Chính vì vậyviệc nâng cao chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ là một yêu cầu cấpthiết của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, Để nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán tín dụn
Trang 1Lời nói đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng thương mại đã có những đóng gópkhông nhỏ vào quá trình hội nhập nên kinh tế nước ta với các nước trongkhu vực và trên thế giới Hoạt động ngân hàng thương mại của nước ta đãtrưởng thành về nhiều mặt, được bạn bè quốc tế biết đến và tín nhiệm Đónggóp không nhỏ tạo nên vị thế của ngành là nhờ vào các hoạt động thanh toánquốc tế, trong đó thanh toán tín dụng chứng từ là nhân tố chủ yếu nhờ tính
ưu việt của nó so với các phương thức thanh toán quốc tế khác Chính vì vậyviệc nâng cao chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ là một yêu cầu cấpthiết của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam,
Để nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ, các Ngânhàng Thương mại đã không ngừng cải tiến và đổi mới các hoạt động củamình ngày càng phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Tuy có vị trí quan trọngnhưng hoạt động thanh toán quốc tế chưa thực sự được các ngân hàng nước
ta quan tâm đúng mức và ở trình độ còn thấp hơn nhiều so với mức độ phậttriển mà đáng ra nó phải đạt tới Do vậy, với mong muốn đóng góp một phầnnhỏ bé vào việc tìm hiểu và đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng caochất lượng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, em đã chọn đề tài: “
Nâng cap chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam “ để nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
- Chuyên đề hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến hoạtđộng thanh toán TDCT và chất lượng thanh toán TDCT của ngânhàng thương mại
- Đánh giá thực trạng hoạt động và chất lượng thanh toán TDCT đỗi vớiNgân hàng thương mại Việt Nam
Trang 2- Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng thanh toán TDCT tại Sởgiao dịch NHNo & PTNT Việt Nam và NH Thương mại Cổ phân ÁChâu, tìm ra các nguyên nhân nhằm đưa ra các giải pháp để nâng caochất lượng hoạt động thanh toán TDCT tại các Ngân hàng Thươngmại Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thanh toán TDCT củaNHNo&PTNT Việt Nam và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
- Phạm vi nghiên cứu: Chuyên đề đi sâu vào đánh giá thực trạng hoạtđộng thanh toán TDCT cũng như những vấn đề nâng cao chất lượnghoạt động thanh toán TDCT tại NHNo&PTNT Việt Nam và Ngânhàng Thương mại Cổ phần Á Châu
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề chủ yếu sử dụng phương phápluận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Leenin,đồng thời kết hợp các phương pháp khoa học khác như: phương phápphân tích, đánh giá, thống kê, tổng hợp, so sánh đồng thời sử dụng cácbảng biểu thống kê các số liệu thu thập được để minh họa
5 Kết cấu chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:Chương 1: Những vấn đề lý luận về chất lượng thanh toán tín dụng chứng từcủa ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giaodịch NHNo&PTNT Việt Nam và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu.Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thanh toán TDCT đối với cácngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 3Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG THANHTOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế
1.1.1 Khái niệm
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay không một nước nào lại coi nhẹ vấn đề
mở cửa hội nhập kinh tế Các ngân hàng hiện đại càng nắm rõ vấn đề nàyhơn ai hết vì thế hàng loạt các dịch vụ đa năng nhằm tăng thu nhập khôngnhững từ các nghiệp vụ truyền thống đã được các ngân hàng phát triển mộtcách nhanh chóng nhất, ví dụ như các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, thanhtoán quốc tế, bảo lãnh… Trong đó TTQT là một nghiệp vụ vô cùng quantrọng đem lại nguồn lợi nhuận lớn và có tốc độ tăng trưởng cao, nó được coi
là nghiệp vụ ngoại bảng đặc trưng của ngân hàng thương mại ( NHTM )ngày nay
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
1.1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế
Đối với nền kinh tế:
Trên thế giới hiện nay không quốc gia nào còn tồn tại nền kinh tế tự cung
tự cấp, tất cả đều đã tham gia vào vòng xoáy toàn cầu hoá và không thểtránh khỏi các mối quan hệ thanh toán kể cả về mậu dịch và phi mậu dịch.Như vậy, TTQT như một chiếc cầu nối thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) hàng hoá và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút nguồn kiều hối vàcác quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế… giúp các quốc gia ngày càng xíchlại gần nhau hơn
Trang 4Để các hợp đồng ngoại thương đi đến bước cuối cùng thì không thể thiếukhâu quan trọng là thanh toán Nếu khâu này mà diễn ra suôn sẻ với tiến độnhanh, chính xác, an toàn, thực hiện đúng theo yêu cầu của các bên thì sẽcàng nhanh chóng giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hoá - tiền tệgiữa người mua - người bán một cách hiệu quả Không chỉ có vậy, hiệu quảcủa hoạt động thanh toán còn giúp tạo sự tin tưởng cao trong kinh doanh,nâng cao vị thế của nền kinh tế, không làm cho bất kỳ quốc gia nào phải engại khi nảy sinh các quan hệ kinh tế đối ngoại với nhau.
Đối với các ngân hàng thương mại:
Có thể khẳng định rằng sự thành công hay thất bại của hoạt động TTQT cóphần đóng góp to lớn của các ngân hàng Ngược lại, hoạt động TTQT cũngđang ngày càng khẳng định vị thế của mình trong các lĩnh vực dịch vụ ngânhàng cao cấp Nó đem lại nguồn lợi vô cùng lớn và gia tăng không ngừng,đặc biệt cho công tác đối ngoại của tất cả các nước trên thế giới
Ngoài việc đem lại doanh thu lớn, hoạt động TTQT còn giúp các ngân hànghọc hỏi kinh nghiệm trong nghiệp vụ, trao đổi các thành tựu khoa học kỹthuật và công nghệ với nhau Công tác quản lý, đào tạo đội ngũ nhân viêncũng sẽ được ngân hàng chú trọng hơn, đưa mục tiêu cung cấp những tiệních tốt nhất phục vụ khách hàng lên hàng đầu Hoạt động TTQT còn giúpnâng cap uy tín đối nội, đối ngoại của ngân hàng Cụ thể là, các ngân hàngkhông chỉ giới thiệu được các nghiệp vụ khác tới khách hàng trong nước màcòn với cả khách hàng quốc tế, đa dạng hoá các sản phẩm và mở rộng đốitượng khách hàng Vì những lợi ích không hề nhỏ như vậy nên không cóngân hàng nào lại từ chối phát triển mảng nghiệp vụ hiện đại này
Đối với các doanh nghiệp:
Thanh toán là khâu cuối cùng trong chuỗi hoạt động sản xuất – kinh doanhXNK, nó là mắt xích
Trang 51.2 Những vấn đề cơ bản về Thanh toán TDCT của Ngân hàng thương
mại
1.2.1 Khái niệm:
Tín dụng chứng từ được nêu điều 2, UCP 600, như sau:
“ TDCT là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thếnào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàngphát hành ( NHPH ) về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”
Từ định ngĩa của UCP nêu trên, chúng ta có thể diễn đạt theo một cách khácnhư sau:
Tín dụng chứng từ là một văn bản cam kết dùng trong thanh toán, trong đómột ngân hàng (NHPH) theo yêu cầu của một khách hàng ( người yêu cầu
mở thư tín dụng) sẽ trả tiền cho người thứ 3, hoặc trả cho bất kỳ người nàotheo lệnh của người thứ 3 đó ( người thụ hưởng ), hoặc sẽ trả, chấp nhận hốiphiếu do người thụ hưởng phát hành, hoặc ủy quyền ngân hàng khác trả tiền,chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu đó, khi xuất trình đầy đủ các chứng từ đãquy định và mọi điều khoản của thư tín dụng đã được thực hiện đầy đủ.1.1.2 Vai trò của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.2.1 Đối với nền kinh tế
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong những năm gần đây, thanhtoán TDCT ngày càng có vai trò quan trọng, nó như một chất xúc tác giúpcho bộ máy kinh tế đối ngoại và thương mại giữa các nước được diễn ra trôichảy
Thanh toán Tín dụng chứng từ trước hết là một hình thức tín dụng quantrọng gắn liền với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Nó giúp cho quátrình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành an toàn, thuậnlợi và giảm bớt chi ohí thay vì thanh toán bằng tiền mặt Bên cạnh đó, ngânhàng còn bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong giao dịch thanh toán thông
Trang 6qua các hoạt động tư vấn, bảo lãnh,… nhằm giảm thiểu rủi ro, tạo sự antoàn, tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch buôn bán với nướcngoài Hơn nữa, ngân hàng còn có thể tài trợ XNK, bảo lãnh thanh toán mởL/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu… đối với khách hàng thiếu vốn, từ đóthúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.
