1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF

124 596 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng tính liên kết; nâng cao vai trò của hiệp hội doanh nghiệp, hội người tiêu dùng với các cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa qua các buổi hội thảo, họp định kỳ; các chương

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 7

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

3 Mục tiêu nghiên cứu 10

4 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Mẫu khảo sát 10

6 Câu hỏi nghiên cứu 11

7 Giả thuyết nghiên cứu 11

8 Phương pháp nghiên cứu 12

9 Kết cấu của Luận văn 13

PHẦN NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG, QUẢN LÝ 14

CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA VÀ VIỆC THIẾT LẬP MỐI LIÊN KẾT THƯỜNG XUYÊN GIỮA CƠ QUAN QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG 14

1.1 Chất lượng hàng hóa 14

1.1.1 Khái niệm chất lượng, hàng hóa 14

1.1.2 Đặc điểm chất lượng hàng hóa 17

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa 18

1.1.4 Vai trò của chất lượng hàng hóa trong nền kinh tế thị trường 24 1.2 Quản lý chất lượng hàng hóa 28

1.2.1 Khái niệm quản lý chất lượng hàng hóa 28

1.2.2 Các nguyên tắc trong quản lý chất lượng hàng hóa 28

1.2.3 Vai trò và tầm quan trọng của hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa 29

Trang 2

1.3 Cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc thiết lập mối liên kết thường xuyên

giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng 35

1.3.1 Hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa 35

1.3.2 Vai trò và trách nhiệm quản lý chất lượng hàng hóa của cơ quan quản lý khoa học và công nghệ 38

1.3.3 Vai trò và trách nhiệm người tiêu dùng trong hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa 41

Kết luận chương 1 44

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA CÁC MỐI LIÊN KẾT GIỮA CƠ QUAN QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG 45

2.1 Thực trạng về chất lượng hàng hóa 45

2.1.1 Tình hình chung 45

2.1.2 Xu thế tiêu dùng 47

2.2 Công tác quản lý chất lượng hàng hóa hiện nay 51

2.2.1 Hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa ở doanh nghiệp 51

2.2.2 Hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa ở cơ sở kinh doanh 55

2.2.3 Hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa của cơ quan quản lý nhà nước 56

2.3 Chưa có mối liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước với người tiêu dùng trong hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa 58

2.3.1 Chưa làm rõ vai trò và trách nhiệm người tiêu dùng trong quản lý chất lượng hàng hóa 58

2.3.2 Cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa chưa phát huy được vai trò quản lý sản phẩm, hàng hóa của ngành; cơ quan quản lý khoa học và công nghệ chưa thực hiện được vai trò đầu mối về chất lượng cũng như là trong lưu thông hàng hóa 60

2.3.3 Thực trạng các mối liên hệ với người tiêu dùng 63

Trang 3

2.4 Cần thiết thiết lập mối liên kết giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng 67 2.4.1 Cần có sự liên kết với người tiêu dùng trong quản lý chất lượng hàng hóa 67 2.4.2 Sự liên kết này thúc đẩy thực thi Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 69 2.4.3 Sự thiết lập mối liên kết nhằm góp phần tăng cường vị thế hàng Việt… 70 Kết luận chương 2 72 CHƯƠNG 3 THIẾT LẬP MỐI LIÊN KẾT THƯỜNG XUYÊN GIỮA

CƠ QUAN QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 73 VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG 73 3.1 Quan điểm và mục tiêu thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng 73 3.1.1 Quan điểm 73 3.1.2 Mục tiêu 73 3.2 Các giải pháp để thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng 74 3.2.1 Thiết lập bộ phận chuyên trách về tiêu chuẩn, chất lượng tại các đơn vị quản lý khoa học và công nghệ ở thành phố, kể cả ở huyện, thị thông qua quyền chủ động biên chế cho Sở Khoa học và Công nghệ 74 3.2.2 Tăng cường đào tạo năng lực chuyên môn cho cán bộ địa phương, đảm bảo công tác tập huấn, tuyên truyền về kiến thức quản lý chất lượng hàng hoá cho cơ sở, doanh nghiệp phát triển theo chiều sâu và rộng và tư vấn người tiêu dùng 77 3.2.3 Tăng tính liên kết; nâng cao vai trò của hiệp hội doanh nghiệp, hội người tiêu dùng với các cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa qua các buổi hội thảo, họp định kỳ; các chương trình đưa hàng Việt

về nông thôn, truyền thanh hay truyền hình địa phương và tư vấn người

Trang 4

tiêu dùng về tiêu chuẩn, chất lượng cũng như các qui định, yêu cầu của

sản phẩm, hàng hóa 79

Kết luận chương 3 81

KẾT LUẬN 82

KHUYẾN NGHỊ 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 86

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ISO (International Organization for

Standardization)

Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế

TBT (Technical Barriers to Trade) Hàng rào kỹ thuật trong thương mại

WTO (World Trade Organization) Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Hình 1.1: Những yêu cầu mới về chất lượng cần phải đáp ứng 15

Hình 1.2: Ảnh hưởng của chất lượng nguyên liệu đến chất lượng gạch men Acera thành phẩm 23

Hình 1.3: Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống quản lý chất lượng 23

Hình 1.4: Ba chiến lược tổng quát 24

Hình 1.5: Thị phần xe máy của các hãng sản xuất tại thị trường Việt Nam 26

Hình 1.6: Lượng xe máy tiêu thụ của hãng Honda tại thị truờng Việt Nam 27

Hình 1.7: Mô hình hệ thống quản lý tích hợp trong một tổ chức 31

Hình 1.8: Mô hình phát triển bền vững dựa vào chất lượng 31

Hình 1.9: Rào cản kỹ thuật trong thương mại 40

Hình 1.10: Xu hướng thay đổi các rào cản thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 41

Bảng 2.1: Kết quả kiểm tra chất lượng hàng hóa 46

Hình 2.1: Tỉ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh vi phạm về chất lượng 47

hàng hóa 47

Hình 2.2 : Qui trình mua hàng xanh 48

Hình 2.3 : Tác động tích cực từ việc mua hàng xanh 48

Hình 2.4: Mười quốc gia có số chứng chỉ ISO 9001: 2000 nhiều nhất 51

Bảng 2.2: Tương quan giữa ISO 9000, xuất khẩu và GDP của Việt Nam 52

Bảng 2.3: Mật độ ISO khu vực ASEAN 53

Bảng 2.4: Đóng góp của ISO 9000 tới xuất khẩu, so sánh Việt Nam và các nước ASEAN 5 54

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong một thế giới mà toàn cầu hoá đang là xu thế chủ đạo, chưa bao giờ người ta thấy cạnh tranh để tồn tại và phát triển giữa các quốc gia nói chung và giữa các doanh nghiệp với nhau nói riêng lại gay gắt như ngày nay Đặc biệt, thời đại thông tin đang chi phối gần như toàn bộ nền thương mại thế giới buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại phải khẳng định được chỗ đứng của mình trên thương trường không còn con đường nào khác là phải đổi mới các trang thiết bị ứng dụng tiến bộ của KH&CN vào sản xuất nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình sản xuất, kinh doanh Mà chất lượng sản phẩm được tạo ra

là một trong những vấn đề cần phải nói đến

Sự quan tâm về chất lượng đối với hàng hóa có lẽ bắt đầu từ sự trao đổi hàng hóa giữa các bộ phận dân cư cùng sinh sống trên một vùng lãnh thổ Cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, chất lượng hàng hóa ngày càng được quan tâm đúng mức hơn Mọi người đều có quyền mong muốn hàng hóa của mình mua về an toàn, có chất lượng tốt và phù hợp về giá cả Sản phẩm, hàng hóa không an toàn kém chất lượng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người và phát sinh bệnh dịch gây ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước Ngoài ra, sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng có thể phá ủy cả

uy tín thương mại của nhà sản xuất trên thị trường trong nước và quốc tế; sản phẩm, hàng hóa hư hỏng còn gây lãng phí và làm mất lòng tin đối với người tiêu dùng Thực tế đã xãy ra nhiều vụ việc chết người liên quan đến chất lượng của rượu không đảm bảo, hàm lượng methanol quá cao vượt mức cho phép, sữa chứa melamin, một số trường hợp khác là dây điện, cáp điện không đảm bảo chất lượng để rò rỉ điện giật chết người, chất lượng thép xây dựng kém dẫn đến sập nhà ở các công trình xây dựng,… Đây là một vấn đề nhức nhối, bức xúc phải giải quyết đối với xã hội Mà hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường sẽ góp phần giải quyết được vấn đề trên

