Trước sự tất yếu của việc sử dụng công nghệ trong sản xuất cũng như những cảnh báo về tác động của công nghệ đối với môi trường, tôi thấy được sự cần thiết phải xây dựng chính sách công
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HÀ NHƯ QUỲNH
XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÂN MÔI TRƯỜNG TRÊN
CƠ SỞ NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG
(Nghiên cứu trường hợp Khu công nghiệp Thượng Đình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HÀ NHƯ QUỲNH
XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÂN MÔI TRƯỜNG TRÊN
CƠ SỞ NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG
(Nghiên cứu trường hợp Khu công nghiệp Thượng Đình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quang Tuấn
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn, chuyên ngành Quản lý Khoa học
và Công nghệ, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban lãnh đạo nhà trường, quý thầy cô và người dân địa phương
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoa Khoa học quản lý, đặc biệt là các thầy: PGS TS Vũ Cao Đàm, TS Trần Văn Hải, TS Đào Thanh Trường đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn người hướng dẫn, TS Nguyễn Quang Tuấn, Viện Chiến lược chính sách Khoa học và Công nghệ, đã tận tình hướng dẫn
và góp ý trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn sự hợp tác của những người dân sống gần khu công nghiệp Thượng Đình, tại khu tập thể thuốc lá Thăng Long, khu tập thể Cao su Sao Vàng, trên đường Nguyễn Trãi và Nguyễn Tuân đã cung cấp những thông tin cần thiết cho tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày 09 tháng 6 năm 2014
Hà Nhƣ Quỳnh
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Lịch sử nghiên cứu 10
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 12
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 12
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Phạm vi nghiên cứu 12
5 Câu hỏi nghiên cứu 12
6 Giả thuyết nghiên cứu 13
7 Phương pháp nghiên cứu 13
7.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu 13
7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 13
7.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 14
7.4 Phương pháp quan sát 14
7.5 Phương pháp so sánh 14
8 Cấu trúc của luận văn 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA XUNG ĐỘT VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG 15
1.1 Tổng quan về công nghệ và chính sách 15
1.1.1 Khái niệm công nghệ 15
1.1.2 Các thế hệ phát triển công nghệ 17
1.1.3 Lợi ích kinh tế và môi trường của sản xuất sạch hơn 18
1.1.4 Chính sách công nghệ thân môi trường 22
1.1.5 Giới thiệu Khu công nghiệp sinh thái 24
1.2 Tổng quan về môi trường ……… 26
Trang 51.2.1 Khái niệm môi trường ……… 26
1.2.2 Khái niệm về ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, khủng hoảng môi trường và sự cố môi trường ………27
1.2.3 Các chức năng cơ bản của môi trường 30
1.2.4 Các hướng tiếp cận nghiên cứu môi trường 32
1.2.5 Khái niệm phát triển bền vững 35
1.3 Tìm hiểu xung đột môi trường 37
1.3.1 Khái niệm xung đột môi trường 37
1.3.2 Các dạng xung đột môi trường 38
1.3.3 Nguyên nhân gây xung đột môi trường 39
1.3.4 Phương pháp giải quyết xung đột môi trường 41
1.3.5 Mối quan hệ giữa xung đột môi trường với các vấn đề môi trường 44
CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỦ THỂ TRONG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG 48
2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường khu công nghiệp 48
2.2 Các lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường 58
2.2.1 Kết luận kiểm tra về bảo vệ môi trường 58
2.2.2 Đánh giá của người dân về môi trường 63
2.3 Nhận diện xung đột lợi ích về môi trường 65
2.3.1 Tỷ lệ người dân mắc các triệu chứng bệnh năm 2005 65
2.3.2 Kết quả nghiên cứu đối chứng y tế năm 2009 66
2.3.3 Kết quả điều tra người dân năm 2013 67
2.4 Mối quan hệ giữa các chủ thể trong vấn đề môi trường 69
2.4.1 Sự phản ánh của người dân về tình trạng môi trường 69
2.4.2 Vai trò của nhà quản lý trong việc giải quyết xung đột 70
2.4.3 Các biện pháp xử lý của Cục bảo vệ môi trường 71
2.5 Nguyên nhân của thực trạng ô nhiễm rác thải công nghệ 73
2.5.1 Một số nguyên nhân chủ quan của các công ty 73
2.5.2 Hệ thống pháp luật của Việt Nam về công nghệ và môi trường 76
2.5.3 Sự tham gia của người dân trong việc bảo vệ môi trường 77
Trang 6CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN SẢN XUẤT SẠCH HƠN TRONG CÔNG NGHIỆP TẠI KHU CÔNG NGHIỆP THƯỢNG ĐÌNH… 80
3.1 Tích cực đầu tư sản xuất sạch hơn tại các doanh nghiệp 80
3.1.1 Quán triệt chiến lược sản xuất sạch hơn 80
3.1.2 Tăng cường hợp tác về sản xuất sạch hơn 85
3.1.3 Đề xuất mô hình khu công nghiệp sinh thái 87
3.2 Phát huy vai trò của người dân trong bảo vệ môi trường 91
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 106
Trang 7Bảng 2.4 Tên công ty và lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính 53
Bảng 2.5 Khu vực thực hiện điều tra bằng bảng hỏi 56
Bảng 2.6 Đánh giá môi trường KCN của người dân 57
Bảng 2.7 Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường KCN của
Bảng 2.11 Ô nhiễm môi trường theo đánh giá của người dân 64
Bảng 2.12 Kết quả nghiên cứu đối chứng y tế các bệnh hô hấp
Bảng 2.14 Suy giảm tuổi thọ do gánh nặng bệnh tật 69
Bảng 2.15 Mức độ phản ánh của người lao động và người dân 70
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường
CGCN Chuyển giao công nghệ
CTNH Chất thải nguy hại
KH&CN Khoa học và Công nghệ
Các chữ viết tắt tiếng anh
UNCTAD Hội nghị Quốc tế về Thương mại và Phát triển
United Nations Conference on Trade and Development
UNEP Chương trình môi trường Liên hợp quốc
United Nations Environment Programme
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
World Bank
WCED Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển
World Council on Environment and Development
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ giữa những năm 1970, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại bắt đầu có những đặc điểm và xu hướng phát triển mới để chuyển sang giai đoạn thứ hai, đó là cuộc cách mạng về công nghệ Với nhu cầu tăng trưởng kinh tế và giành lợi thế cạnh tranh, công nghệ trở thành một trong các yếu tố quyết định sự sống còn của các doanh nghiệp Công nghệ được áp dụng, thay đổi liên tục theo vòng đời của công nghệ và mong muốn của sản phẩm tạo ra Nhưng vấn đề ở chỗ sử dụng công nghệ nào và sử dụng như thế nào để vừa hiệu quả, khả thi vừa phát huy tốt nhất nguồn lực có giới hạn và bảo vệ môi trường (BVMT)
Sự phát triển lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản hiện đại đã đạt tới trình độ xã hội hoá cao độ, toàn cầu hóa là hệ quả tất yếu và đây cũng chính là điều mà C Mác đã dự báo Xu thế mở rộng hợp tác, khuyến khích thương mại tạo thuận lợi cho các hoạt động mua bán, kể cả mua bán công nghệ Công nghệ có thể mua bán trên thị trường thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ (CGCN) Một số nhà kinh tế học có thể đưa ra rất nhiều ưu điểm của toàn cầu hóa như toàn cầu hóa là con đường để nâng cao thu nhập cho người lao động và cải thiện chất lượng cuộc sống, là cách để một quốc gia
có thể tận dụng và khai thác tối đa các lợi thế của công nghệ mới Nhưng không phải tất cả các thành tựu công nghệ đều mang lại lợi ích cho xã hội Tác giả Qazi Faruque Ahmed đã cho người đọc có thể thấy được những cảnh
báo hết sức thú vị mang đậm tính nhân văn: “Mù quáng bởi cái được gọi là
thành tựu khoa học và công nghệ” [10; 23]
Trước sự tất yếu của việc sử dụng công nghệ trong sản xuất cũng như những cảnh báo về tác động của công nghệ đối với môi trường, tôi thấy được
sự cần thiết phải xây dựng chính sách công nghệ thân môi trường, nhằm hạn chế ảnh hưởng của rác thải công nghệ đến môi trường Trong bối cảnh loại hàng hóa này được tự do mua bán trên thị trường, nước ta đã có những yêu cầu nhất định về CGCN để phù hợp với điều kiện quốc gia
Trang 10Pháp luật Việt Nam khuyến khích chuyển giao công nghệ cao, công
nghệ tiên tiến đáp ứng một trong các yêu cầu sau đây: Tạo ra sản phẩm mới
