1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương

103 697 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại 1.1.1 Khái niệm Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Ngân

Trang 1

  

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

Đề tài:

TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG

NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

CHI NHÁNH THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

Giáo viên hướng dẫn : TS LÊ THANH TÂM

Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ THU

MSSV : CQ492635

Lớp : NGÂN HÀNG 49A

Trang 2

HÀ NỘI: 5/2011

Trang 3

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 3

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG 3

HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

1.2.2 Các hình thức huy động tiền gửi khách hàng của Ngân hàng thương mại 20

1.2.2.1 Theo mục đích huy động 20

1.2.2.2 Theo đối tượng huy động 22

2.1 Tổng quan về Agribank Hải Dương 36

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Agribank Hải Dương 36

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Agribank Hải Dương 37

Bảng 2.1: Sơ đồ bộ máy điều hành của NHNo&PTNT - chi nhánh thành Hải Dương 37

2.1.3 Khái quát chung về tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh 38

2.1.3.1 Tình hình Tài sản - Nguồn vốn 38

Bảng 2.2: Bảng cân đối kế toán của Agribank Hải Dương 38

2.1.3.2 Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 40

Bảng 2.3: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank Hải Dương 40

2.1.3.3 Các hoạt động cơ bản 42

Bảng 2.4: Tổng kết hoạt động cho vay theo loại tiền giai đoạn 2008-2010 43

Bảng 2.5: Tổng kết hoạt động cho vay phân theo kì hạn giai đoạn 2008-2010 44

II.2 Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại Agribank Hải Dương 53

II.2.1 Các văn bản pháp lý quy định hoạt động huy động tiền gửi 53

Trang 4

2.2.2 Phân tích thực trạng hoạt động huy động tiền gửi 53

2.2.2.2 Cơ cấu nguồn tiền gửi 55

2.2.2.4 Các sản phẩm tiền gửi của Agribank Hải Dương 67

CHƯƠNG 3 79

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI 79

TẠI AGRIBANK HẢI DƯƠNG 79

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Agribank, NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

USD Đồng đô la Mỹ

L/C Thư tín dụng

WTO Tổ chức thương mại thế giới

VINASHIN Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam

Vietinbank Ngân hàng Công Thương Việt Nam

VCB Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

L/C Thư tín dụng

Trang 5

HSC Hội sở chính

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

BẢNG

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 3

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG 3

HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

1.2.2 Các hình thức huy động tiền gửi khách hàng của Ngân hàng thương mại 20

1.2.2.1 Theo mục đích huy động 20

1.2.2.2 Theo đối tượng huy động 22

2.1 Tổng quan về Agribank Hải Dương 36

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Agribank Hải Dương 36

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Agribank Hải Dương 37

Bảng 2.1: Sơ đồ bộ máy điều hành của NHNo&PTNT - chi nhánh thành Hải Dương 37

2.1.3 Khái quát chung về tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh 38

2.1.3.1 Tình hình Tài sản - Nguồn vốn 38

Bảng 2.2: Bảng cân đối kế toán của Agribank Hải Dương 38

2.1.3.2 Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 40

Bảng 2.3: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank Hải Dương 40

2.1.3.3 Các hoạt động cơ bản 42

Bảng 2.4: Tổng kết hoạt động cho vay theo loại tiền giai đoạn 2008-2010 43

Bảng 2.5: Tổng kết hoạt động cho vay phân theo kì hạn giai đoạn 2008-2010 44

Trang 6

II.2 Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại Agribank Hải Dương 53

II.2.1 Các văn bản pháp lý quy định hoạt động huy động tiền gửi 53

2.2.2 Phân tích thực trạng hoạt động huy động tiền gửi 53

2.2.2.2 Cơ cấu nguồn tiền gửi 55

2.2.2.4 Các sản phẩm tiền gửi của Agribank Hải Dương 67

CHƯƠNG 3 79

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI 79

TẠI AGRIBANK HẢI DƯƠNG 79

BIỂU ĐỒ LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 3

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG 3

HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

1.2.2 Các hình thức huy động tiền gửi khách hàng của Ngân hàng thương mại 20

1.2.2.1 Theo mục đích huy động 20

1.2.2.2 Theo đối tượng huy động 22

2.1 Tổng quan về Agribank Hải Dương 36

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Agribank Hải Dương 36

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Agribank Hải Dương 37

Bảng 2.1: Sơ đồ bộ máy điều hành của NHNo&PTNT - chi nhánh thành Hải Dương 37

2.1.3 Khái quát chung về tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh 38

2.1.3.1 Tình hình Tài sản - Nguồn vốn 38

Bảng 2.2: Bảng cân đối kế toán của Agribank Hải Dương 38

2.1.3.2 Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 40

Bảng 2.3: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank Hải Dương 40

2.1.3.3 Các hoạt động cơ bản 42

Trang 7

Bảng 2.4: Tổng kết hoạt động cho vay theo loại tiền giai đoạn

2008-2010 43

Bảng 2.5: Tổng kết hoạt động cho vay phân theo kì hạn giai đoạn 2008-2010 44

II.2 Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại Agribank Hải Dương 53

II.2.1 Các văn bản pháp lý quy định hoạt động huy động tiền gửi 53

2.2.2 Phân tích thực trạng hoạt động huy động tiền gửi 53

2.2.2.2 Cơ cấu nguồn tiền gửi 55

2.2.2.4 Các sản phẩm tiền gửi của Agribank Hải Dương 67

CHƯƠNG 3 79

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI 79

TẠI AGRIBANK HẢI DƯƠNG 79

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tiến trình hội nhập kinh

tế quốc tế đã được thúc đẩy mạnh mẽ Cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi Hiện nay, nước ta có quá nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) trong khi đó, quy

mô của nền kinh tế nước ta còn khá khiêm tốn Thị trường ngân hàng Việt Nam vốn

đã “chật hẹp” nay lại càng chật hẹp hơn, buộc các ngân hàng thương mại trong nước phải cạnh tranh với nhau để giành, giữ thị trường Dưới sức ép của quy luật cạnh tranh, các ngân hàng khi tham gia thị trường buộc phải tìm nhiều các biện pháp nâng cao năng lực kinh doanh để tồn tại và phát triển trên thị trường Để làm được điều đó, ngân hàng cần phải có nguồn vốn dồi dào Mặt khác nguồn tiền gửi lại là nguồn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng Vì vậy, vấn đề đặt ra là các ngân hàng thương mại cần có những giải pháp để tăng cường huy động tiền gửi nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế nói chung và nhằm đảm bảo hoạt động của ngân hàng nói riêng.

Trong những năm qua cùng với những hoạt động tài chính ngân hàng, Agribank Hải Dương luôn tự đổi mới và hoàn thiện, khắc phục những hạn chế và khó khăn còn tồn tại góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hoạt động của chi nhánh và hoạt động của hệ thống Agribank.

Là một trong những Chi nhánh cung ứng tín dụng đứng đầu trong toàn Tỉnh, với hoạt động tín dụng luôn chiếm hơn 90% tổng thu, Chi nhánh đã xác định: “chất lượng tín dụng quyết định sự sống còn của đơn vị và tăng trưởng tín dụng phải trên cơ sở tăng trưởng nguồn vốn đặc biệt là tiền gửi” Hiện nay, công tác huy động tiền gửi tại đơn vị vẫn còn nhiều bất cập, cơ cấu tiền gửi huy động được không ổn định

Trang 9

Xuất phát từ thực tế trên, kết hợp với quá trình thực tập Agribank Hải Dương nên em đã chọn đề tài “Tăng cường huy động tiền gửi tại Ngân hàng

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - chi nhánh thành phố Hải Dương” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại Agribank Hải Dương.

- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường huy động tiền gửi tại Agribank Hải Dương.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại.

- Phạm vi nghiên cứu: hoạt động huy động tiền gửi của Agribank Hải Dương.

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2008-2010.

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật lịch sử, cùng với các phương pháp: thống kê, phân tích, đánh giá…

5 Kết cấu của chuyên đề tốt nghiệp

Gồm 3 phần chính :

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động huy động tiền gửi của

ngân hàng thương mạiChương 2: Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại Agribank Hải Dương Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động tiền gửi tại Agribank Hải Dương

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm

Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

Như vậy, Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ; vốn của ngân hàng chủ yếu phải là vốn bằng tiền Để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định Trong quá trình hoạt động thì ngân hàng thực hiện kinh doanh tiền tệ phần lớn dựa trên số vốn huy động được Thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi chưa cần sử dụng đến trong sản xuất kinh doanh được gửi vào Ngân hàng với các mục đích khác nhau Ngân hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các nhà đầu tư

có nhu cầu về vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng quá trình luân chuyển vốn qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Từ thực tế trên, các nhà kinh tế học đã đưa ra khái niệm: “Nguồn vốn của ngân hàng thương mại (NHTM) là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”

1.1.2 Phân loại

Có rất nhiều tiêu thức để phân loại nguồn vốn như:

Theo nguồn hình thành, nguồn vốn được chia thành: vốn chủ sở hữu, nguồn tiền gửi, nguồn tiền vay, các nguồn khác.

Trang 11

Theo loại tiền, nguồn vốn được chia ra thành: nguồn vốn nội tệ và nguồn vốn ngoại tệ.

Theo thời hạn, nguồn vốn được chia thành: nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn và nguồn vốn dài hạn.