Trang 8

Tuy nhiên, để hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa có hiệu quả thì vai trò của NTD là rất cần thiết NTD có quyền chọn những loại hàng hóa mà họ cần

và hàng hóa đó được sản xuất bởi nhà sản xuất trong nước hay nhà sản xuất nước ngoài Trong bối cảnh mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam là thể hiện lòng yêu nước thì hơn bao giờ hết vai trò của NTD là cực kỳ quan trọng, nhưng có một điều là hàng hóa

mà họ mua về có đảm bảo hay không thì chính bản thân họ cũng không biết cho dù hàng hóa đó được sản xuất ở đâu, cái chất lượng mà họ hiểu và được thể hiện là do quảng cáo hay được người khác giới thiệu, những điều đó là chưa đủ cơ sở Để giải đáp băn khoăn trên thì cần phải có gắn kết thực sự giữa NTD với cơ quan đầu mối về tiêu chuẩn chất lượng, không ai khác đó là các đơn vị quản lý KH&CN Một khi NTD có được đầy đủ thông tin và cơ sở khoa học để đối chiếu thì họ sẽ trở thành NTD thông minh và chắc chắn rằng hàng hóa kém chất lượng sẽ không có thị trường để lưu thông

Chính vì vậy học viên chọn đề tài là “Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chất lượng sản phẩm cũng có thể được xem là yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Do đó hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm ở doanh nghiệp đã được nghiên cứu từ rất lâu Nhưng đối với hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường thì còn rất hạn chế Trước đây

có một số tác giả đã nghiên cứu, điển hình là: Giải pháp quản lý sản phẩm, hàng hóa trước và sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh của Phan Thanh Thôi (2010), nhưng chỉ ở khía cạnh tăng cường các thiết chế để kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng

Trong danh mục đề tài của Phòng Quản lý khoa học thuộc Sở KH&CN

An Giang từ năm 2001 đến nay, chưa có tổ chức hay cá nhân nào nghiên cứu

về lĩnh vực quản lý chất lượng hàng hóa nói chung và việc thiết lập mối liên

Trang 9

kết giữa cơ quan quản lý KH&CN với NTD nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa

- Ý nghĩa lý thuyết:

Làm rõ vai trò và trách nhiệm của NTD trong việc quản lý chất lượng hàng hóa Qua đó bổ sung cơ sở lí luận cho hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường

3 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định thực trạng các mối liên kết giữa cơ quan quản lý KH&CN với NTD, từ đó đề xuất giải pháp thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý KH&CN với NTD trên cơ sở các cơ quan quản lý KH&CN như một đầu mối về tiêu chuẩn, chất lượng

Các mối liên hệ giữa NTD với cơ quan quản lý KH&CN

- Phạm vi thời gian: từ năm 2001 đến năm 2011

Trang 10

220 cửa hàng kinh doanh (220 phiếu khảo sát) và 550 người tiêu dùng (550 phiếu khảo sát)

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý KH&CN đối với NTD thông qua việc quản lý chất lượng hàng hóa lưu thông thị trường là như thế nào?

- NTD có vai trò và trách nhiệm gì trong việc sử dụng hàng hóa Việt cũng như trong quản lý chất lượng hàng hóa?

- Những mối liên hệ nào giữa NTD với cơ quan quản lý KH&CN?

- Việc thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý KH&CN với NTD có thực sự góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa?

- Làm thế nào để thiết lập mối liên kết này?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Cơ quan quản lý KH&CN có trách nhiệm hỗ trợ thông tin về tiêu

chuẩn, chất lượng hàng hóa cho NTD khi cần, và có vai trò là bên thứ ba khi

có xảy ra khiếu kiện giữa NTD với cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa

- NTD có trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý KH&CN về hàng hóa không đạt chất lượng trong quá trình sử dụng như công bố của nhà sản xuất, kinh doanh Đồng thời có vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên dòng chảy hàng hóa Việt, vì họ chính là người quyết định sử dụng hay không sử dụng hàng hóa đó

- Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý KH&CN với NTD là mối quan hệ giữa nhà cung cấp thông tin về tiêu chuẩn, chất lượng với người sử dụng thông tin đó, và cũng là mối quan hệ giữa NTD với nhau

- Việc thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý KH&CN với NTD sẽ làm tăng hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa vì mối liên kết này giúp cơ quan quản lý định hướng hay đổi mới cách thức quản lý cho phù hợp với thị trường, đồng thời người tiêu dùng có cơ sở để loại bỏ hàng hóa kém chất lượng

Trang 11

- Để thiết lập mối liên kết này thì cần phải thiết lập bộ phận chuyên trách về tiêu chuẩn, chất lượng tại các đơn vị quản lý KH&CN ở thành phố,

tỉnh, kể cả ở huyện, thị thông qua quyền chủ động biên chế cho Sở KH&CN

8 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

 Phương pháp thu thập thông tin :

- Nghiên cứu tài liệu:

 Thu thập tài liệu tại các cơ quan quản lý chất lượng hàng hóa, trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức quốc tế, internet, … có liên quan

 Phân tích tài liệu

 Tổng hợp tài liệu

- Phi thực nghiệm :

 Phỏng vấn sâu: Chủ động liên hệ, sắp xếp lịch làm việc và gửi trước các vấn đề cần trao đổi cho chuyên gia có kinh nghiệm trong công tác quản lý chất lượng hàng hóa Sau đó tiến hành phỏng vấn trực tiếp

 Phương pháp điều tra chọn mẫu:

Nội dung điều tra : nhận thức và sự hiểu biết về hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa của NTD, cơ quan quản lý KH&CN ; thực trạng các mối liên kết, sự cần thiết và tính hiệu quả của các giải pháp thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý KH&CN với NTD

Chọn mẫu: mẫu đại diện cho các Sở chuyên ngành thực hiện công tác quản lý chất lượng hàng hóa, cơ quan quản lý chất lượng hàng hóa cấp huyện, thị, cơ sở kinh doanh và người tiêu dùng

 Phương pháp xử lý thông tin :

- Dữ liệu định lượng : dùng phương pháp thống kê toán học để phân loại, xử lý các mẫu phiếu điều tra nghiên cứu thực tế

- Dữ liệu định tính : sắp xếp, phân loại, tổng hợp và phân tích theo các

đề mục đã định trước bằng cách dùng chương trình Microsoft Excel

Trang 12

9 Kết cấu của Luận văn

Phần mở đầu

Trình bày các nội dung như: Lí do chọn đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu, ý nghĩa lí luận và thực tiễn, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mẫu khảo sát, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới thiệu cấu trúc luận văn

Phần nội dung

Chương 1 Cơ sở lí luận về chất lượng, quản lý chất lượng hàng hóa và việc

thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng

Chương 2 Thực trạng về chất lượng hàng hóa và công tác quản lý chất lượng

hàng hóa Các mối liên kết giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng

Chương 3 Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa

học và công nghệ với người tiêu dùng

Kết luận

Khuyến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG, QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA VÀ VIỆC THIẾT LẬP MỐI LIÊN KẾT THƯỜNG XUYÊN GIỮA CƠ QUAN QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG 1.1 Chất lượng hàng hóa

1.1.1 Khái niệm chất lượng, hàng hóa

- Chất lượng hàng hóa là một phạm trù phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố Có nhiều định nghĩa, khái niệm về chất lượng, vì thực tế, nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực: công nghệ, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nghiên cứu marketing, … và cũng là mối quan tâm của nhiều người: các nhà sản xuất, các nhà kinh tế, đặc biệt là NTD với mong muốn được thỏa mãn các nhu cầu ngày một cao hơn

- Xét theo nghĩa hẹp, chất lượng bao gồm những những đặc tính của hàng hóa nhằm đáp ứng được những yêu cầu về mặt kỹ thuật, đảm bảo hàng hóa có công dụng tốt, tuổi thọ cao, tin cậy, sự phân tán ít, có khả năng tương thích với môi trường sử dụng, … những đặc tính này phụ thuộc nhiều vào những yếu tố kỹ thuật, công nghệ, nguyên vật liệu, phương pháp sản xuất, …

và gắn liền với giá trị sử dụng của hàng hóa Theo quan điểm này, chất lượng cao hay thấp được đo bằng tỷ lệ những hàng hóa được chấp nhận qua kiểm tra, hoặc số lượng phế phẩm

- Nhưng theo nghĩa rộng, ở góc độ các nhà quản lý, người ta cho rằng chất lượng là chất lượng thiết kế, sản xuất, bán và sử dụng đạt được sự thỏa mãn cao nhất của khách hàng Theo nghĩa này, chất lượng được thể hiện qua

4 yếu tố:

Q – Quality (Chất lượng): mức độ thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng

