ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN ĐỨC CHÍNH SỰC TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ĐỨC CHÍNH
SỰC TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Hải
Hà Nội, 2012
Trang 33
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Câu hỏi nghiên cứu 5
6 Giả thuyết nghiên cứu 5
7 Mẫu khảo sát 6
8 Phương pháp nghiên cứu 6
9 Kết cấu của Luận văn 7
CHƯƠNG 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 8
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách 8
1.1.1 Khái niệm chính sách 8
1.1.2 Sự tác động của chính sách 11
1.1.3 Chuỗi tác động của chính sách 11
1.2 Chính sách khoa học và công nghệ 12
1.2.1 Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ 12
1.2.2 Vật mang chính sách khoa học và công nghệ 13
1.3 Chuyển giao công nghệ 17
1.3.1 Khái niệm công nghệ 17
1.3.2 Khái niệm chuyển giao công nghệ 20
1.3.3 Hình thức và nội dung chuyển giao công nghệ 24
1.3.4 Phân loại chuyển giao công nghệ 27
1.4 Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến chuyển giao công nghệ 29
1.4.1 Tác động dương tính 29
1.4.2 Tác động âm tính 29
1.4.3 Tác động ngoại biên 30
1.4.4 Môi trường của chính sách 31
* Kết luận chương 1 32
CHƯƠNG 2 33
TÁC ĐỘNG DƯƠNG TÍNH VÀ TÁC ĐỘNG NGOẠI BIÊNDƯƠNG TÍNH CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 33
2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 33
Trang 42.1.1 Hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 33
2.1.2 Đầu tư cho khoa học và công nghệ từ ngân sách địa phương 35
2.2 Tác động dương tính của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động chuyển giao công nghệ 37
2.2.1 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ từ khu vực nghiên cứu sang khu vực sản xuất, kinh doanh 37
2.2.2 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam 43
2.3 Tác động ngoại biên dương tính của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động chuyển giao công nghệ 49
2.3.1 Năng lực công nghệ của các doanh nghiệp được nâng cao 49
2.3.2 Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp được nâng cao 53
* Kết luận chương 2 56
CHƯƠNG 3 58
TÁC ĐỘNG ÂM TÍNH VÀ TÁC ĐỘNG QUA LẠICỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆĐẾN HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 58
3.1 Tác động âm tính của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động chuyển giao công nghệ 58
3.1.1 Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp bị hạn chế 58
3.1.2 Tỷ lệ nguyên liệu nội địa trong các sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất không thể được nâng cao 65
3.2 Tác động ngoại biên âm tính của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động chuyển giao công nghệ 68
3.2.1 Biến thành “bãi thải công nghệ„ của thế giới 68
3.2.2 Thu nhập của người lao động thấp 70
3.3 Tác động qua lại của hoạt động chuyển giao công nghệ đến chính sách khoa học và công nghệ 73
3.4 Đề xuất khắc phục tác động âm tính của chính sách khoa học và công nghệ đến chuyển giao công nghệ 76
3.4.1 Luận cứ thực tiễn của đề xuất 76
3.4.2 Chính sách đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ phục vụ doanh nghiệp 76
3.4.3 Chính sách gắn kết giữa các tổ chức R&D với các doanh nghiệp 78
3.4.4 Vai trò của các tổ chức định giá công nghệ được chuyển giao 80
3.4.5 Các đề xuất khác 84
* Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 1 90
PHỤ LỤC 2 96
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CGCN: Chuyển giao công nghệ
FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 7Trong những năm qua, đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng
Cơ cấu, quy mô, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp chuyển biến phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ, hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh đã có những đóng góp quan trọng vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, góp phần tích cực vào việc giải quyết công ăn, việc làm, tham gia giảm nghèo và thực hiện các chính sách xã hội khác
Năm 2011 cộng đồng doanh nghiệp chịu tác động do những khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và trong nước nhưng số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn không ngừng được tăng lên Tính đến thời điểm 30/9/2011, Tỉnh đã có thêm 717 doanh nghiệp trong nước bằng 96% số doanh nghiệp thành lập mới của cả năm 2010
Về doanh nghiệp FDI: Tính đến nay, tỉnh Bắc Ninh có 325 đơn vị FDI trong đó 308 doanh nghiệp FDI và 17 chi nhánh, văn phòng đại diện còn hoạt động với tổng vốn đăng ký 3.386,4 triệu USD Tính riêng 9 tháng đầu năm
2011, Bắc Ninh đã thành lập mới cho 43 doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 179,19 triệu USD
Để có thể hoạt động hiệu quả, các doanh nghiệp cần phải sử dụng công nghệ tiên tiến để sản xuất hàng hóa đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường Trong hoàn cảnh nhiều doanh nghiệp chưa có bộ phận nghiên cứu và triển
Trang 8khai riêng thì CGCN là một kênh có hiệu quả cho việc đưa công nghệ tiên tiến vào doanh nghiệp
Hoạt động CGCN có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và sự phát triển của toàn xã hội nói chung Bởi lẽ đó chính là hoạt động trực tiếp đưa công nghệ, thiết bị mới vào địa bàn tỉnh, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội của địa phương cũng như của đất nước Thực tế trong những năm qua, tại Việt Nam nói chung cũng như tại tỉnh Bắc Ninh nói riêng, hoạt động chuyển giao công nghệ còn rất mới mẻ và hạn chế Trong quá trình hội nhập, việc nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua các hoạt động chuyển giao công nghệ đóng vai trò rất quan trọng
Tuy nhiên, qua bước đầu khảo sát cho thấy phần lớn công nghệ được chuyển giao cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đều có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài, phải chăng các cơ quan nghiên cứu ở trong nước không đủ năng lực để nghiên cứu cho ra những công nghệ mới nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong nước hay chúng ta đang thiếu những chính sách nào đó?
