Cùng với việc ban hành các chính sách KH&CN để tạo đà thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước cũng đầu tư một khoản kinh phí không nhỏ cho nghiên cứu và triển khai, trong đó có
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
-*** -
NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
Tác Động của chính sách khoa học và công nghệ đến hiệu quả quản lý
tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước
(nghiên cứu trường hợp Đại Học bách khoa hà nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ 60.34.72 Khóa 2005 – 2008
Hà Nội, 2009
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 9
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 10
9 Kết cấu của Luận văn 11
CHƯƠNG 1 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 12
1.1 Đại cương về chính sách 12
1.1.1 Khái niệm chính sách 12
1.1.2 Phân loại chính sách theo chủ thể ban hành 15
1.1.3 Phân loại theo mục tiêu tác động của chính sách 16
1.1.4 Phân loại theo tầm hạn của chính sách 17
1.1.5 Phân loại theo thời hạn 18
1.2 Chính sách khoa học và công nghệ 19
1.2.1 Khái luận về chính sách KH&CN 19
1.2.2 Một số văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN 21
1.3 Tài sản trí tuệ 25
1.3.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ 25
1.3.2 Tác giả tài sản trí tuệ 27
1.3.3 Chủ sở hữu tài sản trí tuệ 28
1.3.4 Tác giả và chủ sở hữu tài sản trí tuệ được tạo ra từ nguồn kinh phí nhà nước 29
1.4 Chính sách KH&CN để quản lý tài sản trí tuệ trong hệ thống giáo dục và đào tạo 33
1.4.1 Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo 33
1.4.2 Quy định của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 34
1.5 Hiệu quả quản lý tài sản trí tuệ 35
1.5.1 Hiệu quả thông tin và hiệu quả khoa học 36
1.5.2 Hiệu quả đào tạo 36
1.5.3 Hiệu quả kỹ thuật 36
1.5.4 Hiệu quả kinh tế 37
CHƯƠNG 2 40
THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ TÀI SẢN TRÍ TUỆ 40
ĐƯỢC TẠO RA TỪ NGUỒN KINH PHÍ NHÀ NƯỚC 40
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 40 2.1 Chính sách đầu tư cho hoạt động KH&CN của Trường Đại học Bách Khoa Hà
Trang 32.1.1 Khái quát về lịch sử phát triển của Trường ĐHBKHN 40
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Trường ĐHBKHN 43
2.1.3 Nhân lực KH&CN chủ yếu của Nhà trường: đội ngũ cán bộ, giảng viên 46 2.1.4 Nhân lực KH&CN của Nhà trường là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh 48
2.1.5 Trang thiết bị phục vụ hoạt động KH&CN 50
2.1.6 Kinh phí đầu tư cho hoạt động KH&CN 53
2.2 Chính sách KH&CN đối với hiệu quả quản lý TSTT được tạo ra bằng nguồn ngân sách nhà nước 54
2.2.1 Quy trình xét duyệt đề tài NCKH được tạo ra bằng NSNN 54
2.2.2 Khái quát hoạt động quản lý TSTT được tạo ra từ kinh phí nhà nước 59
2.2.3 Hiệu quả quản lý giáo trình, bài giảng 64
2.2.4 Hiệu quả quản lý công trình nghiên cứu khoa học 69
2.2.5 Hiệu quả quản lý chuyển giao công nghệ 80
CHƯƠNG 3 86
CÁC GIẢI PHÁP THÔNG QUA CHÍNH SÁCH KH&CN 86
ĐỂ QUẢN LÝ TÀI SẢN TRÍ TUỆ ĐƯỢC TẠO RA 86
TỪ NGUỒN KINH PHÍ NHÀ NƯỚC 86
3.1 Chính sách quy định việc xác định quyền của tác giả và quyền của chủ sở hữu kết quả nghiên cứu 86
3.1.1 Quản lý TSTT thông qua việc xác định quyền của tác giả kết quả nghiên cứu 86
3.1.2 Quản lý TSTT thông qua việc xác định quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu kết quả nghiên cứu 91
3.2.3 Giải quyết mối quan hệ về lợi nhuận giữa tác giả và chủ sở hữu kết quả nghiên cứu 93
3.2 Chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu 95
3.2.1 Tình trạng làm chậm việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu 95
3.2.2 Đăng ký bảo hộ quyền SHTT đối với kết quả nghiên cứu 97
3.2.3 Giải pháp cho việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu 98
3.3 Chính sách đảm bảo hiệu quả quản lý TSTT 100
3.3.1 Đảm bảo quyền nhân thân và quyền tài sản đối với kết quả nghiên cứu100 3.3.2 Những đề xuất khác liên quan đến chính sách về SHTT 104
3.3.3 Thành lập cơ quan chuyên quản lý TSTT trong các trường đại học 106
KẾT LUẬN 109
KHUYẾN NGHỊ 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN khoa học và công nghệ NCKH nghiên cứu khoa học SHTT sở hữu trí tuệ
Trường ĐHBK Trường Đại học Bách khoa Hà Nội TSTT tài sản trí tuệ
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh kết cấu giá trị của các sản phẩm và dịch vụ truyền thống đang ngày càng chuyển biến mạnh mẽ theo hướng tăng hàm lượng trí tuệ so với hàm lượng tài nguyên và lao động giản đơn, nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới chuyển dần thành nền kinh tế dựa trên tri thức, vai trò của tài sản trí tuệ cũng ngày càng được thừa nhận như một công cụ quan trọng thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đầu tư, sản xuất và thương mại trên bình diện quốc gia cũng như trong quan hệ quốc tế SHTT được coi là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là thước đo đánh giá tiềm lực và năng lực phát triển KH&CN - yếu tố then chốt quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Trong những năm qua, Nhà nước đã thực hiện chính sách ưu tiên đầu tư phát triển KH&CN, trong đó có lĩnh vực SHTT Hiến pháp 1992 đã chỉ rõ:
“Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”
Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010 (ban hành kèm
theo Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ngày 31.12.2003 của Thủ tướng Chính phủ) cũng khẳng định việc bảo đảm tốc độ tăng tỷ lệ đầu tư cho khoa học và công nghệ từ ngân sách nhà nước phải lớn hơn tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước, đồng thời phải xây dựng và phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX về khoa học và công nghệ
(ban hành theo Quyết định số 188/2002/QĐ-TTg ngày 31.12.2002 của Thủ tướng Chính phủ) cũng khẳng định nhiệm vụ hoàn thiện và xây dựng mới các
Trang 6cơ chế, chính sách để hỗ trợ và thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ; hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ
Nhà nước có vai trò to lớn trong công cuộc phát triển hệ thống sở hữu trí tuệ phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thông qua việc thiết lập một hệ thống sở hữu trí tuệ phù hợp với điều kiện thực tiễn nội tại của nước ta đồng thời phù hợp với đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế
Cùng với việc ban hành các chính sách KH&CN để tạo đà thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước cũng đầu tư một khoản kinh phí không nhỏ cho nghiên cứu và triển khai, trong đó có đầu tư kinh phí nghiên cứu cho các trường đại học và cao đẳng, chỉ tính riêng trong giai đoạn 2001-2006, Nhà nước đã đầu tư 1.212 tỷ đồng dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ của các trường đại học và cao đẳng, đặc biệt, những năm qua, các trường đại học đã ký hợp đồng và chuyển giao công nghệ với các doanh nghiệp địa phương và cơ sở sản xuất với tổng doanh thu lên tới hơn 577
tỷ đồng.1