Trong phạm vi bài viết, em sẽ phân chia nguồn vốn dựa trên tiêu thức nguồn hình thành tức là nguồn vốn được chia thành: nguồn tiền gửi, nguồn tiền vay, vốn chủ sở hữu, các nguồn khác.

1.1.2.1 Nguồn tiền gửi

Nguồn tiền gửi của ngân hàng thương mại là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động được từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội thông qua nghiệp vụ nhận tiền gửi, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được ngân hàng dùng làm vốn kinh doanh

Bản chất của nguồn tiền gửi là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiêm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn

Khi huy động tiền gửi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền còn lại

Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc

có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”.

Tiền gửi là nguồn vốn cơ bản của ngân hàng Nó là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng Đây là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt NH với các loại hình kinh doanh khác Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của doanh nghiệp, tổ chức và dân cư

Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

Trang 12

nguồn tiền của ngân hàng Tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, thường nhạy cảm về các biến động của lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu

kì chi tiêu, và nhiều nhân tố khác Lãi suất cao là một nhân tố kích thích các doanh nghiệp và dân cư cho vay Trong điều kiện có lạm phát, người có tiền tiết kiệm thường quan tâm tới lãi suất thực, điều

đó có nghĩa là lãi suất thực dương mới thực sự hấp dẫn các nguồn tiền tiết kiệm Các yếu tố khác như địa điểm ngân hàng, mạng lưới chi nhánh, các dịch vụ đa dạng… đều ảnh hưởng tới quy mô và cấu trúc nguồn tiền Thời vụ chi tiêu ảnh hưởng đến quy mô và tính ổn định của nguồn tiền Vào dịp tết, nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu hướng giảm sút, đặc biệt là trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn phổ biến Tại các thành phố lớn, nơi tập trung tầng lớp dân cư có thu nhập cao, hình thành người gửi tiền lớn Thu nhập gia tăng là điều kiện để gia tăng quy mô và thay đổi kì hạn của nguồn tiền Khi ngân hàng mở rộng cho vay, tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân cũng gia tăng Các nguồn tiền gửi thanh toán thường biến động mạnh (kém ổn định) hơn tiền gửi tiết kiệm.

Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau.

Phân loại tiền gửi:

Theo mục đích: Tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm (hay tiền gửi giao dịch và phi giao dịch)

Theo thời hạn: Tiền gửi không kỳ hạn, kỳ hạn ngắn, kỳ hạn trung, kỳ hạn dài

Theo đối tượng gửi: Tiền gửi cá nhân, doanh nghiệp, NH khác, tổ chức xã hội chính trị….

Trên thực tế: các ngân hàng thường sử dụng kết hợp các loại tiền

Trang 13

gửi

Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch)

Đây là khoản tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào NH để nhờ NH giữ

và thanh toán hộ. Tiền gửi giao dịch đòi hỏi ngân hàng phải thanh toán ngay lập tức các lệnh rút tiền cho một cá nhân hay cho bên thứ ba, được chỉ rõ là người hưởng lãi Đây là loại tiền gửi không có kì hạn Khoản tiền này thường có số dư không ổn định, lãi suất thấp thay vào

đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ NH với mức phí thấp Tiền gửi giao dịch bao gồm tiền gửi giao dịch không hưởng lãi thông thường và tiền gửi giao dịch hưởng lãi

- Tiền gửi giao dịch hưởng lãi là sự kết hợp giữa tiền gửi giao dịch không hưởng lãi thông thường và tiền gửi tiết kiệm Nó cho phép Ngân hàng đòi hỏi khách hàng phải thông báo trước về việc rút tiền

Do đòi hỏi này ít khi được thực hiện nên Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán (tài khoản có thể phát séc) cho khách hàng Tiền gửi

có thể phát séc là tiền gửi có thể được thanh toán theo yêu cầu: tức

là, nếu người gửi tiền tới NHTM gửi và đề nghị thanh toán bằng cách viết ra một giấy rút tiền, NHTM sẽ phải thanh toán cho người đó ngay lập tức Tương tự, nếu một người nhận được một tấm séc thanh toán

và mang tờ séc đó chuyển vào NHTM, thì NHTM phải chuyển lập tức

số tiền ấy vào tài khoản của họ Thủ tục mở rất đơn giản Yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong phạm vi

số dư Một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với tài khoản cho vay (thấu chi- chi trội trên số dư có của tài khoản tiền gửi thanh toán) Một số ngân hàng sử dụng nhiều hình thức biến tướng của tài khoản thanh toán để năng lãi suất loại tiền gửi này nhằm cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác.

- Tiền gửi giao dịch không hưởng lãi thông thường là một trong

Trang 14

những nguồn vốn biến động nhiều nhất và ngân hàng khó có thể dự báo về quy mô tiền gửi giao dịch có thể huy động Đồng thời kì hạn tiềm năng của tiền gửi giao dịch là ngắn nhất bởi vì nó có thể được rút

ra mà không cần báo trước.

Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội

Đây là khoản tiền được lập ra để thu hút vốn của doanh nghiệp và các tổ chức

xã hội dự định dành tiền sử dụng sau một thời gian xác định Với tiền gửi có kỳ hạn, khách hàng vẫn có thể rút vốn bất kỳ lúc nào, không cần phải đợi đến khi đáo hạn nhưng số tiền gốc còn lại phải đảm bảo duy trì số dư tối thiểu theo quy định Điều này tạo điều kiện cho những khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn đột xuất Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình thức tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kì hạn được hưởng lãi suất cao hơn tùy theo độ dài của kì hạn Kì hạn tiền gửi loại này càng dài thì lãi suất tiền gửi loại này càng cao Ngoài ra, khoản tiền gửi có kỳ hạn có thể được dùng cho nhiều mục đích khác:

- Số dư trên tài khoản tiền gửi được phép cầm cố vay vốn, hoặc bảo lãnh cho người thứ ba vay vốn tại các NHTM.

- Dùng để xác nhận khả năng tài chính cho quý khách hàng hoặc thân nhân đi du lịch, học tậ p… ở nước ngoài.

Tiền gửi tiết kiệm của dân cư

Đây là khoản tiền được lập ra để thu hút khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (tiết kiệm) của tầng lớp dân cư, hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tiết kiệm

có sổ Theo đó, ngân hàng sẽ cấp cho người gửi tiền một sổ dùng để gửi tiền vào và rút tiền ra, đồng thời nó còn xác nhận số tiền đã gửi

Theo quy chế tiền gửi về tiền gửi tiết kiệm 1160, tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của

Trang 15

pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

Đối với tiền gửi loại này, khách hàng thông thường phải đợi đến khi đáo hạn mới được rút vốn Ngân hàng dùng khoản tiền này chủ yếu phục vụ cho hoạt động cho vay và đầu tư của mình Còn đối với tầng lớp dân cư, họ gửi tiết kiệm tại ngân hàng nhằm thực hiện các mục tiêu an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Bên cạnh đó, khách hàng được phép chuyển quyền sở hữu khi sổ tiết kiệm chưa đến hạn thanh toán để bảo toàn lãi Sổ tiết kiệm cũng được phép cầm cố vay vốn, hoặc bảo lãnh cho người thứ ba vay vốn tại bất kỳ NHTM và các TCTD khác, dùng để xác nhận khả năng tài chính cho khách hàng hoặc thân nhân đi du lịch, học tập… ở nước ngoài.

Khoản tiền gửi tiết kiệm thường có kì hạn dài nên lãi suất của khoản tiền này cũng cao hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi giao dịch Trong khi đó, chi phí quản lý và duy trì tài khoản cũng tương đối thấp Lãi suất của khoản tiền này cao hơn so với lãi suất trả cho tiền gửi thanh toán, thay đổi theo từng kì hạn gửi Số dư tiền gửi tiết kiệm ổn định theo từng kì hạn gửi Nguồn tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn và quan trọng nhất trong tổng nguồn vốn huy động, nhất là đối với các ngân hàng bán lẻ Do

đó, việc tăng cường huy động nguồn tiền này đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của NHTM và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng

Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà, bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như tiền gửi với các kì hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ, bằng vàng…) Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều trương mục tiết kiệm (hoăc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kì hạn và mỗi lần gửi khác nhau Sổ tiết kiệm không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể thế chấp để vay vốn

Tiền gửi của các ngân hàng khác

Trang 16

Khoản tiền này bao gồm tiền gửi của các ngân hàng đại lí – đây là tiền gửi mà các ngân hàng nắm giữ của nhau để thanh toán cho các dịch vụ đại lí Ví dụ một ngân hàng tại khu trung tâm cung cấp dịch vụ xử lí dữ liệu, vi tính hóa hoạt động ghi sổ, tư vấn các vấn đề thuế và đầu tư, tham gia cho vay, thanh toán bù trừ và thu séc cho các tổ chức nhận tiền gửi nhỏ ở nông thôn và ở những khu xa trung tâm Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ

và một số mục đích khác với qui mô không lớn, ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại các ngân hàng khác.

