LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được cuốn luận văn với đề tài "Xây dựng chính sách công nghệ thúc đẩy ứng dụng năng lượng xanh vào trong hệ thống chiếu sáng công cộng, khu dân cư vùng nông thôn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, tháng 01 năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Thanh Trường
Hà Nội, tháng 01 năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được cuốn luận văn với đề tài "Xây dựng chính sách công nghệ thúc đẩy ứng dụng năng lượng xanh vào trong hệ thống chiếu sáng công cộng, khu dân cư vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu", bên cạnh những nổ lực của
bản thân, vận dụng những kiến thức tiếp thu được từ việc giảng dạy của các thầy cô cùng với sự tìm hiểu thêm về tài liệu, thông tin có liên quan đến đề tài, tác giả luôn nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô, những lời động viên khuyến khích từ phía gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn theo suốt trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Ban Đào tạo, Khoa Khoa học Quản lý của trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, đặc biệt xin chân thành cảm
ơn Tiến sĩ Đào Thanh Trường, người đã hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này Tác giả cũng xin cảm ơn các bạn và đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, thông tin để tác giả có thêm kiến thức hữu ích cho luận văn của mình
Nhưng do đề tài nghiên cứu với thời gian và khả năng còn hạn chế, không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô, các bạn và các đồng nghiệp để kiến thức của tác giả trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Người thực hiện
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 7
1 LÝ DO NGHIÊN CỨU 7
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 12
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 12
5 MẪU KHẢO SÁT 12
6 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 12
7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 12
8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
9 LUẬN CỨ 14
9.1 Luận cứ lý thuyết 14
9.2 Luận cứ thực tiễn 14
10 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 14
PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG XANH 15
1.1 Một số vấn đề lý luận về năng lượng 15
1.2 Chính sách công nghệ 26
1.3 Định chế tài chính 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH HIỆN HÀNH ĐỐI VỚI VIỆC ỨNG DỤNG NGUỒN NĂNG LƯỢNG XANH TRONG HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG CÔNG CỘNG, KHU DÂN CƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU 38
2.1 Thực trạng sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng ở Việt Nam 38
2.2 Thực trạng và chính sách hiện hành đối với việc ứng dụng nguồn năng lượng xanh trong hệ thống chiếu sáng công cộng, khu dân cư vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 46
2.3 Nhận dạng các nguồn NLX và các chính sách thúc đẩy trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 48
2.5 Đánh giá chính sách công nghệ đối với nguồn năng lượng xanh trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG NĂNG LƯỢNG XANH BẰNG THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH 61
3.1 Bối cảnh của giai đoạn phát triển 61
3.2 Định hướng và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2011 - 2015 64
3.3 Tác động của việc ứng dụng NLX đối với đời sống KT – XH tỉnh Bạc Liêu 67
3.4 Xây dựng chính sách công nghệ theo hướng định chế tài chính nhằm thúc đẩy ứng dụng nguồn năng lượng xanh trong hệ thống chiếu sáng công cộng, khu dân cư vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 71
3.5 Thực hiện biện pháp chế tài 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 96
KHUYẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 104
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSCC Chiếu sáng công cộng
KDC Khu dân cư
KH&CN Khoa học và công nghệ
KT-XH Kinh tế - xã hội
NLX Năng lượng xanh
TKNL Tiết kiệm năng lượng
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
BẢNG:
Bảng 2.1 Tiềm năng khai thác các nguồn NLX ở Việt Nam trang 36-37 Bảng 2.2 Công suất khai thác NLX để sản xuất điện trang 39 Bảng 2.3 Điện năng tiêu thụ trên địa bàn tỉnh Bạc liêu trang 45 Bảng 2.4 Hệ thống CSCC trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu trang 50 Bảng 2.5 Điện năng tiêu thụ của hệ thống điện CSCC trang 51 Bảng 3.1 Chi phí cho sản xuất điện từ các nguồn NLX trang 67
Trang 7PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 LÝ DO NGHIÊN CỨU
Năng lượng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con người Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng cao Hiện nay, trên thế giới đang dần khan hiếm các loại năng lượng hóa thạch, năng lượng nguyên tử thì
có nguy cơ gây hại cho quá trình sử dụng; do đó, nguồn năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời, gió, biogas…) hay còn gọi là “năng lượng xanh” đang trở nên phổ biến và được phát triển rộng rãi ở các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới Tại Việt Nam, giá xăng dầu tăng, giá điện cũng tăng (vì còn chịu ảnh hưởng chi phí của các cụm phát điện sử dụng Diesel và than đá) kéo theo giá hàng hóa, dịch vụ tăng theo, cho nên việc khai thác những nguồn năng lượng mới thay thế là rất quan trọng, không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng năng lượng của người dân
mà còn đảm bảo phát triển kinh tế xã hội bền vững và liên tục
Điều kiê ̣n vị trí địa lý Viê ̣t Nam rất thuâ ̣n lợi và phù hợp cho sử dụng khai thác nguồn năng lượng mặt trời Với tỷ lê ̣ giờ nắng cao trung bình 6-8h/ ngày, trung bình 9-12 tháng/ năm trên cả nước đặc biệt hiệu quả với khu vực miền Trung
và miền Nam gần đường xích đạo trái đất Nhận thức được tầm quan trọng, lợi thế
và lợi ích của các nguồn năng lượng tái tạo hay còn được gọi là NLX trước nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng tăng phục vụ phát triển kinh tế (với sự gia tăng tiêu thụ điện hàng năm từ 10-15%), gần đây Chính phủ Việt Nam đã xem xét việc nghiên cứu, khảo sát, khuyến khích và hỗ trợ các nhà đầu tư, cả trong và ngoài nước, đầu tư vào các dự án năng lượng xanh
Phát triển năng lượng mới và NLX đã được đưa vào trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định 1855/2007/QĐ-TTg ngày 27/12/2007) Cụ thể, chiến lược đề ra mục tiêu tăng thị phần của năng lượng xanh trong tổng năng lượng thương mại sơ cấp từ 3% năm 2010 lên 5% năm 2020 và 11% năm 2050
Bạc Liêu là một tỉnh có tiềm năng trong việc khai thác nguồn NLX để phục
vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, với số giờ nắng trong năm từ 2.500 – 2.600
Trang 8giờ, tốc độ gió trung bình 5 – 6m/s Việc ứng dụng các nguồn NLX vào quá trình sử dụng điện phục vụ cho CSCC, KDC vùng nông thôn là một vấn đề thiết yếu trong tương lai gần, nhằm góp phần giảm thiểu việc sử dụng nguồn điện từ các nguồn năng lượng hóa thạch, giảm hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, lũ, lụt và các tác động khác gây ảnh hưởng đến môi trường sống
Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu việc ứng dụng NLX trong hệ thống chiếu sáng công cộng, khu dân cư vùng nông thôn còn một số vấn đề như sau:
- Ứng dụng công nghệ mới vào hệ thống CSCC chưa được rộng rãi
- Chương trình thí điểm năng lượng mặt trời, năng lượng gió sử dụng cho vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh đã được triển khai nhưng hiệu quả về ứng dụng chưa sâu rộng
- Chưa triển khai việc ứng dụng rộng rãi các nguồn NLX trong các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, doanh nghiệp, KDC quy hoạch mới
- Còn nhiều rào cản trong việc thực hiện ứng dụng các nguồn năng lượng mới (nhận thức, kinh phí, chuyển giao công nghệ, giám sát, kiểm toán năng lượng…)
- Chưa triển khai các thiết chế cần thiết để thực hiện chủ trương của nhà nước trong việc ứng dụng năng lượng xanh vào trong đời sống xã hội