có tính cạnh tranh cao; tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới; tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu; sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; bảo vệ sức khỏe con người; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh; sản xuất sạch, thân thiện môi trường; phát triển ngành, nghề truyền thống Luật pháp Việt Nam cũng
hạn chế chuyển giao và cấm chuyển giao, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích quốc
gia; bảo vệ sức khỏe con người; bảo vệ giá trị văn hoá dân tộc; bảo vệ động vật, thực vật, tài nguyên, môi trường; thực hiện quy định của điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Mặc dù ở Việt Nam đã xây dựng có hiệu lực nhiều luật liên quan đến hoạt động mua bán và sử dụng công nghệ, như Luật Chuyển giao công nghệ (2006), Luật Công nghệ cao (2008), Luật Bảo vệ môi trường (2005) nhưng thực tế các khu công nghiệp (KCN) vì lợi ích trước mắt mà thờ ơ, trốn tránh việc thực thi các điều luật trên Hiện nay, một trong những KCN đang gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước và không khí cho khu vực nội thành của thủ đô Hà Nội, gây hại trực tiếp đến sức khỏe, tâm lý cũng như tài chính của người dân sống xung quanh và khu vực lân cận là KCN Thượng Đình (đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội)
KCN Thượng Đình gồm 05 nhà máy Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế - văn hóa (giai đoạn
1958 - 1960), Hà Nội đã triển khai xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp quốc doanh làm nền tảng cho kinh tế Hà Nội và miền Bắc Từ năm 1957, Trung Quốc đã giúp ta xây dựng một số cơ sở vật chất thiết yếu, đào tạo công nhân cho ba nhà máy lớn của Hà Nội lúc đó là Nhà máy cao su Sao Vàng, Nhà máy thuốc lá Thăng Long và Nhà máy xà phòng Hà Nội Ngày 18/5/1960, các nhà máy này được khánh thành, cùng với Nhà máy cơ khí Hà Nội và Công ty giầy Thượng Đình tạo thành KCN Thượng Đình, KCN có quy mô đầu tiên ở Hà Nội và miền Bắc nước ta Từ khi đi vào hoạt động, rác thải công nghệ của các nhà máy này đang là nguyên nhân trực tiếp gây ra thực trạng ô nhiễm môi
Trang 11trường và xung đột môi trường (XĐMT) tại đây Nhưng các nhà quản lý doanh nghiệp vẫn chưa xây dựng cho mình một chính sách công nghệ với những giải pháp công nghệ có tính triệt để
Dưới góc độ quản lý Khoa học và Công nghệ (KH&CN), các hoạt động công nghiệp luôn tiềm ẩn nguy cơ XĐMT bởi rác thải công nghệ của chính các hoạt động đó Thực tế cho thấy, việc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp dẫn đến nhiều hệ lụy trong đó có ô nhiễm môi trường tại khu vực công nghiệp Thượng Đình, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người và gây bức xúc cho người dân sống xung quanh Do đó, nhận diện XĐMT để các nhà đầu tư cũng như các đơn vị quản lý KH&CN thực hiện và quản lý các giải pháp đổi mới công nghệ theo hướng thân môi trường trong hoạt động sản xuất
công nghiệp Đây cũng là lý do để tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Xây dựng chính sách công nghệ thân môi trường trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường” (Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Thượng Đình)
2 Lịch sử nghiên cứu
Con người biết đến tác dụng của công nghệ như “con dao hai lưỡi”,
bởi ngoài các giá trị kinh tế từ việc sử dụng công nghệ mang lại, rác thải của
nó đã gây ra những tác động xấu đến môi trường sống của con người Do đó, hoạt động quản trị công nghệ đã được đưa vào chương trình đào tạo của các trường đại học và cao đẳng, thậm chí hoạt động này còn được đưa vào khung chương trình đào tạo của khối xã hội và nhân văn, điển hình là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Nhiều giáo trình được xuất bản và lưu hành rộng rãi, để thấy rõ sự cần thiết trong việc quản lý
công nghệ của các bên liên quan như Giáo trình “Quản trị công nghệ” của
Nguyễn Đình Phi (2011), nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong lĩnh vực nghiên cứu môi trường về khía cạnh xã hội, điển hình là
cuốn sách“Nghiên cứu xã hội về môi trường” do Vũ Cao Đàm chủ biên
(2009), nhóm tác giả đã đưa ra những cách nhìn chung nhất về môi trường sống Vấn đề XĐMT được nhiều tác giả nghiên cứu như đặt ra một yêu cầu
cấp thiết cần phải quản lý và giải quyết nó, như luận văn “Đề xuất chính sách
Trang 12giảm thiểu ô nhiễm môi trường thông qua việc nhận dạng và giải quyết xung đột môi trường giữa các cộng đồng dân cư trong khu vực sông Nhuệ, sông Đáy (đoạn qua tỉnh Hà Nam)” của Nguyễn Đắc Dương (2009), trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Cũng trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội về môi trường, thuật ngữ “Vốn xã hội” tuy còn khá mới mẻ ở nước ta nhưng thực tế vốn xã hội có vai trò tích cực trong công tác
bảo vệ môi trường (BVMT), bài viết “Phát huy vốn xã hội trong bảo vệ môi
trường” trên Tạp chí Cộng sản, tác giả Nguyễn Quang Tuấn (2008) đã phân
tích vai trò của yếu tố này
Thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng công nghệ với ô nhiễm môi trường là rất nhiều bài viết trên một số tạp chí, nhất là các tạp chí thuộc lĩnh vực công nghệ và môi trường Nhờ đó, người đọc sẽ được cập nhật thường xuyên các thông tin về tình hình ô nhiễm môi trường từ rác thải công
nghệ của các nhà nghiên cứu và các cơ quan chức năng, ví dụ như Báo cáo
môi trường quốc gia năm 2009: Môi trường khu công nghiệp Việt Nam của
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009) và trong “Các kết luận kiểm tra về bảo
vệ Môi trường” của Cục Bảo vệ môi trường (2008); trong đó cũng có nhiều
bài viết về lợi ích từ sản xuất sạch hơn (SXSH) như “Lợi ích kinh tế và môi
trường từ áp dụng sản xuất sạch hơn tại các doanh nghiệp công nghiệp” của
Nguyễn Thị Lâm Giang (2008) trên Tạp chí Công nghiệp, số 6 hoặc “Tích
cực đầu tư công nghệ xử lý chất thải tại công ty cổ phần Ắc quy Tia Sáng”
của Nguyễn Tuấn (2008) đăng trên Tạp chí Công nghiệp, số 9
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên chưa đề cập đến hiện trạng XĐMT tại khu vực công nghiệp, tính cấp thiết cần phải xây dựng chính sách công nghệ thân môi trường tại các doanh nghiệp Kế thừa những đề tài cùng hướng nghiên cứu, cùng với yêu cầu khách quan trong việc đầu tư cho công nghệ sản xuất sạch tại Hà Nội, tác giả thực hiện nghiên cứu về việc xây dựng chính sách công nghệ thân môi trường bằng giải pháp áp dụng SXSH trong hoạt động công nghiệp tại KCN Thượng Đình Tính mới của nghiên cứu thể hiện
rõ nhất trong phương pháp nghiên cứu, tác giả không sử dụng phương pháp
Trang 13thực nghiệm để xét nghiệm mẫu nước tại các lưu vực sông bị ô nhiễm hay đo nồng độ ô nhiễm trong khí thải Ở đây, tác giả dùng phương pháp điều tra xã
hội học, chủ yếu sử dụng bảng hỏi và phỏng vấn sâu đối với một số người
dân sống quanh KCN, điển hình là khu tập thể Thuốc lá Thăng Long, khu tập thể Cao su Sao Vàng, đường Nguyễn Trãi và đường Nguyễn Tuân Các thông tin thu thập giúp đánh giá mức độ xung đột về môi trường giữa hoạt động công nghiệp của các đơn vị với quyền lợi của người dân
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường khu công nghiệp, đề tài hướng đến việc xây dựng chính sách công nghệ thân môi trường tại khu công nghiệp Thượng Đình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận các vấn đề về môi trường;
- Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường khu công nghiệp;
- Chỉ ra mối quan hệ giữa các chủ thể trong xung đột môi trường;
- Nhận diện mối quan hệ giữa xung đột và quản lý về môi trường;
- Đề xuất một số giải pháp công nghệ thân môi trường tại khu công nghiệp Thượng Đình
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề xuất các giải pháp công nghệ thân môi trường
tại khu công nghiệp Thượng Đình trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường, nhằm hạn chế và khắc phục ô nhiễm môi trường từ rác thải công nghệ
- Phạm vi thời gian nghiên cứu số liệu: từ năm 2005 đến năm 2012;
- Phạm vi không gian khảo sát: Vùng dân cư gần khu vực công nghiệp (quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội)
5 Câu hỏi nghiên cứu
Việc nhận diện xung đột môi trường có tác động như thế nào đến hành
vi của doanh nghiệp trong việc áp dụng các giải pháp công nghệ thân môi trường?
