Để nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ, các Ngân hàng Thương mại đã không ngừng cải tiến và đổi mới các hoạt động của mình ngày càng phù hợp với yêu cầu của thực t
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua hệ thống ngân hàng thương mại đã có những đóng góp không nhỏ vào quá trình hội nhập nên kinh tế nước ta với các nước trong khu vực
và trên thế giới Hoạt động ngân hàng thương mại của nước ta đã trưởng thành về nhiều mặt, được bạn bè quốc tế biết đến và tín nhiệm Đóng góp không nhỏ tạo nên
vị thế của ngành là nhờ vào các hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó thanh toán tín dụng chứng từ là nhân tố chủ yếu nhờ tính ưu việt của nó so với các phương thức thanh toán quốc tế khác Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ là một yêu cầu cấp thiết của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Để nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ, các Ngân hàng Thương mại đã không ngừng cải tiến và đổi mới các hoạt động của mình ngày càng phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Tuy có vị trí quan trọng nhưng hoạt động thanh toán quốc tế chưa thực sự được các ngân hàng nước ta quan tâm đúng mức
và ở trình độ còn thấp hơn nhiều so với mức độ phật triển mà đáng ra nó phải đạt tới Do vậy, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu và đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ, em đã chọn đề tài: “ Nâng cap chất lượng thanh toán tín dụng chứng
từ đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam “ để nghiên cứu.
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Chuyên đề hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến hoạt động thanh toán TDCT và chất lượng thanh toán TDCT của ngân hàng
thương mại
Trang 2- Đánh giá thực trạng hoạt động và chất lượng thanh toán TDCT đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng thanh toán TDCT tại Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt Nam và NH Thương mại Cổ phần Á Châu, tìm ra các nguyên nhân nhằm đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán TDCT tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Để thực hiện được các mục tiêu như đã nói ở trên thì đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là các vấn đề lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế( TTQT), phương thức TDCT, các số liệu thực tế dựa theo các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng thanh toán TDCT của Sở giao dịch
NHNNo&PTNT Việt Nam và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
- Phạm vi nghiên cứu: Chuyên đề đi sâu vào đánh giá thực trạng hoạt động thanh toán TDCT cũng như những vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán TDCT tại NHNo&PTNT Việt Nam và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
4.Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề chủ yếu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời kết hợp các phương pháp khoa học khác như: phương pháp phân tích, đánh giá, thống kê, tổng hợp, so sánh đồng thời sử dụng các bảng biểu thống kê các số liệu thu thập được để minh họa, cùng với việc tham khảo các tài liệu và sự cố gắnng tìm hiểu, độc lập suy nghĩ của bản thân
5.Kết cấu chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu và kết luận,danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Trang 3Chương 1: Những vấn đề lý luận về chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ
của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao
dịch NHNo&PTNT Việt Nam và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thanh toán TDCT đối với các ngân
hàng thương mại Việt Nam
CHƯƠNG I
Trang 4NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1.1 Khái niệm
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay không một nước nào lại coi nhẹ vấn đề
mở cửa hội nhập kinh tế Các ngân hàng hiện đại càng nắm rõ vấn đề này hơn ai hết vì thế hàng loạt các dịch vụ đa năng nhằm tăng thu nhập không những từ các nghiệp vụ truyền thống đã được các ngân hàng phát triển một cách nhanh chóng nhất, ví dụ như các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế, bảo lãnh… Trong đó TTQT là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng đem lại nguồn lợi nhuận lớn
và có tốc độ tăng trưởng cao, nó được coi là nghiệp vụ ngoại bảng đặc trưng của ngân hàng thương mại ( NHTM ) ngày nay
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi
về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
1.1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế
• Đối với nền kinh tế:
Hiện nay trên thế giới không quốc gia nào còn tồn tại nền kinh tế tự cung tự cấp, tất cả đều đã tham gia vào vòng xoáy toàn cầu hoá và không thể tránh khỏi các mối quan hệ thanh toán kể cả về mậu dịch và phi mậu dịch Như vậy, TTQT như một chiếc cầu nối thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu ( XNK) hàng hoá và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút nguồn kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế… giúp các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau hơn
Trang 5Để các hợp đồng ngoại thương đi đến bước cuối cùng thì không thể thiếu khâu quan trọng là thanh toán Nếu khâu này mà diễn ra suôn sẻ với tiến độ nhanh, chính xác, an toàn, thực hiện đúng theo yêu cầu của các bên thì sẽ càng nhanh chóng giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hoá - tiền tệ giữa người mua - người bán một cách hiệu quả Không chỉ có vậy, hiệu quả của hoạt động thanh toán còn giúp tạo sự tin tưởng cao trong kinh doanh, nâng cao vị thế của nền kinh
tế, không làm cho bất kỳ quốc gia nào phải e ngại khi nảy sinh các quan hệ kinh tế đối ngoại với nhau
• Đối với các ngân hàng thương mại:
Có thể khẳng định rằng sự thành công hay thất bại của hoạt động TTQT có phần đóng góp to lớn của các ngân hàng Ngược lại, hoạt động TTQT cũng đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trong các lĩnh vực dịch vụ ngân hàng cao cấp Nó đem lại nguồn lợi vô cùng lớn và gia tăng không ngừng, đặc biệt cho công tác đối ngoại của tất cả các nước trên thế giới
Ngoài việc đem lại doanh thu lớn, hoạt động TTQT còn giúp các ngân hàng học hỏi kinh nghiệm trong nghiệp vụ, trao đổi các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ với nhau Công tác quản lý, đào tạo đội ngũ nhân viên cũng sẽ được ngân hàng chú trọng hơn, đưa mục tiêu cung cấp những tiện ích tốt nhất phục vụ khách hàng lên hàng đầu Hoạt động TTQT còn giúp nâng cap uy tín đối nội, đối ngoại của ngân hàng Cụ thể là, các ngân hàng không chỉ giới thiệu được các
nghiệp vụ khác tới khách hàng trong nước mà còn với cả khách hàng quốc tế, đa dạng hoá các sản phẩm và mở rộng đối tượng khách hàng Vì những lợi ích không
hề nhỏ như vậy nên không có ngân hàng nào lại từ chối phát triển mảng nghiệp vụ hiện đại này
• Đối với các doanh nghiệp:
Thanh toán là khâu cuối cùng trong chuỗi hoạt động sản xuất – kinh doanh XNK, nó là mắt xích vô cùng quan trọng để kết nối tất cả các khâu với nhau tạo
Trang 6thành một dây truyền vận hành hoán hảo Mà hoạt động xuất nhập khẩu lại là lĩnh vực đòi hỏi sự đầu tư lớn và các bên phải có thiện chí để đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện Các áp lực đó đã dần dần giúp cho daonh nghiệp trưởng thành hơn trong hoạt động kinh doanh với các đối tác nước ngoài Để không bị thua thiệt hay mắc sai lầm thì các doanh nghiệp phải tự mình học hỏi kinh nghiệm quốc tế, nâng cao trình độ của mình trong các lĩnh vực liên quan, nhất là về luật pháp Khi đã được đánh giá là một đối tác đáng tin cậy trên trường quốc tế thì không có lý do gì
mà các doanh nghiệp này không thể mở rộng hoạt động kinh doanh ra các bạn hàng mới, hàng loạt các cơ hội giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển mở ra với
tỷ lệ thành công rất lớn.Có thể nói, hoạt động TTQT giúp mở ra một chân trời mới cho các doanh nghiệp muốn bứt phá trong thời kỳ mới
1.1.3 Đặc điểm của thanh toán quốc tế
• Thanh toán quốc tế gồm thanh toán ngoại thương và phi ngoại thương:
Qua khái niệm về thanh toán quốc tế ta thấy, TTQT không chỉ góp mặt trên lĩnh vực kinh tế mà trên cả lĩnh vực phi kinh tế Nhưng do hai hoạt động này thường giao thoa lẫn nhau nên để dễ dàng hơn người ta thường tìm hiểu TTQT trên hai khía cạnh là thanh toán trong ngoại thương và thanh toán phi ngoại thương