- Công tác giám sát và kiểm toán về tiết kiệm năng lượng theo quy định chưa đạt hiệu quả cao
- Chính sách tiết kiệm điện chỉ dừng lại trong việc hạn chế điện năng trong
sử dụng; chưa tạo được sự quan tâm của các cấp, các ngành về việc ứng dụng các dạng năng lượng khác để cải thiện và bảo vệ môi trường sống
- Chính sách ưu đãi các nhà đầu tư, khuyến khích hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ và phát triển trong lĩnh vực sản xuất linh kiện, thiết bị phát điện ứng dụng NLX chưa được cụ thể hóa nhằm thu hút được các nhà đầu tư, các nhà sản xuất tiếp cận được với nhu cầu sử dụng của địa phương
Trong tình hình đó, việc lựa chọn đề tài “Xây dựng chính sách công nghệ thúc đẩy việc ứng dụng nguồn năng lượng xanh trong hệ thống chiếu sáng công
Trang 9cộng, khu dân cư vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu” là sự cấp bách, cần
thiết Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn, hy vọng đề tài sẽ góp phần tạo nên tiền đề cho sự phát triển năng lượng xanh nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đời sống
xã hội theo Nghị quyết của tỉnh Bạc Liêu về mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội định hướng đến năm 2015
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chính phủ đã ban hành các Luật và các Quyết định có liên quan đến vấn đề lợi ích và hiệu quả của việc ứng dụng NLX nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng Cụ thể như:
- Luật Chuyển giao công nghệ (Luật số: 80/2006/QH11)
- Luật sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm (Luật số: 50/2010/QH12)
- Quyết định số 130/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 8 năm 2007, Về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch
- Quyết định số 1855/QĐ-TTg, ngày 27 tháng 12 năm 2007, Phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050
- Quyết định số 37/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 6 năm 2011, về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam
- Quyết định số 1244/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 7 năm 2011, Phê duyệt Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ Khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011 – 2015
- Quyết định số 1427/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 10 năm 2012, Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2012 – 2015
Trong cuốn sách “Chính sách sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng ở Việt Nam” do Élisabeth Bourguinat soạn thảo năm 2009 đã đề cập đếm vấn đề năng
lượng và chính sách công, chương trình năng lượng tại đô thị và nhà ở, tình hình quản lý và giao thông đô thị, việc sử dụng năng lượng trong công nghiệp và dịch vụ, hiệu quả năng lượng
Trang 10Ông Nguyễn Đức Cường, Giám đốc Trung tâm Năng lượng tái tạo và Cơ chế phát triển sạch, Viện Năng lượng, Bộ Công Thương, Việt Nam đã có nghiên cứu về
“Tổng quan về hiện trạng và xu hướng của thị trường năng lượng tái tạo của Việt Nam”1
với những nội dung đánh giá hiện trạng tình hình sử dụng năng lượng tái tạo của Việt Nam dựa trên số liệu công suất và sử dụng thực tế đối với từng loại
hình/dạng năng lượng tái tạo và thông qua đó chỉ rõ “việc xem xét khai thác nguồn Năng lượng tái tạo trong giai đoạn tới sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về kinh
tế, xã hội, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường” và khẳng định “khả năng cung cấp các nguồn năng lượng nội địa hạn chế (dự kiến phải nhập than cho điện
từ sau 2015) trong khi tiềm năng nguồn Năng lượng tái tạo của Việt Nam rất lớn kèm theo nhu cầu sử dụng điện và nhiệt cho sản xuất rất cao thì việc xem xét khai thác nguồn Năng lượng tái tạo sẵn có cho sản xuất điện, đồng phát năng lượng (cả điện và nhiệt) là rất khả thi cả về công nghệ lẫn hiệu quả kinh tế và môi trường”
TS Nguyễn Anh Tuấn tại Viện Năng lượng cũng có bài viết về “Chính sách
và giải pháp thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam” với nội dung
nghiên cứu về hiện trạng sử dụng năng lượng tái tạo ở Việt Nam và đưa ra được các gợi ý chính sách liên quan đến giải pháp chính sách hỗ trợ như cơ chế hạn ngạch, cơ chế giá cố định, cơ chế đấu thầu và cơ chế cấp chứng chỉ Trong một nghiên cứu
khác của ông, “Cơ chế khuyến khích năng lượng gió và giá quy định ở Việt Nam”, ông đã đưa ra nhận định “Trong giai đoạn 2005 - 2030, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tăng 4 lần Nhu cầu điện của Việt nam tăng 10%/năm đến năm 2025”
Trong một nghiên cứu thuộc dự án EEP Mêkông (một chương trình được Bộ Ngoại giao Phần Lan và Quỹ Phát triển Bắc Âu tài trợ), Arvo Leinonen thuộc Trung tâm KH&CN Phần Lan và ông Nguyễn Đức Cường thuộc Viện Năng lượng
Việt Nam đã cùng nghiên cứu về “Chuỗi cung cấp các loại sinh khối cho các nhà máy đồng phát năng lượng và các nhà hơi công nghiệp ở Việt Nam” trong đó đã chỉ
ra những nguyên nhân khiến cho Việt Nam mới chỉ sử dụng một phần nhỏ sinh khối mặc dù tiềm năng của sinh khối ở Việt Nam là rất lớn
1
Theo cua-Viet-Nam-5-999.aspx
Trang 11http://ievn.com.vn/tin-tuc/Tong-quan-ve-hien-trang-va-xu-huong-cua-thi-truong-nang-luong-tai-tao-Năm 2010, Trung tâm NLTT và CCPTS, Viện Năng lượng đã thực hiện đề
tài “Nghiên cứu đề xuất ứng dụng năng lượng tái tạo phục vụ nhu cầu sử dụng năng lượng cho các đồn biên phòng vùng sâu, vùng xa” Đây là một nghiên cứu
thiết thực, đáp ứng nhu cầu NL cấp bách cho một đối tượng đặc biệt, đó là tập thể chiến sỹ biên phòng, sống ở vùng không được sử dụng điện từ lưới điện Quốc gia, điều kiện sinh sống gian khổ, góp phần tiết kiệm NK bằng các dạng NLTT tại chỗ
và thân thiện với môi trường
Giai đoạn từ 2010 đến nay, tỉnh Bạc Liêu đã triển khai các dự án ứng dụng năng lượng xanh nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội như:
- Công trình điện gió tại tỉnh Bạc Liêu khởi công vào tháng 9/2010 đến nay
đã hoàn tất khâu lắp đặt 10 tua-bin, công suất khoảng 16MW, hệ thống đường dây truyền tải và trạm nâng áp 110kV đang trong giai đoạn hoàn thiện, dự kiến sẽ phát điện hòa lưới trong năm 2013 Dự án trên được Chính phủ phê duyệt trong dự án quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 – 2015 có xét đến 2025 (quy hoạch điện VII) mang ý nghĩa vĩ mô về cung cấp điện của tỉnh Bạc Liêu nói riêng
và vùng đồng bằng sông Cưu Long nói chung
- Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ năng lượng mặt trời vào các xã đặc biệt khó khăn tỉnh Bạc Liêu” được thực hiện từ năm 2011, kết thúc vào
năm 2013
- Triển khai chương trình tiết kiệm năng lượng cho hệ thống chiếu sáng công cộng từ bóng đèn Compact, bóng đèn huỳnh quang thay thế bằng bóng đèn được Trung tâm Dịch vụ Đô thị thành phố thực hiện từ đầu năm 2012 tại các tuyến đường chính trong thành phố Bạc Liêu
Tuy nhiên, lý thuyết về chính sách công nghệ thúc đẩy ứng dụng NLX trong
hệ thống CSCC, KDC vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu còn mới, chưa có công trình nghiên cứu khoa học và các chính sách thúc đẩy cho vấn đề này, do đó, đây là lần đầu tiên vấn đề ứng dụng NLX trong hệ thống CSCC, KDC vùng nông thôn được đặt ra để tiến hành nghiên cứu cụ thể, khoa học và có hệ thống trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Trang 123 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề xuất được chính sách công nghệ thúc đẩy ứng dụng NLX trong hệ thống CSCC, KDC vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
* Phạm vi nội dung: Nghiên cứu chính sách công nghệ thúc đẩy ứng dụng NLX trong:
- Hệ thống chiếu sáng công cộng
- Khu dân cư vùng nông thôn
5 MẪU KHẢO SÁT
- Trung tâm Dịch vụ đô thị tỉnh và các huyện;
- Điện lực tại thành phố Bạc Liêu và các huyện;
- Khối cơ quan nhà nước;
- Các hộ dân vùng nông thôn;
6 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Chính sách công nghệ được xây dựng theo định hướng nào để thúc đẩy ứng dụng nguồn NLX vào hệ thống CSCC, KDC vùng nông thôn?