Mặt khác, xuất nhập khẩu là một khoản mục quan trọng trong cán cân TTQTcủa một quốc gia, thể hiện ở giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu, giá trị này chỉ
có thể thực hiện được thông qua hoạt động thanh toán TDCT Do đó, thanhtoán TDCT trực tiếp tác động đến cán cân thương mại của một quốc gia.Nếu thanh toán TDCT được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, an toàn chínhxác thì có thể hạn chế rủi ro có thể xảy ra, để lại thiện chí, an toàn chính xácthì có thể hạn chế rủi ro có thể xảy ra, để lại thiện chí, uy tín giữa các bên,góp phần mở rộng quan hệ buôn bán, từ đó góp phần ổn định tỷ giá, duy trìngoại hối và thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Ngoài ra, việc tham gia của ngân hàng trong hoạt động thanh toán TDCT sẽgiúp Nhà nước trong việc quản lý hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu củacác doanh nghiệp trong nước, đồng thời nắm bắt tình hình thị trường thếgiới, tự đánh giá khả năng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, từ
đó xây dựng chiến lược phát triển và thực thi chính sách đối ngoại phù hợpvới từng thời kỳ
1.2.2.2 Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Mục tiêu hàng đầu đối với các doanh nghiệp là lợi nhuận, tuy nhiên đối vớicác doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì việc đạt được mục tiêu này khó khănhơn vì hoạt động của họ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố bên ngoàinhư: tình hình thị trường thế giới, khả năng thanh toán của đối tác nướcngoài…Các doanh nghiệp này chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi các hợp
Trang 7đồng ngoại thương mà họ tham gia thực hiện trôi chảy Điều này được thựchiện với sự giúp đỡ của các ngân hàng thông qua nghiệp vụ TDCT.
Ngân hàng với bề dày kinh nghiệm, có khả năng tài chính để tài trợ cho cảngười bán và người mua, có mạng lưới và quan hệ đại ký rộng khắp, có côngnghệ kỹ thuật tiên tiến, nên có thể thực hiện hoạt động thanh toán TDCTnhanh chóng, an toàn và chính xác nhất
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, thanh toán TDCT qua ngân hàng sẽgiúp cho việc thanh toán được diễn ra nhanh chóng, tạo lòng tin cho đối tác,đảm bảo an toàn Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, thanh toán TDCT quangân hàng sẽ thu được tiền hàng nhanh chóng, kịp thời phục vụ cho các hoạtđộng tiếp sau
1.1.3 Ưu và nhược điểm của phương thức thanh toán TDCT đối với ngânhàng thương mại
So sánh với các phương thức khác, thanh toán bằng L/C có ưu điểm, nhượcđiểm sau:
Trang 8- Thu phí từ việc thông báo/thanh toán/xác nhận L/C và các khoản thunhập khác liên quan đến chuyển đổi tiền tệ.
- Thông qua việc cung cấp dịch vụ thông báo/thanh toán/chấp nhận giúpkhách hàng phát triển kinh doanh, thì các hoạt động khác của ngân hàngcũng phát triển theo Ví dụ, mở được các khoản tín dụng xuất khẩu, chiếtkhấu bộ chứng từ…
- Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng năng lựckinh doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau
1.1.3.2 Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm của phương thức thanh toán TDCT đối vớingân hàng thương mại thì còn có nhược điểm của nó Nhược điểm đó lànhững rủi ro mà nó đem lại cho ngân hàng Tùy thuộc vào vai trò củangân hàng trong quy trình thanh toán L/C mà nó gặp phải những rủi rokhác nhau
a Rủi ro đối với NHPH
NHPH phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định củaL/C ngay cả trong trường hợp nhà XK chủ tâm không hoàn trả hoặckhông có khả năng hoàn trả Với lý do này, rủi ro tín dụng đối với NHPH
là rất hiện hữu, do đó, trước khi chấp nhận phát hành L/C, ngân hàng cần
áp dụng một quy trình thẩm định chặt chẽ giống như việc cấp tón dụngcho KH
Trong số các nhân tố NHPH cần phải xem xét là liệu NH có thu lại đượcmột phần hay toàn bộ số tiền đã thanh toán từ việc bán hàng nếu nhà NK
bị phá sản Câu hỏi cần trả lời đó là:
Nhà nhập khẩu có chắc chắn là người sở hữu hàng hóa?
Hàng hóa đảm bảo chất lượng và có thể bán được?
Hàng hóa có dễ hỏng và giá cả có biến động?
Trang 9 Hàng hóa có bị hư hại trong quá trình vận chuyển? nếu bị hư hại thì
có bảo hiểm? ngân hàng có quyền đòi tiền bảo hiểm?
Có sự thông đồn lừa đảo giữa nhà xuất khẩu và nhập khẩu, hậu quả cóthể là hàng hóa sẽ không bao giờ được chuyển đi?
Có hạn chế nào liên quan đến loại hàng hóa nhập khẩu, ví dụ hạn chế
về giấy phép kinh doanh, đối tượng mua bán?
- Khi L/C không có xác nhận, NHPH hay được yêu cầu chấp nhậnthanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ.Trong trường hợp này, nếu không có sự chấp thuận trước của người
NK về việc hoàn trả, thì NHPH sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có saisót, nên nhà NK không chấp nhận, do đó NH sẽ không truy hoàn đượctiền từ nhà NK
- Nếu NHPH trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, màkhông có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng
từ có lỗi, nhà NK không chấp nhận thì không thể đòi tiền nhà NK
b Rủi ro đối với ngân hàng thông báo (NHTB)
NHTB chịu trách nhiệm phải có sự “quan tâm hợp lý” để đảm bảo rằngthư tín dụng là chân thật, bao gồm cả việc xác minh chữ ký, khóa mã,mẫu điện trước khi gửi thông báo cho nhà NK
c Rủi ro đối với ngân hàng được chỉ định (NHCĐ)
Trừ khi là ngân hàng xác nhận, các ngân hàng được chỉ định không cómột trách nhiệm nào phải thanh toán cho người XK trước khi nhận đượctiền từ NHPH Tuy nhiên, trong thực tế, trên cơ sở bộ chứng từ xuấttrình, các ngân hàng được chỉ định thường ứng trước cho nhà xuất khẩuvới điều kiện truy đòi( with recourse) để trợ giúp nhà xuất khẩu, do đóngân hàng này phải tự chịu rủi ro tín dụng đối với NHPH hoặc nhà XK
d Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận (NHXN)
Trang 10Nếu bộ chứng từ này là hoàn hảo, thì ngân hàng xác nhận phải trả tiềncho người XK bất luận là có truy hoàn được tiền từ NHPH hay không.Như vậy, NHXN chịu rủi ro tín dụng đối với NHPH, cũng như rủi rochính trị và rủi ro cơ chế( hạn chế ngoại hối) của nước NHPH.