TTQT trong ngoại thương là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương TTQT phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hóa XNK cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính chất thương mại Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại ăn ở của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân, các nguồn quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho cá nhân trong nước…
Trang 7• Thanh toán liên quan đến đồng tiền, địa điểm, phương tiện, phương thức và thời gian thanh toán:
Nói đến TTQT là nói đến mối quan hệ của các đối tác không phải cùng trong một nước, điều đó làm nảy sinh các điều kiện về tiền tệ, về thời gian thanh toán, về địa điểm thanh toán, về phương tiện, phương thức thanh toán để làm thế nào không ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia Việc sử dụng loại tiền tệ nào trong quan hệ TTQT là tùy thuộc các bên Khác với thanh toán trong nội địa là sử dụng đồng nội tệ thì ở đây có thể lựa chọn đồng tiền của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hay của nước thứ ba, mà cũng có thể là đồng tiền chung của một khối liên minh nào đó Nhưng chủ yếu các đối tác đều chọn những đồng tiền tự do chuyển đổi như Đô la Mỹ ( USD), Bảng Anh ( GBP), Yên Nhật (JPY), đồng tiền chung Châu Âu ( EUR)…Thời gian thanh toán có thể là trả trước, trả ngay hay trả sau, điều đó không chỉ tùy thuộc vào ý kiến chủ quan của các bên mà còn vào tình hình thị trường hay các biến động khác Điều kiện về địa điểm thanh toán sẽ được nói rõ trong mỗi hợp đồng ngoại thương, nó phụ thuộc vào tương quan lực lượng giữa hai bên, vào phương thức và đồng tiền thanh toán đã được chọn Người ta có nhiều cách để chọn ra loại phương tiện thanh toán nào trong các loại: tiền mặt, séc, hối phiếu, lệnh phiếu, thẻ thanh toán…để phù hợp nhất với các phương thức thanh toán đang được sử dụng phổ biến hiện nay như ứng trước, ghi sổ, chuyển tiền, nhờ thu hay tín dụng chứng từ
• Gặp nhiều rủi ro sự biến động tiền tệ, chính trị:
Không phải cứ khi nào ký được hợp đồng ngoại thương là các bên đối tác sẽ chắc chắn rằng mình sẽ nhận được điều mình mong muốn Bởi khác với thanh toán trong nội địa, TTQT chứa đựng nhiều rủi ro hơn rất nhiều, đặc biệt là khi phần lớn các hợp đồng ngoại thương đều có giá trị cao Điều đó có thể đến từ các lý do về biến động tỷ giá, bất ổn chính trị, khoảng cách về địa lý…làm cho các bên không thể hiểu rõ về nhau Do vậy, các ngân hàng với vai trò trung gian sẽ giúp giải
Trang 8quyết phần lớn các khó khăn đó, giúp cho việc thanh toán trở nên khả thi hơn rất nhiều.
• Phục vụ chủ yếu cho hoạt động kinh tế đối ngoại:
Vì là thanh toán giữa các quốc gia với nhau nên vấn đề khác biệt về luật pháp
và các quy tắc ứng xử của từng nước cũng là những rào cản không nhỏ cho hoạt động TTQT Bên cạnh đó, vì phục vụ chủ yếu cho hoạt động kinh tế từng thời kỳ
là yếu tố chính trị đóng vai trò rất quan trọng trong thực hiện các hoạt động thanh toán quốc tế Nắm bắt rõ vấn đề này, các doanh nghiệp có thể dự đoán trước những thuận lợi hay khó khăn khi tham gia vào mối quan hệ kinh doanh quốc tế, từ đó hạn chế một phần rủi ro
• Thanh toán sử dụng rất nhiều loại chứng từ:
Ngoài các yếu tố trên, đặc biệt có một điều cơ bản không thể thiếu trong thanh toán TDCT là các loại chứng từ Nó là căn cứ để người thụ hưởng có quyền đòi tiền, để người trả tiền thực hiện hay từ chối nghĩa vụ chi trả của mình Đối với mỗi phương thức thanh toán, tùy thuộc vào luật pháp, thông lệ của quốc tế, quốc gia mà sẽ có những yêu cầu khác nhau về số lượng,số loại, cách tạo lập với các chứng từ
Tóm lại, TTQT là hoạt động được sinh ra trên cơ sở hoạt động ngoại thương,
là khâu cuối cùng và vô cùng quan trọng để hoàn thành vòng quay sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, gắn kết người sản xuất và người tiêu dùng thông qua chi trả lẫn nhau,
là một nghiệp vụ mà không ngân hàng nào lại không muốn phát triển vì sự tiến bộ của chính mình
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN TDCT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm:
Tín dụng chứng từ được nêu điều 2, UCP 600, như sau:
Trang 9“ TDCT là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành ( NHPH ) về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”.
Từ định ngĩa của UCP nêu trên, chúng ta có thể diễn đạt theo một cách khác như sau:
Tín dụng chứng từ là một văn bản cam kết dùng trong thanh toán, trong đó một ngân hàng (NHPH) theo yêu cầu của một khách hàng ( người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả tiền cho người thứ ba, hoặc trả cho bất kỳ người nào theo lệnh của người thứ ba đó ( người thụ hưởng ), hoặc sẽ trả, chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng phát hành, hoặc ủy quyền ngân hàng khác trả tiền, chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu đó, khi xuất trình đầy đủ các chứng từ đã quy định và mọi điều khoản của thư tín dụng đã được thực hiện đầy đủ
1.2.2 Vai trò của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.2.1 Đối với nền kinh tế
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong những năm gần đây, thanh toán TDCT ngày càng có vai trò quan trọng, nó như một chất xúc tác giúp cho bộ máy kinh tế đối ngoại và thương mại giữa các nước được diễn ra trôi chảy
Thanh toán Tín dụng chứng từ trước hết là một hình thức tín dụng quan trọng gắn liền với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Nó giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành an toàn, thuận lợi và giảm bớt chi phí thay vì thanh toán bằng tiền mặt Bên cạnh đó, ngân hàng còn bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong giao dịch thanh toán thông qua các hoạt động tư vấn, bảo lãnh,… nhằm giảm thiểu rủi ro, tạo sự an toàn, tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch buôn bán với nước ngoài Hơn nữa, ngân hàng còn có thể tài trợ XNK, bảo lãnh thanh toán mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu… đối với khách hàng thiếu vốn, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển
Trang 10Mặt khác, xuất nhập khẩu là một khoản mục quan trọng trong cán cân TTQT của một quốc gia, thể hiện ở giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu, giá trị này chỉ có thể thực hiện được thông qua hoạt động thanh toán TDCT Do đó, thanh toán TDCT trực tiếp tác động đến cán cân thương mại của một quốc gia Nếu thanh toán TDCT được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, an toàn chính xác thì có thể hạn chế rủi ro có thể xảy ra, để lại thiện chí, uy tín giữa các bên, góp phần mở rộng quan hệ buôn bán, từ đó góp phần ổn định tỷ giá, duy trì ngoại hối và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Ngoài ra, việc tham gia của ngân hàng trong hoạt động thanh toán TDCT sẽ giúp Nhà nước trong việc quản lý hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của các
doanh nghiệp trong nước, đồng thời nắm bắt tình hình thị trường thế giới, tự đánh giá khả năng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, từ đó xây dựng chiến lược phát triển và thực thi chính sách đối ngoại phù hợp với từng thời kỳ
1.2.2.2 Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Mục tiêu hàng đầu đối với các doanh nghiệp là lợi nhuận, tuy nhiên đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì việc đạt được mục tiêu này khó khăn hơn vì hoạt động của họ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố bên ngoài như: tình hình thị trường thế giới, khả năng thanh toán của đối tác nước ngoài…Các doanh nghiệp này chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi các hợp đồng ngoại thương mà họ tham gia thực hiện trôi chảy Điều này được thực hiện với sự giúp đỡ của các ngân hàng thông qua nghiệp vụ TDCT
Ngân hàng với bề dày kinh nghiệm, có khả năng tài chính để tài trợ cho cả người bán và người mua, có mạng lưới và quan hệ đại ký rộng khắp, có công nghệ
kỹ thuật tiên tiến, nên có thể thực hiện hoạt động thanh toán TDCT nhanh chóng,
an toàn và chính xác nhất
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, thanh toán TDCT qua ngân hàng sẽ giúp cho việc thanh toán được diễn ra nhanh chóng, tạo lòng tin cho đối tác, đảm bảo an
Trang 11toàn Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, thanh toán TDCT qua ngân hàng sẽ thu được tiền hàng nhanh chóng, kịp thời phục vụ cho các hoạt động tiếp sau.
