Xuất phát từ những yêu cầu đòi hỏi đó, ngày 04/10/2002 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội, trên cơ sở đó tổ chức lại Ngân hàng
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng, nền kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Song, cùng với quá trình phát triển đó, bên cạnh sự tăng thu nhập, nâng cao đời sống của số đông dân cư vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là dân cư ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa đang chịu cảnh nghèo đói, không đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã xác định mục tiêu xoá đói giảm nghèo là một trong 11 chương trình phát triển kinh tế - xã hội và chương trình này đã được cụ thể hoá tới từng tỉnh, huyện, xã, thôn, bản trên khắp đất nước
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, trong đó có một nguyên nhân quan trọng đó là: Thiếu vốn sản xuất kinh doanh, chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã xác định tín dụng Ngân hàng là một mắt xích không thể thiếu trong
hệ thống các chính sách phát triển kinh tế xã hội xoá đói giảm nghèo của Việt Nam Xuất phát từ những yêu cầu đòi hỏi đó, ngày 04/10/2002 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội, trên cơ sở đó tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo trước đây để thực hiện nhiệm vụ cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.Mặc dù vậy, sẽ thật không khách quan khi cho rằng không có những tồn tại cần khắc phục, không có những khó khăn, không có rủi ro trong đầu tư, đặc biệt là hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo Trong quá trình cho vay hộ nghèo thời gian qua cho thấy nổi lên vấn đề là hiệu quả vốn tín dụng còn thấp làm ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng phục vụ người nghèo Vì vậy, làm thế nào để hộ nghèo nhận được và sử dụng có hiệu quả vốn vay; hoạt động tín dụng được nâng cao nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nguồn vốn tín dụng, đồng thời hộ nghèo thoát khỏi cảnh nghèo đói là vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm của ngân hàng và của các cấp, các ngành
Trang 2Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc nâng cao hoạt động tín dụng chính sách cũng như trong quá trình thực tập ở Ngân hàng Chính
sách Xã hội huyện Mỹ Đức - Hà Nội, em xin chọn đề tài “HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN MỸ ĐỨC - HÀ NỘI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ” để
nghiên cứu
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đóng góp những luận cứ khoa học,
đề xuất các quan điểm và các giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Thực tiễn cho thấy chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo có hiệu quả thiết thực, góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội, khẳng định chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo.Từ đó thấy
rõ tầm quan trọng của chất lượn2g tín dụng chính sách trong hoạt động ngân hàng và ý nghĩa của việc nâng cao hoạt động tín dụng người nghèo
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Chuyên đề tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thực hiện những giải pháp nâng cao hoạt động Tín Dụng chính sách và phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số vấn đề có liên quan đến hoạt động tín dụng và hoạt động tín dụng cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức - Thành phố Hà Nội
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Chuyên đề vận dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và lý luận kinh tế, quản lý trên lĩnh vực tài chính ngân hàng để thống kê, phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn kết hợp với điều tra, phân tích hoạt động kinh tế và xử lý hệ thống nhằm đưa ra các giải pháp cho hoạt động ngân hàng
Trang 35 KẾT CẤU CHUYÊN ĐỀ.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng đối với người nghèo và khái quát về Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Chương II: Thực trạng hoạt động Tín Dụng đối với người nghèo của
Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Chương III: giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng đối với người nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Trang 4CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCHXÃ
HỘI HUYỆN MỸ ĐỨC – HÀ NỘI
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO.
1 Tín Dụng và vai trò của Tín Dụng đối với Người nghèo
Nước ta là một trong số những nước có tỷ lệ hộ nghèo đói cao, số dân sống chủ yếu bằng nghề nông, sản xuất còn manh mún, lạc hậu, phân tán nhất là ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, đời sống còn gặp nhiều khó khăn Vì thế, vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nước ta rất cần sự quan tâm giúp đỡ về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội
Nghị quyết hội nghị ban chấp hành TW lần thứ V (khoá VI) tháng 6 năm 1993 đã đề ra chủ trương “phải hỗ trợ giúp đỡ người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn làm ăn, tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong
và ngoài nước, phấn đấu tăng hộ giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo…”
Từ khi có cơ chế mới, người nông dân được quyền tự chủ đã hăng hái sản xuất trên ruộng đất của mình Ruộng đất canh tác được các hộ sử dụng triệt để, chăm sóc tốt hơn, năng suất ngày càng cao Ngoài việc sản xuất nông nghiệp hộ nghèo còn phát triển các ngành nghề phụ để tận dụng lao động phụ, tiết kiệm được chi phí, tăng thu nhập, cải thiện đời sống góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá
Như vậy, kinh tế hộ nghèo đã từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong xã hội Hộ nghèo cũng là hộ nông dân đã là một chủ thể đối với các quyết định đầu tư, sản xuất, chăn nuôi, ngành nghề… có điều kiện tiếp cận với kinh tế thị trường
Trang 51 Khái niệm và đặc điểm của tín dụng ngân hàng.
tổ chức cá nhân khác được thực hiện dưới hình thức tiền tệ theo nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế Trong đó ngân hàng vừa đóng vai trò người đi vay (nhận tiền gửi của các chủ thể khác trong nền kinh tế hoặc phát hành các chứng chỉ tiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn), vừa đóng vai trò người cho vay (cấp tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế bằng việc thiết lập các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ…)
Trong hoạt động tín dụng ngân hàng còn sử dụng thuật ngữ “tín dụng
hộ nghèo” là quan hệ giữa một bên là Ngân hàng Chính sách Xã hội với một bên là hộ nghèo Từ khi được thừa nhận là chủ thể trong mối quan hệ xã hội,
có quyền thừa kế, có phương án sản xuất kinh doanh thì hộ nghèo mới có khả năng và đủ tư cách để tham gia quan hệ tín dụng với ngân hàng chính sách xã hội Đây cũng chính là điều kiện để hộ nghèo đáp ứng được điều kiện vay vốn của ngân hàng chính sách xã hội.Trong nhiều năm qua, ngân hàng chính sách xã hội đã và đang là kênh chuyển tải vốn chủ yếu đến hộ
Trang 6nghèo, góp phần tạo công ăn việc làm giúp đỡ hộ nghèo phát triển kinh tế gia đình, nâng cao dần mức sống bằng chính sức lao động của chính mình.
b Đặc điểm tín dụng ngân hàng.
