Đóng góp vào sự phát triển chung đó có một phần quan trọng của lực lượng kinh tế hộ gia đình, đăt ra yêu cầu phải tăngcường các kênh vay vốn hỗ trợ hộ sản xuất kinh doanh, trong đó có tí
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 4
TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG 4
HỘ SẢN XUẤT 4
CHƯƠNG 2 25
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT 25
TẠI CHI NHÁNH NHNO&PTNT HOÀNG MAI 25
55
CHƯƠNG 3 56
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG 56
HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNO&PTNT HOÀNG MAI 56
KẾT LUẬN 66
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Sau gần 25 năm đổi mới, nhờ có sự chỉ đạo của Đàng và Nhà nước, nền kinh tếViệt Nam ta liên tục phát triển Kinh tế đất nước có nhiều thành tựu lớn, toàn diện trênmọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế dần chuyển dịch theo hướngtăng tỷ trọng của công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, trong khi giảm tỷ trọng của cácngành nông, lâm, ngư nghiệp Giá trị sản xuất các ngành đều tăng, khoa học côngnghệ không ngừng được nâng cao và áp dụng Đóng góp vào sự phát triển chung đó
có một phần quan trọng của lực lượng kinh tế hộ gia đình, đăt ra yêu cầu phải tăngcường các kênh vay vốn hỗ trợ hộ sản xuất kinh doanh, trong đó có tín dụng ngânhàng
Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị của đất nước mà con là một địaphương lớn thuộc vùng kinh tế trọng điểm quốc gia, với diện tích địa lý rộng, điềukiện về tự nhiên và con người hết sức thuận lợi cho việc phát triển đa dạng nhiềungành nghề, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, từ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đếncông nghiệp, xây dựng và kinh doanh thương nghiệp, dịch vụ Ở đây hội tụ đầy đủ cácthành phần kinh tế khác nhau, trong đó lực lượng kinh tế hộ gia đình rất đông về sốlượng và phân bố trên tất cả các khu vực của thành phố Hoạt động của các hộ sảnxuất đóng góp lớn vào giá trị sản xuất chung của từng ngành, đặc biệt là đối với ngànhthương nghiệp, dịch vụ và sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Các hộ gia đình cũng làkhách hàng thường xuyên của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng Riêngđối với chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai, tuy nằm trong khu vực có rất nhiềukhách hàng tiềm năng là hộ sản xuất, hoạt động cho vay với đối tượng này thời gianqua còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục Chính vì thực tế đó, sau một thời gian thực
tập ở đây, em đã quyết định chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp là: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai, Hà Nội”.
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là:
- Khái quát cơ sở lý luận chung về tín dụng hộ sản xuất
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánhNHNo&PTNT Hoàng Mai trong thời gian qua
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai trong thời gian tới
Bố cục của chuyên đề gồm có ba chương:
Chương 1: Tín dụng hộ sản xuất và chất lượng tín dụng hộ sản xuất
Trang 3Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánh
NHNo&PTNT Hoàng Mai
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại chi
nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai
Trong thời gian hoàn thành chuyên đề này, em đã nhận được sự giúp đỡ tậntình của các anh chị cán bộ phòng Kế hoạch – kinh doanh chi nhánh NHNo&PTNTHoàng Mai và đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo tỉ mỉ của cô giáo PGS TS NguyễnThị Bất Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến cô giáo và các anh chị
Trang 4CHƯƠNG 1 TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
HỘ SẢN XUẤT
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hộ sản xuất
1.1.1 Khái niệm và phân loại hộ sản xuất
Hộ sản xuất trước hết là một thành phần kinh tế đã ra đời từ rất lâu và xuất hiện
ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở những nước có nền kinh tế nông nghiệp – nôngthôn lâu đời như nước ta Qua nhiều thế kỉ, kinh tế hộ sản xuất vẫn tồn tại và đóng gópmột phần quan trọng trong cuộc sống của dân cư, cũng như đối với nền kinh tế đấtnước Khái niệm hộ sản xuất từ đó cũng rất đa dạng Tuy vậy, nhìn chung, hộ sản xuấtđược xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ, được Nhà nước giao đất quản lý và sửdụng vào sản xuất kinh doanh và được phép kinh doanh trên những lĩnh vực nhất định
mà Nhà nước quy định
Trong các văn bản của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn ViệtNam, hộ sản xuất có khái niệm tương tự: “Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ,trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh và tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.”
Trong hộ sản xuất, các thành viên của hộ đều dựa trên cơ sở kinh tế chung, nghĩa
là cùng tạo ra và cùng sử dụng nguồn thu nhập cuả mình Các thành viên trong hộthường là những thành viên trong cùng một gia đình, có cùng chung huyết thống và quátrình sản xuất kinh doanh của họ được thực hiện một cách độc lập so với bên ngoài.Xét về quan hệ dân sự, hộ sản xuất gồm các thành viên có tài sản chung để hoạtđộng kinh tế chung, do vậy, trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động thuộc các lĩnhvực sản xuất kinh doanh được pháp luật cho phép, hộ sản xuất là chủ thể trong cácquan hệ dân sự Đối với trường hợp được Nhà nước giao đất cho sử dụng, hộ đượcgiao đất chính là chủ thể trong các quan hệ dân sự liên quan tới đất đó Chủ hộ là đạidiện của hộ sản xuất trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ
Tài sản chung của hộ sản xuất bao gồm tài sản do các thành viên cùng tạo nênhoặc được tặng cho chung và các tài sản khác được thoả thuận là tài sản chung của hộ.Quyền sử dụng đất hợp pháp cũng là tài sản chung của hộ sản xuất
Hộ sản xuất phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân
sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh hộ sản xuất Hộ chịu trách nhiệm
Trang 5dân sự bằng tài sản chung của hộ Nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiệnnghĩa vụ chung của hộ, thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sảnriêng của mình.
Có thể chia hộ sản xuất ở nước ta ra thành ba loại như sau:
- Loại thứ nhất là các hộ sản xuất có vốn, có kỹ thuật, biết tổ chức sản xuấtkinh doanh hiệu quả, biết tiếp cận thị trường và kịp thời nắm bắt được nhu cầu của thịtrường Đây là những hộ có sự nhạy bén, năng động trong kinh doanh và luôn có nhucầu thêm vốn để mở rộng hoạt động
- Loại thứ hai là các hộ sản xuất có nguồn nhân lực, lao động cần mẫn nhưnglại có trong tay rất ít tư liệu sản xuất, vốn sản xuất hoặc môi trường kinh doanh.Những hộ này chiếm phần đông trong xã hội và cần được hỗ trợ để mua sắm các tưliệu sản xuất, tiếp cận với vốn đầu tư và cần được giúp đỡ trong việc định hướng tổchức, xây dựng phương thức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Loại thứ ba là các hộ không có sức lao động hoặc không tích cực lao động,không biết tính toán làm ăn nên gặp phải nhiều rủi ro trong sản xuất kinh doanh, các
hộ gia đình chính sách và có hoàn cảnh đặc biệt… Những hộ này một mặt cần có sựcảm thông, trợ giúp từ xã hội, mặt khác cần được hướng dẫn phương thức sản xuất,khuyến khích lao động để vượt lên hoàn cảnh
Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng kinh tế riêng biệt và có vị trí nhất địnhtrong nền kinh tế Hộ sản xuất có ý nghĩa rất lớn và là đặc trưng ở nông thôn, với hoạtđộng sản xuất kinh doanh chủ yếu trong các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nôngthôn Hiện nay, hiệu quả sản xuất kinh doanh của lực lượng kinh tế này ở nước tađang dần được nâng cao với việc áp dụng các tiến bộ trong kỹ thuật và mở rộng quy
mô, đa dạng hóa nhiều ngành nghề
1.1.2 Đặc điểm của kinh tế hộ sản xuất
1.1.2.1 Đặc điểm về mục tiêu sản xuất
Dù ở loại nào hay hoạt động trong ngành nghề nào, kinh tế hộ sản xuất ở nước
ta nhìn chung có đặc trưng rõ rệt nhất là tính chất tự cung, tự cấp Mục đích sản xuấtchính của các hộ này phần lớn vẫn là nhằm phục vụ cho những nhu cầu của chính họ,chứ chưa nhằm vào mục tiêu kinh doanh Tính chất tự cung tự cấp này càng rõ nét khi
mà nền kinh tế Việt Nam ta hiện vẫn còn là nền kinh tế nông nghiệp, với đại bộ phậncủa lực lượng lao động chung và lực lượng lao động sản xuất vật chất trong ngànhnông, lâm, ngư nghiệp Trong số những người hoạt động ở ngành này, chỉ có một sốrất ít làm việc trong các thành phần kinh tế như các doanh nghiệp Nhà nước, công ty
cổ phần…, còn lại chủ yếu là lao động dưới hình thức là thành viên cuả các hộ gia
Trang 6đình sản xuất Trong hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp, các hộ gia đình vẫn chủ yếuchỉ sản xuất những cái họ cần và hầu hết chỉ đem ra mua bán trao đổi trên thị trườngkhi dư thừa sản phẩm.