Bởi vậy, tôi chọn đề tài Sự tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với hoạt động chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh làm Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Luật chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm
2007 Hoạt động chuyển giao công nghệ trong những năm gần đây diễn ra sôi động trên phạm vi cả nước, số lượng giao dịch mua bán công nghệ giai đoạn 2006-2010 đã tăng hơn 3 lần, tổng giá trị giao dịch thông qua các hợp đồng được ký kết tăng 2,5 lần so với giai đoạn 2001-2005 và đạt gần 6.000 tỉ đồng
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về CGCN, có thể điểm:
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước Khoa học và Công nghệ với việc phát triển nông nghiệp, nông thôn do GS.TS Chu Tuấn Nhạ chủ trì năm 1997 đã
Trang 9đã đề cập về 2 mảng chính sách (tài chính và nhân lực) ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Bên cạnh những điểm tích cực của những chính sách này cũng cho thấy có sự chưa phù hợp của môi trường chính sách với nhu cầu của hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp;
- Nghiên cứu của Vũ Cao Đàm (2003) “Đổi mới chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN”, đã đề cập đến tín dụng cho hoạt động KH&CN cho thấy
rằng tín dụng đối với hoạt động KH&CN hầu như không phát huy được hiệu quả, do sự khác nhau giữa bản chất hoạt động của ngân hàng và hoạt động KH&CN;
- Nghiên cứu của Hoàng Xuân Long (2006) “Phân tích một số mô hình liên kết Viện nghiên cứu, Trường Đại học với doanh nghiệp để phát triển công nghệ mới” đã chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến sự liên kết này,
gồm: Lãnh đạo doanh nghiệp phải thực sự coi trọng khoa học và công nghệ Đồng thời thái độ đối với KH&CN phải thể hiện cụ thể ở các mặt như đầu tư kinh phí cho nghiên cứu và triển khai (R&D), chú trọng phát triển bộ phận R&D trong doanh nghiệp; có chiến lược phát triển kinh doanh và định hướng phát triển công nghệ rõ ràng; doanh nghiệp phải nắm vững thông tin và có khả năng phân tích về các đối tác cần liên kết; xây dựng được quan hệ tin cậy lẫn nhau; phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp với Viện, Trường trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ liên kết, thay vì giao trọn gói cho Viện hoặc Trường tiến hành nghiên cứu;
Trang 10Ngày 03 tháng 12 năm 2010, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã tổ
chức Hội thảo chuyển giao công nghệ lần thứ 2 với chủ đề: “Phát triển tam giác liên kết Đào tạo – Nghiên cứu – Công nghiệp phục vụ doanh nghiệp và cộng đồng” nhằm đánh giá toàn diện những kết quả đạt đƣợc trong quá trình
hình thành, đề ra những giải pháp đột phá để Phát triển “tam giác liên kết” đơn giản trong mô hình Hội thảo đã tạo điều kiện để các cán bộ nghiên cứu,
tổ chức, công ty, các đơn vị giới thiệu những thành quả đạt đƣợc và tìm kiếm
cơ hội để phát triển trong nền kinh tế tri thức và hội nhập hiện nay Ngoài ra, hội thảo cũng là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm trong việc hình thành và phát triển của các tổ chức khoa học công nghệ tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo nghị định 115; doanh nghiệp KH&CN theo nghị định 80 của Chính phủ
Trong khuôn khổ các Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN, đã có một số tác giả đề cập đến vấn đề chuyển giao công nghệ, có thể điểm:
- Luận văn của Phạm Xuân Thăng: “Nâng cao hiệu quả hoạt động các
mô hình chuyển giao kỹ thuật và công nghệ tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp của thanh niên nông thôn tỉnh Hải Dương” đã xây dựng các tiêu chí đánh giá
hiệu quả hoạt động của các mô hình chuyển giao KT&CN; đồng thời đề tài cũng góp phần hiện thực hóa các lý thuyết về hoạt động KH&CN trong sản xuất nông
Trang 115
Nhưng có thể nói, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến sự tác động của chính sách KH&CN đến chuyển giao công nghệ Hiện tại chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề vừa nêu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu sự tác động của chính sách KH&CN đối với hoạt động chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Không gian: tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian: giai đoạn 2006-2010
5 Câu hỏi nghiên cứu
Chính sách KH&CN tác động như thế nào đối với hoạt động chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh?
