Tuy nhiên, hoạt độngcho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các ngân hàng thương mại hiện nay chưa thuđược hiệu quả cao, nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được với nguồn vố
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và làm chuyên đề tốt nghiệp, em đã nhận được hướngdẫn tận tình của PGS.TS Vũ Duy Hào và sự chỉ bảo nhiệt tình của các anh chị trongphòng quản lý tín dụng của ngân hàng VPBank – chi nhánh Thăng Long Em xingửi lời cảm ơn PGS TS Vũ Duy Hào đã hướng dẫn giúp em hoàn thành chuyên đề
Em cũng xin cảm ơn các anh chị trong ban quản lý tín dụng đã cung cấp số liệu vàchỉ dẫn những kinh nghiệm thực tế giúp chuyên đề của em hoàn chỉnh hơn Trongquá trình làm chuyên đề, do thời gian tìm hiểu và nghiên cứu có hạn nên còn nhiềuthiếu xót, có những vấn đề chưa đề cập đến hoặc được đề cập đến nhưng vẫn khôngđầy đủ Em kính mong thầy, các anh chị và các bạn đóng góp thêm ý kiến
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2
1.1 Hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại 2
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ 2
1.1.2 Vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 3
1.1.3 Các hình thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại 7
1.2 Chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại 12
1.2.1 Khái niệm về chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại 12
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại 14
1.2.3 Sự cần thiết nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại 17
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại 19
1.3.1 Nhân tố chủ quan 19
1.3.2 Các nhân tố khách quan 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHI NHÁNH THĂNG LONG 27
2.1 Khái quát về ngân hàng VPBank – chi nhánh Thăng Long 27
2.1.1 Tổng quan về ngân hàng VPBank 27
2.1.2 VPBank - chi nhánh Thăng Long 28
Trang 32.1.3 Tình hình hoạt động của VPBank – chi nhánh Thăng Long 30
2.2 Thực trạng chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank – chi nhánh Thăng Long 33
2.2.1 Điều kiện cho vay tại VPBank Thăng Long 33
2.2.2 Phương thức cho vay của VPBank 34
2.2.3 Quy trình cho vay của VPBank 34
2.2.4 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn 36
2.2.5 Doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của VPBank Thăng Long 37
2.2.6 Dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của VPBank Thăng Long 38
2.2.7 Tỷ lệ nợ quá hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ 42
2.2.8 Vòng quay vốn vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank Thăng Long 43
2.2.9 Lợi nhuận từ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank Thăng Long 44
2.3 Đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank – chi nhánh Thăng Long 46
2.3.1 Kết quả đạt được 46
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 47
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VPBANK CHI NHÁNH THĂNG LONG 52
3.1 Định hướng phát triển của VPBank trong thời gian tới 52
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank Thăng Long 55
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank Thăng Long 61
3.3.1 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý 61
3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng VPBank 63
3.3.3 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ 64
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VPBank Ngân hàng thương mại cổ phần thương mại Việt Nam
Thịnh VượngDNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
SXKD Sản xuất kinh doanh
TSĐB Tài sản đảm bảo
A/O Phòng quan hệ khách hàng
C/A Phòng quản lý tín dụng
HĐTD Hợp đồng tín dụng
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
BẢNG
Bảng 1: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thế giới 2
Bảng 2: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính phủ 3
Bảng 3: Nguồn vốn huy động theo kì hạn của VPBank Thăng Long 30
Bảng 4: Nguồn vốn huy động theo nguồn gốc của khoản vay 30
Bảng 5: Cơ cấu dư nợ tín dụng từ năm 2008 – 2010 của VPBank Thăng Long 31
Bảng 6: Số lượng DNVVN vay vốn tại VPBank Thăng Long 36
Bảng 7: Doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ từ 2008 – 2009 37
Bảng 8: Dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của VPBank Thăng Long 38
Bảng 9: Dư nợ cho vay DNVVN phân theo ngành tại VPBank Thăng Long 40
Bảng 10: Dư nợ cho vay DNVVN phân chia theo thời hạn cho vay 40
Bảng 11: Tỷ lệ nợ quá hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank Thăng Long 42
Bảng 12: Vòng quay vốn cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank Thăng Long 43
Bảng 13: Lợi nhuận từ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank Thăng Long 44
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank Thăng Long 39
Biểu đồ 2: Dư nợ cho vay theo kì hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ 41
Biểu đồ 3: Tỷ lệ nợ quá hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VPBank Thăng Long 43
Trang 7Biểu đồ 4: Lợi nhuận từ hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
VPBank Thăng Long 45
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Từ nhiều năm nay, những nước có nền kinh tế phát triển rất coi trọng sự pháttriển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi loại hình doanh nghiệp này góp phầnkhá quan trọng trong việc tăng thêm thu nhập và tạo công ăn việc làm cho người laođộng, đưa tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân ngày một tăng cao Ở nước
ta, nhờ có vốn tín dụng ngân hàng cho vay và vốn tự có của doanh nghiệp đã gópphần giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ khai thác tiềm năng kinh tế từ nhiên, sứclao động của mỗi vùng đưa vào sử dụng có hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đã đứngvững trong nền kinh tế thị trường và thực tế ngày càng khẳng định các doanhnghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng vào việc tăng trưởng kinh tế, thực hiệnđường lối đổi mới phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước Nhận thức được tầmquan trọng đó của doanh nghiệp vừa và nhỏ, các ngân hàng thương mại trong nướcđã và đang quan tâm rất nhiều đến đối tượng khách hàng này Tuy nhiên, hoạt độngcho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các ngân hàng thương mại hiện nay chưa thuđược hiệu quả cao, nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được với nguồn vốn vay mộtcách kịp thời làm mất đi cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp
Trong thời gian thực tập tại VPBank – chi nhánh Thăng Long, nhận thấy hoạtđộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ rất được chú trọng và doanh nghiệp vừa vànhỏ là một trong những đối tượng khách hàng được ngân hàng quan tâm và hướngtới Hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng ngày càng pháttriển nhưng chất lượng cho vay chưa tốt và vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục
Vì thế, đề tài: “Nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng – chi nhánh Thăng Long ”
được lựa chọn nghiên cứu nhằm tìm ra những hạn chế và biện pháp khắc phục đểhoạt động này thu được kết quả tốt nhất Trong chuyên đề tốt nghiệp này có nhữngnội dung cơ bản sau đã được nghiên cứu:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
ngân hàng VPBank – chi nhánh Thăng Long Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại VPBank – chi nhánh Thăng Long
Trang 9Theo tiêu chí đánh giá của Nhóm Ngân hàng thế giới, doanh nghiệp vừa vànhỏ chia thành 3 loại là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệpvừa Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người,doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, doanh nghiệp vừacó từ 50 đến 300 lao động.
Bảng 1: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thế giới
Loại hình doanh
Trang 10động trung bình hàng năm không quá 300 người.
Khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới, nền kinh tế nước ta đã có nhiều thayđổi và phát triển Theo đó, DNVVN cũng ngày càng phát triển về số luợng lẫn quy
mô Năm 2009, Chính phủ tiếp tục ban hành văn bản mới liên quan đến DNVVN làNghị định số 56/2009/NĐ_CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển DNVVN.Theo đó, DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định củapháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồnvốn (tổng vốn tương đương với tổng tài sản được xác định trên bảng cân đối kế toáncủa doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưutiên), cụ thể như sau:
Bảng 2: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính phủ
Quy mô
Khu vực
Doanhnghiệp siêu
Số lao động Tổng nguồn
vốn Số lao động
từ trên 10người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100tỷ đồng
từ trên 200người đến 300ngườiII.Công
từ trên 10người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100tỷ đồng
từ trên 200người đến 300ngườiIII.Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồngtrở xuống
từ trên 10người đến 50người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50 tỷ
đồng
từ trên 50người đến 100người
(Nguồn Điều 3 Nghị định 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ)
1.1.2 Vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
1.1.2.1 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNVVN là một loại hình doanh nghiệp không những thích hợp đối với nềnkinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà còn đặc biệt thích hợp với nềnkinh tế của những nước đang phát triển Ở nước ta, việc phát triển các DNVVNđược quan tâm rất nhiều từ phía Chính phủ DNVVN ở mỗi nước khác nhau sẽ cónhững đặc điểm khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước ở nước
ta, DNVVN có những đặc điểm cụ thể như sau:
Trang 11* DNVVN có vốn đầu tư ban đầu không lớn
DNVV ra đời với những xuất phát điểm thấp kể cả vốn và lao động Hầu hếtcác DNVVN thành lập ban đầu với số vốn đầu tư không lớn nên chu kỳ sản xuấtkinh doanh thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện chodoanh nghiệp kinh doanh hiệu quả Với số lượng vốn ít, DNVVN sẽ khó mở các lớpđào tạo nâng cao tay nghề nghiệp vụ cho các nhân viên dẫn đến trình độ lao độngthấp và không thu hút được lao động tay nghề cao như các doanh nghiệp lớn Tuynhiên, do quy mô vừa và nhỏ nên công tác điều hành thường mang tính trực tiếp,các quy định được thực hiện nhanh chóng, công tác kiểm tra, giám sát được tiếnhành chặt chẽ, không phải qua nhiều khâu trung gian vì vậy rất gọn nhẹ và tiết kiệmnhiều chi phí quản lý Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa người lao động của người sửdụng lao động khá chặt chẽ, gắn bó, tạo môi trường làm việc tốt, người quản lý luônbám sát công việc của người lao động nên nếu có mâu thuẫn xảy ra cũng dễ dànggiải quyết để cân bằng giữa lợi ích của người lao động với lợi ích của người sửdụng lao động
* DNVVN phát triển đa dạng trên nhiều lĩnh vực
DNVVN tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế,hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, côngnghiệp, xây dựng, nông lâm nghiệp… và hoạt động dưới mọi hình thức như: doanhnghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữuhạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể…, pháttriển ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề, phát triển rộng khắp ở cả thành thị lẫn nôngthôn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
* DNVVN hoạt động năng động linh hoạt trên thị trường
DNVVN có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường, cácDNVVN có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh.Mặt khác, do DNVVN tồn tại ở mọi thành phần kinh tế, sản phẩm của các DNVVN
đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn nên chỉ cần không thích ứng đượcvới nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế – xã hội này thì nó sẽ dễ dàng hơncác doanh nghiệp lớn trong việc chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp vớithị trường Vì thế DNVVN được coi là liều thuốc “giảm sóc” cho nền kinh tế
* Doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng lực kinh doanh còn hạn chế
Do quy mô vốn nhỏ nên các DNVVN không có điều kiện đầu tư quá nhiềuvào nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại
Trang 12Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tínhcạnh tranh trên thị trường kém DNVVN cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìmkiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường,công tác marketing còn kém hiệu quả Điều đó làm cho các mặt hàng của DNVVNkhó tiêu thụ trên thị trường và không cạnh tranh được với các doanh nghiệp lớn nênrất dễ bị thâu tóm và sát nhập.
* Năng lực quản lý ở doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp
Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ nên trình độ, kỹ năng của nhà lãnh đạodoanh nghiệp cũng như của người lao động còn hạn chế Số lượng DNVVN có chủdoanh nghiệp giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưanhiều Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưađược đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế – xã hộivà kỹ năng quản trị kinh doanh Mặt khác, DNVVN ít có khả năng thu hút đượcnhững nhà quản lý và lao động có trình độ, tay nghề cao do khó có thể trả lương caovà có các chính sách đãi ngộ hấp dẫn để thu hút và giữ chân những nhà quản lýcũng như người lao động giỏi
Với những đặc điểm trên, cho thấy DNVVN không chỉ tồn tại trên nhiều lĩnhvực và ngành nghề mà còn đóng vai trò rất lớn đối với sự phát triển của mỗi nướctrên thế giới Điều này được thể hiện trong mục tiếp theo: vai trò của DNVVN trongnền kinh tế
1.1.2.2 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
DNVVN luôn có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước Trong bốicảnh nền kinh tế mới hồi phục sau cuộc khủng hoảng kinh tế và lạm phát đang xảy
ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, các nước đều chú trọng đến hỗ trợ các DNVVNnhằm huy động tối đa nguồn lực trong nền kinh tế để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tếvà góp phần ổn định nền kinh tế Đối với Việt Nam, nền kinh tế còn đang phát triển,nguồn vốn và thiết bị công nghệ còn lạc hậu, DNVVN càng đóng vai trò quantrọng Ở mỗi nước khác nhau, DNVVN có những vai trò khác nhau đối với nềnkinh tế, ở Việt Nam DNVVN có một số vai trò sau:
* Tạo ra số lượng việc làm cho người lao động
Nhiều DNVVN ở nước ta yều cầu trình độ lao động thấp (tốt nghiệp phổthông trung học) nên thu hút một lượng lớn lao động trên thị trường với chi phí
Trang 13thấp Một bộ phận lớn người lao động ở nước ta còn ở trình độ phổ thông, nên rấtkhó tham gia vào những doanh nghiệp lớn với những công nghệ và thiết bị tiên tiến,hiện đại nên DNVVN đã tạo ra một khối lượng việc làm lớn cho bộ phận này.
Khi nền kinh tế khủng hoảng, các doanh nghiệp lớn buộc phải cắt giảm laođộng để giảm chi phí sản xuất đến mức thấp nhất để có thể tồn tại và cạnh tranh trênthị trường Nhưng đối với DNVVN do đặc tính nhỏ gọn, linh hoạt nên dễ dàng thíchnghi với thay đổi của thị trường nên vẫn có thể hoạt động được Các doanh nghiệpnày không những giảm lao động mà vẫn thu hút được thêm lao động Điều này gópphần tạo nguồn thu ổn định cho người lao động, làm giảm bớt chênh lệch về thunhập giữa các bộ phận dân cư và sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền trongcả nước DNVVN còn được đánh giá là liều thuốc “giảm sóc” cho nền kinh tế khicó những biến động bất ngờ xảy ra như suy giảm kinh tế, khủng hoảng kinh tế
*Đảm bảo tính năng động cho nền kinh tế
Sự tham gia ngày càng đông đảo vào quá trình sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ làm cho số lượng và chủng loại sản phẩm tăng rất nhanh và
đa dạng, tạo ra nguồn sản phẩm dồi dào cho xã hội Điều đó đã làm tăng tính cạnhtranh trên thị trường, tạo ra sức ép lớn buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên đổimới sản phẩm, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm để thích ứng với sự thayđổi của thị trường Từ đó, góp phần làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn
*Phát huy và tận dụng các nguồn lực góp phần tăng trưởng kinh tế
Về nguồn vốn, DNVVN thường khởi sự ban đầu với số vốn tương đối nhỏ, dođó những cá nhân có vốn ít trong dân cư có thể tham gia đầu tư vào các DNVVNhoặc đứng ra thành lập DNVVN để kinh doanh, qua đó có thể thu hút được nguồnvốn trong dân cư vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Về lao động, các DNVVN thường yêu cầu trình độ lao động không cao Bêncạnh đó phần lớn lao động ở Việt Nam lại có ít kinh nghiệm và tay nghề không capnên các DNVVN tận dụng được nguồn lao động này với chi phí thấp DNVVNkhông phải đào tạo nhiều thời gian, tốn kém chi phí mà chỉ cần bồi dưỡng hay đàotạo ngắn ngày là người lao động có thể tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp
Về nguyên liệu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ do có nguồn vốn hạn chế, laođộng phổ thông là chính nên nguồn nguyên liệu chủ yếu là tại chỗ, thuộc phạm viđịa phương, dễ khai thác sử dụng từ đó bên cạnh việc tạo điều kiện giải quyết công
ăn việc làm cho lao động địa phương mà còn khai thác được nguồn tài nguyên sức
Trang 14lao động ở địa phương một cách triệt để mà tốn ít chi phí.