1.1.2.2 Nguồn đi vay

Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM Tuy nhiên, khi các ngân hàng không thể cung ứng vốn kịp thời để thỏa mãn nhu cầu rút tiền của người gửi tiền hay khi có cơ hội kinh doanh tốt, nhưng lúc đó ngân hàng lại không có đủ vốn ngay

để cung ứng, thì các ngân hàng sẽ đi vay Một l í do cho sự gia tăng nguồn vốn vay trong hoạt động ngân hàng trong những năm gần đây là không có yêu cầu dự trữ đối với hầu hết loại vốn này, điều này làm giảm chi phí của việc tài trợ bằng nguốn vốn vay Các khoản vay trên thị trường tiền tệ thường được thực hiện trong một vài phút và vốn được chuyển ngay lập tức đến ngân hàng có yêu cầu Tuy nhiên, có một hạn chế là lãi suất của các nguồn vốn vay biến động tương đối lớn Nếu một ngân hàng đang gặp khó khăn về tài chính và phải cố gắng vay từ những nguồn này thì chi phí đi vay của ngân hàng có thể tăng lên nhanh chóng, hoặc những người cho vay trên thị trường tiền

tệ có thể đơn phương từ chối cấp thêm tín dụng cho ngân hàng Nguồn đi vay mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng

nó đảm bảo khả năng thanh toán cho các ngân hàng, giúp cho ngân hàng hoạt động an toàn, liên tục, thông suốt Theo đối tượng cho vay, các NHTM có thể vay của NHTW, vay của TCTD khác và vay trên thị

Trang 17

trường vốn.

Vay Ngân hàng Trung Ương

Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả, khi thiếu hụt

dự trữ (dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán) Hình thức cho vay chủ yếu của ngân hàng Trung Ương (NHTW) là tái cấp vốn Đây là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHTW nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các NHTM Tái cấp vốn cung ứng kịp thời cho các ngân hàng thương mại nhằm thỏa mãn nhu cầu rút tiền của những người gửi tiền, mà nếu không khắc phục được, dễ dẫn ngân hàng tới chỗ mất khả năng thanh toán Lúc đó, NHTW là chỗ dựa của các ngân hàng thương mại; Hoặc khi có cơ hội kinh doanh tốt, nhưng NHTM lại không

có đủ vốn ngay để cung ứng, lúc đó NHTW là người giúp các NHTM không bị lỡ

cơ hội kinh doanh

Tùy từng quốc gia khác nhau mà hoạt động tái cấp vốn của NHTW được thực hiện dưới các hình thức khác nhau Có nhiều quốc gia, hành vi tái cấp vốn thường được thực hiện dưới hình thức tái chiết khấu, với nhiều quốc gia khác, NHTW thực hiện cho vay tái cấp vốn không chỉ dưới hình thức tái chiết khấu mà cón nhiều hình thức khác nữa thí dụ cho vay thế chấp hay ứng trước, cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thướng phiếu và các giấy tờ có giá khác…

Vay các tổ chức tín dụng khác

Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ

có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo khả năng thanh khoản Như vậy, nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách, và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHTW Quá trình vay mượn rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý (hoặc NHTW) Khoản vay có thể không cần đảm bảo, hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của Kho bạc Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm

Trang 18

đi và của ngân hàng đi vay tăng lên.

Vay trên thị trường vốn

Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu) huy động tiền gửi trung và dài hạn Rất nhiều ngân hàng thương mại thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được yêu cầu cho vay trung và dài hạn Do vậy, các khoản vay trung

và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn Thông thường đây là khoản vay không

có đảm bảo, những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này; họ thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của Ngân hàng Đầu tư Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp, Ngân hàng cần nghiên cứu

kĩ thị trường để quyết đinh quy mô mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp Các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ ảnh hưởng đến khả năng vay mượn.

1.1.2.3. Vốn chủ sở hữu

Thuật ngữ: “Vốn chủ sở hữu (VCSH)” có một ý nghĩa đặc biệt đối với ngân hàng, dưới góc độ kinh tế đó là nguồn tiền được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng, bao gồm chủ yếu là cổ phiếu, các khoản dự trữ và lợi nhuận không chia Dưới góc độ quản lý, cơ cấu của vốn chủ sở hữu: vốn góp, các quỹ, các khoản vay dài hạn

Vốn góp: hình thành khi ngân hàng bắt đầu hoạt động Tuỳ theo từng tính chất của ngân hàng: vốn của Nhà nước, các cổ đông đóng góp, các bên liên doanh góp, vốn thuộc sở hữu tư nhân Vốn của Nhà nước thuộc sở hữu Nhà nước do ngân sách nhà nước cấp Vốn của ngân hàng cổ phần do các cổ đông góp thông qua mua cổ phần hoặc

Trang 19

cổ phiếu; nếu là ngân hàng liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh đóng góp Vốn của ngân hàng tư nhân do cá nhân ứng ra Nguồn vốn này không phải hoàn trả cho chủ sở hữu Chủ ngân hàng

có thể tăng, giảm hoặc thay đổi cơ cấu, quyết định chính sách phân phối lợi nhuận.

Các quỹ: Trong môi trường lạm phát, Vốn góp bị giảm giá Để bảo đảm an

toàn giá trị, các ngân hàng có thể trích lập quỹ bảo toàn vốn theo tỷ lệ lạm phát Quỹ này làm gia tăng quy mô Vốn góp

Kinh doanh của ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro Nhiều tài sản của ngân hàng đã sinh lãi một thời gian dài có thể bị tổn thất Do vậy, các ngân hàng đều trích lập các khoản dự trữ bù đắp tổn thất (nếu có) - Quỹ dự phòng tổn thất Nếu tổn thất thực của ngân hàng nhỏ hơn số trích lập, VCSH sẽ gia tăng và ngược lại Một số ngân hàng không hạch toán quỹ này vào VSCH mà vào các khoản nợ do nguồn gốc của quỹ là trích từ thu nhập trước thuế như môt khoản chi phí và khi cần sẽ được chi ra để bù đắp tổn thất Như vậy độ lớn của quỹ phụ thuộc vào tổn thất ròng, thu nhâp của ngân hàng và tỷ lệ trích lập quỹ

Trong quá trình hoạt động, có thể thị giá cổ phiếu của ngân hàng lớn hơn mệnh giá Khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới, phần chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu được ghi lại dưới tên gọi thặng dư của vốn

Do giá trị các tài sản và nợ của ngân hàng thường xuyên thay đổi theo giá thị trường, đặc biệt là các chứng khoán và bất động sản Mặc dù chưa bán, ngân hàng cũng đánh giá lại theo giá thị trường Những chênh lệch do đánh giá lại được đưa vào Quỹ đánh giá lại tài sản

Ngân hàng thường trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế như Quỹ phúc lợi, Quỹ khen thưởng, Quỹ đào tạo, quỹ nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới Phần lớn, các quỹ này được sử dụng trong kì.

Các khoản vay dài hạn (có điều kiện nhất định): Một số nguồn vốn trong ngân hàng thuộc dạng lưỡng tính như cổ phần ưu đãi có thời hạn, các khoản vay dài hạn bằng giấy nợ có thể chuyển đổi thành cổ

Trang 20

phiếu Khi phát hành, cổ phiếu ưu đãi có thời hạn mang tính chất của

cổ phiếu – VCSH – song hết hạn loại cổ phiếu này bị loại khỏi VCSH Tương tự, khi phát hành và trong khoảng thời gian xác định, giấy nợ chuyển đổi là một khoản nợ, song sau đó lại có thể chuyển thành cổ phiếu NHTM gia tăng loại vốn này với nhiều mục đích Phần vốn này thường bị NHTW giới hạn và kiểm soát chặt chẽ NHTW xếp nguồn vốn này vào VCSH cấp 2 để tính tỷ lệ an toàn vốn.

Theo hiệp định Base 2 về tiêu chuẩn vốn quốc tế năm 2004, thành phần VCSH vẫn được phân chia giống Basel 1:

* Vốn cơ bản (Vốn cấp I)

+ Vốn điều lệ, vốn cổ phần tăng thêm, lợi nhuận giữ lại, quỹ dự trữ công khai

từ lợi nhuận sau thuế Loại vốn này chiếm tỷ trọng tối thiểu 50% vốn tự có của NH

* Vốn bổ sung (Vốn cấp II)

+ Quỹ dự trữ do đánh giá lại tài sản, quỹ dự phòng bù đắp những rủi ro được trích lập để bù đắp những rủi ro đột xuất chưa xác định được, các khoản nợ được xem như vốn

* Khi tính hệ số an toàn vốn các khoản được loại trừ khỏi vốn tự có bao gồm: Các khoản đã đầu tư vào công ty con hạch toán độc lập Phần vốn góp vào NH và tổ chức tài chính khác

Theo quy định của luật các tổ chức tín dụng năm 2010, thành phần VCSH: Điều 4, khoản 10: Vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước)

Điều 139 Quỹ dự trữ

1 Hằng năm, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải trích từ lợi nhuận sau thuế để lập và duy trì các quỹ dự trữ sau đây:

a) Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, vốn được cấp được trích hằng năm theo tỷ

lệ 5% lợi nhuận sau thuế Mức tối đa của quỹ này không vượt quá mức vốn điều lệ,

Trang 21

vốn được cấp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

b) Quỹ dự phòng tài chính;

c) Các quỹ dự trữ khác theo quy định của pháp luật

2 Tổ chức tín dụng không được dùng các quỹ quy định tại khoản 1 Điều này để trả cổ tức cho cổ đông hoặc phân chia lợi nhuận cho chủ sở hữu, thành viên góp vốn

Một cách tổng quát, vốn chủ sở hữu được chia thành: vốn cổ phần thường, vốn

cổ phần ưu tiên, thặng dư vốn, lợi nhuận chưa phân phối, dự trữ vốn cổ phần (các quỹ), giấy nợ thứ cấp, quyền lợi thiểu số của ngân hàng ở chi nhánh và giấy cam kết vốn cổ phần

