1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

22 1,6K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
Chuyên ngành Dân sự
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 228,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đời sống xã hội, giao dịch dân sự đóng một vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ góp phần giúp con người thoả mãn mọi nhu cầu vật chất và tinh thần mà nó còn góp phần khuyến khích, đẩy mạnh sản xuất xã hội phát triển. Về phương diện pháp lý, giao dịch dân sự cũng có một vai trò hết sức quan trọng vì nó là một sự kiện pháp lý đa dạng được thực hiện bởi ý chí của con người nhằm thu được một kết quả nhất định, kết quả đó được pháp luật thừa nhận và tạo điều kiện để nó trở thành hiện thực. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau mà giao dịch có thể có sự vi phạm vào một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Vì vậy, giao dịch dân sự đó có thể bị coi là giao dịch dân sự vô hiệu. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em đã chọn đề tài: “ Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”.

Trang 1

A MỞ BÀI

Trong đời sống xã hội, giao dịch dân sự đóng một vai trò hết sức quan trọng, nókhông chỉ góp phần giúp con người thoả mãn mọi nhu cầu vật chất và tinh thần mà nócòn góp phần khuyến khích, đẩy mạnh sản xuất xã hội phát triển Về phương diệnpháp lý, giao dịch dân sự cũng có một vai trò hết sức quan trọng vì nó là một sự kiệnpháp lý đa dạng được thực hiện bởi ý chí của con người nhằm thu được một kết quảnhất định, kết quả đó được pháp luật thừa nhận và tạo điều kiện để nó trở thành hiệnthực Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau màgiao dịch có thể có sự vi phạm vào một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịchdân sự Vì vậy, giao dịch dân sự đó có thể bị coi là giao dịch dân sự vô hiệu Để hiểu

rõ hơn về vấn đề này, em đã chọn đề tài: “ Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”.

B NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU.

Xã hội ngày càng phát triển, sự phân công lao động ngày càng thể hiện rõ rệt, theo

đó mỗi người chỉ có thể đảm trách một mảng công việc nhỏ trong xã hội Trong khi

đó, nhu cầu con người về vật chất, tinh thần ngày càng tăng và để thoả mãn nhu cầu

đó thì các chủ thể phải tham gia các giao dịch khác nhau, trong đó có giao dịch dân

sự Xét dưới góc độ cơ sở hình thành, giao dịch dân sự được hình thành từ hai tiền đềsau:

- Tiền đề khách quan: Xã hội càng phát triển, con người càng tham gia vào nhiều

giao dịch dân sự khác nhau để thoả mãn nhu cầu của mình Lịch sử xã hội loài người

đã chứng minh rằng một xã hội sẽ không phát triển nếu chỉ có sự trao đổi hàng hoátrong một phạm vi hạn hẹp Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của đời sống kinh

Trang 2

tế - xã hội, các giao dịch nói chung, giao dịch dân sự nói riêng là phương tiện hữuhiệu để thoả mãn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.

- Tiền đề chủ quan: Tham gia giao dịch dân sự của chủ thể nhằm thoả mãn lợi ích

vật chất hoặc tinh thần của mình, do đó việc tham gia bất cứ một giao dịch dân sự nào

là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự đó Nếu thamgia giao dịch không có sự tự nguyện của chủ thể thì giao dịch dân sự đó có thể bị vôhiệu Tuy nhiên, ý chí của chủ thể tham gia giao dịch không đựoc trái với ý chí củanhà nước ( thể hiện qua các qui định của pháp luật)

Trước khi có BLDS 1995, chúng ta chưa có qui định riêng về giao dịch dân sự vàgiao dịch dân sự được đề cập dưới góc độ là hợp đồng dân sự ( Pháp lệnh Hợp đồngdân sự năm 1991) hoặc ý chí đơn phương của chủ thể trong việc lập di chúc ( Pháplệnh thừa kế ngày 30/8/1990) BLDS 1995 đã chính thức đề cập đến giao dịch dân sựvới qui định cụ thể về khái niệm, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự cũng nhưgiao dịch dân sự vô hiệu… BLDS 2005 ra đời đã có những sửa đổi, bổ sung nhất địnhliên quan đến giao dịch dân sự Trong BLDS 2005, qui định về giao dịch dân sự được