C – Cost (Chi phí): toàn bộ chi phí liên quan đến hàng hóa; từ khâu nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và thải bỏ chúng

Trang 14

D – Delivery (Giao hàng): giao hàng đúng lúc khách hàng cần, nhất là những sản phẩm ở dạng bán thành phẩm

S – Safety (An toàn): hàng hóa cần phải an toàn trong suốt quả trình sản xuất, tiêu dùng, khi xử lý chúng dù ở bất kỳ đâu và với ai

SỰ ĐÁP ỨNG

Hình 1.1: Những yêu cầu mới về chất lượng cần phải đáp ứng

- Ngoài ra, chất lượng còn được một số nhà quản lý khái quát hóa như sau:

Chất lượng là:

 Sự thích hợp khi sử dụng (Theo Juran)

 Sự phù hợp với các yêu cầu cụ thể (Theo Crosby)

 Không bị khiếm khuyết, sai lỗi hoặc hư hỏng, nhiễm bẩn

 Mức độ hoàn hảo

 Sự thỏa mãn khách hàng

ĐÁP ỨNG CÁC YÊU CẦU

Yêu cầu về môi trường,

an toàn nghề nghiệp và sức khỏe cộng đồng

Thời điểm cung cấp

hàng hóa

Hiệu quả sử dụng của

hàng hóa

Chi phí thỏa mãn yêu cầu

Trang 15

Theo ISO 8402:1994 thì: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một

thực thể, đối tượng, tạo cho thực thể, đối tượng đó có khả năng thỏa mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”

Theo tiêu chuẩn mới hiện nay – Tiêu chuẩn ISO 9000:2000, chất lượng

là: “Mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”

Còn theo luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa: “Chất lượng sản phẩm,

hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bô áp dụng, QCKT tương ứng” 14; điều 3

Với khái niệm này thì sản phẩm, hàng hóa được hiểu như sau:

“Sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm

mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng” 14; điều 3

“Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào thị trường thông qua trao đổi, mua

bán, tiếp thị” 14; điều 3

Để chỉ mức độ, thuật ngữ “chất lượng” người ta thường sử dụng các tính từ như kém, tốt, tuyệt hảo Thuật ngữ “vốn có” được hiểu là những đặc tính tồn tại trong hàng hóa, đặc biệt như một đặc tính lâu bền hay vĩnh viễn của nó

Về mặt định lượng, chất lượng cũng có thể được lượng hóa bằng công thức:

K kh: kỳ vọng của khách hàng (các yêu cầu cụ thể, các thỏa thuận trong đơn đặt hàng, các tiêu chuẩn được áp dụng hoặc điểm cao nhất trong các thang điểm đánh giá,…)

Khi Q =1, có nghĩa là kỳ vọng, mong muốn của khách hàng được đáp

ứng và thỏa mãn hoàn toàn Đây là tình huống lý tưởng nhất và lúc đó hàng hóa mới được coi là có chất lượng phù hợp

Trang 16

Từ quan niệm trên có thể thấy rằng: “Chất lượng không chỉ là việc thỏa mãn những quy cách kỹ thuật hay một yêu cầu cụ thể nào đó, mà có nghĩa rộng hơn rất nhiều – đó là sự thỏa mãn khách hàng về mọi phương diện Chất

lượng là “Sự thỏa mãn nhu cầu hoặc cao hơn nữa nhưng với phí tổn là

thấp nhất”

Chính vì vậy, hoạt động quản lý chất lượng không phải chỉ chú trọng đến những khía cạnh kỹ thuật thuần tý, mà còn phải quan tâm kiểm soát được các yếu tố liên quan đến suốt quá trình hình thành, sử dụng và thanh lý hàng hóa

1.1.2 Đặc điểm chất lượng hàng hóa

Chất lượng hàng hóa được đo bằng sự thỏa mãn các yêu cầu, do đó nó

có các đặc điểm cơ bản sau:

- Việc đáp ứng các yêu cầu hay không là do nhận thức và thói quen sử

dụng của NTD Nếu một hàng hóa vì lý do nào đó mà không đáp ứng được yêu cầu, không được thị trường chấp nhận thì bị coi là có chất lượng kém, cho

dù trình độ công nghệ để chế tạo ra hàng hóa đó rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà quản lý định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình Điều này chúng ta dễ dàng nhận thấy qua hai thương hiệu điện thoại nổi tiếng là Nokia và Samsung, với Nokia thì chất lượng nghe gọi là tuyệt vời, độ bền cao nhưng kiểu dáng thô, nặng và ít ứng dụng cho giải trí nên không phù hợp cho khách hàng trẻ tuổi Còn Samsung thì đáp ứng được các yêu cầu mà Nokia chưa làm được nhưng sản phẩm của họ thường có

độ bền không cao nên cũng khó thuyết phục được các khách hàng trung thành với chất lượng cuộc gọi Do đó hai hãng sản xuất điện thoại này không ngừng đổi mới, sáng tạo để đáp ứng yêu cầu ngày một cao hơn của NTD

- Thay đổi theo vùng, miền, thời gian và điều kiện sử dụng Vì vậy phải định kỳ xem xét lại các yêu cầu chất lượng

- Khi đánh giá chất lượng của một hàng hóa, cần phải xét mọi đặc tính của hàng hóa đó, có liên quan đến sự thoả mãn những yêu cầu cụ thể Chẳng hạn, yêu cầu với hàng may mặc sẽ khác nhau theo từng lứa tuổi, tập quán, sinh hoạt, khu vực, nghề nghiệp,…, các yêu cầu này không chỉ từ phía khách

Trang 17

hàng mà còn từ các bên liên quan Ví dụ các yêu cầu mang tính luật định, nhu cầu của cộng đồng xã hội.1

Qua đó cho thấy chất lượng hàng hóa luôn mang yếu tố chủ quan và khách quan Nó phản ánh tương tác giữa hàng hóa, con người và xã hội

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa

Chất lượng hàng hóa là vấn đề tổng hợp, là kết quả của một quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng và cả sau khi tiêu dùng Do đó có thể nói nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, điều kiện phức tạp và đầy biến động Tuy nhiên, mức

độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến từng loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau Việc xem xét, phân tích các yếu tố cho phép chúng ta có những biện pháp quản lý hữu hiệu

Theo quan điểm quản lý và thực tiễn sản xuất kinh doanh, có thể thấy chất lượng hàng hóa phụ thuộc vào các yếu tố quan trọng sau:

a Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

 Các yếu tố vĩ mô:

- Quản lý chất lượng chịu tác động chặt chẽ bởi các chính sách kinh tế của nhà nước, chính sách đầu tư, chính sách phát triển các ngành, chủng loại hàng hóa, chính sách thuế, các chính sách đối ngoại trong từng thời kỳ, các quy định về việc xuất nhập khẩu,…

 Chính sách giá cho phép tổ chức xác định đúng giá trị hàng hóa của mình trên thương trường Dựa vào hệ thống giá cả, doanh nghiệp có thể xây dựng các chiến lược cạnh tranh và tìm mọi cách để nâng cao chất lượng hàng hóa mà không sợ bị chèn ép giá

 Chính sách đầu tư quyết định quy mô và hướng phát triển của sản xuất Từ đó nhà sản xuất mới có kế hoạch đầu tư cho công nghệ, huấn luyện, đào tạo, nâng cao năng suất lao động và chất lượng hàng hóa

1

Theo ý tác giả Phan Thanh Thôi (2010), Tăng cường các thiết chế kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng

hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, Luận văn thạc sĩ ngành QLKH&CN,

ĐHKHXH&NV, Hà Nội, tr 15  16

Trang 18

Có thể nói các chính sách kinh tế đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng những chiến lược sản xuất, kinh doanh dài hạn, việc bình ổn và phát triển sản xuất cũng như hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế

- Các điều kiện kinh tế - xã hội:

Ở bất kỳ trình độ sản xuất nào, chất lượng hàng hóa cũng bị ràng buộc, chi phối bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu cụ thể của nền kinh tế

 Trình độ phát triển nền kinh tế

Chất lượng hàng hóa là nhu cầu nội tại của bản thân sản xuất, cho nên trình độ chất lượng hàng hóa phải phù hợp với khả năng cho phép và sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế Vấn đề ở đây là: “Muốn nâng cao chất lượng hàng hóa phải phát triển kinh tế, nâng cao trình độ dân trí, trình độ sản xuất”

 Những yếu tố về văn hóa, truyền thống và thói quen

Quan niệm về tính hữu ích mà hàng hóa mang lại cho mỗi người, mỗi dân tộc cũng khác nhau Chính vì vậy, đối với các doanh nghiệp, khi thâm nhập vào thị trường nào, việc mà họ quan tâm hàng đầu là tìm hiểu văn hóa, con người, truyền thống dân tộc nơi mà họ sẽ đến làm việc