Nếu NHXN trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, màkhông có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ cólỗi, NHPH không chấp nhận, thì không thể đòi tiền NHPH
1.1.4 Cơ sở pháp lý:
Bởi hoạt động thanh toán TDCT khá phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ronên cần có một quy tắc chung để đơn giản hóa hoạt động thanh toán này.Nếu quy tắc đó mà được các bên vận dụng thì sẽ giúp hạn chế rủi ro đếnmức thấp nhất khi tham gia vào quá trình thanh toán tín dụng chứng từ Đó
là lý do mà bản “ Quy tắc và thực hành thống nhất về TDCT” ( UniformCustorms and Practice For Documentary Credit – UCP) và tập quán ngânhàng tiêu chuẩn quốc tế” ( The International Standard Banking Pratice forthe exarmination of documents under documemtary credit – ISBP) đã đượcPhòng thương mại quốc tế (ICC) soạn thảo và ban hành rộng rãi
1.1.5 Quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán L/C
1.1.5.1 Các thành phần tham gia thanh toán TDCT
Trong quá trình thanh toán TDCT, thông thường có các thành phần tham gianhư sau:
a Người đề nghị phát hành thư tín dụng ( Applicant for Credit): ngườinhập khẩu
Trang 11b Ngân hàng phát hành (Issuing bank): ngân hàng phục vụ người nhậpkhẩu, ngân hàng mở thư tín dụng.
c Người thụ hưởng (Beneficiary): người xuất khẩu
d Ngân hàng thông báo có thể là ngân hàng đại lý hoặc là chi nhánh củangân hàng phát hành ở nước người xuất khẩu
Ngoài thành phần tham gia thanh toán nêu trên, trong thực tế tùy thuộcvào từng loại thư tín dụng có thể xuất hiện thêm một số thành phần khác:
e Ngân hàng xác nhận (Confirming bank): ngân hàng được chỉ địnhtrong thư tín dụng, thực hiện xác nhận(đảm bảo) TDCT theo yêu cầucủa NHPH
f Ngân hàng được chỉ định (Norminated Bank): ngân hàng này được chỉđịnh trong thư tín dụng.Tùy theo từng loại thư tín dụng mà ngân hàngnày có thể thực hiện một trong các nghiệp vụ sau đây:
+ Ngân hàng chỉ định thanh toán( Norminated Paying Bank)
+ Ngân hàng chỉ định chấp nhận ( Norminated Accepting Bank)
+ Ngân hàng chỉ định chiết khấu (Norminated Negotiating bank)
g Ngân hàng bồi hoàn ( Reimbursing Bank): là ngân hàng được ngânhàng phát hành ủy nhiệm thực hiện thanh toán hoặc chiết khấu Ngânhàng bồi hoàn tham gia trong trường hợp giữa ngân hàng phát hành vàngân hàng được chỉ định không có quan hệ tài khoản trực tiếp vớinhau
1.1.5.2 Quy trình gnhieejp vụ thanh toán TDCT
a Trường hợp L/C có giá trị thanh toán tại NHPH
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C (1)
(3)
Trang 12(3) Căn cứ vào đơn mở L/C, nếu chấp nhận thì NHPH lập L/C và thôngqua ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà xuất khẩu
để thông báo L/C cho nhà XK
(4) Khi nhận được L/C NHTB kiểm tra, nếu L/C là chân thật thì thôngbáo L/C cho nhà XK, nếu ngược lại thì gửi lại cho NHPH
(5) Nhà Xk kiểm tra L/C, nếu phù hợp với hợp đồng đã kí thì tiến hànhgiao hàng, nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đổi, bổ sung L/C chophù hợp với hợp đồng ngoại thương
(6) Và (6’) sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầucủa L/C và xuất trình cho NHPH để thanh toán
Trang 13(7) NHPH sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy xuất trình phù hợp thì tiếnhành thanh toán, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửilại nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà XK
(8) Nhà NK hoàn trả cho NHPH
(9) NHPH trao bộ chứng từ cho ngân hàng NK
b L/C có giá trị thanh toán tại NHđCĐ
Sơ đồ 1.2 Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C (2)
các bước từ (1-5) giống trường hợp L/C có giá trị tại NHPH
(6) Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/
C và xuất trình cho NHđCĐ để thanh toán
(7) NHđCĐ sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thìtiến hành thanh toán, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán vàgửi trả lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu
Trang 14(8) NHđCĐ gửi bộ chứng từ cho NHPH để được hoàn trả.
(9) NHPH kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hànhthanh toán cho NHdCĐ, nếu thấy không phù hợp, thì từ chối thanh toán
và gửi trả lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho NHđCĐ
(10) NHPH đòi tiền nhà NK và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng nhậpkhẩu sau khi đã nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán
(11) Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thìtrả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu, nếu thấy không phù hợp thì có quyền
từ chối trả tiền
1.2 CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦANGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm chất lượng thanh toán TDCT
Thanh toán TDCT là hoạt động mang lại doanh thu cực lớn cho các ngânhàng không những về giá trị tuyệt đối mà cả về tỷ trọng Vậy để chúng ta
có thể phát triển nghiệp vụ quan trọng này thì cần phải nắm bắt rõ nhữngvấn đề ảnh hưởng đến tính chất, chất lượng thanh toán.Chất lượng củanghiệp vụ thanh toán TDCT được hiểu là giá trị của việc thanh toán manglại hiệu quả kinh tế và lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng Mà chấtlượng của hoạt động dịch vụ được đo bằng những đặc tính làm thỏa mãntốt nhất các nhu cầu của khách hàng và chỉ được đánh giá sau khi đã tiêudùng nó Tức là không chỉ bằng các phép tính hay con số là thể hiện được
mà còn phải quan sát các yếu tố định tính, nên công tác đánh giá chấtlượng càng khó khăn hơn
Chất lượng thanh toán TDCT được thể hiện ở cả hai mặt là thanh toánhàng nhập và thanh toán hàng xuất Trong đó, chất lượng thanh toán hàngnhập khẩu được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như thời gian mở L/Chợp lý, chất lượng kiểm tra chứng từ…Thanh toán hàng xuất khẩu thì
Trang 15biểu hiện ở thời gian thanh toán chính xác, nhanh chóng, kịp thời và khảnăng tư vấn của ngân hàng đối với các nhà kinh doanh XNK với chi phíthấp nhất.