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Chính sách KH&CN tác động dương tính đến hoạt động CGCN, thể hiện trên các mặt: Tạo điều kiện thuận lợi cho việc CGCN từ khu vực nghiên cứu sang khu vực sản xuất, kinh doanh; Tạo điều kiện thuận lợi cho việc CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam
- Chính sách KH&CN tác động ngoại biên dương tính, thể hiện trên các mặt: Năng lực công nghệ của các doanh nghiệp được nâng cao; Năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp được nâng cao Lưu ý: một phần của giả thuyết nghiên cứu này đã bị chương 2 của Luận văn loại bỏ
- Chính sách KH&CN tác động âm tính đến hoạt động CGCN, thể hiện trên các mặt: Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp bị hạn chế; Tỷ lệ
Trang 12nội địa hóa trong các sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất không thể được nâng cao
- Chính sách KH&CN tác động ngoại biên âm tính, thể hiện trên các mặt: Có thể biến thành “bãi thải công nghệ„ của thế giới; Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bị hạn chế; Thu nhập của người lao động làm trong các doanh nghiệp này thấp
- Quy mô doanh nghiệp: lớn, vừa, nhỏ;
- Quy mô nhân lực: ít nhất (30 người) đến nhiều nhất (7000 người)
- Lĩnh vực hoạt động: vật liệu xây dựng, cơ khí, điện, điện tử, gia dụng, dược phẩm, thực phẩm, thức ăn gia súc, dệt may, phụ tùng ôtô, xe máy
8 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật với
tư cách là vật mang chính sách KH&CN, các văn bản về quản lý KH&CN do UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành, số liệu do cơ quan quản lý nhà nước ban hành, các nghiên cứu về chính sách KH&CN, CGCN đã có trước
- Nghiên cứu định lượng: nhằm thu thập dữ liệu cho nghiên cứu bằng cách phát phiếu điều tra Tác giả Luận văn đã phát ra 50 phiếu điều tra (thể hiện tại Phụ lục 2) đối với các doanh nghiệp, nhưng chỉ thu về được 45 phiếu (đạt tỷ lệ 90%), 5 doanh nghiệp không trả lời
- Nghiên cứu định tính:
+ Phỏng vấn, xin ý kiến chuyên gia Tác giả Luận văn đã phỏng vấn 15 người là các nhà quản lý KH&CN trong các cơ quan quản lý nhà nước, những người có trách nhiệm hoạch định chính sách KH&CN, các nhà quản lý doanh nghiệp, người lao động, nhằm thu thập các thông tin phản hồi về chính sách KH&CN đối với CGCN
Trang 137
+ Cách phỏng vấn: gửi trước yêu cầu phỏng vấn bằng văn bản, tác giả Luận văn trực tiếp nghe và trao đổi với người được hỏi Đảm bảo tính khuyết danh của người trả lời theo đúng quy định
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận của Luận văn
- Chương 2 Tác động dương tính và tác động ngoại biên dương tính của chính sách KH&CN đến hoạt động chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Chương 3 Tác động âm tính và tác động qua lại của chính sách KH&CN đến hoạt động chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 14Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, đƣợc thể chế hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lƣợc phát triển của hệ thống theo mục đích mà
chủ thể quyền lực mong đợi
- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể
quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ƣu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó
- Các biện pháp ƣu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động
của nhóm đƣợc ƣu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lƣợc mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra
- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời
khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhƣng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thƣợng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)
Trang 15
9
- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một
đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ
thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý
Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa:
Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.”
“Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích
thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các
đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và
nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách
Trang 16- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói
trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh
doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:
- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn
thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau
- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao
giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển
- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những
biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm
“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó
Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ
có thể một vài cách tiếp cận trong đó
Trang 1711
1.1.2 Sự tác động của chính sách 2
- Tác động dương tính của chính sách: tác động dương tính của một
chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới
Tuy nhiên, sau khi công bố một chính sách, không phải khi nào cũng chỉ có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính Tác động âm tính xuất hiện là một tất yếu khách quan, hơn nữa, tác động âm tính chính là cơ sở
để suy xét ban hành những chính sách ngày càng có vai trò tích cực hơn trong quá trình phát triển xã hội Vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng các tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách
- Tác động âm tính của chính sách: tác động âm tính của một chính
sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách
- Tác động ngoại biên của chính sách: tác động ngoại biên của một
chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự liệu của cơ quan quyết định của chính sách Trong tác động ngoại biên, người ta lại có thể thấy xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính
Tác động ngoại biên dương tính, là tác đông ngoại biên góp phần nâng
cao hiệu quả của chính sách
Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm
thiểu hiệu quả của chính sách
1.1.3 Chuỗi tác động của chính sách
Một chính sách có thể làm xuất hiện một chuỗi tác động kế tục nhau Các tác động này có thể dương tính, âm tính, ngoại biên Chính đây là nguyên nhân dẫn đến những tình huống phức tạp khi cân nhắc để quyết định một chính sách
Trang 18
- Tác động trực tiếp của chính sách: tác động trực tiếp hiện ngay sau
khi chính sách được công bố Tác động trực tiếp có thể là dương tính, âm tính,
ngoại biên
- Tác động nối tiếp của chính sách: tác động nối tiếp diễn ra sau tác
động trực tiếp Tác động nối tiếp có thể xuất hiện sau tác động trực tiếp một vài năm, cũng có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn Tác động nối tiếp cũng có thể là dương tính, âm tính, ngoại biên
- Tác động kế tiếp của chính sách: tác động kế tiếp diễn ra sau tác động
nối tiếp Tác động kế tiếp có thể xuất hiện sau tác động nối tiếp một vài năm, cũng có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn Tác động kế tiếp cũng có thể là dương tính, âm tính, ngoại biên
- Tác động gián tiếp của chính sách: Tác động gián tiếp diễn ra sau tác
động kế tiếp, cũng bao gồm: gián tiếp dương tính, gián tiếp âm tính, gián tiếp ngoại biên
1.2 Chính sách khoa học và công nghệ
1.2.1 Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ
Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO)
đưa ra định nghĩa: “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp
và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt phát triển quốc gia và nâng cao vị thế quốc gia trên thế giới”.
Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN
Trên cơ sở chính sách mà Vũ Cao Đàm đã định nghĩa3, Luận văn xin đưa ra quan niệm về chính sách KH&CN như sau:
Trang 19
13
Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp
Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp
Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới
dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN
- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá
nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN
- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã
hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế -
xã hội nói chung
1.2.2 Vật mang chính sách khoa học và công nghệ
Vật mang chính sách trong định nghĩa trên bao gồm:
1.2.2.1 Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất
Hiến pháp năm 1992 đã chỉ rõ tại Điều 37: “Phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu KH&CN giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách KH&CN quốc gia; xây dựng nền KH&CN tiên tiến; phát triển đồng bộ các ngành khoa học, nghiên cứu, tiếp thu các thành tựu KH&CN của thế giới nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách và pháp luật, đổi mới công nghệ, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình
Trang 20độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.”
1.2.2.2 Luật và pháp lệnh
Là một văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất sau hiến pháp, do Quốc hội ban hành Chính sách được công bố dưới dạng một luật của quốc hội là chính sách ở tầm một văn bản có giá trị pháp lý cấp cao nhất, có hiệu lực trong một thời gian dài Tuy nhiên vẫn có thể được thay đổi, nhưng cơ quan quyết định việc thay đổi có thể là quốc hội
Pháp lệnh do UBTV Quốc hội ban hành, nó phải phù hợp với luật và hiến pháp, ví dụ chính sách chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam lần đầu tiên được công bố dưới dạng Pháp lệnh chuyển giao công nghệ
từ nước ngoài vào Việt Nam năm 1988
Trong Luận văn này, văn bản luật với tư cách là vật mang chính sách KH&CN bao gồm:
- Luật KH&CN được Quốc hội thông qua năm 2000;
2009;
- Luật chuyển giao công nghệ được Quốc hội thông qua năm 2006;
- Luật Công nghệ cao được Quốc hội thông qua năm 2008
1.2.2.3 Nghị định
Tuy về lý thuyết, luật là văn bản pháp lý có giá trị hiệu lực cao nhất, nhưng ở Việt Nam, một đạo luật không có giá trị thực thi nếu chưa có các văn bản hướng dẫn của cấp dưới, ví dụ, nghị đinh của Chính phủ
Chính sách được công bố dưới dạng một văn kiện cấp chính phủ có giá trị pháp lý thấp hơn một đạo luật của quốc hội, và không được trái với những quy định trong các đạo luật của quốc hội
Trong Luật ban hành quy phạm pháp luật chỉ rõ hai loại nghị định: hoặc là nghị định giải thích thi hành một đạo luật của quốc hội, hoặc là một nghị định có ý nghĩa độc lập Trong Luật quy định như sau:
Trang 2115
- Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
- Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội
Như vậy, nghị định có thể là một văn bản độc lập hoặc là một văn bản hướng dẫn thực hiện một đạo luật của quốc hội Ví dụ:
- Chính sách tổ chức các hoạt động KH&KT ở Việt Nam theo kế hoạch chỉ huy tập trung, được công bố dưới dạng Nghị định 263-CP, ngày 27/6/1981 của Hội đồng chính phủ
- Chính sách đối với những người thực hiện các chương trình tiến bộ khoa học - kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước được công bố dưới dạng Nghị định 122-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 20/7/1982
- Chính sách xoá bỏ sự độc quyền nhà nước trong hoạt động khoa học
và công nghệ được công bố dưới dạng một nghị định Đó là Nghị định HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng năm 1992
35-Trong Luận văn này, nghị định với tư cách là vật mang chính sách KH&CN bao gồm:
- Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22.9.2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp
- Nghị định 133/2008/NĐ-CP ngày 31.12.2008 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chuyển giao công nghệ
- Nghị định 122/2010/NĐ-CP ngày 31.12.2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22.9.2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp
1.2.2.4 Thông tư
Thông tư là một văn bản được ban hành bởi các bộ hoặc liên bộ nhằm hướng dẫn thực hiện một nghị định (hoặc quyết định/nghị quyết/chỉ thị) của
Trang 22Chính phủ Luật ban hành quy phạm pháp luật quy định về thông tư như sau:
“Thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành để hướng dẫn thực hiện những quy định được luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ giao thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách”
Khái niệm “Liên bộ” có thể được hiểu là giữa hai hoặc nhiều bộ và cũng được hiểu rộng hơn, là giữa các bộ với các tổ chức xã hội khác
Đây là những loại văn bản hướng dẫn thực hiện các chính sách mà chính phủ ban hành hoặc chính phủ hướng dẫn một chính sách ban hành dưới dạng một đạo luật của quốc hội