đề cập từ Điều 121 đến Điều 138

Điều 121, BLDS 2005 qui định: “ Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi

pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Như vậy, khái niệm giao dịch dân sự tại Điều 121, BLDS 2005 được đề cập ởdạng liệt kê, theo đó điều luật đề cập đến giao dịch

Dân sự là “ hợp đồng” hoặc “ hành vi pháp lý đơn phương” Cho dù là hợp đồnghoặc hành vi pháp lý đơn phương thì cũng đều phải nhằm làm phát sinh hậu quả pháp

lý nhất định, đó chính là việc “… làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ

dân sự” Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự là các quyền và nghĩa vụ của các chủ

thể được pháp luật bảo đảm thực hiện Để được pháp luật bảo đảm thực hiện thì cácquyền và nghĩa vụ đó phải dược xác lập phù hợp với qui định của pháp luật Trongtrường hợp các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự không phù hợp với

Trang 3

qui định của pháp luật ( vi phạm vào điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự) thìgiao dịch dân sự đó có thể bị vô hiệu.

Với ý nghĩa là các qui định chung cho hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phươngnên các qui định về giao dịch dân sự sẽ đựơc áp dụng cho các qui định về hợp đồng

và qui định cho các hành vi pháp lý đơn phương cụ thể Xét dưới góc độ là căn cứ làmphát sinh, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ dân sự thì giao dịch dân sự được coi là căn cứphổ biến nhất làm phát sinh nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, việc xác lập giao dịch dân sựđược thực hiện bởi các chủ thể với những mục đích, nội dung cụ thể… phải phù hợpvới qui định của pháp luật, có như vậy thì quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh từgiao dịch mới có thể được bảo đảm thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của Nhànước

II KHÁI NIỆM GIAO DỊCH DÂN SỰ.

Thông thường giao dịch dân sự hợp pháp sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ củacác chủ thể Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, xuất phát từ các nguyên nhân khácnhau mà giao dịch có thể có sự vi phạm vào một trong các điều kiện có hiệu lực củagiao dịch dân sự

Điều 122, BLDS 2005 qui định về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.Như vậy, một giao dịch dân sự muốn phát sinh hiệu lục pháp lý phái thoả mãn tất cảcác điều kiện này, nếu vi phạm vào một trong các điều kiện đó thì giao dịch dân sự cóthể bị vô hiệu

Điều 127, BLDS 2005 qui định: “ Giao dịch dân sự không có một trong các điều

kiện được qui định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu.”

Điều 122, BLDS qui định:

“ Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

Trang 4

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong truờng hợp pháp luật có qui định.

Điều đó có nghĩa là những giao dịch dân sự nếu vi phạm một trong bốn điều kiện

về hình thức và nội dung sau sẽ có thể bị coi là vô hiệu:

- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự.

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

- Hình thức giao dịch phù hợp với qui định của pháp luật.

Tính vô hiệu của giao dịch dân sự được thể hiện ở chỗ nó không làm phát sinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia xác lập giao dịch dân sự

đó, hay nói cách khác là nó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên mong muốn có khi xác lập giao dịch dân sự đó.

Ví dụ: Giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; Giao

dịch dân sự giả tạo; Giao dịch dân sự vi phạm điều kiện tự nguyện …

Pháp luật qui định về giao dịch dân sự là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo ổn địnhgiao lưu dân sự, thiết lập trật tự kỉ cương xã hội, đồng thời là cơ sở pháp lý để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Ngoài ra,thông qua các qui định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự cũng như giaodịch dân sự vô hiệu, Nhà nước có thể kiểm soát được các giao dịch dân sự nhất địnhnếu thấy cần thiết vì lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng

III PHÂN LOẠI GIAO DỊCH DÂN SỰ.

Trang 5

Giao dịch dân sự vô hiệu được xác định trên cơ sở các điều kiện có hiệu lực của giaodịch dân sự Dựa vào các tiêu chí khác nhau có thể có các cách phân loại giao dịchdân sự vô hiệu khác nhau.