Trang 146 Giả thuyết nghiên cứu
Nhận diện xung đột môi trường tại một khu vực cụ thể là cơ sở thực tiễn cho thấy những hạn chế của công nghệ sản xuất đang được các doanh nghiệp sử dụng và nhất là các tác động môi trường, ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống của cộng đồng dân cư địa phương (Nghiên cứu trường hợp tại Khu công nghiệp Thượng Đình)
Việc nhận diện xung đột môi trường có thể góp phần vào việc xây dựng các chính sách công nghệ thân môi trường tại các doanh nghiệp nhằm gắn kết hoạt động chuyển giao công nghệ với bảo vệ môi trường, phát triển hài hòa giữa hoạt động công nghiệp với phát triển bền vững Do đó, các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ sang hướng thân thiện với mới trường nếu vẫn muốn tiếp tục các hoạt động sản xuất và kinh doanh tại đây
Đồng thời, nhận diện xung đột môi trường còn chỉ ra cho các nhà quản
lý thấy được những “lỗ hổng” cũng như những thiếu sót trong các văn bản pháp quy về quản lý khoa học, công nghệ và môi trường, từ đó có những điều chỉnh hợp lý và kịp thời Tuy nhiên, thái độ của cộng đồng dân cư địa phương trong việc giải quyết xung đột môi trường chưa thực sự quyết liệt, mới chỉ dừng lại ở mức độ phản ánh tình hình
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
Phân tích, tổng hợp tài liệu từ sách, báo, tạp chí, chủ yếu thuộc các lĩnh vực quản lý khoa học và công nghệ, môi trường Tài liệu được chính dẫn
là những nguồn thông tin chính thống của các nhà nghiên cứu, các cơ quan chức năng đã được công bố hoặc xuất bản
7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Thực hiện phỏng vấn sâu đối với một số Ông/Bà là tổ trưởng tổ dân phố phường Thanh Xuân Trung về thái độ của người dân, những biện pháp quản lý của Ban lãnh đạo khu công nghiệp Thượng Đình nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hạn chế xung đột môi trường; đồng thời trao đổi sâu hơn với một số chuyên gia về xung đột môi trường
Trang 157.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Thực hiện điều tra 100 bảng hỏi đối với người dân thuộc khu tập thể Cao su Sao Vàng, khu tập thể Thuốc là Thăng Long và một số người dân trên đường Nguyễn Trãi và Nguyễn Tuân, nhằm thu thập những ý kiến làm cơ sở thực tiễn chứng minh cho sự cần thiết phải thực hiện các giải pháp công nghệ thân môi trường tại các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp Thượng Đình
7.4 Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát thực tế ô nhiễm môi trường nước tại một số sông trên địa bàn Hà Nội mà KCN Thượng Đình trực tiếp xả thải như sông Tô Lịch, nhằm thu thập chứng cứ khách quan cho nghiên cứu
7.5 Phương pháp so sánh
Tác giả đưa ra một số doanh nghiệp đã xây dựng thành công giải pháp sản xuất sạch hơn, thu được nhiều lợi ích kinh tế và môi trường Với tương quan trong cùng môt điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, pháp luật của đất nước, sự so sánh này hy vọng sẽ giúp các nhà quản lý thu được một số bài học kinh nghiệm trong hoạt động quản lý công nghệ của doanh nghiệp
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 03 chương, gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa xung đột và các vấn đề môi trường
Chương 2: Nhận diện xung đột môi trường và mối quan hệ giữa các chủ thể trong vấn đề môi trường
Chương 3: Một số giải pháp thực hiện sản xuất sạch hơn trong công nghiệp tại khu công nghiệp Thượng Đình
gồm: Lời cảm ơn, Mục lục, Danh mục các bảng biểu, Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA XUNG ĐỘT
VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
1.1 Tổng quan về công nghệ và chính sách
1.1.1 Khái niệm công nghệ
Hiện nay, khái niệm về công nghệ được trình bày từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Sau đây là một số khái niệm thường gặp được trên sách, báo khoa học trong và ngoài nước [22; 61]
Khái niệm 1: Theo J R Dunning (năm 1983), “Công nghệ là nguồn
lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và tiếp thị cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch
vụ mới”
Khái niệm 2: Sharif (trong Dự án của ESCAP: Technology Atlas
Projec - năm 1986) cho rằng: “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối
ưu và tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa”,
Khái niệm 3: UNCTAD (1972) đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là một
đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy, nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện một trong các dạng sau:
- Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư;
Trang 17- Nhân lực, thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao, chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị, kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin;
- Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền
Theo định nghĩa này, bản chất của công nghệ là tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin và có mục tiêu để làm đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất
Khái niệm 4: WB (1985) định nghĩa: “Công nghệ là phương pháp
chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: Thông tin về phương pháp; Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa; Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao” Định nghĩa này cho thấy công nghệ có bản chất là công cụ, thông tin, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành sản phẩm
Khái niệm 5: Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam (2000) đưa
ra định nghĩa: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí
quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến các nguồn lực thành sản phẩm
Tóm lại, nhắc đến công nghệ là đề cập đến khả năng sáng tạo, một tập hợp các kiến thức, một quy trình, thiết bị, phương pháp để chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm và được mua bán trên thị trường như một hàng hóa Tùy theo mục đích sử dụng hoặc lĩnh vực nghiên cứu, công nghệ được phân loại theo các hướng tiếp cận khác nhau Việt Nam là quốc gia đang bị ô nhiễm môi trường do sử dụng công nghệ ô nhiễm trong hoạt động công nghiệp, khái niệm công nghệ môi trường ngày càng được xã hội quan tâm đúng mức
Công nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lý, hóa học, sinh
học nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất và hoạt động của con người Công nghệ môi trường bao gồm các tri thức dưới dạng nguyên lý, quy trình và các thiết bị kỹ thuật thực hiện nguyên lý và quy trình đó [15; 9]
Trang 181.1.2 Các thế hệ phát triển công nghệ
Các thế hệ công nghệ sau đây được phân theo tiêu chí đánh giá tác động môi trường, công nghệ sau càng hướng tới giảm thiểu ô nhiễm môi trường và thậm chí không gây ô nhiểm môi trường [23; 18]
(1) Công nghệ truyền thống: Bản chất của công nghệ truyền thống là
vận hành theo tuyến, các nguyên liệu và năng lượng qua chế tác đã chuyển thành sản phẩm hàng hóa, một phần trở thành chất thải Các sản phẩm hàng hóa được con người sử dụng cuối cùng cũng trở thành chất thải Cả hai loại chất thải này không có cơ hội tái chế, tái sử dụng và được thải bỏ trực tiếp vào môi trường tự nhiên và đây là quy trình sản xuất một chiều Công nghệ truyền thống tạo ra các chất thải công nghiệp, kéo theo sự xuống cấp chất lượng môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người Từ lâu các nước phát triển đã đào thải công nghệ truyền thống sang các nước đang phát triển vì
nó không đảm bảo được khả năng cạnh tranh cho sản phẩm
(2) Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật
không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường Có thể áp dụng công nghệ sạch đối với các quy trình sản xuất trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và bất kỳ sản phẩm công nghiệp nào Đối với các quá trình sản xuất, công nghệ sạch làm giảm thiểu các tác động môi trường và an toàn của các sản phẩm trong suốt chu trình sống của sản phẩm, bảo toàn nguyên liệu, nước, năng lượng, loại bỏ các nguyên liệu độc hại, nguy hiểm, giảm độc tính của các khí thải, chất thải ngay từ khâu đầu của quy trình sản xuất