Về nguyên tắc, cấp bộ, cũng như uỷ ban nhân dân các tỉnh/thành phố chỉ có thẩm quyền hướng dẫn thực hiện chính sách của cấp trên, mà không có thẩm quyền quyết định các chính sách Tuy nhiên, các cấp này có thể vận dụng chính sách chung để cụ thể hoá thành các chính sách của mình, nhưng không được trái với chính sách chung của chính phủ
Trong Luận văn này, thông tư với tư cách là vật mang chính sách KH&CN bao gồm: Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp
1.2.2.5 Các văn bản khác
Nghị quyết Đảng, Nghị quyết, ý kiến kết luận của Bộ Chính trị đưa ra định hướng chính sách phát triển KH&CN Để thực hiện các định hướng này cần phải nghiên cứu và ban hành hàng loạt chính sách cụ thể có liên quan như chính sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, chính sách chuyển giao công nghệ, chính sách đối với SHTT… Đây là một đặc thù cần phải nhắc đến đối với thực tiễn ở Việt Nam
Trang 2317
1.3 Chuyển giao công nghệ
1.3.1 Khái niệm công nghệ
Công nghệ theo hiểu theo nghĩa hẹp các phương pháp, giải pháp kỹ thuật trong các dây chuyền sản xuất và xây dựng… Khái niệm về công nghệ thời gian gần đây đã có nhiều thay đổi, có nhiều quan niệm khác nhau về công nghệ
Ngân hàng thế giới năm 1985 đã đưa ra định nghĩa Công nghệ là phương pháp chuyển hoá các nguồn thành sản phẩm , gồm 3 yếu tố:
- Thông tin về phương pháp
- Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá
- Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao ?
Theo định nghĩa này công nghệ có bản chất là thông tin, công cụ, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành sản phẩm
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO) thì khái niệm Công nghệ được hiểu là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và phương pháp xác định
Theo ESCAP - Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á và Thái Bình Dương
đưa ra định nghĩa khác về công nghệ: công nghệ là hệ thống tri thức về quy trình và kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm tất cả các kỹ
năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, thông tin, dịch vụ công nghiệp và dịch vụ quản lý
UNCTAD (1972) đưa ra định nghĩa Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy, nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hoá được thể hiện ở những dạng sau:
- Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn vớí các quyết định đầu tư
Trang 24- Nhân lực, thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực
có trình độ cao và chuyên môn sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và
kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin
- Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền
Định nghĩa này cho thấy về bản chất công nghệ là tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin, đồng thời có mục tiêu đầu vào cần thiết cho sản xuất
SHARIF (1986) cho rằng Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối
ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hoá
Cụ thể hơn, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm
4 dạng cơ bản:
- Dạng vật thể (Vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh)
- Dạng con người (Kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm)
- Dạng ghi chép (Bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp v.v được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu v.v)
- Dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp v.v)
Công nghệ theo nghĩa này có bản chất là vật thể (thiết bị, máy móc) còn gọi là phần kỹ thuật (technoware); con người, phần con người (Humanware); ghi chép, phần thông tin (Infoware); thiết chế tổ chức, phần tổ chức (Orgaware); có mục tiêu: để sử dụng tối ưu, để tác động vào các yếu tố môi
trường vật chất, xã hội, văn hoá
Điều 2.2 Luật KH&CN định nghĩa: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Công nghệ ở định nghĩa này có thể là sáng chế,
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh (các đối tượng được
Trang 2519
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp), trong đó quan trọng nhất là sáng chế Điều
4.12 Luật SHTT định nghĩa: Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Công nghệ theo nghĩa này là tài sản vô hình
Nhưng công nghệ còn có thể được hiểu theo nghĩa rộng hơn, điều 3.2
Luật chuyển giao công nghệ định nghĩa: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Như vậy, công nghệ theo nghĩa này còn có thể là
tài sản hữu hình (công cụ, phương tiện) Nhân đây cũng cần nói thêm là công
cụ, phương tiện chỉ được hiểu là bộ phận của công nghệ trong lần chuyển giao đầu tiên quyền sử dụng cho một chủ thể, còn các lần chuyển giao tiếp theo (cho chính chủ thể đó) thì công cụ, phương tiện chỉ là hàng hóa bình thường
mà không được coi là một bộ phận của công nghệ
Các định nghĩa trên có điểm khác nhau về việc có hay không bao gồm