Do mục đích sản xuất như trên mà kinh tế hộ sản xuất được hình thành mộtcách rất tự nhiên và đa dạng Hộ sản xuất có thể được ra đời ở bất kì địa phương nàodựa trên nhu cầu của bản thân các thành viên trong hộ và nhu cầu của dân cư trongkhu vực đó Do đặc điểm tự nhiên và đặc điểm về văn hóa ở mỗi vùng, miền, địaphương là khác nhau mà kinh tế hộ gia đình cũng được tổ chức và hoạt động theonhững phương thức khác nhau Các thành viên trong hộ có sự gắn bó với nhau vềhuyết thống nên nhìn chung cũng có cùng trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ tronghoạt động sản xuất kinh doanh của hộ, có quan hệ gắn bó về sở hữu, quản lý và phânphối Tất cả các thành viên đều có tính tự giác cao trong lao động, trong đó chủ hộcũng trực tiếp tham gia sản xuất, vì sự thống nhất về lợi ích của cả hộ Đây cũng chính
là một đặc trưng ưu việt của kinh tế hộ gia đình
Tuy vậy, với nhu cầu thị trường ngày càng tăng cao và lợi ích kinh tế mang lại
mà tính chất tự cung, tư cấp của kinh tế hộ gia đình ở nước ta hiện nay đang giảm dần.Năng suất lao động được cải thiện cũng một phần giúp cho các hộ gia đình dễ dàngđáp ứng đủ nhu cầu trước hết của bản thân các thành viên, từ đó mà đẩy mạnh đưahàng hoá của hộ ra thị trường Nhiều hộ sản xuất đã ra đời với mục tiêu tìm kiếm lợinhuận kinh doanh, chứ không đơn thuần phục vụ nhu cầu sử dụng riêng
1.1.2.2 Đặc điểm về vốn và lao động
Hộ gia đình thường sản xuất, kinh doanh nhiều sản phẩm, mặt hàng đa dạngkhác nhau Các đối tượng sản xuất của hộ từ đó cũng rất phức tạp và có thể không cốđịnh Trong một thời kì, hộ có thể sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng kết hợp, ví dụnhư cùng trồng nhiều loại cây với chăn nuôi gia súc, gia cầm hoặc nuôi tôm, cá… Đốitượng sản xuất của hộ cũng dễ dàng được thay đổi tùy thuộc vào tình hình kinh tế củagia đình, các giai đoạn trong năm, nhu cầu thay đổi về những sản phẩm nhất định vàthu nhập từ những sản phẩm này… Nhưng nhìn chung, các mặt hàng sản xuất của hộthường đơn giản, do đó không đòi hỏi trình độ lao động phải quá cao Lao động của
họ vì vậy mà ngoài các thành viên trong gia đình, còn có thể được thuê, mướn dễ dàng
từ thị trường lao động bên ngoài
Một điều dễ nhận thấy là kinh tế hộ gia đình ở nước ta có quy mô sản xuất cònnhỏ, hẹp và trình độ sản xuất thấp Trước hết, chi phí trong sản xuất thấp, vốn bỏ vàosản xuất thấp, không tập trung và có đặc trưng là luân chuyển chậm Do hạn chế vềvốn và trình độ kỹ thuật mà công cụ sản xuất của hộ gia đình còn thủ công và giản
Trang 7đơn, máy móc và công nghệ rất ít Thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp còn phụthuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên dễ khiến cho hộ gặp nhiều khó khăn khi điềukiện tự nhiên không thuận lợi Bên cạnh đó, công tác tổ chức sản xuất chưa bài bản, tựphát, còn mang nặng tính truyền thống và chịu nhiều chi phối bởi đặc điểm sinh hoạt
và các quan hệ tình cảm trong gia đình
1.1.2.3 Đặc điểm về thị trường
Nếu như trước đây, mục tiêu sản xuất của hộ gia đình còn mang nặng tính tựcung, tự cấp thì hiện nay, với sự đẩy mạnh sản xuất hàng hoá để bán ra, thị trường tiêuthụ cho các sản phẩm của hộ gia đình là rất lớn và đa dạng Các mặt hàng khác nhauvới chất lượng nâng cao được phân phối, tiêu thụ từ thị trường địa phương đến thịtrường cả nước, từ thị trường nông thôn đến thị trường thành thị Đặc biệt, một số hộgia đình có quy mô sản xuất lớn, trình độ chuyên môn cao đã tích cực đưa sản phẩmcủa mình ra thị trường quốc tế
Với hình thức của các làng nghề truyền thống và hình thức tổ chức cùngsản xuất chuyên môn hoá một mặt hàng của nhiều hộ gia đình, các sản phẩm từcác hộ sản xuất ở nước ta dễ dàng tiêu thụ hơn bao giờ hết Nhiều làng nghề,nhiều khu vực đã tạo cho mình thương hiệu sản phẩm nhất định với chất lượngcao, đặc điểm vượt trội hơn cả
Qua những đặc điểm trên, ta nhận thấy rằng tuy hoạt động sản xuất kinh doanhcủa hộ gia đình còn hạn chế về quy mô và trình độ nhưng có vị trí rất quan trọng trongphát triển kinh tế nói chung Vấn đề đặt ra là cần có những chính sách và hỗ trợ củaNhà nước nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng sản xuất hàng hóa phục vụ
cơ chế thị trường
1.1.3 Vai trò của kinh tế hộ sản xuất trong nền kinh tế
Là một lực lượng kinh tế riêng biệt thu hút lượng lớn lao động trong xã hộinước ta, hộ sản xuất có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế đất nước nói chung,cũng như sự phát triển của kinh tế địa phương nói riêng
Thứ nhất, kinh tế hộ sản xuất có vị trí chủ đạo và ý nghĩa to lớn đối với ngànhnông nghiệp Do những đặc trưng vốn có của kinh tế hộ gia đình, nhất là đặc trưng vềquan hệ huyết thống của các thành viên, đặc trưng gắn bó của các thành viên trongquan hệ sở hữu, quản lý, phân phối và tiêu thụ, nên kinh tế hộ rất thích hợp đối vớicác đặc điểm cũng như yêu cầu của sản xuất nông nghiệp Có thể nói kinh tế hộ giađình gắn liền với nông nghiệp trên hầu hết tất cả các ngành nghề, từ trồng trọt, chănnuôi đến đánh bắt và nuôi trồng các sản phẩm ngư nghiệp; phần lớn sản lượng củangành nông nghiệp cũng xuất phát từ lực lượng kinh tế này Do đó, phát triển nông
Trang 8nghiệp cần đi từ việc phát triển kinh tế hộ gia đình Để kinh tế nông nghiệp phát triểntheo xu hướng của nền kinh tế thị trường, kinh tế hộ cần chuyển từ “tự cung, tự cấp”sang sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, áp dụng các tiến bộ trong công nghệ và kỹthuật.
Thứ hai, kinh tế hộ sản xuất có vai trò quan trọng trong việc sử dụng và khaithác các nguồn lực, mà trước hết là nguồn nhân lực và tài nguyên đất đai
Nguồn lực lao động trong thời gian qua vừa là một lợi thế, vừa là một vấn đềcấp bách của nền kinh tế nước ta Một mặt, lực lượng lao động dồi dào là một yếu tốgóp phần thúc đẩy kinh tế Mặt khác, điều này đòi hỏi việc khai thác và sử dụng laođộng phải hợp lí và hiệu quả Ở nước ta hiện nay có gần 70% dân số sống ở nông thôntrong khi nhu cầu về lao động ở khu vực này còn hạn chế, tạo nên sự mất cân đối rõrệt Để sử dụng nguồn nhận lực dồi dào này, Nhà nước và các thành phần kinh tế khác
đã đẩy mạnh phát triển các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp ở nông thôn nhưng mớichỉ giải quyết được vấn đề việc làm cho một phần nhỏ người lao động Nhìn chung,lực lượng lao động chưa được sử dụng còn lớn, quỹ thời gian làm việc của người laođộng chưa được tận dụng triệt để, gây ra lãng phí về nhân lực Có thể thấy rằng, pháttriển và mở rộng kinh tế hộ gia đình sẽ góp phần lớn trong việc giải quyết vấn đề này.Đáng lưu ý là từ khi được công nhận là 1 đơn vị kinh tế tự chủ, cùng với việc đượcNhà nước giao đất, giao rừng khuyến khích sản xuất… và việc cổ phần hoá trongdoanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình đã có cơ sở để sử dụng hợp lý và có hiệu quảnhất nguồn lao động sẵn có của mình Chính sách này còn đồng thời tạo đà cho một số
hộ gia đình tự vươn lên mở rộng sản xuất thành các mô hình kinh tế lớn hơn như trangtrại, tổ hợp tác xã… thu hút thêm nhiều sức lao động, tạo công ăn việc làm cho lựclượng lao động dư thừa ở nông thôn
Bên cạnh đó, nhờ có sự gắn kết trực tiếp giữa lợi ích cá nhân với tài nguyên,nhất là tài nguyên về đất, cũng như sự tự chủ, độc lập cao trong quản lý, sử dụng đất
mà việc khai thác nguồn lực đất đai được các hộ gia đình hết sức chú trọng Trên hết,
họ hiểu rằng để có lợi ích kinh tế lâu dài, việc sử dụng, khai thác tài nguyên đất phảiđược cân nhắc kỹ lưỡng và thực hiện một cách tiết kiệm, tránh gây cạn kiệt, mất dần
độ màu mỡ của đất Thêm vào đó, nhờ có sự khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước, các
hộ gia đình cũng tích cực khai hoang phục hoá đất trên cơ sở tận dụng triệt để và cóhiệu quả nguồn tài nguyên này
Thứ ba, kinh tế hộ sản xuất góp phần không thể thiếu trong phát triển nền kinh
tế thị trường Hộ sản xuất có tư cách là thành viên của kinh tế thị trường và là đốitượng phục vụ của nền kinh tế thị trường, cho nên, kinh tế hộ gia đình phát triển tạotiền đề cho kinh tế thị trường phát triển
Trang 9Tính chất tự do cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh hàng hóa của nền kinh tếthị trường đòi hỏi sự năng động, nhạy bén của kinh tế hộ gia đình Do độc lập và tựchủ cao về tư liệu sản xuất và tổ chức quá trình sản xuất, các hộ gia đình tự xác địnhhướng đi và phương thức sản xuất để đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội Nhằm đạtđược điều đó, như các thành phần kinh tế khác, hộ sản xuất cũng phải không ngừngcải tiến công nghệ, kỹ thuật trong sản xuất để nâng cao cả số lượng và chất lượng củasản phẩm, bên cạnh việc tìm ra những thị trường mới và đẩy mạnh quảng bá… Việc
sử dụng vốn và các nguồn lực cũng cần các hộ gia đình chú trọng nhiều hơn để mởrộng hoạt động sản xuất kinh doanh Với nhu cầu của nền kinh tế đòi hỏi phát triểnnông nghiệp từ “tự cung, tự cấp” sang sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa, vai trò của kinh tế hộ sản xuất càng được phát huy Ở nước ta, xu hướngphát triển của kinh tế hộ gia đình được xác định như sau:
- Các hộ sản xuất tự cung, tự cấp chuyển dần sang sản xuất hàng hóa ở quy mônhỏ, chủ yếu là các hộ gia đình nằm ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt khó khăn
- Các hộ gia đình nông dân sản xuất tự cung tự cấp chuyển dần sang các hộ có tỷ
lệ sản xuất hàng hóa cao, nhưng chưa phải là trang trại Những hộ này tập trungphần lớn ở khu vực đồng bằng sông Hồng, vùng trung du, miền núi chuyênmôn hóa trong trồng trọt các loại cây công nghiệp
- Các hộ sản xuất hàng hóa của tỷ lệ sản xuất hàng hóa cao dần chuyển thành cáctrang trại
- Một số hộ nông dân có ngành nghề phụ tạo được cơ sở phát triển ngành nghề
ổn định chuyển hẳn sang kinh doanh ngành nghề nông thôn
Có thể thấy, với đặc trưng riêng biệt là chi phí sản xuất bỏ ra thấp, bộ máy quản
lý tổ chức đơn giản gọn nhẹ và ưu điểm về tính tự giác cao trong lao động của các thànhviên, hộ sản xuất dễ dàng thay đổi để thích ứng với xu hướng biến đổi trên và nhu cầuphát triển của thị trường Hơn nữa, sự hỗ trợ của Nhà nước và chính sách khuyến khíchchuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng tạo động lực để kinh tế hộ gia đình được mởrộng Kinh tế hộ không chỉ dừng lại ở việc cung cấp phần lớn lượng nông sản thiết yếucho thị trường trong nước, góp phần ổn định an ninh lương thực quốc gia mà còn cungcấp nguyên liệu và sản phẩm cho công nghiệp và xuất khẩu, mang lại nguồn thu nhậplớn cho dân cư, cho ngân sách địa phương và ngân sách Nhà nước
Nhờ khả năng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực về lao động và tài nguyêncủa mình, kinh tế hộ sản xuất tận dụng triệt để những tư liệu sản xuất có được để tạo
ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội Kinh tế hộ còn là nơi thu hút được lượng đầu
tư lớn từ bên ngoài, góp phần mở rộng thị trường vốn Đồng thời, các hộ sản xuất vừa
Trang 10là đối thủ cạnh tranh, vừa là khách hàng tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của nhau và củacác ngành khác, do đó, kinh tế hộ gia đình phát triển tạo động lực cho các thành phầnkinh tế khác trong nền kinh tế cùng phát triển.
