Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, Sở giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam luôn đặt ra mục tiêu phục vụ mọi nhu cầu của các doanh nghiệp trong đó có doanh ngh
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 3: Sở giao dịch ngân hàng ngoại thương: Doanh nghiệp nhà nước
Trang 4
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây với chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế
và những chính sách ưu đãi từ phía Chính phủ, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, dần khẳng định vị trí quan trọng mình, là thành phần đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn chưa đạt tương xứng với tiềm năng thực sự của bộ phận doanh nghiệp này Vấn đề lớn nhất cần được giải quyết cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ là quy mô vốn, năng lực tài chính nhỏ bé, kém hiệu quả và thiếu tính bền vững Và để giải quyết bài toán “khát vốn” cho khu vực này thì tiếp cận tín dụng ngân hàng là một phương thức hiệu quả
Nắm bắt nhạy bén tình hình, các ngân hàng thương mại không ngừng mở rộng cho vay, cung cấp các dịch vụ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng Vì vậy, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng và lợi nhuận kỳ vọng cho vay ngày càng tăng
Tuy nhiên, việc chạy đua tăng trưởng tín dụng càng cao càng đẩy các ngân hàng vào tình thế phải đối mặt với rủi ro tín dụng cao, hơn nữa nếu tăng trưởng tín dụng quá nóng sẽ gây ra mất ổn định kinh tế vĩ mô, gây ra lạm phát cao Điều này buộc các ngân hàng phải điều chỉnh tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với tăng trưởng vốn huy động thực tế, mục tiêu tín dụng đề ra và khả năng kiểm soát chất lượng tín dụng, đảm bảo vốn khả dụng cho các nhu cầu thanh toán, an toàn hoạt động kinh doanh
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, Sở giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam luôn đặt ra mục tiêu phục vụ mọi nhu cầu của các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ với chất lượng tín dụng ngày
càng tốt hơn Chính vì vậy theo em đề tài “ Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch Ngân hàng thương mại
cổ phần Ngoại thương Việt Nam” rất cần được nghiên cứu nhằm đưa ra những giải
pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn, góp phần giải quyết những hạn chế và nâng
Trang 5cao hơn nữa chất lượng tín dụng tại Sở giao dịch Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài bao gồm 3 chương:
Chương I: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Sở giao dịch Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Sở giao dịch Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Đây là một đề tài cần những lý luận mang tính chuyên ngành cao và thực tiễn sâu rộng nên với kiến thức chuyên ngành và thực tế hạn hẹp của mình thì không khỏi có những sai sót, em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo, ban giám đốc ngân hàng và bất kỳ ai quan tâm đến để đề tài hoàn thiện hơn
Qua đây, cho em gửi lời cám ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Bất đã
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp em có cách nhìn và giải quyết vấn đề hợp lý, cho
em có những lý luận sắc bén để làm tốt bài chuyên đề tốt nghiệp này
Cuối cùng, em xin gửi lời cám ơn đến ban Giám đốc, các anh chị phòng Nhân sự, các anh chị phòng Tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam đã cho em cơ hội thực tập, tiếp cận, vận dụng những kiến thức chuyên ngành và giúp bài chuyên đề tốt nghiệp của em thực sự sát với tình hình thực tế tạo tính thuyết phục cao cho đề tài
Trang 6CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong những năm qua, vấn đề tiêu chí doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này Muốn định nghĩa được doanh nghiệp vừa, nhỏ, siêu nhỏ rõ ràng phải dựa vào độ lớn hay quy
mô của doanh nghiệp Việc phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng quy định các giới hạn tiêu thức phân loại quy mô doanh nghiệp Với mỗi quốc gia khác nhau thì có những định nghĩa về khu vực này khác nhau dựa trên việc lựa chọn các tiêu thức đánh giá quy mô và lượng hóa các tiêu thức ấy thông qua những tiêu chuẩn cụ thể
Tiêu thức về số lao động và vốn phản ánh quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào, còn tiêu thức về doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng lại đánh giá quy mô theo kết quả đầu ra Mỗi tiêu thức có những ưu và nhược điểm riêng, do vậy để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể dùng các yếu tố đầu vào hoặc đầu ra của doanh nghiệp, hoặc có thể kết hợp cả hai loại yếu tố với nhau
Nếu căn cứ và quy mô doanh nghiệp thì DNVVN được chia làm 3 loại là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của nhóm Ngân hàng Thế giới quy định doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 10 lao động, doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ 10 đến 50 người
và doanh nghiệp vừa có số lao động từ 50 đến 300 người
Trang 7Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNVVN của Ngân hàng Thế giới
Loại hình doanh nghiệp Số lao động
(người)
Doanh thu hàng năm (tr.USD)
Tổng tài sản (tr.USD)
Doanh nghiệp siêu nhỏ 1 → 9 <0,1 <0,1
Ở Việt Nam, các tiêu chí được đưa ra để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ dần dần phù hợp với từng giai đoạn phát triển và đặc điểm ngành kinh tế nước ta Công văn số 681/CP – KTN ban hành ngày 20/06/1989 theo đó doanh nghiệp vừa
và nhỏ là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và vốn kinh doanh dưới 5
tỷ đồng (tương đương 378.000 USD – theo tỷ giá giữa VNĐ và USD tại thời điểm ban hành công văn) Tiêu chí này đặt ra có ưu điểm là hướng tới xây dựng một bức tranh chung về các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, tuy nhiên lại có nhược điểm là không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ, siêu nhỏ Chính vì vậy, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP được đưa ra chính thức định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10
tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”
Đến năm 2009, để phù hợp với sự phát triển lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiêu chí này đã được sửa đổi trong Nghị định mới là NĐ 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cụ thể là: “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy định tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương với tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn
Trang 8là tiêu chí ưu tiên)”
Một trong những điểm mới lớn nhất của Nghị định 56 là lần đầu tiên đưa ra một định nghĩa tương đối cụ thể về doanh nghiệp vừa và nhỏ phân loại theo 3 loại hình: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm Trong đó, điểm quan trọng nhất tại điều 3 của Nghị định 56: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật”, điều này có nghĩa là doanh nghiệp vừa và nhỏ đến nay không chỉ có doanh nghiệp mà còn bao gồm cả loại hình hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể
Bảng 1.2: Tiêu chí DNVVN theo nghị định 56/2009/NĐ-CP
Khu vực DN siêu
nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
Nông, lâm
nghiệp và
thuỷ sản
<10 người
<20 tỷ đồng
Từ trên 10 người đến
300 ngườiCông nghiệp
và xây dựng
<10 người
<20 tỷ đồng
Từ trên 10 người đến
300 ngườiThương mại
và dịch vụ
<10 người
<10 tỷ đồng
Từ trên 10 người đến
100 người
(Nguồn NĐ 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa)
Tuy nhiên, theo Nghị định 56, việc phân loại DNVVN dựa vào tiêu chí “quy
mô tổng nguồn vốn” sẽ gây khó khăn trong việc xác định loại hình doanh nghiệp Như đã biết thì tổng nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng, phải trả người bán… Mặc dù vốn chủ sở hữu tương đối ổn định nhưng vốn vay ngân hàng và phải trả người bán thì biến động thường xuyên Do đó tổng nguồn vốn của doanh nghiệp cũng biến động thường xuyên Vậy sẽ xảy ra trường hợp là tại thời điểm này một doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp nhỏ thì