Vốn cổ phần thường: là VCSH hình thành khi ngân hàng bắt đầu hoạt động

Nó đo lường giá trị trên bề mặt của cổ phiếu thường Loại VCSH này không phải hoàn trả Chủ ngân hàng có thể tăng, giảm hoặc thay đổi cơ cấu VCSH

Vốn cổ phần ưu tiên: đo lường giá trị trên bề mặt của cổ phiếu ưu tiên Cổ

phiếu ưu tiên có thể có thời hạn vĩnh viễn hoặc có thời hạn nhất định Nó thường ít quan trọng, chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn chủ

Thặng dư vốn: là lượng tiền được trả cao hơn giá trị bề mặt của cổ phiếu bởi các

cổ đông của ngân hàng, bao gồm lượng thặng dư tính theo giá trị thị trường so với giá trị bề mặt của cả cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu tiên và lãi lỗ bán trái phiếu chính phủ Đây là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong VCSH (thường chiếm 30-40%)

Lợi nhuận không chia (thu nhập giữ lại): là khoản lợi nhuận sau thuế sau khi

đã trả cổ tức cho cổ đông thường và cổ đông ưu tiên Phần này bản chất thuộc về các cổ đông song được vốn hóa nhằm mở rộng quy mô của VCSH và là khoản mục chiếm tỷ trọng rất lớn trong VCSH cùng với khoản mục thặng dư vốn

Dự trữ bất thường (dự trữ vốn cổ phần): Được sử dụng nhằm bảo vệ ngân

hàng trước những tổn thất bất thường Để bù đắp rủi ro (lạm phát, kinh doanh…) các quỹ trích lập để bảo toàn VCSH hoặc lập ra với mục đích nhất định Các quỹ như quỹ dự phòng tổn thất (bù đắp thua lỗ), quỹ đánh giá lại tài sản (đánh giá lại của NH về tài sản và nợ theo giá trị thị trường), quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ đào tạo, quỹ nghiên cứu phát triển

Giấy nợ thứ cấp: Các nguồn tài trợ cho VCSH dưới dạng các chứng khoán nợ

dài hạn có quyền đối với tài sản và thu nhập của ngân hàng (dưới dạng lưỡng tính như

Trang 22

cổ phần ưu đãi có thời hạn, khoản vay dài hạn bằng giấy nợ có thể chuyển đổi thành cổ phiếu) Các giấy nợ này được tính vào nợ cấp 2 (phân biệt với khoản nợ cấp 1)

Quyền lợi thiểu số của NH ở chi nhánh: Đây là khoản vốn không được sở hữu

bởi ngân hàng lớn (ngân hàng mẹ) trong VCSH của ngân hàng nhỏ (ngân hàng con) (ví dụ: Ngân hàng mẹ sở hữu 80% vốn của ngân hàng con trong tổng vốn 100mEUR, thì khoản mục minority interest trên BCĐKT của ngân hàng mẹ là 20mEUR)

Giấy cam kết vốn cổ phần: thực chất đây là các chứng khoán nợ có thể trả lại

bằng việc bán cổ phiếu

Trong quá trình hoạt động, nguồn vốn chủ sở hữu mặc dù được tích lũy thêm đáng kể những vẫn chiểm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng Song, vốn chủ sở hữu lại giữ một vai trò rất quan trọng Nó góp phần bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, tạo lòng tin đối với khách hàng và là sự đảm bảo khả năng thanh toán Do vậy, VCSH còn được gọi là “tấm nệm” giúp chống lại rủi ro phá sản của ngân hàng Trong trường hợp ngân hàng phá sản hoặc ngừng hoạt động, các khoản tiền gửi sẽ được hoàn trả trước, sau đó đến nghĩa vụ của chính phủ và người lao động, các khoản vay, cuối cùng mới đến chủ giấy nợ có khả năng chuyển đổi, cổ phần ưu đãi, cổ phần thường Bên cạnh đó, VCSH tạo lập tư cách pháp nhân

và duy trì hoạt động một ngân hàng Để hoạt động, điều đầu tiên là ngân hàng phải có được số vốn tối thiểu ban đầu Số vốn này, trước hết để mua sắm hoặc thuê trang thiết bị, nhà cửa cần thiết cho quá trình kinh doanh, phần còn lại tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng như cho vay hoặc mua chứng khoán Để cạnh tranh tốt, các ngân hàng phải không ngừng đổi mới công nghệ ngân hàng, nâng cao năng suất lao động và an toàn cho ngân hàng VCSH được sử dụng để nhập công nghệ mới, mở thêm chi nhánh hoặc quầy giao dịch, mở văn phòng đại diện Hơn nữa, VCSH còn góp phần điều

Trang 23

chỉnh hoạt động của ngân Rất nhiều quy định về hoạt động của ngân hàng của các nhà chức trách tiền tệ có liên quan chặt chẽ với VCSH.

Theo thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn của TCTD, điều 4 khoản 1: “Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài,

phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ)”

Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ quy định đối với

các ngân hàng thương mại, mức vốn pháp định áp dụng cho đến 31/12/2010 là 3.000 tỷ

đã buộc các NHTM phải tìm cách gia tăng vốn chủ sở hữu thông qua phát hành cổ phiếu mới, phát hành trái phiếu mới, lợi nhuận giữ lại, cổ phần hóa và sát nhập

Vì vậy mà, quy mô và cấu trúc hoạt động của ngân hàng được điều chỉnh theo vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu càng lớn thì ngân hàng có thể cung cấp nhiều loại hình dịch vụ, phát triển kinh doanh, nâng cao khả năng thanh khoản Ngược lại, nguồn vốn chủ sở hữu thấp sẽ hạn chế các khả năng tiếp cận các khách hàng có nhu cầu vay lớn, hạn chế việc mở rộng các loại hình dịch vụ, quy mô hoạt động và khi phá sản, do đặc thù của loại hình kinh doanh này sẽ rất dễ kéo toàn hệ thống sụp đổ theo, liên luỵ cho cả nền kinh tế Tuy nhiên, VCSH lại có chi phí huy động cao và tính thanh khoản thấp

Trong điều kiện hội nhập hiện nay, khi mà các tỷ lệ an toàn ngày càng được chú trọng thì việc phải gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng là điều cần thiết

từ đó chuyển tải đến địa điểm đã được xác định trước Cùng với sự

Trang 24

phát triển các mối quan hệ đa phương, rất nhiều các tổ chức xã hội có cùng mục tiêu phát triển như của ngân hàng, có nguồn tài chính, đã

sử dụng mạng lưới ngân hàng như các kênh dẫn vốn tới các mục tiêu Kết quả là hình thành nguồn ủy thác, làm gia tăng nguồn vốn của ngân hàng.

Tiền trong thanh toán

Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền kí quĩ để mở L/C ) Những ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư từ tiền của các ngân hàng thành viên để chuyển về để thực hiện cho vay.

Tiền khác

Các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả

Để đáp ứng ngày càng tốt hơn về yêu cầu cạnh tranh và phát triển trong quá trình hội nhập ngày càng khó khăn, phức tạp, các ngân hàng phải tìm cách gia tăng nguồn vốn của mình Vốn CSH chiếm tỷ trọng khá nhỏ, ngân hàng chủ yếu kinh doanh dựa trên nguồn vốn huy động được Mặt khác, tiền gửi khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM Nó là cơ sở chính của các khoản vay và do

đó, là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng Do vậy, cần phải quan tâm đến hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại, và tìm cách tăng cường nguồn huy động này.

1.2 Hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại

Hoạt động huy động tiền gửi là hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại trong đó ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi của tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận

Nguồn vốn huy động từ tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM Nếu NHTM biết sử dụng tốt

Trang 25

nguồn vốn này thì không những lợi nhuận của ngân hàng được tăng lên mà còn tạo cho ngân hàng uy tín ngày càng cao Qua đó, ngân hàng có thể mở rộng được vốn và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của mình.

1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động huy động tiền gửi đối với Ngân hàng thương mại

Hoạt động huy động tiền gửi là hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính đặc thù riêng có của NHTM Đây cũng là điểm khác biệt giữa NHTM và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Quy mô của tiền gửi là rất lớn so với các nguồn vốn khác, thông thường nó chiếm trên 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng của các ngân hàng Hoạt động huy động tiền gửi tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp nhưng nó lại là hoạt động then chốt của các NHTM Nguồn vốn từ hoạt động huy động tiền gửi đem lại là cơ sở để ngân hàng tạo ra thế chủ động trong kinh doanh

Quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác

Do nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động nên tuỳ theo quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động từ tiền gửi được mà các ngân hàng sẽ quyết định quy mô và cơ cấu đầu tư Với nguồn vốn huy động từ tiền gửi lớn, ngân hàng có đủ khả năng mở rộng phạm vi và khối lượng cho vay không chỉ giới hạn trên thị trường trong nước mà còn cho vay vượt ra khỏi lãnh thổ một quốc gia (cho vay trên thị trường quốc tế) Ngược lại, khả năng huy động tiền gửi không tốt, các ngân hàng nhỏ không có đủ vốn để mở rộng hoạt động cho vay Nói chung, một ngân hàng có nguồn tiền gửi khách hàng dồi dào sẽ đáp ứng được nhu cầu xin vay, dễ dàng mở rộng thị trường tín dụng, tăng khả năng thanh toán và các dịch vụ khác của ngân hàng Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển mạnh

mẽ, hiện tại và tương lai nhu cầu về vốn là rất lớn, nên các ngân hàng cần phải có những dự đoán, điều chỉnh hoạt động huy động tiền gửi để duy trì nguồn vốn phù hợp sao cho với nhu cầu đặt ra

Quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Nguồn vốn huy động từ tiền gửi lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng

Trang 26

mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, giảm thiểu rủi ro, tạo dựng uy tín cho các NHTM Bên cạnh việc cho vay, các NHTM còn thực hiện các nghiệp vụ đầu tư quan hệ tín dụng với các cá nhân, tổ chức kinh tế cả

về quy mô, khối lượng, chủ động về thời gian và thời hạn cho vay Đặc biệt sau khi nước ta gia nhập WTO, sự xuất hiện hàng loạt các ngân hàng nước ngoài đã làm cho tình hình cạnh tranh giữa các ngân hàng trở nên gay gắt Khả năng huy động tiền gửi tốt sẽ làm tăng uy tín của các NHTM, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Bởi nếu có một nguồn tiền gửi dồi dào thì ngân hàng sẽ chủ động đưa

ra các mức lãi suất cho vay một cách hợp lý nhằm thu hút được khách hàng Qua đó, các ngân hàng có thể mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế Nguồn tiền gửi mà lớn sẽ tăng quyền chủ động của ngân hàng trong việc thỏa thuận quy mô, kì hạn, thời hạn, thậm chí cả lãi suất với khách hàng.