Kinh tế hộ sản xuất giúp giải quyết nhiều vấn đề trong xã hội Do sự đóng gópcủa kinh tế hộ vào phát triển kinh tế mà đời sống của nhân dân được cải thiện, thể hiện
rõ nhất ở vấn đề việc làm, trình độ dân trí và khả năng tiếp cận của người dân với cácdịch vụ sức khỏe và giáo dục Bên cạnh đó, là thành phần chủ yếu ở nông thôn, kinh
tế hộ gia đình có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, gìn giữ và pháthuy các phong tục văn hóa truyền thống, góp phần tạo nên bộ mặt mới cho nông thônViệt Nam
1.2 Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tín dụng hộ sản xuất
Để hiểu rõ được khái niệm tín dụng hộ sản xuất, trước hết, ta cần tìm hiểu ýnghĩa của khái niệm “tín dụng” Tín dụng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá,được hiểu theo cách đơn giản nhất là quan hệ vay mượn giữa người cho vay và người
đi vay Bản chất của tín dụng là việc vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thờigian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệbình đẳng và cả hai bên cho vay và đi vay cùng có lợi Tín dụng trong nền kinh tế thịtrường tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: tín dụng ngân hàng, tín dụngthương mại, tín dụng nhà nước, tín dụng của các tổ chức tài chính quốc tế… Tín dụng
có vị trí quan trọng trong việc tích tụ, tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đểphát triển kinh doanh, giúp cho các nguồn vốn trong nền kinh tế được lưu chuyển,phân phối và sử dụng sao cho có hiệu quả nhất
Tín dụng ngân hàng là một loại hình tín dụng riêng biệt, có bản chất của quan
hệ tín dụng nói chung Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa cácngân hàng, tổ chức tín dụng với các tổ chức và cá nhân khác trong nền kinh tế, đượcthực hiện dưới hình thức tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi Lãi suất của khoảnvay thể hiện chi phí mà người đi vay phải bỏ ra để có được khoản vay đó
Tín dụng và nghiệp vụ cấp tín dụng là một trong ba hoạt động ngân hàng chính
Ở nước ta, theo quy định trong Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông quangày 16 tháng 6 năm 2010, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sửdụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc
có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán,bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”
Trang 11Do ngân hàng và tổ chức tín dụng có đặc thù riêng mà tín dụng ngân hàng cónhiều ưu điểm vượt trội hơn hẳn so với các hình thức tín dụng khác, cả về khối lượng,thời hạn và phạm vi của nguồn đầu tư Cũng chính vì lẽ đó, tín dụng ngân hàng có vaitrò hết sức quan trọng đối với bản thân các tổ chức, cá nhân đi vay và đối với toàn bộnền kinh tế Để hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và ổn định trên thị trường,
có thể nói, không một doanh nghiệp, tổ chức nào lại không cần đến nguồn vốn tíndụng ngân hàng
Tín dụng hộ sản xuất là một thuật ngữ trong hoạt động tín dụng của các ngânhàng Tín dụng hộ sản xuất có đầy đủ đặc điểm cơ bản như các loại tín dụng khác, chỉkhác đây là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và bên đi vay là các hộ sản xuất Để đápứng đủ điều kiện vay vốn của ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng, hộ sảnxuất hiện nay phải có phương án kinh doanh hiệu quả và tài sản đảm bảo nhất định;nhiều hộ sản xuất cần phải đăng ký kinh doanh để được vay vốn tuỳ theo quy định củatừng ngân hàng
Đặc điểm sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ gia đình tạo nên đặc điểm riêngcủa tín dụng hộ sản xuất Ở Việt Nam ta, vì phần lớn hộ sản xuất hoạt động trong lĩnhvực nông nghiệp nên tín dụng hộ sản xuất có nhiều đặc trưng của ngành nông nghiệp
và phương thức sản xuất, canh tác nông nghiệp Trước hết, tín dụng hộ sản xuất chịuảnh hưởng của điều kiện tự nhiên Nguồn thu nhập của hộ sản xuất, cũng là nguồn trả
nợ vay ngân hàng, chủ yếu có từ việc bán các loại nông sản và sản phẩm nông nghiệp.Khả năng trả nợ của khách hàng hộ sản xuất thể hiện ở sản lượng mà họ có thể thuđược trong khi sản lượng này cao hay thấp tuỳ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiênthuận lợi hay không thuận lợi Thứ hai, tính thời vụ cao của sản xuất nông nghiệp tácđộng đến thời điểm cho vay và thu hồi nợ của ngân hàng Điều này cần được các ngânhàng lưu ý khi ngân hàng cho hộ sản xuất vay để khuyến khích trồng trọt một loại câyhay chăn nuôi một giống vật nuôi nhất định Ngoài ra, chi phí nghiệp vụ cho một đồngvốn vay khi cho vay hộ sản xuất thường cao do khối lượng mỗi khoản vay nhỏ, sốlượng khách hàng hộ sản xuất lớn và phân bố rải rác, gây bất lợi cho việc cấp vốn vàthu hồi nợ Hơn thế, như đã nói ở trên, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điểukiện tự nhiên nên có độ rủi ro cao, khiến cho chi phí dự phòng rủi ro cho các khoảnvay sản xuất nông nghiệp cũng cao hơn các ngành khác
1.2.2 Tầm quan trọng của tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế hộ sản
xuất
Tín dụng ngân hàng với những ưu việt nhất định đóng góp rất lớn vào sự pháttriển của mọi thành phần kinh tế, tác động tích cực đến sự tăng trưởng chung của nền
Trang 12kinh tế Tín dụng ngân hàng từ lâu đã trở thành một kênh huy động vốn không thểthiếu trong quá trình hoạt động của bất cứ tổ chức kinh tế nào trong xã hội, khôngphân biệt ngành nghề, quy mô hay phương thức sản xuất Vốn vay ngân hàng khôngchỉ tạo nền tảng cho việc hình thành các tổ chức, doanh nghiệp mà còn giúp doanhnghiệp vượt qua thời kì khủng hoảng, tiếp tục sản xuất kinh doanh, cũng như tạo độnglực khuyến khích doanh nghiệp cải tiến công nghệ, kỹ thuật, mở rộng quy mô hoạtđộng và tiếp cận được với thị trường mới Riêng đối với hộ sản xuất, tín dụng ngânhàng có tầm quan trọng hơn cả, khi đại đa số của lực lượng kinh tế này là hộ gia đìnhlàm nghề nông, có điều kiện về nguồn nhân lực và tài nguyên nhưng rất hạn chế vềnguồn vốn tự có.
Vai trò và chức năng cơ bản nhất của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ giađình là đáp ứng đủ nhu cầu về vốn sản xuất, giúp hình thành và duy trì hoạt động mộtcách ổn định Một vấn đề thường thấy là các hộ gia đình ở nông thôn chủ yếu là hộnông dân có thu nhập thấp, tiết kiệm không đáng kể, trong khi luôn sẵn có điều kiện tựnhiên như tài nguyên đất và thời gian nhàn rỗi lớn Điều này nảy sinh nhu cầu về vốncủa các hộ để có thể tận dụng triệt để được những nguồn lực có trong tay Tín dụngngân hàng được xem như biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất, đặc biệt là từ khi Nhànước ban hành những chính sách hỗ trợ dành riêng cho thành phần kinh tế này Thực
tế đã chứng minh rất nhiều hộ gia đình nghèo đi lên nhờ nguồn vốn vay ngân hàng.Bên cạnh đó, do đặc trưng của kinh tế nông nghiệp, khi chưa thu hoạch được sảnphẩm, các hộ gia đình vẫn cần lượng vốn nhất định để trang trải các chi phí, đồng thờicần vốn để kết hợp sản xuất kinh doanh các mặt hàng khác nhằm tăng thu nhập, giảmthiểu tối đa nguồn lực bị hao phí
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy luân chuyển và sử dụng vốn ở nông thôn Khôngchỉ đáp ứng nhu cầu vay vốn của các hộ sản xuất, các ngân hàng còn có vai trò tậptrung vốn nhàn rỗi trong dân cư Sự xuất hiện của ngân hàng và tín dụng ngân hàngtạo nên thị trường tài chính ở nông thôn, trong đó vốn được luân chuyển hợp lí và liêntục từ người cho vay đến người cần vay
Với bản thân các hộ sản xuất là người đi vay của ngân hàng, để vừa có thể trả
nợ ngân hàng vừa tăng thêm được thu nhập, họ bắt buộc phải luôn tìm tòi, chọn lọcphương thức tổ chức và phương thức lao động hiệu quả nhất để tăng khả năng sinh lãicủa đồng vốn Tín dụng ngân hàng cũng giúp cho các hộ sản xuất dần làm quen vàthực hiện hạch toán kinh tế, một yêu cầu bắt buộc với mọi thành phần kinh tế trongnền kinh tế thị trường nếu muốn đảm bảo tồn tại và phát triển bền vững Vốn vay từngân hàng cũng khuyến khích các hộ sản xuất mở rộng quy mô hoạt động của mình,
Trang 13xoá bỏ dần tính chất “tự cung, tự cấp” chuyển sang sản xuất hàng hoá, phát triển lênkinh tế trang trại nếu có thể.