(3) Sản xuất sạch hơn: Theo UNEP (1995) “Sản xuất sạch hơn là việc
áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ, nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường” Như vậy nội dung của SXSH có thể được mô tả ở 5 mức: Chiến lược, tiếp cận, vận hành, các lựa chọn và các giải pháp
Các kỹ thuật SXSH được chia thành 3 nhóm chính (Hình 1.1):
Trang 19Hình 1.1: Phân loại các kỹ thuật sản xuất sạch hơn [17; 12]
(4) Công nghệ thân thiện môi trường được hiểu đơn giản là công nghệ
không gây ô nhiểm môi trường, không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng; giảm thiểu đến mức thấp nhất phát sinh chất thải; bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bằng các giải pháp tối ưu hóa các dòng vật chất và năng lượng trong quá trình sản xuất công nghiệp
(5) Công nghệ sinh thái thường được diễn ra trong các mô hình sinh
thái với chu trình sản xuất có tính hệ thống (khép kín) Các cơ sở sản xuất trở thành những sinh thái công nghiệp, có mối quan hệ cộng sinh với nhau dựa trên nguyên tắc trao đổi chất, chu trình sản xuất khép kín đảm bảo tuần hoàn năng lượng và vật chất ở mức tối đa
1.1.3 Lợi ích kinh tế và môi trường của sản xuất sạch hơn
Việt Nam đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước Điều này tất yếu kéo theo sự gia tăng tốc độ sản xuất công nghiệp cũng như sự hình thành các KCN Sự phát triển của các KCN đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường và nếu công tác BVMT không được đầu tư đúng mức, các thất thải công nghiệp sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến tài nguyên và chất lượng môi trường (Hình 1.2)
Thay đổi quy trình sản xuất
Quản lý tốt nội vi
Thay nguyên liệu
đầu vào
Kiểm soát tốt hơn quy trình SX
Cải tiến thiết bị
Thay đổi công nghệ
Trang 20Hình 1.2: Mối tương quan giữa phát triển KCN và các vấn đề môi trường
[23; 20]
Nhận thức được tầm quan trọng và bức xúc của vấn đề môi trường trong quá trình CNH, HĐH hướng tới phát triển bền vững (PTBV) đất nước, khái niệm SXSH đã được giới thiệu và thử nghiệm áp dụng trong công nghiệp đầu tiên ở nước ta từ năm 1995 qua hai dự án do quốc tế tài trợ là: Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp giấy và Giảm thiểu chất thải trong công nghiệp dệt ở Hà Nội Tiếp đó, Việt Nam đã ký Tuyên ngôn Quốc tế về SXSH (1999), thể hiện sự cam kết của chính phủ ta phát triển đất nước theo chiến lược bền vững Các khái niệm “Phòng ngừa ô nhiễm”, “Hiệu suất sinh thái”, “Sản xuất không phế thải”, và “Năng suất xanh” cũng được giới thiệu vào nước ta Mặc
dù có tên gọi khác nhau, song bản chất của các khái niệm có nghĩa tương tự nhau nhằm: “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu, năng lượng và chủ động ngăn chặn sự tạo thành chất thải ngay tại nguồn phát sinh ra chúng, giảm thiểu các chất ô nhiễm đi vào môi trường” Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò cấp thiết của SXSH trong công nghiệp, ngày 07 tháng 9 năm
2009, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược sản xuất sạch hơn
trong công nghiệp đến năm 2020”
Hoạt động của các KCN
Cạn kiệt các nguồn tài nguyên
Sự suy giảm đa dạng sinh học
Hủy hoại môi trường sống
Các sự cố môi trường KCN Chất thải rắn,
CTNH và ô nhiễm đất
Phân bố lại địa bàn dân cư và các vấn
đề môi trường liên quan
Nước thải và
ô nhiễm các nguồn nước
Ô nhiễm do tiếng ồn Khí thải và ô
nhiễm không khí
Trang 21Một số cái “hơn” của SXSH được các chuyên gia đánh giá như:
- Giảm nguyên liệu và năng lượng sử dụng: Do giá thành ngày một
tăng của các nguyên liệu sử dụng cũng như hiện trạng ngày càng khan hiếm nước, không một doanh nghiệp nào có thể chấp nhận việc thải bỏ các tài nguyên này dưới dạng chất thải Nước và năng lượng là đặc biệt quan trọng, đặc biệt với các doanh nghiệp sử dụng với khối lượng lớn
- Tiếp cận tài chính dễ dàng hơn: Các cơ quan tài chính ngày một nhận
thức rõ sự nghiêm trọng của việc huỷ hoại môi trường và hiện đang nghiên cứu các dự thảo dự án mở rộng hoặc hiện đại hoá mà trong đó các khoản vay đều được nhìn nhận từ góc độ môi trường Các kế hoạch hành động về SXSH
sẽ đem lại hình ảnh môi trường có lợi về doanh nghiệp tới các nhà cho vay,
do đó sẽ tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn hỗ trợ tài chính
- Các cơ hội thị trường mới và được cải thiện: Việc nâng cao nhận thức
của người tiêu dùng về các vấn đề môi trường đã dẫn đến sự bùng nổ nhu cầu
về sản phẩm xanh trên thị trường quốc tế Chính vì vậy, khi các doanh nghiệp
đã có những nỗ lực nhận thức về SXSH có thể mở ra được nhiều cơ hội thị trường mới và sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn và có thể bán
ra với giá cao hơn Các doanh nghiệp thực hiện SXSH sẽ đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, ví dụ như ISO 14001, hoặc các yêu cầu của thị trường như nhãn sinh thái
- Tạo nên hình ảnh công ty tốt hơn: SXSH phản ánh và cải thiện hình
ảnh chung về doanh nghiệp Một công ty với hình ảnh "xanh" sẽ được cả xã hội cũng như các cơ quan hữu quan ghi nhận và đánh giá cao vì những nỗ lực trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội về BVMT
- Môi trường làm việc tốt hơn: Việc nhận thức ra tầm quan trọng của
một môi trường làm việc sạch và an toàn đang ngày một gia tăng trong số các công nhận Bằng cách đảm bảo các điều kiện làm việc thích hợp thông qua thực hành SXSH, nhà quản lý có thể làm tăng ý thức của các cán bộ, đồng thời xây dựng ý thức kiểm soát chất thải Các hoạt động như vậy sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được khả năng cạnh tranh
Trang 22- Tuân thủ tốt luật môi trường: Các tiêu chuẩn môi trường về phát thải
các chất thải (lỏng, rắn, khí) đang trở nên ngày một chặt chẽ hơn Để đáp ứng được các tiêu này thường yêu cầu việc lắp đặt các hệ thống kiểm soát ô nhiễm phức tạp và đắt tiền SXSH hỗ trợ cho việc xử lý các dòng thải, do đó doanh nghiệp sẽ tuân thủ các tiêu chuẩn thải một cách dễ dàng, đơn giản và rẻ tiền hơn SXSH dẫn dến việc giảm chất thải, giảm lượng phát thải và thậm chí giảm cả độc tố theo quy luật vòng tròn
Trong khuôn khổ Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (CPI) thuộc Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Đan Mạch về môi trường
2006 - 2010, CPI đã tiến hành đánh giá SXSH cho 11 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các lĩnh vực công nghiệp khác nhau sau 2 năm triển khai tại các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An, Quảng Nam và Bến Tre Kết quả cho thấy các doanh nghiệp đã thực hiện nhiều giải pháp quản lý nội
vi và các giải pháp SXSH chi phí thấp đã thu được những lợi ích về kinh tế và điều kiện môi trường được cải thiện đáng kể, giảm tác động xấu đến môi trường cộng đồng xung quanh Thậm chí, các doanh nghiệp đã xây dựng được một hệ thống quản lý môi trường giúp duy trì các hoạt động SXSH cho cả những năm tiếp theo
Các hoạt động đánh giá SXSH đã giúp 11 doanh nghiệp xác định được tổng số 311 giải pháp, trong số đó có 220 giải pháp đã được thực hiện với tổng vốn đầu tư là 26 tỷ đồng Mức đầu tư này mỗi năm mang lại hiệu quả khoảng 19 tỷ đồng cho các doanh nghiệp tham gia Chỉ với các giải pháp đơn giản, chi phí thấp, mỗi năm 11 doanh nghiệp đã tiết kiệm được 129.300 m3 nước, 3.049.465 kWh điện, 1,195 tấn nguyên liệu sản xuất Riêng về tác động môi trường, 11 doanh nghiệp đã đạt được một số thành công đáng kể như: giảm 4,097 tấn CO2 thoát ra khí quyển; 25,9 tấn bụi than; 5,9 tấn bụi độc hại (có chứa 8% chì); 38,3 tấn hóa chất;… Ngoài ra, các doanh nghiệp còn xác định được các giải pháp SXSH đòi hỏi chi phí cao và đề nghị CPI hỗ trợ 40 - 50% vốn đầu tư và thời gian hoàn vốn trung bình của các giải pháp đầu tư khoảng 3,5 năm [11; 4]