Bản chất của tín dụng ngân hàng là giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:
Thứ nhất: Chủ thể tham gia bao gồm một trung gian giữa người có vốn
và người cần vốn đó là ngân hàng với đối tượng là tiền tệ (thay vì hàng hóa, dịch vụ) Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm 2 hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản)
Thứ hai: Quan hệ tín dụng có nguyên tắc hoàn trả, có nghĩa là người cho vay vốn giao vốn cho người đi vay sử dụng trong thời hạn thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, khi đáo hạn mà không có các thỏa thuận khác thì người đi vay phải hoàn trả số vốn đó cộng thêm phần thặng dư cho người cho vay
Thứ ba: Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị gốc ban đầu, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc Giá trị thặng dư này đảm bảo cho ngân hàng bù đắp những khoản chi phí, rủi ro và mang lại cho ngân hàng một phần lợi nhuận
Thứ tư: Trong quan hệ tín dụng ngân hàng vì dựa trên các hợp đồng kinh
tế được pháp luật điều chỉnh, cho nên việc thực hiện đúng các thoả thuận đã cam kết là bắt buộc
2 Các hình thức cấp tín dụng Ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ giữa một bên là ngân hàng (người cho vay) và một bên là các chủ thể khác trong xã hội (người đi vay) thông qua các nghiệp vụ ngân hàng
Các hình thức cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng như:
Trang 7+ Cho vay: là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên đi vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
+ Chiết khấu: là việc tổ chức tín dụng mua lại giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của khách hàng dưới mệnh giá của thương phiếu.+ Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên đi thuê Bên
đi thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác của bên cho thuê và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận
+ Bảo lãnh (bảo đảm bằng con người): là việc bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh số tiền
đã được trả thay
+ Bao thanh toán: Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của
tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng
3 Vai trò của tín dụng đối với người nghèo.
a Là động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói
Trang 8thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh, điều kiện tự nhiên bất thuận lợi, không được đầu tư, thiếu vốn…nhưng trên thực tế nghèo đói là do không có vốn để tổ chức sản xuất, đầu tư kinh doanh.Vì vậy, vốn đối với họ là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo
b Tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, nên hiệu quả hoạt động kinh tế được nâng cao hơn.
Những người nghèo đói do hoàn cảnh bắt buộc hoặc để chi dùng cho sản xuất hoặc để duy trì cho cuộc sống họ là những người chịu sự bóc lột bằng thóc hoặc bằng tiền nhiều nhất của nạn cho vay nặng lãi hiện nay Chính vì thế khi nguồn vốn tín dụng đến tận tay người nghèo với số lượng khách hàng lớn thì các chủ cho vay nặng lãi sẽ không có thị trường hoạt động
c Giúp người nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều
kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho sản xuất kinh doanh để xoá đói giảm nghèo, thông qua kênh tín dụng thu hồi vốn và lãi đã buộc những người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao Để làm được điều
đó họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý từ đó tạo cho họ tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế
d Góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp
nông thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội
Trong nông nghiệp vấn đề quan trọng hiện nay để đi lên một nền sản xuất hàng hoá lớn đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất Đó là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng ,vật nuôi và đưa các loại giống mới có năng suất cao vào áp dụng trong thực tiễn sản xuất và phải được thực hiện trên diện rộng
Trang 9e Cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới
Xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành Tín dụng cho người nghèo thông qua các quy định về mặt nghiệp
vụ cụ thể của nó như việc bình xét công khai những người được vay vốn, việc thực hiện các tổ tương trợ vay vốn, tạo ra sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể chính trị xã hội, của cấp uỷ, chính quyền đã có tác dụng:
- Tăng cường hiệu lực của cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế ở địa phương
- Tạo ra sự gắn bó giữa hội viên, đoàn viên với các tổ chức hội, đoàn thể của mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản
lý kinh tế của gia đình, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội thông qua việc vay vốn.Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi đời sống kinh tế ở nông thôn,
an ninh, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo ra được bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội và nông thôn
4 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng đối với người nghèo.