7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Chính sách công nghệ được thiết kế theo định hướng xây dựng một định chế tài chính sẽ thúc đẩy ứng dụng nguồn NLX vào hệ thống CSCC, KDC vùng nông thôn
8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tác giả tiến hành nghiên cứu những văn bản chính sách, đề án, chương trình, quy hoạch liên quan đến tiết kiệm năng lượng, sử dụng NLX ở các cấp để tạo cơ sở
lý luận và cơ sở pháp lý cho việc nghiên cứu và thực thi đề tài
Tác giả thu thập những số liệu về tình hình sử dụng điện năng, tình hình sử dụng/ ứng dụng năng lượng xanh qua các năm, các vùng, các lĩnh vực trên địa bàn
Trang 13tỉnh Bạc Liêu, kết hợp với số liệu điều tra thực tế để từ đó có sự so sánh, đối chiếu
và tạo cơ sở thực tiễn cho việc hình thành giải pháp cho nội dung luận văn nghiên cứu
Các tài liệu liên quan đến nội dung về chính sách công nghệ theo định hướng định chế tài chính nhằm thúc đẩy ứng dụng nguồn năng lượng mặt trời trong chiếu sáng công cộng và khu dân cư vùng nông thôn cũng được tác giả quan tâm và nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thực tiễn
Nhằm khảo sát thực tiễn địa phương về tiềm năng phát triển nguồn NLX; khảo sát tình hình thực tế đã áp dụng nguồn NLX vào trong hệ thống CSCC, KDC vùng nông thôn; Các mô hình thí điểm đã áp dụng trên địa bàn; Các chính sách liên quan đến việc áp dụng nguồn NLX trên địa bàn….Và nghiên cứu hiện trạng các mô hình thí điểm việc ứng dụng nguồn NLX đã được triển khai trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đề tài sử dụng 300 phiếu hỏi nhằm thu thập các thông tin về thực trạng tình hình sử dụng năng lượng của các tổ chức công và nhu cầu của người dân, tâm lý và phản ứng xã hội (ủng hộ/không ủng hộ/thờ ơ) đối với chính sách nhằm nâng cao luận cứ về tính khả thi của chính sách và định hướng trong xây dựng chính sách, cung phù hợp với cầu…
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia:
Đề tài sẽ tiến hành phỏng vấn sâu 15 chuyên gia KH&CN, chuyên gia trong lĩnh vực phát triển NLX, chuyên gia môi trường, chuyên gia xã hội học, chuyên gia phân tích và hoạch định chính sách; các lãnh đạo các địa phương… về tiềm năng và định hướng xây dựng chính sách công nghệ thúc đẩy đưa nguồn NLX vào trong dân
cư, tạo điểm nhấn đột phá về chính sách; tính phù hợp của chính sách với nhu cầu
và thực tế phát triển địa phương trong thời gian tới, tính khả thi của chính sách…
Các luận cứ có được từ các phương pháp này sẽ được lấy làm căn cứ làm rõ
và chứng minh được tính khả thi và định hướng đúng đắn của chính sách đối với
Trang 14việc việc ứng dụng nguồn NLX trong hệ thống CSCC, KDC vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
9 LUẬN CỨ
9.1 Luận cứ lý thuyết
- Những chính sách liên quan đến việc phát triển ứng dụng NLX trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Trong đó phân tích sâu chủ trương, chính sách công nghệ thúc đẩy ứng dụng nguồn NLX đối với các tổ chức công,khu dân cư vùng nông thôn
10 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Trang 15PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG XANH
1.1 Một số vấn đề lý luận về năng lượng
1.1.1 Năng lượng
Tổ tiên chúng ta đã biết sử dụng lửa từ hàng nghìn năm trước Khi con người còn sinh hoạt trong hang động thì lửa được sử dụng để chiếu sáng, sưởi ấm và nấu nướng Nguồn năng lượng động lực trong thời kỳ đó là sức người và gia súc
Sau đó, nhờ sử dụng lửa, tổ tiên chúng ta đã làm ra được đồ gốm và các công
cụ bằng kim loại Với những công cụ đó, con người đã thực hiện được các hoạt động sản xuất như canh tác, trồng trọt và chăn nuôi, qua đó các cộng đồng xã hội được hình thành Có thể nói rằng, lửa chính là xuất phát điểm của nền văn minh nhân loại Vào cuối thế kỷ 18, ở Anh đã phát minh ra máy hơi nước dùng nhiên liệu than đá Từ đó, cuộc cách mạng về động lực bùng nổ và dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp
Hơn nữa, với kỹ thuật của động cơ đốt trong và sử dụng điện ở thế kỷ 19, nhiều phát minh có tính bước ngoặt đã ra đời, đẩy mạnh sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, tạo ra một xã hội thịnh vượng và tiện nghi như ngày nay Hiện tại, ở các nước phát triển tiên tiến, tiêu thụ năng lượng bình quân trên đầu người cao hơn 50 lần so với xã hội cổ đại và cao hơn 10 lần so với thời điểm trước cuộc cách mạng công nghiệp
Các nguồn mà con người có thể thu năng lượng:
- Than đá, dầu, khí tự nhiên (nhiên liệu hóa thạch)
- Uranium (nhiên liệu hạt nhân)
Trang 16Và trong số đó nhiên liệu hóa thạch được sử dụng phổ biến và nhiều nhất hiện nay Tài nguyên thiên nhiên như than đá, dầu, khí có được do thực vật và vi sinh vật sinh trưởng từ xa xưa, trải qua những biến động của vỏ Trái Đất trong một thời gian dài, thì được gọi là nhiên liệu hóa thạch
Nhiên liệu hóa thạch cung cấp năng lượng cho những phương tiện giao thông, các nhà máy công nghiệp, sưởi ấm các tòa nhà và sản sinh ra điện năng phục
vụ đời sống con người Cho đến nay, con người đã sử dụng một lượng rất lớn nhiên liệu hóa thạch như than đá và dầu để đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế và hiện đang phải phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch, chiếm khoảng 80% nguồn cung cấp năng lượng sơ cấp
Tuy nhiên nhiên liệu hóa thạch không phải là vô hạn
- Người ta cho rằng còn có thể khai thác dầu trong 40 năm nữa Số năm có thể khai thác này được tính bằng cách chia trữ lượng đã biết cho sản lượng khai thác hàng năm hiện nay
- Số năm có thể khai thác của khí tự nhiên dự đoán là khoảng 60 năm Tài nguyên khí tự nhiên, so với tài nguyên dầu có ưu điểm là có thể đảm bảo được một lượng nhất định trong khu vực Đông Nam Á và thời gian khai thác cũng lâu hơn Thực tế là gần 70% trữ lượng được đảm bảo phụ thuộc vào khu vực Trung Đông và Liên Xô cũ Số năm còn có thể khai thác than là khoảng 230 năm
Năng lượng hóa thạch gây ô nhiễm môi trường
Nhiên liệu hóa thạch như dầu, than, khí tự nhiên khi đốt cháy sẽ thải ra CO2, ôxít sunphua (SOx), ôxít nitơ (NO2), Methane (CH4), nitơ oxit (N2O)… Những khí này là nguyên nhân dẫn đến một số hậu quả to lớn đối với môi trường sống và ảnh hưởng trực tiếp đến chính con người
+ Mưa axit SOx, NOx trong khí thải từ các nhà máy và ôtô của lục địa đã tạo
ra các phản ứng hóa học trong không khí, sau đó di chuyển, rồi tạo ra mưa axít làm tiêu trụi các cánh rừng, tiêu diệt các sinh vật trong ao hồ, gây tác hại to lớn cho sản xuất nông nghiệp Hiện tượng này lúc đầu xuất hiện ở Bắc Âu, sau đó, liên tiếp xuất hiện ở khu vực Trung Âu cho đến tận khu vực Bắc Mỹ và gần đây đã xuất hiện ở cả
Trang 17những khu vực công nghiệp tập trung của Trung Quốc Tác hại do ô nhiễm không khí đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia và lan ra một khu vực rộng lớn Đối sách phòng chống hiện tượng này là cần phải có sự hợp tác của cộng đồng quốc tế
+ Sự nóng lên toàn cầu: Những loại khí như CO2,CH4, N2O thải ra trong quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch là nguyên nhân lớn nhất cho vấn đề ấm lên của Trái Đẩt
Thay đổi thời tiết có khả năng đưa tới bất ổn chính trị Hạn hán và
hồng thủy liên tục xảy ra khiến cho dân chúng tại nhiều địa phương phải bỏ nơi chôn rau cắt rốn di chuyển đi nơi khác Băng đá tan, nước biển dâng lên cao, gây ra lụt lội, lở đất dọc theo đại dương và giảm nước ngọt cần thiết cho mọi sinh vật Giông tố bão lụt tăng độ ẩm trên mặt đất Hạn hán gây thiệt hại canh tác, chăn nuôi Nhiều sinh vật quý hiếm sẽ bị tiêu diệt dần dần vì chúng không tồn tại được trong thời tiết quá nóng cũng như tăng độ acid trong nước biển
Trong tương lai, sức nóng có thể tăng khí thải nhà kính bằng cách làm cho các khí này thoát ra khỏi nơi tích tụ dưới biển
Ảnh hưởng của hâm nóng toàn cầu đối với sức khỏe con người là điều rất rõ