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn,góp phần phát huy các ngành, nghề truyền thống và phát triển các ngành, nghề mới
Ngoài sản xuất nông - lâm – ngư nghiệp, ở nông thôn nước ta, làng nghề truyềnthống có số lượng khá lớn nhưng chưa được quan tâm đầu tư đúng mức Trong điềukiện hiện nay, đồng thời với việc thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá, các ngành nghề truyền thống có hiệu quả kinh tế cao cần phải được đặcbiệt chú trọng, nhất là trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn Phát huy được làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy đượcnội lực của kinh tế hộ gia đình Thêm vào đó, với sự hỗ trợ từ tín dụng ngân hàng, cácngành nghề mới cho thu nhập cao sẽ dần thu hút được người lao động, tìm kiếm đượcthị trường tiêu thụ cả trong và ngoài nước cho các sản phẩm của nó Kinh tế nông thôn
từ đó có cơ sở để phát triển một cách toàn diện, gắn nông – lâm - ngư nghiệp với côngnghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộngthương mại, du lịch, dịch vụ giữa các khu vực trong và ngoài nước
Như vậy, tín dụng ngân hàng kích thích các ngành nghề kinh tế trong hộ sảnxuất phát triển, giúp các hộ tìm được ngành nghề phù hợp, đem lại thu nhập cao vàviệc làm cho các thành viên
Cuối cùng, tín dụng ngân hàng gián tiếp giúp giải quyết nhiều vấn đề xã hộicấp bách ở nông thôn thông qua việc hỗ trợ kinh tế hộ sản xuất Nhờ có vốn vay từngân hàng mà người dân có nhiều cơ hội việc làm, tối thiểu hoá thời gian nhàn rỗi vàtối đa hoá năng suất lao động Thu nhập cho hộ sản xuất và người dân tăng, đồngnghĩa với chất lượng cuộc sống tăng, tệ nạn xã hội được đẩy lùi và an ninh trật tựđược đảm bảo Tín dụng ngân hàng cũng góp phần thực hiện các chính sách, chủtrương của Nhà nước, mà đáng kể là các chính sách phát triển nông thôn, xoá đóigiảm nghèo, hỗ trợ và nâng cao vai trò xã hội của phụ nữ… cùng các chủ trương pháttriển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế, thương mạiquốc tế của đất nước
Tóm lại, tín dụng ngân hàng là cơ sở và đòn bẩy cho sự phát triển của kinh tế
hộ gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường, thể hiện rõ rệt ở việc đáp ứng nhu cầu
về vốn của người dân, kích thích vốn lưu chuyển và được sử dụng một cách có hiệuquả, mở rộng, thúc đẩy hình thành các ngành nghề mới bên cạnh việc phát huy cácngành nghề truyền thống Qua đó, tín dụng ngân hàng nâng cao cuộc sống của ngườidân, mở rộng kinh tế hộ sản xuất và đưa nông thôn phát triển một cách toàn diện
Trang 141.2.3 Các quy định và chính sách của Nhà nước đối với tín dụng hộ sản xuất
Phát triển kinh tế hộ sản xuất và phát triển nông nghiệp, nông thôn từ lâu đãđược Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, tạo mọi điều kiện hỗ trợ người dân từviệc mua sắm tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị… đến việc hướng dẫn phương thứcsản xuất kinh doanh hiệu quả, tìm kiếm thị trường tiêu thụ Vốn sản xuất, một hạn chếthường gặp của các hộ sản xuất ở nông thôn từ đó cũng được Nhà nước lưu ý và cónhững biện pháp giúp đỡ
Tín dụng ngân hàng, một trong những kênh vay vốn chủ yếu của người dân, trởthành một công cụ hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình và kinh tế nông nghiệp, nôngthôn của Nhà nước Ngay từ những năm đổi mới nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hoátập trung sang kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hàng loạtquy định, chính sách của Nhà nước đối với tín dụng hộ sản xuất được ra đời và thựchiện Cần nhắc đến đầu tiên là Nghị định 14/CP của Chính phủ được ban hành ngày2/3/1993 sau việc tổng kết một năm làm thử cho vay vốn theo Chỉ thị số 202/CT ngày28/6/1991 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) Kèm theonghị định trên là thông tư hướng dẫn số 01/TĐ-NH ra ngày 26/03/1993 của thống đốcNgân hàng Nhà nước Theo Nghị định này, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng, tổ chứctín dụng thực hiện cho vay đối với hộ sản xuất thuộc nông, lâm, ngư và diêm nghiệpkhông phân biệt thành phần kinh tế, thực hiện cho vay trực tiếp đến các hộ sản xuấtvới đầy đủ các loại hình cho vay ngắn, trung và dài hạn Thêm vào đó, lãi suất cho vayvới các đối tượng kinh tế này phải được các ngân hàng quy định và công bố cụ thể tuỳvào đặc điểm từng đối tượng, từng vùng kinh tế trong thời gian phù hợp với quan hệcung cầu vốn, bảo đảm lợi ích cho cả bên vay và bên cho vay
Đến năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg ngày 30/3/1999 về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nôngnghiệp, nông thôn Đi theo đó là văn bản số 302/CV-NHNN của thống đốc Ngân hàngNhà nước và văn bản số 791/NHNN–06 của Tổng giám đốc Ngân hàng Nông Nghiệp
67/1999/QĐ-và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNN&PTNT) hướng dẫn thực hiện quyết địnhtrên Với Quyết định 67 này, nguồn vốn huy động để cho vay phát triển nông nghiệp,nông thôn và cách thức huy động được xác định cụ thể và rõ ràng, mục đích cấp tíndụng của ngân hàng nhằm vào mọi khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp, đồngthời giúp phát triển các ngành, nghề thủ công, cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng ởnông thôn Đối với bản thân hộ gia đình sản xuất, Quyết định 67 quy định cụ thể cơchế cấp tín dụng, bao gồm cơ chế bảo đảm tiền vay khi ngân hàng cấp tín dụng chođối tượng này Theo đây, “Đối với hộ gia đình, ngân hàng cho vay đến 10 triệu đồng,người vay không phải thế chấp tài sản chỉ nộp kèm đơn xin vay, giấy chứng nhận
Trang 15quyền sử dụng đất.” và “Đối với các hộ làm kinh tế hàng hoá, kinh tế trang trại, ngânhàng cho vay trên 10 triệu đồng người vay phải thực hiện các quy định bảo đảm tiềnvay của ngân hàng” Ngoài ra đối với các loại tín dụng thực hiện theo chính sách Nhànước như cho vay hộ nghèo, cho vay đóng mới tàu đánh bắt hải sản, cho vay các hộthuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn… thì người vay không phải thựchiện quy định về bảo đảm tiền vay Quyết định này cũng khuyến khíchNHNN&PTNT tích cực mở rộng mạng lưới gồm các cơ sở giao dịch và trang thiết bịlàm việc để phục vụ nhanh chóng nhu cầu của người dân vay vốn phát triển nôngnghiệp, nông thôn, khuyến khích các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác tham gia cấptín dụng cho những đối tượng này.
Sau 10 năm thực hiện theo Quyết định 67 của Thủ tướng Chính phủ, cùng vớicác tổ chức tín dụng khác, NHNN&PTNT Việt Nam đã thu được những tiến bộ tíchcực trong việc cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn Cuối năm 2009, tổng nguồnvốn đạt 434.331 tỷ đồng, tăng gấp 11,2 lần so với cuối năm 1999 Ngân hàng hoànthành tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt ưu tiên đầu tư cho nôngnghiệp, nông dân, nông thôn Đến 31/12/2009, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt354.112 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm 68,3% tổng
dư nợ, riêng cho vay hộ nông dân chiếm 51% Như vậy, trên 80% hộ nông dân cảnước được sử dụng vốn của ngân hàng
Năm 2010, Chính phủ đã cho ra đời Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày12/4/2010, đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong chính sách của Nhà nước đối với tíndụng nông nghiệp, nông thôn, phù hợp với tình hình mới và về cơ bản khắc phục đượcnhững bất cập của Quyết định 67 sau hơn 10 năm thực hiện
Một thay đổi lớn của Nghị định 41 so với Quyết định 67 là khối lượng cấp tíndụng không có tài sản bảo đảm tăng rõ rệt Theo đây, kể từ ngày 1/6/2010, cá nhân, hộsản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có thể được xem xét cho vay không có bảo đảmbằng tài sản tối đa đến 50 triệu đồng Cũng với hình thức cho vay không có bảo đảmbằng tài sản, các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ phục vụ nôngnghiệp, nông thôn được xem xét cho vay tối đa đến 200 triệu đồng Ngoài ra, ngânhàng và các tổ chức tín dụng xem xét cho vay tín chấp đối với các đối tượng kháchhàng là cá nhân, hộ gia đình trên cơ sở có bảo đảm của các tổ chức chính trị - xã hội ởnông thôn theo quy định hiện hành Về lãi suất và thời hạn cho vay, các tổ chức tíndụng và khách hàng thoả thuận với nhau để tìm ra mức phù hợp, không trái với quyđịnh của pháp luật Trường hợp khách hàng chưa trả được nợ đúng hạn cho tổ chức tíndụng do nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch bệnh , tổ chức tín dụng xem xét
cơ cấu lại thời hạn nợ cho khách hàng theo quy định hiện hành, đồng thời căn cứ dự
Trang 16án, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có khả năng trả được nợ của kháchhàng để xem xét cho vay mới, mà không phụ thuộc vào dư nợ cũ của khách hàng chưatrả nợ đúng hạn Đồng thời, Chính phủ có chính sách hỗ trợ cụ thể đối với tổ chức, cánhân vay vốn bị thiệt hại nặng, không có khả năng trả nợ.
Có thể thấy, Nghị định 41 ra đời giúp chương trình cho vay vốn sản xuất nôngnghiệp, nông thôn càng được tăng cường và phủ sóng rộng khắp, vai trò của tín dụngnông nghiệp, nông thôn trong việc góp phần tăng trưởng, ổn định kinh tế- chính trị- xãhội ở nông thôn ngày càng lớn
Như vậy, tín dụng hộ sản xuất nói riêng và tín dụng phát triển nông nghiệp,nông thôn nói chung luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Thông qua các quy định,chính sách trên của Nhà nước, hộ sản xuất luôn được tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất
để vay vốn ngân hàng một cách nhanh chóng, hợp lý; đồng thời được tổ chức tín dụng
và Chính phủ hỗ trợ tích cực khi không trả được nợ đúng hạn, nhất là trong trườnghợp vì lí do khách quan như thiên tai, dịch bệnh…
1.3 Chất lượng tín dụng hộ sản xuất
1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng hộ sản xuất
Cũng như tất cả các sản phẩm vật chất hay dịch vụ khác trong nền kinh tế, tíndụng được coi là một sản phẩm của ngân hàng và vì thế, nó phải có chất lượng và quyđịnh về chất lượng riêng Trong nền kinh tế thị trường, để đảm bảo nhu cầu của kháchhàng và khả năng cạnh tranh của ngân hàng, chất lượng tín dụng luôn đòi hỏi phảikhông ngừng gia tăng Nếu như chất lượng nói chung được các nhà kinh tế nhận xét là
“sự phù hợp về mục đích của người sản xuất và người sử dụng về một loại hàng hoánào đó” thì chất lượng tín dụng của ngân hàng được định nghĩa là khả năng đáp ứngnhu cầu của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng và góp phần vàomục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Khi xem xét về chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng của tín dụng hộsản xuất nói riêng, chúng ta luôn luôn phải đánh giá hiệu quả của tín dụng trên cả baphương diện:
- Đối với khách hàng, tín dụng được cấp ra phải đảm bảo đầy đủ yêu cầu, mụcđích chính đáng của khách hàng Điều này gồm có sự phù hợp về lãi suất, thờihạn tín dụng, phương thức, hình thức thanh toán bên cạnh việc thực hiện cácthủ tục đơn giản, gọn nhẹ mà vẫn không trái với các nguyên tắc tín dụng ngânhàng Nhìn chung, ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở tạo mọi điều kiện thuận
Trang 17lợi nhất để khách hàng vay vốn, phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút đượcngày càng đông khách hàng.