Trang 231.1.4 Chính sách công nghệ thân môi trường
Trong hệ thống quản lý, việc phân tích và hoạch định chính sách không chỉ là một tất yếu khách quan, mà người quản lý còn phải có nhiệm vụ đưa ra các chính sách đảm bảo sự thành công trong công việc quản lý của chính mình cũng như việc đạt được các mục tiêu chung của tổ chức Xuất phát từ những mục tiêu khác nhau, từng nhà quản lý lại xác định một số cách tiếp cận chính sách sao cho phù hợp
James E Anderson đưa ra định nghĩa chung: Chính sách là quá trình
hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi, để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm [9; 12]
Trong các Bài giảng về Khoa học chính sách, PGS Vũ Cao Đàm đã
đưa ra định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa,
mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo ra sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [9; 18]
Khái niệm “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính tỉnh/thành phố, một
tổ chức như doanh nghiệp Một số cách tiếp cận về chính sách như:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp, có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, một biện pháp động viên tinh thần, một mệnh lệnh hành chính hoặc một ưu đãi đối với các các nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, chỉ thị của chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của một tổ chức, chẳng hạn như một doanh nghiệp
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó, dựa vào những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu
mà tạo động cơ cho đối tượng chính sách
Trang 24- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội như mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu phát triển của một địa phương hay mục tiêu bảo
vệ đất nước của một quốc gia
Khi nói đến chính sách, nhiều người chỉ nghĩ đến các chính sách của nhà nước mà không đề cập đến các chính sách của doanh nghiệp Dựa vào phân tích tiếp cận ở trên, ta thấy doanh nghiệp nào cũng cần có chính sách để đưa ra các biện pháp kích thích sản xuất và tăng lợi nhuận, đảm bảo việc làm
và phát huy sự sáng tạo của người lao động tương ứng với các mục tiêu về kinh doanh, an toàn lao động và BVMT Để làm rõ hơn vấn đề này, có thể phân biệt chính sách của một quốc gia với một doanh nghiệp theo chủ thể hoạch định chính sách
Chính sách của một quốc gia: Sự hình thành và phát triển của một quốc
gia luôn thể hiện thông qua những chính sách: chính sách kinh tế, chính sách
xã hội, chính sách an ninh quốc phòng, chính sách đối nội, chính sách đối ngoại Chính sách sẽ dẫn quốc gia đến thịnh vượng hoặc thảm họa phụ thuộc vào tính đúng đắn của chính sách
Chính sách của một doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp là một chủ thể
quyết định chính sách phục vụ mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp: chính sách đầu tư, chính sách phát triển sản phẩm, chính sách cạnh tranh, chính sách công nghệ Nếu là một chính sách hợp lý, nó có thể tạo đà cho doanh nghiệp phát triển; song cũng có thể dẫn doanh nghiệp đến thua lỗ, thậm chí phá sản nếu đó là một chính sách sai lầm, không có tính khả thi
Từ đó, chính sách công nghệ thân môi trường của doanh nghiệp được
hiểu là một tập hợp các biện pháp được cụ thể hóa bằng các văn bản cho việc đầu tư đổi mới công nghệ sang hướng thân thiện với môi trường, chuyển giao công nghệ sạch, công nghệ không chất thải hoặc giảm thiểu đến mức thấp nhất phát sinh chất thải; bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bằng các giải pháp tối
ưu hóa các dòng vật chất và năng lượng trong quá trình sản xuất công nghiệp; đóng góp tích cực trong công tác BVMT
Trang 251.1.5 Giới thiệu Khu công nghiệp sinh thái
“Khu công nghiệp sinh thái là một “cộng đồng” các doanh nghiệp sản
xuất và dịch vụ có mối liên hệ mật thiết trên cùng một lợi ích: hướng tới một
hoạt động mang tính xã hội, kinh tế và môi trường chất lượng cao, thông qua
sự hợp tác trong việc quản lý các vấn đề về môi trường và nguồn tài nguyên”
[13; 5]
Mục tiêu của KCN sinh thái là cải thiện hoạt động kinh tế dựa trên
nguồn tài nguyên có hạn, đồng thời giảm thiểu các tác động tới môi trường
của các doanh nghiệp trong KCN sinh thái Bốn lĩnh vực cơ bản là khai thác,
sản xuất, tiêu dùng và xử lý chất thải được hoạt động theo một chu trình khép
kín trong Hệ sinh thái công nghiệp sẽ đem lại hiệu quả cao hơn và làm giảm
Hình 1.3: Sơ đồ Hệ sinh thái công nghiệp [13; 23]
Một KCN sinh thái cần phải: Thiết lập BPX (by-product exchange), là
một mạng lưới hay một nhóm các doanh nghiệp sử dụng các phế phẩm, phụ
phẩm của nhau (như năng lượng, nước và nguyên vật liệu) hơn là đem tiêu
hủy chúng như các chất thải; là một tập hợp các doanh nghiệp tái chế, có công
nghệ sản xuất BVMT, sản xuất sản phẩm sạch; là KCN được thiết kế theo
một chủ đề môi trường như KCN sinh thái năng lượng tái sinh, tái tạo tài
nguyên và với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và công trình xây dựng BVMT
Khai thác vật liệu
Sản xuất sản phẩm
Xử lý chất thải
Tiêu thụ sản phẩm
Trang 26Một số lợi ích về kinh tế và môi trường của KCN sinh thái như:
Về môi trường, KCN sinh thái giảm các nguồn gây ô nhiễm môi
trường, giảm lượng chất thải cũng như giảm nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua các nghiên cứu mới nhất về sản xuất sạch, bao gồm: hạn chế
ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng, quản lý chất thải, tái tạo tài nguyên và các phương pháp quản lý môi trường và công nghệ mới khác
KCN sinh thái (từ lựa chọn địa điểm, quy hoạch, xây dựng hệ thống hạ tầng
kỹ thuật, lựa chọn doanh nghiệp, quá trình hoạt động, quản lý) đều phù hợp với các điều kiện thực tế và đặc điểm sinh thái của khu đất xây dựng và các khu vực xung quanh
- Phấn đấu vì mục tiêu ngày càng cao về môi trường: Mỗi KCN sinh thái có một mô hình phát triển và quản lý riêng để không ngừng nâng cao đặc
trưng cơ bản của nó về BVMT
Về kinh tế, KCN sinh thái là một động lực phát triển kinh tế - xã hội
mạnh của khu vực, thu hút các tập đoàn lớn, tạo việc làm mới trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ; tạo động lực và hỗ trợ các dự án phát triển mở rộng địa phương như đào tạo nhân lực, cải thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật
- KCN sinh thái chính là một trung tâm tự nhiên của mạng lưới sinh thái công nghiệp Các lợi ích do KCN sinh thái đem lại sẽ tạo ra một bộ mặt mới, một môi trường trong sạch và hấp dẫn hơn cho toàn khu vực
- KCN sinh thái tạo các điều kiện hợp tác với các có quan nhà nước trong việc thiết lập các chính sách, luật lệ về môi trường và kinh doanh ngày càng thích hợp hơn
Ngành công nghiệp môi trường là một lĩnh vực còn khá mới lạ ở nước
ta Trong khi ngành công nghiệp môi trường của Mỹ được hình thành và đi vào hoạt động từ năm 1970 với doanh thu là 20 tỷ USD và đến năm 1996, đã đạt được doanh thu là 181 tỷ USD, với 115.200 công ty hoạt động trong lĩnh vực này; trong đó, công ty tư nhân khoảng 34%, công ty thuộc nhà nước
chiếm 66% (Theo Tạp chí Công nghiệp - số 6, 2007)
Trang 271.2 Tổng quan về môi trường
1.2.1 Khái niệm môi trường
Có nhiều khái niệm khác nhau về môi trường: [23, 13]
Khái niệm 1: Theo UNESCO (1967), “Môi trường sống của con người
mà con người tác động, sử dụng và bị nó làm ảnh hưởng”, “là tập hợp các thành tố vật chất (tự nhiên và nhân tạo) và xã hội xung quanh mỗi con người” Môi trường theo UNESCO gồm 2 yếu tố:
- Nhóm vật chất: bao gồm các yếu tố tự nhiên như đất, nước, không khí, sinh học, trường vật lý và yếu tố nhân tạo như đô thị, nhà cửa, công sở, máy móc,