Trang 9đến thời điểm khác lại là doanh nghiệp vừa và ngược lại
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.2.1 Ưu điểm
Sự phát triển lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm trở lại đây chứng minh những ưu điểm, lợi thế của loại hình doanh nghiệp này với nền kinh tế, cụ thể:
- Là loại hình doanh nghiệp rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường, dễ dàng thay đổi mặt hàng kinh doanh, đổi mới công nghệ theo xu hướng phát triển của nền kinh tế Do có quy mô nhỏ nên
có khả năng len lỏi vào các thị trường mới dễ dàng không gây sự chú ý hay cạnh tranh từ các doanh nghiệp lớn, sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, đáp ứng nhu cầu có tính nhỏ lẻ, địa phương mà các doanh nghiệp lớn không làm được Sẵn sàng đầu tư vào những lĩnh vực mới, lĩnh vực mạo hiểm
- Là loại hình có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định làm tiết kiệm chi phí quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quan hệ giữa người lao động và người quản lý không hoặc rất ít xảy ra xung đột
- Sử dụng lao động với trình độ kỹ thuật trung bình thấp, dễ thu hút lao động, tận dụng lao động dồi dào trong nền kinh tế tiết kiệm chi phí kinh doanh
- Vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ thường ít nhưng hiệu quả kinh tế lại cao, thu hồi vốn nhanh hấp dẫn nhiều cá nhân tổ chức ở mọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu vực này
- Có khả năng khai thác và nắm bắt điều kiện cụ thể của đất nước về mặt tài nguyên, lao động sẵn có nên chịu ít tác động của những cú sốc, khủng hoảng kinh tế đồng thời nếu xảy ra sự trì trệ, thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì cũng không ảnh hưởng lớn hoặc rất ít gây ra khủng hoảng kinh tế - xã hội
1.1.2.2 Nhược điểm
Trong thời gian qua, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đang dần khẳng định những ưu điểm của mình song lại càng lộ ra những mặt hạn chế cần nhìn nhận một
Trang 10cách khách quan Hạn chế lớn nhất của DNVVN xuất phát từ chính đặc điểm của nó
đó là quy mô vốn nhỏ, vốn ít nên thường xuyên rơi vào tình trạng “khát vốn” trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó không thể không kể đến các nhược điểm vẫn đang tồn tại như:
- Về thông tin: các DNVVN thường bị hạn chế về thông tin cũng như kỹ năng quản lý Các dịch vụ hỗ trợ cho kinh doanh đã trở nên lạc hậu, không theo kịp được
sự phát triển kinh tế trong nước và trên thế giới Các DNVVN phải tự mình tìm kiếm thông tin thông qua các kênh thiếu đầy đủ, chính xác mà không có sự hỗ trợ từ các hiệp hội, cơ quan chức năng một cách phù hợp và đúng mức Bên cạnh đó vấn
đề tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ tư vấn như tư vấn thị trường, đào tạo thiết kế sản phẩm, mẫu mã sản phẩm, quản lý chất lượng, môi trường không được
sử dụng nhiều và đầy đủ Do tính chất vừa và nhỏ, các DNVVN khó khăn trong việc mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh nghiệp đó đang hoạt động
- Về năng lực quản lý: Ở nước ta, quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ thường mang tính gia đình, người chủ sở hữu đồng thời cũng là người quản lý hay quản đốc, cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp Những người này một lúc thực hiện hàng loạt các vai trò và chức năng khác nhau trong tổ chức kinh doanh, ngoài góp vốn thì
họ còn có quan hệ huyết thống, họ hàng, bạn bè thân thiết Do đó, kỹ năng quản trị nội bộ là không cao, thiếu tính cơ bản, chỉ dựa vào những kinh nghiệm kinh doanh của bản thân, thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết
kế sản phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển Hơn nữa, lao động làm trong khu vực này chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ thấp, ít được đào tạo cơ bản, các kỹ năng còn hạn chế
- Về công nghệ: Hiện nay các DNVVN đang sử dụng những công nghệ cũ, lạc hậu và rất khó để vay một khoản tín dụng trung dài hạn để đầu tư mua công nghệ
do vốn đầu tư thấp Mặt khác nếu muốn xuất khẩu máy móc thiết bị nước ngoài thì
Trang 11chịu thuế suất rất cao trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì được miễn trừ
- Về đất đai: Các DNVVN gặp khó khăn trong việc cấp quyền sử dụng đất, khó khăn trong việc thuê đất làm trụ sở và nhà máy Nguyên nhân là những thủ tục chưa được thông suốt, còn rườm rà, không rõ ràng và thường không công nhận đối với các DNVVN, đặc biệt các trường hợp đất công nghiệp, quyền mua bán, cầm cố quyền sử dụng đất để ký quỹ chưa được chấp nhận
- Về khả năng cạnh tranh trong nước và trên thế giới: Do những thủ tục hành chính rườm rà, môi trường cạnh tranh không bình đẳng ở thị trường trong nước là nguyên chính gây ra tình trạng bản quyền sở hữu trí tuệ và sở hữu công nghiệp không được đảm bảo Trên thị trường các mặt hàng giả, hàng nhái làm giảm sức cạnh tranh của các DNVVN trên thị trường nội địa Còn trên thị trường quốc tế sức cạnh tranh của DNVVN được đánh giá là rất thấp Nguyên nhân chính là do hạn chế
về hoạt động thương mại, chất lượng sản phẩm thấp, marketing còn chưa trú trọng đúng mức, thiếu khách hàng truyền thống, thân thiết, thông tin nắm bắt trên thị trường nước ngoài có kém
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển kinh tế.
Hiện nay, chúng ta không thể không thừa nhận tầm quan trọng của DNVVN, hoạt động và sự phát triển của chúng đóng góp vai trò lớn trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước
Thứ nhất, làm cho nền kinh tế vận hành nhạy bén, hiệu quả hơn Nếu hiểu
đơn giản theo quy luật vật lý thì khối lượng một vật các lớn thì quán tính của nó càng lớn Thật vậy, trong một nền kinh tế, các đơn vị càng to lớn như các tập đoàn, công ty lớn thì càng thiếu tính linh hoạt thiếu khả năng phản ứng nhanh so với các đơn vị kinh tế nhỏ Nếu đặt một tỷ lệ quá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp quy mô lớn trong nền kinh tế thì sẽ trở nên chậm chạp, không bắt kịp và phản ứng kịp với các thay đổi trên thị trường Ngược lại, nếu đặt một tỷ lệ thích hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nên kinh tế thì sẽ trở nên năng động, nhạy bén, phản ứng kịp thời hơn, tính hiệu quả của nền kinh tế được nâng
Trang 12cao Số lượng loại hình doanh nghiệp này càng gia tăng sẽ góp phần tạo đổi mới công nghệ, thúc đẩy phát triển ý tưởng và kỹ năng mới, thúc đẩy sự đầu tư giữa các nền kinh tế trong và ngoài khu vực
Thứ hai, tạo việc làm cho người lao động, giải quyết vấn đề thất nghiệp trong
xã hội Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới, mức độ sử dụng lao động của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng gấp 4 – 10 lần, hàng năm thu hút trên 35% lao động trên thị trường Với một quốc gia hơn 80 triệu dân như nước ta thì điều này có ý nghĩa rất lớn, giải quyết các vấn đề về việc làm, hạn chế các vấn đề xã hội Vấn đề thất nghiệp đang là một vấn đề cấp bách thế nên khu vực này là giải pháp hiệu quả cho những lao động có trình độ phổ thông, kỹ năng hạn chế tìm kiếm được việc làm
Thứ ba, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập dân cư Mức
đóng góp trung bình của các DNVVN vào thu nhập quốc dân là khoảng 40 - 45%
Do là một thành phần tích cực trong nền kinh tế phục vụ chủ yếu cho nhu cầu trong nước, hoạt động dựa trên tiềm lực quốc gia, phát triển công nghệ và kỹ năng trong nước, chính vì vậy nó có ý nghĩa là đòn bẩy giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, giảm những gánh nặng từ những tiêu cực xã hội
Thứ tư, bên cạnh những vai trò trên thì khu vực DNVVN cũng có những vai
trò tích cực trong nền kinh tế như: gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh, tăng nguồn vốn tiết kiệm và đầu tư cho dân địa phương, cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế với nhau, phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương góp phần tăng trưởng kinh tế, giữ gìn và phát huy ngành nghề truyền thống thể hiện bản sắc dân tộc