Về kỹ thuật, DNVVN thường sử dụng kỹ thuật phù hợp với trình độ lao độngvà khả năng vốn, kỹ thuật mà đa số quần chúng lao động có thể nhanh chóng tiếpthu và sử dụng được, ít sử dụng những kỹ thuật hiện đại đòi hỏi vốn lớn, đào tạo sửdụng lâu, tốn kém chi phí Vì thế, đa số trang thiết bị các doanh nghiệp này sử dụnglà sản phẩm trong nước
*Gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh
Cùng với sự phát triển DNVVN là sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà kinhdoanh trẻ, tài năng Đây là lực lượng cần thiết để góp phần thúc đẩy nền kinh tếViệt Nam phát triển Đội ngũ các nhà kinh doanh có năng lực ở nước ta còn khiêmtốn cả về số lượng và chất lượng do nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan Trongnhững năm đổi mới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất hiện ngày càng nhiều vớinhững gương mặt quản lý rất trẻ và năng động
Tóm lại, các DNVVN có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nước ta Tuynhiên do quy mô nhỏ, tốc độ phát triển kinh tế của thị trường và sự cạnh tranh trongnền kinh tế thúc đẩy các DNVVN phải có thêm vốn để mở rộng sản xuất kinhdoanh, xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị,… Ngân hàng là tổ chức tíndụng được các DNVVN tìm đến vay vốn nhiều nhất bởi lãi suất linh hoạt được ápdụng ở hầu hết các ngân hàng Các ngân hàng cũng ngày càng chú trọng hơn vớihoạt động cho vay loại hình doanh nghiệp này Ở mỗi ngân hàng khác nhau có cáchình thức cho vay DNVVN khác nhau
1.1.3 Các hình thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
Cho vay là hoạt động theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoảntiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận
Cho vay là hoạt động vô cùng quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất củaNHTM Cho vay khách hàng doanh nghiệp chiếm 70% hoạt động cho vay của hầuhết các ngân hàng ở nước ta hiện nay Bên cạnh đó, các DNVVN chiếm đa số trongtổng số doanh nghiệp của nền kinh tế, nhu cầu vốn cho bộ phận doanh nghiệp này làkhông hề nhỏ Chính vì thế cho vay DNVVN đang được nhiều NHTM quan tâm.Mỗi ngân hàng khác nhau có các hình thức cho vay khách hàng doanh nghiệp khácnhau Sau đây là cách phân loại cho vay chung nhất của các ngân hàng đối vớiDNVVN
Căn cứ theo thời hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và để bù đắp sự
Trang 15thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp.
Cho vay trung hạn là các món vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng.
Cho vay trung hạn chủ yếu để mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị công nghệ,mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và khả năng thuhồi vốn nhanh, hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp đặcbiệt là những doanh nghiệp mới thành lập
Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa có
thể lên 20-30 năm Mục đích cho vay dài hạn nhằm tài trợ cho các công trình xâydựng cơ bản như xây dựng nhà ở, sân bay, cầu đường, các thiết bị vận tải có quy môlớn, xây dựng các xí nghiệp mới…
Căn cứ theo phương thức cho vay
*Cho vay thấu chi
Cho vay thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vayđược chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định vàtrong khoảng thời gian xác định Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi
Để được thấu chi, doanh nghiệp làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi vàthời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng) Trong quá trình hoạtđộng, doanh nghiệp có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi, mua thẻ… vượt số dư tiền gửiđể chi trả (song song hạn mức thấu chi) Khi doanh nghiệp có tiền nhập về tài khoảntiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi Số lãi mà doanh nghiệp phải trả là:
Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi
Các khoản chi quá hạn mức thầu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sửdụng hình thức này Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của doanh nghiệp không phùhợp về thời gian và quy mô Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dựđoán ngân quỹ song không chính xác Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiệnthuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thanh toán, chủ động, kịp thời
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớnlà không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trongtháng, vài tháng trong năm, dùng để trả lương, chi các khoản nộp, mua hàng… Hìnhthức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với doanh nghiệp có độ tin cậy cao, thu nhậpđều đặn và kỳ thu nhập ngắn
* Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngânhàng đối với các doanh nghiệp không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điềukiện để được cấp hạn mức thấu chi Một số doanh nghiệp sử dụng vốn chủ sở hữu
Trang 16và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuấtđặc biệt mới đi vay ngân hàng, vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một giai đoạnnhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay, doanh nghiệp phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụngvốn vay Ngân hàng sẽ phân tích doanh nghiệp và ký hợp đồng cho vay, xác địnhmức cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cấn.Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau.Nhu cầu vay NH = Chi phí cần thiết cho SXKD – Vốn tự có – Vốn khác
cơ bản - Thuế
-Lợi nhuận địnhmức cho SXKD Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
Mức cho vay = Giá trị tài
sản đảm bảo x
Tỷ lệ cho vay trên giá trị
tài sản đảm bảo Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi Trong quátrình doanh nghiệp sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quảsử dụng, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạnhoặc chuyển nợ quá hạn Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản Ngân hàng có thể kiểm soáttừng món vay tách biệt Tiền cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo
* Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho doanh nghiệphạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ Đó là số dưtối đa tại thời điểm tính
Mỗi lần vay, doanh nghiệp chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộpcác chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khikiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ giải ngân chodoanh nghiệp
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những doanh nghiệp vay mượnthường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.Trong nghiệp vụ này, ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ Khi doanh nghiệpcó thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho doanhnghiệp Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nênngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay Ngân hàng chỉ có thể phát
Trang 17triển vấn đề khi doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
* Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa.Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn Ngân hàng có thể cho vay để muahàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Đầu năm hoặc đầu quý, người vayphải làm đơn xin vay luân chuyển Ngân hàng và doanh nghiệp thỏa thuận với nhauvề phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năngtiêu thụ Hạn mức tín dụng có thể được thỏa thuận trong 1 năm hoặc vài năm Đâykhông phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn ngân hàng xem xét lại mối quan hệgiữa ngân hàng và doanh nghiệp cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp.Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa nên cả ngân hàng và doanhnghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch luân chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngânquỹ trong thời gian tới
Khi vay doanh nghiệp chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơn nhậphàng và số tiền cần vay Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán Theo hìnhthức này, giá trị hàng hóa mua vào (có hóa đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng)đều là đối tượng được ngân hàng cho vay, thu nhập bán hàng đều là nguồn để chitrả cho ngân hàng Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tùy theo khối lượng vàchất lượng và tình trạng nợ của người vay Cho vay luân chuyển thường được ápdụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chukỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho doanh nghiệp Thủ tục cho vay chỉ cầnthực hiện một lần cho nhiều lần vay Doanh nghiệp được áp dụng nhu cầu vốn kịpthời, vì vậy việc thanh toán cho người cung ứng sẽ nhanh gọn
Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ thì ngân hàng sẽ gặp khó khăntrong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng
* Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép doanhnghiệp trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã theo thỏa thuận Cho vay trảgóp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sảncố định và tài sản lâu bền Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp vớikhả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của doanh nghiệp, hoặc
từ thu nhập sau thuế của người tiêu dùng)
Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức
Trang 18nhất định ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hóa mà doanhnghiệp đã mua trả góp Các cửa hàng bán lẻ nhận tiền ngay sau khi bán hàng từ phíangân hàng và làm đại lý thu tiền cho ngân hàng, hoặc doanh nghiệp trả trực tiếp chongân hàng Đây là hình thức tín dụng tài trợ người mua nhằm khuyến khích tiêu thụhàng hóa.
Cho vay trả góp rủi ro cao do doanh nghiệp thường thế chấp bằng hàng hóamua trả góp Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay Nếungười vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của ngân hàngcũng bị ảnh hưởng Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãisuất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng
* Cho vay gián tiếp
Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp Bên cạnh đó ngân hàngcũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp Đây là hình thức cho vay thông quacác tổ chức trung gian
Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội Nôngdân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ… Các tổ chức này thường liên kết các thànhviên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợicho mỗi thành viên Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xóa đói giảm nghèoluôn được các tổ chức này quan tâm
Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt đông cho vay sang các tổchức trung gian, như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng
ra bảo đảm cho các thành viên vay hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh chomột thành viên vay Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không đủtài sản thế chấp
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vàocủa quá trình sản xuất Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử dụngtiền sai mục đích
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vaynhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng Trong trường hợp như vậy, cho vayqua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân hàng Tuynhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế củamình để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác choriêng mình Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá
Trang 19đắt cho người vay vốn.
