Một khi có rủi roxảy ra thì ngân hàng không thể nào thu được khoản phí đề bù đắp mất mát trong cho vay.Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng vay vốn không thực hiện đúng điều khoản tro
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU - 1
CHƯƠNG I CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG 3 1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1.1 Khái niệm và phân loại 3
1.1.1.1 Khái niệm 3
1.1.1.2 Phân loại tín dụng 4
1.1.2 Rủi ro tín dụng 6
1.2 PHÂN TÍCH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu 8
1.2.2 Nguyên tắc trong phân tích tín dụng 8
1.2.3 Nội dung và các phương pháp phân tích tín dụng 10
1.2.3.1 Tìm kiếm và thu thập thông tin về khách hàng 10
1.2.3.2 Phân tích thông tin thu thập được 11
1.2.3.3 Lưu trữ thông tin về khách hàng 22
1.2.3.4 Phương pháp phân tích tín dụng 23
1.3 CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG 25
1.3.1 Khái niệm 25
1.3.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng phân tích tín dụng 26
1.3.2.1 Chất lượng tín dụng của ngân hàng 26
1.3.2.2 Tốc độ tăng trưởng tín dụng 28
1.3.2.3 Thời gian phân tích tín dụng 28
1.3.2.4 Chi phí phân tích tín dụng 29
1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tín dụng 29
1.3.3.1 Nhân tố chủ quan 29
1.3.3.2 Nhân tố khách quan 33
Trang 2-CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH HOÀN KIẾM 35
2.1 TỔNG QUAN VỀ MB HOÀN KIẾM 35
2.1.1 Hoạt động huy động vốn 35
2.1.3 Hoạt động phi tín dụng khác 41
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh 42
2.2 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG TẠI MB HOÀN KIẾM 44
2.2.1 Phân cấp quản lý tín dụng tại MB Hoàn Kiếm 44
2.2.2 Quy trình các bước trong phân tích tín dụng tại MB Hoàn Kiếm 45
2.2.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tín dụng tại MB Hoàn Kiếm 47
2.2.3.1 Thông tin do khách hàng cung cấp 47
2.2.3.2 Thông tin do ngân hàng thu thập từ bên ngoài 48
2.2.4 Nội dung phân tích tín dụng tại MB Hoàn Kiếm 48
2.2.4.1 Phân tích điều kiện pháp lý 49
2.2.4.2 Phân tích hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp 49
2.2.4.3 Phân tích hoạt động tài chính đối với doanh nghiệp 50
2.2.4.4 Phân tích nguồn thu nhập thường xuyên đối với khách hàng cá nhân 52
2.2.4.5 Phân tích quan hệ tín dụng của khách hàng 53
2.2.5 Phân tích tín dụng khách hàng tiêu biểu tại MB Hoàn Kiếm 54
2.2.6 Đánh giá chất lượng phân tích tín dụng tại MB Hoàn Kiếm 66
2.2.6.1 Kết quả đạt được 66
2.2.6.2 Hạn chế 67
2.2.6.3 Nguyên nhân 68
-CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH HOÀN KIẾM 72
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN MB HOÀN KIẾM 72
-3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG TẠI MB HOÀN KIẾM 73
3.2.1 Hoàn thiện nội dụng và phương pháp phân tích tín dụng 73
Trang 33.2.1.1 Về nội dung phân tích tín dụng 73
3.2.1.2 Về phương pháp phân tích 75
3.2.2 Nâng cao năng lực, phẩm chất của cán bộ phân tích tín dụng 76
3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn thông tin 78
3.2.4 Tăng cường kiểm tra giám sát sau giải ngân 79
3.2.5 Nâng cao chất lượng, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho việc phân tích 80
3.3 KIẾN NGHỊ 80
3.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 80
3.3.2 Kiến nghị với cơ quan chức năng có liên quan 82
-KẾT LUẬN - 83
Trang 4-DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1 Quy trình cấp tín dụng của ngân hàng thương mại 8
Hình 1 Kết quả huy động vốn MB Hoàn Kiếm 20082010 36
Bảng 2.1: Huy động vốn theo loại hình tiền gửi 37
Bảng 2.2 Huy động vốn theo đối tượng khách hàng 37
Bảng 2.3 Dư nợ theo thời gian gốc của khoản vay 39
Bảng 2.4 dư nợ theo đối tượng khách hàng và loại hình doanh nghiệp 40
Bảng 2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh 2008 – 2010 42
Sơ đồ 2.2: Phân cấp phê duyệt tín dụng 45
Sơ đồ 2.3: Quy trình phân tích tín dụng 47
Bảng 2.6:Bảng cân đối kế toán Vinamotor 56
Bảng 2.7 Báo cáo kết quả kinh doanh của Vinamotor 58
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp chỉ số tài chính 59
Bảng 2.9 Tỷ lệ cho vay /giá bán đối với Vinamotor 62
Bảng 2.10 Báo cáo tình hình dư nợ của Vinamotor đến 30/09/2010 63
Bảng 2.11: Cơ cấu dư nợ phân theo nhóm nợ 66
Hình 3: Biểu đồ nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2008 – 2010 67
Trang 5-DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MB Hoàn Kiếm Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh
Hoàn Kiếm
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ,kinh doanh tiền tệ Với nền kinh tế đang phát triển như ở Việt Nam, cơ sở hạ tầng kỹthuật còn yếu kém thì để có thể tiến hành đầu tư thì cần số vốn rất lớn Và kênh dẫn vốnquan trọng nhất trong nền kinh tế là hệ thống ngân hàng Tín dụng ngân hàng không chỉ làđòn bẩy quan trọng trong nền kinh tế mà còn là nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quantrọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Hoạt động tín dụng tạo ra doanh thu cho ngân hàng song việc quản lý tín dụng,phân tích tín dụng cần phải cẩn trọng và xác đáng Vấn đề vê chất lượng phân tích tíndụng luôn là vấn đề nóng bỏng trong hoạt động kinh doanh của họ Chất lượng phân tíchtín dụng có liên quan mật thiết với các loại rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải nhất là rủi
ro tín dụng Chất lượng phân tích tín dụng kém dẫn đến việc xuất hiện các khoản nợ xấu,
nợ quá hạn từ đó có thể dẫn đến phá sản một ngân hàng hoặc toàn bộ một hệ thống Nềnkinh tế càng phát triển, nhu cầu vay vốn càng cao đồng nghĩa với rủi ro càng cao thì đòihỏi chất lượng phân tích tín dụng càng phải được nâng cao về chiều rộng lẫn chiều sâu,đây là cơ hội tăng hiệu quả hoạt động tín dụng, góp phần quan trọng thúc đẩy điều kiệnkinh tế xã hội phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động Việc phân tích tíndụng để đưa ra quyết định tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự tăng trưởng và phát triểncủa ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung
Sau một thời gian thực tập tại phòng Quản lý tín dụng tại Ngân hàng Quân đội –Chi nhánh Hoàn Kiếm cùng với kiến thức đã tích lũy được trên ghế nhà trường, em đã
chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng phân tích tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh Hoàn Kiếm” làm chuyên đề thực tập cho mình.
Từ những lý luận cơ bản về vấn đề phân tích tín dụng, chuyên đề sẽ phân tích,đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến các mặt hạn chế hiện tại Ngân hàngQuân đội – Chi nhánh Hoàn Kiếm
Trang 8Nội dung nghiên cứu của chuyên đề ngoài phần mở đầu, kết luận còn gồm có 3chương chính:
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về chất lượng phân tích tín dụng
Chương 2: Thực trạng phân tích tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh Hoàn Kiếm
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tín dụng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh Hoàn Kiếm.
Trang 9CHƯƠNG I CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG
PHÂN TÍCH TÍN DỤNG1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm và phân loại
1.1.1.1 Khái niệm
Tín dụng xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công lao động và phát triển chế độ tưhữu về tư liệu sản xuất Khi mà lực lượng sản xuất phát triển sẽ là điều kiện khiến cho sựphân công lao động phát triển và từ đó, xã hội hình thành nên sự phân hoá giàu nghèo.Một số người dư thừa về của cải, tiền tệ trong khi một số khác thì không đáp ứng đượccác nhu cầu cần thiết Khi đó, tín dụng xuất hiện như một hình thức cho vay nặng lãi Sảnxuất ngày càng phát triển thì cho vay nặng lãi mất dần tác dụng, đòi hỏi loại hình khácphù hợp với quá trình sản xuất và phát triển của nền kinh tế thị trường, quá trình chuchuyển vốn qua các giai đoạn khác nhau Những người có nhu cầu về vốn để mở rộnghoạt động sản xuất kinh doanh sẽ liên hệ với những người có vốn dỗi dài chưa sử dụngđến nhưng mong muốn vốn đó được sinh lời Nhưng không phải lúc nào sự gặp gỡ nàycũng được tiến hành một cách thuận lợi do nhiều lý do như khoảng cách địa lý, sự chênhlệch về thời gian, khối lượng cần sử dụng… Vì thế, ngân hàng ra đời như là một cầu nốitrung gian để giải quyết được vấn đề này Vậy tín dụng ngân hàng là gì?