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng thanh toán TDCT củaNHTM
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và hiện đại hoá, các NHTM đềuphải tiến tới mô hình ngân hàng hiện đại – ngân hàng phát triển các sảnphẩm dịch vụ và thu nhập từ dịch vụ phải chiếm 50% tổng thu nhập củaNgân hàng ( con số này trên thực tế chỉ chiếm 30&, còn lại 70% là thu từtín dụng) Trong các sản phẩm dịch vụ NH thì kinh doanh ngoại hối vàThanh toán quốc tế chiếm một vị trí quan trọng
Việc nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán L/C thiết lập nên nhiềumối quan hệ NH đại lý với NH nước ngoài nhằm sử sụng tối ưu côngsuất của máy và người, làm giảm chi phí và tăng lợi nhuận, đồng thời bổsung và hỗ trợ các hoạt động khác của Ngân hàng, gián tiếp tạo ra lợinhuận từ những hoạt động này, từ đó góp phần tăng doanh thu TTQTcũng như mở rộng thị trường cho các NHTM
Nghiệp vụ thanh toán TDCT được mở rộng và nâng cao chất lượng cònđáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở nâng cao
uy tín và tên tuổi cho NHTM không chỉ trên thị trường trong nước màcòn trên cả thị trường quốc tế
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ1.2.2.1 Xác định chính xác tính chân thực bề ngoài của L/C:
Việc xác định tính chân thực bề ngoài của L/C là trách nhiệm của ngânhàng thông báo (NHTB) Nếu một L/C mà được thông báo tới người thụhưởng với cam kết của NHTB rằng đó là L/C chân thực thì ngân hàng đó
sẽ phải chịu mọi rủi ro phát sinh khi kết luận của họ là không chính xác
Trang 16Thời gian kiểm tra của NHTB càng ngắn thì càng tạo điều kiện cho nhàxuất khẩu có thể thực hiện hợp đồng ngoại thương nhanh chóng hơn.1.2.2.2 L/C được mở vào thời gian hợp lý và có nội dung phù hợp:
L/C sẽ được NHPH mở khi họ nhận thấy đơn yêu cầu mở L/C của nhànhập khẩu hội đủ các tiêu chuẩn: phù hợp với khả năng của ngân hàng,chính xác so với các hợp đồng ngoại thương, không vi phạm quy địnhcủa các điều luật và công ước quốc tế, quốc gia, đảm bảo lợi ích tươngđối cho các bên, trong đó có cả NHPH Thời gian mở L/C được NHPHrất chú ý vì phải không vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng ngoạithương nhưng cũng phải tính toán đến thời gian luân chuyển L/C tới taynhà xuất khẩu để họ quyết định xem L/C đã phù hợp chưa và chuẩn bịgiao hàng cho kịp Nhưng nếu mở quá sớm thì nhà nhập khẩu sẽ bị đọngvốn, không có lợi ích cho việc sản xuất kinh doanh
Về nội dung, NHPH phải đảm bảo rằng L/C dễ hiểu, chuyển tải đầy đủnhững nội dung cơ bản, quan trọng của hợp đồng ngoại thương Các điềukhoản phải chặt chẽ và phù hợp với các văn bản pháp quy điều chỉnh,không nên làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nhập khẩu và nhà xuấtkhẩu vì dễ dẫn đến bổ sung, sửa chữa, vừa tốn thời gian, chi phí lại làmgiảm uy tín của NHPH
1.2.2.3 Chất lượng dịch vụ tư vấn khách hàng:
Phương thức thanh toán L/C là phương thức đã mang lại nhiều lợi íchhơn cho cả người xuất khẩu và người nhập khẩu so với các phương thứcthanh toán khác, song cùng với đó là sự phức tạp trong quá trình tiếnhành thanh toán Đặc biệt đối với nhà xuất khẩu, việc họ được thanh toánsớm hay muộn phụ thuộc rất nhiều vào bộ chứng từ mà họ xuất trình cóhoàn hảo hay không Do trình độ nghiệp vụ về thanh toán quốc tế củathanh toán quốc tế của các doanh nghiệp phần lớn còn kém, vì vậy họ
Trang 17luôn nhờ tới sự tư vấn của ngân hàng trong việc lựa chọn khách hàng, lựachọn loại L/C, cách lập bộ chứng từ hoàn hảo…để đảm bảo trong quátrình thanh toán họ hạn chế được mức tối thiểu những sai sót, rủi ro cóthể xảy ra Nếu ngân hàng làm tốt được việc này thì cũng góp phần hạnchế rủi ro và đẩy nhanh quá trình kiểm tra chứng từ, một yếu tố cũng gópphần nâng cao chất lượng thanh toán cho ngân hàng.
1.2.2.4 Chất lượng kiểm tra chứng từ:
Quyền hạn và trách nhiệm của các ngân hàng tham gia thanh toán đãđược quy định rất rõ ràng trong các điều khoản của UCP Chất lượngkiểm tra bộ chứng từ của các ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn không chỉđến uy tín, khả năng cạnh tranh của các ngân hàng mà còn đến quyền lợicủa nhà xuất khẩu và nhập khẩu Nếu bộ chứng từ có sai sót mà các ngânhàng lại quyết định là phù hợp và thanh toán cho nhà xuất khẩu thì làmcho nhà nhập khẩu bị rủi ro vô cùng lớn Ngược lại, nếu ngân hàng từchối thanh toán và đưa ra những lý do không hợp lý thì có thể sẽ bị nhàxuất khẩu kiện ra toàn án quốc tế, vừa mất uy tín vừa làm ảnh hưởngnghiêm trọng tới quan hệ buôn bán giữa hai bên, và như thế không chỉmất khách hàng trong một lĩnh vực mà có thể ở cả nhiều sản phẩm kháccủa ngân hàng đó
Ngoài ra, chất lượng kiểm tra chứng từ của các ngân hàng còn thể hiện ởthời gian mà ngân hàng đó hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra sự phù hợp haytính chân thực của bộ chứng từ được xuất trình Vì nếu càng kiểm tranhanh và chính xác thì thời gian thanh toán sẽ càng được rút ngắn, tạođiều kiện thuận lợi cho mối quan hệ kinh doanh giữa các bên Do đó, đểtăng tính cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi các ngân hàng vừa phải kiểmtra cẩn thận vừa phải hoàn thành trong thời gian ngắn nhất có thể Nếungoài thời hạn kiểm tra chứng từ đã được quy định trong UCP thì dù có
Trang 18phát hiện ra sai sót của bộ chứng từ các ngân hàng cũng đã mất quyền từchối thanh toán.