1.2.3 Ưu và nhược điểm của phương thức thanh toán TDCT đối với ngân hàng thương mại
So sánh với các phương thức khác, thanh toán bằng L/C có ưu điểm, nhược điểm sau:
- Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng tiềm năng kinh doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau
- Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng năng lực kinh doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau
1.2.3.2 Nhược điểm
Trang 12Bên cạnh những ưu điểm của phương thức thanh toán TDCT đối với ngân hàng thương mại thì còn có nhược điểm của nó Nhược điểm đó là những rủi ro
mà nó đem lại cho ngân hàng Tùy thuộc vào vai trò của ngân hàng trong quy trình thanh toán L/C mà nó gặp phải những rủi ro khác nhau
a Rủi ro đối với NHPH
NHPH phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà XK chủ tâm không hoàn trả hoặc không có khả năng hoàn trả Với lý do này, rủi ro tín dụng đối với NHPH là rất hiện hữu,
do đó, trước khi chấp nhận phát hành L/C, ngân hàng cần áp dụng một quy trình thẩm định chặt chẽ giống như việc cấp tón dụng cho KH
Trong số các nhân tố NHPH cần phải xem xét là liệu NH có thu lại được một phần hay toàn bộ số tiền đã thanh toán từ việc bán hàng nếu nhà NK bị phá sản Câu hỏi cần trả lời đó là:
•Nhà nhập khẩu có chắc chắn là người sở hữu hàng hóa?
•Hàng hóa đảm bảo chất lượng và có thể bán được?
•Hàng hóa có dễ hỏng và giá cả có biến động?
•Hàng hóa có bị hư hại trong quá trình vận chuyển? nếu bị hư hại thì có bảo hiểm? ngân hàng có quyền đòi tiền bảo hiểm?
•Có sự thông đồng lừa đảo giữa nhà xuất khẩu và nhập khẩu, hậu quả
có thể là hàng hóa sẽ không bao giờ được chuyển đi?
•Có hạn chế nào liên quan đến loại hàng hóa nhập khẩu, ví dụ hạn chế
về giấy phép kinh doanh, đối tượng mua bán?
- Khi L/C không có xác nhận, NHPH hay được yêu cầu chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ Trong trường hợp này, nếu không có sự chấp thuận trước của người NK về việc hoàn trả, thì
Trang 13NHPH sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, nên nhà NK không chấp nhận, do đó NH sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà NK.
- Nếu NHPH trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà NK không chấp nhận thì không thể đòi tiền nhà NK
b Rủi ro đối với ngân hàng thông báo (NHTB)
NHTB chịu trách nhiệm phải có sự “quan tâm hợp lý” để đảm bảo rằng thư tín dụng là chân thật, bao gồm cả việc xác minh chữ ký, khóa mã, mẫu điện trước khi gửi thông báo cho nhà NK
c Rủi ro đối với ngân hàng được chỉ định (NHCĐ)
Trừ khi là ngân hàng xác nhận, các ngân hàng được chỉ định không có một trách nhiệm nào phải thanh toán cho người XK trước khi nhận được tiền từ NHPH Tuy nhiên, trong thực tế, trên cơ sở bộ chứng từ xuất trình, các ngân hàng được chỉ định thường ứng trước cho nhà xuất khẩu với điều kiện truy đòi( with recourse) để trợ giúp nhà xuất khẩu, do đó ngân hàng này phải tự chịu rủi ro tín dụng đối với NHPH hoặc nhà XK
d Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận (NHXN)
Nếu bộ chứng từ này là hoàn hảo, thì ngân hàng xác nhận phải trả tiền cho người XK bất luận là có truy hoàn được tiền từ NHPH hay không Như vậy, NHXN chịu rủi ro tín dụng đối với NHPH, cũng như rủi ro chính trị và rủi ro cơ chế( hạn chế ngoại hối) của nước NHPH
Nếu NHXN trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà không
có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, NHPH không chấp nhận, thì không thể đòi tiền NHPH
Trang 141.2.5 Quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán L/C
1.2.5.1 Các thành phần tham gia thanh toán TDCT
Trong quá trình thanh toán TDCT, thông thường có các thành phần tham gia như sau:
a Người đề nghị phát hành thư tín dụng ( Applicant for Credit): người nhập khẩu
b Ngân hàng phát hành (Issuing bank): ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ngân hàng mở thư tín dụng
c Người thụ hưởng (Beneficiary): người xuất khẩu
d Ngân hàng thông báo(Advising bank): ngân hàng phục vụ người xuất khẩu Ngân hàng thông báo có thể là ngân hàng đại lý hoặc là chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước người xuất khẩu
Trang 15Ngoài thành phần tham gia thanh toán nêu trên, trong thực tế tùy thuộc vào từng loại thư tín dụng có thể xuất hiện thêm một số thành phần khác:
e Ngân hàng xác nhận (Confirming bank): ngân hàng được chỉ định trong thư tín dụng, thực hiện xác nhận(đảm bảo) TDCT theo yêu cầu của NHPH
f Ngân hàng được chỉ định (Norminated Bank): ngân hàng này được chỉ định trong thư tín dụng.Tùy theo từng loại thư tín dụng mà ngân hàng này có thể thực hiện một trong các nghiệp vụ sau đây:
+ Ngân hàng chỉ định thanh toán( Norminated Paying Bank)
+ Ngân hàng chỉ định chấp nhận ( Norminated Accepting Bank)
+ Ngân hàng chỉ định chiết khấu (Norminated Negotiating Bank)
g Ngân hàng bồi hoàn ( Reimbursing Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành ủy nhiệm thực hiện thanh toán giá trị tín dụng thư cho ngân hàng được chỉ định thanh toán hoặc chiết khấu Ngân hàng bồi hoàn thường tham gia trong trường hợp giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng được chỉ định không có quan hệ tài khoản trực tiếp với nhau
1.2.5.2 Quy trình nghiệp vụ thanh toán TDCT
a Trường hợp L/C có giá trị thanh toán tại NHPH
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C (1)
(3)
(6’)
NHPH
NHTB
Trang 16(3) Căn cứ vào đơn mở L/C, nếu chấp nhận thì NHPH lập L/C và thông qua ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà xuất khẩu
để thông báo L/C cho nhà XK
(4) Khi nhận được L/C NHTB kiểm tra, nếu L/C là chân thật thì thông báo L/C cho nhà XK, nếu ngược lại thì gửi lại cho NHPH
Trang 17(5) Nhà xuất khẩu kiểm tra L/C, nếu phù hợp với hợp đồng đã kí thì tiến hành giao hàng, nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương.
