1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam

108 385 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHẠM TUẤN HUY TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH TỰ CHỦ CỦA CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU & TR

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM TUẤN HUY

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH TỰ CHỦ CỦA CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU & TRIỂN KHAI THUỘC VIỆN

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

(Nghiên cứu trường hợp Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/2005/NĐ-CP )

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.72

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Ngọc Thanh

Hà Nội - 2010

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do nghiên cứu 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

3 Mục tiêu nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Mẫu khảo sát 9

6 Vấn đề nghiên cứu 9

7 Giả thuyết nghiên cứu 9

8 Phương pháp nghiên cứu 10

9 Kết cấu của luận văn 11

CHƯƠNG 1 CHÍNH SÁCH KH&CN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 13

1.1 Tổ chức NC&TK 13

1.1.1 Khái niệm NC&TK 13

1.1.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&TK Nhà nước 14

1.1.2.1 Quyền sở hữu và quyền sử dụng trong tổ chức NC&TK Nhà nước 14 1.1.2.2 Các nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK Nhà nước 15

1.2 Hoạt động KH&CN 18

Khái niệm hoạt động KH&CN 18

1.3 Chính sách 19

1.3.1 Định nghĩa 19

1.3.2 Chính sách công 20

1.3.3 Chính sách KH&CN 21

1.4 Khái niệm về đánh giá và xây dựng khung đánh giá chính sách KH&CN 21

1.4.1 Khái niệm đánh giá 21

Trang 3

1.4.2 Xây dựng khung đánh giá chính sách KH&CN 22

1.4.3 Kinh nghiệm đánh giá chính sách KH&CN của một số nước trên thế giới 25

1.4.3.1 CHLB Đức 25

1.4.3.2 Anh 26

1.4.3.3 Trung Quốc 27

1.4.3.4 Hàn Quốc 28

1.4.3.5 Những gợi suy liên quan tới đánh giá chính sách KH&CN tại Việt Nam 30

CHƯƠNG 2 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KH&CN NÓI CHUNG VÀ NGHỊ ĐỊNH 35/HĐBT, NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH TỰ CHỦ CỦA CÁC VIỆN NC&TK THUỘC VKH&CNVN 31

2.1 Tổ chức và hoạt động của VKH&CNVN 31

2.1.1 Tổng quan về VKH&CNVN 31

2.1.2 Tổ chức và hoạt động của các nhóm viện thuộc VKH&CNVN 36

2.2 Tác động của chính sách KH&CN đối với quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 43

2.2.1 Một số chính sách quan trọng tác động đến quá trình tự chủ của các tổ chức NC&TK Nhà nước 43

2.2.2 Tác động của Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 49

2.2.2.1 Nghị định 35/HĐBT 49

2.2.2.2 Nghị định 115/2005/NĐ-CP 63

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA NGHỊ ĐỊNH 35/HĐBT VÀ NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH TỰ CHỦ CỦA CÁC VIỆN NC&TK THUỘC VKH&CNVN, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH TỰ CHỦ CỦA CÁC VIỆN NÀY 72

3.1 Đánh giá tác động của Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 72

3.1.1 Đánh giá tác động của Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với quá trình tự chủ xác định nhiệm vụ và mở rộng chức năng hoạt động của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 72

Trang 4

3.1.2 Đánh giá tác động của Nghị định 35/HĐBT và Nghị định

115/2005/NĐ-CP đối với quá trình tự chủ về tổ chức, liên doanh, liên kết của các viện

NC&TK thuộc VKH&CNVN 75

3.1.3 Đánh giá tác động của Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với quá trình tự chủ về tài chính của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 77

3.1.4 Đánh giá tác động của Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với quá trình tự chủ nguồn tín dụng ngân hàng của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 79

3.1.5 Đánh giá tác động của Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với quá trình tự chủ lao động của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 81

3.1.6 Đánh giá tác động của Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với quá trình tự chủ về hợp tác quốc tế của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 82

3.2 Điều kiện đảm bảo quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 84

3.3 Giải pháp chính sách thúc đẩy quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 88

3.3.1 Thực hiện tách quyền sở hữu và quyền sử dụng trong các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN 88

3.3.2 Tạo lập các điều kiện cho các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm 90

3.3.3 Tăng cường sự thống nhất giữa quyền tự chủ, năng lực tự chủ và tinh thần tự chủ 98

3.3.4 Phân biệt tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các nhóm viện khác nhau thuộc VKH&CNVN 101

KẾT LUẬN 103

KHUYẾN NGHỊ 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Ngọc Thanh, Phó chủ nhiệm Khoa Khoa học quản lý, Thầy đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn! Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa Khoa học quản lý và các thầy cô trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học cao học và luận văn này!

Tôi xin cảm ơn TS Nguyễn Văn Học, viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chia sẻ kinh nghiệm

và cung cấp cho tôi nhiều tư liệu liên quan đến luận văn!

Tôi cũng xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp ở viện Địa chất và Địa vật lý biển, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đã động viên, giúp đỡ tôi trong khóa học cũng như trong quá trình hoàn thiện luận văn!

Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn những người thân trong gia đình, đặc biệt bố tôi, PGS.TS Phạm Huy Tiến, đã động viên tôi tham gia khóa học, gợi

ý đề tài luận văn và đóng góp nhiều ý kiến, kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn này!

Phạm Tuấn Huy

Trang 6

NC&TK Nghiên cứu và triển khai

OECD Tổ chức hợp tác & phát triển kinh tế (Oganiation

for Economic Co-operation and Development)

UNESCO Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên

Hiệp Quốc (United Nations Educational, Scientific and Cuntural Organisation)

VKH&CNVN Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1:Sơ đồ phân loại các tổ chức KH&CN công lập theo hoạt

động

37

Bảng 1.1 Các cấp và nội dung đánh giá KH&CN ở Đức 26 Bảng 1.2 Phân loại các loại hình đánh giá NC&TK tại Hàn Quốc 28 Bảng 1.3 Các yếu tố đánh giá, trọng tâm đánh giá và các tiêu chí

đánh giá đối với NC&TK Hàn Quốc

Bảng 2.7 Các đơn vị 35 của VKH&CNVN còn hoạt động đến nay 64

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

VKH&CNVN là cơ quan khoa học trực thuộc Chính phủ, tiền thân là Viện Khoa học Việt Nam được thành lập theo Nghị định 118/CP ngày 20/5/1975 của Hội đồng Chính phủ (nay được gọi là Chính phủ) Ngày 22/5/1993 Viện Khoa học Việt Nam được đổi tên thành Trung tâm Khoa học

Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia theo Nghị định 24/CP của Chính phủ Đến ngày 16/01/2004 Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia lại được đổi tên thành VKH&CNVN theo Nghị định 27/2004/NĐ-CP của Chính phủ Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của VKH&CNVN, các chính sách KH&CN đã ban hành luôn tác động đến quá trình tự chủ, quá trình phát triển của viện

Một trong những đặc điểm nổi bật của xu hướng mới của KH&CN hiện nay có ảnh hưởng tới tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK nhà nước là mối liên kết giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh càng ngày càng phát triển Quá trình từ phát minh khoa học đến sáng chế, phát triển công nghệ và đưa vào ứng dụng trong sản xuất càng ngày càng rút ngắn

Gắn bó chặt chẽ giữa hoạt động KH&CN với hoạt động sản xuất đòi hỏi các viện NC&TK Nhà nước nói chung và các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN nói riêng phải chủ động mở rộng quan hệ với doanh nghiệp, phải năng động trước các diễn biến của đời sống kinh tế và điều đó chỉ có thể thực hiện được đúng với việc tăng cường quyền tự chủ, thái độ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức này

Trong nhiều thập kỷ qua, đánh giá nói chung và đánh giá chính sách đã trở thành một nhu cầu cần thiết trong thực tiễn hoạch định chính sách và quản

lý nhà nước ở nhiều quốc gia Công tác đánh giá chính sách KH&CN là một khâu không thể thiếu trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách KH&CN Công tác này góp phần đáng kể trong việc đánh giá ảnh hưởng và tác động của chính sách KH&CN đối với phát triển kinh tế-xã hội của đất

Trang 9

nước

Hiện nay, đứng trước yêu cầu đẩy nhanh tiến bộ KH&CN vào sản xuất, gắn kết các kết quả của hoạt động KH&CN với thực tiễn đồng thời yêu cầu cấp thiết về hội nhập KH&CN với thế giới, nhu cầu tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN là hết sức cấp thiết Tuy nhiên, thực tế cho thấy

hệ thống các chính sách đã ban hành có tác động mạnh mẽ đến quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN nhưng chưa tác động đồng bộ đến 3 mặt: quyền tự chủ, năng lực tự chủ và tinh thần tự chủ, vì vậy chưa chuyển các viện này thành những chủ thể tự chủ thực sự Vì vậy trong luận văn này, tôi tiến hành đánh giá tác động của chính sách KH&CN đối với quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN, từ đó đưa ra một số giải pháp chính sách thúc đẩy quá trình tự chủ của các viện này