Mở rộng cơ sở khách hàng

Nguồn vốn huy động từ tiền gửi là cơ sở để cho các Ngân hàng cho vay và thực hiện hoạt động các đầu tư khác Do vậy, làm tốt nghiệp vụ huy động tiền gửi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng đối với các thành phần kinh tế, chủ động về thời hạn cho vay và thậm chí đưa ra được

cả mức lãi suất cho vay ưu đãi đối với khách hàng Điều này thu hút nhiều khách hàng đến ngân hàng làm cho doanh số hoạt động của ngân hàng tăng lên nhanh chóng Từ đó, uy tín của ngân hàng được đảm bảo và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động tiền gửi, các ngân hàng sẽ đánh giá được một phần chất lượng hoạt động của ngân hàng, đo lường được sự uy tín hay sự tín nhiệm của khách hàng đối với mình Từ đó, các ngân hàng có thể đưa ra các biện pháp hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi Điều đó vừa giữ vững lại vừa mở

Trang 27

rộng quan hệ của ngân hàng với khách hàng.

Tóm lại, nghiệp vụ huy động tiền gửi có vai trò hết sức quan trọng đối với các NHTM Nghiệp vụ này không chỉ góp phần mang lại nguồn vốn kinh doanh cho các NHTM mà còn là kênh tiết kiệm và đầu tư an toàn đối với các khách hàng Do vậy mà, các NHTM cần phải quan tâm, chú trọng đến hoạt động huy động tiền gửi.

1.2.2 Các hình thức huy động tiền gửi khách hàng của Ngân hàng thương mại

Trong nền kinh tế mở cửa hội nhập hiện nay, để thu hút được nguồn tiền gửi lớn từ trong dân chúng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, các NHTM phải tìm cách đa dạng hóa cung cấp sản phẩm dịch vụ, đáp ứng tối đa mọi nhu cầu của khách hàng Do vậy, căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, huy động tiền gửi khách hàng có thể phân chia thành nhiều hình thức khác nhau:

Theo mục đích huy động: huy động tiền gửi được chia thành: huy động tiền gửi thanh toán và huy động tiền gửi tiết kiệm

Theo đối tượng huy động: Huy động tiền gửi từ các tầng lớp dân cư, Huy động tiền gửi từ các các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác

Theo thời hạn huy động: huy động từ tiền gửi không kì hạn và huy động từ tiền gửi có kì hạn

Phân theo loại tiền gửi: Huy động bằng tiền gửi nội tệ và Huy động bằng tiền gửi ngoại tệ.

1.2.2.1 Theo mục đích huy động

Huy động tiền gửi thanh toán

Đây là hình thức huy động tài khoản tiền gửi thanh toán các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng, cá nhân Đối với loại tài khoản tiền gửi này, mục đích chính của người gửi tiền là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng Khách hàng có thể rút tiền nhiều lần bằng các phương tiện

Trang 28

thanh toán Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản để chuyển trả cho người thụ hưởng, hay chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này Tiền gửi thanh toán có chi phí huy động thấp, ngoài chi phí trả lãi rất nhỏ, ngân hàng còn thu chi phí phát sinh trong hoạt động phục vụ thanh toán.

Để tăng nguồn tiền này, ngân hàng phải đa dạng hóa và phục vụ tốt các dịch

vụ trung gian, huy động nhiều khách hàng là các doanh nghiệp lớn sẽ làm cho mức

dư tiền gửi bình quân tại các ngân hàng luôn cao và ổn định, tạo điều kiện cho ngân hàng có thể sử dụng lượng tiền này để cho vay mà không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng

Huy động tiền gửi tiết kiệm

Đây là hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm của tầng lớp dân cư Đây là loại tiền gửi để dành của các tầng lớp dân cư, được gửi vào ngân hàng để được hưởng

lãi, hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tiết kiệm có sổ Theo đó, ngân hàng sẽ cấp cho người gửi tiền một sổ dùng để gửi tiền vào và rút tiền ra, đồng thời nó còn xác nhận số tiền đã gửi

Các hình thức gửi tiền tiết kiệm phổ biến ở nước ta hiện nay là:

- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là sản phẩm tiết kiệm mà khách hàng không đăng ký kỳ hạn gửi ban đầu, dùng để thanh toán, giao dịch, được hưởng lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là sản phẩm tiết kiệm mà khách hàng gửi theo những kỳ hạn định trước Nếu khách hàng có nhu cầu rút trước hạn cũng có thể được đáp ứng nhưng phải chịu lãi suất thấp

- Tiền gửi tiết kiệm bậc thang: khách hàng gửi tiền một lần vào một sổ tiết kiệm nhưng được rút gốc nhiều lần Khi rút gốc (một phần hay toàn bộ) ngân hàng sẽ trả tiền lãi tương ứng với số tiền gốc cho khách hàng theo lãi suất quy định

- Tiền gửi tiết kiệm gửi góp: khách hàng gửi tiền có thể gửi theo mức

Trang 29

thỏa thuận nhiều lần vào một sổ tiết kiệm theo kì hạn nhất định đã đăng

kí với ngân hàng

- Tiền gửi tiết kiệm dự thưởng: khách hàng gửi tiền có kì hạn ngoài lãi suất được hưởng theo quy định còn được nhận phiếu dự thưởng để tham gia các đợt dự thưởng với nhiều giải thưởng hấp dẫn, có giá trị Ngoài ra còn môt số hình thức tiết kiệm khác như tiết kiệm phát lộc, tiết kiệm F@stSaving

Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi phi giao dịch Loại tiền gửi này được hưởng lãi cao và chủ tài khoản không được phát hành séc Nguồn tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn và quan trọng nhất trong tổng nguồn vốn huy động, nhất là đối với các ngân hàng bán lẻ Do đó, việc tăng cường huy động nguồn tiền này đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với

sự phát triển của NHTM

1.2.2.2 Theo đối tượng huy động

Huy động tiền gửi từ các tầng lớp dân cư

Mỗi một gia đình và cá nhân trong xã hội đều có những khoản tiền tiết kiệm

để dự phòng cho những nhu cầu chi dùng cho tương lai Khi xã hội càng phát triển thì khoản dự phòng này càng lớn Nhằm mục đích sinh lời, họ có thể

sử dụng các hình thức đầu tư như mua vàng, ngoại tệ mạnh, bất động sản… Các hình thức này mặc dù mang lại nguồn lợi nhuận cao hơn nhưng lại tiềm ẩn rủi ro lớn Do đó, xuất hiện bộ phận dân chúng chọn hình thức gửi tiền kiệm vào ngân hàng vừa đảm bảo an toàn lại vừa thu được một khoản lợi tức nhất định Tùy theo nhu cầu sử dụng tiền mặt mà khách hàng có thể lựa chọn các hình thức gửi tiền khác nhau với các kì hạn khác nhau Có 2 hình thức gửi tiền đặc trưng là tiền gửi

có kì hạn và tiền gửi thanh toán Tiền gửi có kì hạn mang giá trị cốt lõi

Trang 30

là sinh lời, trong khi đó tiền gửi thanh toán lại mang mục đích phục vụ cho nhu cầu thanh toán của khách hàng Đặc tính của loại này là biến động hơn rất nhiều so với tiền gửi tiết kiệm có kì hạn Do đó, để thu hút nguồn vốn ổn định trong xã hội, các ngân hàng thường quy định mức lãi suất đối với tiền gửi có kì hạn cao hơn so với tiền gửi thanh toán

Đối với nguồn tiền huy động từ các tầng lớp dân cư, do nhu cầu sử dụng khác nhau, các NHTM đã tìm mọi hình thức đa dạng hóa các sản phẩm cung cấp như rút ngắn kì hạn gửi tiền nhằm huy động tối đa các khoản tiết kiệm này, từ đó tạo ra một nguồn vốn không nhỏ để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và thu được lợi nhuận cho bản thân ngân hàng

Huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác

Đây là khoản tiền gửi của các doanh nghiệp, các cơ quan, đoàn thể… Với tư cách là trung tâm thanh toán, các NHTM thực hiện việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho các khách hàng Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp lớn nhỏ đều có tài khoản tại một ngân hàng và thực hiện các giao dịch trên tài khoản của mình thông qua ngân hàng đó Do đó có sự đan xen giữa các khoản phải thu và các khoản phải trả, cho nên hệ thống tài khoản thanh toán của ngân hàng luôn hình thành một số dư tiền gửi nhất định Nó đã trở thành nguồn vốn huy động có chi phí thấp, do các ngân hàng thường không trả lãi hoặc quy định một tỷ lệ lãi suất rất thấp Nếu biết khai thác

sử dụng thì nguồn vốn này sẽ mang lại hiệu quả rất lớn cho hoạt động kinh doanh của NHTM

Ngoài mục đích thanh toán, các doanh nghiệp khi có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, chưa cần dùng đến, họ sẽ mang gửi theo một kì hạn nhất định với mức lãi suất

cao hơn so với tiền gửi thanh toán tại ngân hàng để lấy lãi Khi có nhu cầu sử dụng, họ sẽ cử người đại diện đến ngân hàng yêu cầu rút tiền.