Đói nghèo là hiện tượng phổ biến của nền kinh tế thị trườngvà tồn tại khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển; đặc biệt đối với nước ta quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường xuất phát điểm nghèo nàn lạc hậu tình trạng đói nghèo càng không tránh khỏi, thậm chí trầm trọng và gay gắt
Như vậy, hỗ trợ người nghèo trước hết là mục tiêu của xã hội Xóa đói giảm nghèo sẽ hạn chế được các tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Người nghèo được hỗ trợ để tự vươn lên, tạo thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến khích sản xuất phát triển Chính vì vậy, quan điểm cơ bản của chiến lược phát triển xã hội mà Đảng ta
đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
Tóm lại, hỗ trợ người nghèo là một tất yếu khách quan Xuất phát từ lý
Trang 10do của sự đói nghèo có thể khẳng định một điều: mặc dù kinh tế đất nước
có thể tăng trưởng nhưng nếu không có chính sách và chương trình riêng về xoá đói giảm nghèo thì các hộ gia đình nghèo không thể thoát ra khỏi đói nghèo được Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra những chính sách đặc biệt trợ giúp người nghèo, nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo Tất nhiên Chính phủ không phải tạo ra cơ chế bao cấp mà tạo ra cơ hội cho
hộ nghèo vươn lên bằng những chính sách và giải pháp Cụ thể là:
- Điều tra, nắm bắt được tình trạng hộ nghèo và thực hiện nhiều chính sách đồng bộ: tạo việc làm, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng với quy mô nhỏ ở những vùng nghèo, cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết để họ có thể tiếp cận với thị trường và hòa nhập với cộng đồng
- Tiếp tục triển khai mở rộng Chương trình mục tiêu Quốc gia xoá đói giảm nghèo của Thủ tướng Chính phủ Hàng năm, Chính phủ dành ra một tỷ
lệ trong tổng chi ngân sách để bổ sung quỹ cho vay xoá đói giảm nghèo
- Kết hợp chương trình mục tiêu Quốc gia xoá đói giảm nghèo với các chương trình kinh tế xã hội khác như: Chương trình khuyến nông, chương trình phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, chương trình nước sạch nông thôn, dân số kế hoạch hóa gia đình, xóa mù chữ…
- Thực hiện một số chính sách khuyến khích và giúp đỡ hộ nghèo như: miễn giảm thuế, viện phí, học phí… đối với hộ nghèo không còn khả năng lao động tạo
ra nguồn thu nhập, Nhà nước trợ cấp hàng tháng và vận động các tổ chức đoàn thể, quần chúng, các nhà hảo tâm giúp đỡ dưới nhiều hình thức khác nhau
- Mở rộng sự hợp tác quốc tế với các tổ chức Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ để giúp đỡ lẫn nhau về nguồn lực và trao đổi kinh nghiệm
Thực tế cho thấy có rất nhiều hình thức hỗ trợ để thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo nhưng hình thức tín dụng có hoàn trả là có hiệu quả hơn
Trang 11cả Để thấy được tính ưu việt của nó chúng ta hãy đi tìm hiểu vai trò của kênh tín dụng ngân hàng đối với hộ nông dân nghèo.
5 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với người nghèo.
* Các chỉ tiêu định tính.
- Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng là chỉ tiêu quan trọng có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng tín dụng Quy trình tín dụng là trình tự các bước mà Ngân hàng thực hiện cho vay đối với khách hàng Quy trình tín dụng phản ánh nguyên tắc cho vay, phương pháp vay, trình tự giải quyết các việc, thủ tục hành chính và thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng Một ngân hàng có quy trình tín dụng được thiết kế hợp lý, cán
bộ tín dụng thực hiện nghiêm chỉnh, áp dụng linh hoạt từng bước của quy trình cho vay thì sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng
- Khả năng cạnh tranh: Khả năng cạnh tranh của Ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng vì với một Ngân hàng có khả năng cạnh tranh cao hơn thì có chất lượng tín dụng tốt hơn và ngược lại
- Tính bền vững: Việc huy động vốn đa dạng, phong phú sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng thực hiện được việc cho vay linh hoạt hơn và từ đó chất lượng tín dụng của Ngân hàng cũng tốt hơn
* Các chỉ tiêu định lượng
1- Số lượng hộ nghèo được vay vốn Ngân hàng: Chỉ tiêu này cho biết số
hộ nghèo đã được sử dụng vốn tín dụng ưu đãi trên tổng số hộ hộ nghèo của toàn quốc, đây là chỉ tiêu đánh giá về số lượng Chỉ tiêu này được tính luỹ kế
từ hộ vay đầu tiên đến hết kỳ cần báo cáo kết quả
Tổng số Số lượng hộ Số lượng hộ
lượng hộ nghèo = được vay đến + được vay trong
được vay vốn cuối kỳ trước kỳ báo cáo
Trang 122- Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn: Đây là chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng đối với công tác tín dụng; bằng tổng số hộ nghèo được vay vốn trên tổng số
hộ nghèo đói theo chuẩn mực được công bố
Tỷ lệ hộ Tổng số hộ nghèo được vay vốn
nghèo được = x 100%
vay vốn Tổng số hộ nghèo đói trong danh sách
3- Số tiền vay bình quân 1 hộ: Chỉ tiêu này đánh giá mức đầu tư cho một
hộ ngày càng tăng lên hay giảm xuống, điều đó chứng tỏ việc cho vay có đáp ứng được nhu cầu thực tế của các hộ nghèo hay không
Số tiền cho vay Dư nợ cho vay đến thời điểm báo cáo
bình quân =
một hộ Tổng số hộ còn dư nợ đến thời điểm báo cáo
4- Số hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói: Là chỉ tiêu đánh giá chất lượng của công tác tín dụng đối với hộ nghèo Hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cao hơn chuẩn mực nghèo đói hiện hành, không còn nằm trong trong danh sách hộ nghèo, có khả năng vươn lên hoà nhập với cộng đồng
Tổng số hộ nghèo Số hộ nghèo Số hộ nghèo Số hộ nghèo trong Số hộ nghèo
đã thoát khỏi = trong danh sách - trong danh sách - danh sách đầu kỳ + mới vào
ngưỡng nghèo đầu kỳ cuối kỳ di cư đi nơi khác trong kỳ báo cáo