- Những yêu cầu của thị trường:

Nhu cầu của thị trường thế nào, những đòi hỏi về đặc trưng kỹ thuật, điều kiện cung ứng hàng hóa về mặt chất lượng ra sao? Nghiên cứu và nhận biết thường xuyên với thị trường để định hướng cho các chính sách chất lượng trong hiện tại và tương lai là một trong những nhiệm vụ quan trọng khi xây dựng chiến lược phát triển sản xuất trong nền kinh tế thị trường

- Sự phát triển của khoa học – công nghệ:

Với sự phát triển nhanh và mạnh mẽ, ngày nay KH&CN đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp Do đó, chất lượng của bất kỳ hàng hóa nào cũng gắn liền và bị quyết định bởi sự phát triển của công nghệ

Việc ứng dụng những thành tựu KH&CN vào sản xuất một cách nhanh chóng, đã làm cho hàng hóa sản xuất ra ngày càng có khả năng cung cấp được nhiều tiện ích Chính vì vậy mà chu kỳ sống của hàng hóa, công nghệ ngày

Trang 19

một ngắn đi, những chuẩn mực về chất lượng thường xuyên trở nên lạc hậu

Vì vậy làm chủ được KH&CN là vấn đề quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hàng hóa

- Hiệu lực của cơ chế quản lý:

Dù ở bất cứ hình thái kinh tế nào, sản xuất luôn chịu sự tác động của cơ chế quản lý kinh tế, công nghệ và xã hội nhất định Hiệu lực của cơ chế quản

lý ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa chủ yếu ở các mặt sau:

 Trên cơ sở một hệ thống luật pháp chặt chẽ qui định những hành vi, tránh nhiệm pháp lý của nhà sản xuất đối với việc cung ứng hàng hóa đảm bảo chất lượng, nhà nước tiến hành kiểm tra, theo dõi mọi hoạt động của nhà sản xuất nhằm bảo vệ NTD

 Về chức năng quản lý của nhà nước đối với chất lượng hàng hóa, việc xây dựng các chính sách thưởng phạt cũng ảnh hưởng đến tinh thần các doanh nghiệp trong những cố gắng cải tiến chất lượng Việc khuyến khích và hỗ trợ của nhà nước đối với doanh nghiệp thông qua chính sách thuế, tài chính, chương trình đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo của nhà tài trợ nước ngoài

là những điều cần thiết để đảm bảo chất lượng

Một hệ thống quản lý có hiệu lực sẽ đảm bảo sự bình đẳng trong sản xuất kinh doanh giữa các thành phần kinh tế, các lĩnh vực sản xuất, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

- Nhà cung cấp:

Đây là yếu tố quan trọng quyết định đầu vào của doanh nghiệp, nó có thể tạo ra nguy cơ cho doanh nghiệp khi họ đòi nâng giá bán, giảm chất lượng

Trang 20

hàng hóa cung cấp, thay đổi phương thức sản xuất và cung cấp hàng hóa, từ chối đơn hàng nếu không thỏa mãn các yêu cầu về thanh toán, có những khách hàng mới

- Khách hàng:

Có thể nói đây là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp Khách hàng có thể trả giá thấp nhưng lại có những yêu cầu cao hơn Họ có nhiều sự chọn lựa, nên quản lý khách hàng là một hoạt động đặc biệt quan tâm

- Đối tác:

Là những đối tượng có mối quan hệ với doanh nghiệp (ngân hàng, các

tổ chức, hiệp hội ngành nghề, …) Họ rất quan tâm đến kết quả và thành tích của doanh nghiệp, có sự tác động qua lại lẫn nhau

- Cơ quan quản lý:

Là những cơ quan thực hiện các hoạt động quản lý, định hướng cho các doanh nghiệp những vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn, chất lượng Đây cũng là những cơ quan giám sát việc thực hiện Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, cũng như những qui định về chất lượng, an toàn đối với việc sử dụng hàng hóa

Tóm lại, những yếu tố trên có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau với từng doanh nghiệp, từng tổ chức Cho nên khi xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng các doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu đầy đủ các yếu tố này để có các quyết định phù hợp

b Yếu tố bên trong doanh nghiệp

Ngoài những yếu tố môi trường chất lượng hàng hóa còn phụ thuộc vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp, phụ thuộc vào chất lượng công tác quản trị - điều hành quá trình sản xuất Trong rất nhiều yếu tố đó, quan trọng

là các yếu tố sau:

Quy tắc 4M

- Con người (Men):

Trang 21

Con người là một nguồn lực, yếu tố con người ở đây phải hiểu là tất cả mọi người trong doanh nghiệp từ lãnh đạo cao nhất đến nhân viên đều tham gia vào quá trình tạo chất lượng Trong quá trình sử dụng chất lượng hàng hóa

sẽ được duy trì và hiệu quả ra sao lại phụ thuộc vào người sản xuất với ý thức trách nhiệm cũng như sự hiểu biết của mình Do đó doanh nghiệp cần phải có chính sách tuyển dụng, huấn luyện đầy đủ trước khi đưa vào sử dụng

- Phương pháp (Methods):

Bao gồm những phương pháp quản lý, phương pháp sản xuất, cách thức điều hành, quản trị công nghệ, những chiến lược, chiến thuật của doanh nghiệp, khả năng đối phó với các vấn đề phát sinh để duy trì và phát huy hiệu quả của sản xuất Yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các chỉ tiêu chất lượng, độ an toàn, độ tin cậy trong suốt chu kỳ sống của hàng hóa

- Thiết bị (Machines):

Thiết bị - công nghệ quyết định khả năng kỹ thuật của hàng hóa Trên

cơ sở lựa chọn thiết bị - công nghệ tiên tiến, nhà sản xuất có khả năng nâng cao chất lượng, tăng tính cạnh tranh của nó trên thương trường, đa dạng hóa chủng loại, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng nhiều của người sử dụng Việc cải tiến, đổi mới công nghệ tạo ra nhiều hàng hóa có chất lượng cao, giá thành

hạ và ổn định

- Vật liệu (Materials):

Nguyên vật liệu là những yếu tố “đầu vào” quan trọng quyết định chất lượng hàng hóa “đầu ra” Không thể có một hàng hóa có chất lượng, nếu quá trình sản xuất ra nó lại sử dụng các nguyên vật liệu kém chất lượng, không ổn định Điển hình trong ngành sản xuất gạch men thì “men màu” là yếu tố quan trọng nhất Một khi men màu không chất lượng thì gạch men làm ra có độ màu không đồng đều và chắc chắn sẽ không được thị trường chấp nhận Bên cạnh đó đất dùng để làm xương cũng là một vấn đề đáng quan tâm Từ đó mới

có câu nói “nhất liệu – nhì nung – tam hình”

Trang 22

10%

Nguyên liệuNung và tạo hình

Hình 1.2: Ảnh hưởng của chất lượng nguyên liệu đến chất lượng gạch

men Acera thành phẩm

(Nguồn: Nhà máy Gạch Ceramic An Giang, 2011)

Hình 1.3: Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống quản lý chất lượng

Hơn nữa, để thành công trong kinh doanh còn phải quan tâm đến yếu tố thời gian (Minute) Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhưng cũng là yếu

tố khó nắm bắt nhất Để làm chủ và kiểm soát được yếu tố này, đòi hỏi nhà quản lý phải biết cách tổ chức, lãnh đạo và hoạch định một cách toàn diện.2

Thị trường

Các

chính

sách

Phát triển của Khoa học – Công nghệ

Cơ quan quản

Quá trình tạo hàng hóa  Các nguồn lực (4M)

Thiết kế - Vật tư - Sản xuất - Lưu kho - Bán và Sau bán

QUẢN

LÝ CHẤT LƯỢNG

Trang 23

1.1.4 Vai trò của chất lượng hàng hóa trong nền kinh tế thị trường

Trong môi trường phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh trở thành một yếu tố mang tính quốc tế đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp

Theo Michael E Porter thì mỗi doanh nghiệp đều sở hữu hai loại lợi thế cạnh tranh: chi phí thấp hoặc khác biệt hóa Hai loại lợi thế cạnh tranh này kết hợp với phạm vi hoạt động của một doanh nghiệp đang theo đuổi sẽ cho phép tạo ra ba chiến lược cạnh tranh tổng quát để đạt được hiệu quả hoạt động trên trung bình trong ngành: đó là chiến lược chi phí tối ưu (cost leadership), chiến lược khác biệt hóa (differentiation) và chiến lược tập trung (focus) Chiến lược tập trung lại có hai biến thể: tập trung vào chi phí và tập trung vào khác biệt hóa Các chiến lược tổng quát này được thể hiện trong hình 1.4