1.1.4 Các kênh huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thông thường nguồn vốn dành cho các DNVVN gồm nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu là các nguồn chính sau đây:
Một là, vốn tự có của DNVVN là vốn được tạo ra từ vốn riêng của doanh
nghiệp, vốn đóng góp của các cổ đông, bạn bè, họ hàng Nguồn vốn này thường chiếm khoảng 5-10% vốn luân chuyển của doanh nghiệp
Trang 13Hai là, nguồn tài chính phi chính thức là nguồn chủ yếu của DNVVN
Nguồn vốn này được tìm kiếm từ cho vay nặng lãi, cho vay giữa các doanh nghiệp, vay người thân, họ hàng, người quen, bạn bè…
Ba là, là nguồn tài chính chính thức bao gồm quỹ hỗ trợ phát triển, các
nguồn phi chính phủ và chính phủ Các nguồn vốn chính thức này trên thực tế thì các DNVVN khó có thể tiếp cận được Thông thường các nguồn vốn quốc tế chỉ dành cho các DNVVN có đủ điều kiện vay vốn như vốn điều lệ tối thiểu, sự cam kết thực hiện hợp đồng của chủ doanh nghiệp, phương án kinh doanh khả thi Trên thực
tế thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ ít được các ngân hàng thương mại cho vay vốn bởi các điều kiện về tài sản, các doanh nghiệp này không đủ giấy tờ pháp lý của các bất động sản đem thế chấp, bản thân doanh nghiệp cũng chưa đủ sức để lập kế hoạch kinh doanh thuyết phục, có hiệu quả Chính vì lẽ đó thiếu vốn là một trở ngại
vô cùng lớn cho các DNVVN thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh
1.2 Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.2.1 Khái niệm chung về tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng có ba loại quan hệ chủ yếu: quan hệ tín dụng ngân hàng với doanh nghiệp, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với dân cư, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các ngân hàng khác trong và ngoài nước
Trong suốt sự phát triển lâu dài của tín dụng thì tín dụng ngân hàng tỏ ra có ưu thế hơn hẳn các hình thức trước như: tín dụng cho vay nặng lãi, tín dụng thương mại Nguyên nhân là hình thức tín dụng rất linh hoạt vì đối tượng vay mượn là tiền, ngoài ra nguồn vốn cho vay rất lớn vì đó là toàn bộ nguồn vốn trong nền kinh tế mà Ngân hàng có thể tập trung và huy động được
Có thể nói hình thức tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường và nó luôn luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách kịp thời, linh hoạt Chính nhờ có tín dụng ngân hàng mà những
Trang 14đồng tiền tạm thời nhàn rỗi đã trở thành tiền hoạt động, biến những đồng tiền nằm phân tán thành vốn tiền tệ tập trung phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và qua đó làm cho sự phát triển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp cho nền kinh tế ngày càng phát triển
1.2.2 Vai trò tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường trong nước kéo theo sự đa dạng hóa các hình thức tín dụng ngân hàng và khẳng định vai trò to lớn của nó với các thành phần kinh tế khác đặc biệt là khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ thể:
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho DNVVN
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì thường phải dựa vào ba nguồn vốn chủ yếu là vốn tự có, vốn từ ngân sách và vốn vay ngân hàng Tuy nhiên, trên thực
tế vốn ngân sách cho các doanh nghiệp thì rất ít ỏi mà vốn tự có thì lại hạn chế, chính vì vậy vốn quan trọng nhất là vốn ngân hàng Các ngân hàng luôn đa dạng hóa các hình thức tín dụng ngân hàng để các doanh nghiệp có thể tiếp cận với nguồn vốn một cách tốt nhất, nhưng các doanh nghiệp vẫn có hạn chế khi tiếp cận với nguồn vốn này đặc biệt là DNVVN Việc DNVVN thiếu vốn là điều khó có thể tránh khỏi bởi sự ràng buộc về thể chế tín dụng và môi trường pháp lý chưa thực sự đồng bộ
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ hỗ trợ sự ra đời và
phát triển của các DNVVN Có thể nói tín dụng ngân hàng như một người đỡ đầu cho doanh nghiệp ngay từ khi bắt đầu thành lập đến khi đi vào hoạt động, nếu không có tín dụng ngân hàng thì doanh nghiệp khó có thể hình thành và rất nhiều doanh nghiệp hoạt động một cách khó khăn
Thứ ba, tín dụng ngân hàng điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, khuyến khích phát
huy các lợi thế để phát triển DNVVN
Thứ tư, tín dụng ngân hàng giúp DNVVN nâng cao năng lực cạnh tranh Khi
doanh nghiệp đi vay ngân hàng thì doanh nghiệp bắt buộc phải có một phương án kinh doanh phù hợp để có thể chịu áp lực trả nợ cho ngân hàng trong một thời gian
Trang 15nhất định Chính nguồn vốn vay từ ngân hàng đã thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay hiệu quả nhất Do vậy
vô hình chung đã đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp lên cao đòi hỏi doanh nghiệp phải cạnh tranh trên các sản phẩm của mình về mẫu mã, chất lượng, thay đổi công nghệ hiện đại bắt kịp với công nghệ tiên tiến trên thế giới
1.2.3 Hình thức tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Giống như tín dụng đối với các loại hình doanh nghiệp khác thì tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có đầy đủ các hình thức tín dụng như:
Tín dụng ngắn hạn DNVVN: là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng Đây
là loại tín dụng sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là kinh doanh tiền gửi, trong đó chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn nên các khoản tín dụng ngân hàng thường tài trợ ngắn hạn để đảm bảo khả năng thanh toán Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì nhu cầu về vốn vay ngắn hạn là chủ yếu do tính hoạt động của khu vực doanh nghiệp này là kinh doanh thương mại và sản xuất nhỏ
Tín dụng trung và dài hạn DNVVN: là hình thức tín dụng có thời hạn trên
một năm, trong đó các khoản tín dụng từ trên 1 năm đến 5 năm được coi là tín dụng trung hạn, tín dụng trên 5 năm được coi là tín dụng dài hạn
Mặc dù nhu cầu vốn vay chủ yếu của doanh nghiệp vừa và nhỏ là ngắn hạn song các khoản tín dụng trung và dài hạn cũng đóng góp phần quan trọng không kém về nhu cầu đầu tư tài sản cố định, đổi mới dây truyền công nghệ, xây dựng nhà
Trang 16xưởng sản xuất, trụ sở văn phòng, mua phương tiện đi lại… nhằm tăng cường năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh trên thị trường cho các DNVVN Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thì hình thức tín dụng trung và dài hạn càng tỏ ra là được ưa chuộng bởi không những nó là nguồn đầu tư cho tài sản
cố định mà còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên cho các DNVVN Tín dụng trung và dài hạn tạo ra một năng lực sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực hiện tại của doanh nghiệp Đối tượng chủ yếu của hình thức này là vốn cố định của doanh nghiệp, các chi phí hình thành cơ sở vật chất, kỹ thuật của doanh nghiệp nên thời gian hoàn vốn chậm, mức độ rủi ro thường cao Mặt khác các ngân hàng thường tài trợ cho doanh nghiệp thông qua các dự án, chính vì thế đòi hỏi ngân hàng hay các nhân viên tín dụng phải phân tích và xem xét dự án kỹ lưỡng trước khi có quyết định tài trợ
1.2.4 Quy trình tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Do tính cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng như phụ thuộc vào từng đặc điểm của mỗi ngân hàng mà các ngân hàng chọn ra một quy trình tín dụng phù hợp nhất với ngân hàng mình Nhưng các quy trình này đều dựa trên một nguyên tắc cơ bản và một quy trình chuẩn chung như sau:
- Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự
án đầu tư
- Báo cáo sản xuất kinh doanh cảu kỳ gần nhất
- Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay
- Các giấy tờ liên quan cần thiết khác
2 Phân tích
tín dụng và
- Phân tích năng lực tài chính của doanh nghiệp
- Phân tích năng lực quản lý, điều hành của doanh nghiệp
Trang 17Bước Tên Nội dung
trình phê
duyệt
- Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh trong thời gian qua
và sắp tới
- Đánh giá kế hoạch, chiến lược của doanh nghiệp
- Đánh giá tài sản bảo đảm của doanh nghiệp
3 Quyết định
và ký hợp
đồng tín
dụng
- Đồng ý cấp tín dụng và có thể bổ sung thêm thông tin
- Hoặc từ chối cấp tín dịnh và nêu rõ lý do từ chối