Căn cứ vào tính chất đảm bảo của khoản vay
* Cho vay có tài sản đảm bảo
Là loại cho vay dựa trên cơ sở các tài sản đảm bảo như cầm cố, thế chấp hoặccó đảm bảo bằng tài sản của bên thứ ba
Trong nhiều trường hợp, ngân hàng yêu cầu khách hàng có tài sản đảm bảokhi nhận tín dụng Lý do là khách hàng phải đối đầu với rủi ro trong kinh doanh, cóthể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng Những biến cố không mong đợi có thểmang lại cho ngân hàng những tổn thất lớn Chính vì vây, trừ những khách hàng có
uy tín cao, nhiều ngân hàng phải có tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng mà ngânhàng yêu cầu, ngân hàng muốn có nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất là nguồnthu từ hoạt động kinh doanh không đảm bảo trả nợ Hiện nay, hầu hết các khoảnvay đều phải có tài sản đảm bảo
* Cho vay không có tài sản đảm bảo
Cho vay không có tài sản đảm bảo là việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bảnthân khách hàng đi vay không cần tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh bằngtài sản của bên thứ ba
Cho vay không có tài sản đảm bảo thông thường dành cho những khách hàngcó uy tín cao, khách hàng truyền thống, khách hàng có tình hình tài chính lànhmạnh, kinh doanh thường xuyên có lãi,… Tuy nhiên, đây là hình thức mang nhiềurủi ro cho ngân hàng, ngân hàng cần thẩm định kỹ khách hàng trước khi cho vay
1.2 Chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
Chất lượng cho vay nói chung tại NHTM là chất lượng của các khoản cho vaycủa NHTM Các khoản cho vay có chất lượng khi vốn vay được khách hàng sửdụng hiệu quả, đúng mục đích, tạo ra số tiền lớn hơn, thông qua đó ngân hàng thu hồiđược gốc và lãi, còn doanh nghiệp có thể trả được nợ bù đắp chi phí và thu lợi nhuận.Điều này có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế lại tạo được hiệu quả xãhội Chất lượng cho vay DNVVN của NHTM không chỉ phụ thuộc vào ngân hànghay doanh nghiệp mà còn chịu những tác động từ môi trường kinh tế bên ngoài Vìvậy khi xem xét chất lượng cho vay DNVVN của NHTM cần xét trên ba giác độ: chấtlượng cho vay đối với ngân hàng thương mại, doanh nghiệp và nền kinh tế
Trước hết, chất lượng cho vay xem xét trên giác độ của NHTM Đối với
Trang 20NHTM, một khoản vốn cho vay được coi là có chất lượng khi phạm vi, giới hạn,mức độ cho vay phù hợp với khả năng tài chính của ngân hàng, đảm bảo đúngnguyên tắc cho vay chung của NHNN và các quy định riêng của từng ngân hàng,hạn chế thấp nhất mức độ rủi ro trong suốt quá trình kinh doanh của ngân hàng Thunhập từ hoạt động cho vay của ngân hàng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thunhập của ngân hàng nhưng bên cạnh đó cũng chứa đựng nhiều rủi ro Do đó, việcđảm bảo an toàn vốn vay là mục tiêu quan trọng bên cạnh mục tiêu lợi nhuận củangân hàng Chất lượng cho vay tốt là kết quả của một quy trình hoạt động có sựphối hợp giữa các phòng ban bộ phận sao cho thu được tối đa lợi nhuận cho ngânhàng nhưng đồng thời đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng nhằm tạo uy tín chongân hàng, đem lại sự hài lòng nhất đến cho khách hàng.
Chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp thể hiện ở các khoảnvay ngân hàng với lãi suất hợp lý, phí suất tín dụng vừa đảm bảo nhu cầu vốn hợplý cho sản xuất của doanh nghiệp của đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp vàthủ tục vay vốn đơn giản Bên cạnh đó, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay vốn củadoanh nghiệp một cách kịp thời, tiến độ giải ngân nhanh chóng đảm bảo an toàn, uytín và sự thân thiện trong giao dịch với khách hàng Các khoản vay vốn từ ngânhàng của doanh nghiệp được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh một cáchđúng mục đích, hiệu quả để tạo ra được một số tiền lớn hơn, đủ để trang trải chi phívà có lợi nhuận làm cơ sở cho việc hoàn trả khoản vay ngân hàng và doanh nghiệpgiữ lại được lợi nhuận cho mình
Chất lượng cho vay xét trên giác độ nền kinh tế Chất lượng cho vay tốt làphải phục vụ tốt cho sản xuất và lưu thông hàng hóa cho nền kinh tế, góp phần giảiquyết công ăn việc làm, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, khaithác mọi tiềm năng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuấtkinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa –hiện đại hóa đất nước và giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng vàtăng trưởng kinh tế
Tóm lại, chất lượng cho vay là một khái niệm vừa cụ thể, vừa trừu tượng Đểcó chất lượng cho vay cao thì hoạt động cho vay của ngân hàng phải có hiệu quả vàquan hệ tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp phải được thiết lập trên cơ sở tintưởng và tôn trọng lẫn nhau tạo hiệu quả tốt cho cả hai bền và góp phần chung vàothúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Để hiểu rõ hơn về chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và nâng cao
Trang 21chất lượng cho vay thì cần tìm hiểu các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chấtlượng cho vay của ngân hàng.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
Các chỉ tiêu định tính
* Tuân thủ theo cơ sở pháp lý, nguyên tắc và quá trình tín dụng
Hoạt động cho vay có chất lượng phải tuân thủ các quy định pháp luật củaNhà nước: Luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các văn bản của NHNNvà các văn bản khác có liên quan
Khi tiến hành hoạt động cho vay phải luôn đảm bảo tuân thủ các quy trình chovay, nguyên tắc cho vay vì nó giúp phòng ngừa rủi ro, đánh giá được chất lượngcho vay Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằmđảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời Các nguyên tắc này được cụ thể hóatrong các quy định của NHNN và các NHTM Cụ thể là ba nguyên tắc sau:
+ Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn và lãi với thời gian xác định thỏathuận trong hợp đồng cho vay
+ Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuậntrong hợp đồng
+ Ngân hàng chỉ được tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả
Nếu ngân hàng thực hiện đúng theo quy trình cho vay thì ngân hàng có thểđánh giá đúng tình hình tài chính của khách hàng từ đó giúp đưa ra quyết định tàitrợ hợp lý, đảm bảo tính an toàn hạn chế rủi ro cho ngân hàng
* Chính sách quản trị điều hành đúng đắn, chiến lược phát triển phù hợp với yêu
cầu cạnh tranh, phát triển kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ cụ thể, chỉtiêu này thể hiện ở chính sách tín dụng của ngân hàng Chính sách tín dụng cho tabiết về mục tiêu tài trợ của ngân hàng, hướng dẫn chung cho cán bộ, nhân viên ngânhàng tăng cường chuyên môn và tạo sự thống nhất Chính sách tín dụng của ngânhàng cũng cho biết được chiến lược phát triển tín dụng của ngân hàng
* Mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và chi phí cho vay Chất lượng cho vay
của ngân hàng với khách hàng được cho là tốt khi ngân hàng có khả năng đáp ứngkịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng Để đảm bảo yêu cầutrên, ngân hàng cần có hệ thống đánh giá, dự báo, phân tích thông tin của kháchhàng thật chính xác từ đó nâng cao được chất lượng cho vay Đồng thời việc đápứng nhu cầu vốn hợp lý của khách hàng một cách nhanh chóng giúp làm tăng thêm
Trang 22uy tín của ngân hàng.
Các chỉ tiêu định lượng
* Doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ trong kì
Doanh số cho vay DNVVN trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã choDNVVN vay thực tế trong kỳ Doanh số cho vay và tốc độ tăng trưởng của nó phảnánh quy mô và xu hướng hoạt động cho vay của ngân hàng là mở rộng hay thu hẹp.Tuy nhiên doanh số cho vay tăng không phải lúc nào cũng tốt hay doanh số cho vaythu hẹp không phải lúc nào cũng xấu Nếu doanh số cho vay quá cao không hợp lýcó thể dẫn đến khả năng thanh toán của khách hàng không đảm bảo và có thể mấtkhả năng thanh toán Điều này còn phụ thuộc vào tiềm lực của ngân hàng và điềukiện của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định
* Dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ trong kì
Dư nợ cho vay DNVVN là số tiền mà ngân hàng hiện đang cho DNVVN vaytính đến một thời điểm Chỉ tiêu này phản ánh quy mô và sự tăng trưởng hoạt độngcho vay của ngân hàng đối với DNVVN Tổng dư nợ cho vay cao và tăng trưởngqua từng thời kỳ cho thấy ngân hàng đã tạo được uy tín đối với khách hàng Tuynhiên tăng trưởng cho vay phải phù hợp với khả năng về vốn, quản lý kiểm soát rủi
ro cũng như các nguồn lực về con người và công nghệc của ngân hàng Việc tăngtrưởng dư nợ cho vay vượt quá khả năng nguồn lực của ngân hàng sẽ tiềm ẩn nhiềurủi ro về thanh khoản và ngân hàng không đủ điều kiện nguồn lực để kiểm soát chặtchẽ các khoản vay điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay của ngânhàng
* Tỷ lệ thu nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tỷ lệ thu nợ (%) = Doanh số thu nợ x 100%
Doanh số cho vayTrong đó, doanh số thu nợ DNVVN trong kỳ là tổng các khoản thu nợDNVVN phát sinh trong kỳ Doanh số này phản ánh hai tình trạng trái ngược nhau.Một là do tình hình kinh doanh ổn định và thu được lợi nhuận mà doanh nghiệp trảnợ ngân hàng đúng hạn Hai là ngân hàng nhận thấy những dấu hiệu không lànhmạnh trong việc kinh doanh của khách hàng mà tăng cường việc thu hồi vốn Cả haitrường hợp đều có lợi cho ngân hàng và hạn chế rủi ro cho ngân hàng
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của ngân hàng Nóphản ánh trong một thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽthu về được bao nhiêu đồng vốn Tỷ lệ này càng cao càng tốt
Trang 23* Tỷ lệ nợ quá hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nợ quá hạn của DNVVN là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốcvà/hoặc lãi đã quá hạn của DNVVN Nợ quá hạn vi phạm tính đặc trưng cơ bản củatín dụng là tính hoàn trả, hoàn trả không đầy đủ và kịp thời gây nên sự đổ vỡ niềmtin của ngân hàng đối với người vay vốn Theo Quyết định 493/2005/QĐ/NHNN ,nợ quá hạn bao gồm các khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5: nợ cần chú ý, nợ dướitiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn
Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngân hàng mà cụ thể là hoạt động chovay là tất yếu Vấn đề quan trọng là phải giảm tỷ lệ nợ quá hạn đến mức thấp nhấtcó thể chấp nhận được để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
NHTM có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng cho vay thấp.Đây là chỉ tiêu hiện nay thường sử dụng khi đánh giá chất lượng cho vay củaNHTM
Tỷ lệ nợ quá hạn
Xếp loại A: Tỷ lệ nợ quá hạn ≤ 5%
Xếp loại B: 5% < Tỷ lệ nợ quá hạn < 8%
Xếp loại C: Tỷ lệ nợ quá hạn ≥ 8%
* Tỷ lệ nợ xấu của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tỷ lệ nợ xấu = Tổng nợ xấu X 100
Tổng dư nợ cho vay Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi,…) là khoản mang các đặc trưng sau:
+ Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã hết hạn
+ Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi
+ Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi
Trang 24+ Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày.