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn bằng tiền tệ, hàng hoá và dịch vụ theonguyên tắc hoàn trả giữa một bên là ngân hàng và một bên là các tổ chức, cá nhân trong
xã hội Trong đó, ngân hàng là người đi vay để cho vay Trong phạm vi nghiên cứu của đềtài này, tín dụng ngân hàng được hiểu là giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và kháchhàng trong đó ngân hàng chuyển giao một số tiền nhất định cho khách hàng sử dụng trongmột thời hạn nhất định theo thoả thuận, khách hàng có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi chongân hàng khi đến hạn Tín dụng ngân hàng có những đặc điểm sau:
Trang 10- Tín dụng ngân hàng luôn diễn ra dưới hình thái tiền tệ Ngân hàng huy động vốnnhàn rỗi trong toàn xã hội để hình thành nguồn vốn cho vay và cho các chủ thể khác trong
xã hội
- Ngân hàng đóng vai trò là người trung gian, làm cầu nối giữa những người thừavốn và những người thiếu vốn trong nền kinh tế Chính vì thế hoạt động chính của ngânhàng là huy động vốn và cho vay vốn
- Sự vận động của tín dụng ngân hàng thể hiện tính độc lập tương đối với sự vậnđộng của quá trình tái sản xuất Khi khối lượng sản xuất hàng hoá tăng lên thì nhu cầuvốn đặc biệt là từ các ngân hàng cũng tăng lên Như vậy vốn tín dụng từ các ngân hàngvận động phù hợp với quá trình tái sản xuất xã hội Nhưng trong nhiều trường hợp, vốn từtín dụng ngân hàng được sử dụng với mục đích khác nhau như tiêu dùng, đầu tư cổphiếu… Như vậy, nhu cầu tín dụng ngân hàng vẫn gia tăng nhưng sản xuất và lưu thônghàng hoá không tăng hoặc khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, các doanh nghiệp mởrộng sản xuất nhưng tín dụng ngân hàng không đáp ứng được một cách kịp thời Vì thế sựvận động của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối so với sự vận động của quá trình sảnxuất
1.1.1.2 Phân loại tín dụng
Phân loại các hình thức tín dụng giúp ngân hàng giám sát và kiểm tra các khoản nợhiện có theo các mức độ khác nhau, xác định chất lượng và mức độ rủi ro của nhữngkhoản nợ, từ đó có chế độ quản lý thích hợp đối với từng khoản vay
Trang 11 Căn cứ theo thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng, chủ yếu để đápứng nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm, chủ yếu đượcdùng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật hoặc đổi mới công nghệ… Bên cạnh đócòn là nguồn hình thành vốn lưu động cho các doanh nghiệp mới thành lập
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, chủ yếu được dùng đểcấp vốn xây dựng cơ bản, cái tiến mở rộng sản xuất có quy mô lớn
Căn cứ vào đối tượng tín dụng
- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng cung cấp nhằm đáp ứng vốn lưu động chodoanh nghiệp như để dự trữ hàng hoá, mua sắm nguyên vật liệu cho sản xuất, thanh toáncác khoản nợ dưới hình thức chiết khấu
- Tín dụng vốn cố định:là loại tín dụng cung cấp để hình thành vốn cố định Loạitín dụng này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn, thường được sửdụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xâydựng xí nghiệp và công trình mới
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
- Tín dụng không có đảm bảo: cho vay không cần tài sản đảm bảo hoặc sự bảo lãnhcủa người thứ ba Việc cho vay này chỉ dựa trên uy tín đặc biệt là đối với khách hàng lâunăm, trung thực trong tài chính và có khả năng tài chính lành mạnh Mặc dù không có tàisản đảm bảo song đây là loại hình tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì chủ yếu khách hàng
có uy tín rất lớn và khả năng trả nợ rất cao thì mới được cấp tín dụng không cần đảm bảo
- Tín dụng có đảm bảo: là loại cho vay mà khách hàng phải có tài sản đảm bảohoặc bảo lãnh của bên thứ ba Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý đế ngân hàng có thêmnguồn thu thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền vâytrong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ
Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Trang 12- Cho vay có thời hạn là loại cho vay có thoả thuận về thời hạn và cách thức trả nợtrong hợp đồng.
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ: là loại cho vay thanh toán một lần theo thời hạn đãthoả thuận
+ Cho vay nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể là hình thưc cho vay mà khách hàng phải hoàn trả cảgốc và lãi định kỳ Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng trong cho vay Bất động sản,cho vay tiêu dùng và ho vay đối với các nhà kinh doanh nhỏ
- Cho vay không có thời hạn trả nợ cụ thể: người đi vay có thể tự nguyện trả nợ bất
cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời hạn hợp lý được thoả thuận trong hợp đồng tíndụng
Căn cứ vào xuất xứ
- Tín dụng trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng, đồng thừoingười đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng
- Tín dụng gián tiếp: khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khếước hay chứng từ nợ đã phát sinh còn trong thời hạn thanh toán như trái phiếu, thươngphiếu…
1.1.2 Rủi ro tín dụng
Kinh doanh ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt vì đối tượng kinhdoanh là tiền và thu nhập chủ yếu của ngân hàng là từ hoạt động tín dụng Trong khi đó,bất kỳ một khoản vay cho vay nào cũng đều chứa đựng rủi ro nhất định Một khi có rủi roxảy ra thì ngân hàng không thể nào thu được khoản phí đề bù đắp mất mát trong cho vay.Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng vay vốn không thực hiện đúng điều khoản tronghợp đồng tín dụng: khách hàng trả chậm gốc và lãi, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả
nợ khi đến hạn thanh toán từ đó gây ra tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt độngkinh doanh của ngân hàng Như vậy, rủi ro tín dụng là kết quả của mối quan hệ tín dụngkhông hoàn hảo, vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự hoàn trả và tính thời hạn Vềbản chất, đây là loại rủi ro đa dạng và phức tạp, rất khó quản lý và và thường xuyên lànguyên nhân dẫn đến rủi ro khác, rủi ro tín dụng của một ngân hàng thể hiện ra ngoàichính là khối lượng nợ quá hạn mà ngân hàng đó phải gánh chịu Ở mức độ thấp rủi ro tín
Trang 13dụng là mất đi cơ hội, khả năng tích luỹ vốn, làm giảm sức cạnh tranh của ngân hàng Khirủi ro tín dụng ở mức không thể kiểm soát được thì sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản và đưangân hàng đến bờ vực phá sản Nguyên nhân của rủi ro tín dụng:
- Nguyên nhân khách quan: do khách hàng vay vốn gặp phải nguyên nhân bất khảkháng làm giảm hoặc mất khả năng thanh tón cho ngân hàng như là thiên tai, dịch bệnh,chiến tranh… vượt quá tầm kiểm soát của người vay Những thay đổi này thường xuyênxảy ra và tác động liên tục đến người vay Với những khách hàng tốt, có tình hình tàichính mạnh, có khả năng dự báo cũng như thích ứng với khó khăn thì họ vẫn có khả năngtrả nợ đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng Tuy nhiên tác động của các nguyên nhân bấtkhả kháng tới người vay là khá nặng nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm
- Nguyên nhân từ khách hàng vay: đối với các doanh nghiệp vay vốn kinh nghiệm
và năng lực hoạt động kinh doanh còn ở mức độ thấp, hầu hết đều không nắm bắt thôngtin kịp thời, thiếu tính cạnh tranh Vì vậy khi dự án vay vốn gặp khó khăn, khả năng trả nợcủa khách hàng gặp vấn đề thì rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi Nhiều kháchhàng lợi dụng điểm yếu của ngân hàng thương mại để tiến hành lừa đảo, lập hồ sơ khống,giấy tờ kinh doanh giả để vay được vốn Hơn nữa khách hàng vay vốn sử dụng sai mụcđích so với hợp đồng tín dụng khiến nguồn trả nợ trở nên bấp bênh Do vậy rủi ro tíndụng sẽ rất dễ xảy ra
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng: việc mở rông hoạt động cho vay quá mức làđiều kiện cho rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng lên Mở rộng tín dụng quá mức đồngnghĩa với việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát của cán bộ tín dụngđối với việc sử dụng khoản vay giảm xuống đồng thời việc tuân thủ quy trình tín dụng bịlơi lỏng
Rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan, là bạn đường trong kinhdoanh, có thể đề phòng, hạn chế song không thể loại trừ Có rất nhiều cách thức để hạnchế rủi ro tín dụng mà quan trọng trong đó là phân tích tín dụng khách hàng để xem xétxem những khách hàng nào rủi ro lớn, khách hàng nào ít rủi ro để từ đó đưa ra quyết địnhcho vay hợp lý, các biện pháp phòng ngừa làm giảm rủi ro tín dụng
Trang 141.2 PHÂN TÍCH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu
Quy trình cấp tín dụng của ngân hàng thương mại gồm có các bước: 1 Lập hồ sơvay vốn; 2 Phân tích tín dụng; 3 Quyết định tín dung; 4 Giải ngân; 5 Giám sát, thu hồi
và thanh lý hợp đồng Trong đó phân tích tín dụng là bước vô cùng quan trọng, có ý nghĩaquyết định đến chất lượng khoản cho vay của ngân hàng
Sơ đồ 1.1 Quy trình cấp tín dụng của ngân hàng thương mại
Phân tích tín dụng là việc ngân hàng xem xét một cách toàn diện đề nghị vay vốn
cụ thể của khách hàng nhằm đánh giá khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sửdụng vốn vay cũng như khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng Do đó mục tiêu của phântích tín dụng là xác định rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro
- Phân tích tín dụng chính là cơ sở quan trọng để đưa ra quyết định tín dụng vì thếmục tiêu của nó là giúp ngân hàng sàng lọc được khách hàng tốt, khách hàng tiềm năng
để cho vay, hạn chế tình trạng thông tin không cân xứng
- Phân tích tín dụng dự đoán các rủi ro có thể xảy ra sau khi ngân hàng cấp tíndụng cho khách hàng do đó giúp ngân hàng đưa ra được các biện pháp phải áp dụng đểphòng ngừa, hạn chế rủi ro đó Và việc đánh giá mức độ rủi ro của khoản tín dụng trongquá trình phân tích tín dụng giúp ngân hàng xác định được lãi suất cho vay Mức độ rủi rocàng cao thì lãi suất cho vay càng cao
1.2.2 Nguyên tắc trong phân tích tín dụng
Bất kỳ một hoạt động nào cũng chứa đựng rủi ro của nó, đặc biệt đối với ngânhàng kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, là người đi vay để cho vay phải đối mặt với rấtnhiều loại rủi ro Vì thế, trong hoạt động cho vay của ngân hàng luôn có những nguyêntắc tín dụng nhất đinh
Phân tích tín dụng
Quyết định tín dụng
Quyết định tín dụng
Giải ngân
Giải ngân
Giám sát, thu hồi và thanh
lý hợp đồng
Giám sát, thu hồi và thanh
lý hợp đồng
Trang 15- Khách hàng vay vốn ngân hàng có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và
có hiệu quả, không trái với quy định của pháp luật và quy định khác của ngân hàng cấptrên Tính mục đích của tín dụng được thể hiện ở chỗ lựa chọn đối tượng cho vay: cho aivay và cho vay gì? Tín dụng cung ứng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêucầu về phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển Đối với tổ chức kinh tế, tíndụng cũng phải đứng ứng được mục đích cụ thể trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh để thúc đẩy các tổ chức này hoàn thành nhiệm vụ của mình
- Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kếttrong hợp đồng tín dụng Nguyên tắc này đề ra nhằm đảm bảo cho ngânhàng thương mạitồn tại và hoạt động bình thường Bởi nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồnvốn huy động Đó là bộ phận tài sản của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý
và sử dụng, ngân hàng phải có nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu rút tiền của khách hàng mà
họ yêu cầu Nếu các khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnhhưởng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng
- Ngân hàng tài trợ vốn dựa trên phương án, dự án sản xuất kinh doanh, đầu tư cóhiệu quả Việc làm này là để đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng, thể hiện được khảnăng trả nợ của khách hàng Các khoản trả nợ của ngân hàng phải gắn liền với hình tháitài sản của người vay Trong trường hợp phương án cho vay kém an toàn, ngân hàng sẽyêu cầu thêm tài sản đảm bảo hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Một ngân hàng chắc chắn khó có thể có sự hiểu biết đầy đủ về một khách hàng,đặc biệt là sự hiểu biết về tương lai Vì thế mà cần phải có nguyên tắc tín dụng để cán bộtín dụng tuân thủ khi thẩm định Những nguyên tắc này không quá cứng nhắc và cần đượcvận dụng mềm dẻo trong quá trình phana tichs tín dụng
- Chất lượng tín dụng quan trọng hơn việc tìm kiếm các cơ hội mới Các ngân hàngthường mong muốn mở rộng tín dụng luôn đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng Trongthực tế vào những giai đoạn mà ngân hàng mở rộng cho vay thì thường xuyên bỏ qua quychế liên quan đến kiểm soát rủi ro Vì thế nên nhận thấy rằng trong mọi trường hợp chấtlượng tín dụng luôn được quan tâm bởi:
Trang 16+ Bất kỳ một khoản vay nào, dẫu cho điều kiện có thuận lợi nhất, cùng đều hàm chứa rủi
ro nhất định
+ Không thể có một mức lãi suất cao nào có thể đủ bù đắp những tổn thất của khoản chovay có rủi ro
+ Tài sản đảm bảo không phải và vật thay thế cho việc trả nợ
- Mọi khoản cho vay nên có hai nguồn thu nợ ngay từ đầu: từ phương án sản xuấtkinh doanh, tài sản cầm cố, thế chấp … hoặc nếu không chí ít cũng phải có phương án dựphòng khi không thanh toán được khoản nợ
- Khi nghi ngờ phẩm chất của khách hàng vay vốn, Ngân hàng nên từ chối bởi rủi
ro đạo đức của khách hàng là không thể lượng hoá được
1.2.3 Nội dung và các phương pháp phân tích tín dụng.
Để đánh giá, lựa chọn khách hàng vay vốn, ngân hàng cần xem xét, đánh giá, phântích trên nhiều nội dung Trong quy trình phân tích, ngân hàng lại áp dụng các phươngpháp khác nhau để có thể có được những thông tin, kết quả đánh giá chính xác nhất vềkhách hàng, từ đó sẽ đưa ra hạn mức tín dụng Nội dung của quy trình phân tích tín dụnggồm 3 phần:
- Tìm kiếm và thu thập thông tin về khách hàng
- Phân tích thông tin thu thập được
- Lưu trữ thông tin sử dụng trong tương lai
1.2.3.1 Tìm kiếm và thu thập thông tin về khách hàng.
Đây là bước quan trọng nhất, quyết định chất lượng phân tích tín dụng Chủ yếu làtìm kiếm, xử lý thông tin liên quan đến khách hàng: năng lực sử dụng vốn vay, uy tín, khảnăng tạo ra lợi nhuận, các tài sản sở hữu và các điều kiện kinh tế khác có liên quan đếnngười vay Để có nguồn thông tin tốt, cán bộ ngân hàng phải có kỹ năng nhận biết địađiểm nguồn thông tin, cách thức thu thập, chọn lọc, xử lý và sử dụng tốt thông tin cầnthiết Ở giai đoạn này, Ngân hàng có thể tìm kiếm thông tin qua các phương pháp sau:
Phỏng vấn trực tiếp khách hàng và các thông tin do khách hàng cung cấp
Trang 17Đây là bước rất quan trọng Các cuộc nói chuyện trực tiếp với khách hàng vừa duy trìđược mối quan hệ vừa là cơ hội để đánh giá tính cách, sự thông minh, nhanh nhạy, khảnăng của khách hàng Khách hàng có thể bộc lộ rất nhiều qua các cuộc phỏng vấn và sựnhạy cảm trong nghề nghiệp của các cán bộ Ngân hàng ở đây là rất quan trọng Khai thácthông tin được nhiều hay ít, có ích hay không đều là do kinh nghiệm của nhân viên trongNgân hàng
Mua hoặc tìm kiếm thông tin từ các nguồn bên ngoài:
Qua các cơ quan quản lý, bạn hàng, chủ nợ khác của khách hàng, trung tâm thông tin, hồ
sơ tín dụng cá nhân, hồ sơ của toà án, các nguồn thông tin báo chí, hồ sơ tại ngân hàng,qua các công ty điều tra độc lập Tìm hiểu khách hàng trong thời gian ngắn không phải làđơn giản Phương pháp này giúp phân tích người vay qua mối liên hệ của họ, cho thấyđược uy tín, tình trạng rủi ro, đang trong thời kỳ nào của quá trình kinh doanh
Thăm cơ sở của khách hàng:
Giúp cho ngân hàng có cái nhìn chân thực nhất về doanh nghiệp Khi đến thăm cơ sở cầnlưu ý ở các điểm: tình trạng của nhà xưởng, tài sản, thiết bị, xem xét xem tài sản ghi trongbảng tổng kết tài sản có tồn tại hay không, được bảo dưỡng như thế nào, chi phí đầu tư cơbản cho tương lai, tình trạng công nghệ của doanh nghiệp, khối lượng sản xuất, lượnghàng lưu kho cũ, tinh thần và thái độ của nhân viên
1.2.3.2 Phân tích thông tin thu thập được
Sau khi thu thập được thông tin, ngân hàng sẽ tiến hành phân tích đối với kháchhàng trên nhiều tiêu chí để có thể đưa ra quyết định cho vay hay không, lãi suất và kỳ hạntrả nợ như thế nào là hợp lý
Trang 18hàng Do vậy năng lực pháp lý là nội dung đầu tiên ngân hàng phải đánh giá để đảm bảoquan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng để bảo vệ lợi ích của các bên tham gia.
- Đối với khách hàng cá nhân: đều được yêu cầu hoàn tất và cung cấp báo cáo chitiết về tình trạng bản thân như chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu… Người vay có thể
bỏ sót thông tin hoặc cung cấp thông tin không đúng, vì vậy ngân hàng cần kiểm tra mộtcách cẩn thận, nếu nghi ngờ thì phải tìm mọi cách làm sáng tỏ vấn đề
- Đối với khách hàng doanh nghiệp: cần phân tích và đánh giá những vấn đề chủyếu về tư cách vay nợ, năng lực, tư cách pháp nhân của ban giám đốc
- Đối với khách hàng là doanh nghiệp mới: thì việc phân tích là hết sức khó khăn
do không có lịch sử kinh doanh, thông tin hiếm hoi nên cần tập trung vào tư cách pháp lýthật sự, uy tín, khả năng kinh nghiệm của giám đốc, nhân viên
Uy tín của khách hàng: uy tín không chỉ đơn giản là sẵn lòng trả nợ mà còn có
ý nghĩa quyết định thực hiện giao ước trong hợp đồng tín dụng Một khách hàng có tìnhhình tài chính tốt, xong không sẵn lòng trả nợ ngân hàng thì vẫn tìm mọi cách để trì hoãn
nợ Do vậy ngân hàng cần lựa chọn khách hàng được đánh giá là có uy tín Đối với doanhnghiệp có thể đánh giá qua văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp, uy tín của chủ doanhnghiệp, hồ sơ quá khứ trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng Việc đánh giá thườngmang tính chủ quan, do vậy cán bộ ngân hàng cần phải có kinh nghiệm và kỹ năng tốttrong phân tích đánh giá khách hàng
b Phân tích tài chính của khách hàng
Phân tích tài chính là phân tích hiện trạng tài chính, chủ yếu là để đánh giá xemkhách hàng đang hoạt động tốt hay xấu, có hiệu quả hay không, đang ở giai đoạn nàotrong chu kỳ sản xuất kinh doanh, có khả năng thực hiện kế hoạch tương lai hay không
- Đối với khách hàng cá nhân: phân tích tài chính là phân tích nguồn thu nhập, chiphí của thường xuyên của khách hàng
- Đối với khách hàng doanh nghiệp: phân tích tài chính là phân tích các báo cáo tàichính của khách hàng trong khoảng thời gian 2 – 3 năm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kếtquả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính…
Phân tích báo cáo tài chính thường được thực hiện theo các phương pháp sau:
Trang 19- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng khoản mục so với tổng sốtrong báo cáo tài chính và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại khoản mục, tạođiều kiện thuận lợi cho việc so sánh.