1.2.2.3 Theo thời hạn huy động

Trang 31

Tiền gửi là đầu vào sống còn của ngân hàng Đây là nguồn tài chính cơ bản tài trợ cho các khoản cho vay, đầu tư tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng Để thu hút tối đa khoản tiền này, các NHTM đã đưa ra các hình thức huy động với kì hạn phong phú, với các dịch vụ đa dạng kèm theo.

Huy động từ tiền gửi không kỳ hạn

Tiền gửi không kì hạn là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút tiền nhiều lần bằng các phương tiện thanh toán Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản để chuyển trả cho người thụ hưởng, hay chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này Đối với loại tài khoản tiền gửi này, mục đích chính của người gửi tiền là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng, do vậy, nó còn được gọi là tiền gửi thanh toán Tiền gửi không kỳ hạn

có chi phí huy động thấp, ngoài chi phí trả lãi rất nhỏ, ngân hàng còn thu chi phí phát sinh trong hoạt động phục vụ thanh toán

Để tăng nguồn tiền này, ngân hàng phải đa dạng hóa và phục vụ tốt các dịch

vụ trung gian, huy động nhiều khách hàng là các doanh nghiệp lớn sẽ làm cho mức

dư tiền gửi bình quân tại các ngân hàng luôn cao và ổn định, tạo điều kiện cho ngân hàng có thể sử dụng lượng tiền này để cho vay mà không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng

Huy động từ tiền gửi có kỳ hạn

Đây là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một thời gian nhất định theo kỳ hạn đã được thỏa thuận khi gửi tiền Mục đích của người gửi tiền là lấy lãi cho nên ngân hàng có thể chủ động kế hoạch hóa việc sử dụng nguồn vốn vì chủ động được thời gian Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào thời gian gửi tiền và sự thỏa thuận giữa hai bên về những điều kiện đảm bảo an toàn trong quan hệ tín dụng Về cơ bản, các khoản tiền gửi có kì hạn không được sử dụng để tiến hành thanh toán như các khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai nên không thể phát séc Thông thường, tiền gửi có kì hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có lãi suất cao

Tiền gửi có kì hạn là nguồn tiền tương đối ổn định, các ngân hàng có thể sử

Trang 32

dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh Để mở rộng khoản tiền này, ngoài biện pháp lãi suất, ngân hàng có thể thực hiện một số biện pháp nhằm tạo nên tính lỏng cho loại tiền gửi có kỳ hạn như cho phép khách hàng rút trước hạn hoặc quay số trúng thưởng…

1.2.2.4 Phân theo loại tiền

Để đa dạng hóa hoạt động huy động tiền gửi, bám sát nhu cầu gửi tiền của khách hàng (họ đang cất giữ loại tiền gì, nếu đang nắm giữ ngoại tệ có gửi tiết kiệm trong ngân hàng hay không), ngân hàng đưa ra hình thức huy động phân theo loại tiền nội tệ hoặc ngoại tệ

Huy động bằng tiền gửi nội tệ

Nội tệ là loại tiền được sử dụng chủ yếu trong các hoạt động hàng ngày của người dân Họ tích trữ nội tệ, thanh toán, giao dịch qua ngân hàng cũng thường bằng nội tệ Vì vậy, nguồn tiền gửi huy động bằng nội tệ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền gửi huy động và có lãi suất huy động cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động bằng ngoại tệ

Huy động bằng tiền gửi ngoại tệ

Xuất phát từ nhu cầu thanh toán quốc tế, yêu cầu đầu tư, cất trữ các ngoại tệ mạnh của khách hàng nên để đa dạng hóa hoạt động huy động tiền gửi, ngân hàng đưa ra hình thức huy động tiền gửi bằng ngoại tệ Ngoại tệ có thể chuyển đổi thành nội tệ theo một tỷ giá nhất định do NHNN quy định hàng ngày Tỷ giá này luôn biến động theo cung cầu trên thị trường nên lãi suất huy động của khoản tiền này thường thấp hơn so với lãi suất tiền gửi huy động bằng nội tệ

1.2.3. Các chỉ tiêu đo lường hoạt động huy động tiền gửi

1.2.3.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn tiền gửi

Quy mô của nguồn tiền gửi thường được đo bằng lượng tiền gửi huy động được Mặt khác, quy mô nguồn tiền gửi lại là bộ phận chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn, quyết định tình hình hoạt động của ngân hàng Nghiệp vụ huy động tiền gửi không thể đạt hiệu quả khi mà lượng tiền gửi huy động không đủ để đạt được quy mô nhất định theo kế hoạch huy động vốn của ngân hàng Quy mô

Trang 33

tiền gửi mà lớn thì các ngân hàng có thể mở rộng hoạt động kinh doanh của mình Việc đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi sẽ hạn chế được những rủi ro trong trường hợp nền kinh tế biến động Ngược lại, quy mô tiền gửi mà thấp sẽ làm các ngân hàng bị hạn chế trong việc tiếp cận với các khách hàng có nhu cầu vay lớn, hạn chế việc mở rộng dịch vụ và quy mô hoạt động của ngân hàng.

Bên cạnh việc xem xét quy mô nguồn tiền gửi, ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng nguồn tiền gửi để đánh giá hoạt động huy động tiền gửi

Để đo lường tăng trưởng nguồn tiền gửi có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối và mức tăng trưởng tương đối (tỷ lệ tăng trưởng).

- Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch lượng tiền gửi huy động được giữa hai kỳ cần so sánh.

- Tỷ lệ tăng trưởng nguồn tiền gửi được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa lượng tiền gửi huy động kì hiện tại so với lượng tiền gửi huy động kỳ trước chia cho lượng tiền gửi huy động được kỳ trước Tỷ lệ tăng trưởng lượng tiền gửi huy động được thể hiện bằng đơn vị %.

Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức: y = dY/Y × 100(%), trong

đó Y là qui mô nguồn tiền gửi, và y là tỷ lệ tăng trưởng

Chỉ tiêu này được sử dụng làm thước đo sự phát triển của quy mô nguồn tiền gửi xem quy mô nguồn tiền gửi có tăng hay không, nếu tăng thì tốc độ tăng trưởng ổn định hay không ổn định.

1.2.3.2 Cơ cấu nguồn tiền gửi

Do mỗi sản phẩm tiền gửi có những đặc tính, đặc điểm riêng, cơ cấu nguồn tiền gửi có nghĩa là phân chia nguồn tiền gửi (TG) theo những tiêu thức nhất định

Trang 34

nghiệp, tổ chức kinh tế xã hội trong tổng tiền gửi.

- TG nội tệ/ tổng TG và TG ngoại tệ/ tổng TG: phản ánh tỷ trọng tiền gửi nội tệ và ngoại tệ trong tổng tiền gửi.

-

TG không kì hạn/ tổng TG TG có kì hạn/ tổng TG: phản ánh

tỷ trọng nguồn TG không kì hạn và có kì hạn trong tổng tiền gửi

Tỷ trọng các loại tiền gửi trong tổng tiền gửi cho biết loại tiền gửi đó chiếm bao nhiêu % trong tổng tiền gửi Dựa vào tỷ trọng từng nguồn tiền gửi, ngân hàng có thể đưa ra và thực hiện các biện pháp để gia tăng quy

mô và thay đổi cơ cấu một cách có hiệu quả nhất Bên cạnh đó, ngân hàng còn có thể thống kê đầy đủ, kịp thời các thay đổi về các loại nguồn tiền gửi, tốc độ vòng quay của mỗi loại; phân tích kĩ lưỡng các nhân tố gắn liền với sự thay đổi đó rồi từ đó lập ra kế hoạch nguồn tiền gửi cho từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu sử dụng Công tác thống kê nguồn tiền gửi (dựa vào cơ cấu nguồn tiền gửi) sẽ cho các nhà quản lý nghiên cứu mối liên hệ giữa số lượng, cấu trúc nguồn với các nhân tố ảnh hưởng cũng như thấy được đặc tính của thị trường nguồn của ngân hàng Mặt khác, hoạt động huy động tiền gửi còn chịu tác động của các nhân tố bên ngoài ngân hàng, do đó, đòi hỏi các ngân hàng phải thường xuyên, liên tục cập nhập kịp thời những thay đổi của thị trường để xây dựng cơ cấu tiền gửi hợp lí.