Các khoản nợ xấu bao gồm: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khảnăng mất vốn
Quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của cácNgân hàng thương mại không được vượt quá 5%, nghĩa là trong 100 đồng vốn ngânhàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 5 đồng
* Vòng quay vốn vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vòng quay vốn
Doanh số thu nợ DNVVN x 100%
Dư nợ cho vay DNVVN Vòng quay vốn tín dụng phản ánh thời gian chu chuyển vốn tín dụng tronghoạt động cho vay của ngân hàng Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏnguồn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sảnxuất kinh doanh Với một số vốn nhất định, nhưng vòng quay vốn tín dụng nhanhnên ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác Chỉ tiêu này càngcao càng phản ánh tình hình tổ chức quản lý tín dụng tốt, chất lượng cho vay cao
* Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Mục tiêu quan trọng của ngân hàng là lợi nhuận trên cơ sở đảm bảo an toàn Cho vayDNVVN tạo được khoản lợi nhuận càng lớn phần nào chứng tỏ chất lượng khoản cho vaycàng cao
Tỷ lệ sinh lời từ
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay DNVVN
x 100%Tổng lợi nhuận từ hoạt động cho vay
Từ công thức trên có thể cho so sánh được tỷ lệ lợi nhuận thu được từ hoạtđộng cho vay DNVVN so với tổng lợi nhuận cho vay của ngân hàng, từ đó thấyđược vai trò của nó trong hoạt động của ngân hàng
1.2.3 Sự cần thiết nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
Cho vay là một hoạt động vô cùng quan trọng của NHTM và cho vay doanhnghiệp là loại cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cho vay của ngânhàng, chiếm 70% hoạt động cho vay của ngân hàng Bên cạnh đó, các DNVVNchiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế Nhu cầu vay vốn của bộphận này là rất lớn và cho vay DNVVN đang được nhiều NHTM quan tâm Doanhnghiệp có vốn hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế Vì thếnâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ là cần thiết vớingân hàng với doanh nghiệp mà còn cần thiết với cả nền kinh tế
Trang 25Đối với ngân hàng thương mại
Nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ là một yêu cầu tất yếucủa bản thân mỗi ngân hàng Bởi cho vay là hoạt động đặc trưng cơ bản và quyếtđịnh sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng ở hầu hết các nước Khi hoạt độngcho vay của ngân hàng có hiệu quả đồng nghĩa với việc ngân hàng có khả năng thunợ đầy đủ, đúng hạn và thu được lợi nhuận từ mỗi khoản vay của khách hàng.Ngoài ra, chất lượng cho vay tốt cũng phản ánh trình độ tổ chức quản lý các hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng và trình độ của cán bộ tín dụng Nhờ đó, ngân hàngkhông những thu được lợi nhuận cao mà còn xây dựng được hình ảnh và uy tín vớikhách hàng, giữ được khách hàng truyền thống và thu hút thêm nhiều khách hàngmới Ngân hàng có nhiều điều kiện mở rộng khả năng cung cấp tín dụng cũng nhưcác dịch vụ ngân hàng khác đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh của ngânhàng trên thị trường Bên cạnh đó, do trình độ công nghệ hiện đại, các ngân hàngkhông chỉ cạnh tranh qua chính sách lãi suất mà còn cạnh tranh qua chất lượng dịchvụ và khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.Chính vì vậy, nâng cao chất lượng cho vay là cần thiết và là xu thế tất yếu của cácngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cho vay của ngân hàng thương mại là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho cácDNVVN hiện nay Trong quá trình mở rộng, sản xuất kinh doanh, các nhu cầu vềvốn thường xuyên phát sinh và để đáp ứng phần lớn các nhu cầu vốn lưu động phụcvụ sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động thì doanh nghiệp phải sửdụng nguồn vốn đi vay bởi vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp thường thấp.Vốn vay từ ngân hàng giúp các DNVVN nâng cao năng lực cạnh tranh trên thịtrường Vốn vay ngân hàng còn giúp doanh nghiệp hình thành cơ cấu vốn tối ưu Cơcấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp cần đạt hiệu quả cao trong kinh doanh bao gồm hainguồn cơ bản: vốn chủ sở hữu và vốn đi vay Thông thường các doanh nghiệp thíchsử dụng vốn vay ít tốn chi phí mà còn được hưởng phần tiết kiệm nhờ thuế vàkhông làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp Còn việc sử dụngvốn chủ sở hữu để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không nhữnghạn chế khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn làm tăngchi phí vốn, do đó việc sử dụng vốn chủ sở hữu ít được ưu tiên Qua đó cho thấy,việc cho vay của ngân hàng thương mại mang lại nhiều lợi ích cho các DNVVN Vìvậy, nâng cao chất lượng cho vay không chỉ cần thiết đối với ngân hàng mà còn rất
Trang 26cần thiết với các DNVVN.