Theo WHO, các bệnh gây ra do thay đổi khí hậu sẽ tăng lên gấp đôi vào thập niên 2030 Các sinh vật mang mầm bệnh như sốt rét, viêm não, sốt vàng da sẽ gia tăng vì chúng hợp với khí hậu nóng Khí hậu nóng lên tạo điều kiện tốt cho muỗi và
vi khuẩn, những tác nhân gây bệnh sốt xuất huyết và viêm não ở người
Thời gian lạnh sẽ thu ngắn nhưng thời gian nóng tăng, đưa tới nhiều tử vong
vì say nóng (heat stroke) Mùa hè năm 2003 tại Pháp với 14,842 tử vong vì nóng tới 40°C là một thí dụ Những người đang có bệnh tim mạch mà gặp thời tiết nóng bức thì bệnh tình gia tăng vì tim phải làm việc nhiều hơn để giữ cơ thể mát Ung thư ngoài da tăng vì tiếp cận quá nhiều với tia nắng mặt trời Một số nhà khoa học cho rằng, thời tiết nóng giúp cho sự tăng sinh của các loại tảo ở dưới nước, đặc biệt là khi nước bị ô nhiễm Từ đó một số bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy sẽ xảy ra nhiều hơn
Trang 18 Năng lượng hóa thạch là nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp trên thế giới
Tranh chấp khí đốt giữa Nga – Ukraine – EU
- Tranh chấp những giếng dầu và khí đốt trên vùng Trung Á giữa Mỹ, Tây
Âu và Nga
- Tranh chấp những giếng dầu ở Trung Đông
- Tranh chấp khí tự nhiên và dầu giữa các quốc gia Mỹ, Canada, các nước Bắc Âu và Nga ở Bắc Cực
Chính những tranh chấp này dẫn đến bất ổn trên toàn thế giới và ảnh hưởng lớn đến hòa bình thế giới Do đó, chính những lý do trên dẫn đến cần phải tìm những nguồn năng lượng khác thay thế nguồn năng lượng hóa thạch này và các nguồn NLX là một lựa chon hợp lý nhất
1.1.2 Năng lượng xanh
“Năng lượng xanh” hay còn được gọi là “năng lượng bền vững” hoặc “năng lượng tái tạo” Có một số định nghĩa về “năng lượng xanh”:
“Trên thực tế, việc sử dụng năng lượng mà khả năng đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai….Năng lượng bền vững có hai yếu tố chính: năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng” 2 ("Effectively, the provision of energy such that it meets the needs of the present without compromising the ability of future generations to meet their own needs .Sustainable Energy has two key components: renewable energy and energy efficiency)
J W Tester cho rằng: “Sự linh hoạt hài hòa giữa khả năng sẵn sàng cung ứng hàng hóa và dịch vụ giàu năng lượng cho tất cả mọi người và bảo vệ trái đất cho các thế hệ tương lai” và “giải pháp nằm ở việc tìm kiếm những nguồn năng lượng bền vững và các cách thức hiệu quả hơn trong việc chuyển đổi và sử dụng năng lượng”3
(“Dynamic harmony between equitable availability of
Trang 19intensive goods and services to all people and the preservation of the earth for future generations." And, "the solution will lie in finding sustainable energy sources and more efficient means of converting and utilizing energy”)
Một tổ chức về công nghệ xanh phi lợi nhuận lại đưa ra định nghĩa: “Bất kỳ
sự ra đời, hiệu quả và việc bảo tồn năng lượng mà có khả năng mở rộng về quy mô
để trở thành một phần quan trọng của thế hệ năng lượng một cách lâu dài trong vòng khoảng 100 năm…”4
("Any energy generation, efficiency & conservation source where: Resources are available to enable massive scaling to become a significant portion of energy generation, long term, preferably 100 years ")
Trước hết chúng ta cần xem xét tại sao lại gọi là “năng lượng xanh” Vậy
“xanh” nghĩa là gì? Có nhiều định nghĩa, nhưng chung quy “Xanh” là những sản phẩm được sản xuất với phương cách, quy trình và công nghệ đạt được 3 điểm chính sau:
1 Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
2 Giảm gây ô nhiễm môi trường
3 An toàn cho người tiêu dùng
Để đạt được mục tiêu trên, trong những năm gần đây, năng lượng xanh được ứng dụng và triển khai nhiều trong cuộc sống khi con người ngày càng nhận thức về nguy cơ ô nhiễm toàn cầu Ngày nay, năng lượng xanh được các nhà khoa học, chính trị gia lẫn các nhà sản xuất đưa lên hàng đầu Cốt lõi của năng lượng xanh là
áp dụng các kiến thức khoa học tiến bộ vào phương cách, quy trình mới, sáng tạo và cải tiến các năng lượng cũ trở thành năng lượng xanh vì một mục đích cuối cùng là bảo vệ môi trường và kiến tạo lại sự xanh, sạch của hệ sinh thái chung cho nhân loại
Một khái niệm mới đưa ra trong quá trình hình thành lên năng lượng bền vững đó là năng lượng màu xanh lá cây Đây là thuật ngữ chỉ công nghệ tiên tiến
mà nhân loại đang hướng tới bằng việc tạo ra các công nghệ mới sử dụng nguồn năng lượng bền vững không tác động nhiều đến môi trường trái đất
4
"The Sustainable Energy Community :: invVest | invVEST Definition of Sustainable Energy" invVest Retrieved 2010-07-08
Trang 20Năng lượng xanh (hay năng lượng tái tạo) là loại năng lượng mà khi được sản xuất nó có ít tác động tiêu cực đến môi trường hơn so với năng lượng hóa thạch.
Vàcó trữ lượng gần như vô tận và thân thiện với môi trường
Các loại NLX mà ngày nay chúng ta được biết đến là: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sóng, năng lượng sinh học (Biogas), năng lượng địa nhiệt.5
1.1.3 Một số dạng năng lượng xanh
Năng lượng mặt trời
Năng lượng mặt trời là năng lượng của dòng bức xạ điện từ xuất phát từ mặt trời, đã được con người khai thác từ xưa bằng cách sử dụng tấm panel để thu năng lượng, chuyển đổi thành dòng điện một chiều và đưa vào sử dụng hoặc chuyển đổi dòng điện một chiều thành dòng điện xoay chiều hòa vào lưới điện quốc gia đang sử dụng các công nghệ ngày càng phát triển
Bức xạ mặt trời, cùng với nguồn năng lượng thức cấp như năng lượng gió, năng lượng sóng, thủy điện và hầu hết các năng lượng tái tạo có sẵn trên trái đất Chỉ một phần rất nhỏ của năng lượng mặt trời có sẵn được sử dụng theo khả năng của con người
Các ứng dụng năng lượng mặt trời bao gồm: Nước nóng năng lượng mặt trời, chiếu sáng, nấu ăn, nước sạch thông qua chưng cất và tẩy uế (dùng trong y tế), điện năng lượng mặt trời, không gian sưởi ấm và làm mát thông qua kiến trúc năng lượng mặt trời, quá trình tích nhiệt độ cao cho mục đích công nghiệp, điện năng lượng mặt trời dựa trên các động cơ nhiệt và tế bào quang điện
Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng phong phú nhất, dồi dào nhất trong tất cả các nguồn năng lượng có sẵn trong tự nhiên Trong 10 phút truyền xạ, quả đất nhận một năng lượng khoảng 5 x 1020 J (500 tỷ tỷ Joule), tương đương với lượng tiêu thụ của toàn thể nhân loại trong vòng một năm Trong 36 giờ truyền xạ, mặt trời cho chúng ta một năng lượng bằng tất cả những giếng dầu của quả đất Năng lượng mặt trời vì vậy gần như vô tận Hơn nữa, nó không phát sinh các loại khí nhà
5
http://www.greenenergy-hht.com/index.php?option=com_content&view=article&id=79&Itemid=204&lang=vi
Trang 21kính (greenhouse gas) và khí gây ô nhiễm Mười vấn đề lớn của nhân loại trong vòng 50 năm tới đã được ghi nhận theo thứ tự nghiêm trọng là (1) năng lượng, (2) nước, (3) thực phẩm, (4) môi trường, (5) nghèo đói, (6) khủng bố và chiến tranh, (7) bệnh tật, (8) giáo dục, (9) thực hiện dân chủ và (10) bùng nổ dân số Năng lượng là mối quan tâm hàng đầu của nhiều chính phủ trên thế giới Nguồn năng lượng chính của nhân loại hiện nay là dầu hỏa Một vài giờ cúp điện hay không có khí đốt cũng
đủ làm tê liệt và gây hỗn loạn cho một thành phố Cuộc sống văn minh của nhân loại không thể tồn tại khi thiếu vắng năng lượng Theo thống kê, hiện nay hơn 85 % năng lượng được cung cấp từ dầu hỏa và khí đốt Nhưng việc thu hoạch từ các giếng dầu sẽ đạt đến mức tối đa trong khoảng năm 2010 - 2015, sau đó sẽ đi xuống
vì nguồn nhiên liệu sẽ cạn kiệt cùng năm tháng Người ta cũng tiên đoán nếu dầu hỏa được tiếp tục khai thác với tốc độ hiện nay, kể từ năm 2050 lượng dầu được sản xuất sẽ vô cùng nhỏ và không đủ cung cấp cho nhu cầu toàn thế giới Như vậy, nguồn năng lượng nào sẽ thay thế?