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

nghiên cứu và phát triển”, chủ nhiệm đề tài: Bạch Tân Sinh, đề tài này đã

đánh giá tác động của Nghị định 35/HĐBT đến quá trình tự chủ của VKH&CNVN, tuy nhiên việc đánh giá mới ở mức sơ bộ, chủ yếu đánh giá

các đơn vị 35 thuộc VKH&CNVN Đề tài: “Nghiên cứu phương pháp và quy

trình đánh giá chính sách khoa học và công nghệ, nghiên cứu trường hợp Nghị định 35 - HĐBT và Quyết định 782/TTg” do Nguyễn Hồng Hà -

Nguyễn Văn Học chủ nhiệm năm 2008, đã đánh giá tác động của Nghị định

35 - HĐBT đối với các tổ chức NC&TK công lập Ngoài ra còn nhiều bài báo

viết về Nghị định 115/2005/NĐ-CP, trong đó nổi bật là bài: “Bàn về thực hiện

Nghị định 115/2005/NĐ-CP” của PGS.TS Phạm Huy Tiến đăng trên Tạp chí

Hoạt động Khoa học số tháng 12.2006 Trong bài báo này, tác giả đã tập trung bàn về Điều 4 của nghị định và tác động của nó đối với VKH&CNVN Tổng

Trang 10

luận: “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và phát triển

Nhà nước”, của tác giả Hoàng Xuân Long - Phan Thu Hà đăng trên Tổng luận

Khoa học - Công nghệ - Kinh tế, số 1- 2005 (203) của Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia, Bộ KH&CN Tổng luận này đã đề cập đến các vấn đề lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng thời đánh giá tác động của những chính sách đã ban hành đến quá trình tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn

vị NC&TK Nhà nước TSKH Phan Xuân Dũng và TS Hồ Thị Mỹ Duệ trong

tác phẩm: “ Đổi mới quản lý và hoạt động các tổ chức Khoa học và Công

nghệ theo cơ chế doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2006 Trong tác phẩm này, các tác giả đã đề xuất chủ trương và giải pháp chuyển đổi các tổ chức KH&CN sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp trên tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP Tuy nhiên, chưa có công trình nào đánh giá tác động của chính sách KH&CN đối với quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá được tác động của chính sách KH&CN đối với quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN

7 Giả thuyết nghiên cứu

Chính sách đã ban hành tác động mạnh mẽ đến quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN nhưng chưa tác động đồng bộ đến 3 mặt:

Trang 11

quyền tự chủ, năng lực tự chủ và tinh thần tự chủ, vì vậy chưa chuyển các viện này thành những chủ thể tự chủ thực sự

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp phân tích văn bản trong phân tích chính sách

Để phân tích và đánh giá những tác động của chính sách KH&CN đối với quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN, tác giả căn cứ theo các luận cứ sau:

+ Quyết định 782/TTg ngày 24/10/1996 về tiếp tục sắp xếp lại các tổ chức nghiên cứu phát triển phù hợp với khả năng đầu tư và kinh tế thị trường Định rõ những viện được Nhà nước đầu tư và các viện do doanh nghiệp đầu

Trang 12

cho phép các tổ chức NCPT được vay vốn ngân hàng triển khai kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất

+ Quyết định 171/2004/QĐ-TTG ngày 28/9/2004 phê duyệt đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học

+ Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 quy định quy chế tự chủ,

tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập…

2.2 Các tài liệu thống kê; chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các viện

NC&TK thuộc VKH&CNVN

+ Nhân lực KH&CN của VKH&CNVN phân theo trình độ, giới tính và

độ tuổi (Bảng 2.1)

+ Nhân lực của các viện ĐTCB phân theo trình độ (Bảng 2.2)

+ Nhân lực của các viện nghiên cứu cơ bản phân theo trình độ (Bảng 2.3)

+ Nhân lực của các viện TKCN phân theo trình độ (Bảng 2.4)

+ So sánh về nhân lực 3 nhóm viện thuộc VKH&CNVN (Bảng 2.5) + Các đơn vị 35 thuộc VKH&CNVN (Bảng 2.6)

+ Các đơn vị 35 của VKH&CNVN còn hoạt động đến nay (Bảng 2.7) 2.3 Các Đề tài, tổng luận, báo cáo khảo sát

+ Đề tài “Nghiên cứu đánh giá các tổ chức nghiên cứu và phát triển” do

TS Nguyễn Văn Học chủ trì

+ Đề tài “Đánh giá mô hình chuyển đổi của tổ chức nghiên cứu và phát

triển”, chủ nhiệm đề tài: Bạch Tân Sinh

+ Đề tài: “Nghiên cứu phương pháp và quy trình đánh giá chính sách

khoa học và công nghệ, nghiên cứu trường hợp Nghị định 35 - HĐBT và Quyết định 782/TTg’’ do Nguyễn Hồng Hà - Nguyễn Văn Học chủ nhiệm

+ Tổng luận: “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu

và phát triển Nhà nước”, của tác giả Hoàng Xuân Long, Phan Thu Hà

9 Kết cấu của luận văn

Luận văn được bố cục gồm: Mở đầu, ba chương và các kết luận, kiến nghị Các chương gồm:

Trang 13

Chương 1 Chính sách KH&CN: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

Chương 2 Tác động của chính sách khoa học nói chung và của Nghị định 35/HĐBT, Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN

Chương 3 Đánh giá tác động của Nghị định 35/HĐBT, Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với quá trình tự chủ của các viện NC&TK thuộc VKH&CNVN, đề xuất giải pháp chính sách thúc đẩy quá trình tự chủ của các viện này

Trang 14

CHƯƠNG 1 CHÍNH SÁCH KH&CN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH

NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.1 Tổ chức NC&TK

1.1.1 Khái niệm NC&TK

NC&TK theo hệ thống khái niệm trong sổ tay thống kê về hoạt động KH&KT do UNESCO đưa ra năm 1980, được giải thích như sau:

Nghiên cứu (tiếng Pháp là Recherche) bao gồm hai loại, NCCB (tiếng Pháp là Recherche fondamentalle), NCUD (tiếng Pháp là Recherche appliquee)

Quá trình “triển khai” được phân chia thành 2 giai đoạn, và được UNESCO mô tả như sau:

Giai đoạn 1: Tạo sản phẩm mẫu, tức sản phẩm đầu tiên từ kết quả nghiên cứu (tiếng Pháp là prototipe)

Giai đoạn 2: Làm Pilot để thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm prototipe vừa được tạo ra từ giai đoạn 1 (tiếng Pháp là ínstanllation pilot)

“Triển khai” là một phần của hoạt động NC&TK Đó là sự kế tục các kết quả nghiên cứu để tạo ra sản phẩm mẫu, là tiền đề cho sự ra đời những sản phẩm mới và công nghệ mới Trong quá trình triển khai, trong tư duy của người nghiên cứu và trong phòng thí nghiệm chỉ mới xuất hiện những nguyên

lý công nghệ và những thực nghiệm đang tiến hành để hiện thực hóa ý tưởng công nghệ thể hiện trên sản phẩm mẫu, chưa hề tồn tại bất cứ một công nghệ nào [12; 349-353]

Theo Nghị quyết 51/HĐBT và Thông tư hướng dẫn số 1438 KHKT-TC giữa Liên bộ Bộ Tài chính và Uỷ ban KHKT Nhà nước, tổ chức NC&TK nhà nước được tiến hành ba loại hoạt động: Nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, sản xuất thử và sản xuất một số sản phẩm có trình độ ký thuật cao hơn, nhưng chưa có điều kiện sản xuất đại trà Điều này tiếp tục được khẳng định

và phát triển ở Quyết định 134/HĐBT và đặc biệt là tại Nghị định 35/HĐBT Như vậy, theo các văn bản của nhà nước, tổ chức NC&TK nhà nước là

Trang 15

một loại hình tổ chức có chức năng sản xuất ra các sản phẩm KH&CN phục

vụ cho toàn xã hội (với tư cách như là hoạt động công ích) Không phụ thuộc vào thành phần kinh tế, vào cấp trực thuộc, vào lĩnh vực KH&CN, cơ quan NC&TK có chức năng thực hiện một khâu hoặc nhiều khâu của chu trình NC&TK

