* Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho sự ra đời và phát triển của các DNVVN; tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên, liên tục và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một loại hình doanh nghiệp khôngnhững thích hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển màcòn đặc biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển Ở nước tatrước đây, việc phát triển các DNVVN cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi
có đường lối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì cácdoanh nghiệp này mới thực sự phát triển nhanh cả về số và chất lượng
Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá hiệnđại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN là bước
đi hợp quy luật đối với nước ta DNVVN là công cụ góp phần khai thác toàndiện mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn tiềm tàng sẵn có ở mỗingười, mỗi miền đất nước Các DNVVN ngày càng khẳng định vai trò to lớn củamình trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phải quan tâmchú ý đến đó là: Tăng trưởng kinh tế - giải quyết việc làm
Nhưng để thúc đẩy phát triển DNVVN ở nước ta đòi hỏi phải giải quyếthàng loạt các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải liên quan đếnnhiều vấn đề Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất đó là thiếuvốn sản xuất và đổi mới công nghệ Vậy DNVVN phải tìm vốn ở đâu trong điềukiện thị trường vốn ở Việt Nam chưa phát triển và bản thân các doanh nghiệpnày khó đáp ứng đủ điều kiện tham gia, chúng ta cũng chưa có chính sách hỗ trợcác doanh nghiệp này một các hợp lý Vì vậy phải giải quyết khó khăn về vốncho các DNVVN đã và đang là một vấn đề cấp bách mà Đảng, Nhà nước, bảnthân các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng cùng phải quan tâm giải quyết.Thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho pháttriển DNVVN còn rất hạn chế vì các DNVVN khó đáp ứng đầy đủ điều kiện vayvốn ngân hàng và khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì các doanh nghiệp lại sửdụng vốn chưa hợp lý và hiệu quả Vì thế việc tìm ra giải pháp nhằm mở rộnghoạt động tín dụng đối với các DNVVN đang là một vấn đề bức xúc hiện naycủa các NHTM Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng hoạt động của cácDNVVN hiện nay, sau một thời gian thực tập tại phòng giao dich Lò Đúc - chi
Trang 2nhánh ngân hàng Việt Nam Thương Tín Hà Nội, em đã chọn đề tài : “GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI PHÒNG GIAO DỊCH LÒ ĐÚC- CHI NHÁNH HÀ NỘI NGÂN HÀNG VIỆT NAM THƯƠNG TÍN (VIETBANK) ” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về DNVVN và hoạt động tín dụng ngânhàng đối với DNVVN để hiểu rõ những điểm mạnh, điểm yếu, vai trò, vị trí củaDNVVN trong nền kinh tế; vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triểnDNVVN Trên cơ sở đó, nghiên cứu cụ thể mối quan hệ tín dụng giữa PGD LòĐúc - chi nhánh VIETBANK Hà Nội với các DNVVN, thấy được thực trạng củahoạt động này, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần mở rộng tín
dụng cho các DNVVN của PGD Lò Đúc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các DNVVN tại PGD Lò Đúc trong
3 quý đầu năm 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận đã sử dụng kết hợp một số phươngpháp nghiên cứu khoa học để phân tích lý luận và thực tiễn như: Phương phápduy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích hoạtđộng kinh tế, phương pháp tổng hợp thống kê…
5 Kết cấu của đề tài
Khóa luận gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.Trong đó, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ và tín dụng ngân
hàng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại PGD Lò Đúc - Chi nhánh Hà Nội - Ngân hàng Việt Nam Thuơng Tín
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động tín dụng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại PGD Lò Đúc - Chi nhánh Hà Nội , Ngân hàngViệt Nam Thuơng Tín
Trang 3a Khái niệm doanh nghiệp
Theo khoản 1 điều 4 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định thì: Doanhnghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiệncác hoạt động kinh doanh
b Khái niệm DNVVN
Ở Việt Nam, do chưa có tiêu chí xác định cụ thể đâu là doanh nghiệp nhỏđâu là doanh nghiệp vừa nên một số cơ quan Nhà nước, một số tổ chức hỗ trợ đãchủ động đưa ra các tiêu chí quy định DNVVN để phục vụ cho công tác củamình như:
- NHCT Việt Nam quy định: là doanh nghiệp có dưới 500 lao động, vốn cốđịnh < 10 tỷ, vốn lưu động < 8 tỷ, doanh thu tháng < 20 tỷ đồng
- Liên Bộ Lao động và Tài chính: Lao động thường xuyên < 100 người,doanh thu năm < 10 tỷ, vốn pháp định < 1 tỷ đồng
- Dự án VIE/US/95/004 Hỗ trợ DNVVN ở Việt Nam: Lao động < 200người, vốn đăng kí < 0.4 triệu USD (5 tỷ VND)
Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành nghị định số 90/2001/NĐ - CP vềtrợ giúp phát triển DNVVN Theo nghị định này: doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ
sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành,
có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng nămkhông quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế – xã hội cụ thể của ngành,địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thểlinh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong haitiêu chí nói trên Đây là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về
Trang 4DNVVN Ý nghĩa nổi bật nhất của nghị định này là đã tạo nên khung pháp lýcho việc trợ giúp phát triển DNVVN ở nước ta
Theo nghị định 56/2009/NĐ-CP thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinhdoanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp:siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đươngtổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc sốlao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
I Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
II Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 ngườiIII Thương mại và
dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 ngườiNgoài ra, DNVVN là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ đặcđiểm của một doanh nghiệp Ngoài ra DNVVN còn có một số đặc điểm riêng
Trang 5a Đặc điểm tạo nên những ưu thế cho DNVVN
- DNVVN có thể hoạt động mà không cần phải đòi hỏi một lượng vốn lớn.Thêm vào đó lĩnh vực sản xuất kinh doanh thường hướng tới phục vụ trực tiếpđời sống xã hội, chủ yếu nhằm vào những sản phẩm có sức mua cao, nên có thểhuy động được các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân do đócác DNVVN có khả năng đầu tư rất đa dạng và linh hoạt Hơn nữa chu kì sảnxuất kinh doanh ngắn, diễn biến theo mùa nên tốc độ quay vòng vốn nhanh, từ
đó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp
- Cơ chế tổ chức - quản lý của DNVVN hoạt động tương đối hiệu quả sovới các loại hình doanh nghiệp còn lại Trong DNVVN, cơ cấu tổ chức thườngnhỏ gọn, ít cấp bậc, thường không bị chồng chéo Cũng chính vì cơ cấu tổ chứcđơn giản và gọn nhẹ của các DNVVN được đi cùng với cơ chế quản lý, điềuhành hết sức linh hoạt đã đem lại hiệu quả tích cực trong quản trị doanh nghiệp.Chi phí quản lý của các DNVVN tương đối thấp Thời gian đưa ra quyết địnhcủa các DNVVN ngắn, do đó có thể đưa ra quyết định nhanh chóng và hiệu quảđối với những vấn đề liên quan đến sản xuất kinh doanh khiến cho kế hoạch kinhdoanh có thể được xây dựng và điều chỉnh sát với các biến động thực tế trên thịtrường cũng như các nguồn lực nội tại của doanh nghiệp như vốn, nhân sự, trình
độ kỹ thuật…
- Các DNVVN rất năng động và có tính linh hoạt cao DNVVN có thể sửdụng linh hoạt các loại máy móc, thiết bị nội địa, dễ dàng thay đổi công nghệ saocho phù hợp với yêu cầu của thị trường, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật mà khôngcần nhiều chi phí; có thể kết hợp cả những công nghệ truyền thống với côngnghệ hiện đại, sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao trong điều kiện sảnxuất không thuận lợi Hơn thế, do nhạy cảm với những biến động của thị trường
và khả năng phản ứng lại thị trường cũng rất linh động, các DNVVN có thểchuyển đổi nhanh mặt hàng sao cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng;tận dụng được các nguồn nguyên vật liệu, nhân lực tại chỗ
- DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh tế
và hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Với quy mô
Trang 6khiêm tốn của mình, các DNVVN có thể hoạt động trong cả những lĩnh vực mànhững doanh nghiệp lớn không muốn tham gia hoặc không thể vươn tới, do đó
nó có thể tạo ra một lượng cung hàng hóa đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhất mọi nhucầu tiêu dùng, dù là nhỏ nhất của tất cả các tầng lớp xã hội Các DNVVN có sốlượng lớn, phân bố rộng khắp trên cả nước, hoạt động trên tất cả các lĩnh vực củanền kinh tế và hoạt động dưới nhiều hình thức như DNNN, doanh nghiệp tưnhân, CTCP, CT TNHH, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sởkinh tế cá thể khác
b Đặc điểm tạo nên những bất lợi cho DNVVN
- Đa phần các DNVVN có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ và luôn trongtình trạng thiếu vốn, “khát vốn” cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu
tư cải tiến máy móc, trang thiết bị mới Theo kết quả khảo sát điều tra hơn 63ngàn doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc cho thấy số vốn của các DNVVNcòn rất thấp: khoảng 50% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng, gần 75% doanhnghiệp có vốn dưới 2 tỷ đồng và có tới 90% doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng(nguồn: Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
- Thông tin của các DNVVN thường không minh bạch do hạn chế kiến thức
về kế toán, về thông tin tài chính… nên việc lập kế hoạch tài chính cũng như lậpcác báo cáo tài chính thiếu chính xác, không trung thực Do chính sách ưu đãithuế thu nhập đối với DNVVN, một số doanh nghiệp đã cố tình “chế biến” sốliệu, giấu lãi để hưởng chính sách ưu đãi thuế