Các nhà khoa học đã và đang tìm kiếm những nguồn năng lượng vô tận, sạch
và tái sinh (renewable energy) như: năng lượng từ mặt trời, gió, thủy triều, nước (thủy điện), lòng đất (địa nhiệt) v.v Trong những nguồn năng lượng này có lẽ năng lượng mặt trời đang được lưu tâm nhiều nhất Dù vậy, cho đến nay con người vẫn chưa đạt được nhiều thành công trong việc chuyển hoá năng lượng mặt trời thành điện năng vì một phần mật độ năng lượng mặt trời quá loãng, một phần phí tổn cho việc tích tụ năng lượng mặt trời còn quá cao Nếu tính theo mỗi kilowatt-giờ (năng lượng 1 kilowatt được tiêu thụ trong 1 giờ) thì phí tổn thu hoạch năng lượng mặt trời là $0,30 USD Trong khi đó năng lượng từ gió là $0,05 và từ khí đốt thiên nhiên là $0,03 Một hệ thống chuyển hoá năng lượng mặt trời cung cấp đủ điện năng cho một căn nhà ở bình thường tốn ít nhất $18000 USD (giá 2005)
Năng lượng gió
Sức gió đã được con người khai thác, sử dụng từ rất lâu Tuy nhiên, tuabin gió đầu tiên được xây dựng ở Sistan, Iran, vào thế kỷ 7 Đó là những chiếc tuabin gió làm bằng vải phủ lên các bộ khung bằng sậy Những chiếc tuabin gió này được
Trang 22dùng để xay ngô, bơm nước… Đến thế kỷ 14, những tuabin gió ở Hà Lan, được sử dựng ở Cleverland vào năm 1888, bởi Charles F Brush và được sử dụng để tháo nước trong khu vực đồng bằng sông Rhine Ở Đan Mạch, đến năm 1900 đã có 2500 tuabin gió được và có công suất 12kW
Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí quyển trái đất Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời Sử dụng năng lượng gió là một trong các cách lấy năng lượng xa xưa nhất từ môi trường tự nhiên và đã được biết đến từ thời kỳ Cổ đại
Bức xạ mặt trời chiếu xuống bề mặt trái đất không đồng đều làm cho bầu khí quyển, nước và không khí nóng không đều nhau Một nửa bề mặt của trái đất ban đêm bị che khuất không nhận được bức xạ của mặt trời và thêm vào đó là bức xạ mặt trời ở các vủng gần xích đạo nhiều hơn là các cực, do đó có sự khác nhau về nhiệt độ và vì thế là khác nhau về áp suất mà không khí giữa xích đạo và 2 cực cũng như không khí giữa mặt ban ngày và mặt ban đêm của trái đất di động tạo thành gió Trái đất xoay tròn cũng góp phần vào việc làm xoáy không khí và vì trục của trái đất nghiêng đi (so với mặt phẳng do quỹ đạo trái đất tạo thành khi quay quanh mặt trời) nên cũng tạo thành các dòng không khí theo mùa
Do bởi hiệu ứng Coriolis được tạo thành từ sự quay quanh trục trái đất nên không khí đi từ vùng áp cao đến vùng áp thấp không chuyển động thẳng mà tạo thành các cơn gió xoáy có chiều xoáy khác nhau giữa Bắc bán cầu và Nam bán cầu Nếu nhìn từ vũ trụ thì trên Bắc bán cầu không khí di chuyển vào một vùng áp thấp ngược với chiều kim đồng hồ và ra khỏi một vùng áp cao theo chiều kim đồng hồ trên Nam bán cầu thì chiều hướng ngược lại
Ngoài các yếu tố có tính toàn cầu trên, gió cũng bị ảnh hưởng bởi địa hình tại từng địa phương Do nước và đất có nhiệt dung khác nhau nên ban ngày đất nóng lên nhanh hơn nước, tạo nên khác biệt về áp suất và vì thế có gió thổi từ biển hồ hày vào đất liền Vào ban đêm đất liền nguội đi nhanh hơn nước và hiệu ứng này xảy ra theo chiều ngược lại
Năng lượng Hydro
Trang 23Hyđrô là nguyên tố hóa học nhẹ nhất với đồng vị phổ biến nhất chứa một prôton và một điện tử Ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn nó là dạng khí không màu, không mùi, nhị nguyên tử (phân tử) Tỷ trọng hydro bằng 1/14 tỷ trọng của không khí H2 dễ bắt cháy, có hóa trị 1, có nhiệt độ sôi 20,27 K (-252,87°C) và nhiệt độ nóng chảy 14,02oK (-259,14°C) Hydro thường tồn tại ở dạng liên kết với các nguyên tố khác như ôxy trong nước, cacbon trong khí methane và trong các hợp chất hữu cơ Do hydro có hoạt tính cực mạnh nên hiếm thấy hydro tồn tại như một nguyên tố riêng rẽ Hydro đốt trong oxy tinh khiết, các sản phẩm duy nhất sinh ra là nhiệt lượng với nhiệt độ cao và nước Do đó khi sử dụng hydro sẽ không tạo ra khí nhà kính và không phá hoại vòng luân chuyển của nước trong thiên nhiên
Năng lượng thủy triều
Chuyển năng lượng của thủy triều thành điện hoặc dạng năng lượng hữu ít khác Dù còn chưa được sử dụng rộng rãi, nhưng năng lượng thủy triều là nguồn năng lượng đầy tiềm năng trong tương lai Thủy triều dễ dự đoán hơn năng lượng gió hay năng lượng mặt trời Trong quá khứ, các trạm triều điện đã được sử dụng, ở
cả châu Âu và bờ biển Đại Tây Dương của Mỹ Xuất hiện lần đầu tiên vào thời Trung Cổ, hoặc thậm chí là thời La Mã Năng lượng thủy triều có nguồn gốc trực tiếp từ sự tương tác giữa mặt trăng và trái đất, và một phần nhỏ từ sự tương tác giữa mặt trời và trái đất, thông qua lực hấp dẫn Sự thay đổi tuần hoàn của mực nước và dòng thủy triều đều là do lực hấp dẫn của mặt trời và mặt trăng và sự tự quay của trái đất Bởi vì thủy triều ở trái đất phụ thuộc vào tương tác hấp dẫn của mặt trăng
và mặt trời, vào sự tự quay của trái đất, nên năng lượng thủy triều là vô tận và được phân loại là nguồn năng lượng tái tạo Thủy triều càng mạnh (mực nước cao hoặc vận tốc dòng thủy triều), thì có tiềm năng tạo ra năng lượng càng lớn
Năng lượng Biogas
Khí sinh học (biogas) là khí sinh ra trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ như phân động vật, rơm rạ, rác rưởi, v.v… trong môi trường yếm khí Khí sinh học
có thành phần chủ yếu là Me6tan (chiếm khoảng 70%) và khí cacbonic (khoảng
Trang 2430%) Nhiệt trị của khí sinh học biến đổi trong giới hạn 4700 – 6500 kcalo/ m3, khí cháy cho ngọn lửa lơ nhạt mà không có khói bụi
Ứng dụng đầu tiên của khí sinh học là để đun nấu Bếp dùng khí sinh học tương đương với các loại bếp gas khác, sử dụng tiện lợi và sạch sẽ Một mét khối khí sinh học tương đương từ 4kg củi hay 6kg rơm rạ từ lượng phân của một con trâu và một con lợn có thể sản xuất hàng ngày 400 – 500 lít khí đủ đun nấu cho một gia đình 3 – 4 người Khí sinh học còn có thể sử dụng để thắp sáng bằng đèn mạng,
có thể phát ra ánh sáng có độ sáng tương đương một bóng đèn điện 60W với lượng khí tiêu thụ khoảng 70 – 80 lít khí trong 1 giờ
Việc sử dụng khí sinh học đang được phát triển rộng rãi ở nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là các nước đông dân và có vùng nông thôn lớn như Trung Quốc, Ần Độ Ngoải việc dùng khí sinh học để đun nấu, thắp sáng, chất bã thải còn
là nguồn phân hữu cơ rất tốt, không những có đặc tính của phân hữu cơ truyền thống mà còn có nhiều ưu điểm khác do kết quả quả quá trình phân hủy vi sinh vật
kỵ khí Kết quả nghiên cứu nhiều năm cho thấy phân khí sinh học sản xuất từ phân lợn và rơm rạ cho năng suất lúa tăng từ 6 – 19% so với phân hữu cơ thông thường Hơn nữa phân khí sinh học không có mùi, không làm ô nhiễm môi trường như phân hữu cơ tự nhiên
1.1.4 Vai trò của nguồn năng lượng xanh đối với đời sống xã hội
Theo “Báo cáo Đặc biệt về Nguồn năng lượng tái tạo và giảm nhẹ biến đổi khí hậu” của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), đến năm 2050,
năng lượng tái tạo có thể đáp ứng gần 80% lượng cung cấp năng lượng trên toàn thế giới, góp phần giảm thiểu tác động của các vấn đề sức khỏe liên quan tới ô nhiễm
và các nước đang phát triển chính là nơi sản sinh ra hơn 50% lượng điện năng tái tạo này
Công nghệ tái tạo có thể cung cấp năng lượng cho hơn hai tỷ người ở các quốc gia đang phát triển và giảm các tác động sức khỏe do ô nhiễm Tuy nhiên, điều
đó sẽ chỉ xảy ra khi các nhà hoạch định chính sách tạo lập được các chính sách khả
Trang 25thi và hiệu quả về chuyển giao công nghệ; nâng cao nhận thức về công nghệ tái tạo thông qua truyền thông – giáo dục và tăng nguồn đầu tư tài chính cho việc thực thi
Bàn về khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng từ các nguồn tái tạo, Sven Teske, tác giả chính của Báo cáo, đồng thời là Giám đốc Năng lượng tái tạo của tổ
chức Hòa bình xanh, cho hay: “Năng lượng tái tạo có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các nước đang phát triển – nơi vẫn còn hơn 2 tỷ người không được tiếp cận với các dịch vụ năng lượng cơ bản – và nguồn năng lượng này có thể thực hiện điều đó một cách nhanh chóng và cạnh tranh hơn về giá so với các nguồn năng lượng truyền thống” Do đó, “các chính phủ phải sớm khởi động một cuộc cách mạng năng lượng toàn cầu bằng cách áp dụng và thực thi các chính sách về năng lượng tái tạo”, ông nhấn mạnh Cần một cuộc cách mạng năng lượng tái tạo
toàn cầu