4
Giải ngân Trên cơ sở hồ sơ chứng từ cụ thể của từng khoản tín dụng,
ngân hàng có thể phê duyệt giải ngân hoặc từ chối giải ngân.5
Giám sát
tín dụng
- Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng
- Phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng theo định kỳ
- Giám sát khách hàng thông qua việc trả lãi định kỳ
- Viếng thăm và kiểm soát địa điểm hoặt động sản xuất kinh doanh hoặc nơi cư ngụ của khách hàng đứng tên vay vốn
- Kiểm tra các hình thức bảo đảm tiền vay
- Giám sát các hoạt động của khách hàng thông qua mối quan
1.3 Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Khi nói đến chất lượng của một sản phẩm hay một dịch vụ trên thị trường thì
ta thường xem xét đến mức độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài chính cho nhà cung cấp Theo lối tư duy đó, trong kinh doanh tín dụng ngân hàng, chất lượng tín dụng được thể hiện ở sự thỏa mãn nhu cầu vay vốn của khách
Trang 18hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Để hiểu rõ hơn về chất lượng tín dụng ngân hàng, ta xét trên ba khía cạnh sau:
Xét trên góc độ khách hàng: Khi khách hàng đến ngân hàng vay vốn để hoạt
động sản xuất kinh doanh thì chất lượng tín dụng được đánh giá trên theo tính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý Bên cạnh đó chất lượng tín dụng còn thể hiện ở thủ tục vay mượn đơn giản, thuận lợi cho khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng trong nền kinh tế nhưng ngân hàng vẫn đảm bảo được nguyên tắc tín dụng
Xét trên góc độ Ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở
phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi Chất lượng tín dụng đối với một ngân hàng nhỏ là việc cấp tín dụng ở mức độ và trong phạm vi nhất định để thỏa mãn nhu một cách tốt nhất khách hàng của mình
Xét trên góc độ nền kinh tế: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở việc tín
dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác tiềm lực trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế, hòa nhập với cộng đồng quốc tế
Có thể hiểu chất lượng tín dụng cũng chính là chất lượng các khoản cho vay của ngân hàng Một khoản vay có chất lượng là vốn vay được đưa đến khách hàng
sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, tạo được lợi nhuận cao trên đồng vốn bỏ ra, qua đó ngân hàng có thể thu hồi được gốc và lãi đúng thời hạn Thông qua hành động này ngân hàng không những tạo ra hiệu quả kinh doanh mà còn tạo ra được hiểu quả kinh tế xã hội
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh độ thích nghi của
Trang 19Ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, thể hiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng, dưới đây sẽ phân tích theo 2 khía cạnh chỉ tiêu mang tính định lượng và chỉ tiêu mang tính định tính
đó tốt
- Bên cạnh đó là cách làm việc chuyên nghiệp của nhân viên, cách ứng xử giao tiếp, văn hóa doanh nghiệp của ngân hàng, uy tín của ngân hàng cũng góp phần tạo ấn tượng và cảm tình của khách hàng, thu hút được các khách hàng mới và giữ được các khách hàng truyền thống, điều đó đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng tốt hay xấu
- Ngoài ra, có những chi tiết nhỏ, nếu ngân hàng không để ý thì sẽ mất đi thiện cảm của khách hàng khi đến ngân hàng Đó là Ngân hàng cần phải có đội ngũ bảo vệ, bãi gửi xe, nhân viên trong xe không nên thu lệ phí gửi xe của ngân hàng, nhân viên lễ tân niềm nở, chu đáo, hướng dẫn tận tình khách hàng Điều này giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng tín dụng cho mình
1.3.2.2 Chỉ tiêu định lượng
Muốn đánh giá được một ngân hàng tốt hay xấu, mạnh hay yếu, sức cạnh tranh cao hay thấp thì dựa vào chỉ tiêu chất lượng tín dụng của ngân hàng đó Hay nói cách khác là một ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt là ngân hàng có hiệu quả
Trang 20sử dụng vốn cao, an toàn, mang lại hiệu quả kinh tế cho khách hàng sử dụng vốn đồng thời mang lợi nhuận cao cho ngân hàng Để đánh giá được chất lượng tín dụng ngân hàng thì có thể dựa vào rất nhiều các chỉ tiêu, dưới đây là một số chỉ tiêu định lượng cơ bản:
Chỉ tiêu nợ quá hạn
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn
Theo quyết định QĐ493/2005 – NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro tín dung trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
do thống đốc NHNN ban hành, gồm 5 nhóm nợ trong đó 4 nhóm nợ là thuộc nợ quá hạn, tính lần lượt từ nhóm 2 đến nhóm 5 là: nhóm nợ cần chú ý, nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm nợ nghi ngờ, nhóm nợ có khả năng mất vốn Trong 4 nhóm nợ quá hạn này thì các nhóm nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 là những nhóm nợ xấu, khả năng thu hồi chậm hoặc không thể thu hồi làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Để biết được trong tỷ lệ nợ quá hạn có bao nhiêu % tổng nợ quá hạn có khả năng thu hồi, bao nhiêu % không có khả năng thu hồi và đánh giá tỷ lệ nợ quá hạn chính xác hơn, người ta dùng thêm hai chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn không
khả năng thu hồi
= Nợ quá hạn không khả năng thu hồi x 100%
Tổng nợ quá hạn
Trang 21 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng
Tỷ lệ nợ quá hạn có khả
năng thu hồi
= Nợ quá hạn có khả năng thu hồi
Tổng nợ quá hạn
Trang 22duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng không có ý nghĩa Do đó trong kinh doanh ngân hàng luôn phải cân bằng khoản sinh lời với mức rủi ro tín dụng để đảm bảo khoản cho vay thu hồi được mà vẫn có lợi cho mình
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN.
1.3.3.1 Các nhân tố chủ quan
Chính sách tín dụng là chính sách của ngân hàng được đặt ra trong từng giai
đoạn, thời kỳ phát triển cụ thể, nó phản ánh phương hướng mục tiêu tín dụng của ngân hàng và có ý nghĩa quyết định trong kinh doanh ngân hàng Chính sách tín dụng bao gồm hạn mức tín dụng, kỳ hạn của các khoản vay, lãi suất cho vay và mức
lệ phí, các loại cho vay được thực hiện Chính sách tín dụng của ngân hàng phải được xây dựng trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế, chính sách tiền tệ, chính sách của NHNN, tiềm lực của chính ngân hàng mình, nhu cầu vốn của khách hàng Khi một trong các yếu tố này thay đổi thì ngân hàng cũng có chính sách tín dụng thay đổi theo Đối với mỗi đối tượng khách hàng khác nhau thì ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng cho phù hợp, linh động cho từng khách hàng, có những chính sách ưu đãi cho các khách hàng lâu năm, uy tín của ngân hàng
Chính sách tín dụng luôn đi đôi với chất lượng tín dụng, để đảm bào và nâng cao chất lượng tín dụng thì ngân hàng phải có những chính sách tín dụng phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, đồng thời kết hợp được lợi ích của người gửi tiền Bất kể một ngân hàng nào muốn có một chất lượng tín dụng tốt cũng phải đầu tư xây dựng chính sách tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế của ngân hàng cũng như thị trường
Tổ chức nhân sự: Trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào thì con người
cũng luôn là yếu tố quyết định nhiều nhất đến sự thành, bại Sử dụng nguồn lực con người là một cách khôn ngoan và là chiến lược để đi đến thành công Trong kinh doanh ngân hàng, muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh, chất lượng tín dụng thì ngân hàng phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, chuyên nghiệp, am hiểu và có kiến thức sâu rộng về thị trường đặc biệt là lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững
Trang 23những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng Ngân hàng luôn coi trọng công tác đào tạo tuyển chọn nhân tài hàng năm để có được đội ngũ lao động trẻ, năng động sáng tạo tiếp cận nhạy bén với công nghệ tiên tiến trên thế giới Bên cạnh đó, cần xây dựng một văn hóa doanh nghiệp tốt quy định những chuẩn mực về đạo đức, tính liêm khiết, bởi lẽ nếu cán bộ tín dụng vô trách nhiệm trong công việc hay cố ý vi phạm thì sẽ gây tổn thất rất lớn cho ngân hàng.
Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước
tiến hành trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Nó bao gồm các bước bắt đầu từ khâu chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra trong quá trình cho vay đến khi thu hồi được nợ
Để cho một khách hàng vay vốn ngân hàng cần trải qua nhiều khâu khác nhau, khâu quan trọng ảnh hưởng quyết định cho vay hay không là khâu chuẩn bị cho vay Một chuyên viên tín dụng sẽ phải làm những công việc trong khâu này là khai thác và tìm kiếm khách hàng, phân tích thẩm định khách hàng, phương án và
dự án vay vốn Chất lượng tín dụng của ngân hàng có tốt hay không là phụ thuộc vào chất lượng thẩm định tín dụng của chuyên viên tín dụng cũng như các quy định
về điều kiện, thủ tục cho vay của ngân hàng đó
Nếu như khâu kiểm tra quá trình sử dụng vốn của khách hàng là khâu giúp ngân hàng hạn chế rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng thì khâu thu hồi và giải quyết nợ là khâu quyết định đến chất lượng tín dụng của ngân hàng Thật vậy, một ngân hàng nhạy bén trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất lợi xảy ra đối với khách hàng, luôn có những biện pháp phòng tránh xử lý kịp thời, tư vấn cho khách hàng thì sẽ có tác động tích cực đối với hoạt động tín dụng
Bên cạnh đó quy trình tín dụng còn là công tác thu thập thông tin Ngân hàng muốn tìm hiểu về khách hàng của mình thì có thể thông qua nhiều kênh như: từ các ngân hàng thương mại khác, từ báo chí, thông tin truyền hình, đại chúng, thông tin
do cán bộ tín dụng thu thập được từ chính khách hàng, qua báo cáo tài chính của ngân hàng Thông tin tốt là thông tin nhanh chóng, chính xác cao, toàn diện và khách quan, nó sẽ quyết định đến chất lượng tín dụng của ngân hàng
Cũng giống như chính sách tín dụng, thì quy trình tín dụng cũng luôn phải
Trang 24linh hoạt cho từng đối tượng khách hàng khác nhau, cho từng trường hợp cụ thể Ngân hàng luôn coi việc giảm thiểu rủi ro tín dụng là hàng đầu nhưng cũng cần phải
có biện pháp cân bằng với công tác cho vay cũng như quy trình tín dụng tránh rườm
rà, phức tạp ảnh hưởng đến công tác tín dụng
Kiểm soát nội bộ: Đây là công tác mà ngân hàng nào cũng phải coi trọng
và cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục Nó giúp ngân hàng điều chỉnh được phương hướng, mục tiêu kinh doanh của mình trong từng thời kỳ cụ thể một cách kịp thời, phát hiện nhanh chóng những sai sót để sửa chữa, giải quyết những vướng mắc trong kinh doanh Điều này giúp cho ngân hàng thực hiện tốt quy trình tín dụng, công tác tín dụng và qua đó cũng nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng
1.3.3.2 Các nhân tố khách quan từ phía khách hàng
Đạo đức và uy tín của người đi vay: Khi ngân hàng thực hiện đúng quy
trình tín dụng tức là ngân hàng đã sàng lọc và lựa chọn ra những khách hàng có đủ đạo đức và uy tín để cho vay Đạo đức của khách hàng là một yếu tố quan trọng trong công tác thẩm định tín dụng, nó được đánh giá không chỉ bằng đạo đức phẩm chất con người mà còn được kiểm nghiệm qua những hoạt động sản xuất kinh doanh trong quá khứ của ngân hàng đó Đạo đức của khách hàng còn được thể hiện thông qua tính trung thực cung cấp thông tin cho cán bộ tín dụng ngân hàng, sử dụng đúng mục đích vay vốn và có trách nhiệm hoàn thành trả nợ và lãi đúng thời hạn cam kết Ngoài ra, để có kết luận chính xác ngân hàng còn dựa vào uy tín của khách hàng, phân tích các số liệu về chất lượng, giá cả hàng hóa dịch vụ, các quan
hệ tài chính vay vốn, trả nợ của khách hàng với bạn hàng, tổ chức tín dụng khác…
Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng: Năng lực của
khách hàng là yếu tố quyết định doanh nghiệp có sử dụng được hiệu quả nguồn vốn vay hay không, cũng như hiệu quả kinh doanh có tốt hay không Một khách hàng có năng lực yếu kém, kinh nghiệm kinh doanh hạn chế thể hiện bởi khả năng sản xuất kém hiệu quả, phân phối và chiếm lĩnh thị trường chậm, không dự đoán được những cung bậc thay đổi của nền kinh tế, khi có sự cố kinh tế xảy ra thì rất dễ rơi vào khủng hoảng hoặc thậm chí là sụp đổ Do đó, khách hàng không thể trả được nợ
Trang 25ngân hàng như đã cam kết, làm thiệt hại đến kinh doanh của ngân hàng Nhưng nếu ngân hàng phân tích năng lực khách hàng chuẩn xác, cho vay những khách hàng có năng lực kinh doanh cao, sức cạnh tranh trên thị trường lớn, sử dụng vốn có hiệu quả thì ngân hàng sẽ đem về cho mình càng nhiều lợi nhuận.
Chính vì vậy, chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của người đi vay
1.3.3.3 Các nhân tố khách quan khác.
Tác động từ môi trường kinh tế: Tính ổn định hay bất ổn về kinh tế hay
chính sách kinh tế của mỗi quốc gia sẽ tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh
và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường Khi nền kinh tế xảy ra khủng hoảng hay lạm phát hoạt đông kinh doanh sẽ rất khó khăn, các doanh nghiệp rụt rè hơn trong các quyết định của mình, sự bất ổn bao trùm đến toàn bộ các hoạt động của ngân hàng, làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng gây tổn thất cho ngân hàng Ngược lại khi nền kinh tế ổn định là điều kiện, môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, thu lợi nhuận và từ đó góp phần thành công trong kinh doanh của ngân hàng
Tác động từ môi trường cạnh tranh: Đây là yếu tố tác động mạnh tới chất
lượng tín dụng, hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ta phân tích theo hai chiều hướng như sau: thứ nhất, để chiếm được ưu thế cạnh tranh, ngân hàng luôn phải quan tâm tới đầu tư trang thiết bị hiện đại tiên tiến trên thế giới, tăng cường đội ngũ nhân sự có trình độ, củng cố và luôn nâng cao uy tín và thế mạnh của ngân hàng, chính điều này đã tạo điều kiện nâng cao tín dụng cho ngân hàng Mặt khác, khi phân tích chiều hướng thứ hai, khi sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, sức ép cạnh tranh rất lớn, các ngân hàng có thể bỏ qua những điều kiện tín dụng cần thiết làm rủi ro tăng lên, làm giảm chất lượng tín dụng ngân hàng
Tác động từ môi trường pháp lý: Một môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh,
thiếu tính đồng bộ, thống nhất giữa các luật, văn bản dưới luật, sự sắc nhiễu của các
cơ quan hành chính có liên quan sẽ làm cho doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, thụ động trong công tác kinh doanh, đưa vốn vào sản xuất, có nguy cơ gặp nhiều rủi ro Và như vậy doanh nghiệp khó mà hoạt động hiệu quả được, làm hệ lụy
Trang 26tới kinh doanh của ngân hàng cũng như quy trình tín dụng không được đảm bảo Muốn vậy cần xây dựng một môi trường pháp lý lành mạnh, tạo điều kiện sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, giúp họ giải quyết những vướng mắc và xóa bỏ những khâu hành chính rườm rà, không cần thiết.