- Nhóm phi vật chất: bao gồm các yếu tố xã hội và nhân văn như quy chế, luật pháp, chương trình, dự án, đạo đức, văn hóa, truyền thống, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và cộng đồng
Khái niệm 2: Theo Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA), “Môi trường là
tổng thể những điều kiện bên ngoài tác động đến cuộc sống, sự phát triển và
sự tồn tại của một sinh thể”
Khái niệm 3: Theo Luật Bảo vệ môi trường Trung Quốc (1979), “Môi
trường bao gồm không khí, nước, đất, khoáng sản, rừng, đồng cỏ, động vật hoang dã, các loại thủy sinh, các đặc điểm có ý nghĩa lịch sử, danh lam thắng cảnh, các suối nước nóng, các khu lịch sử và bảo tồn thiên nhiên cũng như các vùng có dân cư”
Khái niệm 4: Theo Luật Bảo vệ môi trưởng Việt Nam (sửa đổi 2005),
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
Khái niệm 5: Theo Lê Văn Khoa (1995), “Môi trường theo nghĩa rộng
nhất là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện.” Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể” [12; 5]
Trang 28Như vậy, môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan
hệ xã hội, Với nghĩa hẹp, môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống như diện tích nhà ở, chất lượng bữa ăn hàng ngày, nước sạch, điều kiện vui chơi giải trí, Ở nhà trường thì môi trường của học sinh gồm nhà trường, thầy cô giáo, bạn bè, nội quy, sân chơi, phòng học, phòng thí nghiệm, các tổ chức Đoàn, Đội, một số địa điểm thực tập, dã ngoại, Tóm lại, môi trường là tất cả những gì xung quanh chúng ta, tạo điều kiện để chúng ta sống, hoạt động và phát triển
Môi trường sống của con người thường được phân chia thành:
- Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng, núi, sông, biển cả, động thực vật, đất
và nước, Môi trường tự nhiên cho con người không khí để thở, đất để xây dựng nhà ở, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản để phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ
- Môi trường xã hội: là tổng thể các mối quan hệ xã hội giữa con người
với con người Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể, làm cho cuộc sống và sự phát triển của con người khác với các sinh vật khác
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên hoặc biến đổi theo làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như ô tô, nhà ở, công sở, khu đô thị, khu vui chơi giải trí, công viên,
1.2.2 Khái niệm về ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, khủng hoảng môi trường và sự cố môi trường
1.2.2.1 Ô nhiễm môi trường
Trang 29Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam (2005), “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi
trường” Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất
thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật
và vật liệu Dưới tác động của cuộc cách mạng KH&CN cũng như quá trình công nghiệp hóa diễn ra tại các quốc gia, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề toàn cầu
1.2.2.2 Suy thoái môi trường
Theo Tổng cục Môi trường (2009), “Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên” Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất,
âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác
1.2.2.3 Khủng hoảng môi trường
Hiện nay, thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng hoảng lớn là: dân số, lương thực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái Năm cuộc khủng hoảng này đều liên quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất lượng cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm Nguyên nhân gây nên các cuộc khủng hoảng
là do sự bùng nổ dân số và các yếu tố phát sinh từ sự gia tăng dân số, từ đó xuất hiện khái niệm mới là khủng hoảng môi trường Hiện nay, Trung Quốc đang đứng đầu thế giới về số dân và mức độ tiêu thụ nước, đặt quốc gia này trước nguy cơ khủng hoảng môi trường
Trang 30Theo Tổng cục Môi trường (2009), “Khủng hoảng môi trường là các suy thoái về chất lượng môi trường sống trên quy mô toàn cầu, đe dọa cuộc sống của loài người trên trái đất” Những biểu hiện của khủng hoảng môi trường như:
- Ô nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2 v.v ) vượt tiêu chuẩn cho phép tại các đô thị, khu công nghiệp
- Hiệu ứng nhà kính đang gia tăng làm biến đổi khí hậu toàn cầu
- Tầng ozon bị phá huỷ
- Sa mạc hoá đất đai
- Nguồn nước bị ô nhiễm
- Ô nhiễm biển xảy ra với mức độ ngày càng tăng
- Rừng đang suy giảm về số lượng và suy thoái về chất lượng
- Số chủng loài động thực vật bị tiêu diệt đang gia tăng
- Rác thải, chất thải đang gia tăng về số lượng và mức độ độc hại
1.2.2.4 Sự cố môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam (2005): “Sự cố môi trường
là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng”
Sự cố môi trường có thể xảy ra do:
- Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;
- Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của
cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng;
- Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí,…;
Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ, ví dụ như rò rỉ phóng xạ
đã được phát hiện trong khu vực xung quanh sau sự cố nổ lò phản ứng số 1 của nhà máy điện hạt nhân Fukushima, Nhật Bản (2011)
Trang 311.2.3 Các chức năng cơ bản của môi trường
Đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng, môi trường sống có
4 chức năng cơ bản (Hình 1.4)
Hình 1.4: Các chức năng cơ bản của môi trường [12; 10]
(1) Môi trường là không gian sinh sống cho con người và sinh vật
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống như nhà ở, nơi nghỉ, đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, kho tàng, bến cảng, Trung bình mỗi ngày, mỗi người đều cần khoảng 4m3 không khí sạch để hít thở, 2,5 lít nước
để uống, một lượng lương thực thực phẩm tương ứng với 2000 - 2400 calo Như vậy, chức năng này đòi hỏi môi trường phải có một phạm vi không gian thích hợp cho mỗi người sinh sống và hoạt động
Yêu cầu về không gian sinh sống của con người thay đổi theo trình độ KH&CN, trình độ phát triển càng cao thì yêu cầu về không gian sản xuất sẽ càng giảm Có thể phân chia chức năng không gian sống của con người thành các dạng cụ thể như: chức năng xây dựng; chức năng vận tải; chức năng sản xuất; chức năng cung cấp năng lượng; và chức năng giải trí cho con người Trong đó, chức năng giải trí ngày càng được xã hội quan tâm
(2) Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho
đời sống và sản xuất của con người
MÔI TRƯỜNG
Không gian sống của con người và các loài sinh vật
Nơi lưu trữ
và cung cấp các nguồn thông tin
Nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên
Nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra
Trang 32Với sự hỗ trợ của các hệ thống sinh thái, con người đã lấy từ tự nhiên những nguồn tài nguyên thiên nhiên cần thiết phục vụ cho việc sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Thiên nhiên cung cấp nguồn vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất và quản lý của con người Trong khi đó, nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội Cùng với sự hỗ trợ của KH&CN hiện nay, con người cũng dễ dàng tiếp cận, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên vào các mục đích khác nhau
Chức năng này của môi trường còn gọi là nhóm chức năng sản xuất tự nhiên gồm rừng tự nhiên: cung cấp nước, gỗ củi, dược liệu, bảo tồn tính đa dạng sinh học, ; các thủy vực, với chức năng chính là cung cấp nguồn nước; động thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm; không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió, nước để duy trì sự sống; và các loại quặng, dầu mỏ làm nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất,
(3) Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra
trong cuộc sống và hoạt động sản xuất
Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của cải vật chất, con người luôn đào thải ra các chất thải vào môi trường Tại đây, các chất thải dưới tác động của các vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác sẽ bị phân hủy, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia vào hàng loạt các quá trình sinh địa hóa phức tạp Trong thời kỳ sơ khai, khi dân số nhân loại còn ít, chủ yếu do các quá trình phân hủy tự nhiện làm cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định lại trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Sự gia tăng dân số thế giới nhanh chóng, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa quá mức làm số lượng và tính chất độc hại của chất thải tăng lên không ngừng Dẫn đến chức năng này
ở nhiều nơi trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường và tất yếu các hành động can thiệp nhằm BVMT
Có thể phân loại chức năng này thành chức năng biến đổi lý - hóa học; chức năng biến đổi sinh hóa; và chức năng biến đổi sinh học
Trang 33(4) Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Môi trường trái đất được coi là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người, vì chính môi trường trái đất là nơi:
- Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người;
- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu
và báo động sớm các hiểm họa đối với con người và sinh vật sống trên trái đất, như phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên như bão, lũ lụt, sóng thần, động đất, núi lửa, ;
- Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hóa khác
1.2.4 Các hướng tiếp cận nghiên cứu môi trường
Lần đầu tiên trong các nghiên cứu về môi trường ở Việt Nam, nhóm tác giả Vũ Cao Đàm và cộng sự đã đưa ra một bức tranh hệ thống hóa, thực hiện một phân tích tổng quan về các hướng tiếp cận trong các dự án nghiên cứu và các chương trình giáo dục môi trường gồm: [10; 11]
- Tiếp cận độc học: Ngay khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu
bùng nổ ở nước Anh và Châu Âu, người ta đã nhận ra hậu quả ô nhiễm môi trường bởi những độc hại từ trong quá trình công nghiệp hóa Hướng tiếp cận độc học xem xét ô nhiễm môi trường từ rủi ro của các sản phẩm hóa học và ô nhiễm môi trường tới con người, cây cỏ và động vật từ tác động gây độc của chất thải Con người đã tìm các biện pháp chống độc tố, bên cạnh những biện pháp trừ khử và phân hủy, còn lại các biện pháp khác chỉ tìm cách cất dấu chất thải để cách ly chất thải với con người Trên thực tế, nó vẫn được tích tụ
ở đâu đó hoặc di chuyển từ nơi này đến nơi khác, dưới các hình thức khác nhau mà không được loại trừ triệt để ra khỏi môi trường sống Ở nước ta, tình trạng ô nhiễm không khí và nguồn nước từ các KCN là minh chứng điển hình
cho hướng tiếp cận này
Trang 34- Tiếp cận dịch tễ học: Tiếp cận dịch tễ học gần như xuất hiện đồng
thời với tiếp cận độc học, đôi khi hai hướng tiếp cận này còn làm tiền đề và
bổ trợ cho nhau Tác động dịch tễ học xem xét tác động của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe của cộng đồng dân cư, trực tiếp là sức khỏe của người lao động tại nơi làm việc Cùng với tiếp cận độc học, tiếp cận dịch tễ học trong khuôn khổ của các môn học “An toàn lao động”, “Bảo hộ lao động”, “Vệ sinh công nghiệp” đã được đưa vào giảng dạy trong các trường đại học, trung học
kỹ thuật và các trường dạy nghề của nước ta từ những năm 1950, xuất phát thực tiễn và tính ứng dụng cách tiếp cận này đối với việc bảo vệ sức khỏe của
con người
- Tiếp cận sinh thái học: Một trong những chức năng quan trọng của
môi trường là cung cấp tài nguyên thiên nhiên cho con người Với tiềm lực trí
óc lớn mạnh cùng với sự trợ giúp đắc lực của công cụ khoa học, kỹ thuật và đặc biệt là công nghệ, tài nguyên thiên nhiên hữu hạn đang bị cạn kiệt và suy thoái; đồng thời, con người đang phải hứng chịu hậu quả do việc khai thác
quá mức tài nguyên
Thông qua một số Hội nghị thượng đỉnh quan trọng, điển hình như Hội nghị Rio De Janeiro năm 1992, với hướng tiếp cận chủ đạo là sinh thái học, người ta bắt đầu tìm lối thoát cho mối quan hệ giữa nhu cầu phát triển với BVMT và khái niệm Phát triển bền vững đã xuất hiện Một số Công ước về môi trường cũng được thông qua như: Công ước Rotterdam về thủ tục thỏa thuận thông báo trước đối với một số hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật nguy hại trong thương mại quốc tế; Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại (CTNH) và tiêu hủy chúng; Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy Với tính cấp thiết của các vấn đề môi trường, môn học “Môi trường và phát triển bền vững” đã được
giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng
- Tiếp cận công nghệ học: Từ khoảng giữa những năm 1970, cuộc cách
mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại bắt đầu có những đặc điểm và xu hướng phát triển mới để chuyển sang giai đoạn thứ hai, đó là cuộc cách mạng về
Trang 35công nghệ Với nhu cầu tăng trưởng kinh tế và giành lợi thế cạnh tranh, công nghệ trở thành công cụ quan trọng quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp Công nghệ được áp dụng, thay đổi liên tục theo vòng đời của công nghệ (Life cycle of Technology) và mong muốn của sản phẩm tạo ra Theo đó, chất thải công nghiệp ngày càng đa dạng, ngày càng nhiều cả về số lượng và mức độ
độc hại ở cả ba trạng thái rắn, lỏng, khí Cũng từ đây, các khái niệm “Công
nghệ môi trường”, “Công nghiệp môi trường”, “Khu công nghiệp sinh thái” xuất hiện, góp phần tạo tiền đề cho công nghệ sạch, công nghệ sạch hơn, công nghệ ít chất thải, công nghệ không chất thải, công nghệ thân thiện môi trường
được nghiên cứu và phát triển trên thế giới
- Tiếp cận kinh tế học: Tiếp sau tiếp cận công nghệ học là tiếp cận kinh
tế học Tư tưởng cơ bản của tiếp cận kinh tế học dựa trên quan niệm cho rằng, bản thân công nghệ không phải là tác nhân tàn phá môi trường, mà vấn đề là ở các nhà đầu tư, những người sử dụng công nghệ để phục vụ cho các mục đích lợi nhuận Trong bất cứ thời đại nào, công nghệ luôn đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng Tuy nhiên, công nghệ luôn phải đáp ứng được hai vấn đề, đó là tính ứng dụng và BVMT Nếu căn cứ vào các điều kiện nêu trên, đa phần các doanh nghiệp đang hoạt động ở nước ta đã đáp ứng được vấn đề phát triển sản xuất để tối đa hóa lợi nhuận nhưng kéo theo hủy hoại môi trường, bất chấp mọi chế tài xử lý
của pháp luật Việt Nam
Với đề tài này, tiếp cận công nghệ học và kinh tế học là hai hướng tiếp cận chính để nhận diện XĐMT Nguyên nhân cơ bản của phá hoại môi trường
là do chủ chương chiến lược đầu tư Về nguyên tắc, các nhà đầu tư đều biết rõ hơn ai hết những tác động đến môi trường của công nghệ mà họ sử dụng Nhưng động cơ tối đa hóa lợi nhuận là động lực thúc đẩy các nhà đầu tư giảm bớt chi phí BVMT như không có hệ thống xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường, không đầu tư cho các giải pháp sản xuất sạch, tiết kiệm tài nguyên ; hoặc xấu hơn là xử dụng công nghệ ô nhiễm, gây tác động xấu đến chất lượng môi trường và sức khỏe của con người
Trang 361.2.5 Khái niệm phát triển bền vững
Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể đình chỉ tiến hoá và ngừng sự phát triển của mình Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường
Theo WCED (1987) đã đưa ra khái niệm PTBV: “Phát triển bền vững
là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai” Để xây
dựng một xã hội PTBV, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc:
1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người
3 Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất
4 Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được
5 Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất
6 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân
7 Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
8 Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ
9 Xây dựng một khối liên minh toàn cầu
Chính phủ Việt Nam chủ trương xây dựng và ban hành Định hướng
của Việt Nam), trong đó đề ra 8 nguyên tắc chính có liên quan đến môi trường vật thể, cảnh quan và tài nguyên thiên nhiên như sau:
Thứ nhất, con người là trung tâm của PTBV nhằm đáp ứng đầy đủ mọi
nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Thứ hai, phát triển kinh tế song hành với bảo đảm an ninh lương thực,
năng lượng để PTBV Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài
Trang 37nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và môi trường lâu bền
Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một
yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác BVMT Yêu cầu này luôn được coi là một tiêu chí quan trọng trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội và trong PTBV
Thứ tư, quá trình phát triển phải đảm bảo một cách công bằng nhu cầu
của thế hệ hiện tại và các thế hệ tương lai Tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai sau; sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo; giữ gìn và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường Xây dựng lối sống lành mạnh, hài hòa, gần gũi và yêu quý thiên nhiên
Thứ năm, KH&CN là nền tảng và động lực cho CNH, HĐH, phát triển
nhanh và bền vững đất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành sản xuất khác
Thứ sáu, PTBV là sự nghiệp của các cấp chính quyền, của các Bộ,
ngành và địa phương, của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh
tế, xã hội và BVMT ở địa phương và trên quy mô cả nước
Thứ bảy, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập
kinh tế thế giới Phát triển các quan hệ đa phương và song phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực, tăng cường hợp tác quốc tế trong PTBV Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội và BVMT với
bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
Trang 381.3 Tìm hiểu xung đột môi trường
1.3.1 Khái niệm xung đột môi trường
Về lý thuyết XĐMT, nguồn tài liệu ở nước ta còn hạn chế và chủ yếu là các kết quả nghiên cứu về thực trạng XĐMT Trước hết, chúng ta cần hiểu về
lý thuyết xung đột xã hội, trong số những bậc thầy nghiên cứu về vấn đề này, Gunter Endruweit đã đưa ra một cách hiểu khái quát như sau: “Xung đột xã hội là các quan hệ và quá trình xã hội mà ở đó có thể phân biệt hai hay nhiều
cá nhân hay nhóm có quyền lợi đối lập nhau trong những cách giải quyết vấn
đề nhất định” XĐMT là một dạng cụ thể của xung đột xã hội, do vậy nó cũng
là các quan hệ giữa cá nhân hay nhóm có quyền lợi đối lập nhau trong cách giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường
Viện công nghệ Châu Á (1993) đã đưa ra một số định nghĩa: [23; 38]
- XĐMT là xung đột quyền lợi cộng đồng, vị trí nghề nghiệp và ưu tiên chính trị; là mâu thuẫn giữa hiện tại và tương lai; giữa bảo tồn và phát triển Kết quả của XĐMT có thể là xây dựng hoặc phá hủy phụ thuộc vào quá trình quản lý xung đột
- XĐMT là kết quả của việc sử dụng tài nguyên do một nhóm người mà gây bất lợi cho nhóm người khác
- XĐMT là kết quả của việc khai thác quá mức hoặc lạm dụng tài nguyên thiên nhiên
Theo các nhà xã hội học môi trường thì XĐMT là xung đột (mâu thuẫn) về quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau trong việc khai thác, sử dụng và hưởng thụ nguồn tài nguyên môi trường Nhóm này muốn tước đoạt lợi thế của nhóm khác trong việc khai thác, sự đấu tranh giữa các nhóm để phân phối lại lợi thế về tài nguyên - môi trường
Tóm lại, Xung đột môi trường là quá trình hình thành và phát triển những mâu thuẫn về lợi giữa các nhóm xã hội trong việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên và môi trường Đây là khái niệm được phân tích trong
đề tài, cụ thể là nhận diện XĐMT giữa các doanh nghiệp với cộng đồng dân
cư sống xung quanh
Trang 391.3.2 Các dạng xung đột môi trường
XĐMT có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau:
- Sự khác nhau trong quan niệm về BVMT;
- Sự bất đồng nhận thức trong cách ứng xử với môi trường;
- Dị biệt văn hóa trong cách ứng xử với môi trường;
- Bất bình đẳng trong việc sử dụng tài nguyên và sự hưởng thụ các lợi thế môi trường
Căn cứ nguyên nhân XĐMT, những nghiên cứu xã hội học môi trường cho thấy có thể tồn tại các dạng xung đột sau:
- Xung đột nhận thức: Đây là dạng xung đột đơn giản nhất, nguyên
nhân của dạng xung đột này xuất phát từ sự hiểu biết khác nhau trong hành động của các nhóm dẫn tới phá hoại môi trường
- Xung đột mục tiêu: Sự xung khắc trong mục tiêu hoạt động của các nhóm dẫn đến xung đột Trong nhiều trường hợp, xung đột mục tiêu còn gây
ra những hậu quả nghiêm trọng
- Xung đột lợi ích: Lợi ích của các nhóm xã hội có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau, thậm chí còn mâu thuẫn với nhau Do đó, dạng xung đột này xuất hiện khi các nhóm tranh giành lợi thế sử dụng tài nguyên
- Xung đột quyền lực: Nhóm có quyền lực mạnh hơn lấn át nhóm khác, chiếm dụng lợi thế của nhóm khác dẫn đến ô nhiễm môi trường Ở nước ta, nhóm bị lấn át thường cần đến sự can thiệp của các cơ quan chức năng khi xảy ra loại xung đột này
Với đề tài nghiên cứu này, xung đột lợi ích được xác định là dạng xung đột chính và dễ nhận biết nhất, trực tiếp qua thái độ và các hành động cụ thể của người dân địa phương trước thực trạng ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực sản xuất công nghiệp Còn xung đột nhận thức không được thể hiện
rõ ràng bởi tất cả các nhóm xã hội, bao gồm cả nhóm gây hại và nhóm bị hại đều nhận thức đầy đủ về các hành động có thể dẫn tới phá hoại môi trường, nhưng vì mục đích lợi nhuận mà một bên sẽ dùng mọi thủ đoạn để che đậy
hành vi vi phạm này
Trang 401.3.3 Nguyên nhân gây xung đột môi trường
1.3.3.1 Thiếu thông tin hoặc bỏ qua thông tin
Nguyên nhân gây ra XĐMT có thể do khai thác quá mức hoặc lạm dụng tài nguyên môi trường và chức năng môi trường do tài nguyên môi trường đang ngày càng cạn kiệt Các nhóm lợi ích đã cố ý bỏ qua thông tin hoặc thiếu thông tin do kiến thức không đầy đủ về chi phí, lợi ích và nguy cơ trong các hoạt động Như theo kết luận kiểm tra ngày 26/9/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với công ty Vedan Việt Nam cho thấy, mẫu nước thải tại khu vực bể bán âm và bồn chứa của công ty có các thông số về độ màu, COD, BOD5, tỷ lệ vượt từ 10 cho đến 2.000 lần, cá biệt lên tới 3.675 lần Rõ ràng, công ty Vedan đã bỏ qua các thông tin về tiêu chuẩn nước thải
và quản lý môi trường
1.3.3.2 Thiếu sự tham gia đóng góp của các bên liên quan
BVMT là trách nhiệm của toàn xã hội, XĐMT cũng chính là xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội Thiếu sự tham gia của tất cả các bên liên quan
có thể dẫn đến mất cân bằng về lợi ích của các nhóm, thông thường một nhóm
xã hội chỉ đại diện lợi ích cơ bản của chính nhóm đó và có những hệ thống giá trị nhất định Tại Việt Nam, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường được quy định cụ thể trong luật Bảo vệ môi trường (2005) Nhưng trong nhiều trường hợp, nếu tăng cường sự tham gia của người dân, chúng ta
có thể tránh được những chủ chương và chính sách gây bức xúc trong xã hội như bãi chôn lấp chất thải rắn Nam Sơn (Hà Nội), bãi chôn lấp chất thải rắn Tràng Cát (Hải Phòng) và một số nơi khác, người dân địa phương đã đổ ra đường để ngăn chặn các xe chở rác của các công ty môi trường đô thị
1.3.3.3 Chưa sử dụng hợp lý tài nguyên môi trường
Những vấn đề về môi trường mới vẫn tiếp tục xuất hiện, nó là kết quả của việc con người đang sử dụng một cách bất hợp lý những tiềm năng do môi trường đem lại Sự nóng lên của trái đất là một ví dụ điển hình, đó là hậu quả của sự tăng lên nhanh chóng lượng khí cácbon điôxit trong bầu khí quyển của trái đất, tầng ôzôn bị phá hủy Chẳng hạn như sự gia tăng 10% lượng CO2