- Chủ yếu các DNVVN không có tài sản đảm bảo để vay vốn Mặt khácviệc chuyển giao quyền sở hữu về vốn góp bằng tài sản chưa rõ ràng minh bạchgây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình thẩm định tài chính, thẩm định tàisản đảm bảo
- Năng lực quản trị điều hành của chủ DNVVN kém, còn thói quen điềuhành quản trị theo kiểu gia đình Việc lập kế hoạch kinh doanh, phương án kinhdoanh thiếu tính chuyên nghiệp Chưa biết thu thập và xử lý tốt các thông tin,khả năng tự điều chỉnh trong nền kinh tế thị trường đầy biến động còn hạn chế
Trang 7- Trình độ của người lao động còn hạn chế Các chủ DNVVN không đủ khảnăng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những người lao động
có tay nghề cao do hạn chế về tài chính Người lao động ít được đào tạo và bồidưỡng chuyên môn do kinh phí hạn hẹp vì vậy kỹ năng tay nghề của người laođộng không cao Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc cho các DNVVN, cơhội để phát triển thấp tại các doanh nghiệp này cũng tác động làm cho nhiềungười lao động có kỹ năng tay nghề cao không muốn làm việc cho khu vực này
- Hạ tầng cơ sở phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn nhiều hạn chế, máymóc thiết bị lạc hậu, chi phí đầu vào cho sản xuất lớn Hiện nay phần lớn côngnghệ mà các DNVVN đang sử dụng đã lạc hậu hàng chục năm, có khi vài chụcnăm, như trong ngành điện tử là khoảng 15 - 20 năm, ngành cơ khí là 20 năm,70% công nghệ ngành dệt may đã sử dụng được 20 năm Tỷ lệ đổi mới trangthiết bị trung bình hàng năm chỉ ở mức 5 - 7% so với mức 20% của thế giới Kỹthuật, công nghệ lạc hậu đã kéo theo hiệu quả sử dụng vốn thấp, đồng thời làmchi phí đầu vào tăng
- DNVVN thường gặp khó khăn về tiếp cận những nguồn thông tin, côngnghệ tiên tiến Đó là một trở ngại lớn khó vượt qua do công nghệ mới thường rấtđắt nên các DNVVN thường không đủ nguồn vốn để đầu tư ngay vào lĩnh vựcnày
- Chưa có khả năng liên kết, hợp tác giữa các DNVVN với nhau, với cáchiệp hội, với phòng thương mại, với ngân hàng… Tính thực thi các chính sách
hỗ trợ của Chính phủ còn hạn chế Dẫn đến năng lực cạnh tranh của cácDNVVN kém
1.1.2 Vai trò của DNVVN đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam
Kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực vào ngày 01/01/2000, khu vựckinh tế tư nhân, đặc biệt là các DNVVN trở thành khu vực kinh tế năng độngnhất Với xuất phát điểm là một nền kinh tế kém phát triển, sản xuất nhỏ lẻ phổbiến, nên các DNVVN chiếm một tỷ trọng đáng kể trong các loại hình doanhnghiệp tại Việt Nam Các DNVVN đã và đang trở thành một lực lượng kinh tếquan trọng, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế và đóng góp vào nguồn
Trang 8thu đáng kể cho Ngân sách Nhà nước Từ năm 2000 đến năm 2006, Việt Nam có207.034 doanh nghiệp dân doanh (chủ yếu là các DNVVN) đăng ký kinh doanhthành lập mới với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 466 nghìn tỷ đồng (tương đươnggần 3 tỷ USD) Trong thời gian qua, các doanh nghiệp dân doanh đã sử dụng gần
3 triệu lao động, đóng góp hơn 40% GDP và 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nước, đóng góp khoảng 14,8% tổng thu Ngân sách Nhà nước Việc phát triểnDNVVN sẽ góp phần đa dạng hóa các thành phần kinh tế, góp phần đáng kể vào
sự tăng trưởng GDP của đất nước, đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế,tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế Vai trò của cácDNVVN không chỉ thể hiện ở giá trị kinh tế mà nó tạo ra, mà quan trọng hơn nó
có ý nghĩa then chốt trong việc tạo ra công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo,phát triển đồng đều giữa các vùng, khu vực trong cả nước
DNVVN còn có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất lưu thông hànghóa, cung ứng dịch vụ Hệ thống cửa hàng sản xuất kinh doanh, thương mại -dịch vụ vừa và nhỏ đặt ở khắp các đường phố, khu công nghiệp, các tụ điểm dân
cư, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách nhanh chóng, thuận tiện Với tính năng động cao, các DNVVN còn là trường học khởi nghiệp chocác doanh nhân và là môi trường tạo mối liên kết, tích tụ vốn để từng bước hìnhthành các doanh nghiệp lớn Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp lớn đều hìnhthành từ các DNVVN cách đây vài chục năm và mọi người khi làm quen với môitrường kinh doanh thường bắt đầu với những DNVVN Từ những DNVVN cácnhà kinh doanh sẽ được làm quen với sự cạnh tranh, tiếp cận các kỹ năng quản lý
cơ bản, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân Họ sẽ là người lãnh đạo các doanhnghiệp này phát triển thành các doanh nghiệp lớn hoặc tự tìm kiếm các doanhnghiệp lớn để phát triển hơn nữa năng lực của mình Nguồn nhân lực về quản lý
vì thế được nâng cao cả về chất lượng cũng như số lượng
DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khaithác tiềm năng thế mạnh của từng vùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Các DNVVN có thể hoạt động ở khắp mọi nơi thậm chí cả những nơi cơ sở hạtầng chưa phát triển như vùng núi, hải đảo, nông thôn Nhờ đó, doanh nghiệp có
Trang 9thể khai thác rộng khắp các tài nguyên của từng vùng Việc nhiều doanh nghiệp,chủ yếu là các DNVVN được thành lập tại các vùng nông thôn, vùng núi, vùngsâu vùng xa sẽ góp phần trong việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế theohướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp vàdịch vụ.
Các DNVVN góp phần làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nềnkinh tế Sự ra đời của các DNVVN đã làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế.Với sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, cùngmột lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh nghiệp phải chấpnhận cạnh tranh, phải liên tục đổi mới, làm ăn có hiệu quả để có thể tồn tại vàphát triển
DNVVN đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng phong phú, đadạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được Hoạt động sản xuất kinhdoanh của các DNVVN đã phát triển hầu khắp các lĩnh vực, rất đa dạng vàphong phú như: nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ Nếu trongnhững năm trước đây, vốn đầu tư của khu vực tư nhân và số lượng doanh nghiệp
tư nhân thành lập mới hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thương mại thì trongthời gian gần đây có xu hướng tăng lên trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dulịch, xây dựng, giao thông…
1.1.3 Các nguồn huy động vốn của DNVVN
a Nguồn tài chính phi chính thức
- Vay từ người quen, người thân nhưng lượng vốn huy động không nhiều vàkhông có sẵn khi cần thiết
- Vay từ người cho vay nặng lãi, mặc dù không cần tài sản thế chấp và cóthể đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu vay nhưng hình thức này lại có chi phí rất cao
- Vay thông qua hình thức trả chậm, chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa cácdoanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp với nhà cung cấp các yếu tố đầu vào.Trong việc tài trợ cho các DNVVN, các nguồn tài chính phi chính thức này
có một số lợi thế nhất định là khá linh hoạt, chi phí giao dịch thường thấp hơn,hơn nữa giao dịch chủ yếu dựa trên cơ sở lòng tinh giữa những người đi vay và
Trang 10người cho vay nên thường không có tài sản thế chấp Tuy nhiên, nguồn tài chínhnày cũng bộc lộ nhiều hạn chế như: quy mô cho vay nhỏ, ngắn hạn với chi phíphát sinh cao, chỉ đủ để tài trợ cho những hoạt động mua sắm tài sản cố định cóquy mô nhỏ và đầu tư nhiều lần Như vậy, các nguồn vốn này khó có thể đápứng được yêu cầu phát triển DNVVN Do đó, việc tiếp cận với các nguồn tàichính chính thức được xem là cần thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triểncủa các DNVVN.
- Các chương trình tín dụng của các tổ chức và chính phủ nước ngoài như:Quỹ phát triển DNVVN của cộng đồng châu Âu (SMEDF), tín dụng hỗ trợ củangân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), dự án phát triển khu vực Mêkông(MPFD), hỗ trợ của công ty tài chính quốc tế IFC tại Việt Nam…
- Nguồn vốn huy động trên thị trường chứng khoán thông qua việc niêm yết
và phát hành trái phiếu, cổ phiếu Tuy nhiên, hình thức huy động vốn này đối vớiDNVVN rất khó khăn, bởi những điều kiện niêm yết, phát hành hết sức chặt chẽ
mà các DNVVN khó có thể đáp ứng được
Trang 111.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.2.1 Khái niệm, đặc trưng, phân loại tín dụng ngân hàng
a Khái niệm tín dụng ngân hàng
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Creditum có nghĩa là một sự tintưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫnnhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi
Theo K.Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từngười sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về vớimột lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu
Theo quan điểm này phạm trù tín dụng có 3 nội dung chủ yếu đó là: tínhchuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả
Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đivay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hìnhthức tiền tệ hoặc hàng hóa Quá trình đó được thể hiện qua 3 giai đoạn sau:
- Thứ nhất: phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai đoạn này,
giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhậnđược giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị
- Thứ hai: sử dụng vốn trong quá trình tái sản xuất Người đi vay sau khi
nhận được giá trị vốn tín dụng, họ được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mãnnhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình Tuy nhiên, người đi vay chỉ đượcquyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền sởhữu về giá trị đó
- Thứ ba: đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng Sau
khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kì sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thìvốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay
Việc các ngân hàng thương mại tập trung vốn dưới hình thức huy động vàphân phối vốn dưới hình thức cho vay được gọi là tín dụng ngân hàng
Trang 12b Đặc trưng của tín dụng ngân hàng
* Tín dụng ngân hàng được thiết lập trên cơ sở lòng tin.