Tác động từ môi trường chính trị: Đây là một nhân tố đóng vai trò quan
trọng trong kinh doanh, đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Một đất nước bất ổn về chính trị như xảy ra chiến tranh, bạo động, khủng bố, bãi công, biểu tình sẽ tác động mạnh đến các hoạt động khác như kinh tế, xã hội, doanh nghiệp cũng không thể yên tâm sản xuất, phát triển kinh doanh, sản xuất tê liệt, hàng hóa lưu thông đình trệ, doanh nghiệp rơi vào tình trạng hoảng loạn…Và như vậy, thì ngân hàng cũng thiệt hại rất lớn bởi khoản vay không thể trả được và ngân hàng luôn trong tình trạng nợ xấu tăng cao , ảnh hưởng xấu tới chất lượng tín dụng thậm chí sụp đổ ngân hàng
Tác động từ môi trường tự nhiên: Rủi ro do thiên nhiên gây ra là khó có thể
lường trước được cho các nhà doanh nghiệp hay ngay cả các ngân hàng Hàng năm các sự cố về thiên nhiên như lũ lụt, hỏa hoạn, động đất, dịch bệnh… luôn có thể xảy
ra bất cứ lúc nào, do đó ngân hàng và doanh nghiệp phải có những biện pháp dự trữ, chiến lược kinh doanh kịp thời, phân tích đặc điểm thiên nhiên, địa hình của lãnh thổ doanh nghiệp mình đang hoạt động Mặc dù các sự cố này thường là không lớn
do các doanh nghiệp, ngân hàng đã có các công ty bảo hiểm hay nhà nước hỗ trợ, chia sẻ thiệt hại, rủi ro
Trang 27CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNVVN CỦA SỞ GIAO DỊCH NGÂN
HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh chủ yếu của Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
2.1.1 Tình hình huy động vốn của Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
Theo quyết định của Ngân hàng Ngoại thương Trung ương thì Sở giao dịch không được huy động vốn từ thị trường liên ngân hàng nên tổng nguồn vốn của Sở giao dịch chỉ bao gồm huy động vốn từ nền kinh tế và vốn khác, trong đó vốn huy động từ nền kinh tế bao gồm huy động từ tổ chức và dân cư, vốn khác là các khoản lợi nhuận giữ lại
Tận dụng những lợi thế về quy mô, công nghệ cũng như uy tín thương hiệu Vietcombank, Sở giao dịch đã đảm đương thành công vài trò cung ứng vốn cho toàn hệ thống Mặc dù mới tách ra hoạt động độc lập như một chi nhánh chưa được
5 năm những tình hình vốn luôn đạt được các chỉ tiêu đề ra, bất chấp những biến động lớn trong nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua nói riêng và tình hình kinh
tế thế giới nói chung
Trang 28Đơn vị: Tỷ đồng
HĐ từ nền KT 19,058.37 1,175.03 37,992.83 24,761.10 892.7 39,916.48 23,699.60 870.91 45.309,45 22,506.56 882.9 47,448.56
1 TG của TCKT 15,811.12 605.8 25,572.95 22,004.70 489.61 30,316.74 20,349.54 454.64 28,506.22 19,387.67 468.4 29,411.39 1.1.TG KKH 6,415.38 541.98 15,148.78 4,031.88 365.1 10,230.22 3,593.71 311.63 9,184.69 4,812.59 338.65 9,859.27 1.2 TG CKH 9,395.74 63.82 10,424.17 17,972.82 124.5 20,086.52 16,755.84 143.01 19,321.53 14,575.08 129.75 19,552.12
2 Tkiêm & KP, TrP 3,247.25 569.23 12,419.87 2,756.39 403.1 9,599.74 3,350.05 416.27 10,818.38 3,118.89 414.5 18,037.17 2.1 Tiết kiệm 3,128.22 546.18 11,929.35 2,720.16 327.04 8,272.36 3,259.65 414.97 10,704.57 2,956.34 406.7 13,170.66
trong đó: TK KKH 22.62 8.26 155.78 3.49 2.2 40.79 1.95 2.06 38.91 4.58 2.45 39.76
TK CKH<12T 1,716.56 153.23 4,185.69 1,838.47 160.7 4,566.62 2,604.54 179.4 5,823.43 1,345.89 179.34 5,896.67
TK CKH>12T 1,389.03 384.69 7,587.89 878.21 164.2 3,664.94 653.16 233.5 4,842.22 1,605.87 224.91 7,234.23 2.2 KP, TrP 119.03 23.05 490.52 36.23 76.05 1,327.38 90.4 1.31 113.82 162.55 7.8 4,866.51
Trang 29Bảng 2.2 Hoạt động huy động vốn của SGD NHNT
Đơn vị: tỷ đồng
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng nguồn vốn 36.095,56 40.070,42 39.916,64 47.506,21 49,540.76Huy động vốn từ
khách hàng
34.761,88 37.993,82 39.500,75 45.309,45 47,448.56
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh SGD Vietcombank 2006-2010)
Như bảng trên thể hiện con số về tổng nguồn vốn huy động và nguồn vốn huy động từ khách hàng của Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 Tuy nhiên để so sánh rõ hơn và có một hình ảnh cụ thể biểu thị số liệu này, ta biểu diễn các số liệu trên bằng biểu đồ cột sau:
Biểu đồ 2.1 Hoạt động huy động vốn của SGD NHNT
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh SGD Vietcombank 2006-2010)
Để phân tích tình hình huy động vốn của Sở giao dịch trong thời gian qua, ta xét trên 2 khía cạnh: khối lượng và cơ cấu nguồn vốn huy động
2.1.1.1 Khối lượng vốn huy động
Tình hình huy động vốn của Sở giao dịch liên tục tăng qua các năm, bất chấp những bất ổn trong nền kinh tế năm 2008 và tiếp tục tăng mạnh vào năm
2009, 2010
Cho đến ngày 31/12/2008, tổng nguồn vốn huy động quy về VNĐ của Sở giao
Trang 30dịch đạt 39.500,75 tỷ VNĐ, tăng 3,97% so với cùng kỳ năm 2007, đạt 100,06% chỉ tiêu huy động vốn của ngân hàng Ngoại thương Trung ương giao Vốn huy động của Sở giao dịch chiếm tỷ trọng 21% tổng vốn huy động của toàn hệ thống, 10% tổng vốn huy động trên địa bàn thành phố Hà Nội Đến năm 2009, tổng nguồn vốn huy động đã đạt là 45.309,45 tăng 14,71% so với cùng thời điểm này năm 2008 Kết thúc năm 2010, tổng nguồn vốn huy động tăng 4,21% so với năm 2009 và tăng 24,11% so với năm 2008.
Có được những thành quả trên là do uy tín lâu năm của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, mặt khác Sở giao dịch cũng không ngừng thu hút thêm nguồn vốn bằng cách duy trì lãi suất cạnh tranh và ngoài việc tiến hành huy động vốn dưới hình thức thông thường như nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, Sở giao dịch còn phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu cho các cá nhân và các tổ chức kinh tế
Trong những năm qua, tổng vốn huy động (gồm tiền gửi của khách hàng, tiền gửi và vay của kho bạc nhà nước và các tổ chức tín dụng khác) của Sở giao dịch đã không ngừng tăng lên Năm 2006, huy động được 36.095,56 tỷ VND, tăng 17,5%
so với năm 2005, năm 2007 là 40.070,42 tỷ VND, tăng 10,75% so với năm trước Năm 2008, tổng vốn huy động đạt 39.916,64 tỷ VND, trong đó nguồn vốn huy động
từ dân cư thông qua tiết kiệm và kỳ phiếu, trái phiếu tăng 25,79% và năm 2009,
2010 lần lượt là 23,87%, 38,01%
Có được sự tăng trưởng trên phải kể đến nỗ lực của Sở giao dịch ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong việc thực hiện chính sách khách hàng với những hình thức huy động phong phú, mở rộng mạng lưới hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi gửi tiền; lãnh đạo ngân hàng cũng đã tăng cường điều hành quản trị vốn, áp dụng cơ chế lãi suất thích hợp Ngoài ra cũng do một số nguyên nhân khách quan khác như: niềm tin của dân chúng vào các ngân hàng thương mại quốc doanh, thị trường chứng khoán và bất động sản thời gian gần đây vẫn chưa đạt được tăng trưởng khả quan như năm 2006, 2007 nên người gửi tiền ít
có sự lựa chọn nào khác
2.1.1.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động.