1.1.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&TK Nhà nước

1.1.2.1 Quyền sở hữu và quyền sử dụng trong tổ chức NC&TK Nhà nước

Vấn đề quan trọng quyết định đến sự tồn tại của các tổ chức NC&TK là quyền sở hữu của tổ chức đó Quyền sở hữu bao gồm 3 quyền năng: quyền chiếm giữ, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối tượng sở hữu Với sở hữu nhà nước, chủ thể chiếm giữ và chủ thể định đoạt là Nhà nước nhưng chủ thể

sử dụng lại là các đơn vị cụ thể Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm sẽ phụ thuộc vào sự độc lập nhất định của quyền sử dụng và khả năng nắm giữ quyền

sử dụng của các tổ chức NC&TK

Tách quyền sử dụng với quyền chiếm giữ và quyền định đoạt đối tượng

sở hữu nhằm tạo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ thể sử dụng đối tượng diễn ra khá nhiều và khá sớm Các chủ tư bản thuê những giám đốc điều hành hoạt động kinh doanh của công ty Thời phong kiến, lúc đầu các lãnh chúa phong kiến trực tiếp chiếm hữu lao động thặng dư của nông dân, cưỡng bức

họ dành phần lớn thời gian làm việc trên lãnh địa của mình - gọi là địa tô công dịch; tiếp theo, hình thức địa tô công dịch được thay thế bởi địa tô hiện vật và địa tô tiền, tức là người nông dân tự làm theo những cách của mình và nộp tiền cho địa chủ Trước nữa, tách quyền sử dụng và quyền chiếm giữ cũng xuất hiện trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ Rõ ràng đây là những kinh nghiệm thực tế để các nước tiến hành thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở tổ chức NC&TK nhà nước

Điều đáng nhấn mạnh là sự độc lập của quyền sử dụng chỉ là tương đối,

nó vẫn phải đặt trong mối quan hệ ràng buộc với các mặt khác của quyền sở hữu Bởi vậy, tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK nhà nước có những khuôn khổ nhất định Ngoài việc không thể thay đổi quyền chiếm giữ

Trang 16

và quyền định đoạt đối với đối tượng sở hữu, thì hoạt động của tổ chức NC&TK nhà nước còn phải định hướng phục vụ vào các mục tiêu của nhà nước, mà chính nhờ có những mục tiêu đó thì các tổ chức NC&TK nhà nước mới ra đời

1.1.2.2 Các nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK Nhà nước

Hoạt động của tổ chức NC&TK nhà nước liên quan đến nhiều mặt về hoạt động KH&CN, tài chính, quản lý nhân sự, quan hệ quốc tế v.v Tự chủ

và tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK nhà nước cũng diễn ra trên tất cả các mặt đó Đồng thời, hiện tượng tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK của các nước rất phong phú Ở đây sẽ tập trung vào các khía cạnh như: tự chủ trong các hoạt động thuộc khuôn khổ nhà nước (nhiệm vụ của nhà nước giao, kinh phí nhà nước cấp v.v ), tự chủ trong hoạt động ngoài khuôn khổ nhà nước, quan hệ giữa tự chủ (quyền) và tự chịu trách nhiệm (nghĩa vụ), cách thức giải quyết những mâu thuẫn đặt ra

- Về nhiệm vụ KH&CN

Liên quan tới tự chủ của tổ chức NC&TK nhà nước có thể chia ra làm 3 loại nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Loại nhiệm vụ thứ nhất là những công việc được Nhà nước giao cụ thể

và trực tiếp Ví dụ như một số vấn đề cấp bách đã được xác định rõ về đối tượng nghiên cứu trong quốc phòng, phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế

- xã hội v.v Với loại nhiệm vụ này, tổ chức NC&TK chỉ là người lĩnh hội và thực hiện nhiệm vụ trên giao

Loại nhiệm vụ thứ hai là các chủ đề nghiên cứu trong chức năng hoạt động của tổ chức NC&TK nhà nước (đã được Nhà nước quy định) Trong một phạm vi khá rộng, viện nghiên cứu thuộc nhà nước có quyền và phải tự chịu trách nhiệm lựa chọn ra các vấn đề làm nhiệm vụ khoa học và công nghệ

cụ thể Đối với một số nhiệm vụ được Nhà nước giao trực tiếp nhưng chỉ có tính chất định hướng, viện nghiên cứu cũng phải tự cụ thể hoá, xác định rõ các vấn đề cần tập trung giải quyết

Trang 17

Nhìn chung, mức độ tự chủ của loại nhiệm vụ thứ hai cao hơn loại nhiệm

vụ thứ nhất, nhưng giới hạn về tự chủ ở loại này cũng rất rõ ràng Ngoài giới hạn lĩnh vực, phạm vi xác định đề tài theo chức năng và theo nhiệm vụ định hướng do Nhà nước giao trực tiếp, thông thường các kế hoạch nghiên cứu của đơn vị còn phải được Nhà nước xét duyệt một cách chặt chẽ

Loại nhiệm vụ thứ ba là các hợp đồng mà tổ chức NC&TK ký kết thực hiện với bên ngoài Lựa chọn những hợp đồng nào hoàn toàn thuộc quyền tự chủ của các đơn vị trên cơ sở vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường Một số chương trình nghiên cứu của nhà nước được mang ra đấu thầu cũng thuộc loại nhiệm vụ thứ ba, bởi vậy đơn vị có thể toàn quyền quyết định có tham gia đấu thầu hay không và tham gia vào chương trình nào

Dường như không có một tiêu chuẩn rõ ràng về sự cân đối giữa ba loại nhiệm vụ trên Nhưng có thể nói các nước đã chú ý đến mối quan hệ tương tác giữa đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và chuẩn bị tiềm lực lâu dài, giữa đáp ứng đòi hỏi của nhà nước và yêu cầu các doanh nghiệp của thị trường, giữa hợp đồng mang lại nguồn lợi kinh tế và NCCB v.v Như vậy, có những điểm tương đồng giữa viện nghiên cứu thuộc nhà nước và viện nghiên cứu thuộc doanh nghiệp lớn

- Về tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu:

Nếu như ở khâu xác định nhiệm vụ nghiên cứu có khác nhau nhất định

về mức độ độc lập, tự chủ giữa 3 loại nhiệm vụ thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu lại có xu hướng chung tôn trọng tính chủ động của tổ chức nghiên cứu phát triển nhà nước Các tổ chức NC&TK nhà nước tự do xác định phương pháp nghiên cứu, tự do huy động và bố trí các nguồn lực phục vụ cho nghiên cứu v.v

Tổ chức NC&TK nhà nước thường có quyền tự do liên doanh, liên kết với bên ngoài, được thành lập các doanh nghiệp khoa học như Spin - off trên

cơ sở các kết quả nghiên cứu ra Các đơn vị cũng có thể tự thay đổi tổ chức,

cơ cấu bên trong nhưng không được có biểu hiện xa rời nhiệm vụ chức năng được giao Sự chi phối của quyền sở hữu nhà nước có khi được thể hiện trên

Trang 18

nguyên tắc nhưng cũng có khi rất cụ thể

- Về sử dụng truyền bá kết quả nghiên cứu:

Các kết quả nghiên cứu là sản phẩm của việc sử dụng các nguồn lực tự huy động của tổ chức NC&TK nhà nước sẽ thuộc toàn quyền sử dụng của đơn

vị Vấn đề là những kết quả nghiên cứu sử dụng kinh phí của nhà nước thì các

tổ chức NC&TK nhà nước có quyền tự chủ sử dụng và truyền bá hay không? Đây là một chủ đề được thảo luận nhiều ở các nước và trên thực tế cũng tồn tại những cách khác nhau

- Về quản lý tài chính:

Các tổ chức NC&TK nhà nước được Nhà nước đảm bảo cung cấp một nguồn kinh phí thường xuyên phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Nguồn kinh phí thường bao gồm chi cho các khoản về vốn cố định và vốn lưu động tối thiểu để đơn vị có đủ điều kiện tiến hành một

số nội dung nghiên cứu cụ thể trong phạm vi chức năng của mình Thủ tục phải tiến hành để nhận kinh phí từ Nhà nước khá chặt chẽ

Ngoài kinh phí Nhà nước cấp, các tổ chức NC&TK nhà nước còn mở rộng nguồn vốn từ nhiều hình thức như: hợp đồng nghiên cứu với bên ngoài, sản xuất thử nghiệm, nguồn tài trợ, vốn đi vay, v.v

- Về quản lý nhân lực:

Nhìn chung, tổ chức NC&TK nhà nước có quyền tự chủ trong việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đề bạt cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong đơn vị Trong đó, nổi bật có một số vấn đề về quyền của thủ trưởng, tự chủ của cán bộ nghiên cứu, phân biệt giữa lực lượng cán bộ trong

tổ chức NC&TK nhà nước với đội ngũ công chức nhà nước nói chung

Là đơn vị thuộc thành phần nhà nước, các tổ chức NC&TK thường có những quy chế hoạt động được cấp trên quy định rõ ràng Đây là khuôn khổ

để các thủ trưởng đơn vị sử dụng quyền hạn của mình

Trong nhiều trường hợp, Hội đồng quản trị có một vai trò rất quan trọng Hội đồng quản trị đại diện cho quyền sở hữu và tham gia điều hành công việc của tổ chức NC&TK nhà nước

Trang 19

Tự chủ của các tổ chức NC&TK nhà nước thường bao gồm cả tự chủ của các cán bộ nghiên cứu trong đó

Nhân lực hoạt động trong tổ chức NC&TK nhà nước là một loại lao động khá đặc thù Làm việc trong các cơ quan của nhà nước thì dường như họ

là những công chức nhà nước, nhưng nghiên cứu khoa học thì lại cần có sự độc lập, tự chủ v.v ở nhiều nước, mâu thuẫn này được giải quyết bằng cách coi cán bộ khoa học là loại công chức, viên chức đặc biệt, có bổ sung thêm những quy chế riêng

1.2 Hoạt động KH&CN

Khái niệm hoạt động KH&CN

Khái niệm KH&CN, hoạt động KH&CN, phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN đã được Luật KH&CN năm 2000 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ tại Điều 2, Chương I như sau:

“Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”

“Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.”

“Hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản suất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN”

“Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm”

“Dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc NCKH và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn”

Điều 9, Chương II Luật KH&CN quy định các tổ chức KH&CN bao gồm:

- Tổ chức NCKH, tổ chức NCKH và phát triển công nghệ;

Trang 20

- Trường đại học, học viện, trường cao đẳng;

- Tổ chức dịch vụ KH&CN;

Hoạt động KH&CN là khái niệm được UNESCO sử dụng để chỉ những hoạt động xã hội được thực hiện bởi một bộ phận xã hội rộng lớn (các nhà khoa học, các nhà công nghệ) có liên quan đến việc thực hiện công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phát triển KH&CN [9;73]

1.3 Chính sách

1.3.1 Định nghĩa

Theo nghĩa hẹp, chính sách có thể được thể hiện thông qua, một chương trình, một mục tiêu của chương trình hay sự tác động của chương trình lên một số vấn đề của xã hội, chẳng hạn như chính sách trợ cấp hay chính sách

giải quyết yêu cầu của sinh viên về nhà ở, học bổng Thuật ngữ “chính sách”

được dùng với nghĩa rộng hơn như chính sách đối nội, chính sách đối ngoại Thuật ngữ chính sách được sử dụng rất thường xuyên, đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, định nghĩa chính sách lại chưa có một sự thống nhất

Chính sách cũng có thể coi là một kế hoạch hoạt động Đó là một bản kế hoạch, được xây dựng công phu, cụ thể chứ không phải là những lời nói, tư duy suy nghĩ ban đầu Kế hoạch được đưa ra trong bối cảnh, môi trường cụ thể mà nhà làm chính sách đã hình dung ra hoặc do chủ thể xác định (tổ chức,

cá nhân, nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, các tổ chức quần chúng, các loại hình doanh nghiệp, v.v ) đưa ra

Theo quan niệm của các nhà chính trị, chính sách là sự bày tỏ quan điểm chính trị của các tổ chức (theo nghĩa rộng của từ này) nhằm đạt được những mục tiêu nhất định, hay nói cách khác, đó là những quyết định của các tổ chức, cá nhân về những gì họ sẽ làm hay không làm

Còn những nhà quản lý vĩ mô của các tổ chức quan niệm, chính sách là những định hướng tư duy cho các nhà quản lý điều hành, tác nghiệp đưa ra những quyết định cần thiết trong những điều kiện cụ thể của môi trường sản xuất, kinh doanh Như vậy, thực chất của chính sách theo cách này chỉ là

Trang 21

những chỉ dẫn cần thiết cho các nhà quản lý tác nghiệp để họ vận dụng vào điều kiện cụ thể, không chỉ ra cách thức tiến hành (các tác nghiệp cụ thể) Theo các quan niệm, chính sách đó là một sự lựa chọn trong tập hợp các phương án khác nhau để đi đến mục tiêu

Trong một cách tư duy cũng được nhiều người thừa nhận, chính sách là bước tiếp theo của chiến lược của các công ty, tập đoàn sản xuất, kinh doanh

đề ra và đó là bước khởi đầu cho việc nghiên cứu những hoạt động cần thiết

để đạt được những mục tiêu đề ra Với tư duy này, chính sách là các chỉ dẫn

cụ thể của các nhà hoạch định đề ra các quyết định triển khai chiến lược; là bước nối giữa đường lối, chủ trương chiến lược (vĩ mô) và các hành động cụ thể (dự án, chương trình)

Theo quan niệm của các nhà quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, chính sách là đường lối lãnh đạo, định hướng tư duy cho các nhà quản

lý theo mục tiêu cụ thể Đó không phải là những quy tắc (với tư cách là các quy định cụ thể) bắt buộc các nhà quản lý phải chấp hành Nói cách khác, chính sách chỉ dẫn, hướng dẫn đưa ra quyết định, còn vấn đề quyết định vẫn thuộc các nhà quản lý điều hành

Tổng hợp những quan niệm trên, tác giả Vũ Cao Đàm đã đưa ra định

nghĩa về chính sách: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa,

mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [11;13]

Trang 22

tính quyền lực của nhà nước cho toàn xã hội và điều mà Chính phủ làm (hay không làm) đều gắn liền với phân bổ giá trị xã hội đó và chỉ có nhà nước mới phân bổ được

1.3.3 Chính sách KH&CN

Chính sách KH&CN là một loại chính sách công với các đặc tính trình bày trên đây Nó được xây dựng để điều tiết hoạt động KH&CN - một loại hình hoạt động tạo ra động năng phát triển xã hội Theo UNESCO thì chính sách KH&CN là một tập hợp các biện pháp có quan hệ nhân quả nhằm thúc đẩy hoạt động tạo ra tri thức, truyền bá, phổ cập, ứng dụng các tri thức đó cho đổi mới

Còn có nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách KH&CN với cách tiếp cận khác nhau Có ý kiến cho rằng chính sách KH&CN là tập hợp các mục tiêu và hệ thống các biện pháp (tổ chức, tổ chức - hành chính, tài chính, kinh

tế, xã hội, v.v…) để thực hiện các mục tiêu đề ra Về phần mình, các mục tiêu cũng được chia ra thành các mục tiêu chiến lược (dài hạn), mục tiêu chiến thuật (ngắn hạn), mục tiêu tổng hợp và mục tiêu cụ thể, mục tiêu toàn cầu và mục tiêu cục bộ (quốc gia), v.v…

Theo tác giả Vũ Cao Đàm, chính sách phát triển KH&CN của một đất

nước, một địa phương hoặc một hãng, trong đó có những lĩnh vực nghiên cứu

và những công nghệ được ưu tiên phát triển theo hai hướng:

- KH&CN phục vụ cho những mục tiêu ngắn hạn về phát triển kinh tế và

xã hội, đặc biệt là công nghệ phải phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản xuất

- Một mặt khác, KH&CN phải được phát triển đi trước, chuẩn bị cho những mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp hoặc mục tiêu dài hạn của kinh tế và

xã hội, bên cạnh những lĩnh vực phải đáp ứng tức thời nhu cầu cạnh tranh của sản xuất [11;16-17]

1.4 Khái niệm về đánh giá và xây dựng khung đánh giá chính sách KH&CN

1.4.1 Khái niệm đánh giá

Định nghĩa của OECD về đánh giá như sau:

Trang 23

“Đánh giá là một quá trình xác định giá trị hoặc tầm quan trọng của một

hoạt động, chính sách hoặc chương trình, là sự đánh giá ở mức độ hệ thống

và khách quan nhất có thể, đối với một can thiệp đã được lập kế hoạch, đang diễn ra, hoặc đã hoàn thành”

Đánh giá được thực hiện để đánh giá hình thành, đánh giá tổng kết và đánh giá triển vọng đối với các dự án, chương trình, chính sách

Có nhiều cách sử dụng kết quả đánh giá Các đánh giá cung cấp phản hồi

về chính sách, chương trình, dự án cho các khách hàng, cơ quan Chính phủ, công chúng và những đối tượng khác Các kết quả đó có thể cung cấp thông tin về cách thức sử dụng các quỹ công…

Kết quả đánh giá có thể:

 Giúp phân tích nguyên nhân vì sao đạt được hoặc không đạt được những kết quả dự kiến;

 Tìm ra nguyên nhân đưa lại những kết quả hoặc hệ quả ngoài dự kiến;

 Đánh giá cách thức và nguyên nhân vì sao những kết quả lại chịu ảnh hưởng của những hoạt động đặc thù;

 Làm sáng tỏ các quy trình thực hiện, những thất bại hoặc những thành công có thể xảy ra ở mọi cấp;

 Giúp cung cấp những bài học, những lĩnh vực thành tựu và tiềm năng nổi bật và đưa ra những khuyến nghị cụ thể để hoàn thiện và cải cách

1.4.2 Xây dựng khung đánh giá chính sách KH&CN

- Khung đánh giá

Việc xây dựng khung đánh giá chính sách cần được xuất phát từ định nghĩa chính sách là gì Ở nhiều nước phát triển đặc biệt là các nước OECD, đánh giá chính sách nói chung và đánh giá tác động của chính sách nói riêng