Những thành tựu vừa nêu là đáng khích lệ, nhưng bên cạnh đó chính sách KH&CN đã bộc lộ nhiều bất cập, có thể điểm qua, ví dụ vốn cho KH&CN dùng không hết, phải trả lại do cơ chế quản lý tài chính, Báo cáo quyết toán ngân sách năm 2006 trình Quốc hội cho thấy chỉ giải ngân được hơn 80% kinh phí ngân sách dành cho KH&CN Một số quy định về tài chính hiện nay rất khuôn cứng, mang nặng tính quan liêu, bao cấp, muốn thay đổi các nội dung trong dự toán kinh phí nghiên cứu cho phù hợp phải làm thủ tục qua nhiều cấp, rất phức tạp
Những bất cập trên đã ảnh hưởng tới việc quản lý tài sản trí tuệ được tạo
ra bằng nguồn kinh phí nhà nước Do đó việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá sự tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hiệu quả quản lý tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước là cần thiết
1
Báo cáo tại Hội nghị Chuyên đề về Hợp tác quốc tế và Nghiên cứu khoa học trong các trường đại học và cao
Trang 7Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn Tác động của chính sách
khoa học và công nghệ đến hiệu quả quản lý tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước (Nghiên cứu trường hợp Đại học Bách khoa Hà Nội)
làm đề tài Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý KH&CN của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc quản lý TSTT được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước đã được nhiều nhà khoa học và quản lý quan tâm
Tại Hội nghị tổng kết các chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2001 – 2005 do Bộ KH&CN chủ trì tháng 12.2006, các nhà quản lý khẳng định bước đầu công khai, bình đẳng trong hoạt động KH&CN, điểm nổi bật của công tác quản lý các chương trình giai đoạn này là hệ thống văn bản quản lý được đổi mới và hoàn thiện một cách đồng bộ, rõ ràng, thống nhất từ khâu xác định nhiệm vụ (đầu vào) đến khâu đánh giá kết quả (đầu ra) Phương thức về xác định nhiệm vụ và tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN đã được công khai, dân chủ, bình đẳng, bước đầu tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và phát huy được tiềm năng sáng tạo trong hoạt động KH&CN Hầu hết các đề tài, dự án đều nhằm giải quyết mục tiêu rõ ràng, tạo được sản phẩm cụ thể và dự kiến địa chỉ áp dụng ngay từ khi xác định đầu vào, đã gắn nhiều hơn với nhu cầu sản xuất và đời sống, khắc phục dần tình trạng ghép cơ học nhiều nội dung không có sự liên kết trong một đề tài
Tại Hội nghị Chuyên đề về Hợp tác quốc tế và Nghiên cứu khoa học trong các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2001-2006 và định hướng giai đoạn 2007-2015 tổ chức ngày 08.6.2007 tại Hà Nội, các nhà quản lý, các nhà khoa học đã chỉ ra những bất cập trong công tác quản lý tài sản trí tuệ do kinh phí nhà nước đầu tư
Trang 8Tại hội nghị khoa học cán bộ, giảng viên trẻ các trường đại học khối kinh tế toàn quốc 2008 do Đại học Kinh tế quốc dân tổ chức ngày 20.3.2008,
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Văn Nhưng khẳng định: “Nghiên
cứu khoa học trong trường đại học còn yếu” Các nhà khoa học cũng chỉ ra
các bất cập của công tác quản lý nghiên cứu khoa học, trong đó có việc quản lý kết quả nghiên cứu do ngân sách nhà nước đầu tư
Việc quản lý tài sản trí tuệ trong các trường đại học là một chủ đề
“nóng” khi mà Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngày 20.11.2007 Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp I ký
Quyết định ban hành Quy định về quản lý SHTT Mới đây, ngày 02.01.2009
Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó nêu rõ trách nhiệm của Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học là phải chỉ đạo xây dựng chiến lược về sở hữu trí tuệ và kế hoạch hoạt động sở hữu trí tuệ của cơ sở giáo dục đại học, tổ chức bộ phận chuyên trách quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ, quy định cụ thể việc thực hiên h oạt động sở hữu trí tuệ trong cơ sở giáo dục đại học, chỉ đạo các bộ phận liên quan trong cơ sở giáo dục đại học thực hiện và phối hợp với bộ phận chuyên trách thực hiện kế hoạch hoạt động sở hữu trí tuệ của cơ sở giáo dục đại học…
Trong các nghiên cứu cá nhân về việc quản lý tài sản trí tuệ trong các trường đại học, phải kể đến nghiên cứu của TS Phan Quốc Nguyên (Trường
Đại học Bách khoa Hà Nội) với bài Tăng cường chuyển giao công nghệ và
thương mại hóa công nghệ từ trường đại học Trong nghiên cứu của mình, tác
giả đi từ kinh nghiệm thực tiễn của các nước phát triển như Đại học Công nghệ Zurich (Thuỵ Sĩ) trong việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học Đại học Leeds (Vương quốc Anh) đã đầu tư tới 20 triệu bảng Anh nhằm hỗ trợ việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu… Quan điểm của tác giả có thể tóm tắt là chỉ có thể quản lý tốt tài sản trí tuệ với tư cách là các kết quả nghiên cứu ứng dụng trong các trường đại học bằng cách
Trang 9Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý KH&CN của tác giả
Trần Văn Dũng với đề tài Điều kiện hình thành doanh nghiệp Spin-off trong
các trường đại học ở Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng có quan điểm tương tự, nghĩa là để
quản lý tốt tài sản trí tuệ là kết quả nghiên cứu ứng dụng trong các trường đại học thì nên hình thành được doanh nghiệp spin-off trong các trường đại học với 3 yếu tố cần có, đó là: công nghệ có bản quyền, đội ngũ nhà khoa học có tinh thần kinh thương và được đầu tư về vốn Bỏ qua việc sử dụng thuật ngữ
“bản quyền công nghệ” có nhiều điểm phải bàn lại, thì đây là một công trình khoa học công phu bàn về việc quản lý tài sản trí tuệ là kết quả nghiên cứu ứng dụng trong các trường đại học
Tiếp cận ở một góc độ khác, quản lý TSTT trong các trường đại học, nhưng được tạo ra bởi các nguồn kinh phí khác nhau, GS Naohiko Neshima có
một nghiên cứu Bảo hộ quyền SHTT trong các trường đại học (kinh nghiệm
của Nhật Bản) được trình bày tại Hội thảo về Bảo hộ quyền SHTT trong các trường đại học và trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội ngày
19.11.2008 do JPO và NOIP phối hợp đồng tổ chức, trong nghiên cứu của mình GS Naohiko Neshima đưa ra mô hình về phân chia lợi nhuận giữa tác giả
và chủ sở hữu kết quả nghiên cứu, đặc biệt thuật ngữ sáng chế công vụ
(Employee Invention) được tác giả đề cập dùng để chỉ các sáng chế được tạo
ra do tác giả - là người lao động - sử dụng trang thiết bị kỹ thuật của chủ sở hữu kết quả nghiên cứu – đồng thời là người sử dung lao động
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu của các tác giả vừa điểm mới chỉ nêu lên việc quản lý TSTT với tư cách là kết quả của các nghiên cứu ứng dụng, còn không thấy đề cập đến việc quản lý TSTT nói chung, trong đó có việc quản lý TSTT là kết quả của các nghiên cứu cơ bản Xét về mặt lý luận của khoa học về SHTT thì hai loại TSTT trên rất khác nhau, chúng được bảo hộ theo các cơ chế khác nhau của quyền SHTT
Trang 10Đề cập đến việc quản lý TSTT là kết quả của nghiên cứu cơ bản và
nghiên cứu ứng dụng, tác giả Trần Văn Hải trong nghiên cứu Xác định chủ sở