Công nghệ năng lượng tái tạo đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững mà không làm tăng lượng phát thải khí nhà kính Và việc tận dụng những loại hình công nghệ ấy ngay trong nội địa có thể giúp cắt giảm chi phí nhập khẩu năng lượng và tạo nguồn cung năng lượng ít gây ra sự chia rẽ và biến động thị trường
Đặc biệt, công nghệ năng lượng tái tạo còn góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới, cung cấp điện năng giá rẻ cho các khu vực nông thôn nghèo, thúc đẩy việc đạt được Các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) trong tương lai không xa
Tuy vậy, cũng cần phải nói rằng, bên cạnh những tác động tích cực, công nghệ mới khó tránh khỏi đem lại những ảnh hưởng tiêu cực tới nguồn nước và đa dạng sinh học Điều này nên được cân nhắc thận trọng trong các giai đoạn xây dựng
kế hoạch
Ngoài ra, rào cản chính đưa nhu cầu NLX trở thành lượng cầu chủ yếu về năng lượng không phải là công nghệ, mà là các vấn đề kinh tế – xã hội, điển hình là vấn đề chính sách, đầu tư… Từ đó báo cáo kêu gọi có nhiều nghiên cứu hơn về
“những cơ hội đáp ứng nhu cầu của các nước đang phát triển bằng các loại hình dịch vụ năng lượng tái tạo bền vững”
Trang 26Tại lễ công bố Báo cáo của IPCC, Ramón Pichs Madruga, đồng tác giả chính
của báo cáo cho biết: “Các nước đang phát triển có một tầm quan trọng lớn trong tương lai này bởi đây vừa là nơi còn 1,4 tỷ người chưa được tiếp cận với điện, lại vừa là nơi chứa đựng những điều kiện tốt nhất để phát triển năng lượng tái tạo”
Trong khi nguồn cung cấp điện hiện nay của thế giới được tạo ra từ nhiên liệu hóa thạch như than, dầu, khí đốt và đang đối mặt với một số thách thức, bao gồm giá cả tăng cao, phụ thuộc vào nhập khẩu (đối với một số nước có nguồn nguyên liệu hạn chế) làm tác động xấu đến môi trường thể hiện qua sự biến đổi khí hậu gần đây thì nguồn NLX là lựa chọn tiềm năng để giải quyết những khó khăn này; nguồn NLX là không giới hạn và luôn sẵn có
Năng lượng xanh đem lại cho xã hội những phát triển mới trong chuyển giao công nghệ, tận dụng được nguồn năng lượng sẵn có trong thiên nhiên, không bị lệ thuộc vào khâu sản xuất và nguồn cung cấp tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân và ảnh hưởng không ít đến sự phát triển kinh tế - xã hội vùng miền
1.2 Chính sách công nghệ
1.2.1 Chính sách
Thuật ngữ chính sách được sử dụng rất thường xuyên, đề cập đến nhiều vấn
đề, nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, chính sách là gì lại chưa có một sự thống nhất
Chính sách được hiểu theo nghĩa hẹp: Chính sách có thể được thể hiện thông qua, một chương trình, một mục tiêu của chương trình hay sự tác động của chương trình lên một vấn đề của xã hội
Thuật ngữ “chính sách” được dùng với nghĩa rộng hơn: như chính sách đối ngoại, chính sách đối nội; hoặc trong một nghĩa hẹp và cụ thể hơn ví dụ chính sách trợ cấp hay chính sách giải quyết đòi hỏi của sinh viên về nhà ở, học bổng Các tổ chức quốc tế (Liên hiệp quốc) cũng thường đưa ra nhiều chính sách của mình nhằm
đề cập đến những vấn đề quan tâm như cấm vận; phòng chống ma túy, việc làm, thất nghiệp Thuật ngữ này cũng được sử dụng để chỉ cách ứng xử giữa các quốc gia với nhau - chính sách cấm vận của Mỹ chống Việt Nam trước đây là một ví dụ
Trang 27Nhiều người cố gắng tìm kiếm một định nghĩa chung cho thuật ngữ này, nhưng họ gặp khó khăn giống như nhiều người khác cố gắng định nghĩa thuật ngữ chính trị (politics); một số cho rằng bản chất của thuật ngữ chính sách là thuật ngữ chính trị nên không nên cố gắng định nghĩa nó vì ngay từ gốc của nó cũng đã không
- Đó là một bản kế hoạch, được xây dựng công phu, cụ thể (theo nghĩa của
kế hoạch-planning) chứ không phải là những lời nói, tư duy suy nghĩ ban đầu
- Nó được đưa ra trong bối cảnh, môi trường cụ thể mà nhà làm chính sách
đã hình dung ra
- Có mục tiêu hay một hệ thống các mục tiêu được đề ra phải đạt được
- Do chủ thể xác định (tổ chức, cá nhân, nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, các tổ chức quần chúng, các loại hình doanh nghiệp, v.v.) đưa ra
- Theo cách tiếp cận của các nhà chính trị, chính sách là sự bày tỏ quan điểm chính trị của các tổ chức (theo nghĩa rộng của từ này) nhằm đạt được những
mục tiêu nhất định, hay nói cách khác, đó là những quyết định của các tổ chức, cá nhân về những gì họ sẽ làm hay không làm Một ví dụ cụ thể về quan điểm chính trị của các tổ chức sản xuất, kinh doanh là có chấp nhận việc trả lương theo cơ chế thị trường hay không Với cách tư duy này, mỗi một tổ chức, cá nhân trước khi đưa ra các quyết định theo nghĩa đó, cũng đòi hỏi phải xác lập cho mình những mục tiêu
cụ thể mà quyết định đó mong muốn đạt đến (mục tiêu thu hút lao động có tay nghề; mục tiêu tăng cạnh tranh trong thị trường lao động; mục tiêu làm giảm sự chống đối của người lao động, nghiệp đoàn)
Trang 28- Theo những nhà quản lý vĩ mô của các tổ chức (công ty xuyên quốc gia
là một ví dụ), chính sách là những định hướng tư duy cho các nhà quản lý điều hành, tác nghiệp đưa ra các quyết định cần thiết trong những điều kiện cụ thể của môi trường trong đó các hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiến hành Như vậy, thực chất của chính sách theo cách này chỉ là những chỉ dẫn cần thiết cho các nhà quản lý tác nghiệp để họ vận dụng vào điều kiện cụ thể, không chỉ ra cách thức tiến hành (các tác nghiệp cụ thể) Điều này tạo điều kiện cho các nhà quản lý tác nghiệp đưa ra các quyết định khi mua hàng Chẳng hạn như chính sách để thu hút khách hàng đưa ra các quyết định hợp lý hơn Ví dụ: chính sách để thu hút khách hàng của các hoạt động kinh doanh trên thị trường toàn cầu là: “ vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi; khách hàng là thượng đế”
- Theo cách tư duy mục tiêu và phương tiện
Trong một cách tư duy cũng được nhiều người thừa nhận, chính sách là bước tiếp theo của chiến lược của các công ty, tập đoàn sản xuất, kinh doanh đề ra và đó
là bước khởi đầu cho việc nghiên cứu những hoạt động cần thiết để đạt được những mục tiêu vạch ra Với tư duy này, trong chiến lược phát triển các tổ chức (doanh nghiệp, tập đoàn sản xuất hay các tổ chức), chính sách là các chỉ dẫn cụ thể để ra các quyết định triển khai chiến lược; là bước nối giữa đường lối, chủ trương chiến lược (vĩ mô) và các hành động cụ thể (dự án, chương trình).6
- Trong điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng không ít nhà
quản lý cho rằng, chính sách là đường lối lãnh đạo, định hướng tư duy cho các nhà quản lý theo mục tiêu cụ thể Đó không phải là những quy tắc (với tư cách là các quy định cụ thể) bắt buộc các nhà quản lý phải chấp hành Nói cách khác, chính sách chỉ dẫn hướng ra quyết định Vấn đề quyết định vẫn thuộc các nhà quản lý điều hành Chính sách của các công ty về chiếm lĩnh các thị trường sẽ tạo cơ sở cho họ đến với thị trường bằng nhiều cách khác nhau, miễn sao chiếm lĩnh được thị trường
Trang 29- Theo lý thuyết trò chơi (Game Theory) chính sách là một sự lựa chọn của các phương án chơi Trong bối cảnh của sự cạnh tranh, lựa chọn một hoạt
động mang tính tốt nhất không theo nghĩa tuyệt đối mà chỉ mang tính tương đối Nghĩa là các nhà hoạch định chính sách lựa chọn cách thức tiến hành các hoạt động theo nguyên tắc: lựa chọn phương án tốt nhất trong tất cả các phương án mà công
ty, nhà kinh doanh biết Do đó, để đưa ra một chính sách cần vận dụng lý thuyết phân tích hệ thống, lý thuyết lựa chọn tối ưu cũng như nhiều công cụ toán học khác
để quyết định cái tốt nhất
- Theo cách diễn đạt “chơi chữ” khi thiếu tính cụ thể, chi tiết Người đã
thường nói: chính sách của công ty tôi đối với vấn đề A như sau…; trong khi đó cũng có người biểu hiện câu nói trên một cách văn vẻ hơn: đối với vấn đề A, công
ty tôi có cách ứng xử như… và thuật ngữ “ cách ứng xử” trong trường hợp này đồng nghĩa với “ chính sách” - là một quyết định chính sách (theo một định hướng đã được xác định của công ty - chính sách của công ty đã vạch ra) Chính vì vậy cũng
có người nói chính sách là nghệ thuật chơi chữ, mang tính đa nghĩa, không rõ ràng
Người ta có thể ứng xử rất linh hoạt với chính sách được đưa ra Tính linh hoạt của các nhà quản lý khi đưa ra các quyết định chính sách dựa trên định hướng chính sách sẽ tạo cho họ linh hoạt, chủ động, nhiều sáng tạo hơn khi phải đối phó với các tình huống phức tạp trong môi trường phức tạp
- Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề mà họ quan tâm (James Anderson 2003)
- Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa … (Từ điển bách khoa Việt Nam)