- So sánh theo chiều ngang (so sánh các con số trên từng khoản mục trên báo cáotài chính của thời kỳ liên tiếp nhau) để thấy sự biến động cả về số tuyệt đối và tương đốicủa một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Phương pháp phân tích chỉ số tài chính
Để đạt được mục tiêu phân tích tín dụng trong thời gian nhanh nhất và chính xácnhất có thể, ngân hàng áp dụng tỷ lệ phản ánh năng lực tài chính của khách hàng Các chỉ
số này dựa chủ yếu vào báo cáo tài chính của khách hàng
- Nhóm chỉ số về khả năng năng thanh toán: năng lực trả nợ đáo hạn của doanh
nghiệp là một tiêu chí quan trọng phản ánh tình hình tài chính, năng lực kinh doanh củadoanh nghiệp, đánh giá quan trọng hiệu quả tài chính, thông qua việc đánh giá và phântích về mặt này, có thể thấy rõ những rủi ro tài chính của doanh nghiệp
- Nhóm chỉ số về khả năng hoạt động: đánh giá năng lực kinh doanh của khách
hàng: đó là năng lực tuần hoàn của vốn, một mặt quan trọng trong hiệu quả tài chính củadoanh nghiệp Vì vốn được sử dụng để đầu tư vào các loại tài sản: tài sản lưu động, tàisản cố định, nên cần phải đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản và từng bộ phận cấuthành nên tổng tài sản Sự tuần hoàn của vốn của doanh nghiệp là sự vận động thống nhấtcủa vốn tiền tệ, vốn sản xuất, vốn hàng hoá dịch vụ Trong đó, sự vận động của hàng hoádịch vụ có ý nghĩa quan trọng vì hàng hóa dịch vụ có được tiêu dùng thì mới thực hiện
Trang 20được giá trị, thu hồi vốn và hoàn thành vòng tuần hoàn của nó Tình hình vận động vốncủa doanh nghiệp tốt chứng tỏ trình độ quản lý kinh doanh của doanh nghiệp cao, hiệusuất sử dụng tiền vốn cao Ngược lại chứng tỏ hiệu quả sử dụng vống của doanh nghiệpthấp.
- Nhóm chỉ số về cơ cấu vốn: chỉ tiêu dùng để đo lường phần vốn góp của chủ sở
hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của chủ nợ và có ý nghĩa quan trọng trong phân tíchtài chính Nếu chủ sở hữu chỉ đóng một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro xảy ra trongsản xuất do chủ nợ gánh chịu Mặt khác, bằng cách tăng vốn thôngq ua vay nợ, các chủdoanh nghiệp vẫn nắm quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp
- Nhóm chỉ số về khả năng sinh lời: thông qua các tỷ số lợi nhuận, ngân hàng đánh
giá năng lực thu lợi của doanh nghiệp Vì lợi nhuận là kết quả cuối cùng trong kinhdoanh, thu được lợi nhuận là mục tiêu chủ yếu của sự tồn tại doanh nghiệp, là một mặtquan trọng trong đánh giá thành tích tài chínhc của doanh nghiệp Đây là chỉ tiêu rất quantrọng với ngân hàng vì doanh thu thuần là một trong những nguồn tiền chủ yếu để trả nợ
Bản chất của phương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinhlợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản ROA, thu nhập sau thuế trên vốn chủ sởhữu ROE thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối thươgn quan nhân quả với nhau Điều
đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp Thông qua việc
sử dụng phương pháp phân tích Dupont từ trên xuống không những tìm hiểu được tìnhtrạng chung của doanh nghiệp cùng các quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu đánh giá tàichính mà còn làm rõ nhân tố ảnh hưởng làm biến động tăng giảm các chỉ tiêu tài chínhchủ yếu, cùng các vấn đề còn tồn tại
Trong quá trình phân tích có thể thực hiện tách các chỉ tiêu ROE, ROA như sau
Thu nhập sau thuế Thu nhập sau thuế Tổng tài sản A
Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu E
Trang 21Thu nhập sau thuế Thu nhập sau thuế Doanh thu
Tổng Tài sản Doanh thu Tổng tài sản
Phương pháp phân tích lưu chuyển tiền tệ
Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ, ngân hàng xác định được tiền của doanhnghiệp tạo ra từ đâu và được sử dụng để làm gì, có phục vụ cho mục đích sản xuất kinhdoanh hay không
- Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liênquan đến hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và thanh toán các khoản nợ phải trả liênquan đến hoạt động sản xuất kinh doanh Do vậy chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền tệ từ hoạtđộng kinh doanh bao gồm: tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu khác, tiềntrả nợ cho người cung cấp hàng hoá, lao động, tiền nộp thuế…
- Dòng tiền từ hoạt động đầu tư thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đến việcmua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản, xây dựng cơ bản, hoạt động cho vay, mua báncông cụ nợ của các đơn vị khác, đầu tư vào các đơn vị khác
- Dòng tiền từ hoạt động tài chính thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đếnnghiệp vụ nhận vốn, rút vốn từ chủ sở hữu, các nghiệp vụ đi vay, trả nợ…
Dòng tiền vào hoặc ra của doanh nghiệp liên quan đến cả 2 hoạt động: sản xuấtkinh doanh, đầu tư, tài chính Nên để phân tích dòng tiền vào ra gắn với từng hoạt độngcần thiết phải phân loại nội dung của từng khoản thu, chi theo từng loại hoạt động này
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính tương lai
Phân tích báo cáo tài chính tương lai là việc lập và phân tích báo cáo tài chính củakhách hàng dự kiến trong tương lai Phân tích báo cáco tài chính trong quá khứ để giúpngân hàng nhìn nhận lại tình hình tài chính trong quá khứ và hiện tại Song vấn đề trả nợđược ngân hàng hay không lại phụ thuộc vào tương lai, khách hàng vay vốn ngân hàng đểđầu tư cho tương lai Vì thế dự báo tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp làrất quan trọng Phân tích báo cáo tài chính tương lai giúp ngân hàng phần nào dự báođược trước tình hình và nhu cầu tài chính của doanh nghiệp, có thể được sử dụng nhưchuẩn mực để đánh giá kết quả hoạt động thực tế Phương pháp phân tích báo cáo tài
Trang 22chính tương lai yêu cầu cán bộ phân tích phải có kinh nghiệm, hiểu biết và có khả năng
dự báo được diễn biến thị trường cũng như lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt độngtrong tương lai Bởi để xây dựng được báo cáo tài chính dự kiến thì ngân hàng phải đưa racác giả định về yếu tố tương lai như: tốc độ tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ lợi nhuận, tỷ lệchi phí biến đổi theo doanh thu, thuế, vòng quay hàng tồn kho…Từ đó xây dựng nên báocáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ Khi đó sẽ thấyđược khoản mất câng bằng về vốn, đó chính là nhu cầu tài chính doanh nghiệp cần bổsung
c Phân tích phương án vay vốn
Ngân hàng tiến hành phân tích phương án vay vốn để biết được tiền của mình chovay được đầu tư vào đâu, sử dụng như thế nào, có hiệu quả hay không và nguồn trả nợcho ngân hàng là từ đâu…
Đánh giá tính khả thi của phương án là xem xét xem phương án có thể được thực hiệntrong thực tế hay không hay chỉ là trên giấy tờ, sổ sách
- Đánh giá khả năng cung cấp đầu vào: bao gồm đánh giá về nguyên vật liệu để sảnxuất: nguồn cung cấp, số lượng, chất lượng, giá cả có biến động nhiều hay không, phươngthức thanh toán là gì, thời gian giao hàng
- Năng lực sản xuất của khách hàng: bao gồm về trình độ lao động của nhân viên,
cơ sở vật chất, dây chuyền công nghệ, tính toán các yếu tố chi phí, so so sánh với doanhthu dự kiến để xác định được kế hoạch lợi nhuận để đảm bảo tính thành công của phươngán
- Khả năng tiêu thụ: căn cứ vào hợp đồng tiêu thụ, thị trường truyền thống, hệthống bán hàng, kết quả bán hàng kỳ trước, giá bán, phương thức thanh toán để xác địnhkhả năng đạt được doanh thu dự kiến Doanh nghiệp chỉ có thể thành công khi phương ánkinh doanh có thị trường đầu ra ổn định, chắc chắn
Trên cơ sở tính toán về doanh thu, chi phí của phương ánh do doanh nghiệp cungcấp, ngân hàng xem xét lại tính hợp lý của doanh thu dự trên thị trường đầu ra của
Trang 23phương án, chi phí dựa trên thị trường đầu vào Để đánh giá được một cách chính xác, đòihỏi cán bộ tín dụng có am hiểu về lĩnh vực kinh doanh ucả phương án, có thông tin đầy
đủ về giá cả, nhu cầu sản phẩm, các chi phí cần thiết trong quá trình sản xuất nhằm dựbáo doanh thu doanh nghiệp có thể đạt được và không bỏ sót chi phí hoặc đẩy chi phí lênquá cao
Nguồn trả nợ của ngân hàng là nguồn thu từ phương án kinh doanh Do đó ngânhàng cần đánh giá xem thời gian thu hồi vốn của doanh nghiệp, khả năng bên mua thanhtoán tiền hàng, phương thức thanh toán… Việc đánh giá này làm cơ sở xác định thừoigian cho vay hợp lý và biện pháp quản lý doanh thu Trong việc này, để thuận lợi cho việcthu hồi vốn vay, ngân hàng thường yêu cầu người vay có tài khoản tại ngân hàng và thựchiện chi trả thanh toán qua tài khoản đó Điều này giúp ngân hàng có thể xem xét đượckhi nào doanh nghiệp có tiền và thực hiện phương án trả nợ của mình
Trên cơ sở phân tích các yếu tố trên, ngân hàng lựa chọn phương án kinh doanh cótính khả thi, có hiệu quả, thời gian cho vay, số tiền cho vay phù hợp và các điều khoảnrằng buộc trong giải ngân để hạn chế rủi ro cho ngân hàng
d Phân tích dự án đầu tư
Dự án đầu tư là luận chứng kinh tế kỹ thuật, là văn bản phản ánh trung thực kếtquả nghiên cứu toàn bộ vấn đề thị trường, kinh tế, kỹ thuật… Phân tích dự án đầu tư củakhách hàng là thu thập và xử lý thông tin một cách khách quan, toàn diện với nội dung cơbản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án làm căn cứ để quyết định cho vay Nộidung phân tích:
Sự cần thiết và hiệu quả của việc đầu tư
- Cán bộ phân tích tiến hành kiểm tra cơ sở pháp lý của dự án: luận chứng kinh tế
kỹ thuật có được cấp thẩm quyền phê duyệt, các hợp đồng thương mại, các quy định phêduyệt của cấp chủ quản, các văn bản có liên quan…
- Xác định mục tiêu của dự án có thực sự cần thiết, phù hợp với chủ trưởng củanhà nước hay không Sau khi đầu tư, dự án được thực hiện sẽ có góp góp gì vào mục tiêutăng thu nhập cho nền kinh tế, doanh nghiệp khai thác và sử dụng tài nguyên cơ sở vật
Trang 24chất đã cáo, tạo công ăn việc làm.Trong trường hợp đầu tư máy móc thiết bị để hợp lý hoásản xuất, cán bộ tín dụng phải phân tích năng lực tài chín hiện có, công đoạn thừa thiếunăng lực sản xuất để bổ sung thiết bị cần thiết.