1.2.2.5 Khả năng tài trợ của ngân hàng theo phương thức TDCT:
Như chúng ta biết không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng kýquỹ toàn bộ giá trị L/C khi xin NHPH mở một tín dụng thư, nhất là đốivới các doanh nghiệp vừa và nhỏ Do vậy, để thực hiện mục tiêu pháttriển ngành xuất nhập khẩu, trong khi phần lớn các doanh nghiệp nước tathuộc loại hình doanh nghiệp có quy mô vốn còn nhỏ hẹp, thì cần đến sựgiúp đỡ rất lớn từ phía các ngân hàng Nếu ngân hàng chấp nhận tài trợcho nhiều doanh nghiệp mà theo thẩm định của ngân hàng là đủ độ tincậy thì ngoài việc tạo điều kiện cho hoạt động của các doanh nghiệpthông suốt còn quảng bá được năng lực của ngân hàng mình trên thịtrường
1.2.2.6.Sự cân đối giữa L/C xuất khẩu và L/C nhập khẩu:
Sự cân đối giữa L/C xuất khẩu và L/C nhập khẩu thể hiện khả năng củangân hàng trong việc thực hiện đồng đều cả chức năng phục vụ nhà xuấtkhẩu và nhà nhập khẩu trong phương thức thanh toán TDCT Nếu sốlượng và giá trị có khả năng tài trợ cho nhà xuất khẩu tốt, các điều kiện
để được tài trợ cũng đơn giản, hoặc có đại lý rộng lớn, thích hợp cho việcthông báo L/C tới nhà xuất khẩu nhưng lại không đủ năng lực và uy tín
để khách hàng xin mở L/C Trường hợp ngược lại chứng tỏ ngân hàng rấtchặt chẽ trong việc kiểm tra sự phù hợp của chứng từ trước khi trả tiềncho nhà xuất khẩu, giúp đảm bảo an toàn trong thanh toán TDCT nhưnglại yêu cầu cao đối với các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu xin tài trợtrước Đó là các lý do xuất phát từ các yếu tố nội tại của ngân hàng chứchưa tính đến đặc thù của thị trường Với nước ta thì hiện tượng nhập
Trang 19siêu luôn chiếm tỷ trọng lơn hơn so với xuất siêu nên khả năng cân đối L/
C xuất khẩu và L/C nhập khẩu cũng cần xem xét một cách tương đối.Muốn có được sự cân đối trên thì trước hết ngân hàng cần có nguồn vốnngoại tệ đủ mạnh để trang trải cho các chi phí phát sinh trong các hoạtđộng thanh toán Nguồn vốn đó có phần không nhỏ là đóng góp củadoanh thu từ các hoạt động tài trợ nhập khẩu Sau khi đã thanh toán chonhà xuất khẩu ngân hàng sẽ quay lại yêu cầu người xin mở L/C hoàn trảlại khoản mà ngân hàng đã thay mặt thanh toán Hiệu quả của quá trìnhthanh toán không chỉ thể hiện giữa ngân hàng và người thụ hưởng mà còn
ở giai đoạn thu hồi vốn của ngân hàng từ nhà nhập khẩu Để tránh rủi roxảy ra cho mình thì ngay từ khi thẩm định đơn yêu cầu mở L/C củakhách hàng, ngân hàng phải đánh giá được đối tượng và có tin tưởng vàonhà NK thì ngân hàng mới chấp nhận phát hành L/C
1.2.2.7 Tỷ lệ rủi ro trong thanh toán thấp:
Tỷ lệ này càng thấp càng chứng tỏ chất lượng thanh toán của các ngânhàng càng cao Mỗi ngân hàng với khả năng riêng, hoàn cảnh và chứcnăng riêng sẽ gặp phải những rủi ro khác nhau
-NHPH: Do NHPH sẽ gặp rủi ro khi họ thẩm định sai khách hàng, dẫnđến sau khi đã làm xong trách nhiệm thanh toán cho người thụ hưởng thì
họ không thể thực hiện quyền đòi tiền của mình Hoặc nhà xuất khẩu cóchủ tâm lừa đảo ngân hàng, lập các chứng từ giả làm ngân hàng khôngphát hiện được và phải thanh toán Rủi ro cũng đến từ các nhà nhập khẩukhi họ không có khả năng tài chính để trả cho ngân hàng do các tìnhhuống bất khả kháng Cũng có khi do nhà nhập khẩu không có thiện chítrả tiền, việc kiện ra tòa để giải quyết có thể sẽ lấy lại được lợi ích màngân hàng đáng được hưởng nhưng sẽ mất thời gian và gây ảnh hưởnglớn đến các hoạt động của ngân hàng Mặt khác, NHPH có thể không thu
Trang 20hồi được tiền trong khi vẫn phải thanh toán cho bên xuất khẩu khi ngânhàng đó không làm đúng theo UCP hay các điều kiện, điều khoản mà L/C
-Ngân hàng xác nhận (NHXN): L/C cần phải xác nhận khi nó có giá trịlớn, nhà xuất khẩu chưa tin tưởng vào NHPH do đó là ngân hàng lạ, chưa
có uy tín cao, hoặc do hai bên mới kết giao buôn bán với nhau mà nhàxuất khẩu không hiểu rõ luật lệ, tập quán của nước nhập khẩu Rủi ro xảyđến xác nhận L/C mà không yêu cầu ký quỹ Đến khi NHPH thiếu thiệnchí hay mất khả năng thanh toán, thậm chí bị phá sản thì NHXN sẽ phảitrả tiền cho người thụ hưởng khi người này có một xuất trình phù hợp
- Ngân hàng chiết khấu: Có 2 hình thức chiết khấu là miễn truy đòi và cótruy đòi.Nếu ngân hàng sử dụng chiết khấu miễn truy đòi thì sẽ hứng chịurủi ro lớn khi NHPH từ chối thanh toán cho bộ chứng từ, khi đó họ sẽkhông thể yêu cầu người thụ hưởng hoàn trả số tiền đã chiết khấu.Ngânhàng chiết khấu cũng sẽ không đòi được tiền khi NHPH bị mất khả năngthanh toán hoặc thực hiện sai các chỉ thị trong L/C
1.2.2.8 Chất lượng hoạt động của các ngân hàng đại lý:
Nếu một ngân hàng mà có mạng lưới đại lý hoạt động hiệu quả và phân
bổ rộng khắp trên thế giới thì họ sẽ không bị giới hạn trong khu vực địa
lý nào Khi đó quy trình thanh toán sẽ diễn ra một cách nhanh chóng vàsuôn sẻ, ít gặp phải rủi ro vì đã có mối quan hệ với các ngân hàng đại lý
Trang 21từ trước, hiểu rõ về nhau và về luật pháp của nhau Hơn nữa, khi cácngân hàng đại lý hoạt động hiệu quả còn giúp xác minh tính chân thựccủa các bên trong hợp đồng ngoại thương, không phải thông qua các bêntrung gian vừa mất phí vừa tốn kém thời gian.
1.2.2.9.Thu phí dịch vụ hợp lý:
Phí dịch vụ cao hay thấp là phụ thuộc vào chất lượng thanh toán ở từngngân hàng, vào đặc điểm của khoản thanh toán( giá trị cao hay thấp,khoảng cách địa lý xa hay gần, ở nước đó có ngân hàng đại lý của mìnhhay không) và vào tình hình cạnh tranh trên thị trường
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán TDCT
1.2.4.1 Nhân tố khách quan:
a.Sự đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật:
Hệ thống pháp lý trong hoạt động TTQT nói chung và hoạt động thanhtoán TDCT nói riêng đầy đủ, rõ ràng cũng tạo điều kiện cho hoạt độngnày phát triển Vì hoạt động thanh toán TDCT chịu sự điều chỉnh của cácnguồn luật: luật quốc gia, các quyết định của ngân hàng, các thông lệ vàluật pháp quốc tế Nếu hệ thống pháp luật đồng bộ, có hiệu quả và thốngnhất sẽ tạo điều kiện thuận lợi, làm giảm rủi ro cho hoạt động TTQT củangân hàng, giúp tránh được những xung đột pháp lý trong quá trình giaolưu thương mại giữa các quốc gia
b.Môi trường kinh tế- chính trị xã hội:
Môi trường kinh tế- chính trị xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngcủa các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp XNK từ đó ảnh hưởngmạnh mẽ đến doanh số L/C.Khi nền kinh tế phát triển mjanh vè nềnchính trị ổn định thì kim ngạch XNK tăng và doanh số L/C tăng theo nếukhách hàng chọn phương thức tín dụng chứng từ để thanh toán, giá trịcủa mỗi món cũng tăng theo và ngược lại
Trang 22Ngoài ra, sự ổn định về cơ chế chính sách cũng có tác động tương tự.Cơchế chính sách càng ổn định tạo điều kiện cho hoạt động XNK càng dễdàng, từ đó hoạt động thanh toán TDCT càng mạnh hơn Mọi sự biếnđộng về cơ chế chính sách trong lĩnh vực liên quan đến XNK ( thuế quan,hạn ngạch…), quy định hoạt động của ngân hàng…đều ảnh hưởng đếnthanh toán TDCT.