Trang 24

được coi như là một phần không thể thiếu trong hoạch định và thực thi chính sách Vậy, đánh giá chính sách được định nghĩa như thế nào? Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về đánh giá chính sách Theo Rosiet

(1999) đánh giá được hiểu là “ việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu để

tìm hiểu một cách hệ thống hiệu ích (effectivness) của các can thiệp xã hội (socian intervention) tức là chính sách định hướng cải thiện tình hình xã hội

Theo Scriven (1991): “Đánh giá chính sách là quá trình để xác định ưu điểm,

giá trị của một cái gì đó” Trên cơ sở các định nghĩa này, Davies (2005) đã

đưa ra một định nghĩa về đánh giá chính sách như sau: “đánh giá chính sách

là việc sử dụng các công cụ nghiên cứu để tìm hiểu một cách có hệ thống các can thiệp chính sách, quá trình thực hiện chính sách cũng như quá trình chính sách nhằm xác định giá trị của các chính sách này trong việc cải thiện

và nâng cao điều kiện kinh tế - xã hội của các bên liên quan khác nhau về chính sách”

Như vậy, tuỳ thuộc vào các bên liên quan mà mục tiêu, nội dung và kết

quả đánh giá được xem xét dưới các giác độ khác nhau Suy cho cùng, khung

đánh giá chính sách khá trùng hợp với khung phân tích chính sách Điểm mấu chốt quan trọng nhất là đánh giá lợi ích của các bên tham gia và thụ hưởng chính sách như tác động của chính sách đối với các đối tượng thụ hưởng chính sách theo nghĩa hẹp và đối với nền kính tế - xã hội theo nghĩa rộng Trong đánh giá tác động của chính sách, câu hỏi thường trực đối với các nhà hoạch định chính sách là: “liệu một chính sách A có đem lại kết quả mong muốn hay không?” hoặc liệu chính sách A có tác động tốt hơn chính sách B hay không Ví dụ về chính sách tạo nguồn cho hoạt động KH&CN: liệu chính sách cho phép các doanh nghiệp trích một tỉ lệ phần trăm lợi nhuận trước thuế để thành lập quỹ phát triển KH&CN có đẩy mạnh công tác nghiên cứu KH&CN của doanh nghiệp không? liệu chính sách này có tốt hơn chính sách “coi chi phí cho hoạt động KH&CN là chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế không?” và liệu chính sách này có phá hỏng chính sách tài chính quốc gia hay không?

Trang 25

Người ta thường nghĩ, một chính sách được công bố luôn dẫn tới tác động tốt, phù hợp với mục tiêu đặt ra ban đầu của chính sách Thực ra không phải như vậy, một chính sách sau khi ban hành thường đem tới tác động rất tốt hay còn được gọi là tác động dương tính, tuy nhiên chính sách sau khi ban hành còn có thể đem tới tác động âm tính hoặc tác động ngoại biên

Tác động dương tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới

Tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược với mục tiêu của chính sách

Tác động ngoại biên của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngoài dự liệu của cơ quan quyết định chính sách

Như trên đã nói, đánh giá tác động của các biện pháp chính sách là quan trọng nhất, tuy nhiên, hiện chưa có một phương pháp nào có thể trả lời hoàn chỉnh câu hỏi này Đơn giản là vì sự thành công cũng như thất bại của một tổ chức (thực thể thụ hưởng chính sách) luôn phụ thuộc vào nhiều ảnh hưởng khó nhận biết ngoài sự tác động của chính sách nhà nước Ví dụ, như các thay đổi trong quản lý, môi trường hoạt động, xu thế thị trường, v.v… tương tự như khi đánh giá hiệu quả của tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, thật khó

có thể loại trừ hoặc tính hết yếu tố thời tiết, khí hậu trong thu hoạch mùa màng

Có rất nhiều phương pháp có thể được sử dụng để đánh giá chính sách

Có thể sử dụng phương pháp định tính, định lượng, thử - sai, mô tả, v.v… Hơn thế nữa thật khó có thể khẳng định phương pháp nào lợi thế hơn phương pháp nào Một phương pháp nào đó được lựa chọn bởi nó phù hợp với mục tiêu đề ra, không có phương pháp thay thế cho tất cả

Các phương pháp có thể bổ trợ cho nhau Ví dụ, phương pháp kinh tế lượng hoặc khoa học lượng rất thích hợp cho việc đánh giá sau đối với các biện pháp chính sách Ngược lại, phương pháp khoa học lượng hoặc kinh tế lượng sẽ rất khó áp dụng khi mà chỉ số thống kê nghèo nàn, khi ấy không thể không dùng phương pháp định tính

Trang 26

Đánh giá chính sách cũng có thể được phân loại theo thời điểm đánh giá

Có thể phân ra 2 loại: Đánh giá trước và đánh giá sau

Đánh giá trước khi thực hiện (exante) bao gồm cả đánh giá định tính và định lượng thường được áp dụng trước khi thực hiện chính sách để đánh giá tiềm năng của các mục tiêu cũng như các biện pháp chính sách

Đánh giá sau (expost) cũng bao gồm cả phương pháp định tính và định lượng, được vận dụng sau khi chính sách đã thực hiện

Đánh giá chính sách cũng có thể được phân loại theo nội dung:

i) đánh giá tác động (impact assessment)

ii) đánh giá quá trình (process evaluation)

Đánh giá tác động nhằm trả lời cho câu hỏi liệu một chính sách, một chương trình của chính phủ có tác động như thế nào đối với các mục tiêu cụ thể hoặc đối với các đối tượng cụ thể thuộc phạm vi tác động của chính sách Đánh giá tác động nhằm ước lượng hiệu quả của một chính sách có đúng với kết quả mong đợi ban đầu không

Khi đánh giá các tác động dương tính, âm tính và ngoại biên của chính sách đã ban hành, cơ quan quyết định chính sách có cơ sở để ban hành những chính sách mới khắc phục hoặc hạn chế đến tối đa những tác động âm tính và ngoại biên của những chính sách ban hành trước đó

Ngoài các phương pháp kể trên, trong đánh giá chính sách người ta còn

áp dụng phương pháp tham vấn, phương pháp hội đồng, phương pháp chuyên gia, phương pháp mô tả, v.v…

1.4.3 Kinh nghiệm đánh giá chính sách KH&CN của một số nước trên thế giới

1.4.3.1 CHLB Đức

CHLB Đức từ lâu vốn có truyền thống tự do hoá nền kinh tế Nét đặc biệt của hệ thống đánh giá của Đức là ở số thành phần tham gia; có thể phân biệt thành 3 loại cơ quan: cấp bộ đề xuất và tài trợ các biện pháp hỗ trợ,

“Projekttrager” tiến hành chương trình và đa số người đánh giá là các chuyên

gia độc lập (Bảng 1.1)

Trang 27

Theo những đánh giá này, đã có 7-8 viện nghiên cứu thuộc WGL sẽ bị đóng cửa hoặc phải chuyển đổi phương hướng hoạt động

Bảng 1.1: Các cấp và nội dung đánh giá KH&CN ở Đức Cấp đánh giá Nội dung đánh giá và cơ quan đảm nhiệm đánh giá

A Chính sách KH&CN: do Chính phủ/BMBF

Bundesbericht Forschung: Phân tích và các nguyên tắc chính sách Báo cáo chính trị: 4 năm một lần/ sau 2 năm: Báo cáo số liệu (Data Report)

Report “Zur technologischen Leitungsfahigkeit Deutschlands” (các báo cáo hàng năm về tính cạnh tranh công nghệ cho BMBF) Báo cáo phân tích xu thế ngắn hạn, trung hạn, dài hạn do các viện /các chuyên gia khác nhau tiến hành

B Các khu vực hoạt động KH&CN:

- Giáo dục đại học (do Science Council)

- Các tổ chức nghiên cứu ngoài trường đại học Các doanh nghiệp/các ngành kinh tế (Đánh giá tính cạnh tranh công nghệ/ Thị trường, patent, đổi mới, tạo dựng/kết thúc doanh nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm)

Ngoài ra, đối với các chương trình, dự án, kết quả nghiên cứu thì vẫn áp

dụng cách đánh giá thường xuyên

1.4.3.2 Anh

Đánh giá KH&CN nói chung và đánh giá chính sách KH&CN nói riêng

ở Anh quốc được tiến hành bình diện: Cấp quốc gia và cấp cơ sở đều do các

tổ chức (Hội đồng Anh), chuyên gia độc lập (kể cả chuyên gia nước ngoài) tiến hành Chỉ số thư lượng là chỉ số quan trọng, được vận dụng như là chỉ tiêu đánh giá tác động của các biện pháp chính sách đối với sự phát triển KH&CN

a) Mục tiêu: so sánh trên diện rộng kết quả hoạt động KH&CN của nước Anh trong 20 lĩnh vực chủ chốt với các nước (chủ yếu G7) để có các