- Khi vay vốn, khách hàng cũng cần chứng minh được khả năng thực thi công trìnhcủa mình như khả năng xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị, phương thứcthanh toán, địa điểm của dựa án
Phân tích phương diện thị trường
Phân tích thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án là khâu hết sức quan trọng ảnhhưởng trực tiếp đến sự thành bại của dự án Do vậy phải thẩm định chặt chẽ, khoa học,tránh suy luận chủ quan : cần phải xác định nhu cầu thị trường ở hiện tại và tương lai.+ Thị trường trong nước: lưu ý sản phẩm cùng loại, mùa, thời vụ tiêu thụ
+ Xác định mức thu nhập bình quân đầu người của từng vùng thị trường tiêu thụ và tốc độtăng trưởng thu nhập bình quân đầu người
+Xác định thói quen, tập quán tiêu dùng của người dân địa phương
- Xác định nhu cầu thị trường tiêu thụ trong tương lai khi dự án đi vào hoạt động:+ Khả năng tiêu thụ sản phẩm: Ưu thế của sản phẩm về giá thành, chất lượng, qui cách,điều kiện lưu thông và tiêu thụ
+ Kinh nghiệm và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ thị trường về sản phẩm khảnăng thích nghi nắm bắt thông tin thị trường, hệ thống tiêu thụ sản phẩm
+ Phương thức tiêu thụ sản phẩm, tình hình tiêu thụ sản phẩm trong quá khứ, hiện tại, cáchợp đồng đã ký kết và khả năng tiêu thụ trong tương lai
+ Ðối với các sản phẩm xuất khẩu phải đánh giá được thị trường thế giới và khu vực, cácthế mạnh của sản phẩm, thuận lợi và khó khăn về điều kiện thông tin, vận tải, chất lượng,bao bì
Phân tích phương diện kỹ thuật và điều kiện phục vụ
Đánh giá mức độ phù hợp về công nghệ và thiết bị với mặt bằng chung, điều kiện, tiềmlực tài chính và khả năng sử dụng của doanh nghiệp Xác định doanh thu theo công suất
Trang 25dự kiến, việc cung cấp nước và năng lượng, chất thải và vệ sinh môi trường, vấn đề bảo
vệ môi trường, bảo vệ người lao động
Phân tích phương diện tài chính
- Tổng vốn đầu tư: là số vốn cần thiết để xây dựng và đưa dự án đi vào hoạt động.+ Phương pháp chi phí: xác định tất cả các khoản chi phí dự tính cho từng công việc: vốnđầu tư xây lắp: tính trên khối lượng xây dựng và đơn giá xây lắp, thiết bị: giá mua, chi phívận chuyển lắp đặt, bảo hành, vốn thiết kế cơ bản khác theo quy định Nhà nước, chi phí
dự phòng
+ Phương pháp định mức vốn:
Iv = Q x S x KTrong đó Iv là vốn đầu tư, Q là công suất thiết kế dự án, S là chi phí vốn đầu tư/1đơn vịsản phẩm, K là hệ số điều chỉnh
- Cơ cấu nguồn vốn: vốn ngân sách cập, vốn vay nước ngoai, huy động của dân.Với dự án đầu tư bằng vốn tín dụng, nguồn vốn phải thể hiện nguyên tắc bổ sung, khảnăng thực có về vốn, tiến độ cung cấp của từng nguồn
Phân tích khả năng trả nợ của dự án
Yếu tố quyết định trực tiếp đến việc lựa chọn các dự án đầu tư đó là lợi nhuận của
dự án Cho nên trước khi quyết định bỏ vốn đầu tư các nhà doanh nghiệp và ngân hàngthường sử dụng phương pháp phân tích tài chính để thẩm định tính khả thi của dự án đầu
tư Có 2 phương pháp : Phân tích tài chính giản đơn và phân tích tài chính bằng giá trịhiện tại thuần và tỷ suất doanh lợi nội bộ (NPV & IRR)
Phương pháp phân tích tài chính giản đơn
- Lợi nhuận ròng: là lợi nhuận thu được trong thời gian hoạt động của dự án
LN = D – C – TVới : D : tổng doanh thu chính, phụ của dự án
C : tổng chi phí liên quan đến sản xuất kinh doanh
T : các loại thuếựdd kiến nộp kể cả thuế lợi tức
Trang 26Nếu LN > 0 => Dự án lời (Chỉ tiêu lợi nhuận ròng chỉ sử dụng đối với những dự
án đầu tư trung hạn, môi trường kinh doanh và đồng tiền thanh toán ổn định)
Tổng chi phí = Tổng định phí + Tổng biến phí
- Ðịnh phí hay còn gọi là chi phí bất biến hay chi phí cố định là chi phí không thayđổi theo mức sản xuất cao hay thấp của doanh nghiệp hay: Chi phí không thay đổi về tổng
số mà thay đổi theo đơn vị hàng hóa bao gồm các yếu tố sau:
+ Chi phí quản lý xí nghiệp (hành chính phí, lương của cán bộ công nhân viên bộ phậngián tiếp)
+ Khấu hao TSCÐ, bảo hiểm, chi phí bảo trì máy móc, nhà xưởng; chi phí thuê mướn bấtđộng sản, máy móc, phương tiện kinh doanh; chi phí trả lãi vay trung, dài hạn; các loạithuế cố định hàng năm (Thuế môn bài, thuế đất, thuế nhà đất)
- Biến phí (chi phí biến đổi): Là chi phí thay đổi theo mức độ hoạt động nhiều hay
ít của doanh nghiệp hay nói cách khác là tổng số chi phí thay đổi theo mức sản xuất caohay thấp của doanh nghiệp, nhưng tính theo từng đơn vị sản phẩm lại cố định (Constantper unit) Biến phí bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, phụ tùngthay thế, vật rẻ, bao bì, lãi suất vay ngắn hạn, lương công nhân viên trực tiếp, chi phí vậnchuyển bốc dỡ, hao hụt,…
Phương pháp phân tích tài chính dựa vào giá trị hiện tại thuần và tỷ suất hoàn vốn nội bộ.
- Giá trị hiện tại thuần NPV là chênh lệch giữa tổng các khoản thu và các khoảnchi của cả đời dự án khi đưa về thời điểm hiện tại ( thời điểm bắt đầu dự án)
i
r
C r
B NPV
0
Bi: là dòng tiền vào của dự án năm thứ I ; Ci: là dòng tiền ra của dự án năm thứ i; r: tỷ suấtchiết khấu
NPV > 0: dự án có hiệu quả tài chính => ngân hàng đồng ý cho vay
NPV < 0: dự án không có hiệu quả tài chính, tổng thu của dự án không bù đắp được chiphí bỏ ra => ngân hàng từ chối cho vay
Trang 27- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ: tỷ lệ lãi suất chiết khấu cao nhất mà nhà đầu tư có thểchấp nhận, tại đó NPV của dự án = 0
Người ta dùng phương pháp nội suy để tính ra IRR
NPV1
IRR = r1 + ( r2 – r1)
NPV1 + NPV2Trong đó r1 tỷ suất chiết khấu tại đó NPV1 > 0
r2 tỷ suất chiết khấu tại đó NPV2 <0
Dự án sẽ được chấp nhận khi IRR > k và bị từ chối khi IRR < k Với k có thể là lợitức yêu cầu của nhà đầu tư, có thể là lãi suất vay vốn nếu đầu tư bằng vốn đi vay hoặc cóthể là chi phí cơ hội nếu sử dụng vốn tự có
e Phân tích tài sản đảm bảo của khách hàng
Khách hàng vay vốn do lần đầu giao dịch hoặc khoản vay có giá trị lớn, uy tínchưa cao thì ngân hàng thường yêu cầu có tài sản đảm bảo Trong trường hợp người đivay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền phát mại tài sản đảmbảo để thu hồi nợ Tài sản đảm bảo để bảo vệ quyền lợi của ngân hàng trong trường hợpnguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện, như là biện pháp đối phó khi có rủi ro xảy ra Vìvậy, công việc phân tích, định giá tài sản đảm bảo là rất quan trọng trước khi cho vay
Khi tiến hành phân tích tài sản đảm bảo, ngân hàng cần tiến hành kiểm tra các nộidụng sau:
- Tính pháp lý của tài sản: tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên đi vay và đượcphép cầm cố thế chấp
- Tình trạng của tài sản: đánh giá xem tài sản còn được sử dụng hay không, đãđược cầm cố thế chấp cho tổ chức tín dụng nào khác chưa
- Đánh giá giá trị của tài sản đảm bảo: giá trị của tài sản đảm bảo rất quan trọng, là
cơ sở để ngân hàng đưa ra hạn mức cho vay Có 3 phương pháp chính để định giá tài sảnđảm bảo:
Trang 28Phương pháp thu nhập: dựa trên nguyên tắc dự báo lợi ích tương lai, giá trị thị
trường của một bất động sản bằng với giá trị hiện tại của các khoản thu nhập ròng tươnglai có được từ tài sản đó
n
i 1
FVi FVi: giá trị khoản thu nhập năm thứ i
(1+r) i r : tỷ lệ chiết khấuPhương pháp áp dụng chủ yếu để định giá bất động sản, máy móc thiết bị đang cho thuê
có thể dự tính được thu nhập ròng trong tương lai
Phương pháp chi phí: được hình thành từ nguyên tắc thay thế với giả định rằng
giá trị của tài sản cần định giá được đo bằng chi phí để làm ra một tài sản tương tự nhưmột vật thay thế Phương pháp này sử dụng khi không có các bằng chứng thị trường dùng
để so sánh, thiếu cơ sở dự báo dòng lợi ích tương lai mà tài sản mang lại Tuy nhiên chiphí không phải lúc nào cũng đồng nhất hay phù hợp với giá trị, đòi hỏi phải có hiểu biết
kỹ thuật xây dựng và có kinh nghiệm Vì thế phương pháp này được áp dụng đối với bấtđộng sản, máy móc, thiết bị chuyên dùng ít giao dịch trên thị trường
Phương pháp thị trường: dựa vào nguyên tắc thay thế trên giả định giữa giá trị
thị trường của tài sản tương tự đã được giao dịch với giá trị của tài sản cần định giá cómối liên hệ với nhau Đây là phương pháp ít gặp khó khăn về mặt kỹ thuật, dựa chủ yếuvào giá trị thị trường để điều chỉnh tài sản so sánh với tài sản mục tiêu vì vậy có cơ sởvững chắc để khách hàng, cơ quan pháp lý công nhận Tuy nhiên nếu chất lượng thông tinkhông tốt về giao dịch tương tự, lỗi thời, chứa đựng yếu tố chủ quan sẽ ảnh hưởng nhiềuđến kết quả phân tích Phương pháp áp dụng chủ yếu để định giá bất động sản, máy móc,thiết bị có tính chát tương đồng, giao dịch phổ biến trên thị trường
1.2.3.3 Lưu trữ thông tin về khách hàng
Các ngân hàng sau khi thu thập, phân tích và xử lý thông tin xong sẽ tiến hành lưutrữ thông tin về khách hàng Công việc lưu trữ thông tin phục vụ cho chính hoạt động củangân hàng nhằm các mục đích:
- Đánh giá uy tín của khách hàng
Trang 29- Khi phân tích tín dụng, ngân hàng sẽ biết được khách hàng thuộc loại đối tượngnào, thuộc nhóm khách hàng nào, chuyên về ngành nghề gì… Phân loại khách hàng nhưvậy giúp ngân hàng vừa có thể so sánh đối chiếu giữa hoạt động của các khách hàng trongcùng một lĩnh vực vừa để có chính sách khách hàng phù hợp.