cả vật mang công nghệ, tuy nhiên trong thực tế việc sử dụng khái niệm công nghệ thường bao gồm cả vật mang công nghệ Định nghĩa công nghệ trong Luật KH&CN đi theo khuynh hướng lấy nghĩa rộng, bao gồm cả vật mang công nghệ
Một cách chung nhất, Luận văn đưa ra định nghĩa:
* Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại kiến thức, thông tin, bí
quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ
- Với cách quan niệm công nghệ là tri thức, thông tin và kỹ năng, nếu xét theo khía cạnh lý thuyết công nghệ có thuộc tính: không bị cạn kiệt, tính phổ quát và sự phổ biến, tuy nhiên trên thực tế khi trở thành sở hữu riêng thì những thuộc tính trên sẽ mất đi Công nghệ còn có tính mới, tính sở hữu riêng
Trang 26- Dựa vào tính chất, tính mới, tính sở hữu riêng thì công nghệ có thể phân loại như sau:
+ Theo tính chất khai thác: Công nghệ công nghiệp, công nghệ để cung cấp dịch vụ
+ Theo mức độ phổ biến: công nghệ phổ biến của ngành, công nghệ chuyên biệt
1.3.2 Khái niệm chuyển giao công nghệ
Khái niệm chuyển giao công nghệ phụ thuộc vào khái niệm công nghệ nên cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau
Strunk (1986) khi tập trung vào vấn đề nhập công nghệ, đã cho rằng chuyển giao công nghệ là việc có được công nghệ nước ngoài và là một quá trình vật chất (trí tuệ), là một quá trình về cơ bản một mặt đi liền với việc đào tạo toàn diện và mặt khác là sự hiểu biết và học hỏi
Theo UNCTAD (1982) “chuyển giao công nghệ là việc chuyển giao kiến thức có hệ thống để sản xuất ra sản phẩm, áp dụng một quy trình hoặc thực hiện một dịch vụ” Theo định nghĩa này bản chất chuyển giao công nghệ
là quá trình chuyển giao kiến thức để sản xuất, áp dụng và thực hiện dịch vụ…
Nawaz Shaif (1983) cho rằng, “chuyển giao công nghệ thường là cách gọi việc mua công nghệ mới nó thường xảy ra do có sự tồn tại của người mua và người bán Người bán thường được gọi là người giao và người mua thường được gọi là người nhận của quá trình công nghệ“ Chuyển giao công
Trang 2721
Dunning (1982) định nghĩa “chuyển giao công nghệ liên quan đến phương thức một nước tiếp nhận công nghệ (thu nhận) hoặc khả năng công nghệ từ nước khác Nó cũng bao gồm bất kỳ hình thức chuyển giao một công nghệ giữa các hình thái tổ chức hoặc trong nội bộ một tổ chức” Theo định
nghĩa này bản chất của chuyển giao công nghệ là phương thức thu nhận công nghệ hoặc khả năng công nghệ giữa các địa điểm hoặc chủ thể khác nhau
Các định nghĩa trên đưa ra khái niệm khác nhau về chuyển giao công nghệ, cách hiểu bản chất và phạm vi của từng định nghĩa có khác nhau nhưng trong đó nổi lên hai nhóm thuật ngữ về đối tượng chuyển giao và mục đích của chuyển giao:
- Đối tượng của chuyển giao: có thể là kiến thức (hoặc các hoạt động liên quan đến kiến thức như đào tạo, bồi dưỡng …); thông tin; thiết bị
- Mục đích của chuyển giao: để sản xuất, áp dụng các quy trình và thực hiện dịch vụ; giải quyết các vấn đề xã hội và thương mại… Nhấn mạnh đến việc thay đổi môi trường công nghệ: sang một địa điểm khác, một môi trường khác
Chuyển giao công nghệ có thể diễn ra:
- Từ một ngành công nghiệp sang ngành khác
- Từ một tổ chức này sang tổ chức khác
- Trên quy mô quốc tế:
+ Giữa 2 nước phát triển
+ Giữa 2 nước đang phát triển
+ Giữa một nước phát triển và đang phát triển
Hội nghị của NATO (1975) đã đưa ra: chuyển giao công nghệ có thể được định nghĩa theo một số cách như sau:
Định nghĩa 1: chuyển giao công nghệ là:
- Quá trình truyền thông tin giữa khoa học, kỹ thuật và việc sử dụng các
dữ kiện, ý đồ khoa học vào sản xuất và dịch vụ:
- Chuyển các kết quả nghiên cứu sang khu vực áp dụng;
Trang 28- Quá trình là cho thông tin xuất hiện ở một môi trường này thích ứng được với việc sử dụng trong một môi trường khác
Bản chất là một quá trình chuyển thông tin dưới dạng kiến thức khoa học (dữ kiện, ý đồ, kết quả nghiên cứu) để sử dụng ở môi trường mới
Định nghĩa 2: chuyển giao công nghệ là quá trình thông qua để người
ta tìm ra cách giải quyết các vấn đề trong các chương trình xã hội hoặc thương mại dưới hình thứ sử dụng các kiến thức khoa học và kỹ thuật cũng như các trang thiết bị đã có
Bản chất là quá trình sử dụng kiến thức khoa học và kỹ thuật và thiết bị
để giải quyết vấn đề xã hội và thương mại
Định nghĩa 3: Nếu thông tin khoa học hoặc kỹ thuật được sản sinh
và/hoặc sử dụng ở một lĩnh vực khác thì quá trình đó được gọi là chuyển giao công nghệ
Bản chất là quá trình sản sinh và/hoặc sử dụng thông tin ở một môi trường khác
Định nghĩa 4: chuyển giao công nghệ là việc sử dụng công nghệ cho
một mục đích khác so với mục đích mà công nghệ đó được tạo ra
Bản chất là việc sử dụng công nghệ cho một mục đích khác (mới) Qua một số định nghĩa trên đây, có thể thấy được những vấn đề sau:
- Tùy thuộc vào khái niệm "chuyển giao" mà thuật ngữ "chuyển giao công nghệ" cũng sẽ có hai cách hiểu chính về bản chất của chuyển giao:
+ Chỉ là mua bán công nghệ (chuyển giao mất tiền)