(6) và (6’) Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình cho NHPH để thanh toán
(7) NHPH sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy xuất trình phù hợp thì tiến hành thanh toán, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà XK
(8) Nhà NK hoàn trả cho NHPH
(9) NHPH trao bộ chứng từ cho ngân hàng NK
b L/C có giá trị thanh toán tại NHđCĐ
Sơ đồ 1.2 Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C (2)
Trang 18(5)
Chú giải:
Các bước từ (1-5) giống trường hợp L/C có giá trị tại NHPH
(6) Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C
và xuất trình cho NHđCĐ để thanh toán
(7) NHđCĐ sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành thanh toán, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu
(8) NHđCĐ gửi bộ chứng từ cho NHPH để được hoàn trả
(9) NHPH kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành thanh toán cho NHđCĐ, nếu thấy không phù hợp, thì từ chối thanh toán và gửi trả lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho NHđCĐ
(10) NHPH đòi tiền nhà NK và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng nhập khẩu sau khi đã nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán
(11) Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền
1.3 CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Khái niệm chất lượng thanh toán TDCT
Thanh toán TDCT là hoạt động mang lại doanh thu cực lớn cho các ngân hàng không những về giá trị tuyệt đối mà cả về tỷ trọng Vậy để chúng ta có thể phát triển nghiệp vụ quan trọng này thì cần phải nắm bắt rõ những vấn đề ảnh
Trang 19hưởng đến tính chất, chất lượng thanh toán.Chất lượng của nghiệp vụ thanh toán TDCT được hiểu là giá trị của việc thanh toán mang lại hiệu quả kinh tế và lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng Mà chất lượng của hoạt động dịch vụ được
đo bằng những đặc tính làm thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng và chỉ được đánh giá sau khi đã tiêu dùng nó Tức là không chỉ bằng các phép tính hay con số là thể hiện được mà còn phải quan sát các yếu tố định tính nên công tác đánh giá chất lượng càng khó khăn hơn
Chất lượng thanh toán TDCT được thể hiện ở cả hai mặt là thanh toán hàng nhập và thanh toán hàng xuất Trong đó, chất lượng thanh toán hàng nhập khẩu được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như thời gian mở L/C hợp lý, chất lượng kiểm tra chứng từ…Thanh toán hàng xuất khẩu thì biểu hiện ở thời gian thanh toán chính xác, nhanh chóng, kịp thời và khả năng tư vấn của ngân hàng đối với các nhà kinh doanh XNK với chi phí thấp nhất.
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng thanh toán TDCT của NHTM
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và hiện đại hoá, các NHTM đều phải tiến tới mô hình ngân hàng hiện đại – ngân hàng phát triển các sản phẩm dịch vụ và thu nhập từ dịch vụ phải chiếm 50% tổng thu nhập của Ngân hàng ( con số này trên thực tế chỉ chiếm 30%, còn lại 70% là thu từ tín dụng) Trong các sản phẩm dịch vụ NH thì kinh doanh ngoại hối và Thanh toán quốc tế chiếm một vị trí quan trọng
Việc nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán L/C thiết lập nên nhiều mối quan hệ NH đại lý với NH nước ngoài nhằm sử sụng tối ưu công suất của máy
và người, làm giảm chi phí và tăng lợi nhuận, đồng thời bổ sung và hỗ trợ các hoạt động khác của Ngân hàng, gián tiếp tạo ra lợi nhuận từ những hoạt động này, từ đó góp phần tăng doanh thu TTQT cũng như mở rộng thị trường cho các NHTM
Trang 20Nghiệp vụ thanh toán TDCT được mở rộng và nâng cao chất lượng còn đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở nâng cao uy tín và tên tuổi cho NHTM không chỉ trên thị trường trong nước mà còn trên cả thị trường quốc tế.
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ
1.3.3.1 Xác định chính xác tính chân thực bề ngoài của L/C:
Việc xác định tính chân thực bề ngoài của L/C là trách nhiệm của ngân hàng thông báo (NHTB) Nếu một L/C mà được thông báo tới người thụ hưởng với cam kết của NHTB rằng đó là L/C chân thực thì ngân hàng đó sẽ phải chịu mọi rủi ro phát sinh khi kết luận của họ là không chính xác Thời gian kiểm tra của NHTB càng ngắn thì càng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu có thể thực hiện hợp đồng ngoại thương nhanh chóng hơn
1.3.3.2 L/C được mở vào thời gian hợp lý và có nội dung phù hợp:
L/C sẽ được NHPH mở khi họ nhận thấy đơn yêu cầu mở L/C của nhà nhập khẩu hội đủ các tiêu chuẩn: phù hợp với khả năng của ngân hàng, chính xác so với các hợp đồng ngoại thương, không vi phạm quy định của các điều luật và công ước quốc tế, quốc gia, đảm bảo lợi ích tương đối cho các bên, trong
đó có cả NHPH Thời gian mở L/C được NHPH rất chú ý vì phải không vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng ngoại thương nhưng cũng phải tính toán đến thời gian luân chuyển L/C tới tay nhà xuất khẩu để họ quyết định xem L/C đã phù hợp chưa và chuẩn bị giao hàng cho kịp Nhưng nếu mở quá sớm thì nhà nhập khẩu sẽ bị đọng vốn, không có lợi ích cho việc sản xuất kinh doanh
Về nội dung, NHPH phải đảm bảo rằng L/C dễ hiểu, chuyển tải đầy đủ những nội dung cơ bản, quan trọng của hợp đồng ngoại thương Các điều khoản phải chặt chẽ và phù hợp với các văn bản pháp quy điều chỉnh, không nên làm
Trang 21ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu vì dễ dẫn đến bổ sung, sửa chữa, vừa tốn thời gian, chi phí lại làm giảm uy tín của NHPH.