- Khách hàng khi đã đến giao dịch với ngân hàng, ngân hàng đã tiến hành phântích tín dụng thì những lần vay vốn tiếp theo, ngân hàng không cần phải tiến hành phântích lại, giảm thời gian phân tích khách hàng về sau
- Có được cơ sở dữ liệu về các khách hàng
Bên cạnh đó việc các ngân hàng lưu trữ thông tin về khách hàng để chi sẻ thông tinvới các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác nhưng chỉ ở mức độ cho phép vì tính bảo mậtthông tin khách hàng của ngân hàng Từ đó có thể giảm thiểu rủi ro chung trong hệ thốngngân hàng, tiết kiệm được thời gian, chi phí
1.2.3.4 Phương pháp phân tích tín dụng
Lựa chọn được phương pháp phân tích tín dụng phù hợp là một bước quan trọngtrong, quyết định đến kết quả của quá trình Không có bất cứ một phương pháp nào thốngnhất cho toàn bộ ngân hàng, hay cho tất cả các khách hàng, phương án vay vốn Với mỗikhách hàng, với mỗi phương án vay vốn lại có các phương pháp phân tích khác nhau Vớimỗi nội dung phân tích thì lại có các phương pháp khác nhau, cụ thể cho từng phần Điềuquan trọng ở đây là cán bộ phân tích có thực sự linh hoạt khi sử dụng các phương phápnày hay không Bên cạnh đó, để đánh giá tổng quan tình hình của một doanh nghiệp vayvốn, ngân hàng có thể sử dụng các phương pháp khác:
SWOT là tập hợp viết tắt của từ: Strengths ( điểm mạnh), Weaknesses ( điểm yếu),opportunities( Cơ hội) và threats ( Thách thức) SWOT là một kỹ thuật phân tích rất mạnhtrong việc xác định điểm mạnh và điểm yếu để từ đó tìm ra được cơ hội và thách thức đốivới một cá nhân hay tổ chức, so sánh đánh giá các phương án Ngân hàng sử dụngphương pháp này để có cái nhìn tổng quan nhất về khách hàng vay vốn
Trang 30Strengths và Weaknesses là các yếu tố nội tại của công ty còn Opportunities vàThreats là các nhân tố tác động bên ngoài SWOT cho phép phân tích các yếu tố khác nhau
có ảnh hưởng tương đối đến khả năng cạnh tranh của công ty
Để thực hiện phân tích SWOT cho một công ty, người ta thường tự đặt các câu hỏisau:
Strengths: Lợi thế của công ty là gì? Nguồn lực nào công ty cần, có thể sử dụng?
Phải xem xét vấn đề từ trên phương diện công ty và đối thủ cạnh tranh Các ưu thế thườngđược hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh Chẳng hạn, nếu tất cả các đối thủcạnh tranh đều cung cấp các sản phẩm chất lượng cao thì một quy trình sản xuất với chấtlượng như vậy không phải là ưu thế mà là điều cần thiết phải có để tồn tại trên thị trường
Weaknesses: Có thể cải thiện điều gì? Công việc công ty làm không tốt? Cần tránh
làm gì? Phải xem xét vấn đề trên cơ sở bên trong và cả bên ngoài Vì sao đối thủ cạnhtranh có thể làm tốt hơn mình? Lúc này phải nhận định một cách thực tế và đối mặt với sựthật
Opportunities: Cơ hội tốt đang ở đâu? Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công
nghệ và thị trường dù là quốc tế hay trong phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính sáchcủa nhà nước có liên quan tới lĩnh vự hoạt động của công ty, từ sự thay đổi khuôn mẫu xãhội, cấu trúc dân số hay cấu trúc thời trang , từ các sự kiện diễn ra trong khu vực.Phương thức tìm kiếm hữu ích nhất là rà soát lại các ưu thế của công ty và tự đặt câu hỏiliệu các ưu thế ấy có mở ra cơ hội mới nào không Cũng có thể làm ngược lại, rà soát cácyếu điểm của mình và tự đặt câu hỏi liệu có cơ hội nào xuất hiện nếu loại bỏ được chúng
Threats: Những trở ngại đang phải? Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì? Những
đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không? Thay đổicông nghệ có nguy cơ gì với công ty hay không? Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòngtiền? Liệu có yếu điểm nào đang đe doạ công ty? Các phân tích này thường giúp tìm ranhững việc cần phải làm và biến yếu điểm thành triển vọng
Mô hình phân tích SWOT thích hợp cho việc đánh giá hiện trạng của công ty thôngqua việc phân tích tinh hình bên trong (Strengths và Weaknesses) và bên ngoài
Trang 31(Opportunities và Threats) công ty SWOT thực hiện lọc thông tin theo một trật tự dễ hiểu
có thể xảy ra với thời gian và chi phí hợp lý
Về phía ngân hàng, phân tích tín dụng đối với khoản vay phải đạt được các yêu cầusau:
- Ngân hàng cho vay được: xem xét, đánh giá khách hàng không phải nhằm mụcđích tìm ra điểm yếu của khách hàng để từ chối cho vay mà nhằm xác định mức độ rủi ro
mà ngân hàng có thể chấp nhận được để từ đó đưa ra quyết định có chấp nhận cho vayhay không và nếu thế lãi suất là bao nhiêu, thời hạn trả nợ, số vốn vay…
- Ngân hàng thu hồi được cả gốc và lãi theo đúng hợp đồng tín dụng: cho vay làhoạt động đem lại doanh thu chủ yếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện naynhưng cho vay được không phải là mục tiêu cuối cùng của ngân hàng mà quan trọng hơn
là có khả năng thu hồi được cả gốc và lãi khi đến hạn hay không Thông qua phân tích tíndụng, ngân hàng xác định được khách hàng có nguồn tiền trả nợ, nguồn thu vào thời điểmnào để phân kỳ trả nợ và lãi vay cho hợp lý
Trang 32Về phía khách hàng thì số tiền mà ngân hàng cho vay phải có lãi suất và kỳ hạnhợp lý, thủ tục đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảonguyên tắc tín dụng.