Lòng tin là cơ sở đầu tiên để có quan hệ tín dụng Vì quan hệ tín dụng chỉxảy ra khi người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả tiền vay, sẽ sử dụngvốn vay có hiệu quả Tuy nhiên, lòng tin thể hiện ở uy tín, tài sản bảo đảm củakhách hàng hay sự bảo lãnh của bên thứ ba Điều này rất quan trọng vì nó tạonên sự an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng
* Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn có thời hạn Nếu không có thời hạn thì không thể gọi là quan hệ tín dụng hoàn chỉnh.
Thời hạn trong quan hệ tín dụng phụ thuộc vào thỏa thuận giữa ngân hàng
và khách hàng Để xác định thời hạn vay ngân hàng căn cứ tính hợp lý giữa thờihạn đi vay và thời hạn cho vay vốn để giảm thiểu rủi ro thanh khoản Còn kháchhàng xác định dựa trên cơ sở chu kì sản xuất kinh doanh, thời điểm hình thànhnguồn thu của mình
* Tín dụng ngân hàng mang tính hoàn trả cả gốc và lãi.
Hoàn trả là thuộc tính vốn có của tín dụng Vì vốn cho vay của ngân hàng làvốn huy động của những người tạm thời thừa nên sau một thời gian nhất địnhngân hàng phải trả lại cho người ký thác Mặt khác, ngân hàng cần phải cónguồn để bù đắp chi phí hoạt động như: khấu hao tài sản cố định, trả lương cán
bộ công nhân viên, chi phí văn phòng phẩm… nên người vay vốn ngoài việc trả
nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi
Ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường tín dụng còn mang các đặc trưng sau:
- Hoạt động tín dụng luôn bị chi phối bởi các quy luật kinh tế khách quancủa thị trường: Quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luậtlưu thông tiền tệ
- Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng khả năng xảy ra rủi ro Đó là nhữngkhoản lỗ tiềm năng mà ngân hàng phải gánh chịu khi đến hạn khách hàng khôngthực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình
c Phân loại tín dụng ngân hàng
Trang 13Hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khácnhau Để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả thì phải tiến hành phân loại tíndụng Mặt khác, để đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh thì việc cấp tín dụngphải gắn liền với đối tượng vay, để tạo điều kiện cho sự vận động của vốn phùhợp với sự vận động của vật tư hàng hóa thì phải tiến hành phân loại tín dụng.
* Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm (một số nước
quy định dưới 2 năm) Tín dụng ngắn hạn được dùng để bổ sung sự thiếu hụt tạmthời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt củacác cá nhân
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm Loại tín
dụng này được cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kĩ thuật, mởrộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để
cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trìnhthuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay…), cải tiến và mở rộng sảnxuất với quy mô lớn
* Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn
lưu động của các tổ chức kinh tế, có nghĩa là cho vay bù đắp vốn lưu động thiếuhụt tạm thời Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ hàng hóa, cho vaychi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu
kỳ phiếu
- Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản
cố định, có nghĩa là đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹthuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn.
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng cấp cho các
nhà doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thônghàng hóa
Trang 14- Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng như: mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hóa bền chắc như tủlạnh, điều hòa, máy giặt…
* Căn cứ vào xuất xứ của tín dụng.
- Tín dụng gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung gian tài
chính như NHTM hoặc tổ chức tín dụng khác
- Tín dụng trực tiếp: Là hình thức cấp tín dụng giữa người có tiền (hoặc
hàng hóa) với người cần sử dụng tiền (hoặc hàng hóa) đó, không cần phải thôngqua một trung gian tài chính nào cả
* Căn cứ vào mức độ đảm bảo.
- Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người bảo
lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay
- Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng không có tài sản hoặc
người bảo lãnh đảm bảo cho khoản nợ vay
1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của DNVVN
* Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp.
Hiện nay để thực hiện các quyết định đầu tư, doanh nghiệp có thể sử dụnghai nhóm nguồn vốn là vốn tự có và vốn đi vay Tuy nhiên nhu cầu vay vốn củadoanh nghiệp không được đáp ứng tối đa mà quy mô của khoản vay còn tùythuộc vào các điều kiện, các quy định vay vốn của ngân hàng, của pháp luật…Mặt khác, nếu quy mô vốn vay quá lớn sẽ làm tăng chi phí trả lãi dẫn đến tănggiá sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Do vậy buộc doanhnghiệp phải xây dựng cơ cấu vốn tối ưu Cơ cấu vốn tối ưu là sự kết hợp hợp lýnhất các nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp nhằmmục đích tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp tại mức giá vốn bìnhquân rẻ nhất
* Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho sự ra đời và phát triển của các DNVVN; tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên, liên tục và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Trang 15Ngân hàng không những hỗ trợ cho DNVVN trong quá trình hoạt động vàphát triển mà còn hỗ trợ cho doanh nghiệp ngay từ khi mới hình thành và đi vàohoạt động ban đầu Nếu như không có sự hỗ trợ của ngân hàng thì các DNVVN
sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh, thậm chí không thành lập được Nhiều doanh nghiệp
ra đời, song do hạn chế về vốn nên không có khả năng sử dụng công nghệ, thiết
bị hiện đại dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao, thiếu sứccạnh tranh và khó đứng vững trên thương trường Để có thể hoạt động thườngxuyên liên tục các DNVVN phải có đủ vốn để đáp ứng các nhu cầu cho sản xuấtkinh doanh, tuy nhiên nguồn vốn tự có của doanh nghiệp lại không thể đáp ứngđược nhu cầu cần thiết Vì vậy vốn tín dụng ngân hàng là một giải pháp hữuhiệu Tín dụng ngân hàng còn giúp các DNVVN tái sản xuất mở rộng, phát triểncác ngành nghề mũi nhọn
* Tín dụng ngân hàng giúp các DNVVN tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả từ đó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DNVVN trên thị trường.
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng không chỉ là tài trợ vốn mà còn phải đảmbảo hoàn trả gốc và lãi đúng hạn Do vậy khi sử dụng vốn vay các doanh nghiệpkhông phải chỉ thu hồi vốn đủ mà còn phải tìm mọi biện pháp sử dụng vốn saocho có hiệu quả nhất Mặt khác, các ngân hàng chỉ cho vay khi đã thẩm định đầy
đủ, kỹ càng mọi yếu tố liên quan đến doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là tính hiệuquả và khả thi của phương án, dự án kinh doanh cần tài trợ vốn Vì vậy, ngay từkhi thiết lập phương án sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đã phải nghiêncứu và phân tích kỹ về phương án của mình để có thể tăng tính khả thi củaphương án, tăng cường sự tin tưởng của ngân hàng khi quyết định tài trợ Ngoài
ra trong quá trình cấp tín dụng ngân hàng còn tư vấn giúp cho các doanh nghiệp
có các quyết định đầu tư tốt nhất, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp.Đồng thời công tác kiểm tra định kỳ của các ngân hàng đã buộc các doanhnghiệp phải làm ăn đứng đắn, minh bạch, tuân thủ pháp luật Trên cơ sở đó nănglực cạnh tranh của DNVVN sẽ ngày càng được nâng cao trên thị trường
Trang 16* Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các DNVVN thuộc loại hình doanh nghiệp Nhà nước.
Trong thời gian qua Nhà nước ta đã và đang tập trung tiến hành cổ phầnhóa các DNNN Cụ thể, các doanh nghiệp sau khi có quyết định cổ phần hóa sẽ
tự phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay các hình thức huy động vốn khác để có vốnhoạt động Trước tình hình đó các ngân hàng cũng tập trung phát triển các dịch
vụ trên thị trường chứng khoán nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp huy động vốn nhưdịch vụ lưu ký chứng khoán, mua bán cổ phiếu, trái phiếu, bảo lãnh phát hành, tưvấn tài chính… Hơn nữa các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các cổ phiếu, tráiphiếu làm tài sản đảm bảo vay vốn tại ngân hàng Với hình thức cấp tín dụng nàycác doanh nghiệp có thể yên tâm hơn khi tham gia vào quá trình cổ phần hóa và
đó chính là động lực thúc đẩy quá trình cổ phần hóa hiện nay
* Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho các DNVVN tiếp cận nguồn vốn nước ngoài.
Nếu chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng tốt, các sản phẩm dịch vụcung cấp với chất lượng cao, sẽ góp phần tạo ra một cơ sở hạ tầng tài chính củanền kinh tế vững mạnh, từ đó sẽ tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài trựctiếp, gián tiếp cũng như các nguồn vốn hỗ trợ phát triển của các tổ chức nướcngoài Và như vậy, nguồn vốn để các DNVVN có thể tiếp cận sẽ ngày càng được
mở rộng
* Tín dụng ngân hàng là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần chống lạm phát, ổn định tiền tệ và giá cả, từ đó tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNVVN.