1.3.2.3 Chất lượng dịch vụ tư vấn khách hàng:
Phương thức thanh toán L/C là phương thức đã mang lại nhiều lợi ích hơn cho cả người xuất khẩu và người nhập khẩu so với các phương thức thanh toán khác, song cùng với đó là sự phức tạp trong quá trình tiến hành thanh toán Đặc biệt đối với nhà xuất khẩu, việc họ được thanh toán sớm hay muộn phụ thuộc rất nhiều vào bộ chứng từ mà họ xuất trình có hoàn hảo hay không Do trình độ nghiệp vụ về thanh toán quốc tế của thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp phần lớn còn kém, vì vậy họ luôn nhờ tới sự tư vấn của ngân hàng trong việc lựa chọn khách hàng, lựa chọn loại L/C, cách lập bộ chứng từ hoàn hảo…để đảm bảo trong quá trình thanh toán họ hạn chế được mức tối thiểu những sai sót, rủi
ro có thể xảy ra Nếu ngân hàng làm tốt được việc này thì cũng góp phần hạn chế rủi ro và đẩy nhanh quá trình kiểm tra chứng từ, một yếu tố cũng góp phần nâng cao chất lượng thanh toán cho ngân hàng
1.3.2.4 Chất lượng kiểm tra chứng từ:
Quyền hạn và trách nhiệm của các ngân hàng tham gia thanh toán đã được quy định rất rõ ràng trong các điều khoản của UCP Chất lượng kiểm tra bộ chứng từ của các ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến uy tín, khả năng cạnh tranh của các ngân hàng mà còn đến quyền lợi của nhà xuất khẩu và nhập khẩu Nếu bộ chứng từ có sai sót mà các ngân hàng lại quyết định là phù hợp và thanh toán cho nhà xuất khẩu thì làm cho nhà nhập khẩu bị rủi ro vô cùng lớn Ngược lại, nếu ngân hàng từ chối thanh toán và đưa ra những lý do không hợp lý thì có thể sẽ bị nhà xuất khẩu kiện ra toàn án quốc tế, vừa mất uy tín vừa làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quan hệ buôn bán giữa hai bên, và như thế không chỉ mất khách hàng trong một lĩnh vực mà có thể ở cả nhiều sản
phẩm khác của ngân hàng đó
Trang 22Ngoài ra, chất lượng kiểm tra chứng từ của các ngân hàng còn thể hiện ở thời gian mà ngân hàng đó hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra sự phù hợp hay tính chân thực của bộ chứng từ được xuất trình Vì nếu càng kiểm tra nhanh và chính xác thì thời gian thanh toán sẽ càng được rút ngắn, tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ kinh doanh giữa các bên Do đó, để tăng tính cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi các ngân hàng vừa phải kiểm tra cẩn thận vừa phải hoàn thành trong thời gian ngắn nhất có thể Nếu ngoài thời hạn kiểm tra chứng từ đã được quy định trong UCP thì dù có phát hiện ra sai sót của bộ chứng từ các ngân hàng cũng đã mất quyền từ chối thanh toán.
1.3.2.5 Khả năng tài trợ của ngân hàng theo phương thức TDCT:
Như chúng ta biết không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng ký quỹ toàn bộ giá trị L/C khi xin NHPH mở một tín dụng thư, nhất là đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ Do vậy, để thực hiện mục tiêu phát triển ngành xuất nhập khẩu, trong khi phần lớn các doanh nghiệp nước ta thuộc loại hình doanh nghiệp có quy mô vốn còn nhỏ hẹp, thì cần đến sự giúp đỡ rất lớn từ phía các ngân hàng Nếu ngân hàng chấp nhận tài trợ cho nhiều doanh nghiệp mà theo thẩm định của ngân hàng là đủ độ tin cậy thì ngoài việc tạo điều kiện cho hoạt động của các doanh nghiệp thông suốt còn quảng bá được năng lực của ngân hàng mình trên thị trường
1.3.2.6.Sự cân đối giữa L/C xuất khẩu và L/C nhập khẩu:
Sự cân đối giữa L/C xuất khẩu và L/C nhập khẩu thể hiện khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện đồng đều cả chức năng phục vụ nhà xuất khẩu
và nhà nhập khẩu trong phương thức thanh toán TDCT Nếu số lượng và giá trị
có khả năng tài trợ cho nhà xuất khẩu tốt, các điều kiện để được tài trợ cũng đơn giản, hoặc có đại lý rộng lớn, thích hợp cho việc thông báo L/C tới nhà xuất khẩu nhưng lại không đủ năng lực và uy tín để khách hàng xin mở L/C Trường hợp ngược lại chứng tỏ ngân hàng rất chặt chẽ trong việc kiểm tra sự phù hợp
Trang 23của chứng từ trước khi trả tiền cho nhà xuất khẩu, giúp đảm bảo an toàn trong thanh toán TDCT nhưng lại yêu cầu cao đối với các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu xin tài trợ trước Đó là các lý do xuất phát từ các yếu tố nội tại của ngân hàng chứ chưa tính đến đặc thù của thị trường Với nước ta thì hiện tượng nhập siêu luôn chiếm tỷ trọng lơn hơn so với xuất siêu nên khả năng cân đối L/C xuất khẩu và L/C nhập khẩu cũng cần xem xét một cách tương đối.
Muốn có được sự cân đối trên thì trước hết ngân hàng cần có nguồn vốn ngoại tệ đủ mạnh để trang trải cho các chi phí phát sinh trong các hoạt động thanh toán Nguồn vốn đó có phần không nhỏ là đóng góp của doanh thu từ các hoạt động tài trợ nhập khẩu Sau khi đã thanh toán cho nhà xuất khẩu ngân hàng
sẽ quay lại yêu cầu người xin mở L/C hoàn trả lại khoản mà ngân hàng đã thay mặt thanh toán Hiệu quả của quá trình thanh toán không chỉ thể hiện giữa ngân hàng và người thụ hưởng mà còn ở giai đoạn thu hồi vốn của ngân hàng từ nhà nhập khẩu Để tránh rủi ro xảy ra cho mình thì ngay từ khi thẩm định đơn yêu cầu mở L/C của khách hàng, ngân hàng phải đánh giá được đối tượng và có tin tưởng vào nhà NK thì ngân hàng mới chấp nhận phát hành L/C
1.3.2.7 Tỷ lệ rủi ro trong thanh toán thấp:
Tỷ lệ này càng thấp càng chứng tỏ chất lượng thanh toán của các ngân hàng càng cao Mỗi ngân hàng với khả năng riêng, hoàn cảnh và chức năng riêng sẽ gặp phải những rủi ro khác nhau
-NHPH: Do NHPH sẽ gặp rủi ro khi họ thẩm định sai khách hàng, dẫn đến sau khi đã làm xong trách nhiệm thanh toán cho người thụ hưởng thì họ không thể thực hiện quyền đòi tiền của mình Hoặc nhà xuất khẩu có chủ tâm lừa đảo ngân hàng, lập các chứng từ giả làm ngân hàng không phát hiện được và phải thanh toán Rủi ro cũng đến từ các nhà nhập khẩu khi họ không có khả năng tài chính để trả cho ngân hàng do các tình huống bất khả kháng Cũng có khi do nhà nhập khẩu không có thiện chí trả tiền, việc kiện ra tòa để giải quyết có thể