+ Không chỉ là mua bán công nghệ (bao gồm cả chuyển giao mất tiền
và không mất tiền)
Định nghĩa 4 của Sharif là đặc trưng cho cách hiểu thứ nhất Các định nghĩa còn lại đều cho thấy cách hiểu rộng hơn và không nhấn mạnh đến khía cạnh thương mại của chuyển giao Khái niệm "chuyển giao" được thể hiện:
- Quá trình vật chất (đào tạo và học hỏi)
- Phương thức thu nhận (công nghệ)
- Quá trình sản sinh, truyền và sử dụng (thông tin)
Trang 2923
Các dạng thức này đều rất rộng và trong đó việc mua bán chỉ là một phần (tuy rất quan trọng)
Bên cạnh bản chất của chuyển giao, trong các định nghĩa còn thấy xuất
hiện hai loại nhóm thuật ngữ đối tượng của chuyển giao và mục đích của chuyển giao
- Đối tượng của chuyển giao (chuyển giao cái gì) có thể thấy:
+ Kiến thức (hoặc các hoạt động liên quan đến kiến thức như đào tạo, học hỏi )
+ Thông tin
+ Thiết bị
Thực ra việc nêu ra các đối tượng chuyển giao trong các định nghĩa là không cần thiết vì có thể nêu thẳng thuật ngữ "công nghệ" và đương nhiên hiểu nó ứng với các khái niệm về công nghệ đã được thống nhất từ trước Đến đây, chúng ta thấy rõ ràng là khái niệm "chuyển giao công nghệ" sẽ có nội dung tùy thuộc vào cách hiểu thuật ngữ "công nghệ" đã được quy ước trước
- Mục đích của chuyển giao (chuyển giao để làm gì) chúng ta thấy:
+ Để sản xuất, áp dụng quy trình và thực hiện dịch vụ
+ Giải quyết vấn đề xã hội và thương mại
Qua ba loại vấn đề được xem xét trên, trong một định nghĩa hợp lý về chuyển giao công nghệ có thể sẽ chỉ cần nhấn mạnh đến hai ý: bản chất của chuyển giao và mục đích của chuyển giao Riêng về đối tượng của chuyển giao có thể cho rằng đây thực chất là khái niệm về "công nghệ" một cách ngắn gọn
Trên khía cạnh pháp luật, Luật Chuyển giao công nghệ (2006) quy
định: “chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ”
Trên cơ sở những phân tích ở trên, Luận văn đưa ra định nghĩa:
Trang 30* Chuyển giao công nghệ là quá trình đưa công nghệ từ một môi trường này sang một môi trường khác bằng mọi hình thức khác nhau để sản xuất ra sản phẩm, thực hiện dịch vụ và cho các mục đích khác
Cách hiểu này sẽ rộng hơn cách hiểu cho rằng chuyển giao công nghệ thực chất chỉ là việc mua bán công nghệ
1.3.3 Hình thức và nội dung chuyển giao công nghệ
Các hình thức chuyển giao công nghệ:
- Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ;
- Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ (còn gọi là license công nghệ);
- Chìa khóa trao tay (Turn-Key, Clé en main): chủ sở hữu công nghệ
chỉ cam kết chuyển giao công nghệ vận hành được cho doanh nghiệp sử dụng
- Sản phẩm trao tay (Produit en main) : chủ sở hữu công nghệ cam kết
chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp sử dụng và đảm bảo rằng có loạt sản phẩm được sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ đó
- Thị trường trao tay (Marché en main): chủ sở hữu công nghệ cam kết
chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp sử dụng và đảm bảo rằng có sản phẩm được sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ đó, đồng thời chia sẻ thị phần tiêu thụ chính sản phẩm đó
Các hình thức độc quyền trong license công nghệ:
- License độc quyền (Exclusive License) : Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng độc quyền, đó là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên được chuyển quyền được độc quyền sử dụng công nghệ, bên chuyển quyền không được ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ với bất kỳ bên thứ ba nào và chỉ được sử dụng công nghệ đó nếu được phép của bên được chuyển quyền
- License không độc quyền (Non Exclusive License) : Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng không độc quyền, đó là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao quyền sử dụng, bên chuyển quyền vẫn
có quyền sử dụng công nghệ, quyền ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ không độc quyền với người khác
Trang 3125
Cần phải xác định rõ những trường hợp sau đây:
- Trường hợp 1: trong phạm vi lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực, cần phải làm rõ thuật ngữ sử dụng trong định nghĩa trên, mặc dù bên chuyển giao không sử dụng công nghệ trong lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực, nhưng bên chuyển giao có được quyền bán sản phẩm được áp dụng công nghệ trên lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực không? Nếu không trả lời được câu hỏi này thì quyền lợi của bên nhận chuyển giao có thể bị ảnh hưởng
- Trường hợp 2: quyền ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ không độc quyền với người khác vẫn thuộc về bên chuyển giao, nhưng cần làm rõ phạm
vi hoạt động của người khác đó là trên lãnh thổ nào? Nếu người khác đó không sử dụng đối tượng được chuyển giao trên lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực thì có quyền bán sản phẩm được áp dụng công nghệ trên lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực không?