Thông qua tín dụng ngân hàng, có thể kiểm soát được khối lượng tiền cungứng trong lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ Với việccung ứng tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng đã góp phần mởrộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, thực hiện việc dẫn dắt các luồngtiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách hiệuquả, thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô, góp phần tạo ra một môi trường
Trang 17kinh doanh ổn định, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung vàDNVVN nói riêng.
Như vậy, DNVVN có thể ra đời, tồn tại và phát triển thì rất cần sự hỗ trợ từphía ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng là chủ yếu Qua đó có thể thấy,việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN là thực sự quan trọng, cầnthiết và đúng đắn, phù hợp với chủ trương, định hướng chính sách tăng cường hỗtrợ phát triển DNVVN của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới
1.2.3 Các phương thức cho vay áp dụng đối với DNVVN
a Cho vay ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng dành cho doanh nghiệp là loại cho vay cóthời hạn dưới một năm, thường được dùng để bổ sung vốn lưu động thiếu hụttạm thời, phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
* Cho vay ứng trước: là phương thức tài trợ trực tiếp cho người đi vay để
đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn Bao gồm:
- Cho vay từng lần: là phương thứ cho vay dựa trên cơ sở nhu cầu tín dụng
của từng đối tượng vay cụ thể, như cho vay để mua nguyên vật liệu đối với cácdoanh nghiệp sản xuất, cho vay dự trữ hàng hóa để bán đối với các doanh nghiệpthương mại… Đây là loại cho vay có kì hạn nợ cụ thể gắn liền với chu kì ngânquỹ của doanh nghiệp Thông thường, việc xét duyệt cho vay dựa trên cơ sở hợpđồng kinh tế, đơn đặt hàng, các hóa đơn bán hàng, bản kê bán thành phẩm hoặcthành phẩm, hoặc có thể dựa trên dự toán ngân sách cho từng loại tài sản lưuđộng cụ thể Loại hình cho vay này thường áp dụng đối với các doanh nghiệp cótrình độ quản trị tài chính yếu, và có nhiều rủi ro hoặc không có quan hệ tín dụngthường xuyên với ngân hàng Trên thực tế, các doanh nghiệp mới thành lập, cácdoanh nghiệp nhỏ thường áp dụng kỹ thuật cho vay này
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương pháp cho vay để đáp ứng toàn
bộ nhu cầu thiếu hụt vốn lưu động theo hạn mức tín dụng đã cam kết Hạn mứctín dụng là giới hạn tối đa số tiền cho vay mà ngân hàng có thể cung cấp cho mộtkhách hàng trong một thời hạn nhất định Ngân hàng xác định hạn mức tín dụngtrên cơ sở phân tích toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp và doanh
Trang 18nghiệp được sử dụng một cách chủ động tiền vay trong hạn mức thỏa thuận đó.Thông thường, ngân hàng định kỳ hạn trả nợ cuối cùng cho toàn bộ các khoảnvay, không định kỳ hạn trả nợ cho từng lần giải ngân Các doanh nghiệp có quan
hệ tín dụng thường xuyên, trình độ quản trị tài chính tương đối tốt và doanhnghiệp được xếp hạng tín dụng cao là những doanh nghiệp thường được áp dụngloại hình cho vay này
* Chiết khấu: là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng
chuyển nhượng các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán cho ngân hàng đểnhận lấy một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lợi tức chiết khấu và hoa hồng phí(nếu có) Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ làkhá chắc chắn Tuy nhiên có thể phát sinh các giấy tờ có giá giả mạo, vì vậy cácngân hàng phải có các biện pháp để hạn chế loại rủi ro này
b Cho vay trung, dài hạn
Nguồn vốn vay trung và dài hạn ngân hàng là nguồn vốn quan trọng, đápứng các nhu cầu sau đây của doanh nghiệp:
- Nhu cầu về tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên;
- Trả các khoản nợ hiện hữu;
- Thành lập doanh nghiệp mới hoặc mua lại doanh nghiệp đang hoạt động.Trong đó tài trợ cho nhu cầu về tài sản cố định và tài sản lưu động thườngxuyên là chủ yếu nhất Bao gồm:
* Cho vay theo dự án đầu tư: Đây là khoản tín dụng tài trợ cho việc đầu
tư mua sắm tài sản cố định hay xây dựng các công trình được dự tính sẽ mang lạithu nhập trong tương lai Thông thường các doanh nghiệp yêu cầu được vay mộtkhoản trọn gói dựa trên chi phí dự tính của dự án đã đề xuất và cam kết thanhtoán khoản vay làm nhiều lần
* Cho vay hợp vốn: là hình thức cho vay trong đó một nhóm các tổ chức
tài chính cùng liên kết lại để tập hợp vốn cho một khách hàng vay Hình thứccho vay này là cần thiết khi nhu cầu vay vốn của khách hàng vượt quá khả năngcho vay của một tổ chức tài chính, khi người cho vay muốn phân tán tiền vay đểhạn chế rủi ro; đặc biệt đối với các tổ chức tài chính nhỏ, có trình độ nghiệp vụ
Trang 19chưa cao muốn thông qua nghiệp vụ này để có thể tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm,
kỹ thuật cho vay của các tổ chức tài chính lớn Hơn nữa, đối với doanh nghiệp đivay thì hình thức cho vay này có thể đáp ứng ngay một lần nhu cầu vốn lớn, hạnchế chi phí về thời gian và tiền bạc khi phải vay nhiều lần ở nhiều tổ chức tàichính
1.3 MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.3.1 Sự cần thiết mở rộng hoạt động tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
a Đối với ngân hàng
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trước áp lực cạnh tranh ngày cànggay gắt đặc biệt là với các đối thủ ngân hàng nước ngoài Yêu cầu cấp bách đặt
ra cho các NHTM Việt Nam phải tiến hành ngay công cuộc đổi mới một cáchtoàn diện, một trong những nội dung quan trọng là hoạt động tín dụng - một hoạtđộng cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn (70% - 80%) trên tổng tài sản có sinh lời và làhoạt động mang lại nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng Việt Nam
Hiện nay, chất lượng tín dụng của các NHTM Việt Nam còn kém, tỷ trọng
nợ quá hạn, nợ xấu khá cao Đặc biệt là các NHTM Nhà nước trong cơ cấu cáckhoản mục cho vay, tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp Nhà nước là chủ yếu -một thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, bước vào hội nhậpkinh tế quốc tế, nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu tiếp tục gia tăng từ khu vực này làđiều khó tránh khỏi Đòi hỏi các NHTM cần phải chuyển đổi cơ cấu danh mụcđầu tư cho vay, mở rộng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (mà chủyếu là các DNVVN và kinh tế tư nhân) nhằm phân tán rủi ro giúp các ngân hàngvừa mở rộng vừa nâng cao chất lượng tín dụng
Mặt khác, thị trường tài chính Việt Nam đang phát triển tương đối thuậnlợi, riêng thị trường chứng khoán tuy trong thời gian vừa qua trong quá trình xâydựng phát triển nhưng vẫn được đánh giá là có tiềm năng phát triển tốt, điều đó
dư báo trong tương lai gần các doanh nghiệp lớn, có tiềm lực tốt khi cần huyđộng vốn sẽ không lựa chọn kênh tín dụng ngân hàng, mà cách gọi vốn hiệu quảhơn nhiều là từ thị trường chứng khoán, chi phí thấp hơn, nguồn vốn ổn định
Trang 20hơn, thủ tục lại đơn giản hơn… Do đó ngân hàng không chỉ phải đối mặt vớiviệc nguồn vốn huy động bị “chảy” sang thị trường chứng khoán mà nguy cơhoạt động tín dụng bị thu hẹp cũng đang đến gần Điều đó thúc đẩy các NHTMphải tìm kiếm thị trường ngách mà thị trường đầy tiềm năng đó là DNVVN vàkhu vực kinh tế tư nhân.