Trang 24sẽ lấy lại được lợi ích mà ngân hàng đáng được hưởng nhưng sẽ mất thời gian
và gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động của ngân hàng Mặt khác, NHPH có thể không thu hồi được tiền trong khi vẫn phải thanh toán cho bên xuất khẩu khi ngân hàng đó không làm đúng theo UCP hay các điều kiện, điều khoản mà L/C
đã dẫn chiếu
-NHTB:Vì trách nhiệm của NHTB là kiểm tra tính chân thực bề ngoài của L/C hay sửa đổi L/C nên rủi ro đến với ngân hàng này cũng xuất phát từ khả năng thẩm định của họ NHTB có thể chỉ thông báo mà không xác nhận là L/C
đó có tính chân thực bề ngoài, nhưng nếu thông báo nhầm một L/C giả không ghi chú gì thì sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm với các bên liên quan
-Ngân hàng xác nhận (NHXN): L/C cần phải xác nhận khi nó có giá trị lớn, nhà xuất khẩu chưa tin tưởng vào NHPH do đó là ngân hàng lạ, chưa có uy tín cao, hoặc do hai bên mới kết giao buôn bán với nhau mà nhà xuất khẩu không hiểu rõ luật lệ, tập quán của nước nhập khẩu Rủi ro xảy đến xác nhận L/C mà không yêu cầu ký quỹ Đến khi NHPH thiếu thiện chí hay mất khả năng thanh toán, thậm chí bị phá sản thì NHXN sẽ phải trả tiền cho người thụ hưởng khi người này có một xuất trình phù hợp
- Ngân hàng chiết khấu: Có hai hình thức chiết khấu là miễn truy đòi và có truy đòi.Nếu ngân hàng sử dụng chiết khấu miễn truy đòi thì sẽ hứng chịu rủi ro lớn khi NHPH từ chối thanh toán cho bộ chứng từ, khi đó họ sẽ không thể yêu cầu người thụ hưởng hoàn trả số tiền đã chiết khấu.Ngân hàng chiết khấu cũng
sẽ không đòi được tiền khi NHPH bị mất khả năng thanh toán hoặc thực hiện sai các chỉ thị trong L/C
1.3.2.8 Chất lượng hoạt động của các ngân hàng đại lý:
Nếu một ngân hàng mà có mạng lưới đại lý hoạt động hiệu quả và phân bổ rộng khắp trên thế giới thì họ sẽ không bị giới hạn trong khu vực địa lý nào Khi
đó quy trình thanh toán sẽ diễn ra một cách nhanh chóng và suôn sẻ, ít gặp phải
Trang 25rủi ro vì đã có mối quan hệ với các ngân hàng đại lý từ trước, hiểu rõ về nhau và
về luật pháp của nhau Hơn nữa, khi các ngân hàng đại lý hoạt động hiệu quả còn giúp xác minh tính chân thực của các bên trong hợp đồng ngoại thương, không phải thông qua các bên trung gian vừa mất phí vừa tốn kém thời gian
1.3.2.9.Thu phí dịch vụ hợp lý:
Phí dịch vụ cao hay thấp là phụ thuộc vào chất lượng thanh toán ở từng ngân hàng, vào đặc điểm của khoản thanh toán( giá trị cao hay thấp, khoảng cách địa lý xa hay gần, ở nước đó có ngân hàng đại lý của mình hay không) và vào tình hình cạnh tranh trên thị trường
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán TDCT
1.3.4.1 Nhân tố khách quan:
a.Sự đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật:
Hệ thống pháp lý trong hoạt động TTQT nói chung và hoạt động thanh toán TDCT nói riêng đầy đủ, rõ ràng cũng tạo điều kiện cho hoạt động này phát triển Vì hoạt động thanh toán TDCT chịu sự điều chỉnh của các nguồn luật: luật quốc gia, các quyết định của ngân hàng, các thông lệ và luật pháp quốc tế Nếu
hệ thống pháp luật đồng bộ, có hiệu quả và thống nhất sẽ tạo điều kiện thuận lợi, làm giảm rủi ro cho hoạt động TTQT của ngân hàng, giúp tránh được những xung đột pháp lý trong quá trình giao lưu thương mại giữa các quốc gia
b.Môi trường kinh tế- chính trị xã hội:
Môi trường kinh tế - chính trị xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp XNK từ đó ảnh hưởng mạnh
mẽ đến doanh số L/C.Khi nền kinh tế phát triển mạnh về nền chính trị ổn định thì kim ngạch XNK tăng và doanh số L/C tăng theo nếu khách hàng chọn
phương thức tín dụng chứng từ để thanh toán, giá trị của mỗi món cũng tăng theo và ngược lại
Trang 26Ngoài ra, sự ổn định về cơ chế chính sách cũng có tác động tương tự.Cơ chế chính sách càng ổn định tạo điều kiện cho hoạt động XNK càng dễ dàng, từ
đó hoạt động thanh toán TDCT càng mạnh hơn Mọi sự biến động về cơ chế chính sách trong lĩnh vực liên quan đến XNK ( thuế quan, hạn ngạch…), quy định hoạt động của ngân hàng…đều ảnh hưởng đến thanh toán TDCT
c Môi trường tài chính quốc tế:
Một nền kinh tế khi đã mở cửa với thế giới thì luôn phải đứng trước những thách thức về những biến động của thị trường quốc tế Thị trường tài chính các nước có liên hệ chặt chẽ với nhau, nên các ngân hàng, doanh nghiệp ở các nước khác nhau nhưng phải đối mặt với một vấn đề giống nhau Khi thị trường tài chính của một nước có vấn đề, sớm muộn gì cũng tác động đến thị trường tài chính của nước khác, đặc biệt là nước có nền kinh tế lớn thì tác động này càng nhanh và càng mạnh tới phần còn lại của thế giới Các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chứng minh cho điều này Trước các cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế, nền kinh tế của tất cả các nước trên thế giới đều bị ảnh hưởng, nhất là lĩnh vực XNK, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động TDCT Các doanh nghiệp XNK bị ảnh hưởng dẫn đến việc ngân hàng có thể không thu được tiền đã bỏ ra từ đó ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán TDCT
d Sự ổn định của tỷ giá:
Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác Lựa chọn đồng tiền nào là đồng tiền thanh toán trong thanh toán TDCT là điều rất quan trọng Đồng tiền đó có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc cả hai bên Vì là ngoại tệ nên tỷ giá của đồng tiền thanh toán có thể biến động và gây thiệt hại cho nhà XK
e Yếu tố khách hàng:
Trang 27Trình độ của khách hàng về nghiệp vụ ngoại thương phần nào sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán TDCT Nếu trình độ nghiệp vụ ngoại thương của khách hàng còn hạn chế, dẫn đến sai sót trong quá trình thực hiện có thể kéo dài thời gian và ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán L/C.