1.Nếu dựa vào thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự vô hiệu được chia thành:

- Giao dịch không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân

sự vô hiệu: Đây là những giao dịch mà mức độ vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao

dịch dân sự là nghiêm trọng nên theo qui định của pháp luật, một số giao dịch dân sự

vô hiệu sẽ không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vôhiệu Bất cứ lúc nào chủ thể cũng có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự

vô hiệu, thậm chí nếu chủ thể không có yêu cầu thì giao dịch đó cũng bị xác định là

vô hiệu

- Giao dịch dân sự bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân

sự vô hiệu: Đây là những giao dịch dân sự mà mức độ vi phạm các điều kiện có hiệu

lực của giao dịch dân sự khong nghiêm trọng, hoàn toàn phụ thuộc vào lợi ích của cácchủ thể nên các chủ thể có thể yêu cầu hoặc không yêu cầu toà án tuyên bố giao dịchdân sự vô hiệu Pháp luật sẽ qui định một thời hạn nhất định, trong khoảng thời gian

đó các chủ thể có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, kết thúcthời gian đó nếu chủ thể không yêu cầu thì họ sẽ không còn quyền này nữa

2 Nếu dựa vào mức độ vi phạm đối với từng giao dịch dân sự cụ thể thì giao dịch dân sự vô hiệu được chia thành:

Khi xem xét hiệu lực một giao dịch dân sự chúng ta cần xem xét toàn bộ nội dungcủa giao dịch dân sự để xác định giao dịch dân sự đó vô hiệu toàn bộ hay từng phần

- Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ: Đó là các giao dịch mà tất cả các nội dung của

giao dịch đều vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự hoặc có một sốnội dung của giao dịch vô hiệu nhưng lại trực tiếp ảnh hưởng tới các phần còn lại củagiao dịch

Trang 6

Khi toàn bộ nội dung của giao dịch dân sự đó vi phạm điều cấm của pháp luật, tráiđạo đức xã hội hoặc một trong các bên tham gia giao dịch đó không có quyền xác lậpgiao dịch dân sự.

Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ trong các trường hợp sau:

• Giao dịch dân sự do vi phạm điều cấm của pháp luật, đạo đức xã hội ( Điều 128BLDS 2005)

• Giao dịch dân sự do thiếu tính tự nguyện của chủ thể xác lập giao dịch dân sự:giao dịch dân sự do giả tạo ( Điều 129, BLDS 2005); Giao dịch dân sự do nhầm lẫn(Điều 131, BLDS 2005); giao dịch dân sự do lừa dối, đe doạ (Điều 132, BLDS 2005)

• Giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (ĐIều 130, BLDS 2005)

• Giao dịch dân sự do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi củamình ( Điều 133, BLDS 2005)

- Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần: Đó là các giao dịch dân sự chỉ có một số

nội dung vi phạm vào các điều kiện có hiệu lực của gioa dịch dân sự, còn các nộidung khác không vi phạm và hoặc có một phần của giao dịch vô hiệu nhưng khôngảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch

Ví dụ như: Công ty A và công ty B kí kết hợp đồng giao nhận hàng hoá, địa điểm

giao hàng tại cảng C nhưng người giao hàng lại đưa đến cảng D gần đó Trong trườnghợp này, hợp đồng vô hiệu từng phần do vi phạm về địa điểm giao nhận hàng hoánhưng không ảnh hưởng tới hiệu lực của những phần khác như: số lượng hàng, chấtlượng sản phẩm, thời gian thực thi…

3 Nếu dựa vào mức độ vi phạm nghiêm trọng hay không nghiêm trọng của giao dịch dân sự cũng như căn cứ vào ý chí của Nhà nước, ý chí của chủ thể tham gia giao dịch thì giao dịch dân sự vô hiệu được chia thành:

- Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối ( Giao dịch dân sự đương nhiên vô hiệu):

Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối là những giao dịch dân sự vi phạm những qui tắc

Trang 7

pháp lý có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chung của cộng đồng Đó là các giaodịch mà mức độ vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là nghiêm trọng,

kể cả khi các bên tham gia giao dịch không yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự

vô hiệu thì các giao dịch đó vẫn được xác định là giao dịch dân sự vô hiệu Giao dịchdân sự đương nhiên vô hiệu bao gồm: Giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của phápluật, trái đạo đức xã hội (Điều 128, BLDS 2005), giao dịch dân sự xác định do giả tạo( Điều 129, BLDS 2005)