Trang 31Trong sự tăng trưởng chung của tiền gửi khách hàng, xu hướng chung của tiền gửi có kỳ hạn cũng là tăng nhưng tốc độ vẫn chưa ổn định, đạt 20,1% vào năm
2005, ba năm tiếp theo lần lượt là 26,1%; 54,11%; 30,14%, năm 2008 chỉ tăng trưởng âm (-31,90%) Kết quả này đặt ra một thách thức đối với ngân hàng, phải có biện pháp thích ứng nhằm ổn định nguồn vốn cho vay dài hạn
Tuy nhiên, cơ cấu nguồn vốn huy động từ nền kinh tế cũng đã có sự thay đổi tích cực, theo hướng tăng dần tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn, từ 48,56% năm 2006 lên 51,17% năm 2007; 31,44% năm 2008 và 53,3% vào năm 2009 Như vậy, tiền gửi
có kỳ hạn đã chiếm hơn một nửa tổng lượng tiền gửi khách hàng Điều này đòi hỏi chi phí vốn của ngân hàng cũng tăng theo nhưng mặt khác lại đảm bảo nguồn vốn cho tín dụng trung và dài hạn, tạo điều kiện cho tín dụng trung và dài hạn bứt phá.Ngoài ra, vốn huy động từ các nguồn khác như tiền gửi và vay của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước cũng tăng lên, góp phần không nhỏ đảm bảo nguồn vốn cho vay của Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Quy mô và cơ cấu huy động là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng huy động vốn Nguồn vốn phải đạt đến một quy mô nhất định thì mới tài trợ được cho các hoạt động như cho vay và đầu tư cũng như việc mở rộng các dịch
vụ ngân hàng Nguồn vốn cũng cần có một cơ cấu vốn hợp lý giữa vốn nội tệ và ngoại tệ, vốn ngắn hạn và vốn dài hạn thì mới đáp ứng được các hoạt động nghiệp
vụ có thế mạnh và mang tính đặc thù của ngân hàng Tính ổn định của quy mô, cơ cấu nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng, xu hướng biến đổi của nguồn vốn đó cũng là một vấn đề cần được quan tâm
2.1.2 Tình hình sử dụng vốn của Sở giao dịch NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
2.1.2.1 Những thách thức trong thời gian qua
Thứ nhất, tại thời điểm tách ra, do toàn bộ các khách hàng lớn và các dự án
cho vay trung dài hạn và cho vay đồng tài trợ có dư nợ lớn đã chuyển lên Ngân hàng Ngoại thương Trung ương nên dư nợ cho vay khách hàng quy về VND của
Trang 32Sở giao dịch chỉ còn 2.200 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm tới 83% tổng dư nợ cho vay khách hàng Đây là một bất lợi lớn đối với Sở giao dịch
do nguồn vốn cho vay ngắn hạn luân chuyển nhanh dẫn đến thu nhập từ lãi không ổn định
Thứ hai, tỷ trọng cho vay khách hàng trên tổng nguồn vốn huy động lại quá
nhỏ, toàn bộ phần vốn huy động dôi ra sau khi trừ phần thanh khoản cần thiết đã được Sở giao dịch gửi Hội Sở chính, nhưng thu nhập của phần này lại phụ thuộc quá nhiều vào chính sách huy động vốn nội bộ của Hội Sở chính nên Sở giao dịch không chủ động được thu nhập trong hoạt động kinh doanh
2.1.2.2 Các biện pháp, chính sách đã thực thi
Nhận thức được vấn đề này, Ban giám đốc Sở giao dịch đã chỉ đạo khối tín dụng tập trung tăng dư nợ trên cơ sở sàng lọc các đối tượng khách hàng có tình hình tài chính tốt, làm ăn hiệu quả để cho vay vốn lưu động, đồng thời tích cực tiếp cận, tìm kiếm các dự án trung dài hạn có hiệu quả, có triển vọng để cho vay nhằm tăng
dư nợ, tăng tỷ trọng cho vay trung dài hạn trong tổng dư nợ cho vay, góp phần tăng trưởng ổn định tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Thêm vào đó, thực hiện chủ trương của Chính phủ về khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Sở giao dịch đã thành lập phòng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) nhằm tập trung mở rộng tín dụng đối với khách hàng này Kết quả, dư nợ cho vay nền kinh tế của Sở giao dịch tăng trưởng khá mạnh Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ quy VND qua các năm 2006, 2007, 2008 và 2009, 2010 so với năm trước tương ứng là 8,1%; 47,49%; 30,38% và 26,64%, 31,56%
Đối với cho vay trung và dài hạn, Sở giao dịch đã tiến hành phân quyền quản
lý và sử dụng giới hạn tín dụng đối với doanh nghiệp nhằm giúp rút ngắn thời gian, tăng cường hiệu quả trong giao dịch tài trợ thương mại cho khách hàng Sở giao dịch cũng đã hoàn thiện mẫu Hợp đồng cấp tín dụng tổng thể đối với các khách hàng đang vay vốn tại Sở giao dịch và đưa vào triển khai thực hiện bắt đầu
từ năm 2008 Sở giao dịch xây dựng giới hạn tín dụng cho các doanh nghiệp, thực hiện rà soát để chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp định kỳ và quản lý danh
Trang 33Bảng 2.3 Dư nợ năm 2010 của SGD NHNT
Đơn vị tính: tỷ VNĐ, triệu USD
Chỉ tiêu Năm 2010 So với 31/12/2009 (%)
VNĐ USD Quy VNĐ VNĐ USD Quy
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh SGD Vietcombank 2010)
Dư nợ tín dụng đối với khách hàng tính tại thời điểm ngày 31/12/2009 ước đạt 5.845,68 tỷ VNĐ chiếm 14.87% tổng nguồn vốn huy động, tăng 23,66% so với cuối năm 2008, trong đó dư nợ VNĐ và ngoại tệ quy USD ước đạt 3.141,45 tỷ đồng và 150,8 triệu USD Tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng danh mục tín dụng của Vietcombank đạt khoảng 25%, bên cạnh đó SGD còn áp dụng lãi suất ưu đãi với SMEs nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của các khách hàng hiệu quả này Dư nợ cho vay cá nhân chiếm 10% tổng dư nợ của SGD
Đến ngày 31/12/2010 dư nợ cho vay nền kinh tế tại SGD quy VND đạt 6.854,90 tỷ VND, tăng mạnh so với 31/12/2009 là 17.25% Dư nợ cho vay trung dài hạn và đồng tài trợ quy VNĐ của SGD đều tăng tương ứng là 21.04% và 60.95% Tuy nhiên, dư nợ cho vay ngắn hạn hầu như không tăng do thời gian năm 2010 đã hết hỗ trợ lãi suất ngắn hạn nên một số khách hàng đã giảm dư nợ so với năm 2009
Trang 342.1.3 Dịch vụ của Sở giao dịch NHTMCP Ngoại thương Việt Nam.
2.1.3.1 Thanh toán xuất nhập khẩu.
Năm 2007 là năm kinh doanh xuất nhập khẩu của cả nước tăng mạnh nhưng lại là năm tương đối khó khăn đối với hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của Sở giao dịch với doanh số thanh toán L/C, nhờ thu đều giảm đáng kể so với năm trước
do tình hình cạnh tranh gay gắt khi số lượng các chi nhánh các ngân hàng nước ngoài và TMCP tăng lên đáng kể trên địa bàn Hà Nội Trong năm này, về hoạt động thanh toán L/C, Sở giao dịch thực hiện 1.722 món giảm 679 món (28,28%) với doanh số đạt 234,55 triệu USD giảm 103,67 triệu USD (30,65%) Doanh số chiết khấu chứng từ đạt 24,6 triệu USD tăng 41,38% do nhu cầu chiết khấu chứng từ của các doanh nghiệp tăng đáng kể Doanh số chuyển tiền đến đạt 223,65 triệu USD và tăng mạnh so với năm 2006 là 99,62% Tổng kim ngạch thanh toán nhập khẩu của
cả 3 phương thức tại Sở giao dịch năm 2007 đạt 2.562,78 triệu USD, tăng 270 ngàn USD (11,78%) so với năm 2006 Trong đó thanh toán bằng nhờ thu và chuyển tiền tăng tương ứng là 24,87% và 24,72% nhưng thanh toán bằng L/C giảm 1,6% so với năm trước
Tình hình xuất nhập khẩu cả nước trong năm 2008 có nhiều diễn biến phức tạp do sự biến động mạnh về giá cả của các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu như dầu thô, sắt thép, lương thực…cũng như sự thay đổi bất thường trong cung cầu hàng hóa của thị trường thế giới do suy thoái toàn cầu Mặc dù vậy, Sở giao dịch vẫn làm tốt vai trò của mình với doanh số thanh toán xuất khẩu tăng 18,3%, doanh
số nhập khẩu tăng 28,9 % so với cùng kì năm 2007
Năm 2009 chịu sự tác động mạnh của cuộc khủng hoảng kinh tế và suy thoái toàn cầu, hoạt động xuất nhập khẩu của cả nước bị sụt giảm 13,2% so với năm
2008, mặt khác doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của toàn hệ thống Vietcombank cũng sụt giảm 23,8% nên Sở giao dịch cũng không tránh khỏi những khó khăn trong hoạt động xuất nhập khẩu với doanh số thanh toán xuất khẩu giảm 21,6%, doanh số nhập khẩu giảm 13,7% so với năm 2008
2.1.3.2 Hối đoái