b.Nguồn nhân lực:
Con người là yếu tố quyết định đối với bất kỳ một doanh nghiệp kinh
doanh nào Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng ngoại ngữ, tin học của các nhân viên tham gia trực tiếp vào hoạt động thanh toán TDCT nói riêng và hoạt động NH nói chung là yếu tố không chỉ giúp cho việc xử lý các nghiệp vụ
dễ dàng, nhanh chóng mà nó còn tạo ra ấn tượng tốt đẹp cho khách hàng về ngân hàng, giúp ngân hàng có thể thu hút khách hàng
c Chính sách của ngân hàng:
Đối với ngân hàng, chính sách đối ngoại đề cập đến việc mở rộng các quan
hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ đại lý với ngân hàng nước ngoài, phát triển các hoạt động TTQT, đưa ra các quy trình nghiệp vụ TTQT.Do đó, một chính sách đối ngoại đúng đắn, phù hợp với tình hình thị trường sẽ giúp ngân hàng phát huy hết các tiềm lực của mình để không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà con vươn tầm ảnh hưởng ra ngoài thế giới
Trang 28Luôn cần phải có chính sách khách hàng phù hợp, các chiến lược
Marketing cần phân đoạn thị trường để tìm hiểu rõ thị hiếu của nhiều nhóm khách hàng mà ngân hàng sẽ phục vụ
Ngoài thanh toán TDCT, ngân hàng còn có các sản phẩm khác như tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh…Khi khả năng tài chính của khách hàng không đảm bảo để có thể mở một L/C thì tùy từng trường hợp ngân hàng
có thể cấp tín dụng hay đứng ra bảo lãnh cho nhà nhập khẩu để quy trình thanh toán được hoàn tất Ngược lại, khách hàng xuất khẩu muốn ngân hàng tài trợ thông qua việc chiết khấu bộ chứng từ hoặc cho vay ứng trước, nếu một trong các khâu này không thực hiện được suôn sẻ thì cả quá trình thanh toán sẽ bị đình trệ
e Chất lượng hoạt động của hệ thống ngân hàng đại lý:
Hệ thống ngân hàng đại lý là cầu nối giữa ngân hàng với các đối tác nước ngoài Các ngân hàng đại lý sẽ thay mặt mình để giao dịch với khách hàng nên chất lượng phục vụ của các ngân hàng đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của ngân hàng mình trên trường quốc tế Ngoài ra, hệ thống ngân hàng đại lý còn giúp các ngân hàng hiểu rõ thực chất tình hình kinh doanh cũng như tính chân thực của các khách hàng nước ngoài, từ đó hạn chế được rất nhiều rủi ro trong quá trình thanh toán
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG
TỪ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM: SỞ GIAO
Trang 30DỊCH NHNo&PTNT VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH THĂNG LONG
2.1.THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHẤU CHI NHÁNH THĂNG LONG
2.1.1 Hoạt động Thanh toán quốc tế
Ngân hàng Á Châu ( ACB) vừa vinh dự đón nhận giải thưởng xuất sắc về tỉ
lệ điện chuẩn trong thanh toán thương mại quốc tế - khu vực Châu Á do tập đoàn Citigroup trao tặng Giải thưởng uy tín này được trao cho những định chế tài chính có tỉ lệ điện thanh toán quốc tế được xử lý tự động trên 95% và có khối lượng giao dịch cao Trong năm 2009, trên toàn cầu có gần 200 định chế tài chính được nhận giải thưởng lần này, trong đó có 36 ngân hàng ở Châu Á và ACB là ngân hàng duy nhất tại Việt Nam được nhận giải thưởng năm nay với tỉ
lệ xử lý tự động lên đến 98%
Để đạt được thành quả trên, ACB đã luôn không ngừng đào tạo đội ngũ cán
bộ, nhân viên thanh toán quốc tế có chuyên môn nghiệp vụ cao, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, nâng cao uy tín của ACB trong giao dịch thanh toán quốc
tế với các quốc gia trên thế giới Chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế của ACB đã được công nhận bởi các ngân hàng hàng đầu như JP Morgan Chase, HSBC, Wachovia, Standard Chartered và Citi
Bảng 2.1: Doanh số hoạt động TTQT của ACB Thăng Long
Đơn vị: 1.000 USD
Trang 312.Nhờ thu 0,011 0,560 3,456 1,724
( Nguồn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Qua bảng 2.1 ta thấy, hoạt động doanh số TTQT của chi nhánh tăng
trưởng khá mạh từ năm 2007 đến 2009, và đột nhiên giảm vào năm 2010 Cụ thể: năm 2007 đạt 17,552 nghìn USD; năm 2008 đạt 54,657 nghìn USD, tăng 211% so với năm 2007, quả là một năm tăng trưởng mạnh; năm 2009 đạt 82,361 nghìn USD, tăng 50,68% so với năm 2008; năm 2010 đạt 70,598 nghìn USD, tăng -14,28% so với năm 2009 Qua bảng 2.1 ta cũng nhận thấy chiếm tỷ trọng chủ yếu trong doanh số TTQT là doanh số chuyển tiền, trung bình trên 60% Điều này cũng dễ hiểu vì tỉ lệ điện xử lý tự động của ACB Thăng Long lên đến 98%
Lý do làm doanh số TTQT năm 2010 giảm là do hoạt động chuyển tiền giảm mạnh từ 60,873 nghìn USD năm 2009 xuống chỉ còn 38,762 nghìn USD, giảm 36,32% so với năm 2008 Nguyên nhân hoạt động chuyển tiền giảm, một mặt do sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng cao, mặt khác là do tình hình kinh tế thế giới không ổn định khiến hoạt động của các doanh nghiệp trở nên yên ắng hơn đôi chút để tránh rủi ro
2.1.2 Thực trạng chất lượng thanh toán TDCT tại NH TMCP Á Châu Chi nhánh Thăng Long
2.1.2.1 Doanh số thanh toán L/C
Bảng 2.2: Doanh số L/C
Đơn vị: 1.000USD
Trang 32(Nguồn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Qua bảng 2.2 ta thấy, doanh số thanh toán L/C luôn luôn biến động qua các năm Cụ thể : từ năm 2006 sang năm 2008 doanh số L/C tăng mạnh, năm 2007 đạt 3,636 nghìn USD tăng 44,86% so với năm 2006, năm 2008 tăng đột biến đạt
21,727 nghìn USD, tăng 498% so với năm 2007; sau khi tăng nó lại giảm mạnh ngay sau đó, năm 2009 giảm 17% so với năm 2008, chỉ đạt 18,032 nghìn USD; năm 2010 doanh số này lại tăng lên 30,112 nghìn USD, tăng 67% so với năm 2009 Tình trạng biến động thất thường của doanh số L/C là do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới, nền kinh tế gặp khó khăn, điều này ảnh hưởng đến hoạt động XNK của nước ta, từ đó cũng ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán L/C của ngân hàng Mặc dù doanh số có giảm nhưng ngay sau đó lại tăng lên được chứng tỏ khả năng phục hồi của ACB Thăng Long là khá tốt Sự phục hồi nhanh chóng cho thấy chất lượng thanh toán L/C của ngân hàng được đánh giá cao
Không chỉ tăng giảm bất thường mà doanh số thanh toán L/C còn chiếm
tỷ lệ khiêm tốn trong tổng doanh số TTQT các năm quá Cụ thể, tỷ trọng qua các năm lần lượt là 24,47%; 20,71%; 39,75%; 21,89% và 42,65%
Cũng qua bảng 2.2 ta thấy, trong tổng doanh số L/C thì doanh số L/C nhập
là chủ yếu, chiếm tỷ trọng lần lượt qua các năm là 99,2%; 99,28%; 99,17%; 93,11%; 82,30% Và điều đó cũng nói nên là doanh số L/C xuất là rất thấp Nguyên nhân sự chênh lệch giữa L/C xuất và L/C nhập hiện tại có thể lý giải bởi đặc điểm cán cân thanh toán của nước ta là nhập siêu, tỷ trọng và giá trị hàng
Trang 33hóa nhập khẩu lớn hơn rất nhiều so với hàng hóa xuất khẩu Hơn nữa, độ tin cậy của các doanh nghiệp nước ta đối với các doanh nghiệp nước ngoài là chưa cao.