Đối với sự phát triển kinh tế – xã hội
Cho vay của ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp góp phần thúc đẩycác doanh nghiệp sản xuất và lưu thông hàng hóa tốt hơn tạo điều kiện giải quyếtcông ăn việc làm, hạn chế các tệ nạn xã hội, khai thác có hiệu quả nguồn lực quốcgia, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn phục vụ sản xuất kinh doanh,giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng cho vay gópphần ổn định kinh tế vĩ mô Tín dụng ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu chonền kinh tế
Khi các thành phần kinh tế cụ thể là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng vốnvay đúng mục đích kinh doanh, hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn vừa tạonên các nguồn lực trong nền kinh tế vừa củng cố cho sự phát triển của nền kinh tế.Nếu tăng trưởng cho vay chậm và chất lượng cho vay kém tức là việc sử dụng vốnkhông có hiệu quả và hấp thụ vốn kém, nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, chậmphát triển Ngược lại, nếu cho vay có hiệu quả thì sẽ tạo động lực cho tăng trưởngvà phát triển kinh tế Vì thế nâng cao chất lượng cho vay là yêu cầu cần thiết bảođảm cho nền kinh tế phát triển mạnh tạo điều kiện hội nhập kinh tế trong khu vựcvà trên thế giới
Vậy nhân tố nào có ảnh hưởng nhiều nhất đến chất lượng cho vay cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại? Điều này được trình bày ởmục tiếp theo
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Nhân tố chủ quan
*Cơ cấu tổ chức, quản lý của ngân hàng thương mại
Mô hình tổ chức có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển bền vững của mộtngân hàng thương mại, bảo đảm các điều kiện thích hợp và quản lý rủi ro Cơ cấu tổchức thích hợp sẽ khai thác tốt tiềm năng của ngân hàng cả về công nghệ lẫn conngười Mô hình tổ chức phù hợp sẽ tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, có sựphối hợp đồng bộ giữa các phòng ban rút ngắn được các thủ tục rườm rà Ngược lạinếu cơ cấu tổ chức không hợp lý sẽ làm tiêu hao nhiều chi phí và có thể gây tổn thấtkhông đáng có cho ngân hàng như những khoản nợ khó đòi, đầu tư không đúng đốitượng, đầu tư kém hiệu quả Hoạt động cho vay của ngân hàng là một trong nhữnghoat động chính đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Vì vậy, cơ cấu tổ chức của ngân
Trang 27hàng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động này
Bên cạnh cơ cấu tổ chức tốt thì khâu quản lý của ngân hàng cũng cần đặc biệtchú ý Bởi lẽ mỗi cán bộ nhân viên ngân hàng, mỗi người có một thế mạnh riêng,điều quan trọng là phải biết sắp xếp công việc sao cho phát huy hết thế mạnh và hạnchế của từng người Đồng thời có chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm nâng cao tinh thầntrách nhiệm, tạo sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động của từng thành viên trong bộmáy thống nhất cùng với mục tiêu chung là nâng cao chất lượng cho vay nói riêngvà mọi hoạt động của ngân hàng nói chung
*Chính sách cho vay của ngân hàng
Trong hoạt động cho vay của ngân hàng, chính sách cho vay là một nhân tố rấtquan trọng ảnh tác động tới hoạt động này Chính sách cho vay bao gồm quy trình chovay, hạn mức cho vay, các hình thức cho vay, lãi suất, kỳ hạn, phí suất, tài sản đảm bảocủa khách hàng, quy định về điều kiện vay vốn của khách hàng,… Chính sách cho vaycó ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay của ngân hàng và là tiêu chuẩn để ngân hàngđáp ứng các khoản vay của khách hàng sao cho phù hợp với mục tiêu trong hoạt độngcho vay của ngân hàng đồng thời mang lại sự hài lòng cho khách hàng
Chính sách cho vay là cơ sở quan trọng để đảm bảo hoạt động cho vay đi đúngquỹ đạo, quyết định sự thành công hay thất bại cùa ngân hàng trong hoạt động chovay Nếu chính sách cho vay được xây dựng và thực hiện chặt chẽ, kết hợp hài hòagiữa lợi ích của ngân hàng, của doanh nghiệp và của xã hội sẽ nâng cao chất lượngcho vay, thu hút thêm khách hàng và tạo dựng uy tín của ngân hàng Ngược lại, nếuchính sách cho vay không hợp lý thì chất lượng tín dụng nói chung và cho vay nóiriêng sẽ không cao Tùy trong từng giai đoạn khác nhau của nền kinh tế mà mỗingân hàng có những chính sách khác nhau để đem lại hiệu quả cao nhất cho ngânhàng, doanh nghiệp và nền kinh tế nước nhà
*Cán bộ, nhân viên ngân hàng
Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, nhu cầu vay vốn của các DNVVNngày càng nhiều Chính vì thế chất lượng cho vay của ngân hàng rất cần được chútrọng Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng mạnh mẽ nên đòi hỏi trình độ,chất lượng của cán bộ ngân hàng ngày càng cao để làm tốt các quy trình và quyđịnh của ngân hàng, sử dụng có hiệu quả các phương tiện công nghệ ngân hàng hiệnđại phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Cán bộ tín dụng là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động cho vay của
Trang 28các ngân hàng, từ khâu tiếp xúc với khách hàng, tiếp nhận hồ sơ vay vốn, thẩm địnhkhách hàng, hoàn thiện hồ sơ khách hàng,… Do đó, trình độ, năng lực và phẩm chấtđạo đức của các cán bộ tín dụng là yếu tố quyết định đối với chất lượng của hoạtđộng cho vay Một cán bộ tín dụng cần hội tụ đủ các yếu tố: nghiệp vụ giỏi, có hiểubiết sâu rộng, toàn diện trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, luật pháp, có khả năngthu thập và xử lý thông tin tốt, nắm bắt được tâm lý khách hàng, năng động và nhạybén,… Những yếu tố này là cần thiết để cán bộ tín dụng đưa ra được quyết định chovay đúng đắn, ký kết được những hợp đồng tín dụng mang lại lợi nhuận cho ngânhàng và hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra Đội ngũ cán bộ tín dụng là cánh tayđắc lực của cả ngân hàng.
Bên cạnh đó, hoạt động của ngân hàng cần phải có đội ngũ cán bộ lãnh đạo vàquản lý giàu kinh nghiệm, năng động, sáng tạo trong kinh doanh, nắm bắt nhanhnhạy những biến động của thị trường, tâm huyết với công việc và luôn vì lợi ích củatập thể Cho dù thiết bị công nghệ có hiện đại đến đâu nhưng nhân tố con người vẫnkhông thể thay thế sự nhạy cảm và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ nhân viên trongngân hàng Chính vì thế nhân tố con người luôn chiếm vị trí quan trọng trong bất cứhoạt động nào dù kinh doanh hay công tác xã hội của ngân hàng nói riêng và các tổchức khác trên mọi lĩnh vực
*Công tác kiểm tra, kiểm soát và khả năng phân tích của ngân hàng
Yêu cầu đầu tiên trước khi thực hiện một món vay là công tác thẩm định dự ánvà thẩm định khách hàng Điều đó có nghĩa là kiểm tra năng lực sản xuất và khảnăng trả nợ của khách hàng Để hạn chế rủi ro thanh toán, ngân hàng cần tiến hànhcông tác thẩm định chặt chẽ, lựa chọn khách hàng tin cậy, có được những dự án khảthi, thu được lợi nhuận cao nhất
Trong suốt thời gian cho vay, cán bộ ngân hàng phải tăng cường công táckiểm tra, giám sát và kiểm tra doanh nghiệp thực hiện vốn vay có đúng hợp đồngkhông Bởi lẽ, trong quá trình sản xuất, thực hiện hợp đồng luôn chứa đựng rủi ro,gian lận Việc phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện của doanh nghiệpgiúp ngân hàng có được biện pháp xử lý thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chếtổn thất mà ngân hàng có thể gặp phải
Để có thể thực hiện tốt công tác này, ngân hàng cần đào tạo một đội ngũ cán
bộ chuyên môn giỏi có nghiệp vụ, đạo đức tốt, có chế độ thưởng phạt rõ ràng Như
Trang 29vậy, công tác cho vay mới được thực hiện đúng quy trình và chất lượng cho vayngày càng cao.
*Cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng
Đây là nhân tố không thể thiếu đối với bất kì một tổ chức kinh doanh nào.Ngân hàng cũng như mọi doanh nghiệp kinh doanh khác phải có cơ sở vật chất,trang thiết bị và công nghệ phục vụ cho quá trình kinh doanh Cơ sở vật chất kỹthuật hiện đại sẽ để lại hình ảnh đẹp về ngân hàng trong lòng khách hàng, củng cốniềm tin của khách hàng với ngân hàng, đồng thời các giao dịch diễn ra thuận tiện,nhanh chóng Các trang thiết bị công nghệ hiện đại này còn giúp ngân hàng có mộthệ thống thông tin tín dụng hiện đại, chính xác, công tác lập kế hoạch và xây dựngchính sách tín dụng có hiệu quả hơn
*Chất lượng thông tin của ngân hàng
Trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề của nền kinh tế, ai nắm bắt được càngnhiều thông tin chính xác và kịp thời thì càng có nhiều lợi thế trong cạnh tranh.Hoạt động cho vay của ngân hàng, mục tiêu là lợi nhuận lớn, mà lợi nhuận có lớnhay không phụ thuộc một phần vào chất lượng thông tin thu thập được của ngânhàng Để cho vay có chất lượng, ngân hàng cần có được thông tin chính xác và cậpnhật từ đó phân tích và đề ra các chính sách và đánh giá chính xác về khách hàng.Ngoài những thông tin mà khách hàng cung cấp trong quá trình cho vay như nănglực tài chính, kết quả kinh doanh, giá trị tài sản đảm bảo,… còn nhiều những thôngtin khác cần tìm hiểu trên thị trường như chính sách lãi suất của NHNN, tình hìnhkinh tế xã hội trong nước và trên thế giới hay các thông tin về chính trị cũng ảnhhưởng không nhỏ đến hoạt động cho vay của ngân hàng
Mỗi nhân tố khác nhau có những ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động củangân hàng Tuy nhiên trong đó, các nhân tố cũng tác động qua lại lẫn nhau dẫn đếnnhững biến đổi khó lường trong hoạt động cho vay của ngân hàng Ngoài các nhântố chủ quan thuộc về ngân hàng còn nhiều yếu tố bên ngoài cũng tác động khôngnhỏ vào chất lượng cho vay của ngân hàng
1.3.2 Các nhân tố khách quan
*Nhân tố từ phía khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ
Do nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng là để đầu tư cho các hoạt độngsản xuất kinh doanh nên chất lượng tín dụng được đánh giá theo tính chất phù hợpvới mục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý Sự thànhđạt của khách hàng, sự phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa
Trang 30là điều kiện để tăng trưởng cho vay của ngân hàng Vì thế DNVVN có ảnh hưởngtới chất lượng cho vay của ngân hàng trên một số yếu tố sau:
+ Khả năng đáp ứng các điều kiện của ngân hàng và năng lực tài chính của doanh nghiệp
Để đảm bảo an toàn và tránh rủi ro khi cho vay, các NHTM thường đặt ra cáctiêu chuẩn, điều kiện nhằm phân loại chọn ra khách hàng phù hợp, đạt yêu cầu củakhách hàng Năng lực tài chính của doanh nghiệp là mục tiêu quan tâm hàng đầucủa ngân hàng Năng lực tài chính ảnh hưởng trước tiên tới quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, sau đó ảnh hưởng tới khả năng hoàn thành các nghĩa vụchi trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt độngcho vay của NHTM Các ngân hàng thường tập trung xem xét tính hợp pháp, hợp lýcủa mục đích sử dụng vốn, khả năng kinh doanh của doanh nghiệp, tính khả thi củadự án… Nếu khách hàng không đáp ứng đầy đủ yêu cầu này thì các ngân hàngkhông thể cho vay nhằm đảm bảo an toàn cho ngân hàng
+ Khả năng quản lý và sử dụng hiệu quả vốn vay tại các doanh nghiệp
Việc sử dụng vốn vay có hiệu quả nó thể hiệ ở khả năng thích ứng trong sảnxuất kinh doanh và đầu tư của khách hàng với nhu cầu của thị trường, khối lượngsản phẩm lớn, doanh thu mang lại cao cũng có nghĩa là doanh nghiệp sẽ dễ dànghơn trong việc chiếm lĩnh thị trường và chiến thắng trong cạnh tranh Bên cạnhđó, trình độ công nghệ ngày càng tiên tiến và áp dụng rất nhiều trong hoạt độngsản xuất vì thế năng lực quản lý của doanh nghiệp cũng được chú trọng nhằm xâydựng một cơ cấu tổ chức tối ưu để tận dụng tối đa nguồn lực, tăng khả năng thíchứng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Điều đó giúp nâng cao uy tín vàvị thế của doanh nghiệp trên thị trường và chất lượng các khoản vốn vay cũng đượcđảm bảo
+ Yếu tố đạo đức và uy tín của doanh nghiệp
Rủi ro đạo đức luôn là vấn đề nhức nhối trong hoạt động cho vay và được cácngân hàng rất coi trọng Chất lượng cho vay có hiệu quả đòi hỏi cần có sự hợp táctrung thực của các bên tham gia Rủi ro đạo đức có thể nảy sinh ngay trong việcdoanh nghiệp cung cấp thông tin cho ngân hàng, có thể cung cấp thông tin sai lệchảnh hưởng tới chất lượng thẩm định của ngân hàng Bên cạnh đó, rủi ro đạo đức cònxảy ra khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã cam kết tronghợp đồng, sử dụng sai trình tự, đầu tư vào hạng mục rủi ro mà không thông báo chobên cấp vốn Rủi ro đạo đức của doanh nghiệp còn thể hiện ở cả ý thức trả nợ ngân
Trang 31hàng, khi cố tình không trả nợ đúng hạn… Tất cả các yếu tố trên đều có tác độngkhông nhỏ đến chất lượng cho vay của ngân hàng Chính vì thế, buộc các ngân hàngphải kiểm tra kỹ thông tin trước khi quyết định cho vay và giám sát việc sử dụngvốn sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
* Nhân tố môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh củacác thành phần kinh tế và chi phối bởi chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, quyluật cung cầu của thị trường và những biến động trên thị trường quốc tế Ở mỗi chukỳ kinh tế khác nhau có tác động khác nhau đến hoạt động cho vay của ngân hàngnói riêng và của các thành phần kinh tế khác Trong giai đoạn nền kinh tế hưngthịnh, các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và cần thêm vốn để mở rộng sảnxuất kinh doanh, đầu tư trang thiết bị công nghệ hiện đại để tăng năng suất nên nhucầu vay vốn ngân hàng cũng tăng cao Hoạt động cho vay của ngân hàng nhờ đócũng phát triển và chất lượng tăng cao Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển chậmchạp có biểu hiện suy thoái, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị thu hẹp,không hiệu quả và gặp khó khăn dẫn đến nhu cầu vay vốn giảm, hoạt động cho vaycủa ngân hàng không mở rộng được và nhiều khoản nợ vay không thu hồi đúng hạn,lợi nhuận của ngân hàng thu được từ hoạt động cho vay sẽ giảm
Những biến động về lạm phát, lãi suất, tỷ giá trên thị trường cũng ảnh hưởngtrực tiếp đến lãi suất cho vay của ngân hàng Tác động của môi trường kinh tế cóthể làm tăng hoặc giảm quy mô hoạt động tín dụng nói chung của ngân hàng và cụthể hơn là hoạt động cho vay đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vaycủa ngân hàng đối với các DNVVN
* Môi trường pháp lý
Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói chungvà chất lượng cho vay nói riêng Pháp luật là bộ phận không thể thiếu ở bất kỳ mộtnền kinh tế nào Không có pháp luật hoặc các chính sách ban hành không phù hợpsẽ khiến cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn Nếu hệ thống pháp luật ban hànhkhông đầy đủ, không đồng bộ, các văn bản dưới luật còn nhiều mâu thuẫn trong khithực hiện và chưa thật phù hợp với các ban ngành, các đơn vị có liên quan đến hoạtđộng tín dụng thì có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng cũng như chất lượng chovay của ngân hàng
Pháp luật sẽ tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động sản xuất
Trang 32kinh doanh của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành thuận tiện vàđạt kết quả cao Và còn là cơ sở pháp lý để giải quyết mối quan hệ giữa các thànhphần kinh tế Các doanh nghiệp cũng như ngân hàng phải tuân thủ những quy địnhnghiêm chỉnh của pháp luật thì hiệu quả và lợi ích sẽ được đảm bảo Môi trườngpháp luật này luôn được điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hơn để nó ngày càng phùhợp hơn với sự phát triển chung của nền kinh tế, trong đó có hệ thống ngân hàng.
* Môi trường chính trị – xã hội
Ngân hàng và doanh nghiệp thực hiện hoạt động cho vay dựa trên cơ sở tínnhiệm giữa hai bên Vì vậy sự tín nhiệm là cầu nối mối quan hệ giữa ngân hàng vàdoanh nghiệp Uy tín của ngân hàng trên thị trường ngày càng cao thì sẽ thu hútđược lượng khách hàng ngày càng đông Mối quan hệ xã hội thể hiện cụ thể giữangân hàng và doanh nghiệp là nhân tố không kém phần quan trọng quyết định tớiquy mô, phạm vi hoạt động của mỗi ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng mà cụthể là hoạt động cho vay
Nhân tố chính trị cũng có ảnh hưởng khá nhiều tới hoạt động cho vay củangân hàng Mỗi một quốc gia không có sự biến động về chính trị hay không cóchiến tranh là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào bởi cácnhà đầu tư nước ngoài họ không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn chú trọng tới
an toàn của vốn đầu tư Tình hình kinh tế chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi chocác thành phần kinh tế phát triển và thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển
* Các nhân tố khác
Ngoài những nhân tố trên, chất lượng cho vay của ngân hàng còn chịu ảnhhưởng của các nhân tố khách quan khác như môi trường tự nhiên, các đối thủ cạnhtranh Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động cho vay của ngânhàng đặc biệt là những khoản vay đối với doanh nghiệp sản xuất những mặt hàngphụ thuộc nhiều vào thời tiết Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, ít bị biến động sẽ tácđộng tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời cao, giảm thiệthại cho doanh nghiệp Ngược lại nếu điều kiện tự nhiên, khí hậu khắc nghiệt, giaothông đi lại khó khăn, thiên tai bão lũ sẽ tác động xấu đến sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, doanh nghiệp không thu được lợi nhuận, khả năng trả nợ ngân hàngthấp, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay
Hiện nay các ngân hàng thương mại luôn cạnh tranh rất gay gắt trên thị trườngthông qua các gói sản phẩm dành cho khách hàng và chất lượng dịch vụ củ ngân
Trang 33hàng Các đối thủ cạnh tranh nếu nâng cao được uy tín, chính sách cho vay phù hợpvới khách hàng và chất lượng phục vụ tốt hơn sẽ thu hút được khách hàng hơn Vìthế chất lượng cho vay của ngân hàng cần phải được nâng cao để canh tranh với cácngân hàng khác nhằm tạo uy tín và giữ chân được khách hàng.