Hơn nữa, theo xu hướng phát triển, các DNVVN đang ngày càng có vai tròquan trọng và trở thành động lực tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế Đặc biệt làViệt Nam bước vào hội nhập từ một nền kinh tế chưa phát triển, DNVVN đóngvai trò quan trọng trong việc huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển,giải quyết công ăn việc làm tạo thu nhập cho dân cư, tăng GDP Theo chỉ đạocủa Chính phủ đến năm 2011, cả nước sẽ có 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa,tạo việc làm cho khoảng 20 triệu người
Tất cả những điều đó cho thấy việc mở rộng cho vay các DNVVN là giảipháp phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế, phù hợp với chủ trươngđường lối của Đảng và Nhà nước giúp cho các ngân hàng chuyển dịch cơ cấuhợp lý, tăng trưởng tín dụng, đa dạng hóa các danh mục đầu tư cho vay, phân tánrủi ro, tăng thu nhập nâng cao vị thế cạnh tranh cho các ngân hàng
c Đối với nền kinh tế
Việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN góp phần làm chonguồn vốn được luân chuyển hiệu quả, đến những nơi đang thực sự khát vốn
Trang 21trong nền kinh tế Một mặt nó thúc đẩy sự phát triển của chính các doanh nghiệp,mặt khác là cách thức để tăng thu cho Ngân sách Nhà nước thông qua việc nộpthuế và các nghĩa vụ khác của DNVVN đối với Nhà nước Ngoài ra, việc mởrộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN buộc các ngân hàng phải phát huy tối
đa năng lực của mình và tìm các biện pháp để có thể huy động vốn, tăng cườngtập trung, tích tụ những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, từ đó mọi nguồn lực vềvốn đã được khai thác một cách tối ưu để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội
1.3.2 Khái niệm mở rộng tín dụng
Mở rộng là việc làm cho quy mô, phạm vi lớn hơn trước Mở rộng tín dụngngân hàng là sự tăng lên về doanh số, dư nợ, sản phẩm tín dụng Như vậy mởrộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN là những hoạt động tín dụng của ngânhàng nhằm thỏa mãn và mở rộng hơn nữa đối tượng khách hàng là các DNVVN.Việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với các DNVVN được xác định trên một
* Thứ hai: Mở rộng tín dụng cũng có nghĩa là sự đa dạng hóa các đối tượng
khách hàng
Đây là một trong các biện pháp ngân hàng thường áp dụng để phân tán rủi
ro vì vốn được san sẻ cho nhiều thành phần kinh tế khác nhau Đa dạng hóa cũngđồng nghĩa với việc không bó hẹp trong phạm vi một số đối tượng khách hàng
Trang 22nhất định, một số ngành nghề kinh doanh nhất định mà ngân hàng có thể thựchiện mở rộng tín dụng trên cơ sở thiết lập mối quan hệ tín dụng với nhiều ngànhnghề, nhiều đối tượng hoạt động kinh doanh như: nông, lâm, ngư nghiệp, côngnghiệp, du lịch, vận tải, dịch vụ, xây dựng…
* Thứ ba: Mở rộng tín dụng đồng nghĩa với việc đa dạng hóa các sản phẩm
tín dụng
Sản phẩm tín dụng của ngân hàng ngày càng đa dạng đáp ứng một cách tốtnhất mọi nhu cầu của khách hàng Trên cơ sở thiết lập nhiều hình thức cho vaynhư: ngắn, trung, dài hạn; hay cho vay theo hạn mức tín dụng; cho vay từng lần;cho vay theo hạn mức thấu chi; cho vay đồng tài trợ; cho vay cầm cố giấy tờ cógiá… các doanh nghiệp có thể dễ dàng lựa chọn các hình thức tín dụng phù hợpvới yêu cầu sản xuất kinh doanh của mình
Như vậy đối với ngân hàng, để mở rộng tín dụng đối với DNVVN ngânhàng cần phải:
- Mở rộng mạng lưới cấp tín dụng trên cơ sở đó tăng khả năng tiếp cận vàlàm đa dạng hóa đối tượng khách hàng
- Tăng tỷ trọng tín dụng đối với DNVVN trong tổng dư nợ
- Tiến hành mở rộng thị phần cho vay đối với DNVVN
1.3.3 Các tiêu thức đánh giá mức độ mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN được thể hiện thông quakhả năng thỏa mãn ngày càng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng là DNVVN vềkhối lượng tín dụng, lĩnh vực cấp tín dụng, thông qua việc đa dạng hóa các sảnphẩm tín dụng cho các DNVVN Trên cơ sở chung đó, mức độ mở rộng tín dụngngân hàng DNVVN được đánh giá cụ thể qua các chỉ tiêu sau:
a Mở rộng số lượng khách hàng DNVVN
* Mức tăng số lượng khách hàng DNVVN.
MSL = St - St - 1Trong đó:
MSL: là mức tăng số lượng khách hàng là DNVVN
Trang 23S*: Số lượng khách hàng DNVVN có quan hệ tín dụng với ngân hàng.
S: Số lượng khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng
Chỉ tiêu này phản ánh số lượng khách hàng DNVVN chiếm bao nhiêu phầntrăm trong tổng số khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng
b Mở rộng doanh số cho vay DNVVN
Doanh số cho vay phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã giải ngân giúpdoanh nghiệp trong đầu tư cải tiến máy móc, thiết bị, ứng dụng công nghệ mới,
mở rộng sản xuất kinh doanh Con số và tốc độ tăng giảm của doanh số cho vayqua các năm phản ánh quy mô và xu hướng của hoạt động tín dụng là mở rộnghay thu hẹp
* Mức tăng doanh số cho vay DNVVN.
MDS = DSt - DSt - 1Trong đó:
MDS: là mức tăng doanh số cho vay đối với DNVVN
Trang 24DSt: là doanh số cho vay đối với DNVVN năm thứ t.
DSt - 1: là doanh số cho vay đối với DNVVN năm thứ (t - 1)
* Tốc độ tăng doanh số cho vay đối với DNVVN.
MDS
TĐDS = - *100%
DSt - 1
Trong đó:
TĐDS: Tốc độ doanh số cho vay đối với DNVVN
MDS: là mức tăng doanh số cho vay đối với DNVVN
DSt - 1: là doanh số cho vay đối với DNVVN năm thứ (t - 1)
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thay đổi doanh số cho vay đối với DNVVNnăm nay so với năm trước
* Tỷ trọng doanh số cho vay DNVVN so với tổng doanh số cho vay.
DS*: là doanh số cho vay đối với DNVVN
DS: là tổng doanh số cho vay của ngân hàng
Chỉ tiêu này cho biết doanh số cho vay đối với DNVVN chiếm tỷ trọng baonhiêu phần trăm trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng
c Mở rộng dư nợ tín dụng đối với các DNVVN
Dư nợ tín dụng đối với DNVVN phản ánh quy mô tín dụng ngân hàng đốivới DNVVN tại một thời điểm nhất định
* Mức tăng dư nợ tín dụng đối với DNVVN.
MDN = DNt - DNt - 1Trong đó:
MDN: là mức tăng dư nợ tín dụng đối với DNVVN
DNt: là dư nợ tín dụng đối với DNVVN năm thứ t
Trang 25DNt - 1: là dư nợ tín dụng đối với DNVVN năm thứ (t - 1).
* Tốc độ tăng dư nợ tín dụng đối với DNVVN.
MDN
TĐDN = - *100%
DNt - 1
Trong đó:
TĐDN: Tốc độ tăng dư nợ tín dụng đối với DNVVN
MDN: là mức tăng dư nợ tín dụng đối với DNVVN
DNt - 1: là dư nợ tín dụng đối với DNVVN năm thứ (t - 1)
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thay đổi của dư nợ tín dụng đối với DNVVNnăm nay so với năm trước
* Tỷ trọng dư nợ tín dụng của DNVVN so với tổng dư nợ tín dụng.
DN*
TTDN = - *100%
DNTrong đó:
TTDN: Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với DNVVN so với tổng dư nợ tín dụng
DN*: là dư nợ tín dụng đối với DNVVN
DN: là tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng
Chỉ tiêu này phản ánh dư nợ tín dụng đối với DNVVN chiếm tỷ trọng baonhiêu phần trăm trong tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng
d Mở rộng tín dụng đối với DNVVN đi kèm với kiểm soát chất lượng tín dụngđối với DNVVN
Một số chỉ tiêu kiểm soát chất lượng tín dụng của ngân hàng đối vớiDNVVN:
(1) Vòng quay vốn tín dụng đối với DNVVN.
Vòng quay vốn là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngânhàng trong một thời kỳ Sử dụng chỉ tiêu này còn có tác dụng dự báo xem lĩnhvực đầu tư này có hiệu quả hay không để xác định định hướng mở rộng hay thuhẹp đầu tư cho kỳ tới
Doanh số thu nợ DNVVN
Trang 26Vòng quay vốn tín dụng đối với DNVVN =
Dư nợ bình quân DNVVN
(2) Tỷ lệ nợ quá hạn của DNVVN.
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hoạt động cho vay DNVVN của ngân hàngđang gặp khó khăn Cụ thể là ngân hàng có nguy cơ mất vốn, khả năng thanhtoán và lợi nhận của ngân hàng suy giảm Dựa trên chỉ tiêu này, các ngân hànglập ra cho mình những chính sách, chiến lược cụ thể nhằm hạn chế những rủi ro
có thể gặp phải (như thu hẹp tín dụng đối với DNVVN…)
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng nguồn vốn huy động
e Một số chỉ tiêu khác đánh giá mức độ mở rộng hoạt động tín dụng đối vớiDNVVN
(1) Các ngành nghề hoạt động của DNVVN mà ngân hàng cho vay.
Tiêu thức này xem xét trong những thời kỳ khác nhau thì các lĩnh vực hoạtđộng của DNVVN mà ngân hàng cho vay có được mở rộng, bổ sung hay không?Những lĩnh vực hoạt động bao gồm: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại vàdịch vụ…
Trang 27(2) Các loại hình DNVVN mà ngân hàng cho vay.
Các loại hình này có được bổ sung, mở rộng hay không? Các loại hìnhDNVVN chủ yếu gồm: CTCP, CTTNHH, HTX, doanh nghiệp tư nhân…
(3) Mở rộng hình thức tín dụng.
Các hình thức tín dụng của ngân hàng có được bổ sung mở rộng haykhông? Các hình thức tín dụng chủ yếu bao gồm: cho vay, cho thuê tài chính,bảo lãnh, bao thanh toán, chiết khấu
(4) Số lượt vay của một doanh nghiệp là nhiều hay ít.
Tiêu thức này cho biết nhu cầu vay vốn tại ngân hàng của khách hàng vàviệc đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng như thế nào Tuy nhiên mức độvay của khách hàng phụ thuộc vào nhu cầu vay của từng doanh nghiệp Mặc dùvậy chúng ta vẫn có thể tính được số bình quân Tức là bình quân một doanhnghiệp vay ngân hàng bao nhiêu lần Tuy nhiên chỉ tiêu này rất khó có thể đánhgiá được
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng mở rộng tín dụng ngân hàng đối với các DNVVN
a Sự tác động của môi trường vĩ mô
* Sự tác động của môi trường kinh tế.