hữu của kết quả nghiên cứu đăng trên Tạp chí Hoạt động khoa học số tháng
2.2009 đề cập đến việc quản lý TSTT được tạo ra bằng các nguồn kinh phí khác nhau qua cách phân chia lợi nhuận giữa chủ sở hữu và tác giả, đồng thời cũng đề cập đến việc bảo hộ kết quả nghiên cứu cơ bản được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả, kết quả nghiên cứu ứng dụng có thể được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả, theo sáng chế và cũng có thể bảo hộ theo bí mật kinh doanh
Khác với các nghiên cứu đã điểm, Luận văn này đề cập đến việc quản lý TSTT là kết quả của các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng do kinh phí nhà nước đầu tư
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cấp 1: Đề xuất các giải pháp để làm cho việc quản lý TSTT
được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước có hiệu quả
Mục tiêu cấp 2: Đánh giá tác động của chính sách KH&CN đến hiệu
quả quản lý TSTT được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước
Mục tiêu cấp 3: Nhận diện các điểm chưa hợp lý trong các chính sách
KH&CN tác động không tích cực đến việc quản lý TSTT được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước, phân tích các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng này và đề xuất giải pháp khắc phục chúng
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: 2002-2006
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ 01.2008 đến 10.2008
5 Mẫu khảo sát
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Trang 116 Câu hỏi nghiên cứu
Cần phải có những giải pháp gì để quản lý có hiệu quả tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Luận văn nhằm kiểm chứng các giả thuyết sau đây:
- Chính sách KH&CN có tác động đến hiệu quả quản lý tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước;
- Việc cân bằng lợi ích giữa tác giả và chủ sở hữu kết quả nghiên cứu có tác động tích cực đến việc tạo ra nhiều TSTT có chất lượng;
- Thương mại hóa các kết quả nghiên cứu có tác động tích cực đến việc tạo ra nhiều TSTT có chất lượng;
- Cần chỉnh sửa những điểm bất cập trong chính sách KH&CN để có thể quản lý có hiệu quả TSTT
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
- Phương pháp phân tích tài liệu: Luận văn đã phân tích và tổng kết các
tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu do Phòng KH&CN Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cung cấp;
- Phương pháp quan sát: khảo sát và tham dự với tư cách là tác giả và
đại diện chủ sở hữu kết quả nghiên cứu;
- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn một số nhà quản lý thuộc Cục
SHTT, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và các cơ quan khác; phỏng vấn một số giảng viên, chuyên viên là tác giả các công trình nghiên cứu thuộc Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khác Kết quả phỏng vấn được phân tích và tổng hợp để đưa vào trong Luận văn
- Các phương pháp xử lý thông tin định tính và định lượng
Trang 129 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và các biểu số liệu, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận của Luận văn
- Chương 2 Thực trạng việc quản lý tài sản trí tuệ được tạo ra từ nguồn kinh phí nhà nước tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
- Chương 3 Các giải pháp thông qua chính sách KH&CN để quản lý tài sản trí tuệ được tạo ra từ nguồn kinh phí nhà nước
Trang 13Khái niệm chính sách đƣợc xem xét từ các cách tiếp cận: tiếp cận chính trị học, tiếp cận xã hội học, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận
lý thuyết trò chơi, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp
Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, đƣợc thể chể hoá thành những quy định có giá trị pháp
2
Trong mục này, tác giả Luận văn sử dụng lý thuyết Khoa học chính sách của Vũ Cao Đàm, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2008
Trang 14lý, nhằm thực hiện chiến lƣợc phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi
- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ƣu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó
- Các biện pháp ƣu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm đƣợc ƣu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lƣợc mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra
- Và nhƣ vậy, chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhƣng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thƣợng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển xã hội
- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý
Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, trong các bài giảng về khoa học quản lý và khoa học chính sách, tác giả Vũ Cao Đàm đã đƣa ra định
nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ
thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm
xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.”
Khái niệm “Hệ thống xã hội” ở đây đƣợc hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp,
Trang 15Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu như sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, thông tư, chỉ thị của chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, v.v…)
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, v.v… Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia, v.v…
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:
- Cho ra đời một chính sách chính là chuẩn bị giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng, không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối họa tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp theo
Trang 16- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Và như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống , từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối Ổn định, có nghĩa là không còn sự phát triển
- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp ý đồ của chủ thể chính sách
1.1.2 Phân loại chính sách theo chủ thể ban hành
Chủ thể nào cũng cần và có thể dưa ra những chính sách phục vụ cho mục tiêu tồn tại và phát triển của mình Chủ thể ở đây có thể được hiểu là một nhà nước, một tỉnh/thành phố, một doanh nghiệp, một nhà trường, một tổ chức
xã hội, v.v…
- Chính sách của một quốc gia: Từ khi hình thành quốc gia, nhu cầu
phát triển của quốc gia luôn được thể hiện thông qua những chính sách: chính sách đối nội, chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế, chính sách xã hội, v.v…
- Chính sách của một doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp là một ct quyết
định chính sách phục vụ mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp: chính sách đầu tư, chính sách phát triển sản phẩm, chính sách công nghệ, chính sách R&D, chính sách thị trường, chính sách khách hàng, chính sách hậu mãi, chính sách cạnh tranh, v.v… Chính sách của doanh nghiệp có thể đẩy nhanh nhịp điệu phát triển của doanh nghiệp, song cũng có thể dẫn doanh nghiệp đến thua