LỢI THẾ CẠNH TRANH Chi phí thấp Khác biệt hóa

PHẠM VI

CẠNH TRANH

Mục tiêu rộng 1 Chi phí tối ưu 2 Khác biệt hóa

Mục tiêu hẹp 3A Tập trung vào

chi phí

3B Tập trung vào khác biệt hóa

Hình 1.4: Ba chiến lược tổng quát

Chiến lược khác biệt hóa ở đây có nghĩa là doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội để thành “người duy nhất” trong ngành, theo con mắt nhìn nhận chung của người mua dưới khía cạnh nào đó Khác biệt hóa có thể dựa trên chính hàng hóa, hệ thống phân phối, phương pháp marketing hoặc là những yếu tố khác trên diện rộng.3

Ví dụ, trong ngành thiết bị xây dựng, khác biệt hóa của Caterpillar Tractor dựa trên độ bền sản phẩm (chất lượng hàng hóa), tính sẵn sàng cho các dịch

vụ, phụ tùng và hệ thống đại lý hoàn hảo

3

Michael E Porter (2009), Lợi thế cạnh tranh, NXB Trẻ, tr 43 

Trang 24

Còn đối với công ty cổ phần thủy sản Bình An (Bianfishco) thì “Vấn đề chất lượng hàng hóa được đặt lên hàng đầu” Từ khẩu hiệu đó, công ty cũng mạnh dạn đầu tư trang thiết bị hiện đại, xây dựng các hệ thống quản lý chất lượng hàng đầu thế giới: HACCP, BRC, IFS, SA 8000, ISO 9001:2008, ISO 22000:2005, ISO/IEC 17025, HALAL; áp dụng hệ thống “truy xuất nguồn gốc” dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và công nghệ nhận dạng bằng sóng vô tuyến; thành lập viện nghiên cứu thủy sản Bình An hoạt động vào tháng 7 năm 2010,…, tất cả những việc làm đó chỉ hướng tới một mục đích là

sự khác biệt hóa về chất lượng hàng hóa do Bianfishco tạo ra Và nhờ đó hàng hóa của Bianfishco đã có mặt hơn 80 quốc gia, trong đó có những thị trường khó tính như Hoa Kỳ, liên minh Châu Âu.4

Qua đó cho thấy, chất lượng hàng hóa trở thành một trong những chiến lược quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Chấp nhận kinh tế thị trường nghĩa là chấp nhận cạnh tranh, chịu tác động của quy luật cạnh tranh Hàng hóa muốn có tính cạnh tranh cao thì chúng phải đạt được những mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của NTD, của xã hội về mọi mặt một cách kinh tế nhất Với chính sách mở cửa, tự do thương mại, các nhà sản xuất kinh doanh muốn tồn tại thì hàng hóa của họ phải có tính cạnh tranh cao, nghĩa là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh về nhiều mặt Quan tâm đến chất lượng chính là một trong những phương thức tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lợi trong sự cạnh tranh gay gắt trên thương trường nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Chất lượng hàng hóa làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp vì:

- Tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua:

Mỗi hàng hóa có rất nhiều các thuộc tính chất lượng khác nhau Các thuộc tính này được coi là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Khách hàng quyết định lựa chọn mua hàng vào những hàng hóa có thuộc tính phù hợp với sở thích, nhu cầu và khả năng, điều

4

Theo Nguyễn Thị Hường (2011), Đặt chất lượng sản phẩm lên hàng đầu, Tạp chí Tiêu chuẩn Đo lường

Trang 25

kiện sử dụng của mình Họ so sánh các hàng hóa cùng loại và lựa chọn loại hàng nào có những thuộc tính kinh tế - kỹ thuật thỏa mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn Bởi vậy, hàng hóa có các thuộc tính chất lượng cao là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết định mua hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở thị trường nội địa cũng như hội nhập với khu vực và quốc tế

Thực tế nhiều năm qua, chúng ta thấy xe máy Honda như là biểu tượng chất lượng của nước Nhật, thậm chí một số người còn ngộ nhận xe Honda chính là

xe máy nói chung, và hiện nay nó chiếm lĩnh gần như toàn bộ thị trường Việt Nam và các nước khác như: Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, …

Các hãng khác

Hình 1.5: Thị phần xe máy của các hãng sản xuất tại thị trường Việt Nam

(Nguồn: www.dddn.com.vn , Thứ Năm, 18/08/2011 - 09:15)

- Nâng cao vị thế, sự phát triển lâu dài cho doanh nghiệp trên thị trường:

Khi hàng hóa chất lượng cao, ổn định đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sẽ tạo ra một biểu tượng tốt, tạo ra niềm tin cho khách hàng vào thương hiệu của hàng hóa Nhờ đó uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp được nâng cao, có tác động to lớn đến quyết định lựa chọn mua hàng của khách hàng Theo bà Trần Thị Lê Hải Tổng Giám đốc tập đoàn nhựa Đông Á (DAC):

Trang 26

Khẩu hiệu tiên phong của DAG là “Uy tín khởi nguồn từ chất lượng”, DAG luôn đề cao con đường chiếm lĩnh thị trường, thị phần bằng uy tín, bằng chất lượng Khi hàng hóa có chất lượng tốt thì bản thân nó tự nâng tầm nó lên rồi, chỉ có chất lượng hàng hóa mới là cách PR (Public Relation – Quan hệ công chúng) tốt nhất”.5

Tiếp tục khẳng định sức mạnh chất lượng trên thị trường, lượng xe máy do công ty Honda Việt Nam (HVN) bán ra ngày một tăng trưởng: năm 2008 là 1,17 triệu xe, năm 2009 là 1,43 triệu và đến năm 2010 đạt 1,9 triệu

1.17

1.43

1.9

012

5

Hà Thủy (2011), Chất lượng sản phẩm là cách PR tốt nhất, Tạp chí Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, số 12

Trang 27

1.2 Quản lý chất lượng hàng hóa

1.2.1 Khái niệm quản lý chất lượng hàng hóa

Chất lượng hàng hóa không phải là một hiện tượng hoặc tình trạng sản xuất do một người hoặc một bộ phận tạo ra; mà là kết quả của rất nhiều hoạt động có định hướng liên quan với nhau từ nghiên cứu, thiết kế, cung ứng, sản xuất và các dịch vụ hậu mãi để thỏa mãn khách hàng bên trong và bên ngoài Các hoạt động đó gọi là quản lý chất lượng

Theo Kaôru Ixikaoa “Quản lý chất lượng có nghĩa là nghiên cứu triển

khai, thiết kế, sản xuất và bảo dưỡng một sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng”  10, 51

Còn theo ISO 9000:2000: “Quản lý chất lượng là các hoạt động có

phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng”

Tình trạng lý tưởng nhất của quản lý chất lượng là khi quản lý không còn cần kiểm soát (kiểm tra)

1.2.2 Các nguyên tắc trong quản lý chất lượng hàng hóa

Quản lý chất lượng được áp dụng cho mọi tổ chức từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ cho tới các cơ quan quản lý nhà nước Nhưng để đạt được hiệu quả mong muốn thì bất kỳ đơn vị nào cũng cần phải tuân thủ 8 nguyên tắc quản lý theo ISO:

Tám nguyên tắc quản lý theo ISO 9000:2000 và TCVN ISO 9000:2007

- Nguyên tắc 1: Định hướng vào khách hàng

Tổ chức phụ thuộc vào khách hàng, do đó họ nên hiểu khách hàng cần

gì ở hiện tại lẫn tương lai để đáp ứng và nỗ lực vượt qua sự mong đợi của khách hàng

- Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo

Lãnh đạo phải thiết lập thống nhất về mục đích và chính sách của tổ chức, xây dựng và duy trì môi trường thực sự hấp dẫn mọi người tham gia vào việc thực hiện mục tiêu chung

Trang 28

- Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người

Mỗi người có một vị trí và vai trò nhất định ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa được tạo ra Vì vậy, để toàn bộ hệ thống quản lý vận hành một cách hiệu quả thì cần có sự tham gia của mọi người ở tất cả các cấp với trách nhiệm cao nhất

- Nguyên tắc 4: Tiếp cận theo quá trình

Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách có hiệu quả hơn khi các hoạt động và các nguồn tài nguyên có liên quan được quản lý như một quá trình

- Nguyên tắc 5: Cách tiếp cận hệ thống để quản lý

Xác định, hiểu biết và quản lý các quá trình liên quan với nhau như là một hệ thống để góp phần đạt được kết quả và hiệu quả của tổ chức

- Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục

Cải tiến liên tục như là một mục tiêu lâu dài và thường xuyên của tổ chức

- Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện

Ra quyết định có hiệu quả được dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin

- Nguyên tắc 8: Hợp tác cùng có lợi với nhà cung cấp

Tổ chức và các nhà cung cấp của họ phụ thuộc lẫn nhau và những mối quan hệ cùng có lợi sẽ làm tăng khả năng của cả hai để tạo ra giá trị.6

1.2.3 Vai trò và tầm quan trọng của hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa

Quản lý chất lượng cụ thể là: quản lý chất lượng hoặc kiểm tra thống kê chất lượng đã hình thành ở Mỹ từ những năm 30 của thế kỷ 20 và phát triển cùng với nhịp độ phát triển của sản xuất công nghiệp ở các nước thông qua những chuyên gia đầu đàn như: Walter A.Shewhart, W Edwards Deming, Joseph M Juran, Philip B Crosby, A.V.Feigenbaum, Kaôru Ixikaoa, Masaaki Imai, … Tuy có khác nhau về cách tiếp cận cũng như về triết lý, nhưng tất cả các tư tưởng trên đều nhằm mục đích là làm thế nào để quản lý một hệ thống ,

6

Trang 29

một tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu về chất lượng Chính vì vậy quản lý chất lượng về bản chất nó là chất lượng của công tác quản lý điều hành một tổ chức để chủ động kiểm soát được chất lượng hàng hóa, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh

a Đối với doanh nghiệp

Về cơ bản phải quản lý chất lượng là:

- Tạo một sự đảm bảo chất lượng thực sự Có thể đặt cơ sở chất lượng ở mỗi giai đoạn, ở mỗi quá trình, và đạt được sản xuất hoàn toàn không có khuyết tật Điều đó đạt được bằng con đường quản lý quá trình công nghệ Phát hiện ra khuyết tật và loại trừ chúng quả là chưa đủ Cần phải xác định những nguyên nhân gây nên những khuyết tật đó Quản lý tổng hợp chất lượng có thể giúp công nhân phát hiện, rồi sau đó loại bỏ những nguyên nhân

đó

- Mở ra những kênh giao tiếp trong nội bộ, làm tăng thêm bầu không khí lành mạnh, cho phép phát hiện sự hỏng hóc trước khi nó gây nên một thảm họa

- Cho phép phòng thiết kế hàng hóa và phòng sản xuất làm theo một cách chính xác và khéo léo những thị hiếu thay đổi và quan điểm của khách hàng để hàng hóa làm ra thỏa mãn một cách triệt để những nhu cầu của họ

- Ăn sâu vào ý thức của con người và giúp phát hiện ra thông tin sai lệch, tránh được những số liệu sai lầm về mức sản xuất và mức bán hàng hóa Thực tiễn qua quá trình nghiên cứu Deming và Juran kết luận: “80  85% những sai hỏng về chất lượng là do quản lý gây ra, do công nhân chỉ dưới 20%”.7

Hơn nữa, một hệ thống quản lý đồng bộ, được kiểm soát tốt, sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp từ các nguồn lực trong doanh nghiệp thành một khối thống nhất, làm cho chúng trở nên gắn bó hữu cơ với nhau, hướng về mục

7

Dr Koenraad Tommissen - Người dịch: TS Dương Ngọc Dũng (2008), Tư vấn quản lý: Một quan điểm

Trang 30

tiêu là đáp ứng các nhu cầu của xã hội Thông qua đó, tổ chức cũng có thể đạt được các mục đích và mục tiêu về kinh tế của mình một cách bền vững

jjjjjjhhhnn

Hình 1.7: Mô hình hệ thống quản lý tích hợp trong một tổ chức

Ngoài ra, quản lý chất lượng tốt cũng là một trong những biện pháp nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định xã hội và góp phần bảo vệ môi trường

Hình 1.8: Mô hình phát triển bền vững dựa vào chất lượng

Chất lượng Chi phí Giao hàng

CÁC BÊN QUAN TÂM

DOANH NGHIỆP

KHÁCH HÀNG

CHẤT LƯỢNG

AN CHI TOÀN PHÍ

GIAO HÀNG

Phát triển bền vững

Quản lý nguồn nhân lực

Quản

kỹ thuật

Quản

lý môi trường

Quản lý chất lượng Quản lý

tài chính

Trang 31

b Đối với cơ quan quản lý

Hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa sẽ:

- Tạo lập nhiều thông tin về tình hình chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường, cả hàng hóa sản xuất trong nước cũng như nhập khẩu Từ đó giúp các cơ quan quản lý định hướng chính sách quản lý cho phù hợp với nền kinh tế hiện tại và trong tương lai Điều này được thể hiện rõ qua chính sách khuyến khích áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến của nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp, tùy vào điều kiện kinh tế mỗi địa phương có quy chế hỗ trợ khác nhau Cụ thể: Mức hỗ trợ đối đơn vị sự nghiệp không quá 70% (80 triệu) cho một hệ thống quản lý chất lượng và 140 triệu khi xây dựng cùng lúc hai hệ thống, đối với doanh nghiệp hỗ trợ không quá 30% (40 triệu) khi xây dựng một hệ thống và 70 triệu khi áp dụng cùng lúc hai hệ thống quản lý chất lượng (theo Quyết định số 2433/QĐ-UBND tỉnh An Giang ngày 24 tháng 12 năm 2010) Vấn đề ở đây là thực chất của sự phát triển hay chạy theo xu hướng?

Sau đây là một bài học thực thế mà chúng ta cần phải nghiên cứu: Chiến tranh thế giới lần thứ hai qua đi, Nhật Bản đã rơi vào cuộc khủng hoảng về chất lượng sản phẩm Hàng hóa của Nhật bị coi là rẽ mạt, dễ hư hỏng và hầu hết là chất lượng rất kém Liên đoàn các nhà khoa học và kỹ sư Nhật (JUSE) đã thấy được những vấn đề này và năm 1954, họ đã mời Juran đến Nhật, Juran làm việc độc lập với Deming, người chuyên về kiểm soát chất lượng thống kê, còn Juran là người chuyên về quản trị chất lượng Khi đến Nhật, Juran mở những khóa học về quản trị chất lượng mà mục tiêu của ông là đào tạo quản

lý cao cấp và trung cấp Nếu ở Mỹ, ý tưởng này bị phản đối kịch liệt, còn ở Nhật ông phải mất 20 năm cho quá trình đào tạo này Nhờ đó vào thập niên

70, sản phẩm của Nhật bắt đầu được coi là hàng đầu về chất lượng Đến những năm 80 nó đã gây ra một cuộc khủng hoảng về chất lượng trên đất Mỹ

Từ đó, nước Mỹ đã phải thay đổi cách suy nghĩ và nhìn lại cách thức quản lý của mình để cải tiến

Trang 32

- Phản ánh luật định của nhà nước khi áp dụng vào thực tế có đúng và đầy đủ chưa để có biện pháp điều chỉnh kịp thời

Một vấn đề khác được đặt ra, trong Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2, số 05/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm

2007 Tại Điều 40 Xử lý vi phạm trong quá trình kiểm tra chất lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường

“1 Trong quá trình kiểm tra chất lượng hàng hoá lưu thông trên thị

trường, khi phát hiện hàng hoá không đáp ứng yêu cầu về nhãn hàng hoá, dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy, các biện pháp quản lý chất lượng theo QCKT tương ứng đối với hàng hoá và yêu cầu về điều kiện liên quan đến quá trình sản xuất thì xử lý theo các bước sau:

a) Đoàn kiểm tra, kiểm soát viên chất lượng yêu cầu người bán hàng tạm dừng việc bán hàng hoá và trong thời hạn không quá 24 giờ phải báo cáo với cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá để xử lý theo thẩm quyền;

b) Yêu cầu người bán hàng liên hệ với người sản xuất, người nhập khẩu để thực hiện các biện pháp xử lý, khắc phục, sửa chữa;

c) Trường hợp người bán hàng vẫn tiếp tục vi phạm thì theo đề nghị của đoàn kiểm tra, kiểm soát viên chất lượng, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày có kết luận về vi phạm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng tên người bán hàng, địa chỉ nơi bán hàng, tên hàng hoá và mức độ không phù hợp của hàng hoá;

d) Sau khi thông báo công khai, người bán hàng vẫn tiếp tục vi phạm thì cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật

2 Trong trường hợp kết quả thử nghiệm mẫu hàng hoá không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, QCKT tương ứng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi

Trang 33

phạm, đoàn kiểm tra, kiểm soát viên chất lượng áp dụng các biện pháp xử lý như sau:

a) Niêm phong hàng hóa, không cho người bán hàng được phép tiếp tục bán hàng hoá không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, QCKT tương ứng và trong thời hạn không quá 24 giờ phải báo cáo với cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá để xử lý theo thẩm quyền;

b) Yêu cầu người bán hàng liên hệ với người sản xuất, người nhập khẩu để thực hiện các biện pháp xử lý, khắc phục, sửa chữa;

c) Trường hợp người bán hàng vẫn tiếp tục vi phạm hoặc hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, QCKT tương ứng đe dọa sự

an toàn của người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường thì cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, tên hàng hoá không phù hợp và mức độ không phù hợp của hàng hóa;

d) Sau khi thông báo công khai mà người bán hàng vẫn tiếp tục vi phạm thì cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật

3 Trong trường hợp phát hiện hàng hoá lưu thông trên thị trường không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, QCKT tương ứng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá tiến hành việc kiểm tra chất lượng sản phẩm theo nội dung quy định tại khoản

1 Điều 27 của Luật này” 14; điều 40

Thực tế đã xảy ra, trường hợp cơ sở, doanh nghiệp đảm bảo đủ các yêu cầu về nhãn hàng hoá, dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy, các biện pháp quản lý chất lượng theo QCKT tương ứng đối với hàng hoá và yêu cầu về điều kiện liên quan đến quá trình sản xuất Nhưng để xác định hàng hóa đó đạt yêu cầu

về các chỉ tiêu chất lượng như đã công bố theo tiêu chuẩn hay QCKT tương ứng hay không thì không thể xác định được liền tại thời điểm kiểm tra, mà chúng ta phải mua mẫu gửi các cơ quan kiểm nghiệm để phân tích Sau khi có

Trang 34

kết quả thử nghiệm nếu không đạt mới có quyền niêm phong và xử lý hàng hóa Vậy trong thời gian chờ kết quả thử nghiệm thì doanh nghiệp hoàn toàn

có thể bán hàng hóa đó Điều này gây thiệt hại không nhỏ cho NTD

c Đối với người tiêu dùng

- Hoạt động quản lý chất lượng ở doanh nghiệp sẽ đảm bảo hàng hóa được sản xuất ra thỏa mãn cao nhất nhu cầu của khách hàng, tạo niềm tin và

uy tín đối với NTD Điều này rất quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất trong nước

- Hoạt động quản lý chất lượng của cơ quan quản lý nhà nước đảm bảo cho việc các doanh nghiệp thực hiện đúng như công bố khi sản xuất hàng hóa, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NTD

1.3 Cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng

1.3.1 Hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa

Công tác quản lý chất lượng hiện nay thường đề cập đến hai chủ thể, đó

là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh gọi tắt là doanh nghiệp và nhà nước Hoạt động quản lý chất lượng của doanh nghiệp là một hoạt động từ A đến Z,

từ đầu vào đến đầu ra, từ việc xác định quy mô đầu tư, đối tượng, chủng loại hàng hóa và khách hàng chiến lược, Trong khi đó hoạt động quản lý chất lượng của nhà nước còn được gọi là quản lý nhà nước về chất lượng chỉ thực hiện một số khâu nhất định trong quá trình quản lý chất lượng nói chung theo nguyên tắc được trình bày ở điểm a mục 2.2.3 trang 56 của luận văn

Trước hết phải thấy rằng quản lý nhà nước về chất lượng là hoạt động tổng hợp mang tính kỹ thuật, kinh tế và xã hội, có mục tiêu biến đổi theo thời gian thông qua các cơ chế, chính sách của nhà nước

Mục tiêu quản lý chất lượng của Nhà nước Việt Nam là “để đảm bảo nâng

cao chất lượng hàng hóa, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và NTD, sử dụng hợp

lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tiến

bộ khoa học và công nghệ, tăng cường năng lực quản lý nhà nước, tạo điều

Trang 35

kiện thuận lợi cho việc hợp tác kỹ thuật, kinh tế và thương mại quốc tế”

(Pháp lệnh chất lượng hàng hóa 1999, hiện nay là Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa 2007)

Để thực hiện những mục tiêu nói trên, các hoạt động sau đây được tiến hành:

- Hoạch định chất lượng:

Xây dựng chính sách và mục tiêu chất lượng quốc gia thông qua việc xây dựng hệ thống pháp luật liên quan đến tiêu chuẩn, QCKT và quản lý chất lượng hàng hóa; xác định các yêu cầu quản lý chất lượng đối với từng đối tượng hàng hóa cụ thể (hàng hóa có nguy cơ cao về an toàn, an ninh, môi trường và hàng hóa có khả năng cạnh tranh ) để ban hành QCKT, tiêu chuẩn quốc gia cho hàng hóa đó

Quy định trách nhiệm và cơ chế quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa từ sản xuất, nhập khẩu đến tiêu dùng thông qua việc áp dụng các hình thức đánh giá sự phù hợp như thử nghiệm, giám định, chứng nhận, công bố sự phù hợp, thừa nhận và công nhận để đảm bảo tiêu chuẩn công bố áp dụng, QCKT tương ứng được áp dụng đúng đối tượng và nghiêm túc

Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng; xây dựng các

cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động thanh tra, kiểm tra, các biện pháp thích hợp để xử lý các hành vi vi phạm về chất lượng hàng hóa để đảm bảo pháp luật được thực thi, hành vi vi phạm không được tái diễn

Hoạt động kiểm soát chất lượng là một phần của công tác quản lý chất lượng

mà tập trung chính vào việc làm thế nào để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng

đã được đặt ra

Quy định tiêu chí, điều kiện của tổ chức đánh giá sự phù hợp và các biện pháp quản lý các tổ chức này; khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư đặc biệt đối với hoạt động thử nghiệm và nâng cao năng lực đánh giá sự phù hợp; khuyến khích thừa nhận đánh giá sự phù hợp; quy định các phương thức đánh giá sự phù hợp được tin cậy, đồng thời thúc đẩy việc cải tiến chất lượng của doanh nghiệp; áp dụng các yêu cầu đặc thù trong quá trình sản xuất và

Trang 36

cung cấp dịch vụ đối với những hàng hóa có nguy cơ gây mất an toàn hoặc đòi hỏi chất lượng cao

- Thực hiện các hoạt động đánh giá sự phù hợp; tiến hành kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm:

Hoạt động đảm bảo chất lượng nhằm cung cấp cho cho các đối tượng liên quan bao gồm cả NTD trong và ngoài nước, các cơ quan quản lý chất lượng của các quốc gia khác nhau tin tưởng rằng các yêu cầu về chất lượng được đáp ứng:

Minh bạch các thông tin, cơ chế quản lý chất lượng của các quốc gia thông qua việc hình thành và thực hiện hệ thống hỏi đáp về TBT để tạo lòng tin của khách hàng trong nước, quốc tế và các nền kinh tế khác

Thông tin rộng rãi các vấn đề liên quan đến xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, QCKT và kết quả đánh giá sự phù hợp của các doanh nghiệp, tổ chức,

cá nhân ; thông tin đầy đủ và chính xác về những thiệt hại, tồn tại, yếu kém liên quan đến việc không đảm bảo cam kết về chất lượng để tạo lòng tin rằng những bất cập đang được kiểm soát, điều chỉnh; các thông tin liên quan đến năng lực, lĩnh vực của các tổ chức đánh giá sự phù hợp để tạo sự tin tưởng vào kết quả đánh giá; thông qua kịp thời và đúng mức về kết quả thanh tra, kiểm tra và tình trạng chất lượng đối với mọi hàng hóa đang có vấn đề về chất lượng

- Hoạt động cải tiến chất lượng:

Xây dựng và thực hiện các chính sách thích hợp để tạo sân chơi bình đẳng cho mọi doanh nghiệp, cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở lấy chất lượng làm nền tảng của thương hiệu, khuyến khích sản xuất phát triển trên cơ sở hướng tới cải tiến chất lượng

Thông tin, tuyên truyền, quảng bá nhằm nâng cao nhận thức xã hội, nhà sản xuất và NTD về việc quản lý chất lượng; thông tin, giới thiệu và đào tạo

về công nghệ, phương thức quản lý chất lượng tiên tiến trên thế giới

Trang 37

Có thể thấy hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa là sự phối hợp hoạt động của nhiều cơ quan chức năng, nhiều tổ chức trong xã hội

và được định hướng bởi nhà nước nhằm đảm bảo sự công bằng trong sản xuất, kinh doanh hàng hóa