Qua tìm hiểu cơ sở lý luận về chất lượng cho vay DNVVN của NHTM có thểhiểu được thế nào là chất lượng cho vay DNVVN là gì, sự cần thiết phải nâng caochất lượng này, các nhân tố ảnh hưởng để từ đó có cơ sở để đánh giá một cách cụthể và chính xác hơn về chất lượng cho vay DNVVN tại VPBank Thăng Long trongthời gian gần đây
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG VPBANK
CHI NHÁNH THĂNG LONG
2.1 Khái quát về ngân hàng VPBank – chi nhánh Thăng Long
2.1.1 Tổng quan về ngân hàng VPBank
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (tên giao dịch làVPBank) tiền thân là Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh Việt Nam được thành lập theo giấy phép số 0042/NH-GP do Ngân hàng Nhànước cấp ngày 12/08/1993 và giấy phép số 1535/QĐ-UB do Ủy ban Nhân dânthành phố Hà Nội cấp ngày 04/09/1993 Ngân hàng chính thức đi vào hoạt động kể
từ ngày 10/09/1993 Năm 2006, VPBank chuyển trụ sở chính về số 8 Lê Thái Tổ,Hoàn Kiếm, Hà Nội
Hiện VPBank đang sử dụng phần mềm hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking– T24) của Temenos (Thụy Sỹ) Đây là nền tảng công nghệ ngân hàng hiện đạinhất, giúp VPBank phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng caophục vụ khách hàng
Năm 2006, VPBank thành lập 2 công ty con là công ty quản lý nợ và khaithác tài sản VPbank AMC và công ty chứng khoán VPbank Cũng trong năm 2006,VPBank và ngân hàng OCBC (Singapore) ký thỏa thuận hợp tác chiến lược Theothỏa thuận này, ngân hàng OCBC chính thức trở thành cổ đông chiến lược lớn nhấtcủa VPBank Hiện nay, ngân hàng OCBC đang nắm giữ 14.88% trên tổng số cổphần của VPBank
Vốn điều lệ ban đầu của VPBank khi mới thành lập là 20 tỷ VNĐ Cùng vớinhu cầu phát triển, cùng với việc mở rộng mạng lưới chi nhánh VPBank đã nhiềulần tăng vốn điều lệ Năm 2007, vốn điều lệ của VPBank là 2000 tỷ VNĐ năm 2008là 2117 tỷ VNĐ Đến 30/12/2010, VPBank đã chính thức tăng vốn điều lệ từ 2.456tỷ VNĐ (năm 2009) lên 4.000 tỷ VNĐ
Trong quá trình hình thành và phát triển, VPBank luôn chú ý đến việc mởrộng quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động tại các thành phố lớn Cuối năm
1993, thống đốc NHNN chấp thuận cho VPBank mở chi nhánh tại TP Hồ Chí
Trang 35Minh Tháng 11/1994, VPBank được phép mở rộng thêm chi nhánh Hải Phòng.Cũng trong năm 2004, NHNN đã có văn bản chấp thuận cho VPBank mở thêm 3chi nhánh mới là chi nhánh Hà Nội, chi nhánh Huế, chi nhánh Sài Gòn Kể từ khithành lập đến nay, VPBank khai trương rất nhiều phòng giao dịch trên địa bànTP.Hà Nội cũng như trên các tỉnh thành khác Tính đến 30/12/2010, VPBank đãđưa vào hoạt động 150 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc.
Số lượng nhân viên của VPBank trên toàn hệ thống tính đến nay có khoảng2.980 nhân viên trong đó phần lớn các nhân viên đều có trình độ đại học và một sốlà sau đại học còn lại là cao đẳng và trung cấp Số lượng nhân viên đã tăng lên rấtnhiều so với năm 2009 (2.394 nhân viên) Ngay từ khi mới thành lập, VPBank luôntrú trọng đến công tác đào tạo, triển khai các khóa đào tạo và nâng cao nghiệp vụcho cán bộ nhân viên theo hướng chuyên sâu, xây dựng và phát triển đội ngũ nhânviên thành thạo nghiệp vụ, chuyên nghiệp trong phong cách làm việc, nhiệt tìnhphục vụ khách hàng và chuẩn mực trong đạo đức kinh doanh Ngoài ra, VPBankcòn quan tâm đến cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cán bộ nhân viên,đảm bảo mức thu nhập ổn định có tính cạnh tranh cao trong thị trường lao độngngành tài chính ngân hàng
2.1.2 VPBank - chi nhánh Thăng Long
VPBank chi nhánh Thăng Long là một chi nhánh của VPBank được NHNNcho phép thành lập năm 2005 theo công văn chấp thuận số 365/NHNN – HAN7 Chi nhánh Thăng Long được khai trương ngày 21/10/2005, có trụ sở tại tòanhà M3-M4 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội Đây là chi nhánh đầu tiên tại địabàn Hà Nội được khai trương với một hệ thống nhận diện thương hiệu ứng dụnghoàn chỉnh hình ảnh biểu tượng mới của VPBank Tính đến nay chi nhánh ThăngLong có 11 phòng giao dịch Phòng giao dịch Nguyễn Tuân là phòng giao dịch mớinhất được khai trương ngày 7/1/2011 VPBank Thăng Long hiện có 11 phòng giaodịch trực thuộc
Trang 36Cơ cấu tổ chức của VPBank – chi nhánh Thăng Long:
Phòng Giao dịch và kho quỹ
Phòng Phục vụ
khách hàng cá
nhân (A/O CN)
Phòng Phục vụ
khách hàng doanh nghiệp (A/O DN)
Phòng Hành chính tổ chức
Phòng Quản lý tín dụng (C/A)
Các phòng Giao dịch
Giao dịch viên
Kho quỹ
Cầu GiấyPhạm Văn ĐồngMỹ ĐìnhHoàng Quốc ViệtTrần Duy HưngLiễu GiaiThành CôngNam Thăng LongYên Hòa
Từ LiêmNguyễn Tuân
Trang 372.1.3 Tình hình hoạt động của VPBank – chi nhánh Thăng Long
2.1.3.1 Tình hình huy động vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng trong việc phát triểncủa mỗi ngân hàng nói riêng và của VPBank nói chung bởi nó quyết định quy môtài sản Có và góp phần quan trọng tạo lợi nhuận cho ngân hàng Tình hình huy độngvốn của chi nhánh trong 3 năm gần đây được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 3: Nguồn vốn huy động theo kì hạn của VPBank Thăng Long
Đơn vị: triệu đồng
(Nguồn Báo cáo tài chính của VPBank – chi nhánh Thăng Long)
Từ bảng số liệu cho thấy, nguồn vốn huy động của VPBank chi nhánh ThăngLong không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2008, tổng nguồn vốn huy độngđược là 774.243 triệu đồng, năm 2009 là 1.785.443 triệu đồng, năm 2010 là1.910.706 triệu đồng Theo tỷ trọng tổng huy động vốn qua các năm, năm 2010 tăng146,8% so với năm 2008, tăng 7,02% so với năm 2009 Trong năm 2008 và nhữngtháng đầu năm 2009, tuy tình hình kinh tế còn khó khăn, lạm phát cao, các ngânhàng cạnh tranh gay gắt trong việc huy động vốn để đảm bảo nguồn vốn và khảnăng thanh khoản nhưng vốn huy động của VPBank Thăng Long vẫn tương đốicao Năm 2010, nền kinh tế đã đi vào ổn định, cùng với việc mở rộng mạng lưới,VPBank Thăng Long đã huy động được từ nguồn ngắn hạn là 1.509.458 triệu đồng(tăng 5,5% so với năm 2009) Nguồn vốn trung và dài hạn năm 2010 huy độngđược là 401.248 triệu đồng tăng 12,9% so với năm 2009 (355.303 triệu đồng) Tuynhiên nguồn vốn ngắn hạn vẫn chiếm ưu thế trong vốn huy động được của ngânhàng Năm 2008, vốn huy động ngắn hạn chiếm 74% trên tổng vốn huy động được.Năm 2009, chiếm 80.1% và năm 2010 chiếm 79% Nguồn vốn chi nhánh huy động
từ tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm ưu thế:
Bảng 4: Nguồn vốn huy động theo nguồn gốc của khoản vay