- Đối với bản thân ngân hàng, tín dụng mà ngân hàng đưa ra phải phù hợp vớithực lực của ngân hàng về phạm vi, mức độ và giới hạn cấp tín dụng và cáchình thức cấp tín dụng nhằm đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng kỳ hạn và cólãi của tín dụng, hạn chế thấp nhất mức rủi ro cho ngân hàng, đảm bảo khảnăng thanh toán và sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
- Đối với sự phát triển chung của kinh tế - xã hội, tín dụng ngân hàng phải gópphần phục vụ sản xuất, lưu thông và tiêu thụ hàng hoá trong nền kinh tế, giảiquyết các vấn đề xã hội như việc làm, an ninh, văn hoá…, giúp khai thác đượckhả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất và đầu tư, hỗ trợ các mụctiêu phát triển và tăng trưởng chung của kinh tế - xã hội
Chất lượng tín dụng được hình thành dần dần trong một quá trình kết hợp hoạtđộng của nhiều con người, nhiều bộ phận khác nhau trong ngân hàng Do đó, có thểnói chất lượng tín dụng được xây dựng từ nền tảng là sự hoạt động có hiệu quả, có hệthống của tổ chức tín dụng Khi xác định chất lượng tín dụng, ta xem xét đến nhiềuyếu tố khác nhau như khả năng thu hút được nhiều khách hàng tốt, thủ tục cấp tíndụng đơn giản và hiệu quả, mức độ an toàn của vốn tín dụng, chi phí tổng thể về lãisuất, chi phí nghiệp vụ tín dụng… Chất lượng tín dụng còn được coi là một chỉ tiêuthể hiện mức độ thích nghi của ngân hàng thương mại đối với thị trường và nền kinh
tế, có thể được sử dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng với các tổchức tín dụng khác
Tóm lại, chất lượng tín dụng, trong đó có chất lượng tín dụng hộ sản xuất làmột khái niệm, một chỉ tiêu quan trọng, có ý nghĩa đối với cả ngân hàng, khách hàng
và nền kinh tế nói chung Bản chất của chất lượng tín dụng nằm ở hiệu quả trong thựchiện hoạt động tín dụng và độ tin cậy của các quan hệ tín dụng Vì vậy, nâng cao chấtlượng tín dụng cũng chính là đảm bảo hiệu quả thực hiện các hoạt động tín dụng vàtăng cường độ tin cậy giữa ngân hàng và khách hàng
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng của tín dụng hộ sản xuất
Tín dụng là sản phẩm chính của ngân hàng và chiếm phần lớn trong tổng tàisản Có của ngân hàng thương mại Do đó, đánh giá chất lượng của tín dụng là mộthoạt động thường xuyên và không thể thiếu, thể hiện chất lượng hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng Để đánh giá hiệu quả hay chất lượng của tín dụng hộ sản xuất và tíndụng ngân hàng nói chung, ta sử dụng kết hợp nhiều chỉ tiêu khác nhau, bao gôm cảchỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng
1.3.2.1 Chỉ tiêu định tính
Trang 18Các chỉ tiêu định tính để đánh giá chất lượng tín dụng chủ yếu nhằm vào việcthực hiện các hoạt động tín dụng một cách đúng nguyên tắc, đầy đủ điều kiện mà phápluật và Nhà nước quy định, bên cạnh việc thực hiện thẩm định và cấp tín dụng minhbạch, rõ ràng và đầy đủ các bước.
Thứ nhất, về nguyên tắc cho vay và điều kiện cho vay, khoản tín dụng phảiđảm bảo đầy đủ các nguyên tắc trong các văn bản của Nhà nước Ở Việt Nam, nguyêntắc cho vay được quy định trong Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với kháchhàng, ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 củaThống đốc Ngân hàng Nhà nước Tại đây quy định rõ: “Khách hàng vay vốn của tổchức tín dụng phải đảm bảo: 1 Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận tronghợp đồng tín dụng; 2 Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuậntrong hợp đồng tín dụng” Cũng trong văn bản này, khách hàng muốn vay vốn phải có
đủ các điều kiện thì mới được ngân hàng và tổ chức tín dụng xem xét và cấp tín dụng.Điều kiện đầu tiên và tiên quyết là khách hàng phải có “năng lực pháp luật dân sự,
năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật”.Thêm vào đó, khách hàng phải cho thấy mình có “mục đích sử dụng vốn vay hợppháp; có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; có dự án đầu tư,phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả, hoặc có dự án đầu tư,phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật; thực hiệncác quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam” Thực hiện đúng với nguyên tắc và điều kiện cho vaythể hiện tính hợp pháp của khoản tín dụng, từ đó cho thấy chất lượng tín dụng caongay từ giai đoạn xem xét, thẩm định để cấp vốn
Thứ hai, hiệu quả của quy trình cho vay cũng phản ánh chất lượng tín dụng củangân hàng Quy trình cho vay ngoài yêu cầu tối thiểu là đúng theo pháp luật và quyđịnh của Nhà nước còn cần phải phù hợp với quy định riêng của từng ngân hàng và tổchức tín dụng, cũng như phù hợp với tính chất từng khoản vay Hầu hết mỗi ngânhàng thương mại đều xây dựng riêng cho mình một quy trình cho vay dựa trên cơ sở
là các văn bản và hướng dẫn của Nhà nước, trong đó gồm nhiều bước thực hiện vàquy định đối với từng nhóm đối tượng khách hàng, từng hình thức cho vay Các bướcthực hiện cụ thể có thể khác nhau với mỗi ngân hàng nhưng trình tự cho vay luôn làthẩm định trước khi cho vay; kiểm tra, giám sát trong khi cho vay và kiểm tra, giámsát, thu hồi, xử lý nợ sau khi cho vay Như vậy, ta có thể thấy chất lượng tín dụngnằm ở việc thực hiện quy trình này, do đó đặt ra yêu cầu đối với ngân hàng là phải xâydựng một quy trình cho vay thích hợp với bản thân ngân hàng sao cho đem lại hiệuquả cao nhất và yêu cầu đối với mỗi cán bộ tín dụng phải thực hiện nghiêm ngặt,chính xác theo quy trình trên
Trang 191.3.2.2 Chỉ tiêu định lượng
Các chỉ tiêu định lượng là công cụ đơn giản nhưng rất hữu hiệu giúp ngân hàngthương mại và tổ chức tín dụng nhận xét về chất lượng tín dụng một cách cụ thể vàchính xác hơn cả Từ các con số mà các chỉ tiêu này đưa ra, ngân hàng dễ dàng nhậnbiết được yếu kém trong hoạt động tín dụng của mình để nhanh chóng tìm biện phápkhắc phục Đối với tín dụng hộ sản xuất nói riêng, các chỉ tiêu mà tổ chức tín dụngthường sử dụng là chỉ tiêu về doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ quá hạn của
hộ sản xuất và vòng quay tín dụng hộ sản xuất
• Chỉ tiêu doanh số cho vay hộ sản xuất: là số tuyệt đối phản ảnh tổng số vốn màngân hàng cho hộ sản xuất vay trong một thời kỳ nhất định Doanh số cho vay
hộ sản xuất còn được xem xét trong mối quan hệ với tổng doanh số cho vaycủa ngân hàng, thể hiện qua chỉ tiêu tỷ trọng cho vay hộ sản xuất:
Tỷ trọng cho vay hộ sản xuất = Doanh số cho vay hộ sản xuất x 100%
Tổng doanh số cho vay
• Chỉ tiêu doanh số thu nợ hộ sản xuất: là số tuyệt đối phản ánh tổng số tiền màngân hàng đã thu hồi được sau khi đã giải ngân cho hộ sản xuất trong một thời
kỳ nhất định Ngoài ra, ngân hàng còn sử dụng hai chỉ tiêu tương đối khác đểđánh giá tình hình thu nợ hộ sản xuất, xét trên quan hệ của doanh số thu nợ vớitổng dư nợ và với doanh số cho vay:
Tỷ lệ thu nợ hộ sản xuất = Doanh số thu nợ hộ sản xuất x 100%
Tổng dư nợ hộ sản xuất
hoặc:
Tỷ lệ thu nợ hộ sản xuất = Doanh số thu nợ hộ sản xuất x 100%
Doanh số cho vay hộ sản xuất
• Chỉ tiêu dư nợ quá hạn hộ sản xuất: là số tuyệt đối phản ánh tổng số tiền màngân hàng chưa thu hồi được sau một thời gian nhất định kể từ ngày khoản chovay đến hạn thanh toán ở thời điểm xem xét Bên cạnh đó còn có các chỉ tiêutương đối liên quan đến nợ quá hạn hộ sản xuất, gồm có:
Tỷ lệ nợ quá hạn hộ sản xuất = Nợ quá hạn hộ sản xuất x 100%
Tổng dư nợ hộ sản xuất
Tỷ lệ nợ khó đòi hộ sản xuất = Tổng nợ khó đòi hộ sản xuất x 100%
Tổng nợ quá hạn hộ sản xuấtVới chỉ tiêu dư nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn hộ sản xuất, các chỉ tiêu nàycàng nhỏ thì chất lượng tín dụng hộ sản xuất càng cao Trong khi đó, chỉ tiêu tỷ lệ nợkhó đòi hộ sản xuất thể hiện khả năng ngân hàng không thu hồi được nợ, chỉ tiêu này
Trang 20cao nghĩa là khả năng mất vốn của ngân hàng cao.
• Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng hộ sản xuất: là chỉ tiêu thể hiện việc sử dụngvốn mà ngân hàng cho hộ sản xuất vay có hiệu quả hay không Chỉ tiêu nàyđược tính như sau:
Vòng quay vốn tín dụng hộ sản xuất = Doanh số thu nợ hộ sản xuất
Dư nợ bình quân hộ sản xuất
Trong đó:
Dư nợ bình quân hộ sản xuất = Dư nợ đầu năm + Dư nợ cuối năm
2Vòng quay vốn càng lớn trong khi dư nợ hộ sản xuất tăng thể hiện hiệu quả caotrong việc sử dụng vốn vay ngân hàng của hộ sản xuất, nghĩa là chất lượng tín dụng
hộ sản xuất của ngân hàng cao
Để đánh giá chất lượng tín dụng hộ sản xuất, ta còn có thể sử dụng một số chỉtiêu khác như:
- Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ hộ sản xuất: chỉ tiêu này thường được sửdụng kết hợp với các chỉ tiêu về tỷ lệ nợ quá hạn, thể hiện hiệu quả cho vay hộ sảnxuất qua khả năng thu hút hộ sản xuất đến vay vốn của ngân hàng qua các năm, cácthời kỳ
- Chỉ tiêu tỷ lệ cho vay trung và dài hạn hộ sản xuất: là chỉ tiêu tương đối đượctính bằng phần trăm giữa dư nợ cho vay trung và dài hạn hộ sản xuất với tổng dư nợ
hộ sản xuất Chỉ tiêu này thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu của hộ sản xuất về vốntrung và dài hạn Vốn trung và dài hạn có ý nghĩa rất lớn đối với kinh tế hộ, là yếu tốgiúp hộ mở rộng và ổn định sản xuất kinh doanh lâu dài Tỷ lệ vốn trung và dài hạnđược NHNN&PTNT Việt Nam đặt mục tiêu cho từng giai đoạn, tuy vậy, tỷ lệ này caohay thấp phụ thuộc nhiều vào nhu cầu nhất định của từng địa phương
- Chỉ tiêu về lợi nhuận cho vay hộ sản xuất thể hiện chất lượng tín dụng hộ sảnxuất tại ngân hàng, cho thấy hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng và khả năng
mà đồng vốn cho vay hộ sản xuất đem lại thu nhập cho ngân hàng
Ngoài các chỉ tiêu kể trên, trong thực tế, mỗi ngân hàng và tổ chức tín dụng cóthể sử dụng kết hợp với rất nhiều chỉ tiêu khác tuỳ thuộc vào các yêu cầu về đánh giáchất lượng tín dụng hộ sản xuất và đặc điểm riêng của từng ngân hàng
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của tín dụng hộ sản xuất
Tín dụng hộ sản xuất là một sản phẩm của ngân hàng, đóng góp một phần quantrọng vào thu nhập của ngân hàng, đặc biệt là đối với NHNN&PTNT Vì thế, không
Trang 21ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất là yêu cầu không thểthiếu đối với các ngân hàng, tổ chức tín dụng nói chung và NHNN&PTNT nói riêng.Chất lượng tín dụng hộ sản xuất lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau ở nhữngmức độ khác nhau, đòi hỏi ngân hàng cần nắm bắt rõ các yếu tố đó để tìm ra cách tốtnhất nhằm tăng cường chất lượng tín dụng hộ sản xuất cho ngân hàng mình.
1.3.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường khách quan
Ngân hàng thương mại hay tổ chức tín dụng nào cũng tồn tại và phát triểntrong phạm vi môi trường, điều kiện cụ thể, vì thế nó chịu tác động cả trực tiếp vàgián tiếp từ đặc điểm vốn có và những sự thay đổi của môi trường đó Hoạt động tíndụng hộ sản xuất của ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật này Cụ thể, tín dụng
hộ sản xuất chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, môi trường pháp lý và môitrường kinh tế xã hội, trong đó môi trường tự nhiên có tác động đặc biệt lớn đến chấtlượng tín dụng hộ sản xuất
Như đã nói đến ở trên, hộ sản xuất ở nước ta phần đông vẫn hoạt động sản xuấtkinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Ở lĩnh vực này, môi trường vàđiều kiện tự nhiên có vai trò tiên quyết đối với thành quả của quá trình sản xuất kinhdoanh, từ đó tác động trực tiếp đến chất lượng tín dụng hộ sản xuất Nếu điều kiện tựnhiên thuận lợi, tất yếu dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, doanh thu lớn, khảnăng hộ hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng được đảm bảo Ngược lại, khi cóthiên tai hay dịch bệnh, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, nguy
cơ bị thiệt hại nặng nề, dẫn đến việc trả nợ muộn hoặc không có khả năng trả nợ chongân hàng, khiến cho chất lượng của khoản tín dụng đó là thấp Vì lí do trên, ngânhàng luôn phải cân nhắc xem xét ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến dự án sảnxuất kinh doanh của hộ cần vay vốn để hạn chế tối đa rủi ro cho ngân hàng Tuy vậy,ngân hàng rất khó có thể lường trước được sự biến đổi bất lợi của tự nhiên
Là một đơn vị kinh doanh trong xã hội, ngân hàng và các tổ chức tín dụng đềuphải hoạt động dưới những quy định của luật pháp Những quy định này được ra đờinhằm đảm bảo quyền lợi và mục tiêu phát triển của ngân hàng nói riêng và các chủ thểkhác trong nền kinh tế nói chung Tuỳ theo từng giai đoạn cụ thể mà quy định về pháp
lý đối với tổ chức tín dụng và đối với hoạt động cho vay hộ sản xuất có thể thay đổi.Dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan pháp luật và cơ quan chức năng, chấtlượng tín dụng hộ sản xuất của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng rất sâu nặng Chỉ khinào môi trường pháp lý ổn định, thuận lợi thì hoạt động tín dụng của ngân hàng mới
dễ dàng phát triển Thêm vào đó, pháp luật và các quy định của Nhà nước cũng là cơ
sở giúp ngân hàng và các tổ chức tín dụng xử lý, giải quyết những vấn đề liên quanđến hoạt động tín dụng, là công cụ hỗ trợ, khuyến khích hộ sản xuất tiếp cận với vốn
Trang 22vay ngân hàng và thúc đẩy hiệu quả sử dụng đồng vốn đó
Tình hình kinh tế xã hội cũng là một yếu tố khách quan có tác động gián tiếpđến chất lượng tín dụng hộ sản xuất Yếu tố này rất đa dạng phụ thuộc vào đặc điểmcủa từng vùng, từng địa phương Ở nước ta, từ khi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trungđược chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế hộ giađình có điều kiện để phát triển ổn định về cả hiệu quả và quy mô Điều này làm tăngchất lượng tín dụng hộ sản xuất khi mà các hộ có môi trường kinh doanh thuận lợi, thunhập tăng cao, có điều kiện để vay vốn ngân hàng nhiều hơn và có khả năng tốt trongviệc hoàn trả nợ đầy đủ, đúng thời hạn
1.3.3.2 Các yếu tố thuộc về phía khách hàng hộ sản xuất
Hộ sản xuất là chủ thể vay và sử dụng vốn của ngân hàng, hiệu quả của vốnvay đó tỷ lệ thuận với hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ Nhằm đảm bảo chất lượngcủa mỗi khoản tín dụng, ngân hàng luôn phải xem xét, thẩm định kỹ lưỡng các thôngtin về bản thân khách hàng và dự án sản xuất kinh doanh được đưa ra Đối với kháchhàng là hộ sản xuất, do ngành nghề của họ rất đa dạng, quy mô lớn nhỏ khác nhau vàviệc quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh không thực sự rõ ràng, bài bản nên việc thẩmđịnh để cho vay vốn gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, do chính sách hỗ trợ để phát triểnnông nghiệp, nông thôn, các hộ kinh tế gia đình chỉ cần đáp ứng được những điều kiệnrất đơn giản để có thể vay vốn của ngân hàng
Chất lượng tín dụng hộ sản xuất phụ thuộc vào phía khách hàng trước hết ởviệc họ có sử dụng vốn vay vào đúng mục đích đã trình bày với ngân hàng và đúngpháp luật hay không, cho thấy độ tin cậy cao hay thấp của quan hệ tín dụng Trườnghợp này thường xảy ra với hộ sản xuất có trình độ chưa cao, chưa hiểu rõ và thực sựnghiêm túc trong việc đảm bảo sử dụng vốn đúng như cam kết Đối với những hộ sảnxuất này, ngân hàng luôn phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ Tuy vậy, rất khó cho ngânhàng có thể lường trước được ý định của khách hàng, cũng như giải quyết hậu quả khi
có rủi ro xảy ra
Trình độ của hộ sản xuất cũng tác động lên hiệu quả của khoản tín dụng Hộkinh tế gia đình có trình độ sản xuất và quản lý cao sẽ sử dụng vốn có hiệu quả hơnhẳn các hộ có trình độ hạn chế Bên cạnh đó, họ cũng có ý thức và nhận thức cao hơn
về việc sản xuất kinh doanh sao cho đảm bảo trả nợ được ngân hàng đồng thời manglại thu nhập ổn định cho các thành viên trong hộ Những hộ này cũng luôn biết tìm tòi
và không ngừng cải tiến phương thức sản xuất, có nhu cầu ngày càng lớn về vốn ngânhàng để mở rộng quy mô
1.3.3.3 Các yếu tố thuộc về ngân hàng và tổ chức tín dụng
Trang 23Hiệu quả hoạt động tín dụng và quan hệ tín dụng không chỉ nằm ở phương diện
sử dụng vốn của khách hàng mà còn nằm ở việc thực hiện cho vay của bản thân ngânhàng thương mại Trong quá trình cho vay đối với mọi đối tượng khách hàng, gồm cảkhách hàng hộ sản xuất, những yếu tố sau có tác động chính đến chất lượng của khoảntín dụng:
- Chính sách, quy chế cho vay của ngân hàng: là cơ sở thực hiện cho vay củangân hàng, có mặt xuyên suốt tất cả các khâu của quá trình cho vay, do đó ảnh hưởngtrực tiếp đến chất lượng tín dụng Để nâng cao hiệu quả tín dụng, việc đầu tiên mà bất
cứ ngân hàng hay tổ chức tín dụng nào phải làm cũng là xây dựng cho mình một quytrình cho vay hợp lý, đúng đắn Một quy trình cho vay lý tưởng không trái với quyđịnh của luật pháp và Nhà nước, có thủ tục đơn giản mà vẫn đầy đủ các khâu cầnthiết, áp dụng hữu hiệu đối với từng nhóm đối tượng khách hàng, dễ dàng được thựchiện bởi cán bộ tín dụng và giúp giải quyết được nhiều vấn đề khi có rủi ro xảy ra.Chính sách tín dụng tốt sẽ thu hút được nhiều khách hàng vay vốn, là động lực đểkhách hàng sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao và trả nợ ngân hàng đúng thời hạn
- Công tác thực hiện quy chế tín dụng của ngân hàng phải được tuân thủ mộtcách nghiêm ngặt thì mới đảm bảo được chất lượng tín dụng Việc này không chỉ nằm
ở ý thức của mỗi cán bộ tín dụng mà còn đòi hỏi việc tổ chức, kiểm tra và tạo điềukiện của lãnh đạo ngân hàng, của bộ phận cấp cao với các bộ phận dưới quyền kiểmsoát của mình
- Trình độ và ý thức của cán bộ tín dụng: cán bộ tín dụng là nhân viên, người đạidiện thực hiện cấp tín dụng của ngân hàng, là người trực tiếp thẩm định, quyết địnhcho vay, kiểm tra, giám sát trong khi cho vay và thu hồi, xử lý những vấn đề phát sinhtrong thu hồi nợ Như vậy, đảm bảo chất lượng cho vay đòi hỏi cán bộ tín dụng phải
có trình độ nghiệp vụ nhất định, ý thức thực hiện quy chế cao Điều này càng có ýnghĩa hơn trong tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay Cán bộ tín dụng có trình
độ và ý thức tốt sẽ là người tạo nên những khoản tín dụng có chất lượng và xử lý hợp
lý những vấn đề bất lợi nảy sinh, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Như vậy, đội ngũnhân viên, cán bộ giỏi, có đạo đức, có năng lực là điều kiện tiền đề để ngân hàng tồntại và phát triển Ngoài việc giúp đỡ đi kèm với kiểm tra, đôn đốc thuờng xuyên, ngânhàng cần liên tục có những chính sách đào tạo, trau dồi trình độ cho các cán bộ vàchăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của họ
- Hệ thống thông tin ngân hàng: là nhân tố hỗ trợ ngân hàng trong việc nắm bắtthông tin khách hàng cả trước, trong và sau khi vay Hệ thống thông tin giúp ngânhàng nhận biết và ngăn chặn được những khoản cho vay xấu ngay từ đầu, bên cạnh
đó, giúp ngân hàng kịp thời cập nhật được tình hình sản xuất kinh doanh của kháchhàng, từ đó hiểu được khả năng tài chính của khách hàng và có những biện pháp sớm
Trang 24để giải quyết những vấn đề bất lợi phát sinh trong và sau khi vay có ảnh hưởng đếnkhả năng thu hồi nợ của ngân hàng.