Ngân hàng tiến hành phân tích tín dụng đáp ứng được nhu cầu trên được coi như là
có chất lượng, tuy nhiên chất lượng phân tích tín dụng ở mức cao hay thấp còn phụ thuộc
và nhiều tiêu chí khác
1.3.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là một khâu quan trọng trong quy trình tín dụng, do vậy chấtlượng phân tích tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của ngân hàngthương mại Nếu phân tích tín dụng đánh giá đúng thực trạng, khả năng và ý muốn trả nợcủa khách hàng thì sẽ là cơ sở tin cậy để người phê duyệt lựa chọn cho vay, mang lạikhoản tín dụng an toàn hiệu quả Ngược lại chất lượng phân tích tín dụng kém thì đánhgiá khách hàng không chính xác, cho vay đối với khách hàng không tốt và bỏ qua cơ hộicho vay đối với khách hàng tốt Để đánh giá được chất lượng phân tích tín dụng của ngânhàng, cần dựa vào tiêu chí sau:
1.3.2.1 Chất lượng tín dụng của ngân hàng
Một khoản tín dụng được gọi là có chất lượng tốt khi hiệu quả sử dụng vốn cao, antoàn và mang lại hiệu quả kinh tế cho người vay vốn đồng thời mang lại một mức lợinhuận cao cho ngân hàng Chất lượng tín dụng là một khái niệm hoàn toàn tương đối, vừa
cụ thể ( thông qua các chỉ tiêu có thể đánh giá được) vừa trừu tượng ( thể hiện qua khảnăng thu hút khách hàng, thủ tục đơn giản, mức độ an toàn… ) Dưới đây là một số chỉtiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với ngân hàng:
Các chỉ tiêu về nợ xấu
Nợ xấu là khoản nợ có dấu hiệu hoặc bằng chứng cho thấy khách hàng không cókhả năng trả nợ đầy đủ theo đúng hạn cam kết Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNNcủa Ngân hàng nhà nước thì nợ xấu bao gồm các khoản nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5.Nếu chất lượng phân tích tín dụng không tốt, tức là việc phân tích, đánh giá về kháchhàng và khả năng trả nợ của khách hàng không chính xác sẽ dẫn đến quyết định cho vaykhông chính xác ( đối tượng không có khả năng trả nợ, thời hạn trả nợ không phù hợp với
Trang 33chu kỳ kinh doanh và dòng tiền của khách hàng) vì thế khả năng các khoản nợ trở thành
Chỉ tiêu về sử dụng vốn
- Vòng quay vốn tín dụng trong năm
Doanh số thu nợVòng quay vốn tín dụng trong năm =
Dư nợ bình quân năm
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn của ngân hàng được cho vay bao nhiêu lần trong năm.Chỉ tiêu càng lớn chứng tỏ ngân hàng thu được càng nhiều nợ và nguồn vốn ngân hàngđầu tư vào hoạt động kinh doanh có hiệu quả Điều này cho thấy công tác phân tích tíndụng của ngân hàng đạt hiệu quả cao
- Hiệu suất sử dụng vốn vay:
Tổng dư nợHiệu suất sử dụng vốn vay =
Tổng vốn huy độngChỉ tiêu giúp so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với khả năng huy động vốn,đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động.Chưa thể nói chỉ tiêu này cànglớn càng tốt hay ngược lại vì nếu tiền gửi ít hơn tiền vay thì ngân hàng phải huy động từnguồn khác có chi phí cao hơn, nếu tiền gửi lớn hơn tiền vay thì ngân hàng đang dư thừavốn Tuy nhiên, nếu công tác phân tích tín dụng tốt, mọi khoản cho vay đều có hiệu quảthì tỷ lệ này >=1
Trang 34c Tăng trưởng lợi nhuận tín dụng
Lợi nhuận thì hoạt động tín dụng được xác định bằng chênh lệch giữa thu lãi và chilãi của ngân hàng Như vậy, lợi nhuận của ngân hàng sẽ gia tăng khi mở rộng cho vay đốivới khách hàng tốt, trả lãi và gốc đúng hạn, lãi suất và kỳ hạn vay hợp lý Điều này đòihỏi công tác phân tích tín dụng của ngân hàng phải thật tốt
1.3.2.2 Tốc độ tăng trưởng tín dụng
Tốc độ tăng trưởng tín dụng thể hiện ở mức độ mở rộng cho vay của các ngânhàng Việc mở rộng cho vay chỉ có thể thực hiện tốt khi các khâu trong quy trình tín dụngthực hiện tốt, đặc biệt là phân tích tín dụng Khi việc phân tích tín dụng được thực hiệntốt, đánh giá khách hàng nhanh chóng, chính xác, do đó việc cấp tín dụng sẽ được tiếnhành nhanh chóng Ngược lại chất lượng phân tích tín dụng không tốt dẫn đến thời gianphân tích chậm, không thể xử lý được nhiều khoản cho vay vì thế không thể mở rộng hoạtđộng tín dụng Tuy nhiên thì tốc độ tăng trưởng tín dụng cao chưa phải là dấu hiệu tốt.Khi cung ứng tín dụng quá mức, ngân hàng dễ dàng cho vay hơn đồng thời là chấp nhậnrủi ro cao hơn Khi doanh nghiệp có được đồng vốn dễ dàng thì các doanh nghiệp có xuhướng sử dụng vốn kém hiệu quả hơn Vì thế không thể vì mục tiêu tăng trưởng tín dụng
mà phân tích tín dụng sơ sài, thiếu chính xác Các ngân hàng cần áp dụng biện pháp vừađảm bảo quy trình phân tích tín dung, vừa đảm bảo khả năng mở rộng tín dụng
1.3.2.3 Thời gian phân tích tín dụng
Chất lượng phân tích tín dụng không chỉ là khả năng đánh giá về khách hàng màcòn yêu cầu việc thực hiện phân tích phải trong thời gian hợp lý
Với nhu cầu vốn cấp bách của người vay, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngânhàng trong nền kinh tế, bản thân mỗi ngân hàng phải xác định một thời gian thích hợp đểtiến hành phân tích tín dụng sao cho có sự tương tích giữa mong muốn các món vaynhanh chóng được giải ngân của khách hàng và chất lượng phân tích tín dụng đạt hiệu quảcao Do vậy, thời gian phân tích tín dụng cũng là một trong những tiêu chí ảnh hưởng đếnchất lượng phân tích Thời gian này phụ thuộc rất nhiều vào thời gian để thu thập thôngtin, đánh giá các thông tin thu thập được Sau khi phân tích, ngân hàng còn cần thời giancho việc thực hiện các thủ tục giải ngân nếu món vay được khách hàng chấp nhận Thời
Trang 35gian phân tích kéo dài không đồng nghĩa với chất lượng phân tích cao mà chứng tỏ khảnăng thu thập thông tin chưa tốt , khả năng xử lý, phân tích thông tin còn hạn chế và phảnánh chất lượng phân tích tín dụng kém.
Nếu thời gian phân tích tín dụng ngắn, ngân hàng tiết kiệm được đáng kể về nhânlực, đáp ứng nhanh hơn yêu cầu của khách hàng, tăng tính cạnh tranh Song thời gianphân tích tín dụng quá ngắn, lượng thông tin thu thập được không đủ để phản ánh chínhxác tình hình của khách hàng cùng với nguồn nhân lực không đủ khiến cho việc đánh giá
sơ sài, không đúng và đầy đủ Vì thế chất lượng tín dụng cũng không được đảm bảo
Do vậy, để thu hút được khách hàng và đảm bảo sự an toàn cho hoạt động củamình, ngân hàng cần chủ động rút ngắn thời gian phân tích tín dụng trên cơ sở hệ thốngthu thập thông tin tốt, đội ngũ phân tích có trình độ chuyên môn cao
1.3.2.4 Chi phí phân tích tín dụng
Chất lượng tín dụng cũng đòi hỏi một chi phí phân tích tín dụng hợp lý, phù hợpvới quy mô của quá trình phân tích tín dụng Một vấn đề được đặt ra ở đây là liệu có phảichi phí phân tích tín dụng càng thấp, ngân hàng cắt giảm được một khoản chi phí thì lợinhuận tăng lên tức là chất lượng phân tích tín dụng tốt Không phải lúc nào chi phí thấpthì chất lượng phân tích tín dụng mới cao Với những khoản vay có giá trị lớn, phương ánđầu tư lâu dài phức tạp thì đòi hỏi một chi phí lớn Đặc biệt là các dự án về xây dựng cơ
sở hạ tầng, kỹ thuật, ngân hàng không phải là người hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực đó
vì thế thường thuê chuyên gia bên ngoài để tiến hành phân tích phương án dự án vay vốn.Tuy chi phí có tăng cao hơn song đảm bảo được chất lượng phân tích của ngân hàng vàgiúp ngân hàng nhận diện được rủi ro có thể xảy ra, hơn nữa cũng tiết kiệm được thờigian phân tích và đưa ra được quyết định tín dụng chính xác Do đó mà chất lượng phântích tín dụng đạt được kết quả tốt
1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tín dụng
1.3.3.1 Nhân tố chủ quan
Thông tin là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phân tích tín dụng Bởi tất cảquy trình phân tích đều phải dựa vào thông tin để đưa ra kết luận về khách hàng vay vốn,
Trang 36đó là điều kiện cần cho kết quả phân tích tín dụng đạt hiệu quả cao Thông tin có thể thuthập được từ nhiều nguồn: do khách hàng cung cấp, ngân hàng tự thu thập, nguồn thôngtin khác…và cho dù bất cứ thu thập từ nguồn nào thì trước khi đưa vào quá trình phântích tín dụng cũng cần phải được thẩm định về tính chính xác, về chất lượng.
Thông tin từ khách hàng: bất kỳ khách hàng nào khi vay vốn đều phải có tráchnhiệm cung cấp thông tin cần thiết theo yêu cầu của ngân hàng: đơn xin vay vốn, báo cáotài chính, tài liệu về tài sản đảm bảo, dự án cần vay vốn… Những tài liệu này do kháchhàng tự cung cấp nên thiếu tính khách quan, khách hàng thường muốn vay được vốn theonhu cầu của mình vì thế thông tin thường đưa ra thường tốt hơn so với thực tế Trongtrường hợp này, cán bộ tín dụng phải sử dụng kinh nghiệm nghề nghiệp và căn cứ vàomối quan hệ khách hàng với ngân hàng để đánh giá chất lượng thông tin
Thông tin ngân hàng: ngân hàng lưu trữ thông tin khi khách hàng đến và sử dụngcác dịch vụ của ngân hàng như chuyển tiền, gửi tiết kiệm, tài khoản thanh toán… Đây lànguồn thông tin đáng tin cậy vì ngân hàng trực tiếp ghi chép Bên cạnh đó, ngân hàng cònthu thập thông qua trung tập thông tin tín dụng CIC và trung tâm phòng ngừa rủi ro là mộtnguồn đáng tin cậy, song nguồn này chỉ phát huy được hiệu quả khi chúng đảm bảo tínhcập nhật và đa dạng Các nguồn thông tin khác mà ngân hàng có thể tìm kiếm từ đối táclàm ăn của khách hàng, chủ nợ…
Thông tin sau khi thu thập được sẽ được ngân hàng phân tích để sử dụng Sốlượng, chất lượng của thông tin có liên quan đến mức độ phân tích, nhận định khách hàng,thị trường… để đưa ra quyết định phù hợp Vì vậy, thông tin càng đầy đủ:phản ánh toàndiện khách hàng, chính xác: xác định được nguồn gốc rõ ràng, phản ánh trung thực tìnhtrạng và diễn biến khách quan tình hình doanh nghiệp; cập nhật tránh tình trạng lạc hậu,thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong haọt động kinh doanh càng lớn, chất lượng phân tíchtín dụng càng cao
Trước đây, cán bộ tín dụng vừa thực hiện công việc gặp gỡ khách hàng, phân tíchtín dụng, giải ngân, chăm sóc khách hàng, kiểm soát sau giải ngân, thanh lý hợp đồng.Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ rất nhiều hạn chế và không khách quan khi đánh giá Ngày
Trang 37nay, các ngân hàng thương mại đã tách bạch bộ phận quản lý tín dụng và bộ phận quan hệkhách hàng để đảm bảo tính chủ quan, hạn chế rủi ro đạo đức nghề nghiệp và thực hiệnchuyên môn hoá trong quá trình phân tích tín dụng Vì vậy cách thức tổ chức, nhiệm vụcủa từng bộ phận trong quá trình phân tích tín dụng có ảnh hưởng khá lớn đến chất lượngphân tích tín dụng.