c Môi trường tài chính quốc tế: Một nền kinh tế khi đã mở cửa với thếgiới thì luôn phải đứng trước những thách thức về những biến độngcủa thị trường quốc tế Thị trường tài chính các nước có liên hệ chặtchẽ với nhau, nên các ngân hàng, doanh nghiệp ở các nước khác nhaunhưng phải đối mặt với một vấn đề giống nhau Khi thị trường tàichính của một nước có vấn đề, sớm muộn gì cũng tác động đến thịtrường tài chính của nước khác, đặc biệt là nước có nền kinh tế lớn thìtác động này càng nhanh và càng mạnh tới phần còn lại của thế giới.Các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chứng minh cho điềunày Trước các cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế, nền kinh tế củatất cả các nước trên thế giới đều bị ảnh hưởng, nhất là lĩnh vực XNK,
từ đó ảnh hưởng đến hoạt động TDCT Các doanh nghiệp XNK bị ảnhhưởng dẫn đến việc ngân hàng có thể không thu được tiền đã bỏ ra từ
đó ảnh huưởng đến chất lượng thanh toán TDCT
d Sự ổn định của tỷ giá: Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thịthông qua một đồng tiền khác Lựa chọn đồng tiền nào là đồng tiềnthanh toán trong thanh toán TDCT là điều rất quan trọng Đồng tiền
đó có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc cả hai bên Vì làngoại tệ nên tỷ giá của đồng tiền thanh toán có thể biến động và gâythiệt hại cho nhà Xk
Trang 23e Yếu tố khách hàng: Trình độ của khách hàng về nghiệp vụ ngoạithương phần nào sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán TDCT Nếutrình độ nghiệp vụ ngoại thương của khách hàng còn hạn chế, dẫn đếnsai sót trong quá trình thực hiện có thể kéo dài thời gian và ảnh hưởngđến chất lượng thanh toán L/C.
1.2.4.2 Nhân tố chủ quan:
a Công nghệ: Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện naythì công nghệ thông tin đã trở thành một yếu tố quan trọng trong bất kỳmột hoạt động nào có sự ứng dụng của nó.Một ngân hàng với công nghệthanh toán hiện đại sẽ giúp cho việc thanh toán của ngân hàng được thựchiện một cách trôi chảy và nhanh chóng Đảm bảo an toàn và tiết kiệmchi phí góp phần quảng bá hình ảnh và sản phẩm NH tới khách hàng.b.Nguồn nhân lực: Con người là yếu tố quyết định đối với bất kỳ mộtdoanh nghiệp kinh doanh nào Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khảnăng ngoại ngữ, tin học của các nhân viên tham gia trực tiếp vào hoạtđộng thanh toán TDCT nói riêng và hoạt động NH nói chung là yếu tốkhông chỉ giúp cho việc xử lý các nghiệp vụ dễ dàng, nhanh chóng mà nócòn tạo ra ấn tượng tốt đẹp cho khách hàng về ngân hàng, giúp ngân hàng
có thể thu hút khách hàng
c Chính sách của ngân hàng:
Đối với ngân hàng, chính sách đối ngoại đề cập đến việc mở rộng cácquan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ đại lý với ngân hàng nước ngoài, pháttriển các hoạt động TTQT, đưa ra các quy trình nghiệp vụ TTQT.Do đó,một chính sách đối ngoại đúng đắn, phù hợp với tình hình thị trường sẽgiúp ngân hàng phát huy hết các tiềm lực của mình để không chỉ chiếmlĩnh thị trường trong nước mà con vươn tầm ảnh hưởng ra ngoài thế giới
Trang 24Luôn cần phải có chính sách khách hàng phù hợp, các chiến lượcMarketing cần phân đoạn thị trường để tìm hiểu rõ thị hiếu của nhiềunhóm khách hàng mà ngân hàng sẽ phục vụ.
Ngoài thanh toán TDCT, ngân hàng còn có các sản phẩm khác như tài trợthương mại, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh…Khi khả năng tài chính củakhách hàng không đảm bảo để có thể mở một L/C thì tùy từng trườnghợp ngân hàng có thể cấp tín dụng hay đứng ra bảo lãnh cho nhà nhậpkhẩu để quy trình thanh toán được hoàn tất Ngược lại, khách hàng xuấtkhẩu muốn ngân hàng tài trợ thông qua việc chiết khấu bộ chứng từ hoặccho vay ứng trước, nếu một trong các khâu này không thực hiện đượcsuôn sẻ thì cả quá trình thanh toán sẽ bị đình trệ
e Chất lượng hoạt động của hệ thống ngân hàng đại lý: Hệ thống ngânhàng đại lý là cầu nối giữa ngân hàng với các đối tác nước ngoài Cácngân hàng đại lý sẽ thay mặt mình để giao dịch với khách hàng nênchất lượng phục vụ của các ngân hàng đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
uy tín của ngân hàng mình trên trường quốc tế Ngoài ra, hệ thốngngân hàng đại lý còn giúp các ngân hàng hiểu rõ thực chất tình hìnhkinh doanh cũng như tính chân thực của các khách hàng nước ngoài,
từ đó hạn chế được rất nhiều rủi ro trong quá trình thanh toán
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍNDỤNG CHỨNG TỪ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆTNAM: SỞ GIAO DỊCH NHNo&PTNT VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH THĂNG LONG2.1 Thực trạng chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàngthương mại cổ phấn Á Châu chi nhánh Thăng Long:
2.1.1 Thực trạng chất lượng thanh toán TDCT tại NH TMCP Á ChâuChi nhánh Thăng Long
Trang 252.1.1.1 Doanh số thanh toán L/C
(Nguồn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Qua bảng 2.1 ta thấy, doanh số thanh toán L/C luôn luôn biến động quacác năm Cụ thể : từ năm 2006 sang năm 2008 doanh số L/C tăng mạnh,nem 2007 đạt 3,636 nghìn USD tăng 44,86% so với năm 2006, năm 2008tăng đột biến đạt 21,727 nghìn USD, tăng 498% so với năm 2007; saukhi tăng nó lại giảm mạnh ngau sau đó, năm 2009 giảm 17% so với năm
2008, chỉ đạt 18,032 nghìn USD; năm 2010 doanh số này lại tăng lên30,112 nghìn USD, tăng 67% so với năm 2009 Tình trạng biến động thấtthường của doanh số L/C là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính thế giới, nền kinh tế gặp khó khăn, điều này ảnh hưởng đến hoạtđộng XNK của nước ta, tù đó cũng ảnh hưởng đến hoạt động thanh toánL/C của ngân hàng Mặc dù doanh số có giảm nhưng ngay sau đó lại tănglên được chứng tỏ khả năng phục hồi của ACB Thăng Long là khá tốt Sựphục hồi nhanh chóng cho thấy chất lượng thanh toán L/C của ngân hàngđược đánh giá cao
Không chỉ tăng giảm bất thưởng mà doanh số thanh toán L/C cònchiếm tỷ lệ khiêm tốn trong tổng doanh số TTQT các năm quá Cụ thể, tỷ
Trang 26trọng qua các năm lần lượt là 24,47%; 20,71%; 39,75%; 21,89% và42,65%.