Trang 28

điều chỉnh chính sách thích hợp

b) Phương pháp đánh giá

Như trên đã nói, các cấp đánh giá thường vận dụng áp dụng phương pháp chuyên gia và phương pháp mà các nước OECD đang áp dụng thông qua việc phân tích chỉ số thư lượng

Chất lượng nghiên cứu được đánh giá bằng chỉ số thư lượng Việc phân tích các chỉ số này theo ý kiến của các chuyên gia cho phép đánh giá tác động của các biện pháp chính sách, xác định nhu cầu quốc gia về các lĩnh vực chuyên ngành, vạch ra các biện pháp bổ sung để thực hiện Các dự án Foresight - nhìn trước là các minh chứng tốt nhất trong đánh giá nói chung và đánh giá chính sách nói riêng của Anh

Kết quả cho thấy Vương Quốc Anh đã có 671.944 bài viết, chiếm 8% tổng số bài của toàn thế giới trong giai đoạn đó và đứng vị trí thứ hai chỉ sau Hoa Kỳ là nước đóng góp tới 34,6% số bài viết So sánh tương ứng thì Đức đóng góp 7%, Nhật 7,3%, Pháp 5,2%, Canada 4,5% và Italy 2,7% Chỉ số trích dẫn đánh giá mức độ hiện diện và tầm quan trọng của các bài viết trong mắt đồng nghiệp của tác giả

1.4.3.3 Trung Quốc

Hoạt động đánh giá KH&CN của Trung Quốc gồm hai mặt tự đánh giá

và đánh giá độc lập Tự đánh giá và đánh giá độc lập là bộ phận hợp thành của hệ thống quản lý, mục đích chủ yếu là cung cấp thường xuyên các thông tin phản hồi cho việc ra quyết định

Từ năm 1994, Trung Quốc đã thành một tổ chức đánh giá độc lập - Trung tâm Quốc gia về Đánh giá KH&CN (National Center for S&T Evaluation - NCSTE) để tiến hành đánh giá các chính sách và chương trình KH&CN của quốc gia (Chen Zhao Ying, 1998)

Mục đích hoạt động của NCSTE là cung cấp những căn cứ khách quan,

vô tư cho các cơ quan chính phủ các doanh nghiệp và các tổ chức đầu tư khác

để có những quyết định tốt hơn, thúc đẩy đối thoại giữa chính phủ, các ngành sản xuất và các cơ quan hàn lâm Nhiệm vụ chính của NCSTE trong đánh giá

Trang 29

Hàn Quốc cũng có những quan điểm và tổ chức đánh giá KH&CN tương

tự với các nước phát triển khác, chủ yếu là học tập kinh nghiệm của Hoa Kỳ

và Cộng đồng Âu châu Theo Dal-Hwan Lee, PhD, nghiên cứu viên cao cấp của STEPI (Science and Technology Policy Institute), (xem Dal-Hwan Lee, 1994), những mục tiêu chính của đánh giá NC&TK ở Hàn Quốc là:

- Nâng cao năng suất của NC&TK bằng cách sử dụng các nguồn lực cho NC&TK theo đúng việc và hiệu quả hơn;

- Đánh giá chất lượng quản lý dự án;

- Đảm bảo các kết quả của dự án và đo được kết quả hoạt động của chúng;

- Cung cấp dữ liệu cơ bản để định hướng NC&TK trong tương lai và triển khai các hệ thống khuyến khích;

- Theo dõi việc sử dụng các kết quả của nghiên cứu trong tương lai lâu dài

Bảng 1.2: Phân loại các loại hình đánh giá NC&TK tại Hàn Quốc

giá

- Đánh giá ex-ante (tuyển chọn dự án)

- Đánh giá in-Process (kiềm tra tiến độ)

- Đánh giá ex-post (đánh giá kết quả thực hiện)

Trang 30

Người đánh giá - Tự đánh giá (Cán bộ phụ trách dự án)

- Đánh giá của người quản lý cấp cao (supervisor)

- Đánh giá của đồng nghiệp - peer group (bên trong và/hoặc bên ngoài)

- Đánh giá của Hội đồng

- Đánh giá của người sử dụng kết quả hoặc nhà tài trợ Loại dự án, các

Bảng 1.3: Các yếu tố đánh giá, trọng tâm đánh giá và các tiêu chí đánh

giá đối với NC&TK Hàn Quốc Chủ đề đánh giá Đầu vào Quá

- chất lượng nghiên cứu

lực nghiên cứu, kết quả nghiên cứu tích luỹ được, kỹ thuật quản lý, v.v…)

Mục đích đánh giá Sự thích

hợp của các

nguồn lực đầu vào

Sự thích hợp của

kế hoạch

& quản lý quá trình

Mức độ đạt được mục tiêu và những hiệu quả khác

(Nguồn: [14])

Ghi chú: X- ít chú trọng; XX- chú trọng vừa phải; XXX- rất chú trọng

Trang 31

1.4.3.5 Những gợi suy liên quan tới đánh giá chính sách KH&CN tại Việt Nam

Về mục tiêu đánh giá chính sách KH&CN của các nước

Hoạt động đánh giá chính sách KH&CN nhằm tới hai mục đích:

a) Là công cụ quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước về KH&CN,

nó giúp nhà nước xem xét lại những thành công và thất bại, những ưu điểm và khiếm khuyết của các biện pháp chính sách đã ban hành, tác động và hiệu quả của đầu tư cho KH&CN thông qua các chương trình nghiên cứu, các dự án KH&CN, cũng như các tổ chức NC&TK do nhà nước thành lập, để có những điều chỉnh nhất định trong tương lai trong quản lý KH&CN, trong đầu tư, v.v

b) Kết quả đánh giá KH&CN được công bố và phổ biến rộng rãi cho công chúng, đó là trong một thể chế dân chủ, để công chúng có đủ căn cứ phán quyết về hiệu quả hoạt động của chính phủ trong phát triển KH&CN, hiệu quả của đầu tư cho KH&CN bằng đồng tiền của công dân đóng góp qua thuế khoá và các hình thức đóng góp khác

Về phương thức tổ chức đánh giá

Tất cả các nước kể trên đều có tổ chức hoặc độc lập hoặc được hậu thuẫn bởi các quy định pháp lý để tổ chức việc đánh giá chính sách bởi nhà nước coi đây là việc làm cần thiết trong hoạch định chinh sách Tính chất “tham dự” của đánh giá khá cao: mọi tầng lớp xã hội đều được hỏi ý kiến đánh giá

Về phương pháp đánh giá

Phương pháp đánh giá rất đa dạng không thuần tuý định tính hoặc định lượng với sự tham gia của các chuyên gia trong từng lĩnh vực KH&CN và quản lý Quỹ chuyên gia phong phú (khi cần thiết có thể mời chuyên gia nước ngoài) Đây là bài học có giá trị đối với nước ta trong tương lai khi nhu cầu đánh giá chính sách tăng cao

Trang 32

CHƯƠNG 2 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KH&CN NÓI CHUNG VÀ NGHỊ ĐỊNH 35/HĐBT, NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH

TỰ CHỦ CỦA CÁC VIỆN NC&TK THUỘC VKH&CNVN

2.1 Tổ chức và hoạt động của VKH&CNVN

2.1.1 Tổng quan về VKH&CNVN

- Giới thiệu chung

VKH&CNVN là cơ quan thuộc Chính phủ; Tiền thân là Viện Khoa học Việt Nam được thành lập theo Nghị định 118/CP ngày 20/5/1975 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) Ngày 12 tháng 5 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 62/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của VKH&CNVN Viện là cơ quan sự nghiệp KH&CN hàng đầu của cả nước, có vị trí đầu tàu trong hệ thống KH&CN quốc gia, thực hiện các hoạt động NCCB về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ một cách toàn diện, trình độ cao VKH&CNVN luôn sẵn sàng tiềm lực khoa học công nghệ trình độ cao để đáp ứng các đòi hỏi xử lý các vấn đề phát sinh của tình hình thực tiễn Ngoài công tác nghiên cứu triển khai, viện còn thực hiện đào tạo nhân lực trình độ cao cho đất nước

- Chức năng, nhiệm vụ

VKH&CNVN có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ NCCB về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ theo các hướng trọng điểm của nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

và đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao cho đất nước theo quy định của pháp luật

1 Trình Chính phủ dự thảo nghị định quy định, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập mới, đổi tên, tổ chức lại, giải thể các tổ chức, đơn vị của Viện thuộc thẩm quyền của Thủ tướng