Ngân hàng là một chủ thể trong nền kinh tế Đặc biệt, nó đóng vai trò làtrung gian của nền kinh tế, là cầu nối giữa các khu vực khác nhau của nền kinh
tế Chính vì vậy, sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh tế sẽ tác động mạnh
mẽ đến hoạt động của ngân hàng Nếu môi trường kinh tế ổn định, nền kinh tếtrong giai đoạn hưng thịnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN trongviệc kinh doanh và đạt lợi nhuận cao, các doanh nghiệp này sẽ tăng cường vayvốn để mở rộng sản xuất kinh doanh Kết quả kinh doanh tốt sẽ giúp cácDNVVN có khả năng thực hiện đúng các cam kết tín dụng với ngân hàng Từ đóngân hàng có điều kiện hơn trong việc mở rộng tín dụng để đáp ứng ngày một tốthơn nhu cầu tín dụng của các DNVVN
* Sự tác động của môi trường chính trị.
Trang 28Trong một môi trường chính trị ổn định, các DNVVN sẽ yên tâm sản xuấtkinh doanh và có khả năng tăng cường mở rộng sản xuất, kết quả kinh doanhcao, cầu tín dụng tăng lên và cùng với đó khả năng mở rộng tín dụng với cácDNVVN của ngân hàng cũng tăng lên.
* Sự tác động của môi trường pháp lý.
Một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất với các văn bản phápluật điều chỉnh hoạt động tín dụng ngân hàng liên quan đến việc cấp tín dụngcho các DNVVN sẽ thực sự là kim chỉ nam giúp các ngân hàng có cơ sở để tiếnhành hoạt động của mình một cách trôi chảy cũng như có điều kiện mở rộng tíndụng cho các DNVVN hơn Ngoài ra, với chính sách pháp luật tạo ra được sânchơi bình đẳng cho các DNVVN với các thành phần kinh tế khác về mọi lĩnhvực sẽ là một trong những nhân tố giúp cho các DNVVN dễ dàng tiếp cận cácnguồn vốn, trong đó có nguồn vốn tín dụng ngân hàng
* Sự tác động của môi trường tự nhiên.
Môi trường tự nhiên không thuận lợi như hạn hán, lũ lụt, động đất, hỏahoạn…sẽ dẫn tới giảm đầu tư trong nền kinh tế, gây khó khăn cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và các DNVVN nói riêng Điềunày không chỉ ảnh hưởng tới việc giảm doanh số cho vay của ngân hàng mà cònảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng Từ đó, chất lượng tín dụng cũngnhư khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng giảm sút
* Sự tác động của môi trường văn hóa - xã hội.
Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa được tạo lập từ những thói quen của người dân
và nó ảnh hưởng rất lớn đến lĩnh vực hoạt động, khả năng tiêu thụ hàng hóa củacác DNVVN cũng như khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
do đó nó ảnh hưởng ít nhiều đến việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối vớiDNVVN Ngoài ra, môi trường văn hóa - xã hội còn tác động tới tư cách đạo đứccủa người vay hay sự sẵn lòng trả nợ của người vay, mà đây lại chính là cơ sởcho ngân hàng tiếp tục mở rộng tín dụng đối với khách hàng
* Sự tác động của môi trường công nghệ.
Trang 29Công nghệ phát triển với tốc độ cao giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội sửdụng công nghệ tiên tiến phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh, đem lại kết quảtốt làm tăng năng lực của các doanh nghiệp Nhưng nó lại khiến các doanhnghiệp yếu kém, đặc biệt là các DNVVN với trình độ, năng lực hạn chế sẽ gặpkhó khăn trong việc tiếp cận cũng như ứng dụng công nghệ, bởi chi phí cho việcđổi mới công nghệ là rất lớn Dẫn đến việc các DNVVN bị yếu thế trong cạnhtranh, khả năng trả nợ vay ngân hàng cũng như tiếp cận với cơ hội vay trongtương lai có thể gặp trở ngại, và điều đó làm cho khả năng mở rộng tín dụngngân hàng đối với các doanh nghiệp này bị giảm đi.
b Sự tác động của môi trường vi mô
Một thực tế hết sức bất cập hiện nay là trong khi nguồn vốn tín dụng củaNHTM, vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, vốn tài trợ của các tổ chức nướcngoài dành cho các DNVVN rất dồi dào thì việc tiếp cận, khai thác cơ hội từ cácnguồn vốn này của các DNVVN lại rất hạn chế
DNVVN ở nước ta chiếm 97% trong tổng số gần 300,000 doanh nghiệp,đóng góp khoảng 26% GDP, tạo ra khoảng 77% việc làm phi nông nghiệp Cóvai trò như vậy, nhưng hiện nay các doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăntrong vay vốn sản xuất - kinh doanh Về lý thuyết, số lượng DNVVN đông đảovới đặc thù ít vốn chính là đối tượng khách hàng đầy tiềm năng của các ngânhàng Bằng chứng là, ước tính có đến 80% lượng vốn cung ứng cho DNVVN là
từ kênh ngân hàng, song theo một điều tra mới đây của Cục phát triển doanhnghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy chỉ có 32.38% DNVVN có khả năngtiếp cận được nguồn vốn của các ngân hàng, 35.24% khó tiếp cận và 32.38%không tiếp cận được Rõ ràng là, giữa DNVVN và các ngân hàng vẫn còn cókhoảng cách mà không bên nào muốn Nguyên nhân là do giữa ngân hàng vớicác DNVVN còn tồn tại rất nhiều rào cản dẫn tới cung và cầu chưa có tiếng nóichung
Trang 30* Những khó khăn từ phía các ngân hàng khi cho vay DNVVN
Thiếu thông tin tài chính tin cậy về DNVVN Hiện nay, Trung tâm tíndụng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC) là tổ chức duy nhất thực hiệncông tác thu thập thông tin của các khách hàng có quan hệ tín dụng với tất cả các
tổ chức tín dụng Trên thực tế, các thông tin hiện có của CIC có độ cập nhậtkhông cao và các chỉ tiêu còn chung chung Điều đó ảnh hưởng lớn tới khả năngđánh giá và thẩm định khách hàng của ngân hàng
Các ngân hàng luôn gặp khó khăn trong quá trình thẩm định các dự áncho vay đối với các DNVVN ở vấn đề lựa chọn công nghệ phù hợp Các doanhnghiệp thường có quy mô nhỏ cả về mặt tài chính, mặt bằng sản xuất, trình độnhân lực… nhưng khi lập dự án đều đưa vào các loại thiết bị, máy móc rất đắttiền, trong khi họ có thể lựa chọn các loại máy móc với công nghệ tương tự, giáthành rẻ hơn để đảm bảo tính hiệu quả của dự án
Tâm lý đặt an toàn cao hơn hiệu quả kinh doanh, do đó, phần lớn thủ tụccho vay dựa trên tài sản bảo đảm, trong khi đó hầu hết các DNVVN tài sản rấtnhỏ, bình quân giá trị khoảng 1.8 tỷ đồng/ doanh nghiệp Hơn nữa yêu cầu khắtkhe của ngân hàng về tài sản đảm bảo, nhất là việc định giá tài sản bảo đảm dẫnđến tỷ lệ cho vay thấp
Trình độ cán bộ tín dụng còn nhiều bất cập bởi các DNVVN hoạt động đadạng phong phú trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế trong khi cán bộ tín dụngthiếu kiến thức tổng hợp về các lĩnh vực, ngành nghề cho vay dẫn tới việc chưađánh giá đúng DNVVN, chưa dám mạnh dạn cho vay với đối tượng khách hàng
đa dạng và phức tạp này vì sợ rủi ro cao
Thiếu sự hỗ trợ, thiện chí giúp đỡ từ chính quyền địa phương, bên bảolãnh khi cán bộ tín dụng cần đánh giá, xác minh tài sản và cam kết của ngườivay
Các thủ tục cho vay rườm rà, quá trình thẩm định và xét duyệt cho vaykéo dài, chậm trễ, làm tốn thời gian, công sức của DNVVN thậm chí có thể làm
lỡ mất cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp này
Trang 31 Một số ngân hàng còn thụ động trong việc tiếp cận, nắm bắt, phân tíchhoạt động của DNVVN Chính sách khách hàng chưa rõ, chưa sát, thể hiện trongquy định về xếp loại khách hàng; về cho vay, lãi suất, đều chưa có các quy định
cụ thể theo từng thị trường Thêm vào đó, sản phẩm trọn gói cho DNVVN cònđơn điệu, hạn chế, chưa đáp ứng được một cách tốt nhất nhu cầu của cácDNVVN
Bên cạnh các chính sách tài sản thế chấp khắt khe, các thủ tục hành chínhphức tạp, thì bản thân các ngân hàng chưa thực sự có những chính sách ưu tiên
cụ thể đối với các DNVVN hoặc nếu có, thì đó mới chỉ dừng lại trên giấy tờ,chính sách chung chung Hiện nay mới chỉ có một số ngân hàng xây dựng chiếnlược và giải pháp kinh doanh cụ thể nhằm vào nhóm đối tượng này
Tâm lý các ngân hàng cũng không muốn cho vay những dự án nhỏ lẻ,phân tán, khó quản lý, đặc biệt là đối với các DNVVN mới thành lập, chưa cólịch sử tín dụng rõ ràng với ngân hàng vì sợ rủi ro cao
* Những khó khăn của DNVVN khi vay vốn ngân hàng
Năng lực nội tại của các DNVVN yếu, các hệ số tài chính được tính toánqua loa, không đủ đảm bảo theo yêu cầu của ngân hàng, không xác định rõ đượcdòng tiền lưu chuyển bởi vậy không tính toán được đúng khả năng trả nợ trongtương lai Một số lớn các DNVVN lập phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh,
dự án đầu tư còn mang nặng tính chủ quan, áp đặt của lãnh đạo doanh nghiệp,hoặc dựa trên kinh nghiệm thuần túy
Quy mô hoạt động nhỏ, năng suất lao động chưa cao do trình độ tay nghềcủa người lao động thấp, hoạt động kinh doanh chưa có hiệu quả dẫn tới lợinhuận để lại thấp từ đó ảnh hưởng tới khả năng trả nợ vay ngân hàng
Các DNVVN có thời gian hoạt động chưa lâu, hầu hết mới chỉ đượcthành lập trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, số lượng doanh nghiệp cótuổi đời dưới 2 năm chiếm khoảng 60% tổng số khách hàng bởi vậy chưa gâydựng được uy tín, thương hiệu trên thị trường cũng như đối với ngân hàng
Chưa có chiến lược kinh doanh lâu dài, bài bản Bản thân chủ nhữngDNVVN mới thành lập cũng không chắc lắm về chiến lược kinh doanh của
Trang 32chính mình Nhiều doanh nghiệp hoạt động theo kiểu được đến đâu hay đến đấy.Chính vì vậy, xác suất để họ thực hiện thành công chiến lược kinh doanh củamình là khá thấp.