Mỗi loại hình tín dụng đều mang những đặc trưng cơ bản của nó về mục đích vayvốn, đối tượng khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh doanh vì thế không thể đồng nhấtphương pháp cho mọi loại hình tín dụng mà phải có những phương pháp phù hợp Vàkhông phải lúc nào ngân hàng cũng có thể áp dụng toàn bộ các phương pháp trên để tiếnhành phân tích Để có chất lượng phân tích tốt thì nội dung phân tích phải ngắn gọn, đầy
đủ các chỉ tiêu để phản ánh đúng đắn năng lực tín dụng của khách hàng đề từ đó đưa raquyết định tín dụng đúng đắn
Thông thường, các ngân hàng thương có văn bản quy định về trình tự, nguyên tắc,nội dụng, phương pháp để phân tích tín dụng và nhiệm vụ cụ thể của từng phòng ban.Việc quy định như vậy giúp cho việc phân tích tín dụng không bỏ xót nội dung nào vàphân định trách nhiệm từng bộ phận Do vậy, nếu quy trình và nội dung phân tích tíndụng hợp lý, cán bộ tín dụng tuân thủ đúng quy trình thì công tác phân tích sẽ đạt hiệuquả cao
Trình độ chuyên môn của cán bộ phân tích tín dụng là vấn đề mấu chốt quyết địnhđến chất lượng phân tích tín dụng Cán bộ tín dụng là người thu thập, sàng lọc thông tinđầu vào, lựa chọn phương pháp phân tích và đánh giá khách hàng Phân tích khách hàngluôn có yếu tố chủ quan của người phân tích Nếu cán bộ phân tích tín dụng có năng lựckém thì dù thông tin khách hàng có cung cấp đầy đủ, chính xác thì hoạt động phân tích tíndụng cũng chỉ cho chất lượng thấp Điều này khiến ngân hàng đối mặt với rủi ro lớn trongviệc thu hồi các khoản nợ do không đánh giá hết được khả năng chi trả, tài sản đảm bảocủa khách hàng Ngược lại khi cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn cao sẽ cho kết quảphân tích nhanh chóng, chính xác hơn, gớp phần tiết kiệm thời gian cũng như chi phí.Hơn nữa, khi cán bộ tín dụng có kinh nghiệm và trình độ cao, họ dễ dàng nhận ra những
Trang 38sai sót, gian lận trong các thông tin của khách hàng từ đó có những biện pháp xử lý nhanhchóng, kịp thời.
Tín dụng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nên đòi hỏi cán bộ tín dụng khôngnhững có trình độ chuyên môn cao mà còn phải có đạo đức nghề nghiệp tốt, công tâm khiphân tích Cán bộ ngân hàng nên đạt lợi ích của ngân hàng lên trước nhất, tránh tư lợi chobản thân, bỏ qua một vài chi tiết nhỏ nhặt, nhận xét tốt về khách hàng, che đậy dấu hiệurủi ro sẽ khiến Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng là rất cao Vì thế đạo đức nghề nghiệp củacán bộ tín dụng tốt sẽ mang đến chất lượng phân tích tốt và ngược lại
Ngoài ra, cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi trường kinh tế
xã hội, đường lối phát triển của đất nước, thị trường… dự đoán được các biến động có thểxảy ra từ đó tư vấn cho khách hàng xây dựng phương án kinh doanh cho phù hợp Cán bộngân hàng phải am hiểu về khách hàng, thị trường khách hàng kinh doanh, môi trườngkhách hàng sống để có khả nhăng dự báo về các vấn đề liên quan
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho conngười Việc thu thập, xử lý thông tin sao cho nhanh chóng, độ tin cậy cao đòi hỏi ngânhàng phải có hệ thống cơ sở vật chất tốt, kỹ thuật hiện đại Khi cơ sở vật chất, phươngtiện kỹ thuật phục vụ công việc phân tích nghèo nàn, lạc hậu sẽ làm tăng thời gian xử lýthông tin trong phân tích ảnh hưởng đến chất lượng
Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt vì thế mục tiêu lợi nhuận luônđược đề cao bên cạnh mục tiêu an toàn Để đạt được lợi nhuận cao, các cán bộ tín dụngthường được giao chỉ tiêu cụ thể trong tháng, quý… và vì thế sức ép về chỉ tiêu luôn tácđộng mạnh đến tâm lý của cán bộ tín dụng Không đạt được chỉ tiêu rất dễ bị phạt, do đó
mà các cán bộ tín dụng dễ dàng bỏ qua một số thông tin xấu của khách hàng cũng nhưquy trình trong phân tích để có thể cho vay đạt được chỉ tiêu đề ra Điều này gây rủi rolớn cho ngân hàng
Trang 391.3.3.2 Nhân tố khách quan
Khách hàng khi tìm đến ngân hàng thì luôn mong muốn khoản vay của mình đượcđáp ứng về số vốn vay, lãi suất, thời gian … nên thường cung cấp thông tin tốt về mình,
bỏ qua một số yếu tố bất lợi Trong khi, nguồn thông tin chính mà ngân hàng có được là
do khách hàng cung cấp thông qua hồ sơ vay vốn, trả lời phỏng vấn đo đó tính chính xác
và đầy đủ của thông tin phụ thuộc rất nhiều vào khách hàng Thông tin sai lệch do kháchhàng cung cấp có thể do trình độ chuyên môn chưa được cao nhưng phần lớn là do kháchhàng muốn đạt được mục đích vay vốn của mình, có thể vay với mục đích này nhưng khivốn được giải ngân lại sử dụng vào dự án khác Vấn đề đạo đức không phải là hiếmnhưng lại là vấn đề khó khăn nhất mà các ngân hàng luôn phải đối mặt
Sự hiểu biết về pháp luật và kinh nghiệm vay vốn của khách hàng cũng ảnh hưởngđến chất lượng phân tích Khi khách hàng đã có kinh nghiệm vay vốn ngân hàng thì thờigian để họ hoàn thành hồ sơ vay vốn cùng các giấy tờ rất nhanh chóng, thuận lợi cho côngviệc phân tích Song với những khách hàng mới, lần đầu tìm đến ngân hàng thì rất khókhăn để có thể hoàn thành bộ hồ sơ vay vốn của ngân hàng Với những khách hàng đã cókinh nghiệm, họ sẽ biết được thông tin nào có lợi cho mình và thông tin nào có thể làmgiảm khả năng vay vốn của mình Chính vì vậy, đạo đức khách hàng luôn là yếu tố ảnhhưởng đến chất lượng phân tích tín dụng Cán bộ tín dụng vì thế luôn phải thận trọng,kiểm tra thường xuyên, xác minh tính trung thực thông tin của khách hàng cung cấp
Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý là hành lang cho việc kinh doanh tín dụng Ngân hàng, theo đóhoạt động tín dụng phải chịu nhiều điều luật như luật doanh nghiệp 2005, QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay khách hàng của các tổ chức tín dụng, QĐ 457/2005/QĐ-NHNH về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng… Pháp luật trởthành điều kiện không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhànước, không có pháp luật hay pháp luật không phù hợp thì sự vận hành của nền kinh tế sẽkhông được trôi chảy Pháp luật là cơ sở giải quyết mọi tranh chấp, khiếu nại, tạo môitrường cho kinh doanh thuận tiện và đạt hiệu quả cao Do đó yếu tố pháp luật cũng đóng
Trang 40vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chất lượng phântích tín dụng Các ngân hàng thương mại khi phân tích tín dụng đều phải tuân thủ các quyđịnh để đảm bảo cso sự thống nhất về quy cách và điều kiện cho vay cũng như kết quảphân tích trung thực, chính xác.
Môi trường kinh tế
Nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng trưởng kinh
tế Một nền kinh tế trong thời gian tăng trưởng ổn định, môi trường kinh doanh thuận lợi,nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng do đó nhu cầu tín dụng ngân hàng trong giai đoạn này
là rất cao Ngân hàng dễ dang cho vay vì khả năng gặp rủi ro mất vốn là rất thấp Trái lại,trong nền suy thoái, thất nghiệp cao, đầu tư không mang lại hiệu quả, dễ thất bại ngay cảthành công thì chưa chắc thu nhập đó đã cao Thay vì đầu tư sản xuất các doanh nghiệpđem tiền gửi vào ngân hàng để hưởng lãi Ngân hàng không cho vay được cũng không thểnhận tiền gửi của khách hàng vì đưa ra mức lãi suất quá cao, do đó hoạt động ngân hàng
bị ngưng trệ Việc cho vay gặp rất nhiều rủi ro trong khi hoạt động huy động vốn lại phảitrả lãi quá cao Việc phân tích tín dụng trong giai đoạn này phải tiến hành hết sức cẩnthận, tỉ mỉ tránh những rủi ro cho ngân hàng