5- Doanh số cho vay: Là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền ngân hàng chính sách cho hộ nghèo vay trong thời kì nhất định (1 năm).Ngân hàng còn dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng cho vay hộ nghèo trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng trong 1 năm
Trang 13Tỷ trọng Doanh số cho vay hộ nghèo
cho vay = x 100%
hộ nghèo Tổng doanh số cho vay
6- Dư nợ cho vay hộ nghèo: Chỉ tiêu này cho biết Ngân hàng cho vay được nhiều hay ít, dư nợ ngắn hạn trung dài hạn là bao nhiêu Khoản tiền
mà Ngân hàng cho vay lớn chứng tỏ Ngân hàng tạo được uy tín, cung cấp nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú, phù hợp…Ngược lại dư nợ cho vay thấp phản ánh phần nào qui mô của Ngân hàng nhỏ và khả năng cho vay thấp Tuy nhiên, dư nợ cho vay lớn thì chưa hẳn chất lượng khoản vay tốt
Dư nợ cho vay
hộ nghèo =
Dư nợ đầu kỳ +
Doanh số cho vay -
Doanh số thu nợ
7- Dư nợ quá hạn và nợ xấu: Là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả tín dụng cho vay và chất lượng đầu tư cho vay hộ nghèo Dư nợ quá hạn càng nhỏ tỷ lệ nợ quá hạn thấp thì chất lượng tín dụng càng cao
Dư nợ quá hạn hộ nghèo
Tỷ lệ nợ quá hạn hộ nghèo = x 100% Tổng dư nợ hộ nghèo
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
Trang 14Huyện Mỹ Đức nằm phía Tây Nam Hà Nội, phía Đông giáp huyện Ứng Hòa, ranh giới là con sông Đáy, phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ Phía Tây giáp các huyện của tỉnh Hòa Bình: Lương Sơn (ở phía Tây Bắc), Kim Bôi (ở phía chính Tây), Lạc Thủy (ở phía Tây Nam) Phía Đông Nam giáp huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam Đường bộ: có quốc lộ 21B chạy từ Hà Đông, qua thị trấn Đại Nghĩa (xưa là Tế Tiêu), sang tỉnh Hà Nam Đường sông có sông Đáy (sông Thanh Hà).
Trang 15Huyện Mỹ Đức nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm của thành phố Hà Nội có lợi thế về tự nhiên và địa lý, người dân cần cù, chịu khó trong năm qua cấp uỷ, chính quyền và nhân dân huyện Mỹ Đức đã tập trung đẩy mạnh chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quan điểm phát triển của huyện Mỹ Đức trong giai đoạn 2005 - 2010 được xác định: phải phát huy tinh thần tự chủ, chống nguy cơ tụt hậu, từ những cơ sở kinh tế hiện có chuyển hướng nhanh theo những lợi thế và khai thác tiềm năng sẵn có, đổi mới công nghệ, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Chuyển dịch kinh tế phải theo hướng phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp ổn định; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh với tốc độ nhanh và đưa du lịch - dịch vụ thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Từ những thành tựu trong công cuộc đổi mới của đất nước hơn 20 năm qua hết sức quan trọng, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao Tuy nhiên cuối năm 2008 còn có những khó khăn nhất định: hậu quả nặng nề của đợt mưa lớn, tình hình chính trị, kinh tế khu vực và khủng hoảng tài chính, thời tiết diễn biến bất lợi cũng phần nào ảnh hưởng…Song Huyện vẫn phấn đấu khắc phục khó khăn, tích cực phấn đấu tốc độ gia tăng bình quân hàng năm từ 12% - 13%, bình quân thu nhập đầu người đạt 6,5 - 7 triệu đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp 40%, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng 25%; du lịch - dịch vụ 35%, giá trị 01 ha canh tác bình quân đạt từ 40 - 50 triệu/năm
* Thuận lợi:
Đảng và Nhà nước có cơ chế chính sách ngày càng hoàn thiện hơn, việc
mở rộng địa giới hành chính Thủ đô đã mở ra những triển vọng lớn để huyện
Mỹ Đức phát triển nhanh, toàn diện và bền vững.Với thế mạnh nguồn lao động dồi dào, điều kiện tự nhiên phong phú có nhiều lợi thế để khai thác phát
Trang 16triển nền nông nghiệp từng bước hiện đại và bền vững, phát triển công nghiệp nguyên liệu, du lịch sinh thái…Cơ sở hạ tầng được cải thiện, đường giao thông đã được bê tông hoá, giao lưu văn hoá phát triển, các nghị quyết chuyên
đề như xây dựng các dự án chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, vật nuôi, cây trồng, phát triển các làng nghề, phát triển tiểu thủ công nghiệp…tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư vốn của Ngân hàng Đối với lĩnh vực Ngân hàng ngày càng mở rộng và phát triển gần dân, sát dân, các chính sách đều được công khai hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được tiếp cận dễ dàng, nhất là những hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn
* Khó khăn:
Xuất phát điểm của nền kinh tế của huyện còn thấp, cơ sở vật chất hạ tầng còn khó khăn Đồng thời, những khó khăn, hạn chế, bất cập trong công tác quản lý, điều hành trên một số lĩnh vực: quản lý quy hoạch, xây dựng, đất đai, môi trường…Lao động dư thừa, không có việc làm, ổn định đời sống người dân chưa được cải thiện nhiều Nền kinh tế của huyện đã có bước phát triển mạnh song chưa bền vững và tương xứng với tiềm năng Chưa có các cụm, điểm, khu công nghiệp để thu hút được lao động Thời tiết diễn biến phức tạp, giá cả sinh hoạt có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân, nhất là vùng khó khăn Tỷ lệ hộ nghèo qua các năm đã giảm nhưng thiếu tính bền vững, việc điều tra xác minh hộ nghèo chưa kịp thời
Nhận thức được những thuận lợi và khó khăn trên, kế thừa và phát huy truyền thống, kinh nghiệm hoạt động của cấp trên những năm trước đã bám sát định hướng phát triển của Ngân hàng Chính sách xã hội và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mỹ Đức đã đoàn kết, phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần tích cực vào thực hiện mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm trên địa bàn huyện
Trang 17II Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Chính sách huyện Mỹ Đức.