- Theo PGS TS Vũ Cao Đàm thì “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó
Trang 30tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của
họ nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”
1.2.2 Công nghệ
Thuật ngữ “công nghệ” là một thuật ngữ phổ biến và được nhiều người biết đến Nó được xuất hiện nhiều trong các cụm từ khoa học và công nghệ, khu công nghệ cao, công nghệ chế tạo máy… Nhưng để thực sự hiểu nó thì không phải ai cũng hiều được rõ ràng Ngay trong khoa học cũng có nhiều trường phái và có nhiều khái niệm, định nghĩa về công nghệ
Công nghệ có nguồn gốc trong tiếng Hy Lạp cổ: “techno” có nghĩa là tài năng, kỹ thuật, nghệ thuật, sự khéo léo; “logy” có nghĩa là lời lẽ, ngôn từ học
thuyết, cách diễn đạt, là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người Tùy vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu:
- Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề
- Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình
để giải quyết một vấn đề
- Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau
- Sản phẩm phải có chất lượng cao và giá thành hạ
Khái niệm công nghệ (technology) được giáo sư người Đức tên là JOHAHN BECKMANN nêu ra từ thế kỷ 18 Và từ đó một ngành khoa học mới được hình thành đó là ngành Công nghệ Về định nghĩa công nghệ có rất nhiều các định nghĩa nhưng tổng kết lại thì định nghĩa này được tiếp cận theo hai hướng chính Hai hướng tiếp cận dựa vào trình độ phát triển kinh tế ở các nước Và hai hướng chính
là hướng tiếp cận ở các nước có nền kinh tế đang phát triển và hướng tiếp cận ở các nước có nền kinh tế phát triển
a Hướng tiếp cận khái niệm công nghệ ở các nước có nền kinh tế phát triển
Ở các nước phát triển thì kèm theo cơ sở hạ tầng của họ rất phát triển Hầu hết các doanh nghiệp, các công ty đã được trang bị một cách hiện đại và hoàn chỉnh
Trang 31Chính vì sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng và nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế công nghệ cao, nền kinh tế tri thức Và việc quan niệm về công nghệ của họ có nhiều điểm khác biệt so với các nước đang phát triển Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về công nghệ và có cách tiếp cận ở các nước phát triển như F.R Rool, R.Jones, J.Dunning Và theo hướng tiếp cận này thì các nhà khoa học coi công nghệ là “tri thức, kiến thức”
b Hướng tiếp cận khái niệm công nghệ ở các nước đang phát triển
Đa số các nước đang phát triển hiện nay có nền kinh tế đang chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp nên đang trong quá trình hoàn thiện cơ sở vật chất của mình Trang bị cho nền công nghiệp còn khá là thô sơ Hiện nay việc thu nạp công nghệ ở các nước chủ yếu là nhập các thiết bị máy móc và việc mua bán lixăng là chưa nhiều Theo hướng tiếp cận này các nhà khoa học tiếp cận khái niệm công nghệ ở các nước đang phát triển, nơi mà nền kinh tế đang được trang bị để hoàn thiện cơ sở hạ tầng
Theo tổ chức PROTDEC (1982) thì “ công nghệ là mọi kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ” Trong khái niệm này thì công nghệ là tất cả các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, thiết bị máy móc để phục vụ cho sản xuất
Theo Ngân hàng thế giới đã đưa ra định nghĩa về công nghệ “ công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm Nó bao gồm 3 yếu tố
- Thông tin về phương pháp
- Phương tiện công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa
- Sự hiểu biết về phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao
Theo định nghĩa này thì công nghệ có bản chất là thông tin, công cụ, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành sản phẩm
Còn theo Sharif thì ông cho rằng “ công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo đổi mới và lựa chọn những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hớp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất xã hội và văn hóa” Theo định
Trang 32nghĩa của ông thì thì công nghệ là việc tập hợp phần cứng và phần mềm bao gồm có
4 dạng chính
- Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh…)
- Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm)
- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp được ghi lại trong các tài liệu)
- Dạng thiết bị tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, hệ thống pháp luật…)
Theo định nghĩa này thì công nghệ có bản chất là vật thể (như thiết bị máy móc) còn gọi là phần kỹ thuật : con người, phần con người, ghi chép thông tin, thiết chế tổ chức, phần tổ chức, có mục tiêu, được sử dụng tối ưu, để tác động vào các yếu tố môi trường vật chất, xã hội, văn hóa
Theo UNCATAD đưa ra vào năm 1972 thì đưa ra “Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất và như vậy nó đang được mua và bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện ở một trong những dạng sau
- Tư liệu sản xuất đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư
- Nhân lực và thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ chuyên môn cao và chuyên sâu với khả năng sử dụng các thiết bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy và giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin
- Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền
Định nghĩa này cho rằng về bản chất công nghệ là tư liệu sản xuất, nhân lực
có trình độ và thông tin và có mục tiêu làm đầu vào cần thiết cho sản phẩm
Định nghĩa công nghệ do Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương (ESCAP): “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương
Trang 33pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ” 7 Định nghĩa này được xem là bước ngoặt trong lịch sử quan niệm về công nghệ, không xem công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể
mà mở rộng khái niệm ra các lĩnh vực mới như dịch vụ và quản lý
Theo Luật khoa học và công nghệ (2000) cho rằng “công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cu, phương tiện, dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” Định nghĩa này nói rõ công nghệ bao gồm cả phương tiện hay phần cứng
Điều 3, Luật Chuyển giao Công nghệ: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” 8
Hình 1.1 Sơ đồ hóa khái niệm công nghệ
7
Đặng Duy Thịnh, Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia, bài giảng chuyên để, Hà Nội 1998
8 Quôc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật chuyển giao công nghệ (2006)
Tài
nguyên
Sản phẩm Công nghệ
cứng
Phần mềm Phần cứng
Trí tuệ
Trung gian
Phần mềm
Dịch
vụ
Con người
Thông tin
Tổ chức
SX
Đầu vào
(Điều kiện)
Quá trình (Gia tăng giá trị)
Đầu ra (Kết quả)
Trang 34Theo các Tổ chức Quốc tế về công nghiệp và Từ điển Bách khoa Việt Nam thì công nghệ được thể hiện trong các thành phần sau:
- Kỹ thuật: Phần cứng của công nghệ bao gồm máy móc, dụng cụ, nhà xưởng…
- Con người: Bao gồm kỹ năng tay nghế của đội ngũ nhân lực để vận hành, điều khiển và quản lý dây chuyền thiết bị
- Thông tin: Bao gồm tư liệu, dữ liệu, bản ,mô tả sáng chế, bí quyết kỹ thuật
- Tổ chức: Bao gồm các hoạt động về phân bổ nguồn lực, tạo lập mạng lưới sản xuất, tuyển dụng và khuyến khích nhân lực…
1.2.3 Chính sách công nghệ
Chính sách công nghệ là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc chỉ đạo, định hướng phát triển, các thể chế và biện pháp thúc đẩy việc tiếp thu, phát triển, sử dụng công nghệ (chuyển giao, đổi mới, phát triển…) để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đồng thời phát triển công nghệ hiện đại của quốc gia trong từng thời kỳ Như vậy nội dung cơ bản của chính sách công nghệ là: Quan điểm của Nhà nước về vấn đề phát triển công nghệ; mục tiêu đặt ra; các giải pháp thực hiện mục tiêu
1.3 Định chế tài chính
Thuật ngữ “các định chế tài chính” thường được dùng để dịch nghĩa từ cụm
từ tiếng Anh là “financial institutions” Trong tiếng Anh, từ “institution” có thể được dịch thành “các tổ chức” hoặc “các định chế” Nhưng vấn đề đặt ra là việc sử dụng thuật ngữ “các định chế tài chính” để dịch “financial institutions” có chính xác hay không? Trong tiếng Anh, thuật ngữ “financial institutions” có nghĩa là “các tổ chức tài chính” có thể dùng như một từ thay thế với cụm từ “financial intermediares” – các trung gian tài chính Dưới đây là định nghĩa của “financial institutions” từ 2 cuốn từ điển chuyên ngành:
- “Một nhóm các tổ chức thương mại và công cộng tham gia vào việc trao đổi, cho vay, đi mượn và đầu tư tiền tệ Thuật ngữ này thường được sử dụng để thay