2 Về chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch và việc tổ chức thực

Trang 33

hiện:

a) Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, các chương trình, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, các dự án, đề án quan trọng của Viện; tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch sau khi được phê duyệt;

b) Tham gia xây dựng chiến lược phát triển khoa học tự nhiên và công nghệ; tham gia hoạch định chính sách phát triển khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường của đất nước;

c) Nghiên cứu tổng hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên và môi trường để cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng, ban hành chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các vùng và cả nước;

d) Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ theo các hướng trọng điểm của nhà nước Các hướng KHCN trọng điểm của Viện đã được Chính phủ phê duyệt gồm 9 hướng: Công nghệ thông tin và tự động hoá; Khoa học và công nghệ vật liệu; Nông nghiệp sinh thái và Công nghệ sinh học; Sinh thái và Tài nguyên sinh vật; Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; Các hợp chất có hoạt tính sinh học; Điện tử, cơ điện tử và Công nghệ vũ trụ; Biển và công trình biển; Công nghệ môi trường;

đ) Đề xuất và chủ trì thực hiện các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

e) Triển khai, ứng dụng và chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học

và công nghệ mới; tổ chức sản xuất, kinh doanh, tư vấn dịch vụ về các lĩnh vực chuyên môn vào thực tiễn sản xuất và đời sống, góp phần xây dựng, phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và theo quy định của pháp luật;

g) Thông tin, dự báo, cảnh báo động đất, sóng thần;

h) Thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kết quả nghiên cứu khoa

Trang 34

học và phát triển công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường khoa học, công nghệ;

i) Thẩm định hoặc tham gia thẩm định trình độ công nghệ, xét duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật các công trình trọng điểm, quan trọng của nhà nước

và của các địa phương theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và

đề nghị của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

k) Đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao; tổ chức đào tạo sau đại học về khoa học tự nhiên và công nghệ theo quy định của pháp luật; l) Quyết định các dự án đầu tư của Viện theo quy định của pháp luật

3 Về hợp tác quốc tế

a) Hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ theo quy định của pháp luật; b) Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các chương trình, dự án hợp tác quốc tế đã ký kết;

c) Tham gia các hội nghị, hội thảo, chương trình hợp tác quốc tế và quyết định tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế theo quy định của pháp luật; quản lý các hội nghị, hội thảo và kế hoạch hợp tác quốc tế của các đơn vị trực thuộc

4 Quyết định và chỉ đạo việc thực hiện chương trình cải cách hành chính theo mục tiêu, nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

5 Về biên chế, cán bộ, viên chức

a) Lập kế hoạch biên chế của Viện gửi Bộ Nội vụ tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quyết định phân bổ, quản lý chỉ tiêu biên chế sự nghiệp của các cơ quan, đơn vị trực thuộc; hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra đối với các đơn vị trực thuộc trong việc chấp hành quản lý biên chế;

b) Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp cụ thể để tăng cường

kỷ luật, kỷ cương hành chính trong cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền; phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền trong các hoạt động của Viện;

c) Kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật và nhiệm vụ được giao

Trang 35

đối với cán bộ, viên chức và người lao động thuộc thẩm quyền quản lý; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật

6 Về quản lý tài chính, tài sản

a) Xây dựng dự toán ngân sách hàng năm của viện trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước;

b) Quyết định phân bổ chỉ tiêu, kế hoạch; kiểm tra việc chi tiêu; chịu trách nhiệm quyết toán và có quyền điều chỉnh trong phạm vi tổng mức thu, chi tài chính được phê duyệt để thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng không được thay đổi mục tiêu, kế hoạch đã được duyệt;

c) Quản lý tài chính, tài sản; sử dụng có hiệu quả tài sản do Nhà nước giao và các nguồn tài sản khác; thực hiện công tác kế toán, thống kê theo quy định của pháp luật

7 Về quản lý doanh nghiệp nhà nước

a) Chỉ đạo việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của Viện theo quy định của Chính phủ; tổ chức triển khai sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

b) Thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của Viện theo quy định của pháp luật

8 Báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật

9 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và theo quy định của pháp luật

- Cấu trúc tổ chức

Tính đến ngày 15/7/2009, VKH&CNVN có 24 viện nghiên cứu; 3 đơn vị

sự nghiệp do chính phủ thành lập; 10 viện và trung tâm do VKH&CNVN thành lập; 9 doanh nghiệp nhà nước, trên 20 liên hiệp sản xuất và đơn vị 35 trực thuộc các viện chuyên ngành

Trang 36

Các đơn vị của viện đóng tập trung tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nha Trang, Đà Lạt, Huế Viện còn có hệ thống gần 50 đài, trạm quan trắc và cơ sở trạm trại thực nghiệm phân bố trên khắp các vùng lãnh thổ, ven biển, hải đảo (Quảng Ninh, Tam Đảo, Vùng núi phía Bắc, Quảng Bình, TP

Hồ Chí Minh, Bạc Liêu, v.v…) để khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, triển khai thực nghiệm về địa chất, địa từ, địa động lực, địa lý, môi trường, tài nguyên và thử nghiệm vật liệu

Lãnh đạo và quản lý: Lãnh đạo viện gồm Chủ tịch và hai Phó chủ tịch

Chủ tịch VKH&CNVN do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về toàn bộ hoạt động của VKH&CNVN

Các tổ chức giúp Chủ tịch viện thực hiện nhiệm vụ gồm:

hỗ trợ đắc lực cho công tác đào tạo sau đại học và TKCN không những trong viện mà còn ở nhiều cơ sở nghiên cứu và đào tạo trong khắp cả nước

Đội ngũ cán bộ khoa học của Viện gồm 2.464 cán bộ, viên chức, trong

đó có 217 giáo sư, phó giáo sư, 675 tiến sĩ, tiến sĩ khoa học và 610 thạc sĩ (Bảng 2.1) Ngoài ra còn có gần 1.200 cán bộ khoa học đang làm việc tại các đơn vị trực thuộc theo chế độ hợp đồng dài hạn

Trang 37

Nhìn chung, về cơ cấu tổ chức của Viện là khá ổn định, hoàn chỉnh và đồng bộ; lực lượng cán bộ có trình độ cao khá đông và đều trên hầu hết các lĩnh vực của khoa học tự nhiên Lực lượng cán bộ trình độ cao luôn là thế mạnh của viện trong thời gian qua (so với các đơn vị nghiên cứu và triển khai cũng như các trường đại học trong cả nước)

Trong những năm gần đây, Viện luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo cán bộ có trình độ cao (tiến sỹ, thạc sỹ) cho các đơn vị của mình cũng như phục vụ chung cho đất nước, hàng năm có hàng chục tiến sỹ mới bảo vệ và đào tạo hàng trăm thạc sỹ thuộc các chuyên môn khác nhau trong lĩnh vực khoa học tự nhiên Các đơn vị trong viện còn cử nhiều cán bộ trẻ của mình đi đào tạo tại nước ngoài nhằm bổ sung lực lượng cán bộ trình độ cao

Bảng 2.1: Nhân lực KH&CN của VKH&CNVN phân theo trình độ, giới

(Nguồn: Ban Tổ chức - Cán bộ, năm 2009)

2.1.2 Tổ chức và hoạt động của các nhóm viện thuộc VKH&CNVN

Để thực hiện phân loại các nhóm viện thuộc VKH&CNVN trước hết cần phân định rõ loại hình tổ chức KH&CN, việc phân loại này có thể căn cứ theo hoạt động Hoạt động KH&CN gồm 3 mảng lớn: Nghiên cứu triển khai; dịch

vụ KH&CN và chuyển giao công nghệ Hoạt động nghiên cứu triển khai lại được chia thành: NCCB; NCUD và TKCN (sơ đồ 2.1) Tuy nhiên ở Việt Nam khó phân biệt hoạt động NCUD và TKCN mà các tổ chức thường tiến hành cả hai hình thức này (vì NCUD vẫn chưa thể dùng được)

Trang 38

Sơ đồ 1: Sơ đồ phân loại các tổ chức KH&CN công lập theo hoạt động

- Tổ chức và hoạt động của nhóm viện ĐTCB

Giới thiệu chung

Các viện NC&TK trong nhóm viện ĐTCB là các viện cấp quốc gia, thực hiện ĐTCB các điều kiện tự nhiên trên lục địa cũng như đại dương nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý KH&CN và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đào tạo nhân lực có trình độ cao cho đất nước

Các viện ĐTCB thuộc VKH&CNVN bao gồm 8 viện: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật; Viện Địa lý; Viện Địa chất; Viện Vật lý địa cầu; Viện

Hoạt động khoa học công nghệ

Chuyển giao

công nghệ Hoạt động NC&TK

Dịch vụ Khoa học công nghệ

NCCB thuần

túy

NCCB định hướng

Nghiên cứu chuyên đề

Nghiên cứu nền tảng (ĐTCB)

Pilot Quy trình công nghệ Mẫu vật Sản xuất loạt nhỏ

Trang 39

Hải dương học; Viện Tài nguyên và Môi trường biển; Viện Địa chất và Địa vật lý biển; Viện Sinh học nhiệt đới