Biểu đồ 2.1: Doanh số L/C, L/C xuất, L/C nhập
Đơn vị: 1.000USSD
( Nguồn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Số liệu trên biểu đồ 2.1 được làm tròn từ số liệu của bảng 2.2
Qua biểu đồ 2.1, xét về mặt trực quan có thể thấy rõ được sự chênh lệch giữa L/C nhập và L/C xuất Doanh số L/C nhập tăng trưởng không đều, cùng quy luật với tổng doanh số L/C Doanh số L/C xuất có xu hương tăng lên nhiều nhưng so với tổng doanh số L/C thì không đáng kể
Lý do làm doanh số nhập khẩu theo phương thức TDCT của Ngân hàng năm 2009 giảm so với năm 2008 trong khi số lượng phát hành vẫn tăng là do kim ngạch nhập khẩu giảm và phần lớn các L/C mở tại ACB Thăng Long có giá trị không cao Năm 2009, giá thế giới giảm mạnh, nhiều mặt hàng sản xuất trong nước đã dần thay thế được hàng nhập khẩu, tiêu thụ trong nước chậm nên kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của các nước giảm khoảng 5% so với năm 2008,
Trang 34xuống còn 76 tỉ USD ( tương đương mức bình quân 6,33 tỉ USD mỗi tháng) Sang năm 2010, kim ngạch NK đạt hơn 82,8 tỷ USD, tăng 18,4% so với năm
2009 kéo theo doanh số thanh toán L/C NK tại ACB Thăng Long cũng tăng theo
Hoạt động thanh toán TDCT của ACB Thăng Long chủ yếu là thanh toán L/C hàng nhập Mà trong thanh toán TDCT, rủi ro lại thường xảy ra đối với L/C hàng nhập, đặc biệt là L/C trả chậm Vì thế, đối với L/C trả chậm, Ngân hàng thường yêu cầu khách hàng xuất trình thêm các chứng từ sau:
- Lịch chuyển tiền thanh toán tín dụng thư trả chậm
- Văn bản xác nhận đăng ký vay, trả nợ nước ngoài của Ngân hàng Nhà Nước( trong trường hợp thời hạn thanh toán của hợp đồng >1 năm)
Từ khi hoạt động TTQT có tại NHTMCP Á Châu – Thăng Long, NH đã
không ngừng nâng cao kỹ thuật thanh toán cũng như trang thiết bị và trình độ của thanh toán viên nên đã tạo lập được uy tín nhất định đối với các nhà XNK, đưa phương thức TDCT được áp dụng trong thanh toán NK chiếm phần lớn trong tổng giá trị hàng hóa XNK, cụ thể là chiếm 82,3%
2.1.2.2 Rủi ro trong thanh toán L/C
Chất lượng thanh toán TDCT của một ngân hàng có được đánh giá tốt hay không còn phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó yếu tố rủi ro trong thanh toán L/C là một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua Ta phải đánh giá được các tỷ lệ như tỷ lệ L/C phát hành trễ, L/C bị sửa lỗi do ngân hàng, L/C thông báo không đúng hạn L/C thanh toán trễ và tỷ lệ L/C trả chậm có cao không, có nằm trong giới hạn cho phép hay không, đặc biệt là hệ số nợ quá hạn
Đặt:
- Tỷ lệ L/C phát hành trễ do lỗi của ngân hàng = T1
- Tỷ lệ L/C bị sửa lỗi do lỗi của ngân hàng = T2
Trang 35- Tỷ lệ L/C thông báo không đúng hạn = T3
Trang 3613 T3=c/g 0 0 0 0
( Nguồn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Qua bảng 2.3 ta có thể tính toán ngay được các T1,T2, T3 và T4 đều bằng 0, còn T5, T6 thay đổi qua các năm và theo xu hướng giảm dần, cụ thể: năm 2007, T5= 0,06, T6= 0,35; năm 2008, T5 = 0,05, T6= 0.36; năm 2009, T5= 0.03, T6= 0,27; năm 2010, T5 = 0,07, T6= 0,09
T1,T2, T3, T4 đều bằng 0 cho thấy chất lượng thanh toán L/C của ACB rất tốt Sở dĩ, sai sót ở ACB trong việc phát hành L/C, thông báo L/C, sửa đổi L/C và thanh toán L/C được hạn chế đến mức tối đa như vậy là do 100% nhân viên ACB được đào tạo nghiệp vụ trước khi đảm nhận công việc chính thức Ngoài ra, mỗi vị trí quản lý phải đảm bảo có một nhân sự kế thừa và kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cụ thể Do đó mà việc thanh toán L/C luôn diễn ra một cách suôn sẻ và làm hài lòng khách hàng Bên cạnh chuyên môn nghiệp vụ tốt, tinh thần trách nhiệm cao, nhân viên ACB còn luôn thân thiện với khách hàng, đặc biệt là tạo mọi điều kiện thuận lới cho việc kinh doanh, sản xuất của khách hàng
Vấn đề gì cũng tồn tại hai mặt của nó, vì muốn tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp nhập khẩu mà ngân hàng vẫn tồn tại dư nợ L/C quá hạn Nhưng dư nợ L/C quá hạn tồn tại cũng có thể
do chất lượng thẩm định hồ sơ khách hàng của ngân hàng vẫn còn chưa đảm bảo Tuy nhiên, các T5 đều rất nhỏ và nhỏ hơn 0,1
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, không phải lúc nào cũng có sẵn tiền mặt, vì đặc điểm sản xuất kinh doanh nên tiền luôn vận động để sinh lời, vì thế họ rất cần sự hỗ trợ từ phía ngân hàng Cũng vì thế mà ACB vẫn tồn tại các T6 qua
Trang 37các năm, nhưng các T6 đều nhỏ hơn 1 Điều này lại cho thấy sự thận trọng của ACB trong việc chấp nhận các L/C trả chậm Cũng là điều dễ hiểu vì loại L/C này
có nguy cơ rủi ro rất lớn, có thể khách hàng mất khả năng thanh toán khoặc cố tình không thanh toán, và nó sẽ ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Để nâng cao chất lượng thanh toán L/C thì các ngân hàng cần thật thận trọng trong việc chấp nhận L/C trả chậm nhưng vẫn phải đảm bảo là tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàng của mình
2.1.2.3 Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận
Đánh giá bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ta không chỉ dừng lại ở doanh
thu mà còn phải đánh giá đến lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng lợi nhuận Lợi nhuận
= Doanh thu – Chi phí, từ đó phản ánh chi phí cho hoạt động đó có tiết kiệm và
hợp lý hay không
Bảng 2.4: Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thanh toán L/C
Đơn vị: tỷ đồng
Trang 38-( Nguồn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Nhìn vào bảng 2.4 ta thấy doanh số từ hoạt động thanh toán L/C tăng mạnh từ năm 2007 đến năm 2009 và giảm mạnh năm 2010 Xét về mặt tương đối với thu nhập phí từ thanh toán L/C thì chi phí cho hoạt động đó là thay đổi không nhiều Điều đó làm lợi nhuận biến động cùng chiều với biến động của thu nhập phí ( Các khoản thu nhập phí xem theo phụ lục 1) Cụ thể : năm 2007, lợi nhuận là 0.183 tỷ đồng ; năm 2008 lợi nhuận là 0,646 tỷ đồng, tăng 253% so với năm 2007; năm
2009 tăng mạnh lên tới 12,05 tỷ đồng, tăng 1765% so với năm 2008 Sang năm
2010 lợi nhuận vẫn dương nhưng tốc độ tăng trưởng giảm mạnh 67,8% so với năm
2009 Điều này khiến ACB Thăng Long cần xem xét lại chất lượng thanh toán L/C của mình, xem đã đem lại thực sự tốt hay chưa? Mặc dù số lượng khách hàng đến giao dịch L/C vẫn tăng đều qua các năm, lẽ ra ngân hàng phải có thu nhập phí tăng, theo đó mà lợi nhuận cũng sẽ tăng Nhưng nguyên nhân chính khiến lợi nhuận năm
2010 giảm đi do giá trị L/C của mỗi món giao dịch thấp và giảm so với những năm trước, giá trị giảm thì thu nhập phí cũng giảm vì thu nhập phí tỷ lệ thuận với giá trị L/C giao dịch, giá trị càng cao thì thu nhập càng nhiều Trong khi đó, chi phí của ngân hàng cho một lần giao dịch L/C dù là giá trị cao hay thấp cũng như nhau Điều đó khiến lợi nhuận năm 2010 của ACB Thăng Long giảm mạnh Vì vậy, ACB Thăng Long cần nâng cao chất lượng thanh toán hơn nữa để lôi kéo được nhiều khách hàng VIP hơn nữa về phía mình, đó là đối tượng sẽ đem lại LN lớn hơn cho ngân hàng
Trang 39Dưới đây là biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng của LN thanh toán L/C ở ACB Thăng Long
Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận thanh toán L/C