Cũng qua bảng 2.1 ta thấy, trong tổng doanh số L/C thì doanh số L/Cnhập là chủ yếu, chiếm tỷ trọng lần lượt qua các năm là 99,2%; 99,28%;99,17%; 93,11%; 82,30% Và điều đó cũng nói lên là doanh số L/C xuất
là rất thấp Nguyên nhân sự chênh lệch giữa L/C xuất và L/C nhập hiệntại có thể lý giải bởi đặc điểm cán cân thanh toán của nước ta là nhậpsiêu, tỷ trọng và giá trị hàng hóa nhập khẩu lớn hơn rất nhiều so với hànghóa xuất khẩu Hơn nữa, độ tin cậy của các doanh nghiệp nước ta đối vớicác doanh nghiệp nước ngoài là chưa cao
Biểu đồ 2.1: Doanh số L/C, L/C xuất, L/C nhập
Trang 27Số liệu trên biểu đồ 2.1 được làm tròn từ số liệu của bảng 2.1
Qua biểu đồ 2.1, xét về mặt trực quan có thể thấy rõ được sự chênh lệchgiữa L/C nhập và L/C xuất Doanh số L/C nhập tăng trưởng không đều,cùng quy luật với tổng doanh số L/C Doanh số L/C xuất có xu hươngtăng lên nhiều nhưng so với tổng doanh số L/C thì không đáng kể
Lý do làm doanh số nhập khẩu theo phương thức TDCT của Ngân hàngnăm 2009 giảm so với năm 2008 trong khi số lượng phát hành vẫn tăng là
do kim ngạch nhập khẩu giảm và phần lớn các L/C mở tại ACB ThăngLong có giá trị không cao Năm 2009, giá thế giới giảm mạnh, nhiều mặthàng sản xuất trong nước đã dần thay thế được hàng nhập khẩu, tiêu thụtrong nước chậm nên kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của các nước giảmkhoảng 5% so với năm 2008, xuống còn 76 tỉ USD ( tương đương mứcbình quân 6,33 tỉ USD mỗi tháng) Sang năm 2010, kim ngaich NK đạthơn 82,8 tỷ USD, tăng 18,4% so với năm 2009 kéo theo doanh số thanhtoán L/C NK tại ACB Thăng Long cũng tăng theo
Hoạt động thanh toán TDCT của ACB Thăng Long chủ yếu là thanhtoán L/C hàng nhập Mà trong thanh toán TDCT, rủi ro lại thường xảy rađối với L/C hàng nhập, đặc biệt là L/C trả chậm Vì thế, đối với L/C trảchậm, Ngân hàng thường yêu cầu khách hàng xuất trình thêm các chứng
từ sau:
- Lịch chuyển tiền thanh toán tín dụng thư trả chậm
- Văn bản xác nhận đăng ký vay, trả nợ nước ngoài của Ngân hàng NhàNước( trong trường hợp thời hạn thanh toán của hợp đồng >1 năm)
Từ khi hoạt động TTQT có tại NHTMCP Á Châu – Thăng Long, NH đãkhông ngừng nâng cao kỹ thuật thanh toán cũng như trang thiết bị và trình
độ của thanh toán viên nên đã tạo lập được uy tín nhất định đối với các nhà
Trang 28XNK, đưa phương thức TDCT được áp dụng trong thanh toán NK chiếmphần lớn trong tổng giá trị hàng hóa XNK, cụ thể là chiếm 82,3%.
2.1.1.2 Rủi ro trong thanh toán L/C
Chất lượng thanh toán TDCT của một ngân hàng có được đánh giá tốt haykhông còn phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó yếu tố rủi ro trong thanh toán L/
C là một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua Ta phải đánh giá được các tỷ
lệ như tỷ lệ L/C phát hành trễ, L/C bị sửa đổi do ngân hàng, L/C thông báokhông đúng hạn L/C thanh toán trễ và tỷ lệ L/C trả chậm có cao không, cónăm trong giới hạn cho phép hay không, đặc biệt là hệ số nợ quá hạn
Đặt:
- Tỷ lệ L/C phát hành trễ do lỗi của ngân hàng = T1
- Tỷ lệ L/C bị sửa lỗi do lỗi của ngân hàng = T2
- Tỷ lệ L/C thông báo không đúng hạn = T3
Trang 29Năm 2007 2008 2009 2010
4 Số tiền thanh toán trễ (d) 0 0 0 0
5 Nợ cho vay quá hạn (e) 1 0,5 0,2 1
( Nguồn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Qua bảng 2.2 ta có thể tính toán ngay được các T1,T2, T3 và T4 đều bằng 0,còn T5, T6 thay đổi qua các năm và theo xu hướng giảm dần, cụ thể: năm
2007, T5= 0,06, T6= 0,35; năm 2008, T5 = 0,05, T6= 0.36; năm 2009, T5=0.03, T6= 0,27; năm 2010, T5 = 0,07, T6= 0,09
Trang 30T1,T2, T3, T4 đều bằng 0 cho thấy chất lượng thanh toán L/C của ACB rấttốt Sở dĩ, sai sót ở ACB trong việc phát hành L/C, thông báo L/C, sửa đổiL/C và thanh toán L/C được hạn chế đến mức tối đa như vậy là do 100%nhân viên ACB được đào tạo nghiệp vụ trước khi đảm nhận công việc chínhthức Ngoài ra, mỗi vị trí quản lý phải đảm bảo có một nhân sự kế thừa và kếhoạch bồi dưỡng, đào tạo cụ thể Do đó mà việc thanh toán L/C luôn diễn ramột cách suôn sẻ và làm hài lòng khách hàng Bên cạnh chuyên môn nghiệp
vụ tốt, tinh thần trách nhiệm cao, nhân viên ACB còn luôn thân thiện vớikhách hàng, đặc biệt là tạo mọi điều kiện thuận lới cho việc kinh doanh, sảnxuất của khách hàng
Vấn đề gì cũng tồn tại hai mặt của nó, vì muốn tạo điều kiện thuận lới choviệc kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là các doanh gnhieejp nhập khẩu
mà ngân hàng vẫn tồn tại dư nợ L/C quá hạn Nhưng du nợ L/C quá hạn tồntại cũng có thể do chất lượng thẩm định hồ sơ khách hàng của ngân hàngvẫn còn chưa đảm bảo Tuy nhiên, các T5 đều rất nhỏ và nhỏ hơn 0,1
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, không phải lúc nào cũng có sẵn tiềnmặt, vì đắc điểm sản xuất kinh doanh nên tiền luôn vận động để sinh lời, vìthế họ rất cần sự hỗ trợ từ phía ngân hàng Cũng vì thế mà ACB vẫn tồn tạicác T6 qua các năm, nhưng các T6 đều nhỏ hơn 1 Điều này lại cho thấy sựthận trọng của ACB trong việc chấp nhận các L/C trả chậm Cũng là điều dễhiểu vì loại L/C này có nguy cơ rủi ro rất lớn, có thể khách hàng mất khảnăng thanh toán khoặc cố tình không thanh toán, và nó sẽ ảnh hưởng đếntình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Để nâng cao chất lượngthanh toán L/C thì các ngân hàng cần thật thận trọng trong việc chấp nhận L/
C trả chậm nhưng vẫn phải đảm bảo là tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàngcủa mình