Ví dụ: hợp đồng mua mua bán thuốc phiện, hợp đồng cho thuê nhà để chứa gái

mại dâm

Hoặc giao dịch dân sự đó không tuân theo điều kiện về hình thức mà pháp luật cho

là cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích nhà nước cũng như quyền và lợi ích của cácbên

Ví dụ: Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, được đem công

chứng hoặc chứng thực tại uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền ( nếu tại địa phương

đó không có cơ quan công chứng) và phải đem đăng kí tại cơ quan quản lý nhà đất.Nếu không làm đúng như điều kiện và hình thức này thì giao dịch sẽ bị coi là vô hiệu Nói cách khác, các giao dịch dân sự đương nhiên vô hiệu chính là các giao dịchdân sự không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu( Khoản 2, Điều 136, BLDS 2005)

- Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối ( Giao dịch dân sự vô hiệu khi có yêu cầu):

Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối là những giao dịch dân sự vi phạm một trongnhững nguyên tắc pháp lý có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một chủthể xác định ( cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác) Mức độ vi phạm các điềukiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp này là không lớn, các chủ thểtham gia giao dịch có thể yêu cầu hoặc không yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân

sự vô hiệu Theo qui định của BLDS 2005 thì các giao dịch dân sự vô hiệu khi có yêucầu là các giao dịch dân sự không thuộc trường hợp đương nhiên vô hiệu Hay nói

Trang 8

cách khác, các giao dịch dân sự vô hiệu khi có yêu cầu chính là các giao dịch dân sựchịu sự hạn chế về thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố gioa dịch dân sự vô hiệu ( khoản

1, Điều 136, BLDS 2005)

Ngoài ra, nếu căn cứ vào các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quiđịnh tại Điều 122, BLDS 2005 thì có thể phân chia giao dịch dân sự vô hiệu do viphạm từng trường hợp cụ thể khi vi phạm vào một trong các điều kiện có hiệu lực củagiao dịch dân sự

4 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu theo qui định của BLDS 2005.

Trên cơ sở qui định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 122,BLDS 2005 phân loại cụ thể giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

• Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội ( Điều 128, BLDS 2005).

Theo qui định tại điểm b, Khoản 1, Điều 122, BLDS 2005 thì: “ Mục đích và nội

dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” Trên cơ sở qui định này, Điều 128, BLDS 2005 qui định: “ Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”.

Vậy giao dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xãhội thì giao dịch đó bị vô hiệu Tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được thì bị tịchthu sung quỹ nhà nước Trong trường hợp có thiệt hại mà các bên đều có lỗi, thì mỗibên phải tự chịu phần thiệt hại của mình; nếu chỉ một bên có lỗi, thì bên đó phải bồithường thiệt hại cho bên kia

Ví dụ: Hợp đồng mua bán ma tuý, chất nổ, đồ cổ; hợp đồng thuê nhà để đánh bạc,

tổ chức mại dâm; hợp đồng buôn bán phụ nữ qua biên giới …

• Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo ( Điều 129, BLDS 2005)

Ý chí đích thực và sự thể hiện ý chí đó phải là sự thống nhất Khi ý chí đích thực

và sự thể hiện ý chí đó không có sự đồng nhất ( mặc dù bản thân chủ thể hoàn toàn

Trang 9

kiểm soát được quá trình bày tỏ ý chí) thì giao dịch dân sự sẽ được xác định là vôhiệu Trên cơ sở này, pháp luật qui định giao dịch dân sự được xác lập một cách giảtạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch này vô hiệu, còn giao dịch bị chegiấu vẫn có hiệu lực Nếu giao dịch bị che giấu cũng vi phạm vào điều kiện có hiệulực của giao dịch dân sự thì giao dịch bị che giấu cũng vô hiệu Ngoài ra khi các chủthể xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch

đó vô hiệu

Ví dụ: A bán nhà cho B, nhưng để trốn thuế A làm hợp đồng tặng cho B căn nhà

của mình Trong trường hợp này hợp đồng tặng cho là giả tạo, khi bị phát hiện thì hợpđồng này bị Toà án tuyên bố vô hiệu, còn hợp đồng mua bán nhà vẫn có hiệu lực, A

và B phải làm thủ tục theo qui định về hợp đồng mua bán nhà ở theo quyết định củaToà án

• Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi

dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện ( Điều 130, BLDS 2005).