1.2.3.3 Chi lãi tiền gửi

Chi lãi tiền gửi là việc trả lãi của ngân hàng cho các loại tiền gửi căn cứ theo lãi suất huy động mà khách hàng và ngân hàng đã thỏa thuận Đối với mỗi loại tiền gửi, tiền lãi phải trả được tính bằng cách lấy số lượng tiền gửi gốc nhân với lãi suất huy động rồi nhân tiếp với

kì hạn gửi tiền Lãi suất huy động là một yếu tố rất quan trọng, gắn liền

Trang 35

với mỗi loại sản phẩm huy động của ngân hàng và với mỗi ngân hàng Mặt khác, loại lãi suất này thay đổi thường xuyên dưới ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: khả năng tiết kiệm và gia tăng tiết kiệm của một quốc gia, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ sinh lời của các hoạt động đầu tư khác…

Để đo lường hoạt động huy động tiền gửi, các NHTM thường sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng chi phí lãi trả tiền gửi và tỷ trọng tiền lãi trả cho tiền gửi huy động trên tổng chi phí Các chỉ tiêu này được tính như sau:

chi phí trả lãi tiền gửi năm sau so với chi phí trả lãi tiền gửi năm trước Trong điều kiện kinh tế ổn định, không có biến động của lãi suất quá lớn, tốc độ tăng cho biết quy mô nguồn tiền gửi tăng như thế nào tùy theo tỷ lệ tăng Tỷ lệ tăng cao tức là quy mô nguồn tiền gửi đang gia tăng và ngược lại

tính bằng cách lấy số tiền lãi phải trả cho tiền gửi huy động chia cho tổng chi phí Tổng chi phí bao gồm tiền lãi phải trả cho người gửi tiền, chi phí trả lãi cho các khoản huy động và vay các TCTD, chi phí phi trả lãi (chi phí trả cho các khoản khuyến mãi, quay số trúng thưởng khi huy động tiền gửi, chi phí lương cho cán bộ nhân viên phòng nguồn vốn… và một số chi phí khác) Chỉ tiêu này phản ánh khả năng huy động tiền gửi, quy mô nguồn tiền gửi cao hay thấp, cơ cấu tiền gửi có

đa dạng hay không Mức tỷ trọng tiền lãi cao cho biết khả năng huy động tiền gửi của Chi nhánh tốt hay quy mô nguồn tiền gửi là lớn, cơ cấu tiền gửi đa dạng Ngược lại, mức tỷ trọng này mà thấp thì tức là khả năng huy động tiền gửi của Chi nhánh chưa tốt Ban lãnh đạo Chi

Trang 36

nhánh cần họp bàn để đưa ra các giải pháp tăng cường hoạt động huy động tiền gửi

Hiện nay, nhu cầu tài trợ cho các khoản vay dài hạn tăng cao, các ngân hàng thường chú trọng thu hút nguồn tiền gửi có chi phí huy động thấp, ổn định

1.2.3.4 Số lượng sản phẩm tiền gửi

Số lượng sản phẩm tiền gửi được đo lường bằng số sản phẩm tiền gửi

mà ngân hàng cung cấp Các sản phẩm càng đa dạng, bám sát nhu cầu của khách hàng thì lượng khách hàng đến gửi tiền sẽ nhiều hơn; khi đó, ngân hàng sẽ huy động được nguồn tiền gửi lớn Khi các sản phẩm tiền gửi đến hạn thanh toán, việc đa dạng hóa sản phẩm sẽ làm cho các ngân hàng hạn chế rủi

ro thanh khoản.

Tóm lại, để công tác huy động tiền gửi của các NHTM đạt hiệu quả cao thì các Ngân hàng cần phải tính toán, nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu thị trường Trên cơ sở đó, đưa ra các sản phẩm tiền gửi đa dạng về kì hạn, loại tiền, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.

1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại

Bản thân ngân hàng không thể tự mình hoạt động tốt được mà nó còn chịu cả

sự chi phối từ bên ngoài Vì vậy hoạt động huy động tiền gửi không chỉ chịu tác động của các yếu tố bên trong ngân hàng còn chịu tác động của nền kinh tế hay xã hội Đó có thể là những nhân tố chủ quan hay nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng

Trang 37

Trong kinh doanh thì uy tín là một yếu tố vô cùng quan trọng Nó quyết định thành công cho doanh nghiệp Uy tín không phải là thứ một sớm một chiều có ngay

mà nó được kết tinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Đối với Ngân hàng, uy tín có được là do sự nỗ lực, phấn đấu của tập thể cán bộ ngân hàng trong một thời gian dài Uy tín của ngân hàng trong hoạt động huy động tiền gửi thể hiện bởi khả năng sẵn sàng thanh toán khi khách hàng có nhu cầu rút tiền trước hạn và chất lượng hoạt động Những ngân hàng có bề dày hoạt động lâu năm, quy mô lớn, tiềm lực tài chính vững chắc, hoạt động kinh doanh tốt, an toàn thì khách hàng sẽ tìm đến ngân hàng gửi tiền nhiều hơn những ngân hàng khác mặc dù có thể lãi suất huy động ở ngân hàng đó cao hơn Khách hàng luôn có xu hướng trung thành với ngân hàng họ đã lựa chọn Bởi họ tin rằng, khi gửi tiền vào những ngân hàng này, đồng vốn của mình sẽ được an toàn tuyệt đối Điều này làm cho những ngân hàng

có quy mô lớn, uy tín cao luôn huy động được nguồn tiền gửi nhiều hơn, chi phí rẻ hơn, và tiết kiệm thời gian hơn do mất ít thời gian marketing ngân hàng

 Chính sách khách hàng

Nhu cầu của công chúng có vai trò quyết định đối với loại hình tiền gửi nào sẽ được ngân hàng cung cấp Ngân hàng nào không tuân thủ theo sở thích của khách hàng sẽ phải trả giá cao hơn ngân hàng khác để huy động tiền gửi Vì vậy, việc đưa

ra chính sách khách hàng của mỗi ngân hàng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng Thông thường, Ngân hàng phân chia khách hàng thành nhiều nhóm, mỗi nhóm có những cách phục vụ riêng như đối với khách hàng lâu năm thì đưa ra các chính sách ưu ái như tăng lãi suất huy động đối với những khách hàng này, đối với các khách hàng mới thì đưa ra các chương trình khuyến mãi đi kèm như “tiết kiệm may mắn”- trúng xe hơi, trúng nhà, đối với khách hàng có số dư tiền gửi lớn, bạn hàng lâu năm, giao dịch thường xuyên thì có hẳn phòng VIP phục vụ giao dịch… Ngoài ra, ngân hàng nào “nhay nhạy” và “thấu đáo” trong việc đưa ra các sản phẩm tiền gửi đánh động vào sở thích và tâm lý của khách hàng, ngân hàng đó sẽ giành được nhiều thị phần hơn

Trang 38

 Lãi suất huy động

Đối với ngân hàng, lãi suất huy động chính là giá cả của nguồn huy động Họ muốn huy động với lãi suất thấp nhất Ngân hàng nào quyết định chọn mục tiêu là cạnh tranh giành tiền gửi sẽ luôn luôn đặt ra mức lãi suất cao hơn để kéo khách hàng khỏi các đối thủ cạnh tranh Ngược lại khi ngân hàng muốn hạn chế quy mô của một loại hình tiền gửi nào đó, ngân hàng sẽ hạ lãi suất công bố thấp hơn mức lãi suất của các đối thủ cạnh tranh đưa ra Tuy nhiên, các ngân hàng cần phải cân nhắc mức lãi suất hợp lý dung hòa lợi nhuận của khách hàng với lợi ích của người gửi tiền Lãi suất chi trả càng cao càng có thể huy động được lớn, từ đó mở rộng cho vay và đầu tư Mặt khác, lãi suất cao cũng làm gia tăng chi phí của ngân hàng Khi doanh thu không tăng kịp với chi phí thì lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm Lãi suất chi trả mà thấp thì khó thu hút khách hàng đến gửi tiền Vốn thấp, ngân hàng khó mở rộng cho vay và đầu tư dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp

Do vậy, mỗi ngân hàng cần phải tính toán kĩ lưỡng, đưa ra chính sách lãi suất huy động linh hoạt, phù hợp với yêu cầu của thị trường để ngân hàng vừa thu hút được nhiều khách hàng, vừa mang lại lợi nhuận cho mình Có như vậy thì mới tăng cường được hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng mình

 Chính sách truyền thông Marketing

Chính sách truyền thông marketing tức là sử dụng các hoạt động thông tin, truyền tin về sản phẩm dịch vụ ngân hàng tới khách hàng như hoạt động quảng cáo, giao dịch cá nhân, Marketing trực tiếp… Các hoạt động này nhằm mở rộng tư duy, sự hiểu biết của khách hàng về sản phẩm dịch vụ và ngân hàng, thuyết phục họ sử dụng sản phẩm dịch vụ và duy trì mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng Ngoài ra, truyền thông Marketing còn bao gồm cả các quan hệ được xác định trên cơ sở trao đổi thông tin và truyền cho nhau những trạng thái cảm xúc tốt đẹp giữa ngân hàng và khách hàng như các hoạt động tuyên truyền, tài trợ, giao tiếp công chúng…

Trong công tác huy động tiền gửi, truyền thông Marketing làm cho công chúng hiểu rõ, đầy đủ hơn về sản phẩm tiền gửi, giúp khách hàng có căn cứ quyết định

Trang 39

việc lựa chọn sản phẩm tiền gửi và ngân hàng Ngoài ra, truyền thông Marketing còn tạo lập và phát triển hình ảnh của ngân hàng trên thị trường, chỉ rõ sự khác biệt giữa ngân hàng này với ngân hàng khác; tăng cường uy tín, danh tiếng của ngân hàng; thiết lập sự tin tưởng và trung thành của khách hàng – yếu tố quan trọng của cạnh tranh huy động tiền gửi.