Trang 25CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT
TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT HOÀNG MAI
2.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHNo&PTNT
Hoàng Mai
Chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai có trụ sở tại địa chỉ số 813, đường GiảiPhóng, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội Chi nhánh được chínhthức thành lập vào tháng 8 năm 2004 căn cứ theo Quyết định số 305/QĐ/HĐQT-TCCB
ra ngày 16/8/2004 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam
Từ khi thành lập cho tới nay, chi nhánh được xếp là chi nhánh loại 2 phụ thuộcNHNo&PTNT Việt Nam Tính đến thời điểm đầu năm 2011, chi nhánh có tất cả 6 phònggiao dịch với các tên gọi lần lượt là: Giáp Bát, Đại Kim, Cửa Nam, Nguyễn Trãi, phònggiao dịch số 6 và phòng giao dịch số 5
Theo quy định chung của NHNo&PTNT Việt Nam, cũng như các chi nhánhloại 1 và loại 2 khác phụ thuộc NHNo&PTNT Việt Nam, hoạt động của chi nhánhHoàng Mai là hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tíndụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng, phù hợp với quy định của pháp luật nhằmmục đích không ngừng nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng và góp phần vào việc thựchiện chính sách tiền tệ Quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế đất nước
Tuy có trụ sở chính nằm ở khu vực quận Hoàng Mai nhưng với 6 phòng giaodịch nằm ở nhiều quận, huyện của thành phố nên nhìn chung chi nhánh Hoàng Maiphục vụ nhu cầu của các khách hàng chính là dân cư khu vực phía Nam của thành phố
Hà Nội cũ, gồm có các quận Hoàng Mai, Thanh Xuân, Đống Đa, Hai Bà Trưng vàhuyện Thanh Trì Ngoài ra do không bị hạn chế, chi nhánh hiện nay phục vụ các đốitượng khách hàng khác nhau từ mọi khu vực trong thành phố
Tình hình kinh tế - xã hội trên thế giới và trong nước từ năm 2008 tới nay đãtrải qua nhiều biến động lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh củaNHNo&PTNT và chi nhánh Hoàng Mai, đặc biệt là từ hậu quả nặng nề của cuộckhủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 Các chính sách tiền tệcủa Nhà nước để đối phó với tình hình kinh tế trong thời kỳ này, do vậy, cũng gây ratác động cả tích cực và tiêu cực đến kết quả kinh doanh của chi nhánh
2.1.1 Nguồn vốn
Trang 26Trong 3 năm từ 2008 đến hết năm 2010, do tình hình kinh tế - xã hội phức tạp
mà nguồn vốn huy động được của chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai có sự biếnđộng tăng giảm không ổn định Năm 2008, tổng nguồn vốn huy động có tăng nhưngtăng không cao với tỷ lệ tăng 18,91%, tương đương với 243 tỷ VNĐ so với năm 2007.Khó khăn vì dấu hiệu suy thoái của nền kinh tế năm 2009 khiến cho nguồn vốn huyđộng đến cuối năm này giảm 176 tỷ VNĐ, tương đương với tỷ lệ giảm là 11,5% sovới năm 2008 và chỉ đạt được 68% so với kế hoạch đã đề ra của năm Đến năm 2010,với sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ trở lại của kinh tế đất nước, tổng nguồn vốnhuy động được của chi nhánh tăng mạnh Tính đến thời điểm ngày 31/12/2010, tổngnguồn vốn huy động (đã quy đổi) là 1.994 tỷ VNĐ, tăng 48% so với năm 2009 vàvượt 10% so với kế hoạch được giao (Bảng 1)
Nguồn vốn huy động của chi nhánh chủ yếu là nguồn tiền gửi; các nguồnkhác như nguồn vốn vay hay phát hành giấy tờ có giá… chiếm tỷ trọng rất nhỏ,không đáng kể Nếu phân loại các khoản tiền gửi này theo thời gian hay nói cáchkhác, theo kỳ hạn của tiền gửi, có thể thấy từ số liệu của cả 3 năm thì nguồn tiềngửi có kỳ hạn trên 12 tháng luôn có tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huyđộng Đặc biệt là ở thời điểm cuối 2 năm 2008 và 2009, nguồn tiền gửi có kỳ hạntrên 12 tháng này đều chiếm hơn 70% tổng nguồn vốn Đến cuối năm 2010, nguồntiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng giảm, nhường chỗ cho sự tăng lên rất mạnh của tiềngửi không kỳ hạn (tỷ lệ tăng 138%) và tiền gửi ngắn hạn (tỷ lệ tăng 288%)
Trang 27Bên cạnh đó, nguồn tiền gửi không kỳ hạn tuy chiếm tỷ trọng không thực sựlớn trong tổng nguồn vốn nhưng luôn là nguồn tiền gửi được chi nhánh thườngxuyên duy trì do có lãi suất rẻ Nguồn tiền gửi không kỳ hạn này xuất phát chủ yếu
từ các khách hàng Nhà nước lớn như Ngân hàng Chính sách xã hội, Kho bạc Nhànước, Tập đoàn Dầu khí, SCIC, Bảo hiểm xã hội…
Mặt khác, phân loại tổng nguồn vốn huy động theo tính chất của nguồnvốn hay theo thành phần kinh tế thì nguồn vốn của chi nhánh NHNo&PTNTHoàng Mai gồm có tiền gửi dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tổ chức xãhội và tiền vay các tổ chức tín dụng Trong đó, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tổchức xã hội, tổ chức tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất Nguồn huy động từ loạitiền gửi này ở thời điểm cuối năm 2008 và 2009 giảm nhẹ so với năm trước đóvới tỷ lệ giảm lần lượt là 3,64% và 2,41% Tuy vậy đến cuối năm 2010 lại tăngmạnh với mức tăng là 650 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 72,6% so với năm 2009 Tiền gửidân cư, bên cạnh đó, liên tục tăng trong cả ba năm, tuy vậy tốc độ tăng giảm dầnqua các năm Tỷ lệ tăng của nguồn vốn huy động từ loại tiền gửi này so với nămtrước lần lượt là 52,03%, 12,57% và 6,6% Tiền vay các tổ chức tín dụng chỉ xuấthiện trong năm 2008 với số liệu ở thời điểm 31/12/2008 là 200 tỷ đồng, tăng400% so với năm 2007 Tuy vậy, đến cuối năm 2009, chi nhánh đã trả hết khoảnvay này và cũng không có hoạt động vay các tổ chức tín dụng trong năm 2010
Trang 28Bình quân nguồn vốn huy động tính theo đầu người qua các năm lần lượt là:năm 2008: 17 tỷ 976 triệu VNĐ/người, năm 2009: 14 tỷ 370 triệu VNĐ/người và năm2010: gần 20 tỷ VNĐ/người Nhìn chung, so với hai năm 2008 và 2009, năm 2010vừa qua cho thấy nhiều khởi sắc trong kết quả nguồn vốn huy động được của chinhánh, đặc biệt là nhiều khoản mục có số liệu vượt kế hoạch đề ra
2.1.2 Dư nợ cho vay
Hoạt động tín dụng luôn là hoạt động chính mang lại nguồn lợi nhuận cho ngânhàng, do đó đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.Trong giai đoạn từ năm 2008-2010, do cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế năm
2008, hoạt động tín dụng của chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai cũng chịu nhiều ảnhhưởng, đặc biệt là khó khăn khi thu hút các cá nhân, tổ chức vay vốn của ngân hàng,tình hình lãi suất và tỷ giá bất ổn và sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của Nhànước…
Đối với chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai, đây là một chi nhánh nhỏ với tổng
dư nợ phần lớn là dư nợ tín dụng Qua ba năm từ 2008-2010, tổng dư nợ cho vay (đãquy đổi) ở thời điểm cuối năm sau luôn tăng so với năm trước và lần lượt là 1.124 tỷVNĐ ở 31/12/2008, 1.451 tỷ VNĐ ở 31/12/2009 và 1.710 tỷ VNĐ ở 31/12/2010, hầuhết đạt hoặc vượt kế hoạch được giao của năm Tuy vậy, số liệu về tổng dư nợ cho vaythời điểm cuối năm của chi nhánh từ 2008 -2010 luôn gồm một lượng EUR là dư nợcho vay theo chỉ định của NHNo&PTNT Việt Nam từ năm 2006 (tổng dư nợ cho vayban đầu là 1.546 ngàn EUR) không nằm trong kế hoạch dư nợ giao của năm Trongtổng dư nợ tín dụng ở 31/12/2010 còn có 20.381.250 ngàn đồng là dư nợ cho vay bằngvốn tài trợ của tổ chức JICA, cũng không nằm trong kế hoạch dư nợ giao năm 2010 Sosánh giữa tổng nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay tại 3 thời điểm cuối năm cho thấy
sự bất ổn, nhất là ở thời điểm cuối năm 2009, dư nợ cho vay vẫn tăng trong khi tổngnguồn vốn huy động lại giảm (Biểu đồ 1)
Trang 29Biểu đồ 1: Tương quan giữa huy động và cho vay tại chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai
(đơn vị: tỷ VNĐ)
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2008, 2009, 2010
của chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai)