lỗ, thậm chí phá sản
- Chính sách của một chính đảng: Bất kể trong thể chế chính trị một
đảng hay thể chế chính trị đa đảng, mỗi đảng chính trị đều cần đề ra chính
Trang 17định tới sự thành bại của một chính đảng, thậm chí của quốc gia, khi đảng trở thành đảng cầm quyền
1.1.3 Phân loại theo mục tiêu tác động của chính sách
Dù thuộc chủ thể nào, mỗi chính sách đều nhằm vào một hoặc một số mục tiêu Chọn mục tiêu nào là tuỳ yêu cầu của mỗi giai đoạn phát triển của hệ thống xã hội
- Chính sách đối ngoại của quốc gia
Không một quốc gia nào trong thế giới ngày nay có thể tồn tại một cách
cô lập với thế giới Chính đó là lý do đồi hỏi các quốc gia phải có một chính sách đối xử với các quốc gia khác nhau trong khuôn khổ một chính sách đối ngoại nhất định, trong đó xác định những đồng minh, những liên minh, những đối tác và những đối thủ phải canh chừng Tất nhiên chính sách phải thường xuyên điều chỉnh, bởi vì không có kẻ thù vĩnh viễn, cũng như không có đồng minh trong mọi quan hệ
- Chính sách xoá đói giảm nghèo
Chính sách xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao mức sống tối thiểu của dân chúng vượt trên ngưỡng đói nghèo của thế giới Chính sách này được thực hiện có thể bằng cách dạy nghề và tạo việc làm cho người dân, hỗ trợ người dân tìm kiếm việc làm, bao gồm cả chính sách xuất khẩu lao động ra nước ngoài
Tuy nhiên chính sách xoá đói giảm nghèo cũng có thể có biện pháp khuyến khích các nhà kinh doanh đầu tư vào khu vực được xem là đói nghèo của đất nước, tạo việc làm cho dân nghèo, nâng cao đời sống của họ
Trong chính sách này, tuy nhắm vào mục tiêu “xoá đói, giảm nghèo”, nhưng đối tượng tác động không chỉ có dân nghèo, mà có cả dân giầu, gồm các nhà kinh doanh
- Chính sách công nghiệp hoá
Trang 18Chính sách công nghiệp hoá nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng nền sản xuất công nghiệp của đất nước, trong đó xác định những công nghiệp
ưu tiên đi tiên phong, những công nghiệp nào cần thải loại, biện pháp để các
ngành công nghiệp tạo ra được những sản phẩm đủ sức chiến thắng trong cạnh
tranh trên thị trường
Tuy nhiên, nói chính sách công nghiệp là nói đến một chính sách công
cụ của sản phẩm Vấn đề chính không phải là công nghiệp, mà là sản phẩm có
sức cạnh tranh trên thị trường
- Chính sách khoa học và công nghệ
Chính sách phát triển khoa học và công nghệ của một đất nước, một địa
phương, hoặc một hãng, trong đó có những lĩnh vực nghiên cứu và những
công nghệ được ưu tiên phát triển
1.1.4 Phân loại theo tầm hạn của chính sách
Mỗi tầm hạn quản lý có một hệ chính sách tương ứng
Theo tầm hạn quản lý, có thể phân loại chính sách thành chính sách vĩ
mô hoặc vi mô Vĩ mô hoặc vi mô ở đây là một khái niệm gắn với các hệ
thống cụ thể
Theo định nghĩa thông thường, chính sách vĩ mô (chẳng hạn, chính sách
thuế) có tác động chi phối chính sách vi mô (chính sách sản xuất, kinh doanh
của doanh nghiệp) Tuy nhiên, cũng có trường hợp không có ảnh hưởng gì
- Chính sách vĩ mô
Đây là chính sách ở tầm hệ thống lớn, chẳng hạn, chính sách của quốc
gia Chính sách vĩ mô có tác dụng tới toàn hệ thống Ví dụ chính sách thuế,
chính sách lương
Thật ra, khái niệm “vĩ mô” và “vi mô” mang ý nghĩa hết sức tương đối
Rất có thể, ta coi chính sách quốc gia là vĩ mô, chính sách của đơn vị cơ sở là
Trang 19thị trường toàn cầu của Công ty Ford (mẹ) được xem là vĩ mô, còn chính sách của Công ty Ford (con) ở Việt Nam là chính sách vi mô; trong một tỉnh, có thể xem cấp tỉnh là vĩ mô, cấp cơ sở là vi mô
- Chính sách vi mô
Đây là chính sách của các đơn vị cơ sở Chẳng hạn, các doanh nghiệp đưa
ra chính sách khuyến mại; một doanh nghiệp khác đưa ra chính sách không khuyến mại mà đề cao chất lượng với khẩu hiệu “Chúng tôi không khuyến mại, Chúng tôi chỉ chất lượng”
Các chính sách vi mô luôn phải đặt trong khuôn khổ của chính sách vĩ
mô Ví dụ, chính sách trả lương của doanh nghiệp (vi mô) phải dựa trên chính sách tiền lương của Nhà nước (vĩ mô)
Tuy nhiên, chính sách vi mô cũng có tính độc lập tương đối so với chính sách vĩ mô Ví dụ, trong khi Nhà nước chưa có quy định gì về việc một doanh nghiệp có thể lựa chọn trước những sinh viên giỏi để đào tạo cho doanh nghiệp mình, thì một số doanh nghiệp đã làm công việc đó với các trường đại học
1.1.5 Phân loại theo thời hạn
Có thể phân loại chính sách theo thời hạn hiệu lực của chính sách, trong
đó, có chính sách dài hạn, chính sách ngắn hạn, chính sách trung hạn và chính sách nhất thời, rất ngắn hạn để ứng phó với một tình huống đột xuất nào đó
Thật ra, khái niệm dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn cũng mang ý nghĩa hết sức tương đối, không có một ranh giới quá chặt chẽ
- Chính sách dài hạn
Chính sách dài hạn là chính sách có hiệu lực trong một giai đoạn dài, chẳng hạn, từ 10 năm trở lên Chính sách dài hạn đảm bảo cho việc thực hiện chiến lược dài hạn của hệ thống
- Chính sách ngắn hạn
Trang 20Chính sách ngắn hạn chỉ giới hạn trong một khoảng thời gian đủ thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, thường trong khoảng 5 năm
- Chính sách trung hạn
Chính sách trung hạn có thời hạn hiệu lực giữa chính sách dài hạn và chính sách ngắn hạn, là chính sách tạo bước đệm giữa việc thực hiện các mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn
- Chính sách nhất thời
Đó là chính sách cho những tình huống phát sinh nhất thời Chẳng hạn, công nhân đình công Một mặt phải xem lại những chính sách dài hạn đối với công nhân, nhưng nhất thời phải có chính sách ứng phó để làm dịu cơn sốt đình công của công nhân Nông dân khiếu kiện đông người trước các cơ quan công quyền đòi quyền lợi được đền bù thoả đáng đất đai, Nhà nước cũng cần
đề ra chính sách nhất thời trước khi đưa ra một chính sách dài hạn để giải quyết đúng đắn việc đền bù đất đai cho nông dân
1.2 Chính sách khoa học và công nghệ
1.2.1 Khái luận về chính sách KH&CN
Chính sách KH&CN không tồn tại một cách chung chung, trước hết nó được thể hiện tại một số nguồn chính sách do các cấp khác nhau ban hành:
- Nghị quyết Đảng, Nghị quyết, ý kiến kết luận của Bộ Chính trị đưa ra định hướng chính sách phát triển KH&CN Để thực hiện các định hướng này cần phải nghiên cứu và ban hành hàng loạt các chính sách cụ thể có liên quan như chính sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, chính sách chuyển giao công nghệ, chính sách đối với sở hữu trí tuệ… Đây là một đặc thù cần phải nhắc đến đối với thực tiễn ở Việt Nam
- Hiến pháp năm 1992 đã chỉ rõ tại điều 37: “Phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu KH&CN giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát
Trang 21triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách KH&CN quốc gia; xây dựng nền KH&CN tiên tiến; phát triển đồng bộ các ngành khoa học, nghiên cứu, tiếp thu các thành tựu KH&CN của thế giới nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách và pháp luật, đổi mới công nghệ, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.”