Trang 35thế cho thuật ngữ các trung gian tài chính”9 - (The group of commercial and public
organization engaged in exchanging, lending, borrowing and investing money The term is often used as an alternative for financial intermediaries)
- “Tổ chức thu thập các nguồn quỹ từ công chúng để đầu tư vào các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, công cụ trên thị trường tiền tệ, tài khoản tiết kiệm
ở ngân hàng hoặc cho vay…”10
– (institution that collects funds from the public to
place in financial assets such as stock, bonds, money market instruments, bank deposits, or loans…)
Tuy nhiên, trong tiếng Hán, nghĩa gốc của từ “định chế” (cũng gần tương đương với từ “thể chế”) lại chỉ có nghĩa là “các quy định đã có sẵn” (theo Hán-Việt
từ điển của Đào Duy Anh) chứ không có nghĩa là một tổ chức hay cơ quan nào đó, tức là thuật ngữ “các định chế tài chính” chỉ được dùng để nói về “các qui định trong lĩnh vực tài chính” chứ không thể tương đương với thuật ngữ “các tổ chức tài chính” dùng để chỉ các ngân hàng, công ty bảo hiểm IMF, WB Như vậy, không thể dịch “financial institutions” thành “các định chế tài chính” vì như đã nói ở trên, bản thân thuật ngữ “financial institutions” là dùng để chỉ “các tổ chức tài chính” Cách dịch đơn giản và cũng dễ hiểu nhất là sử dụng thuật ngữ “các tổ chức tài chính” hay “tổ chức trung gian tài chính” hoặc ngắn gọn hơn là “các trung gian tài chính”… Tóm lại, nói một cách đơn giản, “financial institutions” trong nghĩa kinh
tế của nó chỉ nói về các “tổ chức” (organization) mà từ “định chế” lại không mang nghĩa là một “tổ chức” nên không thể dịch “financial institutions” thành “các định chế tài chính"
Trong Tài liệu giảng dạy “Tài chính doanh nghiệp” thì định chế tài chính “là các trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng chu chuyển vốn hiệu quả nhất cho nền kinh tế”
Trang 36Định chế tài chính là những quy định, những thiết chế về tài chính của Nhà nước, định chế tài chính không dùng cho cá nhân hay tổ chức xã hội, nó chính là thuật ngữ ám chỉ đến các quy định, các giả định, các chế tài để cấu thành một điều quy phạm pháp luật cụ thể Khi nói đến thuật ngữ này là người ta muốn nhấn mạnh đến những quy định về tài chính cần phải áp dụng hay thực hiện; giả định rồi quy định về chế tài trong tài chính là các bộ phận cấu thành điều luật về tài chính
Cụ thể như: Kể từ ngày 20/6/2013, doanh nghiệp nào (giả định) thực hiện việc nhập khẩu xe ô tô đã qua sử dụng (quy định) thì phải nộp tờ khai hải quan và phải nộp thuế nhập khẩu là 5.000 USD/ chiếc đối với loại ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe) dung tích xilanh dưới 1.000cc và 10.000 USD/ chiếc đối với loại ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe) dung tích xilanh từ 1.000cc đến dưới 1.500cc (chế tài)
Tóm lại, định chế tài chính là những thể chế “ràng buộc” các hoạt động tài chính đối với các tổ chức tài chính chính thức nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính cho xã hội
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lượng, NLX, chính sách công nghệ Trong đó, chính sách công nghệ (chuyển giao, đổi mới, phát triển…) là chủ trương của Đảng và Nhà nước hiện nay, nhằm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với nhiều chính sách, biện pháp khuyến khích, thúc đẩy các tổ chức, cá nhân tích cực, chuyển giao, ứng dụng công nghệ mới, hiện đại nhằm phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Chính sách công nghệ là một lĩnh vực trong chính sách KH&CN tác động trực tiếp vào các hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong việc chuyển giao, ứng dụng tiến bộ KH&CN để đổi mới quản lý kinh tế - xã
Các cá nhân trong
xã hội
Các định chế tài chính
Các tổ chức và cá nhân biết sử dụng vốn có hiệu quả
Trang 37hội, đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm được hưởng ưu đãi
về thuế (định chế tài chính), tín dụng và các ưu đãi khác, đảm bảo thân thiện với môi trường Kết quả cuối cùng mà chính sách công nghệ muốn đạt được là tạo ra những biến đổi trong xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể của chính sách đã đề ra
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH HIỆN HÀNH ĐỐI VỚI VIỆC ỨNG DỤNG NGUỒN NĂNG LƯỢNG XANH TRONG HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG CÔNG CỘNG, KHU DÂN CƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU
2.1 Thực trạng sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng ở Việt Nam
2.1.1 Hiện trạng sử dụng và tiềm năng khai thác năng lượng tái tạo
Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng rất lớn về nguồn năng lượng tái tạo phân bổ rộng khắp trên toàn quốc Ước tính tiềm năng sinh khối từ các sản phẩm hay chất thải nông nghiệp có sản lượng khoảng 10 triệu tấn dầu/năm Khí sinh học xấp xỉ 10 tỉ m3 năm có thể thu được từ rác, phân động vật và chất thải nông nghiệp Thuỷ điện nhỏ (<30MW) hơn 4,000MW Nguồn năng lượng mặt trời phong phú với bức xạ nắng trung bình là 5kWh/m2 /ngày Bên cạnh đó, với vị trí địa lý hơn 3,400km đường bờ biển giúp Việt Nam có tiềm năng rất lớn về năng lượng gió ước
dụng sẽ đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng tăng nhanh Khả năng khai thác cụ thể được liệt kê trong bảng sau:
SX điện(MW)
Khu vực/đối tượng sử dụng
1.Thủy điện
nhỏ
+ Kinh tế: 2.200 + Để khai thác hơn cần hỗ trợ giá
Khu vực miền núi: Đông Bắc; Tây Bắc, Bắc Trung bộ; Nam Trung Bộ; Tây Nguyên Cho nối lưới và lưới điện mini
kinh tế ở giá bán hiện nay Cần hỗ trợ
+ Miền trung, tây nguyên, các đảo
+ Các khu vực ven biển và nơi có gió địa hình khác
> 15 MW cho khu vực ngoài lưới
+ Nhiệt mặt trời: Tất
cả các khu vực dân cư
Trang 39Trấu: Khu vực ĐB sông Mê Kông
Bã mía: Khu vực chế biến đường
+Nhiên liệu
sinh học
+ Sản xuất điện
giá điện hiện nay
Bảng 2.1 Tiềm năng khai thác các nguồn năng lượng ở Việt Nam (nguồn EEC)
Thủy điện nhỏ: Với thủy điện nhỏ, thời gian qua đã khai thác khoảng 50%
tiềm năng, các nguồn còn lại ở các vùng sâu, vùng xa, khu vực không thuận lợi, giá khai thác cao Theo các báo cáo đánh giá gần đây nhất thì hiện nay có trên 1.000 địa điểm đã được xác định có tiềm năng phát triển thủy điện nhỏ, qui mô từ 100kW tới
11
Viet-Nam-5-999.aspx , 02/05/2012
Trang 40http://ievn.com.vn/tin-tuc/Tong-quan-ve-hien-trang-va-xu-huong-cua-thi-truong-nang-luong-tai-tao-cua-30MW với tổng công suất đặt trên 7.000MW, các vị trí này tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Năng lượng gió: được đánh giá là quốc gia có tiềm năng phát triển năng
lượng gió nhưng hiện tại số liệu về năng lượng gió của Việt Nam chưa được hệ thống đầy đủ bởi còn thiếu điều tra và đo đạc Số liệu đánh giá về tiềm năng năng lượng gió có sự dao động khá lớn Theo các báo cáo thì tiềm năng năng lượng gió của Việt Nam tập trung nhiều nhất tại vùng duyên hải miền Trung, miền Nam, Tây Nguyên và các đảo
Năng lượng sinh khối: Là một nước nông nghiệp, Việt Nam có tiềm năng rất
lớn về nguồn năng lượng sinh khối Khả năng khai thác bền vững nguồn sinh khối cho sản xuất năng lượng ở Việt Nam đạt khoảng 150 triệu tấn mỗi năm Việc sản xuất nhiên liệu sinh học đã được thí điểm và sản xuất thương mại Trong sản xuất điện từ năng lượng sinh khối, một số dự án tiêu biểu tại Việt Nam là công nghệ đồng phát nhiệt điện từ bã mía và trấu
Năng lượng mặt trời: Về năng lượng mặt trời dùng để sản xuất điện hiện nay
chủ yếu là nguồn điện pin mặt trời được lắp đặt ở khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo Các hệ thống pin mặt trời đã có mặt ở các tỉnh, thành trong cả nước Năng lượng mặt trời được sử dụng chủ yếu cho các mục đích như: Đun nước nóng, Phát điện và các ứng dụng khác như sấy, nấu ăn Với tổng số giờ nắng cao lên đến trên 2.500 giờ/năm, tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm vào khoảng 230-250 kcal/cm2 theo hướng tăng dần về phía Nam là điều kiện tốt cho phát triển các công nghệ năng lượng mặt trời
Năng lượng địa nhiệt: Mặc dù nguồn địa nhiệt chưa được điều tra và tính
toán kỹ Tuy nhiên, với số liệu điều tra và đánh giá gần đây nhất cho thấy tiềm năng điện địa nhiệt ở Việt Nam có thể khai thác đến trên 300MW Khu vực có khả năng khai thác hiệu quả là miền Trung
Như vậy, hiện tại ở nước ta có 5 loại năng lượng tái tạo đã được khai thác để sản xuất điện Theo thống kê chưa đầy đủ, tổng công suất lắp đặt khoảng 1.215
MW Các nguồn năng lượng tái tạo đang được khai thác là: thuỷ điện nhỏ (1000