Về cơ cấu tín dụng phân loại theo thời hạn cho vay, các khoản cho vayngắn hạn vẫn chiếm phần lớn và có biến động tăng tại cả 3 năm đối với cả chovay nội tệ và cho vay USD Trong khi đó, cho vay trung và dài hạn chỉ tăng mạnhtại thời điểm cuối năm 2008 Ở các năm sau, có thể thấy dư nợ cho vay trung vàdài hạn chủ yếu giảm, cả với cho vay nội tệ và ngoại tệ, hoặc chỉ tăng một lượngkhông đáng kể (Bảng 4, 5)
Trang 30Khi phân loại dư nợ tín dụng của chi nhánh theo thành phần kinh tế, dư nợ chovay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh luôn có tỷ trọng lớn nhất, tiếp sau đó là dư nợcho vay các hộ gia đình và cá nhân, cuối cùng là dư nợ của các doanh nghiệp Nhànước Tuy dư nợ của doanh nghiệp Nhà nước tại chi nhánh chỉ chiếm tỷ trọng nhỏnhưng chỉ tiêu này tại thời điểm cuối của 3 năm đều được giữ trong một khoảng nhấtđịnh từ 20 đến gần 40 tỷ VNĐ Điều này cho thấy không chỉ riêng trong công tác huyđộng vốn mà trong công tác tín dụng, chi nhánh luôn cố gắng giữ mối quan hệ tốt vớikhách hàng là các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước Trong khi đó, dư nợ của cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh tại thời điểm cuối năm sau luôn tăng so với cuối nămtrước, một mặt là do chi nhánh tăng cho vay đối với thành phần kinh tế này, mặt kháclại do nhiều khoản cho vay đến hạn mà chi nhánh không thu được, trở thành nợ quáhạn, nợ xấu (Bảng 6)
Dư nợ bình quân đầu người các năm 2008 và 2009 ở mức trên 13 tỷVNĐ/người, đến cuối năm 2010, chỉ tiêu này tăng mạnh, lên đến con số 16,7 tỷVNĐ/người
2.1.3 Trích lập dự phòng và xử lý rủi ro
Trang 31Chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai đã thể hiện điểm yếu trong hoạt độngkinh doanh của mình khi tổng số trích lập dự phòng rủi ro của cả 3 năm đều vượt
kế hoạch được giao Đối với năm 2008 và 2009, chỉ tiêu này của chi nhánh lần lượt
là 17.427 triệu VNĐ và 14.082 triệu VNĐ, tương ứng vượt kế hoạch được giao là4,85% và 24% Đáng buồn nhất là năm 2010, chỉ tiêu này đã tăng rất mạnh, lên tớicon số 107.128 triệu VNĐ, bằng 836% kế hoạch được giao Số tiền xử lý rủi ro củanăm 2010 (đã quy đổi) từ đó cũng tăng rất cao đến mức 110.711 triệu VNĐ, sosánh với 6.700 triệu năm 2009 và 13.967 triệu năm 2008 Tổng số nợ thu hồi sau
xử lý rủi ro của năm 2010 tuy đã được giao kế hoạch thấp hơn đáng kể so với năm
2009 nhưng cũng không hoàn thành, chỉ đạt 96,36% của kế hoạch, tương ứng với4.818 triệu VNĐ Duy nhất có lượng nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) đến thời điểm31/12/2010 là 11.660 triệu VNĐ, là có giảm đáng kể so với năm 2009 với mứcgiảm 15.743 triệu VNĐ, tương ứng với tỷ lệ giảm 57,4% Tính đến 31/12/2010, nợxấu của chi nhánh chỉ còn chiếm 0,68% tổng dư nợ
2.1.4 Hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối
Hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối là một hoạt động cơ bảnkhác của ngân hàng Với chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai, tuy hoạt động nàydiễn ra không nhiều và lãi luỹ kế đem lại cho chi nhánh ở một mức nhỏ nhưng trongphạm vi được giao, hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối đã cho thấy
sự tăng trưởng liên tục và ổn định (Bảng 7)
Năm 2010 vừa qua là năm mà hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanhngoại hối của chi nhánh đạt được kết quả rất cao Ngoài việc tăng trưởng với tốc độcao 119%, tổng lãi luỹ kế từ hoạt động này còn chiếm đến 64% tổng thu dịch vụ củatoàn chi nhánh
2.1.5 Hoạt động dịch vụ và phát hành thẻ
Trang 32Tổng thu dịch vụ của chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai trong 3 năm từ
2008 – 2010 liên tục tăng với tốc độ tăng cao và ổn định, góp phần đáng kể trong tổngthu nhập của chi nhánh Số liệu về tổng thu dịch vụ cụ thể như sau:
Năm 2008: 2.285 triệu VNĐ, đạt tỷ lệ thu ngoài tín dụng là 2,79% tổng thu nhậpNăm 2009: 3.750 triệu VNĐ, đạt tỷ lệ thu ngoài tín dụng là 10,18% tổng thu nhậpNăm 2010: 7.193 triệu VNĐ, đạt tỷ lệ thu ngoài tín dụng là 8,41% tổng thu nhập,bằng 120% kế hoạch được giao
Về phát hành thẻ và dịch vụ thẻ, trong 3 năm, chi nhánh đã liên tục trang bịthêm máy ATM và máy chấp nhận thẻ (POS) và lắp đặt ở những vị trí thuận tiệntại các phòng giao dịch và hội sở của chi nhánh để phát huy được hiểu quả phục
vụ khách hàng Đến cuối năm 2010, chi nhánh có tất cả 10 máy ATM và 07 máychấp nhận thẻ Số lượng thẻ tăng mạnh qua các năm Đến 31/12/2010, chi nhánh
đã phát hành được 21.106 thẻ ATM, tăng 6.333 thẻ so với năm 2009, trong đó:
- Thẻ ghi nợ nội địa: 20.971 thẻ, tăng 6.559 thẻ so với năm 2009
- Thẻ ghi nợ quốc tế: 79 thẻ, tăng 37 thẻ so với năm 2009
- Thẻ tín dụng quốc tế: 56 thẻ, tăng 37 thẻ so với năm 2009
Tổng số dư tài khoản thẻ tại thời điểm 31/12/2010 là 40.469 triệu VNĐ, tăng16.143 triệu VNĐ so với năm 2009 với tốc độ tăng 66,36% Trong giai đoạn này, chinhánh cũng đẩy mạnh triển khai nhiều sản phẩm dịch vụ mới như: SMS Banking,Internetbanking, Bill Payment, dịch vụ bán vé máy bay, phát hành thẻ cho học viênHọc viện cảnh sát… Các hoạt động này đã góp phần làm phong phú thêm các sảnphẩm dịch vụ phục vụ khách hàng, đem lại kết quả tích cực về nguồn vốn và thu nhậpcủa chi nhánh
2.1.6 Kết quả tài chính
Kết quả tài chính của chi nhánh NHNo&PTNT Hoàng Mai trong giai đoạn vừaqua không mấy khả quan Trong 3 năm, chỉ có duy nhất năm 2008, chênh lệch thu –chi là có tăng so với năm trước đó với tỷ lệ tăng là 32%, dù vậy chỉ đạt được 98,4% kếhoạch được giao Với năm 2009, chỉ tiêu này giảm tới 35% so với năm 2008, chỉ đạt62% kế hoạch Năm 2010 có thể coi là năm tồi tệ nhất do chênh lệch thu – chi là –37.146 triệu đồng Nguyên nhân chính của con số âm này là do ngân hàng đã phải chimột lượng lớn để trích lập dự phòng rủi ro trong năm trong khi tổng thu của ngânhàng lại tăng ít (Bảng 8)
Trang 33Như vậy, xét chung về hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHNo&PTNTHoàng Mai, tuy còn nhiều hạn chế về tình hình nợ quá hạn, nợ xấu dẫn đến chi chotrích lập rủi ro lớn nhưng nhìn tổng quát, nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay đều
có dấu hiệu tăng tích cực và ổn định, tạo tiền đề tốt cho việc mở rộng và phát triển tíndụng hộ sản xuất ở chi nhánh
2.2 Tình hình kinh tế - xã hội chung và sản xuất kinh doanh của hộ sản
xuất trên địa bàn Hà Nội
Ban đầu thành lập, chi nhánh NHNN&PTNT Hoàng Mai được ra đời nhằm đápứng nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng của nhân dân trong khu vực phía Nam củathành phố Hà Nội cũ, bao gồm các quận Hoàng Mai, Thanh Xuân, Đống Đa, Hai BàTrưng và huyện Thanh Trì Tuy vậy, sau khi thành phố được mở rộng địa giới hànhchính vào tháng 8 năm 2008, cùng với các phòng giao dịch của mình, chi nhánh đãtích cực mở rộng phạm vi hoạt động Hầu hết dân cư trên địa bàn thành phố đều dễdàng tiếp cận với chi nhánh và các phòng giao dịch của chi nhánh, chi nhánh cũngkhông bị hạn chế về địa bàn hoạt động nên các khách hàng của chi nhánh hiện nayđến từ nhiều khu vực khác nhau trong thành phố Do vậy, khi xem xét hoạt động tíndụng nói chung và hoạt động tín dụng hộ sản xuất nói riêng của chi nhánh, cần xemxét về tình hình kinh tế - xã hội trên toàn địa bàn Hà Nội
2.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Nội
Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị mà còn là trung tâm kinh tế lớn của cảnước Với việc mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, cả diện tích và dân
số của thành phố đã tăng rất nhiều lần với khoảng 3.344,60 km² và dân số trung bìnhước tính năm 2010 là 6.611,7 ngàn người Cùng với đó, thành phố hiện nay cũng tiếpgiáp với nhiều tỉnh, thành phố hơn trước, gồm có Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nam,Hoà Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên và Phú Thọ Ở phía Tây Bắc của đồngbằng châu thổ sông Hồng, thành phố nằm ở cả hai bên bờ sông mà tập trung chủ yếu ởbên hữu ngạn