Nội dung của phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư đôikhi được thiết lập sơ sài, bởi vậy thiếu thuyết phục ngân hàng khi xem xét thẩmđịnh cho vay
Báo cáo tài chính hầu hết không đủ độ tin cậy, không rõ ràng, minh bạch;nhiều DNVVN không thực hiện đúng chế độ thống kê kế toán, số liệu phản ánhkhông chính xác tình hình sản xuất kinh doanh tài chính của mình khiến ngânhàng không nắm được thực trạng kinh doanh của các doanh nghiệp này Mộtthực tế phổ biến hiện nay là hiểu biết về kế toán, các chuẩn mực kế toán cũngnhư hiểu biết về lĩnh vực kiểm toán của các DNVVN còn rất hạn chế Chủ doanhnghiệp chưa hiểu rằng, nếu áp dụng đúng chuẩn mực kế toán, kiểm toán vào báocáo tài chính thì việc tiếp cận nguồn vốn sẽ đơn giản hơn, bởi hoạt động sản xuấtkinh doanh sẽ đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng
Không có đủ TSĐB, hoặc không chứng minh được quyền sở hữu hợppháp với TSĐB, không có người bảo lãnh Nhiều DNVVN, nhất là các CTTNHH, tài sản pháp nhân và tài sản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên ngânhàng rất khó thẩm định, đánh giá về năng lực thực sự của khách hàng
Chưa có tín nhiệm với ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay và trả nợđúng hạn Một trong những nguyên tắc cho vay của ngân hàng là doanh nghiệpvay vốn phải cam kết sử dụng vốn đúng mục đích và trả nợ đúng hạn Nhưnghiện nay tình trạng nhiều doanh nghiệp sau khi nhận tiền vay cố tình sử dụngvốn sai mục đích, lừa đảo, trốn tránh trách nhiệm trả nợ xuất hiện khá nhiều lạicàng làm cho ngân hàng e ngại hơn, thận trọng hơn khi cho vay đối tượng kháchhàng này
Ở một số DNVVN, việc điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo thiếubài bản, mang nặng tính gia đình Trong quan hệ với ngân hàng còn thiếu kinhnghiệm, việc bố trí cán bộ quan hệ giao dịch với ngân hàng không hợp lý, cán bộ
Trang 33có tư tưởng e ngại, thiếu tự tin trong quan hệ, khả năng thuyết trình, đàm phánvới ngân hàng
Các DNVVN không hiểu rõ về cơ chế tín dụng của NHTM, có tâm lý sợthủ tục vay vốn của ngân hàng rườm rà, phức tạp, việc giải quyết cho vay củangân hàng khó khăn Phần lớn các DNVVN thiết lập thủ tục vay vốn của ngânhàng không đúng quy định mà ngân hàng yêu cầu
Như vậy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng mở rộng tín dụngngân hàng đối với các DNVVN Vì vậy, để đạt được mục tiêu mở rộng tín dụngvới những khách hàng tiềm năng - DNVVN, các ngân hàng cần phối hợp vớiDNVVN cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra những giải pháp thíchhợp nhằm xóa bỏ những rào cản giữa ngân hàng với DNVVN
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI PGD LÒ ĐÚC - CHI NHÁNH NGÂN HÀNG VIỆT
NAM THƯƠNG TÍN HÀ NỘI.
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG VIETBANK VÀ PGD LÒ ĐÚC – CHI NHÁNH HÀ NỘI.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tham gia thị trường Tài chính - Ngân hàng chưa lâu nhưng với đội ngũ Ban lãnh đạo giàu kinh nghiệm trong điều hành, quản lý cùng với đông đảo nhânviên trẻ, năng động và được đào tạo bài bản về chuyên ngành đã làm nên những thành công bước đầu cho Ngân hàng Việt Nam Thương Tín
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín (VIETBANK) được thành lập tháng 12 năm 2006, có trụ sở chính tại 35 Trần Hưng Đạo, TP Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tham gia thành lập Ngân hàng Việt Nam Thương Tín bao gồm những cổ đông có tiềm lực mạnh về tài chính, giàu kinh nghiệm trong quản trị và điều hành ngân hàng như Ngân hàng Á Châu, Công ty Đầu tư và Pháttriển Hoa Lâm, Công ty TNHH Xây Dựng Thương Mại Diệu Hiền và nhiều cổ đông có uy tín khác
Sau gần hai năm đi vào hoạt động, số vốn điều lệ hiện nay của VIETBANK là
1000 tỷ đồng và sẽ điều chỉnh tăng vốn theo lộ trình đã đề ra,tới năm 2010 la
3000 tỷ đồng Với thành tựu bước đầu đạt được, định hướng chiến lược trong 5
năm tới VIETBANK sẽ trở thành Ngân hàng hoạt động theo mô hình ngân hàng thương mại có quy mô, đa năng, hiện đại, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, đủ khả năng để cạnh tranh và phát triển trong giai đoạn mới Để
đạt được mục tiêu này, toàn thể Ban lãnh đạo và nhân viên VIETBANK đang nỗ lực không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực và đặc biệt là đang chuẩn bị xây dựng một mạng lưới cơ sở hạ tầng hoạt
Trang 35động khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng
đa dạng của khách hàng
Là 1 ngân hàng trẻ nên Vietbank luôn tham gia hợp tác cùng những ngânhàng lớn khác , với mục đích học hỏi và tận dụng kinh nghiêm của những ngânhàng đi trước Ngày 18/2/2009 ngân hàng vietbank và ngân hàng ACB (ngânhàng á châu) ký kết hợp tác toàn diện Theo thỏa thuận này, ACB sẽ hỗ trợ toàndiện về mọi mặt cho Vietbank,cụ thể là ACB hỗ trợ, tư vấn cho vietbank vềchiến lược phát triển ngân hàng, về quản trị điều hành, về công nghệ ngân hàng,chuyển giao và liên kết các sản phẩm tài chính,ngân hàng, về nguồn vốn vànghiệp vụ tín dụng, về đào tạo nhân sự cho vietbank
Trong quá trình hình thành và phát triển, VietBank luôn chú ý đến việc mởrộng quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động tại các thành phố lớn Ngày26/2/2009 VietBank khai trương chi nhánh Hà Nội tạo số 26 Bà Triệu, phườngTràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Chi nhánh Hà Nội là chi nhánh đầu tiêntại miền Bắc đi vào hoạt động đánh dấu mốc quan trọng trong kế hoạch pháttriển kênh phân phối của ngân hang, cũng trong năm này phòng giao dịch LòĐúc ra đời Ngày 12/3/2009 Vietbank khai trương chi nhánh Cần Thơ tại số 101Nguyễn Trãi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Ngày 28/10/2010, Ngân hàngViệt Nam Thương Tín (VIETBANK) tiếp tục khai trương Phòng giao dịch SơnTrà tại 615 Ngô Quyền, P.An Hải Đông, Q.Sơn Trà, Tp Đà Nẵng VIETBANKSơn Trà là điểm hoạt động thứ 71 của VIETBANK trên cả nước và là điểm hoạtđộng thứ 7 của VIETBANK tại Đà Nẵng Đến nay các điểm giao dịch củaVIETBANK đã có mặt rộng khắp thành phố Đà Nẵng, đáp ứng nhu cầu của cộngđồng doanh nghiệp và các cư dân
Số lượng nhân viên của VietBank trên toàn hệ thống đến nay là 590 người, trong đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có trình độ Đại học và trên Đại học (chiếm 81%) Với đội ngũ cán bộ, nhân viên năng động, nhiệt tình và có trình độ
Trang 36nghiệp vụ cao, nguồn nhân lực của VietBank luôn được đánh giá cao và sẽ là một trong những tiền đề cho sự phát triển của Ngân hàng trong tương lai
Năm 2008 mặc dù thị trường tài chính gặp nhiều khó khăn nhưng kết quả kinhdoanh của Vietbank vẫn rất khả quan, không thua kem nhiều ngân hàng có lịch
sử nhiều năm hoạt động Ngày 21/9/2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cóCông văn số 7135/NHNN-TTGSNH thông báo ý kiến của Thống đốc Ngân hàngNhà nước về việc tăng vốn điều lệ năm 2010 của Ngân hàng Thương mại Cổphần Việt Nam Thương Tín (VietBank)
Theo đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận việc VietBank tăng vốnđiều lệ năm 2010 từ 1.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng theo phương án tăng vốnđiều lệ năm 2010 đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên ngày 09/4/2010thông qua và được Hội đồng Quản trị VietBank bổ sung, chỉnh sửa theo Nghịquyết số 407/TCNQ-PC.10 ngày 07/8/2010
Chi nhánh Hà Nội được thành lập vào tháng 2 năm 2009 Phòng giao dịch(PGD)Lò Đúc được thành lập vào tháng 11 năm 2009 Mặ dù mới thành lậpnhưng PGD đã đạt đựoc những tiến bộ vượt bậc
2.1.2 Mô hình tổ chức và nhân sự của PGD Lò Đúc - chi nhánh VIETBANK Hà Nội
Giám đốc của PGD
Trưởng bộ phận kinh
doanh
Trưởng bộ phận giao dịch viên
Cán bộ tín
dụng
Cán bộ hỗ trợ dụng
quỹ
Trang 372.2 Những hoạt động kinh doanh của PGD Lò Đúc – chi nhánh Hà Nội trong 3 quý đầu năm 2010.