 Trình độ năng lực cán bộ, nhân viên chức

Không chỉ riêng với ngân hàng mà trong bất cứ ngành nghề nào, “yếu tố con người” cũng phải được đặt lên hàng đầu Trình độ chuyên môn với kĩ năng làm việc của cán bộ, nhân viên là cơ sở quan trọng để thực hiện những thắng lợi của mục tiêu

đề ra Các cán bộ, nhân viên ngân hàng có năng lực, trình độ nghiệp vụ cao, tác phong nhanh nhẹn sẽ gây ấn tượng tốt đối với khách hàng, thu hút nhiều khách hàng đến gửi tiền hơn Thái độ trong tiếp xúc của nhân viên giao dịch đối với khách hàng cũng rất quan trọng Nó là hình ảnh ban đầu, ăn sâu vào tiềm thức khách hàng

Họ có thể có “cảm tình” với ngân hàng, lựa chọn đến giao dịch tại ngân hàng làm tăng nguồn tiền gửi đồng thời cũng có thể chọn giao dịch tại ngân hàng khác, làm giảm nguồn tiền này tại ngân hàng

Do đó, để tăng cường huy động tiền gửi thì một điều cực kỳ quan trọng là các các bộ, nhân viên ngân hàng phải có đủ kỹ năng, trình độ và tính chuyên nghiệp trong việc thực hiện các dịch vụ kinh doanh ngân hàng

 Công nghệ ngân hàng

Ngày nay, vai trò của khoa học công nghệ ngày càng to lớn Nó là bước ngoặt cho sự phát triển và làm thay đổi căn bản hoạt động của Ngân hàng Khi áp dụng công nghệ hiện đại, Ngân hàng sẽ giảm thời gian giao dịch, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, chiếm lĩnh thị trường bằng các thiết bị giao dịch tự động, tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM; đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tăng vòng quay tiền tệ, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả đồng vốn cho xã hội Ứng dụng công nghệ làm cho các giao dịch thuận tiện và đảm bảo an toàn cho khách hàng hơn điều này tác động tích cực đến hoạt động huy động tiền gửi Ví dụ

Trang 40

việc lắp các máy ATM giúp ngân hàng tìm kiếm được nguồn tiền gửi lớn do một lượng lớn tiền gửi thanh toán được chuyển vào ngân hàng phục vụ cho việc thanh toán, chi trả lương…

Như vậy, việc phát triển các sản phẩm công nghệ hiện đại giúp cho các ngân hàng mở rộng không gian, thời gian, tối ưu hóa hoạt động kinh doanh.

1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan

Nhân tố khách quan là những nhân tố nằm ngoài ngân hàng tác động đến hoạt động huy động tiền gửi; Đây là các yếu tố mà khi tác động đến ngân hàng sẽ không thể chống được, đó là các rủi ro không thể tránh Ngân hàng chỉ có thể nhận thức,

dự báo và tìm cách giảm thiểu các rủi ro khi nó xảy ra

 Chính sách, quy định của Nhà nước:

Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính được quản lí chặt chẽ nhất nhằm mục đích bảo vệ các khoản tiết kiệm của công chúng, quản lí tốc độ tăng trưởng tiền tệ

và tín dụng, củng cố lòng tin vào hệ thống ngân hàng – tài chính và đảm bảo việc cung cấp thông tin tài chính – tín dụng hợp lí, hạn chế tình trạng phân biệt đối xử

Vì vậy hoạt động của NHTM phải chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ bằng các văn bản pháp quy của các cơ quan có thẩm quyền

Các chính sách, quy định là kim chỉ nam dẫn đường cho các NHTM hoạt động hiệu quả Mặt khác, hoạt động của ngân hàng nói chung hay hoạt động huy động tiền gửi nói riêng có ảnh hưởng tới nhiều chủ thể kinh tế như: nhà đầu tư, người gửi tiền… Ngân hàng là nơi tích trữ tiết kiệm hàng đầu của công chúng – đặc biệt là của

cá nhân, hộ gia đình Việc thất thoát các khoản vốn này trong trường hợp ngân hàng phá sản sẽ trở thành thảm họa cho rất nhiều cá nhân và gia đình Hầu hết những người này đều thiếu kiến thức chuyên môn về tài chính và thiếu thông tin cần thiết

để đánh giá chính xác mức độ rủi ro của ngân hàng Để đảm bảo an toàn cho các chủ thể này hay cho ngân hàng, Nhà nước đưa ra các chinh sách quy định cụ thể để các bên liên quan thấy rõ được quyền lợi, trách nhiệm của ngân hàng, khách hàng Đây là điều kiện đảm bảo để khách hàng an tâm tin tưởng dịch vụ hơn tạo sự trung

Ngày đăng: 31/03/2015, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Hoàng Xuân Quế (2005), Giáo trình Ngân Hàng Trung Ương – Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngân Hàng Trung Ương
Tác giả: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2005
2. PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài (2007), Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ, Nhà xuất bản Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Năm: 2007
3. PGS.TS Phan Thị Thu Hà (2009), Giáo trình Quản trị Ngân Hàng Thương Mại, Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị Ngân Hàng Thương Mại
Tác giả: PGS.TS Phan Thị Thu Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải
Năm: 2009
4. Ngân hàng nhà nước (2010), “Các Văn bản hướng dẫn Luật Ngân Hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Văn bản hướng dẫn Luật Ngân Hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng 2010
Tác giả: Ngân hàng nhà nước
Năm: 2010
5. Ngân hàng nhà nước (2006), “Quyết định 47/2006/QĐ-NHNN sửa đổi quy chế về tiền gửi tiết kiệm kèm theo quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN do thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 47/2006/QĐ-NHNN sửa đổi quy chế về tiền gửi tiết kiệm kèm theo quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN do thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành
Tác giả: Ngân hàng nhà nước
Năm: 2006
6. Ngân hàng nhà nước (2010), “Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn của TCTD” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn của TCTD
Tác giả: Ngân hàng nhà nước
Năm: 2010
7. Agribank (2008), “Quyết định số 123/QĐ/HĐQT-KHTH ngày 21 tháng 2 năm 2008 của HĐQT NHNo Việt Nam kèm theo quy định về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống NHNNo&PTNT Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 123/QĐ/HĐQT-KHTH ngày 21 tháng 2 năm 2008 của HĐQT NHNo Việt Nam kèm theo quy định về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống NHNNo&PTNT Việt Nam
Tác giả: Agribank
Năm: 2008
8. Agribank (2008), “Quyết định số 277/QĐ/NHNo-KHTH ngày 22 tháng 2 năm 2008 của Tổng giám đốc NHNo Việt Nam về việc ban hành Danh mục các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống NHNNo&PTNT Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 277/QĐ/NHNo-KHTH ngày 22 tháng 2 năm 2008 của Tổng giám đốc NHNo Việt Nam về việc ban hành Danh mục các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống NHNNo&PTNT Việt Nam
Tác giả: Agribank
Năm: 2008
10. Báo cáo kết quả kinh doanh của Agribank 2008, 2009, 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Sơ đồ bộ máy điều hành của NHNo&PTNT - chi nhánh thành - Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương
Bảng 2.1 Sơ đồ bộ máy điều hành của NHNo&PTNT - chi nhánh thành (Trang 44)
Bảng 2.2:  Bảng cân đối kế toán của Agribank Hải Dương - Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương
Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán của Agribank Hải Dương (Trang 45)
Bảng 2.3: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank Hải - Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương
Bảng 2.3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank Hải (Trang 47)
Bảng 2.4: Tổng kết hoạt động cho vay theo loại tiền giai đoạn 2008-2010 - Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương
Bảng 2.4 Tổng kết hoạt động cho vay theo loại tiền giai đoạn 2008-2010 (Trang 50)
Bảng 2.5: Tổng kết hoạt động cho vay phân theo kì hạn giai đoạn 2008- 2008-2010 - Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương
Bảng 2.5 Tổng kết hoạt động cho vay phân theo kì hạn giai đoạn 2008- 2008-2010 (Trang 51)
Bảng 2.6: Tổng kết hoạt động cho vay phân theo thành phần kinh tế - Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương
Bảng 2.6 Tổng kết hoạt động cho vay phân theo thành phần kinh tế (Trang 52)
Bảng 2.8: Tình hình huy động vốn tại Agribank Hải Dương - Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương
Bảng 2.8 Tình hình huy động vốn tại Agribank Hải Dương (Trang 54)
Bảng 2.11: Cơ cấu nguồn tiền gửi huy động phân theo đối tượng - Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương
Bảng 2.11 Cơ cấu nguồn tiền gửi huy động phân theo đối tượng (Trang 62)
Bảng 2.12: Cơ cấu nguồn tiền gửi huy động phân theo loại tiền - Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương
Bảng 2.12 Cơ cấu nguồn tiền gửi huy động phân theo loại tiền (Trang 66)
Bảng 2.13: Cơ cấu nguồn tiền gửi huy động phân theo kì hạn - Nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng NN&PTNT - CN tp Hải Dương
Bảng 2.13 Cơ cấu nguồn tiền gửi huy động phân theo kì hạn (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w