Trang 35Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập vào nhiều tổ chức thương mại quốc tế, lượng ngoại tệ chảy vào Việt Nam ngày càng nhiều Trong giai đoạn từ 2006 – 2010 lượng khách du lịch nước ngoài đến Việt nam và nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ tiền mặt tiêu dùng tăng mạnh tại các đại lý thu đổi ngoại tệ và các điểm giao dịch của Sở giao dịch Trong năm 2007, nghiệp vụ ngoại tệ từ khách vãng lai và đại lý thu đổi ngoại tệ có số lượng giao dịch giảm 16,37% trong khi doanh số lại tăng 119,09% Lượng kiều hối chuyển về Sở giao dịch nhiều với doanh
số chi trả kiều hối đạt khoảng 30 triệu USD và tăng hơn 12,00% so với năm 2006 với khoảng 30.000 giao dịch
Năm 2008 ghi nhận sự tăng trưởng tốt của hoạt động phát hành và thanh toán thẻ Tổng lượng thẻ do Sở giao dịch phát hành tăng 28.9 % so với năm 2007, doanh
số thẻ quốc tế tăng 27,23 % Hệ thống ATM và điểm chấp nhận thẻ (POS) liên tục được mở rộng và nâng cấp, củng cố vị trí kinh doanh dẫn đầu trong toàn hệ thống Vietcombank của Sở giao dịch
Trong năm 2009, tất cả các chỉ tiêu về thẻ của Sở giao dịch đều vượt kế hoạch đề ra cả về số lượng thẻ mới phát hành cũng như doanh số thanh toán Tổng
số lượng thẻ do Sở giao dịch phát hành tăng 12,1% so với năm 2008, doanh số thanh toán thẻ quốc tế đạt 89,7% kế hoạch năm Tháng 4 năm 2009 Sở giao dịch áp dụng chuẩn EMV cho cả hai thương hiệu Visa và Mastercard, triển khai dịch vụ thanh toán trực tuyến trên internet cho thẻ quốc tế và thẻ nội địa, đáp ứng được yêu
Trang 36cầu sử dụng thẻ của khách hàng và bắt kịp với xu thế thị trường Đến năm 2010, dịch vụ thẻ của ngân hàng đã phát triển lớn mạnh, Sở giao dịch đưa ra những chiến thuật kinh doanh thẻ để cạnh tranh với các ngân hàng khác thu hút bởi những sự ưu đãi, thuận tiện và kinh tế khi dùng thẻ của ngân hàng
2.1.3.4 Kinh doanh ngoại tệ
Trạng thái ngoại tệ của Sở giao dịch luôn được duy trì cân bằng Trạng thái ngoại tệ đến 31/12/2007 của Sở giao dịch đối với các loại ngoại tệ khác quy USD
là 242.679,55 USD
Trong năm 2007, tỷ giá của Sở giao dịch NHTMCP Ngoại thương Việt Nam luôn được điều chỉnh theo sát với tỷ giá của NHNN công bố và tỷ giá USD/VND có biến động khác với xu hướng của các năm trước khi có xu hướng giảm dần vào cuối năm do USD đang mất giá trên thị trường quốc tế và lượng cung USD từ các dòng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng mạnh
Trước những diễn biến phức tạp trên thị trường tài chính, Sở giao dịch đã luôn bám sát thị trường để đưa ra các giải pháp thích hợp, kịp thời ứng phó, biến thách thức thành cơ hội trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ Tổng số mua bán ngoại tệ năm 2008 tăng 67% so với năm 2007, thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ tăng gấp 2,45 lần Sở giao dịch luôn giữ vững là chi nhánh dẫn đầu trong toàn hệ thống Vietcombank
Năm 2009 là năm rất khó khăn cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ do tình hình tỷ giá và thị trường ngoại tệ có nhiều biến động lớn, tình trạng căng thẳng cung ngoại tệ kéo dài Do vậy tổng doanh số mua bán ngoại tệ của Sở giao dịch giảm 12,8% so với năm 2008 Trong năm, Sở giao dịch đã bám sát trị trường, liên tục đưa
ra các chính sách chỉ đạo để thích ứng với sự thay đổi của thị trường, đồng thời áp dụng các biện pháp điều tiết mua ngoại tệ để hạn chế rủi ro Kết quả kinh doanh ngoại tệ trong năm đã đóng góp một nguồn thu đáng kể cho tổng thu nhập của toàn
bộ hệ thống Vietcombank
Đến năm 2010, là một năm có nhiều biến động lớn về thị trường ngoại tệ, mặc dù đã có sự khởi sắc hơn so với năm 2009 nhưng vẫn còn thấp và chưa tiến triển mạnh so với năm 2008 Vào thời điểm này Sở giao dịch đã rất thận trọng trong
Trang 37hoạt động kinh doanh ngoại tệ của mình, bởi đây là thời điểm nhạy cảm, các diễn biến về USD đã ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ, hơn nữa sự biến động mạnh mẽ của thị trường vàng trong nước và quốc tế ẩn chứa những rủi ro kinh doanh mà trong giai đoạn này ngân hàng bắt buộc phải đưa ra những quyết định thận trọng
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch NHTMCP Ngoại thương Việt Nam.
Bảng 2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh SGD 2006-2010
Đơn vị: tỷ đồng
Thu lãi cho vay 175,38 234,76 395,49 392,08 398,76Thu lãi tiền gửi tại HSC 1.646,53 1.914,24 2.654,74 2.584,05 2.867.04Thu về kinh doanh ngoại tệ 162,30 168,89 502,86 410,87 530,47Thu dịch vụ ngân hàng 148,48 147,62 166,23 164,31 168,52Thu khác 37,85 88,78 77,76 26,33 27,34
Trả lãi tiền gửi 1.180,71 1.472,23 2.328,91 2.392,82 2.543.08Trả lãi tiền vay 0,42 0,90 6,60 2,15 3,85Chi kinh doanh ngoại tệ 94,78 87,77 355,91 229,14 347,54Chi dịch vụ ngân hàng 27,76 33,98 57,08 22,02 34,48Chi khác 85,39 426,09 678,08 324,51 327,59Trong đó: Chi phí dự phòng 15,52 287,12 474,0584 103,79 134,66
Lãi chưa kể dự phòng 796,99 820,45 844,56 710,79 735,59
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh SGD Vietcombank 2006-2010)
Qua bảng số liệu trên ta có thể nhận thấy thu nhập từ lãi (tiền gửi và cho vay) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu của Sở giao dịch, tỷ lệ này hàng năm thường trên 80% Phần còn lại là thu từ các hoạt động dịch vụ khác
Trong những năm gần đây, mặc dù doanh thu của Sở giao dịch vẫn khá cao nhưng chi phí cũng tăng nhiều nên lãi có phần sụt giảm Lý do là vào năm 2007 và
2008, do cách trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được Ngân hàng Nhà nước quy định thay đổi từ việc thực hiện theo QĐ 488 chuyển sang QĐ 493 và sau đó là QĐ
số 18 nhằm tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế nên số dự phòng rủi ro tăng vọt dẫn
Trang 38đến sự sụt giảm của lãi tương ứng Đặc biệt năm 2008, Sở giao dịch phát sinh khoản
nợ xấu của công ty LD Container Vinashin với tổng trị giá gần 400 tỷ đồng nên số
dự phòng cụ thể phải trích cho đơn vị này khá lớn, dẫn đến dự phòng rủi ro phải trích tăng vọt Năm 2009, mặc dù tình hình kinh doanh vẫn gặp rất nhiều khó khăn nhưng Sở giao dịch đã đạt được kết quả khả quan hơn Lãi trước thuế của Sở giao dịch đạt 607 tỷ đồng, chiếm 30% tổng lãi của toàn hệ thống Vietcombank Đến năm
2010, Sở giao dịch đã đạt được lãi ổn định so với năm 2009 là 600,93 tỷ đồng, chứng tỏ hoạt động kinh doanh đã đi vào động ổn định và chịu ít sự tác động của những biến cố năm 2007, 2008 vừa qua
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN của Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
2.2.1 Khái quát về khu vực khách hàng DNVVN của Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Hiện nay, sự phát triển lớn mạnh của khu vực DNVVN trong nước thúc đẩy quan hệ tín dụng giữa khu vực này và ngân hàng ngày càng bền chặt và lớn mạnh Hàng năm con số DNVVN trong nước giao dịch tín dụng với các ngân hàng chiếm hơn 85% tổng DNVVN Chính vì vậy việc thu hút khách hàng khu vực này là một chiến lược kinh doanh của các ngân hàng
Tại Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương trong những năm vừa qua luôn đưa ra những chính chính tín dụng ưu đãi để thu hút và phát triển không những
về số lượng mà còn lựa chọn những đối tượng khách hàng chất lượng, đảm bảo Tính đến thời điểm 2010, số lượng khách hàng là DNVN ở Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương chiếm gần 90% trong tổng số khách hàng doanh nghiệp, và các doanh nghiệp lớn chỉ chiếm hơn 10% Như vậy có thể nói đối tượng DNVVN là một trong những đối tượng rất quan trọng của ngân hàng, đóng góp rất lớn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Biểu đồ 2.2 DNVVN có quan hệ tín dụng với SGD VCB 2006 - 2010