Đối với các giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện bởi người chưa thành niên,người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà theoqui định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiệnthì pháp luật cho phép người đại diện của những người này có quyền yêu cầu toà ántuyên bố giao dịch dân sự là vô hiệu Nếu người đại diện của người chưa thành niên,người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự yêu cầutoà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự đó vô hiệu

Bên đã biết người thực hiện giao dịch với mình là người chưa thành niên, ngườimất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà vẫngiao dịch, thì phải bồi thường thiệt hại cho những người này, theo yêu cầu người đạidiện của họ

• Giao dịch dân sự do bị nhầm lẫn ( Điều 131, BLDS 2005):

Trang 10

Trước khi yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu bên bị nhầm lẫn cóquyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó Nếu bên bị nhầm lẫn đãyêu cầu mà nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu toà

án tuyên bố giao dịch vô hiệu Tuy nhiên, hiện nay pháp luật không qui định cụ thể,theo đó một người bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vôhiệu ngay hay buộc họ phải thông qua một trình tự bắt buộc là yêu cầu bên kia thayđổi nội dung của giao dịch Ở đây chúng ta thấy rằng, giao dịch được xác lập bởi sựnhầm lẫn đã không có sự thống nhất giữa ý chí đích thực với sự thể hiện ý chí đó rabên ngoài ( và giao dịch dân sự được xác lập trên cơ sở sự thể hiện ý chí đó), do đóbên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu mà khôngcần phải yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch

Nếu một bên bị nhầm lẫn do lỗi cố ý của bên kia thì trường hợp này sẽ xác địnhgiao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối ( bên nhầm lẫn là bên bị lừa dối)

Ví dụ: A đặt mua 1000 tấn xi- măng Bút Sơn nhưng nhân viên cửa hàng xi-măng B

lại giao nhầm xi-măng Nội Thương Đây là sự nhầm lẫn về chủng loại hàng hoá nên

A có quyền yêu cầu đổi lại xi-măng Nếu cửa hàng xi-măng B không chấp nhận thì A

có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết

Bên có lỗi trong việc để xảy ra nhầm lẫn phải bồi thường thiệt hại

• Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ ( Điều 132, BLDS 2005):

Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối, đe doạ là giao dịch dân sự mà bản

thân chủ thể xác lập giao dịch bị “tê liệt ” về ý chí và không có sự lựa chọn nào khác

ngoài việc lựa chọn theo ý chí của một bên ( đe doạ) hoặc sự nhận thức không đúng

về giao dịch dân sự bởi hành vi vi phạm pháp luật bởi sự định hướng ý chí của chủ thểđến một nội dung khác có lợi cho người định hướng ( lừa dối) Khi giao dịch dân sựđược xác lập bởi sự lừa dối hoặc bị đe doạ thì bên bị lừa dối, bị đe doạ có quyền yêucầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu

Trang 11

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kiahiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đãxác lập giao dịch đó.

Ví dụ: A hứa bán cho chị B một bộ trang sức bằng vàng được xách tay từ bên Ý

về, với điều kiện chị B phải đặt 2/3 giá tiền Ít ngày sau chị B đến nhận, thì A lại cho

B bộ trang sức bằng vàng sản xuất tại Việt Nam Trong trường hợp này chị B đã bị Alừa dối

Đe doạ trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên làm cho bên kia sợ hãi

mà phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh

dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích

Ví dụ: A doạ B nếu không bán cho mình chiếc xe máy, A sẽ nói cho vợ B biết

chuyện B có tình nhân bên ngoài Sợ mất danh dự và sợ vợ biết được, B đã đồng ýbán xe cho A

Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, de doạ thì bên lừa dối, đedoạ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia

• Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được

hành vi của mình ( Điều 130, BLDS 2005)

Một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có thể xác lập giao dịch dân sự theo

ý chí của mình Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp bản thân chủ thể xác lậpgiao dịch dân sự mặc dù có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng đã xác lập giaodịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

Ví dụ: A là ngựời có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng kí kết hợp đồng mua

bán xe máy của mình trong tình trạng say rượu bia thì có quyền yêu cầu toà án tuyên

bố giao dịch đó là vô hiệu

• Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

Theo qui định tại điều 130 của BLDS thì: “ Trong trường hợp pháp luật qui định

hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không

Ngày đăng: 03/04/2013, 09:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w