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IX, Luật Các tổ chức tín dụng và Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá X về Chính sách tín dụng đối với người nghèo, các đối tượng chính sách khác và tách việc cho vay chính sách ra khỏi hoạt động tín dụng thông thường của các Ngân hàng thương mại Nhà nước, cơ cấu lại hệ thống Ngân hàng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ - CP ngày 14 tháng 10 năm 2002 về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác Thủ tướng Chính phủ cũng
đã ban hành Quyết định số 131/QĐ - TTg ngày 04/10/2002 về việc thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội (viết tắt là NHCSXH) tên giao dịch Quốc tế : Viet Nam Bank For Social Polices (VBSP) để thực hiện tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo
Ngân hàng Chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng của Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; được Nhà nước cấp, giao vốn và đảm bảo khả năng thanh toán; huy động vốn có trả lãi hoặc tự nguyện không lấy lãi, vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả, vốn nhận ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để uỷ thác hoặc trực tiếp cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học đại học, cao đẳng trung học chuyên nghiệp dạy nghề; các đối tượng cần vay vốn
để giải quyết việc làm; các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài và các đối tượng chính sách khác
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mỹ Đức được thành lập theo Quyết định số 340/QĐ - HĐQT ngày 20 tháng 5 năm 2003 của chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách Xã hội trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục
vụ người nghèo nhằm tách kênh tín dụng chính sách ra khỏi kênh tín dụng thương mại Được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ngân hàng Chính sách Xã
Trang 18hội tỉnh Hà Tây và ban đại diện Hội đồng quản trị - Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức.
Trụ sở giao dịch của Ngân hàng được đặt tại trung tâm Thị trấn Đại Nghĩa thuận tiện về giao thông, địa hình…Trong những năm 2008, 2009,
2010 hoạt động tín dụng - ngân hàng của Ngân hàng mặc dù chịu sự tác động của khủng hoảng kinh tế và các yếu tố biến động giá cả của một số mặt hàng như nhiên liệu, lương thực, thực phẩm…song vẫn đảm bảo được sự phát triển
ổn định, đáp ứng được nhu cầu về vốn phục vụ tốt cho các hoạt động của các chương trình tín dụng trên địa bàn
III Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng chính sách xã hội huyện
Mỹ Đức.
Sau khi được xáp nhập, trở thành một huyện của Thành phố Hà Nội, Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức nhận được Quyết định 03/QĐ - HĐQT ngày 01 tháng 01 năm 2009 của Thành phố trên cơ sở tổ chức và chỉnh sửa lại một số vấn đề liên quan… Ngân hàng Chính sách Xã hội được thành lập để thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán Tín dụng đối với người nghèo
và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay
ưu đãi phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội (điều 1 Nghị định 78/2002/NĐ - CP)
IV Khái quát về mô hình tổ chức của Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mỹ Đức.
Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức triển khai
và đi vào hoạt động từ ngày 01/07/2003 Được sự quan tâm giúp đỡ của Ngân hàng Chính sách Xã hội Thành phố, Huyện uỷ - HĐND - UBND huyện Mỹ
Trang 19Đức, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội trên
cơ sở mục tiêu định hướng phát triển kinh tế của địa phương trong những năm qua, Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức từng bước được kiện toàn tổ chức, xác định rõ nhiệm vụ đặt ra trong những năm tới, đưa
ra biện pháp chỉ đạo phù hợp với thực tế, không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Chính sách Xã hội
Ngay sau khi thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức, UBND huyện đã ra quyết định thành lập ban đại diện hội đồng quản trị ngân hàng chính sách xã hội huyện theo đúng quy định của điều lệ tổ chức và hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội Đồng chí Phó chủ tịch UBND huyện làm trưởng ban đại diện, các đồng chí thành viên là trưởng hoặc phó các ban, ngành, hội đoàn thể ở huyện tham gia dưới hình thức kiêm nhiệm (ban đại diện gồm 12 thành viên) Nhiệm vụ của ban đại diện hội đồng quản trị:
- Tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị và Ban đại diện hội đồng quản trị cấp trên
- Duyệt kế hoạch huy động vốn và cho vay trên địa bàn để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Ban đại diện hội đồng quản trị được quyền tổ chức khai thác, tập trung các nguồn vốn để bổ xung vốn cho vay tại địa phương
- Tổ chức chỉ đạo và đôn đốc việc thực hiện hoàn thành kế hoạch tín dụng trên địa bàn
- Chỉ đạo kiểm tra giám sát các bên nhận uỷ thác cho vay thực hiện đúng chính sách và chế độ nghiệp vụ theo quy định
- Phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội chỉ đạo thành lập các tổ tiết kiệm và vay vốn
- Nghiên cứu, tổng hợp, đề xuất với hội đồng quản trị trình bổ xung, sửa đổi ban hành chính sách tín dụng với người nghèo và các đối tượng chính sách khác
- Chấp hành chế độ thỉnh thị báo cáo lên cấp trên và các cơ quan Nhà nước theo quy định
Trang 20Dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Chính sách Xã hội Thành phố Hà Nội, Huyện uỷ - HĐND - UBND huyện Mỹ Đức và trực tiếp là đồng chí Phó chủ tịch UBND huyện kiêm trưởng ban đại diện HĐQT Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mỹ Đức Phòng đã triển khai kịp thời các văn bản của ngành tới toàn bộ cán bộ nhân viên, thường xuyên tổ chức học tập về công tác tín dụng,
cơ chế bảo đảm tiền vay và các văn bản pháp luật liên quan đến các quy trình nghiệp vụ Chấp hành kỷ luật trong chỉ đạo điều hành, thực hiện theo quy chế, phân rõ người, rõ việc, hàng tháng, quý thực hiện theo chương trình công tác được xây dựng và triển khai đến từng cán bộ Công tác kiểm tra trước, trong
và sau khi cho vay được thực hiện nghiêm túc, xác định rõ đối tượng đầu tư, chất lượng khách hàng, hiệu quả của dự án đầu tư, đảm bảo an toàn và chất lượng tín dụng được nâng lên Thường xuyên họp giao ban với các xã về việc làm được, những vướng mắc khó khăn để cùng tháo gỡ, luôn giữ mối quan hệ tốt với chính quyền xã và các ban ngành có liên quan
Hoạt động Ngân hàng Chính sách Xã hội đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế của địa phương, giúp hộ sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế hộ, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, cải tạo vườn cây ao cá, phát triển ngành nghề của địa phương, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế địa phương trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tạo công ăn việc làm cho người lao động, đời sống nhân dân càng được cải thiện, góp phần tích cực vào thực hiện mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo đưa kinh tế nông thôn phát triển
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức.