Hoạt động kinh doanh của PGD Lò Đúc – chi nhánh Hà Nội từ 2009 đến nay bên cạnh thuận lợi còn gặp nhiều khó khăn Hoạt động kinh doanh của ngân hàng từ 2009 đến nay đã đạt được kết quả đáng phấn khởi, đời sống của nhân viên năm sau được nâng cao hơn so với năm trước, góp phần vào sự nghiệp phát triển của nền tài chính Việt Nam
a Hoạt động huy động vốn
Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh, nó quyếtđịnh quy mô tín dụng, năng lực thanh toán và uy tín của ngân hàng trên thịtrường Một trong những đặc trưng riêng của ngân hàng là vốn tự có chiếm tỷtrọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn vì vậy Ban giám đốc PGD luôn coi trọnghoạt động huy động vốn dưới mọi hình thức nhằm đảm bảo cho nguồn vốn tăngliên tục và ổn định, đáp ứng vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Bằngviệc không ngừng mở rộng mạng lưới giao dịch, tạo điều kiện thuận lợi chokhách hàng… nên thời gian qua hoạt động huy động vốn của PGD đã đạt đượcnhững thành công nhất định
Tổng nguồn vốn huy động liên tục tăng qua các năm đặc biệt tăng mạnhtrong năm 2009 và 3 quý đầu năm 2010 Nguyên nhân là trong thời gian nàyPGD đã chủ động triển khai nhiều giải pháp để thu hút nguồn vốn, áp dụng đadạng các hình thức gửi tiền, triển khai kịp thời các đợt phát hành kỳ phiếu tiếtkiệm dự thưởng kèm theo quà khuyến mại, chủ động quảng cáo, đẩy mạnh côngtác tiếp thị…vốn nộp về VietBank cao nhất từ trước đến nay
Hoạt động huy động vốn là một hoạt động quan trọng của Ngân hàng, nó là
tiền đề, là cơ sở quyết định hiệu qủa hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Cómột nguồn vốn với cơ cấu hợp lí, chi phí thấp là một thế mạnh mà các Ngânhàng luôn luôn hướng tới Từ quan điểm đó, Ngân hàng VietBank đã chủ động,tích cực khai thác các nguồn vốn bằng nhiều biện pháp thích hợp nên Ngânhàng đã có sự tăng trưởng ổn định nguồn vốn của mình
Trang 38Bảng 1: CƠ CẤU NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA PGD LÒ ĐÚC - CHI
NHÁNH VIETBANK HÀ NỘI 3 QUÝ ĐẦU NĂM 2010
Năm 2010 qúy 2
Năm 2010 quý 3
So sánh quý 2/quý 1
So sánh quý 3/ quý 2
TCKT
4800 15 12.410 17 21.850 18 7610 158,54 9440 76,1 Tiền gửi
TCTD
Theo số liệu cho thấy, nguồn vốn huy động quý 1 là 32.000 triệu đồng,quý 2 là 73.000 triệu đồng, tăng 41.000 triệu đồng, tăng 140,29% Trong quý 2tổng nguồn vốn huy động là 57.670 triệu đồng, tăng 89.12 % so với quý1, cònquý 3 tăng lên 7.870triệu đồng Từ những con số trên cho thấy VietBank ngày
Trang 39càng chú trọng đến công tác huy động vốn, uy tín của VietBank đối với kháchhàng không ngừng được tăng lên Trong cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng thìchủ yếu là từ dân cư, tiền gửi của doanh nghiệp chiếm tỉ trọng tương đối nhỏ.Điều này cũng dễ hiểu bởi vì mục tiêu khách hàng chính của VietBank là hướngtới khách hàng dân cư Huy động vốn bằng nội tệ chiếm đa số do với ngoại tệ,điều đó cũng do đặc thù của chi nhánh Lò Đúc
- Về tổng nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế : Nguồn vốn tăngtrưởng cao trong đó tăng trưởng tiền gửi của dân cư và tiền vay của các tổ chứctín dụng Tiền gửi của dân cư liên tục tăng qua các quý đầu năm 2010 Điều nàycho thấy PGD đã chiếm được lòng tin của khách hàng, đặc biệt là công tác quản
lý tiền gửi của dân cư được PGD thực hiện thường xuyên nghiêm túc qua đótránh được sai sót, đảm bảo an toàn chính xác nguồn tiền gửi này của PGD liêntục tăng Tiền gửi dân cư luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và giảm dần qua các quý.Tuy nhiên do tốc độ tăng của tổng nguồn vốn huy động tăng nhanh nên quý 2tiền gửi dân cư tăng 33.390 triệu đồng , tuơng ứng với tỷ lệ tăng là 122,76%.Quý 3 tăng 32.50 triệu đồng tuơng ứng với tỷ lệ tăng là 53,74% Tiền gửi dân cưgiảm dần qua các quý nguyên nhân do 1 phần nền kinh tế 2010 không ổn định.Giá vàng liên tục đạt những kỷ lục mới , thị trường chứng khoán ảm đạm Nhàđầu tư trong dân cư rút tiền từ ngân hàng đầu tư vào lĩnh vực khác Tiền gửi tổchức kinh tế tăng lên cũng do dòng vốn khó quay vòng, vốn ứ đọng do đó tăng
tỷ lệ phần trăm qua các quý Quý 2 tăng 710 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng
là 158,54%, quý 3 tăng 9.440 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 76,1% Tiềngửi tổ chức tín dụng là không có, phản ánh sự thiếu hụt vốn của các tổ chức tíndụng trong thời gian này
- Về huy động vốn phân theo thời gian: Xét về thời hạn thì nguồn vốnngắn hạn và trung dài hạn đều có xu hướng tăng và có tỷ trọng tương đương.Nhìn chung tiền gửi có kỳ hạn luôn chiếm tỷ trọng cao và không ngừng gia tăng.Điều đó cũng là dễ hiểu vì lãi suất huy động trong thời gian qua không ngừngtăng cao và sự khó khăn trong nền kinh tế khiến tiền không kỳ hạn để giao dịchgiảm xuống Tiền gửi có kỳ hạn quý 2 tăng 3.310 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ
Trang 40tăng là 133,49% Quý 3 tăng 4.909 triệu so với quý 2, tương ứng với tỷ lệ tăng l
à 33,3%
- Về huy động phân loại theo tiền gửi: Tiền gửi nội tệ luôn chiếm tỷtrọng cao, tiền gửi ngoại tệ chiếm tỷ trọng thấp hơn và không ngừng giảm về tỷtrọng Tiền gửi nội tệ quý 2 tăng 33.670 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ 140,29%
so với quý 1, quý 3 tăng 34.330 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ 59,53% so vớiquý 2 Ngoại tệ cũng tăng, quý 2 tăng 7.130 triệu tương ứng với tỷ lệ 89,12% sovới quý 1, quý 3 tăng 7.870 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 52,02% Tỷtrọng ngoại tệ huy động giảm so với nội tệ phản ánh sự khan hiếm ngoại tệ trongthời gian qua, giá USD và 1 số đồng tiền mạnh liên tục tăng Lãi suất huy độngngoại tệ ở Việt Nam là khá cao so với các nước khác song vẫn không đủ để đápứng nhu cầu trong nước, tỷ giá vẫn liên tục tăng Phải chăng, điều đó phản ánh
sự đầu cơ về vàng và ngoại tệ đang tăng mạnh?
Như vậy, qua số liệu đã phân tích ở trên đã chứng tỏ PGD Lò Đúc - Chinhánh Hà Nội đã làm tương đối tốt công tác huy động vốn của mình, điều đó sẽ
là một lợi thế để chi nhánh có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu về vốn chokhách hàng và tạo sự chủ động cho phát triển hoạt động kinh doanh của chinhánh, đồng thời góp phần điều hòa chung cho toàn hệ thống
Mặt khác, do đối tượng thu hút vốn chủ yêu là cá nhân nên lượng tiền gửi
có kì hạn là chủ yếu Điều này làm tăng tính ổn định và chủ động cho nguồn vốncủa ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh.Tuy nhiên,Ngân hàng sẽ gặp khó khăn về chi phí huy động vốn Ngân hàng cần chú ý hơnnữa tới nguồn tiền gửi không kì hạn để khai thác lợi thế về chi phí