2.1.1.3 Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận
Trang 31Đánh giá bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ta không chỉ dừng lại ởdoanh thu mà còn phải đánh giá đến lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng lợi
nhuận Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí, từ đó phản ánh chi phí cho hoạt
động đó có tiết kiệm và hợp lý hay không
Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thanh toán L/C
( Nguồn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Nhìn vào bảng 2.3 ta thấy doanh số từ hoạt động thanh toán L/C tăng mạnh
từ năm 2007 đến năm 2009 và giảm mạnh năm 2010 Xét về mặt tương đốivới thu nhập phí từ thanh toán L/C thì chi phí cho hoạt động đó là thay đổikhông nhiều Điều đó làm lợi nhuận biến động cùng chiều với biến động củathu nhập phí ( Các khoản thu nhập phí xem theo phụ lục 1) Cụ thể : năm
2007, lợi nhuận là 0.183 tỷ đồng ; năm 2008 lợi nhuận là 0,646 tỷ đồng, tăng253% so với năm 2007; năm 2009 tăng mạnh lên tới 12,05 tỷ đồng, tăng1765% so với năm 2008 Sang năm 2010 lợi nhuận vẫn dương nhưng tốc độtăng trưởng giảm mạnh 67,8% so với năm 2009 Điều này khiến ACB ThăngLong cần xem xét lại chất lượng thanh toán L/C của mình, xem đã đem lạithực sự tốt hay chưa? Mặc dù số lượng khách hàng đến giao dịch L/C vẫntăng đều qua các năm, lẽ ra ngân hàng phải có thu nhập phí tăng, theo đó màlợi nhuận cũng sẽ tăng Nhưng nguyên nhân chính khiến lợi nhuận năm
2010 giảm đi do giá trị L/C của mỗi món giao dịch thấp và giảm so với
Trang 32những năm trước, giá trị giảm thì thu nhập phí cũng giảm vì thu nhập phí tỷ
lệ thuận với giá trị L/C giao dịch, giá trị càng cao thì thu nhập càng nhiều.Trong khi đó, chi phí của ngân hàng cho một lần giao dịch L/C dù là giá trịcao hay thấp cũng như nhau Điều đó khiến lợi nhuận năm 2010 của ACBThăng Long giảm mạnh Vì vậy, ACB Thăng Long cần nâng cao chất lượngthanh toán hơn nữa để lôi kéo được nhiều khách hàng VIP hơn nữa về phíamình, đó là đối tượng sẽ đem lại LN lớn hơn cho ngân hàng
Dưới đây là biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng của LN thanh toán L/C ởACB Thăng Long
Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận thanh toán L/C
Trang 33Bảng 2.4: Thời gian xử lý L/C ở ACB Thăng Long
Đơn vị: ngày
Duyệt hồ sơ xin mở L/C 3
Phát hành sửa đổi L/C Trong ngày
Thông báo L/C & sửa đổi L/C Trong ngày
Kiểm tra chứng từ 3
Gủi chứng từ đòi tiền Trong ngày
( Nguồn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Nhìn vào bảng 2.4 ta thấy thời gian xử lý L/C của ACB Thăng Long làtương đối nhanh, các nghiệp vụ như phát hành sửa đổi L/C, thông báo L/C,sửa đổi L/C và gửi chứng từ đòi tiền đều được thực hiện ngay trong ngày.Các nghiệp vụ khách tối đa chỉ 3 ngày Có thể nói thời gian xử lý L/C củangân hàng đã mang tính cạnh tranh Đay cũng được coi là lợi thế về côngnghệ và tính chuyên nghiệp của ngân hàng Chỉ cần chỉ tiêu này đôi khi cũng
là yếu tố để lôi kéo khách hàng cho ngân hàng.Tuy nhiên, tốc độ xử lýnhanh thì chưa chắc chất lượng thanh toán L/C đã tốt, nên không chỉ dựavào chỉ tiêu này để kết luận chất lượng thanh toán L/C của ngân hàng tốtđược mà phải kết hợp các yếu tố khác nữa
2.1.1.5 Khách hàng
Trang 34Như đã phân tích ở trên, thanh toán tín dụng chứng từ là một dịch vụ củangân hàng và muốn đánh giá chất lượng dịch vụ một cách khách quan phảikết hợp cả hai phía là người cung cấp dịch vụ và khách hàng Vì thế việcđánh giá khách hàng được coi là yếu tố hết sức cần thiết trong việc đánh giáchất lượng thanh toán L/C của ngân hàng Khách hàng giao dịch L/C đến vớingân hàng nhiều hay ít phần nào thể hiện được niềm tin của khách hàng đốivới chất lượng thanh toán L/C của ngân hàng.
Dưới đây là bảng thể hiện số lượng KH giao dịch L/C ở ACB Thăng Long
( Nguốn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Nhìn vào bảng 2.5 ta thấy số lượng khách hàng đến giao dịch L/C ở ACBThăng Long tăng dần qua các năm Số lượng qua các năm lần lượt là 15,19,
25, 37 khách hàng Đây là tín hiệu tốt đối với ACB Thăng Long, vì theo xuhướng này khách hàng đến với chi nhanh để giao dịch L/C còn tăng hơnnữa Tuy nhiên, để duy trì tốc độ tăng đó, chi nhánh phải không ngừng nângcao chất lượng thanh toán L/C chứ không dừng lại ở đó
Trong tổng số lượng khách hàng giao dịch L/C, nếu phân theo mức độ giadịch có khách hàng giao dịch trên 2 lần và khách hàng giao dịch lần đầu, nếu
Trang 35phân theo giá trị giao dịch có khách hàng VIP và khách hàng thường, và sốlượng khách hàng theo từng đối tượng đều tăng dần qua các năm Trong sốkhách hàng giao dịch trên 2 lần, khách hàng truyền thống và khách hàng VIP
là đối tượng khách hàng mà ngân hàng cần duy trì và quan tâm đặc biệt.Thông qua số liệu cho thấy chất lượng thanh toán L/C của ACB Thăng Long
đã giữ chân được khách hàng vì số lượng khách hàng truyền thống và sốlượng khách hàng VIP ổn định qua các năm, và lần lượt là 7, 3 khách hàng.Tuy nhiên, điều đó chưa phải hoàn toàn tốt, cái mà các ngân hàng mongmuốn là số lượng đó phải tăng dần qua các năm Số lượng khách hàngtruyền thống tăng cho thấy niềm tin của khách hàng vào chất lượng dịch vụcủa ngân hàng và khách hàng VIP là những khách hàng gia dịch với giá trịL/C cao, hứa hẹn mang lại cho ngân hàng mức lợi nhuận cao
Đồ thị 2.1: Số lượng KH giao dịch L/C của ACB, VCB, Techcombank
( Nguồn: Phòng TTQT của ACB , VCB, Techcombank)