- Nghị quyết của Quốc hội đưa ra những chính sách KH&CN mang tính định hướng để các ngành, các cấp nghiên cứu xây dựng các chính sách KH&CN cụ thể áp dụng trong từng ngành và lĩnh vực, phù hợp với từng thời
kỳ phát triển
- Cam kết quốc tế: Các cam kết trong các điều ước quốc tế song phương,
đa phương về KH&CN mà Việt Nam là thành viên là những chính sách mang tính định hướng hoặc cụ thể Điểm nổi bật nhất là cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, trong đó có việc thực hiện Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS)
- Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển KH&CN của từng ngành và lĩnh vực
Như vậy có thể thấy, chính sách KH&CN được thể hiện ở nhiều nguồn
và ở khía cạnh hình thức, nội hàm của khái niệm chính sách KH&CN rộng hơn nội hàm của khái niệm pháp luật về KH&CN
Chính sách phát triển KH&CN của một đất nước, một địa phương, hoặc một đơn vị cụ thể, trong đó có những lĩnh vực nghiên cứu và những công nghệ được ưu tiên phát triển theo hai hướng:
- KH&CN phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội, đặc biệt là công nghệ phải phục vụ cho mục tiêu cạnh tranh của hệ thống sản xuất
- KH&CN phải được phát triển đi trước, có những lĩnh vực phải đáp ứng
Trang 22tức thời nhu cầu cạnh tranh của sản xuất công nghiệp
1.2.2 Một số văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN
Đối với một quốc gia, chính sách không thể chỉ được tuyên bố bằng lời,
mà phải được thể hiện trên một loại văn bản của Nhà nước, gọi chung là văn bản quy phạm pháp luật Có thể điểm chính sách KH&CN được thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật do các chủ thể ở trung ương ban hành:
- Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
- Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
- Nghị định của Chính phủ
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Thông tư của Bộ KH&CN
Sau đây là một số văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN quan trọng
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thứ tự thời gian:
- Nghị định số 263/CP ngày 27.6.1981 của Hội đồng Chính phủ quy
định về chế độ kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật, trong đó quy định rõ tổ
chức các hoạt động khoa học và kỹ thuật phải tuân theo sự quản lý tập trung của Nhà nước, mà đăc trưng rõ nhất là chế độ kế hoạch hóa các hoạt động khoa học và kỹ thuật
- Nghị định số 122/HĐBT ngày 20.7.1982 của Hội đồng Bộ trưởng quy
định về chế độ quản lý các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm
của Nhà nước Trong đó nhấn mạnh: chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật
trọng điểm của Nhà nước là hệ thống đồng bộ các nhiệm vụ khoa học kỹ thuật (bao gồm các công việc: điều tra, nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, sản xuất thử, đưa vào sản xuất, cải tiến tổ chức, hợp lý hoá sản xuất ) và các biện pháp thực hiện (tổ chức, đầu tư, xây dựng cơ bản ) nhằm góp phần giải quyết một
Trang 23các thành tựu khoa học và kỹ thuật Các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm phải được thể hiện vào kế hoạch 5 năm, hàng năm và được quản lý theo chế độ thống nhất của Nhà nước
- Nghị định số 6/HĐBT ngày 06.01.1992 của Hội đồng Bộ trưởng về
việc thành lập Hội đồng chính sách KH&CN quốc gia Quy định việc thành
lập Hội đồng chính sách KH&CN quốc gia để tư vấn cho Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng về những vấn đề quan trọng liên quan đến phát triển KH&CN trong
cả nước; cụ thể là phương hướng, chiến lược phát triển KH&CN, các lĩnh vực KH&CN ưu tiên từng thời kỳ; các chính sách lớn thúc đẩy phát triển KH&CN; các dự án văn bản pháp quy của Nhà nước về KH&CN; các chỉ tiêu lớn của kế hoạch KH&CN 5 năm và hàng năm, bao gồm cả ngân sách dành cho KH&CN; các chương trình KH&CN cấp Nhà nước;
- Nghị định số 35/HĐBT ngày 28.01.1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy
định về công tác quản lý KH&CN Có thể coi năm 1992 là năm ban hành các
văn bản các văn bản quản lý nhà nước quan trọng về KH&CN đầu tiên của Việt Nam Lần đầu tiên thuật ngữ KH&CN được xuất hiện chính thức, thay cho các thuật ngữ khoa học và kỹ thuật, khoa học kỹ thuật, tiến bộ khoa học kỹ thuật Trong đó một số quy định về quản lý các hoạt động KH&CN có thể được coi là “tuyên ngôn”, lần đầu tiên được công bố trong một văn bản quy phạm pháp luật chính thức của Nhà nước, đáng chú ý là:
+ Tất cả các cơ quan Nhà nước, các đơn vị vũ trang, các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội và mọi công dân đều được quyền tổ chức và thực hiện các hoạt động KH&CN, áp dụng các thành tựu KH&CN mới vào sản xuất và đời sống; được quyền bình đẳng trong việc dự tuyển để chủ trì hoặc tham gia thực hiện các chương trình, đề tài, đề án về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Nhà nước được các cơ quan có thẩm quyền định kỳ công bố
+ Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập các đơn vị nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trực thuộc
Trang 24+ Các tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực KH&CN có quyền tự
do và dân chủ trong nghiên cứu, sáng tạo, trong việc thực hiện các vấn đề nghiên cứu; được khai thác và trao đổi các thông tin liên quan đến hoạt động nghiên cứu của mình…
- Pháp lệnh ngày 05.12.1988 của Hội đồng Nhà nước quy định về
chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam Trong đó đáng chú ý là
quy định Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài chuyển giao công nghệ vào Việt Nam trên nguyên tắc bình đẳng và các bên cùng có lợi và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài chuyển giao công nghệ vào Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao đó
- Chính sách về khoa học và công nghệ đã được thể chế hoá trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, đặc biệt đã được thể hiện một cách khái quát và hệ thống trong Luật KH&CN năm 2000, quy định về tổ chức khoa học và công nghệ, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ; việc tổ chức thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ Trong đó đáng chú ý là việc nêu mục tiêu của hoạt động khoa học và công nghệ là xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh Lần đầu tiên việc quản lý KH&CN được nêu trong một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật cao nhất là Luật
Trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật KH&CN và trong nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan, trong số đó có Quyết định của Thủ tướng
Trang 25đến năm 2010 với mục tiêu "Tập trung xây dựng nền khoa học và công nghệ
nước ta theo hướng hiện đại và hội nhập, phấn đấu đạt trình độ trung bình trong khu vực vào năm 2010, đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"
Để phấn đấu đạt được mục tiêu nêu trên của Chiến lược phát triển KH&CN nước ta đến năm 2010, ngày 28 thng 9 năm 2004 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới
cơ chế quản lý KH&CN
Với Quyết định số 171/2004/QĐ -TTg, Chính phủ khẳng định quyết tâm tạo ra sự thay đổi căn bản trong quản lý KH&CN, đẩy nhanh sự phát triển KH&CN, giải quyết bằng được những nhiệm vụ cơ bản đã được khởi xướng trong nhiều năm trước, đặc biệt từ khi ban hành Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 Cụ thể là những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
+ Hoàn thiện cơ chế xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN; + Đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức KH&CN;
+ Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN + Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực KH&CN;
+ Phát triển thị trường công nghệ;
+ Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về KH&CN
- Luật SHTT năm 2005, quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó Trong đó nhấn mạnh chính sách của Nhà nước về sở
hữu trí tuệ là:
+ Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ
sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh
Trang 26+ Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
+ Hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
+ Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
- Tiếp theo đó là các Luật chuyển giao công nghệ, Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật công nghệ cao… và các văn bản quy phạm pháp luật khác về KH&CN
Có thể nói văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhất quy định về chính sách KH&CN đối với việc quản lý tài sản trí tuệ là Luật KH&CN, Luật SHTT, Luật Chuyển giao công nghệ và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Chúng làm cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước khác ban hành quy định về quản lý tài sản trí tuệ (được tạo ra từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác) Luận văn sẽ bàn về vấn đề này trong các mục tiếp theo
1.3 Tài sản trí tuệ
1.3.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ
Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định Quyền SHTT bao gồm các quyền sở hữu đối với sản phẩm của hoạt động trí tuệ và tinh thần như tác phẩm văn học, nghệ thuật, tác phẩm khoa học, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và giống cây trồng
Tuy nhiên không phải tất cả tài sản trí tuệ đều được nhà nước bảo hộ,
Trang 27- Đối tượng quyền tác giả: Tác phẩm văn học, nghệ thuật và tác phẩm khoa học; đối tượng liên quan đến quyền tác giả như: cuộc biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình, chương trình phát sóng tín hiệu vệ tinh mang chương trình được
Trong giới hạn của luận văn này, tác giả chỉ xem xét các đối tượng sau:
- Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, như sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác Trong số này có
cả khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ khoa học, luận án tiến sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học của cán bộ và sinh viên;
- Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là tác phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với đồ vật hữu ích, được sản xuất hàng loạt, bằng tay hoặc bằng máy như biểu trưng, hàng thủ công mỹ nghệ, hình thức thể hiện trên sản phẩm, bao bì sản phẩm;
- Bản hoạ đồ, bản vẽ, sơ đồ, bản đồ có liên quan đến địa hình, các loại công trình khoa học;
- Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu
- Công nghệ nói chung là giải pháp kỹ thuật tồn tại ở các dạng: vật thể, chất thể, quy trình, trong đó:
+ Có thể không hội tụ đủ 3 điều kiện tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp để được cấp bằng độc quyền sáng chế, hoặc 2 điều kiện để được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích;
Trang 28+ Có thể không hội tụ đủ các điều kiện như trên, bởi vậy không được cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc bằng độc quyền giải pháp hữu ích, bởi vậy chúng được bảo hộ như bí mật kinh doanh
- Kiểu dáng công nghiệp;
- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;
- Nhãn hiệu
1.3.2 Tác giả tài sản trí tuệ
Những người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và tác phẩm khoa học là tác giả của tác phẩm Tác giả bao gồm:
- Cá nhân người Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ
- Cá nhân người nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam; có tác phẩm được công bố lần đầu tiên ở Việt Nam; có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam
Trong một số trường hợp, thuật ngữ tác giả được mở rộng thành các đồng tác giả, đó là những người cùng sáng tạo nên một tác phẩm
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả (các đồng tác giả) được hiểu
là những người trực tiếp sáng tạo nên công trình nghiên cứu khoa học, sách giáo khoa, sách tham khảo, bài báo khoa học, khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ khoa học, luận án tiến sĩ, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
Những người này có thể là cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài, cán bộ giảng dạy, chuyên viên, sinh viên…
Quyền của tác giả đối với tác phẩm khoa học chắc chắn có các quyền
nhân thân không thể chuyển giao, đó là:
- Đặt tên cho tác phẩm;
Trang 29- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả
Quyền nhân thân của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí gồm các quyền sau đây:
- Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;
- Được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
Quyền tài sản của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là quyền nhận thù lao
1.3.3 Chủ sở hữu tài sản trí tuệ
Tác giả là chủ sở hữu toàn bộ hoặc một phần tác phẩm do mình sáng tạo, trừ trường hợp tác phẩm sáng tạo theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng
Các đồng tác giả là chủ sở hữu chung tác phẩm do họ cùng sáng tạo, trừ trường hợp tác phẩm sáng tạo theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng
Các cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả là chủ sở hữu toàn bộ hoặc một phần tác phẩm do tác giả tạo ra theo nhiệm vụ mà cơ quan hoặc tổ chức giao Cá nhân hoặc tổ chức giao kết hợp đồng sáng tạo với tác giả là chủ
sở hữu một phần hoặc toàn bộ tác phẩm do tác giả sáng tạo theo hợp đồng
Những người được chủ sở hữu tác phẩm chuyển giao các quyền của mình theo hợp đồng thì những người này là chủ sở hữu quyền được chuyển giao
Trang 30Quyền của chủ sở hữu tác phẩm khoa học bao gồm:
- Làm tác phẩm phái sinh;
- Sao chép tác phẩm;
- Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính
Quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn) bao gồm:
- Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp;
- Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp;
- Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp
1.3.4 Tác giả và chủ sở hữu tài sản trí tuệ được tạo ra từ nguồn kinh phí nhà nước
Tài sản trí tuệ được tạo ra từ nguồn kinh phí nhà nước được hiểu là nhà nước đầu tư cho tác giả nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, sản phẩm của quá trình này do nhà nước là chủ sở hữu và người nghiên cứu là tác giả Tác giả và chủ sở hữu kết quả nghiên cứu có các quyền như đã nêu trên
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, việc xác định chủ sở hữu kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu mà còn có ý nghĩa đối với danh dự và uy tín của tác giả - người sáng tạo ra kết quả nghiên cứu
Tuy nhiên, trong thực tế việc xác định chủ sở hữu kết quả nghiên cứu lại không đơn giản, nhiều khi nó không có tác dụng kích thích khả năng sáng tạo
của tác giả Điều 26.1 Luật KH&CN chỉ quy định đơn giản: “Tổ chức, cá
nhân đầu tư cho việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện công trình khoa học và công nghệ là tác giả của công trình đó,
Trang 31trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác trong hợp đồng khoa học và công nghệ”
Quy định trên đây chưa giải quyết được các trường hợp cụ thể: kết quả nghiên cứu là sự sáng tạo của nhiều tác giả với các mức độ đóng góp khác nhau; kết quả nghiên cứu do nhiều người đầu tư tài chính để thực hiện; kết quả nghiên cứu vừa được bảo hộ theo pháp luật về quyền tác giả, vừa được bảo hộ theo pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp; cũng chưa giải quyết được việc phân định quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu trong trường hợp “sáng