Giám đốc
Phó giám đốc
Tổ kế hoạch nghiệp vụtín dụng
Tổ kế toánngân quỹ
Trang 21- Giám Đốc: Chịu trách nhiệm chung của cả phòng giao dịch, phụ trách mảng kế tóan ngân quỹ Ký các quyết định cho vay > 100 triệu đồng.
- Phó Giám đốc: phụ trách mảng Tín Dụng( theo dõi cho vay, thu nợ trên địa bàn toàn huyện) Được quyền ký các quyết định <100 triệu đồng
- Tổ kế toán:
+ Tổ trưởng: Đứng đầu của tổ chịu trách nhiệm chung của cả tổ Có trách nhiệm kiểm tra chứng từ của cơ quan, in cấn đối, lập báo cáo tháng, quý, năm tham mưu cho ban giám đốc và chịu trách nhiệm thi hành quyết định của ban giám đốc
+ Các thành viên trong tổ kế toán: mỗi thành viên được phân công phụ trách một số xã, có trách nhiệm thực hiện viêc lưu giữ hồ sơ, trích dư nợ trên khế ước khách hành, rút hồ sơ khách hàng khi khách hàng đã tất toán, có trách nhiệm thực hiện công việc khi tổ trưởng triển khai…
Ngân hàng được thành lập tính đến nay đã được 7 năm Mặc dù vậy thì
cơ sở vật chất của Ngân hàng cũng như trụ sở làm việc, phương tiện đi lại vẫn còn đơn giản Khi ngân hàng mới thành lập phòng chỉ có 1 - 2 cán bộ; 02 nhân
Trang 22viên hợp đồng ngắn hạn; máy móc thiết bị; cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, tính đến 31/12/2010, biên chế của phòng là 11 cán bộ nhân viên và ngân hàng cũng đã được đầu tư nhiều về máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng được trang bị đầy đủ Về tổ chức nhân sự cơ bản đã ổn định đáp ứng nhu cầu hoạt động của phòng theo chương trình được giao.
Trong những năm qua, lãnh đạo và cán bộ của ngân hàng đã không ngừng học hỏi nâng cao kiến thức về mọi mặt, trau dồi đạo đức tác phong lề lối làm việc, thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mỹ Đức giờ trở thành người bạn đồng hành của người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng vay vốn, nâng cao đời sống, góp phần ổn định xã hội
Trang 23CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
Bảng 1: Nguồn vốn huy động của NHCSXH huyện Mỹ Đức
năm 2008 - 2010.
Đơn vị: Triệu đồng
2009 so 2008
2010 so 2009
10 0
Trang 242009 tăng 46.449 triệu đồng so với năm 2009, chiếm 94% tổng nguồn vốn.
Nguồn vốn địa phương trong năm 2009 không tăng so với năm 2008 là
do thời tiết diễn biến phức tạp, giá cả có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân, nhất là vùng khó khăn…đến năm 2010, nguồn vốn địa phương giảm chỉ còn 169 triệu đồng tương đương 0,1% tổng nguồn vốn, giảm 57,8% so với nguồn vốn địa phương của năm 2010
Bảng 2: Vòng quay vốn tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội
Trang 25huyện Mỹ Đức năm 2008 - 2010.
Đơn vị: Triệu đồng
Vòng quay vốn 0,41 vòng 0,35 vòng 0,53 vòng
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội
huyện Mỹ Đức các năm 2008-2010)
Vòng quay vốn tín dụng thể hiện qua các năm trên bảng 10, năm 2008
là 0,41 vòng, năm 2009 là 0,35 vòng, giảm 0,06 vòng so với năm 2008, năm 2010 là 0,53 vòng tăng 0,18 vòng so với năm 2009 Điều này phản ánh được đặc điểm của hộ nghèo đầu tư chủ yếu vào đối tượng trung hạn như cải tạo, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, cải tạo vườn…Song đối với hộ nghèo vay để sản xuất nông nghiệp thì được ưu tiên hơn về thời hạn cho vay, lãi suất cho vay để họ yên tâm đầu tư và trả được nợ dần hàng năm theo kỳ hạn trả nợ đã thoả thuận với ngân hàng Việc vòng quay vốn tín dụng của Ngân hàng thấp như vậy là do tỷ trọng cho vay trung dài hạn trong tổng dư nợ luôn cao hơn so với tỷ trọng cho vay ngắn hạn Cùng với việc tăng trưởng doanh số qua từng năm, công tác thu hồi nợ được chi nhánh tiến hành song song, công tác thu hồi nợ và quản lý của chi nhánh đang ngày càng tốt hơn…Hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận, được Nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán Mục đích chính là thực hiện được chương trình mục tiêu quốc gia về công tác xoá đói giảm nghèo
3 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn.
