của các vùng trên cả nước đều có tốc
độ tăng trưởng đồng đều cùng với sự tăng trưởng chung của hoạt động bán lẻ trên
cả nước Trong tất cả các năm, tất cả các vùng thì tổng mức bán lẻ tăng trung bình các năm đều là khoảng 10,8%
Cả nước 220410,
6
245315,0
280884,0
333809,3
398524,5 480293,
5
580710,1
Đb sông
Hồng
43119,7 47233,0 56036,0 66146,3 79280,2 96422,3 117912,
5Đông Bắc 11332,2 15526,0 17840,0 20722,4 25297,3 30146,2 35907,5Tây Bắc 2059,4 2976,0 2778,0 2973,1 3894,1 4953,1 6050,5Bắc Trung
Bộ
80807,6 88203,0 101120,
0
121640,1
144480,9 166026,
7
201792,0
Đb Sông
Cửu Long
43505,7 47254,0 53968,0 63936,8 76332,6 97501,2 115618,
9
Trang 38Có thể dễ dàng thấy tổng mức bán lẻ của hai khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long khá bằng nhau qua hầu hết các năm Ngoài ra, tổng mức bán lẻ của hai khu vực này luôn chiếm khoảng 1/3 tổng mức bán lẻ của cả nước Khu vực Đông Nam Bộ với các thành phố mà mức tiêu dùng lớn ( thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Bình Dương ) thì tổng mức bán lẻ lớn nhất so với các vùng khác trên toàn quốc Tổng mức bán lẻ của Đông Nam Bộ gần bằng tổng mức bán lẻ tại Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long cộng lại Như vậy, tổng mức bán lẻ tại ba vùng này đã chiếm tới 2/3 tổng mức bán lẻ của cả nước Hầu hết các siêu thị lớn, trung tâm thương mại hiện đại đều được xây dựng tại những vùng này Giải thích cho vấn đề này có hai lí do chính Thứ nhất, tại những vùng này giao thông đi lại và vận chuyển hàng hoá dễ dàng (ở đây là các vùng đồng bằng đường xá thuận tiện, có những cảng biển lớn như Sài Gòn, Hải Phòng ) Thứ hai, tại những vùng này
là những trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, dân cư tập trung đông đúc, thu nhập của người dân cũng cao hơn các vùng khác nên sức tiêu thụ sẽ lớn hơn
Ngược lại, tại những vùng giao thông khó khăn, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn như Tây Nguyên, Tây Bắc thì tổng mức bán lẻ rất khiêm tốn Tổng mức bán lẻ tại vùng Tây Bắc thường chỉ chiếm hơn kém 1% tổng mức bán lẻ của
cả nước Vùng Tây Nguyên tổng mức bán lẻ cũng luôn chỉ chiếm khoảng 3-4 % tổng mức bán lẻ của cả nước Do vậy, những vùng này cần sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước để phát triển hoạt động bán lẻ
Còn lại các vùng Đông Bắc, Duyên hải Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ thì hoạt động bán lẻ cũng còn khá lạc hậu còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng mức bán lẻ chung của cả nước
2.2.1.2 Mạng lưới phân phối:
Mạng lưới phân phối hàng hóa tại Việt Nam chủ yếu thông qua các phương thức truyền thống như chợ, cửa hàng bán lẻ Nhận định trên được phản ánh rõ thông qua biểu đồ:
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu mạng lưới bán lẻ Việt Nam
Trang 39
(Nguồn: www.sgtt.com.vn-Kịch bản nào mở cửa ngành bán lẻ)
Ta có thể thấy hệ thống phân phối bán lẻ của Việt Nam chủ yếu vẫn theo cách truyền thống chiếm tới 84% Lượng hàng hóa thông qua hệ thống phân phối hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tự chọn…) mặc dù có tăng thêm nhưng cũng chỉ chiếm 10% Riêng hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh lượng hàng lưu thông qua kênh phân phối hiện đại có cao hơn mức trung bình của
cả nước chiếm 23% Trong khi đó ở các vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh phía nam, miền trung và miền bắc, tiểu thương, tư thương đảm nhận vai trò phân phối hàng là chủ yếu Nếu đem so sánh với các nước khác trên thế giới thì càng chứng tỏ hệ thống phân phối bán lẻ của Việt Nam vẫn còn lạc hậu Tại các nước phát triển thị phần của siêu thị trong lĩnh vực bán lẻ chiếm tới 80-90% Ở các nước như Nam Mỹ, Đông Á trừ Trung Quốc thì lượng hàng hóa qua kênh phân phối hiện đại chiếm tới 50-60% Ngay cả các nước ở Đông Nam Á ( Thái Lan, Philipin) tỷ lệ này cũng là 30-50%
Cụ thể như tỷ lệ phân phối truyền thống và hiện đại ở Việt Nam là 8,5:1,5 Trong khi đó so sánh với một nước trung bình như Thái Lan tỷ lệ này là 4:6
2.2.1.3 Các doanh nghiệp bán lẻ:
Theo số liệu tổng điều tra, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
dịch vụ phân phối tăng hơn 2 lần trong thời kỳ 2000-2004, từ gần 14.100 doanh
nghiệp lên gần 28.600 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp hoạt động bán buôn
Trang 40tăng gần 170% và bán lẻ tăng gần 50% Các doanh nghiệp bán lẻ (bao gồm tất cả các doanh nghiệp bán lẻ chính thống và các doanh nghiệp thương mại khác thực hiện thêm chức năng bán lẻ, chẳng hạn doanh nghiệp bán buôn nhưng vẫn tham gia bán lẻ) ở các thành phần kinh tế khác nhau có mức đóng góp trong tổng mức bán lẻ cũng khác nhau Có thể nhìn vào biểu đồ cơ cấu các thành phần kinh tế trong tổng mức bán lẻ hàng hóa để thấy rõ hơn điều đó.
Biểu đồ 2.3: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của cả nước phân theo cơ cấu
các thành phần kinh tế giai đoạn 2000 – 2005
( Nguồn: Tổng cục thống kê )Thông qua biểu đồ 2.3 có thể thấy thị trường bán lẻ đã có sự thu hút và tham gia của nhiều thành phần kinh tế Tỷ trọng trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có sự tăng trưởng nhất định Năm 2000 và 2001 tỷ trọng của thành phần kinh tế này chỉ chiếm 1.6% nhưng đã có
sự tăng đột biến gấp hơn 2 lần vào năm 2002 là 3.9% tiếp tục tăng vào năm 2003 là 4,1% sau đó giảm nhẹ và giữ ở mức ổn định là 3.8% Giải thích cho sự giảm nhẹ này không phải là do tổng mức bán lẻ của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giảm mà thực tế là có tăng song tăng không nhiều bằng tổng mức bán lẻ của các thành phần kinh tế khác Tỷ trọng của thành phần kinh tế này còn khá nhỏ bé