Hoạt động điều tra và nghiên cứu của các viện này luôn gắn chặt với nhau, hỗ trợ nhau để thúc đẩy phát triển, cho nên không thể tách rời công việc nghiên cứu và công việc điều tra Công tác điều tra cần có nghiên cứu để đưa được lý thuyết mới, phương pháp mới phục vụ điều tra, điều tra cung cấp số liệu cho nghiên cứu để phát triển công tác điều tra Các số liệu đo đạc trong quá trình điều tra mới ở dạng số liệu thô chưa đưa vào sử dụng cho các ngành kinh tế được mà cần có quá trình nghiên cứu sử lý các số liệu đó

Cấu trúc tổ chức

Các viện làm công tác ĐTCB đóng tập trung tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nha Trang, Đà Lạt Các viện này có hệ thống gần 50 đài, trạm quan trắc và cơ sở trạm trại thực nghiệm phân bố trên khắp các vùng lãnh thổ, ven biển, hải đảo (Quảng Ninh, Tam Đảo, vùng núi phía bắc, Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh, Bạc Liêu, …) để khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, triển khai thực nghiệm về địa chất, địa từ, địa động lực, địa lý, môi trường, tài nguyên

Cấu trúc tổ chức của các viện ĐTCB gồm:

- Ban lãnh đạo: Viện trưởng và các Phó viện trưởng

- Phòng Quản lý tổng hợp: Làm công tác văn phòng, tổ chức cán bộ, hợp tác quốc tế và các công việc phục vụ nghiên cứu và ĐTCB của viện

Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của các viện ĐTCB khá ổn định, hoàn chỉnh và đồng bộ; lực lượng cán bộ có trình độ cao khá đông và đều trên hầu

Trang 40

hết các lĩnh vực về ĐTCB

Trong những năm gần đây, các viện ĐTCB luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo cán bộ có trình độ cao (tiến sỹ, thạc sỹ) cho các đơn vị của mình cũng như phục vụ chung cho đất nước Các viện này còn cử nhiều cán bộ trẻ của mình đi đào tạo tại nước ngoài nhằm bổ sung lực lượng cán bộ trình độ cao

Bảng 2.2: Nhân lực của các viện ĐTCB phân theo trình độ

Tên viện

Số biên chế

Số hợp đồng

Giáo

sƣ Giáo Phó

Tiến sĩ khoa học

Viện Tài nguyên và Môi

(Nguồn: Ban Tổ chức - Cán bộ, năm 2009)

- Tổ chức và hoạt động của nhóm viện NCCB

Giới thiệu chung

Các viện NC&TK trong nhóm viện NCCB là các viện cấp quốc gia, thực hiện chức năng NCCB về khoa học tự nhiên theo các hướng trọng điểm của nhà nước và đào tạo nhân lực khoa học tự nhiên có trình độ cao cho viện và cho đất nước Các viện trong nhóm này làm công tác NCCB, định hướng cho việc lựa chọn và tiếp thu công nghệ, tiến tới sáng tạo công nghệ

Các viện NCCB thuộc VKH&CNVN bao gồm 6 viện: Viện Toán học; Viện Vật lý; Viện Hoá học; Viện Cơ học; Viện Khoa học vật liệu; Viện Cơ học và Tin học ứng dụng Những viện này được thành lập từ những ngày đầu, khi Viện khoa học Việt Nam ra đời theo Nghị định 118/CP của Chính phủ

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Phan Xuân Dũng, Hồ Thị Mỹ Duệ (2006), Đổi mới quản lý và hoạt động các tổ chức Khoa học và Công nghệ theo cơ chế doanh nghiệp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý và hoạt động các tổ chức Khoa học và Công nghệ theo cơ chế doanh nghiệp
Tác giả: Phan Xuân Dũng, Hồ Thị Mỹ Duệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
10. Vũ Cao Đàm, Trịnh Ngọc Thạch (2002), Giáo trình lý luận đại cương về Khoa học và công nghệ, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận đại cương về Khoa học và công nghệ
Tác giả: Vũ Cao Đàm, Trịnh Ngọc Thạch
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
11. Vũ Cao Đàm (2009), Giáo trình Khoa học chính sách, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khoa học chính sách
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
12. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình đã công bố, tập III Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các công trình đã công bố, tập III
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2009
13. Trần Chí Đức (2003), Phương pháp luận đánh giá các tổ chức nghiên cứu và phát triển và những gợi suy trong điều kiện của Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận đánh giá các tổ chức nghiên cứu và phát triển và những gợi suy trong điều kiện của Việt Nam
Tác giả: Trần Chí Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2003
14. Nguyễn Hồng Hà - Nguyễn Văn Học (2008), Đề tài: “Nghiên cứu phương pháp và quy trình đánh giá chính sách khoa học và công nghệ, nghiên cứu trường hợp Nghị định 35 – HĐBT và Quyết định 782/TTg’’, Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài: “Nghiên cứu phương pháp và quy trình đánh giá chính sách khoa học và công nghệ, nghiên cứu trường hợp Nghị định 35 – HĐBT và Quyết định 782/TTg’’
Tác giả: Nguyễn Hồng Hà - Nguyễn Văn Học
Năm: 2008
18. Luật Khoa học và Công nghệ (2003), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và Công nghệ (2003)
Tác giả: Luật Khoa học và Công nghệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
19. Hoàng Xuân Long, Phan Thu Hà (2005), Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và phát triển Nhà nước, Tổng luận Khoa học – Công nghệ - Kinh tế, số 1- 2005 (203), Bộ Khoa học và Công nghệ, Trung tâm Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và phát triển Nhà nước
Tác giả: Hoàng Xuân Long, Phan Thu Hà
Năm: 2005
21. Bạch Tân Sinh (2003), Đề tài: “Đánh giá mô hình chuyển đổi của tổ chức nghiên cứu và phát triển”, Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Chiến lược Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài: “Đánh giá mô hình chuyển đổi của tổ chức nghiên cứu và phát triển”
Tác giả: Bạch Tân Sinh
Năm: 2003
25. Phạm Ngọc Thanh, Nguyễn Thị Thu Hà (2010): Phát triển đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Tạp chí Lý luận và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: Phạm Ngọc Thanh, Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2010
26. Phạm Ngọc Thanh (2010): Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế trí thức. Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế tại Trường ĐHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế trí thức
Tác giả: Phạm Ngọc Thanh
Năm: 2010
27. Phạm Huy Tiến (2006): Bàn về thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Tạp chí Hoạt động Khoa học số tháng 12.2006, trang 28-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP
Tác giả: Phạm Huy Tiến
Năm: 2006
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2006): Quyết định 08/2006/QĐ-BKHCN về việc ban hành quy định về Tiêu chí xác định tổ chức khoa học và công nghệ NCCB, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước Khác
2. Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ (2006): Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập Khác
3. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Nghị định số 10/2002/ NĐ-CP về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu Khác
4. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nghị định số 116/2003/ NĐ-CP về quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước Khác
5. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị định số 115/2005/ NĐ-CP về quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Khác
6. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Nghị định số 24/CP về việc thành lập trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia Khác
7. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Nghị định số 43/2006/NĐ-CP về quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Khác
8. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Nghị định số 80/2007/ NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các cấp và nội dung đánh giá KH&CN ở Đức  Cấp đánh giá  Nội dung đánh giá và cơ quan đảm nhiệm đánh giá - Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Bảng 1.1 Các cấp và nội dung đánh giá KH&CN ở Đức Cấp đánh giá Nội dung đánh giá và cơ quan đảm nhiệm đánh giá (Trang 27)
Bảng 1.3: Các yếu tố đánh giá, trọng tâm đánh giá và các tiêu chí đánh  giá đối với NC&TK Hàn Quốc - Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Bảng 1.3 Các yếu tố đánh giá, trọng tâm đánh giá và các tiêu chí đánh giá đối với NC&TK Hàn Quốc (Trang 30)
Sơ đồ 1: Sơ đồ phân loại các tổ chức KH&CN công lập theo hoạt động   KH&CN - Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Sơ đồ 1 Sơ đồ phân loại các tổ chức KH&CN công lập theo hoạt động KH&CN (Trang 38)
Bảng 2.3: Nhân lực của các viện NCCB phân theo trình độ - Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Bảng 2.3 Nhân lực của các viện NCCB phân theo trình độ (Trang 41)
Bảng 2.4: Nhân lực của các viện TKCN phân theo trình độ - Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Bảng 2.4 Nhân lực của các viện TKCN phân theo trình độ (Trang 43)
Bảng 2.6: Các đơn vị 35 thuộc VKH&CNVN - Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Bảng 2.6 Các đơn vị 35 thuộc VKH&CNVN (Trang 54)
Bảng 2.7: Các đơn vị 35 của VKH&CNVN còn hoạt động cho đến nay - Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Bảng 2.7 Các đơn vị 35 của VKH&CNVN còn hoạt động cho đến nay (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w