Hiệu suất sử dụng vốn cho biết tình hình sử dụng nguồn vốn của ngân hàng vào hoạt động tín dụng, mang lại hiệu quả chủ yếu cho ngân hàng Ta hãy xem xét hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng qua bảng số liệu sau:
Bảng 3 : Hiệu suất sử dụng vốn của NHCSXH huyện Mỹ Đức
Trang 26năm 2008 - 2010 Đơn vị: Triệu đồng
Tổng dư nợ cho vay 56.663 92.564 145.474Tổng nguồn vốn huy động 56.663 92.964 146.033Hiệu suất sử dụng vốn (%) 100% 99,5% 99,6%
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội
huyện Mỹ Đức các năm 2008-2010)
Qua bảng trên cho thấy hiệu suất sử dụng vốn của Ngân hàng trong 3 năm đều đạt ở mức cao Tỷ lệ hiệu suất sử dụng vốn quá cao cũng cho thấy hoạt động đầu tư của Ngân hàng rất thấp khi không đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh nhằm tạo thêm một nguồn thu nhập cho Ngân hàng đồng thời cũng
là để phân tán rủi ro và phòng ngừa rủi ro thanh khoản cho khách hàng…Mặc
dù vậy, thực tế cho thấy Việt Nam là nước thực hiện thành công nhất về công tác xoá đói giảm nghèo được các nước trên thế giới công nhận, mà Ngân hàng Chính sách Xã hội cũng góp phần không nhỏ trong công tác đó…
4 Hoạt động tín dụng.
Trong những năm qua hoạt động tín dụng của Ngân hàng Chính sách Xã hội có tốc độ tăng trưởng vượt bậc và đạt được một số kết quả khả quan Hoạt động tín dụng ngày càng đa dạng, chất lượng ngày càng nâng cao Ngân hàng cho vay đa dạng các đối tượng chủ yếu như: cho vay người nghèo, cho vay các tổ chức kinh tế, học sinh - sinh viên…
Theo Nghị định số 78/2002/NĐ - CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện việc cho vay 6 danh mục đối tượng chính sách gồm:
a Cho vay Hộ nghèo
b Cho vay vốn giải quyết việc làm
c Cho vay các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn nước ngoài
Trang 27d Cho vayHọc sinh, sinh viên (HSSV) có hoàn cảnh khó khăn đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề
e Cho vay chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn
f Các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất kinh doanh tại các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa (thuộc chương trình 135)
g Các đối tượng khác khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Hiện nay, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mỹ Đức đang thực hiện cho vay các chương trình tín dụng như sau:
a Cho vay hộ nghèo.
Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện thực hiện cho vay hộ nghèo góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và ổn định xã hội Đối tượng vay là những hộ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Chính phủ từng thời kỳ, được tổ TK&VV bình xét và được UBND cấp xã xác nhận vào danh sách đề nghị vay vốn
Hộ nghèo được vay vốn để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh, tạo thu nhập, tiến tới thoát khỏi đói nghèo Ngoài ra, hộ nghèo còn được vay vốn để thanh toán các chi phí cần thiết cho đời sống như: điện thắp sáng, nước sạch, sửa chữa nhà ở, chi phí về học tập cho con em đi học phổ thông
b Cho vay giải quyết việc làm.
Chương trình cho vay này nhằm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm trong giai đoạn hiện nay (2007 - 2011) và mục tiêu đến năm
2011 là tạo việc làm cho 2 - 2,2 triệu lao động Trong đó tạo việc làm cho 1,7
- 1,8 triệu lao động trong nước theo các dự án vay vốn tạo việc làm; tạo việc làm cho 40-50 vạn lao động qua xuất khẩu lao động và Quỹ hỗ trợ việc làm nước ngoài Căn cứ Quyết định 71/2005/QĐ - TTg ngày 05/04/2005 và QĐ số 15/QĐ - TTg về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 71/2005/QĐ - TTg, Tổng
Trang 28giám đốc Ngân hàng Chính sách Xã hội đã có văn bản 2539/NHCS - TD hướng dẫn quy trình nghiệp vụ cụ thể.
Đối tượng được vay vốn bao gồm Hộ gia đình và các cơ sở kinh doanh cá thể như : tổ hợp sản xuất, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật, doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ trang trại, Trung tâm Giáo dục Lao động - xã hội (gọi chung là cơ sở sản xuất kinh doanh) Mức cho vay tối đa đối với hộ gia đình là 20 triệu đồng/01 hộ gia đình Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh là 500 triệu đồng/ dự án nhưng không quá 20 triệu đồng/lao động thu hút
c Cho vay đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài( Xuất Khẩu Lao Động)
Ngân hàng Chính sách Xã hội cho người lao động vay vốn thông qua hộ gia đình có người là đối tượng chính sách và người lao động thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ đi lao động có thời hạn ở nước ngoài để trang trải chi phí, lệ phí hợp pháp cần thiết Mức cho vay tối đa 30 triệu đồng/01 lao động đi nước ngoài
d Cho vay học sinh - sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.
Ngày 27/9/2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 157/2007/QĐ - TTg về tín dụng đối với học sinh sinh viên thay thế cho Quyết định 107/2006/QĐ - TTg đã thực hiện trước đây Theo Quyết định này, học sinh sinh viên kể cả chính quy, không chính quy, tại chức, ngắn hạn, dạy nghề
có hoàn cảnh khó khăn đều được vay vốn, mức cho vay tối đa 800.000 đồng/tháng ; 8 triệu đồng/1 năm học
e Cho vay chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
Chương trình này được thực hiện theo Quyết định số 62/2004/QĐ - TTg ngày 16/04/2004 của Thủ tướng Chính phủ nhằm cung cấp tín dụng cho hộ
Trang 29gia đình ở nông thôn nơi có dự án (kể cả hộ nghèo và hộ không nghèo) được vay vốn thực hiện chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Mục tiêu đến cuối năm 2010 là 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh ; 70% số hộ gia đình ở nông thôn, số hộ nông dân chăn nuôi có nhà tiêu, chuồng trại hợp vệ sinh
Hộ vay sử dụng vốn vay để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp công trình cấp nước sạch bảo đảm theo tiêu chuẩn quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
f Cho vay các hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn.