chế công vụ” (Employee Invention)…
Điều 2.4 Luật KH&CN quy định: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động
phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư
duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa
học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”
Cách định nghĩa nghiên cứu khoa học trên đây của Luật KH&CN là chưa đầy đủ, theo quan niệm của UNESCO, thì nghiên cứu khoa học bao gồm: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai (toàn bộ chuỗi R&D).6
Nếu kết quả nghiên cứu ứng dụng và triển khai thuộc lĩnh vực khoa học
xã hội và nhân văn thì nó chỉ tồn tại như một tác phẩm khoa học và được bảo
hộ theo pháp luật quyền tác giả
Nhưng nếu kết quả nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm thuộc lĩnh vực công nghệ thì ngoài việc bản viết về chúng là tác phẩm khoa học thì nội dung của chúng còn được bảo hộ theo pháp luật sở hữu công nghiệp Nếu kết quả nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm hội tụ đủ
3 tiêu chí: tính mới, trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp thì
nó được bảo hộ là sáng chế, còn nếu chúng không hội tụ đủ 3 tiêu chí vừa nêu thì chúng được bảo hộ theo cơ chế thông tin bí mật
6
Xin tham khảo thêm: Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà
Nội, 2007
Trang 32Nếu tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm khoa học thì tác giả là chủ sở hữu tác phẩm này Trong thực tế nghiên cứu khoa học, người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật phần lớn là tổ chức (có thể dùng ngân sách Nhà nước) hoặc cá nhân khác, bởi vậy những người này mới là chủ sở hữu tác phẩm khoa học Chủ sở hữu có quyền công bố tác phẩm khoa học, đồng thời có toàn bộ nhóm quyền tài sản
Chúng ta có thể đã gặp trường hợp, tác giả kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách Nhà nước (hoặc do người khác đầu tư tài chính) đã ký hợp đồng cho phép một nhà xuất bản phát hành tác phẩm khoa học do mình sáng tạo nên, cho phép người nào đó dịch tác phẩm khoa học ra tiếng nước ngoài… các hành vi vừa nêu của tác giả thực chất là đã cho phép người khác công bố tác phẩm, làm bản sao tác phẩm, làm tác phẩm phái sinh, như vậy tác giả đã xâm phạm các quyền mà chỉ chủ sở hữu kết quả nghiên cứu mới có
Trường hợp sinh viên của các trường đại học thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên và được nhà trường (dùng ngân sách Nhà nước) hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, có ý kiến cho rằng trong trường hợp này Nhà nước (mà đại diện là hiệu trường đại học) là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu Không thể coi việc hỗ trợ kinh phí như là sự đầu tư tài chính để tác giả thực hiện nghiên cứu khoa học Do đó, tác giả mới là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu
Nếu nhiều người cùng đầu tư tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nghiên cứu thì họ đồng sở hữu kết quả nghiên cứu, có thể chia ra 2 trường hợp:
- Trường hợp 1: đồng sở hữu chung duy nhất, kết quả nghiên cứu không thể phân chia, dẫn đến bất kỳ một người nào trong số đồng sở hữu cũng không
có quyền thực hiện một quyền tài sản nào đối với kết quả nghiên cứu nếu không có sự đồng ý của tất cả các đồng sở hữu còn lại
- Trường hợp 2: đồng sở hữu theo phần, kết quả nghiên cứu có thể phân
Trang 33theo phần đóng góp tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình cho nghiên cứu
Nếu tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để nghiên cứu tạo nên giải pháp kỹ thuật được bảo hộ là sáng chế thì tác giả là chủ sở hữu sáng chế Trong thực tế thì người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật phần lớn là tổ chức hoặc cá nhân khác, do đó chính những người này mới là chủ sở hữu sáng chế Một trong những quyền quan trọng của chủ sở hữu sáng chế là được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (license sáng chế) cho người khác, vì sáng chế là một dạng tài sản vô hình, bởi vậy chủ
sở hữu có thể đồng thời license (không độc quyền) sáng chế cho nhiều người khác nhau
Việc phân định quyền lợi vật chất đối với sáng chế giữa tác giả sáng chế
và chủ sở hữu sáng chế trong trường hợp vừa nêu không khó, nó căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên hoặc theo luật định Mức thù lao tối thiểu mà chủ sở hữu phải trả cho tác giả là 10% số tiền làm lợi mà chủ sở hữu thu được do sử dụng sáng chế, 15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do license sáng chế
Trong lĩnh vực quản lý SHTT, có một thuật ngữ chuyên môn, đó là thuật
ngữ “sáng chế công vụ” (Employee Invention) dùng để chỉ trường hợp sáng
chế được tạo ra trong quá trình tác giả của nó thực hiện công vụ
Nếu nhiệm vụ chính của tác giả trong quá trình thực hiện công vụ là phải nghiên cứu để tạo ra sáng chế thì tác giả (người lao động) không là chủ sở hữu sáng chế, mà chủ sở hữu sáng chế là người sử dụng lao động Việc phân định quyền lợi vật chất đối với sáng chế giữa tác giả sáng chế và chủ sở hữu sáng chế trong trường hợp này như đã nói ở trên
Nếu nhiệm vụ chính của tác giả trong quá trình thực hiện công vụ là việc khác với việc nghiên cứu để tạo ra sáng chế thì chủ sở hữu sáng chế vẫn
Trang 34là người sử dụng lao động, nhưng việc phân định quyền lợi vật chất đối với sáng chế giữa tác giả sáng chế và chủ sở hữu sáng chế lại không hề đơn giản.7
Như vậy, nếu việc phân định quyền của tác giả và quyền của chủ sở hữu kết quả nghiên cứu không được xử lý thì khó có thẻ quản lý được và hậu quả của nó là không thể thúc đẩy quá trình sáng tạo trong hoạt động KH&CN Luận văn xin bàn sâu về vấn đề này trong chương 3
1.4 Chính sách KH&CN để quản lý tài sản trí tuệ trong hệ thống giáo dục
và đào tạo
Chính sách KH&CN để quản lý tài sản trí tuệ như đã nêu trong mục 1.2
có từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng do giới hạn của luận văn, tác giả xin bàn đến 2 văn bản dưới đây
1.4.1 Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về quản lý hoạt động SHTT trong cơ sở giáo dục đại học, ban hành kèm theo Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT ngày 29.12.2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo
Mục đích quản lý hoạt động SHTT theo Quy định này là nhằm khuyến
khích hoạt động sáng tạo, thúc đẩy quá trình khai thác, chuyển giao quyền SHTT và bảo vệ tài sản trí tuệ của cá nhân, tập thể, tổ chức và của chính cơ sở giáo dục đại học
Tài sản trí tuệ theo Quy định này là quyền SHTT và quyền đối với các
tài sản khác (quyền đối với sáng kiến, giải pháp hợp lý hóa trong giáo dục và đào tạo và các đối tượng khác) phát sinh từ các hoạt động đào tạo, KH&CN
Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định này là cần thiết, nó tạo
cơ sở pháp lý cho các cơ sở giáo dục đại học quản lý tốt tài sản trí tuệ theo
Trang 35đúng mục tiêu của Quy định đã nêu Nhưng để thực hiện Quy định này, phải bàn lại một số điểm mà luận văn sẽ đề cập tại chương 3
1.4.2 Quy định của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Quy định về Hoạt động SHTT trong Trường ĐHBK Hà Nội đã được Hiệu trưởng ký ban hành kèm theo Quyết định số: 150/QĐ-ĐHBK-KHCN ngày 30 tháng 5 năm 2008 và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 08 năm 2008 Như vậy, quy định này của Nhà trường đã được ban hành sớm hơn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Mục đích của quy định về quản lý và sử dụng sản phẩm trí tuệ là để đảm bảo tính khách quan, công bằng trong việc bảo vệ quyền sỡ hữu và sử dụng các sản phẩm và tài sản trí tuệ do Trường hoặc cán bộ, sinh viên của Trường thực hiện
Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm 3 loại:
- Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
- Đối tượng quyền tác giả bao gồm: các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, chương trình máy tính
- Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là: giống cây trồng và vật liệu nhân giống
Trách nhiệm quản lý sản phẩm và tài sản trí tuệ tại Trường ĐHBK là Phòng Khoa học - Công nghệ trong phạm vi và quyền hạn của mình thực hiện
tổ chức và quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ của Trường
Các sản phẩm và tài sản trí tuệ do Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thống nhất quản lý:
Trang 36- Là các sản phẩm và tài sản trí tuệ được hình thành trên cơ sở sử dụng nguồn kinh phí của Nhà nước hay hợp tác quốc tế được phân bổ thông qua Trường hoặc kinh phí tự có của Trường, sử dụng cơ sở vật chất của Trường báo gồm các đối tượng sau:
- Các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (chưa được hay đã được cấp Bằng độc quyền hay giấy chứng nhận);
- Các đối tượng quyền tác giả bao gồm: Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học (bao gồm cả chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu, ) và đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả;
- Các đối tượng quyền đối với giống cây trồng
- Tất cả các công trình khoa học (các sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất, linh phụ kiện mới, các máy móc, thiết bị mới chế tạo, quy trình công nghệ mới, giải pháp kỹ thuật mới) là kết quả nghiên cứu từ các đề tài, dự
án các cấp
- Đối với các sản phẩm liên kết với các đơn vị ngoài Trường, sẽ có văn bản thỏa thuận riêng cho từng trường hợp tùy thuộc vào sự đóng góp của các bên
Trường ĐHBK có thể được coi là đơn vị có nhiều tài sản trí tuệ thuộc nhóm sở hữu công nghiệp nhất trong số các đơn vị giáo dục đại học thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý Quy định trên đây đã góp phần không nhỏ trong hoạt động đào tạo và hoạt động KH&CN của Nhà trường Việc quản lý tài sản trí tuệ được tạo ra từ nguồn kinh phí nhà nước tại Trường ĐHBK như thế nào, chương 2 của luận văn sẽ làm rõ
1.5 Hiệu quả quản lý tài sản trí tuệ
Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về hiệu quả quản lý TSTT
Trang 37các kiến thức từ Đánh giá hiệu quả của nghiên cứu khoa học 8
để xác định hiệu
quả quản lý TSTT, hiệu quả này được đo bằng các chỉ tiêu:
1.5.1 Hiệu quả thông tin và hiệu quả khoa học
Được xem xét trên giá trị thông tin mà TSTT đưa vào cho hệ thống khoa học;
Đưa ra những khái niệm hoặc phạm trù mới, những phát hiện mới về bản chất của sự vật, về đánh giá và dự báo một sự vật, đưa ra những giải pháp mới cho các hoạt động xã hội về tổ chức, quản lý;
1.5.2 Hiệu quả đào tạo
Được đo bằng sự đóng góp của TSTT vào việc thay đổi hoặc bổ sung vào chương trình đào tạo, bao gồm:
- Những tri thức mới trong nội dung bài giảng;
- Những nội dung mới trong nội dung bài giảng;
- Những phương pháp mới trong công nghệ đào tạo;
- Những công cụ, phương tiện mới trong giảng dạy
1.5.3 Hiệu quả kỹ thuật
Được đánh giá về những đóng góp của TSTT vào việc tạo ra những giải pháp kỹ thuật trên các mức độ khác nhau:
- Một giải pháp kỹ thuật mới;
- Một công nghệ mới;
- Một loại vật liệu mới;
- Một phương tiện kỹ thuật mới;
- Một sản phẩm mới
8
Xin tham khảo thêm: Vũ Cao Đàm, Đánh giá nghiên cứu khoa học (Chương V), Nhà xuất bản KH&KT, Hà
Nội, 2005 Để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đã sắp xếp khác với cách sắp xếp của tác giả
Trang 38Trong tác phẩm Đánh giá nghiên cứu khoa học, tác giả đưa ra 5 giải
pháp kỹ thuật trên các mức độ nói trên Trong luận văn này, chúng tôi đề xuất
bổ sung thêm các giải pháp kỹ thuật được thể hiện:
- Một hoạt chất mới;
- Một quy trình mới (có thể bao gồm một phương tiện kỹ thuật mới như
Vũ Cao Đàm đã nêu trong tác phẩm của mình).9
Bởi vì, xét về bản chất thì một giải pháp kỹ thuật được thể hiện trên 3
mặt: vật thể (có tài liệu gọi là cơ cấu), chất thể (có tài liệu chỉ gọi là chất), quy
trình
1.5.4 Hiệu quả kinh tế
Được xem xét trên cơ sở sự đóng góp của TSTT vào hoạt động kinh tế theo các chỉ tiêu định lượng:
- Tính toán được giá trị thu được bằng tiền do giải pháp kỹ thuật đưa lại;
- Phần tăng doanh số, lợi nhuận do sử dụng công nghệ mới đưa lại
- Lợi nhuận thu được do chuyển giao công nghệ từ kết quả nghiên cứu mang lại
Trong giới hạn nghiên cứu, luận văn này không đề cập đến hiệu quả quản lý TSTT được tính trên các mặt: môi trường; đạo đức; văn hoá, xã hội, an
ninh, quốc phòng
Trong các hiệu quả vừa nêu thì:
- Các hiệu quả thông tin, hiệu quả khoa học và hiệu quả đào tạo được thể hiện một cách tương đối trong các tác phẩm khoa học, chúng được thể hiện tại các giáo trình, bài giảng, phát minh, phát hiện, đồ án tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh và là đối tượng được bảo hộ quyền SHTT mà cụ
thể là quyền tác giả
Trang 39- Các hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh tế được thể hiện một cách tương đối trong các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, sáng chế, giải pháp hữu ích, bí mật kinh doanh trong đó các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, sáng chế, giải pháp hữu ích có thể đã được cấp patent hoặc chưa/không được cấp patent,
chúng là đối tượng được bảo hộ quyền SHTT mà cụ thể là quyền sở hữu công
nghiệp
Phải sử dụng thuật ngữ “tương đối” vừa nêu trên, bởi vì các đối tượng của quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp trong trường hợp này rất khó phân định ranh giới, ví dụ TSTT do đồ án tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh có thể hàm chứa/không hàm chứa trong chúng các giải pháp
kỹ thuật, sau nữa xét trên góc độ kinh tế thì việc xuất bản và bán các tác phẩm khoa học thì trong nhiều trường hợp không nhằm mục tiêu lợi nhuận, nhưng việc chuyển giao công nghệ, license sáng chế thì nhiều lúc phải đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên
Tóm lại hiệu quả quản lý TSTT được tạo ra từ kinh phí của Nhà nước được đo bằng:
1 Hiệu quả quản lý giáo trình, bài giảng được bảo hộ quyền tác giả,
được đo bằng hiệu quả thông tin, hiệu quả khoa học và hiệu quả đào tạo
2 Hiệu quả quản lý phát minh, phát hiện, đồ án tốt nghiệp, luận văn thạc
sĩ, luận án tiến sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học, được bảo hộ quyền tác giả, được
đo bằng hiệu quả thông tin, hiệu quả khoa học và hiệu quả đào tạo
3 Hiệu quả quản lý chuỷen giao công nghệ, bao gồm các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, sáng chế, giải pháp hữu ích, bí mật kinh doanh trong đó các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, sáng chế, giải pháp hữu ích có thể đã được cấp patent hoặc chưa/không được cấp patent (gọi tắt là công nghệ), được bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp, được đo bằng hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh
tế
Trang 40Trong các phần tiếp theo, luận văn sẽ khảo sát:
- Hiệu quả quản lý giáo trình, bài giảng;
- Hiệu quả quản lý phát minh, phát hiện, đồ án tốt nghiệp, luận văn thạc
sĩ, luận án tiến sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học;
- Hiệu quả quản lý chuyển giao công nghệ
Với cách hiểu tác phẩm khoa học, công nghệ nhƣ đã phân tích ở trên