1.3.2 Vai trò và trách nhiệm quản lý chất lượng hàng hóa của cơ quan quản lý khoa học và công nghệ

Thông thường, chất lượng hàng hóa phản ánh trình độ phát triển của một xã hội nhất định và đồng hành cùng với tri thức khoa học của xã hội hiện tại, bao gồm trình độ công nghệ và năng lực công nghệ tại thời điểm đó Có thể dễ dàng nhận thấy cùng một loại hàng hóa như xe gắn máy chẳng hạn: xe hiệu Hongda do Trung Quốc sản xuất, Sunfat của Việt Nam không thể sánh bằng xe Honda do Nhật Bản sản xuất, vậy có phải Nhật Bản có nguyên vật liệu đặc biệt để sản xuất xe máy mà Việt Nam hay Trung Quốc không có được, đây không phải là nguyên nhân thực sự mà yếu tố mang lại sự khác biệt

đó chính là KH&CN Cho nên về bản chất: “chất lượng hàng hóa là sự kết

tinh hàm lượng KH&CN”

Vì vậy, để công tác quản lý chất lượng hàng hóa đạt hiệu quả cao thì trách nhiệm của cơ quan quản lý KH&CN là phải thực hiện cho bằng được các vai trò sau đây:

- Thúc đẩy quá trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng kết quả đạt được từ các công trình nghiên cứu vào thực tế sản xuất để nâng cao chất lượng đầu ra của hàng hóa

- Tạo sự kết nối giữa doanh nghiệp với nhà nước hay các tổ chức nước ngoài để họ có cơ hội tiếp cận với những thành tựu KH&CN tiên tiến một cách chủ động, cũng như nhận được sự hỗ trợ về tài chính, công nghệ, hay các

mô hình quản lý từ những tổ chức này

- Phối hợp với cơ quan quản lý khác tư vấn cho Chính phủ các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn hóa, quản lý chất lượng;8 từng bước chuẩn hóa chất

8

Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (2008), Sổ tay tham khảo Tiêu chuẩn - Đo lường - Đánh giá sự

phù hợp và Hiệp định TBT, NXB Lao động Xã hội, tr 122

Trang 38

lượng hàng hóa ở tất các ngành, nâng tầm chất lượng hàng hóa Việt ngang bằng so với các nước khác, tiến tới hội nhập sâu rộng vào thị trường thương mại toàn cầu

Khi hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, để thực hiện các cam kết của mình, nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, đã và đang tháo

dỡ các rào cản trước đây như các biện pháp về thuế, kiểm soát giá thành, tài chính, độc quyền buôn bán,… Tuy nhiên trên thị trường lại xuất hiện các rào cản mới, đó là hàng rào phi thuế quan, đặc biệt là TBT

Ở hình 1.9, chúng ta có thể thấy, hàng hóa của nước A muốn xuất sang nước B thì phải vượt qua các hàng rào phi thuế quan do nước B đưa ra Hàng hóa đó phải phù hợp với những tiêu chuẩn, những qui định của nước B, phải phù hợp những yêu cầu về các quá trình, các phương pháp sản xuất, các hình thức kiểm tra, thử nghiệm Hàng hóa và hệ thống sản xuất phải có các chứng nhận cần thiết theo qui định

Trang 39

ÁP DỤNG CHO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN NƯỚC A

CÁC QUI CÁCH CÁC QUI CÁCH CÁC QUI ĐỊNH KỸ THUẬT CÁC QUI ĐỊNH KỸ THUẬT

QUÁ TRÌNH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT

QUÁ TRÌNH VÁ CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT

Hiệp định TBT tạo ra một cơ chế để giảm thiểu hoặc loại bỏ TBT

Hình 1.9: Rào cản kỹ thuật trong thương mại

(Nguồn: INTERNATIONAL TRADE CENTRE UNCTAD/GATT

Export Quality – No 44)

Điều đó có nghĩa, theo yêu cầu TBT, một hàng hóa có khả năng cạnh tranh cao giờ đây không những phải có chất lượng tốt, ổn định, giá cả hợp lý, phù hợp với các yêu cầu NTD; mà còn phải an toàn, phải đáp ứng được những yêu cầu, những qui định và các tiêu chuẩn quốc tế trên nhiều lĩnh vực

Quá trình hội nhập sẽ dẫn đến xu hướng chung là các hàng rào thuế quan sẽ dần được loại bỏ, nhưng các hàng rào phi thuế quan thì ngày càng được sử dụng nhiều và phức tạp hơn, nhất là những yêu cầu của TBT (Xem hình 1.10)

Trang 40

AFTA (ASEAN Free Trade Area - Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN )

ASEAN (Association of Southeast Asia Nations - Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á)

APEC (Asia-Pacific Economic Cooperation - Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương) EFTA (European Free Trade Association - Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu)

Hình 1.10: Xu hướng thay đổi các rào cản thương mại trong quá trình

hội nhập kinh tế quốc tế

Chính vì vậy, trong lĩnh vực quản lý chất lượng, việc nghiên cứu áp dụng những tiêu chuẩn quốc tế cho hàng hóa, cho các hệ thống và các quá trình sản xuất, cung cấp dịch vụ trong các tổ chức và doanh nghiệp Việt Nam

là một trong những việc làm hết sức cần thiết hiện nay Đây là vai trò rất quan trọng của cơ quan quản lý KH&CN trong việc hỗ trợ doanh nghiệp cũng như các tổ chức liên quan khác trong lĩnh vực tiêu chuẩn, chất lượng

1.3.3 Vai trò và trách nhiệm người tiêu dùng trong hoạt động quản

lý chất lượng hàng hóa

Hiện nay, việc qui định trách nhiệm và quyền của NTD được cụ thể hóa trong Luật bảo vệ quyền lợi NTD được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm

2011

RÀO CẢN VỀ LUẬT PHÁP, TẬP QUÁN GIỮA CÁC NƯỚC

Độ

lớn (AFTA, APEC, EFTA,…) Rào cản thuế quan thuế quan Rào cản phi (TBT)

Thời gian Rào cản thuế quan giảm dần

Rào cản phi thuế quan tăng dần để đảm bảo lợi ích người tiêu dùng

và xã hội

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Những yêu cầu mới về chất lượng cần phải đáp ứng - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Hình 1.1 Những yêu cầu mới về chất lượng cần phải đáp ứng (Trang 14)
Hình 1.2: Ảnh hưởng của chất lượng nguyên liệu đến chất lượng gạch - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Hình 1.2 Ảnh hưởng của chất lượng nguyên liệu đến chất lượng gạch (Trang 22)
Hình  1.5:  Thị  phần  xe  máy  của  các  hãng  sản  xuất  tại  thị  trường  Việt Nam - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
nh 1.5: Thị phần xe máy của các hãng sản xuất tại thị trường Việt Nam (Trang 25)
Hình  1.6:  Lượng  xe  máy  tiêu  thụ  của  hãng  Honda  tại  thị  truờng  Việt Nam - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
nh 1.6: Lượng xe máy tiêu thụ của hãng Honda tại thị truờng Việt Nam (Trang 26)
Hình 1.7: Mô hình hệ thống quản lý tích hợp trong một tổ chức - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Hình 1.7 Mô hình hệ thống quản lý tích hợp trong một tổ chức (Trang 30)
Hình 1.8: Mô hình phát triển bền vững dựa vào chất lượng - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Hình 1.8 Mô hình phát triển bền vững dựa vào chất lượng (Trang 30)
Hình 1.9: Rào cản kỹ thuật trong thương mại - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Hình 1.9 Rào cản kỹ thuật trong thương mại (Trang 39)
Hình 1.10: Xu hướng thay đổi các rào cản thương mại trong quá trình - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Hình 1.10 Xu hướng thay đổi các rào cản thương mại trong quá trình (Trang 40)
Hình 2.1: Tỉ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh vi phạm về chất lượng - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Hình 2.1 Tỉ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh vi phạm về chất lượng (Trang 46)
Hình 2.2 : Qui trình mua hàng xanh - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Hình 2.2 Qui trình mua hàng xanh (Trang 47)
Hình 2.4: Mười quốc gia có số chứng chỉ ISO 9001: 2000 nhiều nhất - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Hình 2.4 Mười quốc gia có số chứng chỉ ISO 9001: 2000 nhiều nhất (Trang 50)
Bảng 2.2: Tương quan giữa ISO 9000, xuất khẩu và GDP của Việt Nam - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Bảng 2.2 Tương quan giữa ISO 9000, xuất khẩu và GDP của Việt Nam (Trang 51)
Bảng 2.3: Mật độ ISO khu vực ASEAN - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Bảng 2.3 Mật độ ISO khu vực ASEAN (Trang 52)
Bảng 2.4: Đóng góp của ISO 9001 tới xuất khẩu, so sánh Việt Nam và các - Thiết lập mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý khoa học và công nghệ với người tiêu dùng nhằm nầng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa[153304]153153304.PDF
Bảng 2.4 Đóng góp của ISO 9001 tới xuất khẩu, so sánh Việt Nam và các (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w