Căn cứ quyết định 31/2007/QĐ - TTg ngày 05/03/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn Tổng giám đốc Ngân hàng Chính sách Xã hội có văn bản 677/NHCS -
TD ngày 22/04/2007 hướng dẫn quy trình nghiệp vụ; đối tượng được vay vốn
là các hộ không thuộc diện hộ nghèo nhưng sản xuất kinh doanh tại các xã khó khăn theo danh mục trong Quyết định 30/2007/TTg ngày 05/03/2007 của Thủ tướng Chính phủ
Hộ vay đến 30 triệu đồng cho vay theo phương thức uỷ thác Hộ vay trên
30 triệu đồng đến 100 triệu đồng thì Ngân hàng Chính sách Xã hội trực tiếp cho vay và hộ vay phải thực hiện đảm bảo tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay
g Cho vay đối với dự án ‘‘ Chương trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn KFW’’.
Đối tượng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với mức vốn cho vay tối đa không quá 500 triệu đồng đối với một doanh nghiệp và phải đảm bảo tiền vay theo quy định của pháp luật Lãi suất cho vay 0,9%/ tháng
Trang 30Kết quả hoạt động tín dụng giai đoạn năm 2008 - 2010 thể hiện ở bảng 2 cho thấy hoạt động tín dụng của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện đều tăng qua các năm cả về các chương trình và dư nợ Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm sau cao hơn năm trước cả về số lượng và chất lượng thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đã tạo điều kiện cho nhiều hộ gia đình được tiếp cận với tín dụng ưu đãi.
Bảng 4: Kết quả hoạt động tín dụng năm 2008 - 2010.
Đơn vị: Triệu đồng
Số tiền
Tỷ trọ ng
Số tiền
Tỷ trọ ng
Số tiền
Tỷ trọ ng
2009 so 2008
2010 so 2009
Số tiền
Tỷ trọ ng
%
Số tiền
Tỷ trọn g%
Tổng dư nợ 56.6 63 10 0 92.5 64 0 10 145.4 74 10 0 +35.9
01
+63 ,4
+52.9 10
+57, 2
1.500
70,57,32,310,46,2
2,70,6
49.9205.84587025.9346.496
2.999500
53,96,31,028,07,0
3,20,6
59.75513.51044950.11511.998
7.4995001.648
41,19,30,334,48,3
5,20,31,1
+9.983+1.691-413+20.046+2.995
+1.499+100
2540,7-32,2340,585,5
10025
+9.8357.665-42124.1815.502
4.5000
+19,7131,1-48,493,284,7
151,10
Trang 31so với năm 2009 Qua bảng ta thấy đối tượng cho vay chủ yếu của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức là cho vay hộ nghèo và học sinh sinh viên, chiếm tỷ lệ cao nhất Cho vay hộ nghèo năm 2009 tăng 9.983 triệu đồng so với năm 2008 (chiếm 25% tổng dư nợ), năm 2010 tăng 9.835 triệu đồng so với năm
2009 (chiếm 19,7% tổng dư nợ) Giải quyết việc làm, Nước sạch và vệ sinh môi trường, và Hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn càng ngày có xu hướng gia tăng Xuất khẩu lao động lại có xu hướng giảm
Qua xem xét một vài nét cơ bản về hoạt động của ngân hàng chính sách
xã hội huyện Mỹ Đức, có thể sơ bộ đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội huyện là chất lượng, hiệu quả có chiều hướng phát triển ổn định và vững chắc đã chiếm được lòng tin của nhân dân và thực sự trở thành người bạn đồng hành của người nghèo và các đối tượng chính sách
II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI
NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN MỸ ĐỨC.
1 Quy trình cấp tín dụng cho vay hộ nghèo.
Trước đây các hộ nghèo không được vay vốn vì không có tài sản thế chấp,
vì mưu sinh họ phải chấp nhận vay nặng lãi của tư nhân bằng tiền, bằng thóc với lãi suất cao để bảo tồn sự sống, họ không có tiền mua vật tư, cây, con giống để thực hiện trồng trọt, chăn nuôi, phải lao động quanh năm để rồi đến
Trang 32diễn khiến họ trở thành những con nợ Nhiều hộ nghèo ngay đến ruộng đất là tư liệu sản xuất quý giá nhất, cơ bản nhất để đảm bảo ổn định cuộc sống cũng phải đem cầm cố hoặc bỏ hoang hoá vì không có tiền đầu tư, gây lãng phí lớn tài nguyên thiên nhiên, làm sức sản xuất xã hội suy giảm Tuy vậy, sau khi Ngân hàng Chính sách Xã hội được thành lập đã giúp nhiều hộ thoát khỏi cảnh luẩn quẩn ấy Với quy trình tín dụng khép kín, cán bộ tín dụng tư vấn, hướng dẫn lập
hồ sơ vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho những hộ vay được vay vốn…tuân thủ theo quy trình tín dụng được quy định bằng văn bản số 319 (27/5/2005):
Sơ đồ 2: Quy trình phê duyệt một khoản tín dụng:
Kiểm tra hồ sơ khách hàng, thẩm định lại
Giám đốc
Phê duyệt/không phê duyệt cho vay