- License sơ cấp (Primary License): Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng giữa bên chuyển quyền sử dụng là chủ sở hữu đối tượng được chuyển giao và bên nhận chuyển giao quyền sử dụng công nghệ
Trong hợp đồng này, nếu có quy định bên nhận chuyển giao được quyền tiếp tục ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ với chủ thể/các chủ thể khác thì hợp đồng tiếp theo này được gọi là hợp đồng License thứ cấp
- License thứ cấp (Sublicense): Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ giữa bên chuyển giao (không là chủ sở hữu công nghệ mà chỉ là bên nhận chuyển giao) với bên nhận chuyển giao khác quyền sử dụng công nghệ
Cần lưu ý rằng phạm vi quyền sử dụng công nghệ trong hợp đồng License thứ cấp không được phép vượt phạm vi quyền sử dụng công nghệ trong hợp đồng License sơ cấp tương ứng.4
Các phương thức chuyển giao công nghệ:
- Chuyển giao công nghệ trực tiếp từ bên sở hữu công nghệ đến doanh nghiệp sản xuất;
Trang 32
- Chuyển giao công nghệ thông qua các chương trình hỗ trợ của nhà nước hoặc địa phương;
- Chuyển giao công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu và triển khai với địa phương
Các loại chuyển giao công nghệ:
- Chuyển giao công nghệ mới: thường do các cơ quan nghiên cứu tạo ra công nghệ ở trong hoặc ngoài nước thực hiện, hay từ kết quả nghiên cứu, qua quá trình triển khai công nghệ và được thương mại hoá Đây là hình thức chuyển giao dọc hay còn gọi là chuyển giao công nghệ nội bộ
- Chuyển giao công nghệ ở dạng truyền bá: là việc chuyển giao công nghệ đã hoàn chỉnh từ bên chuyển giao sang bên nhận chuyển giao hay là sự chuyển giao từ cơ sở đã áp dụng công nghệ này sang cơ sở khác nhằm mục đích mở rộng ứng dụng và sở hữu công nghiệp trong sản xuất Chuyển giao công nghệ này còn được gọi là chuyển giao công nghệ ra bên ngoài hay chuyển giao công nghệ ngang
- Loại công nghệ được chuyển giao có thể là công nghệ nội sinh (trong nước) và công nghệ ngoại nhập
Đối tượng công nghệ được chuyển giao:
Có thể phân ra các đối tượng công nghệ được chuyển giao sau: (1) Chuyển giao phần cứng sản xuất bao gồm: các vật liệu, thiết bị máy móc; (2) Chuyển giao phần cứng tổ chức bao gồm: các thiết bị, phương tiện vận chuyển phục vụ gián tiếp hoạt động sản xuất; (3) Chuyển giao tài liệu sản xuất bao gồm: các bí quyết công nghệ, patent; sơ đồ và hướng dẫn vận hành, các tiêu chuẩn sản xuất; (4) Chuyển giao tài liệu tổ chức bao gồm: các tài liệu
sử dụng cho hoạt động quản lý như quản lý nhân sự, quản lý chất lượng, điều hành cơ sở sản xuất, kiểm soát tài chính; (5) Chuyển giao các kỹ năng sản xuất bao gồm: các kỹ năng và kinh nghiệm vận hành sản xuất
Trang 3327
1.3.4 Phân loại chuyển giao công nghệ
Do hoạt động chuyển giao có nhiều đặc tính, đặc thù và hết sức đa dạng phức tạp, nên có nhiều quan điểm, nhiều cách phân loại CGCN Sau đây là một số cách phân loại thường gặp trong giao dịch công nghệ
a Theo hình thái công nghệ được chuyển giao
- Chuyển giao theo chiều dọc: là quá trình di chuyển công nghệ từ
nghiên cứu trong phòng thí nghiệm qua các giai đoạn triển khai và cuối cùng
là công nghệ hoàn thiện (có nghĩa là công nghệ chưa được đưa vào sản xuất đại trà)
- Chuyển giao theo chiều ngang: là quá trình di chuyển công nghệ đã
được hoàn thành chế tạo, từ một môi trường hoạt động này tới một môi trường hoạt động khác (có nghĩa là công nghệ đã được sản xuất đại trà)
b Theo chủ thể CGCN
nghiên cứu phát triển cho bộ phận sản xuất trong nội bộ nhà máy, xí nghiệp hoặc cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
tổ chức, cá nhân có đủ quyền CGCN đến tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp
nhận CGCN trong phạm vi một quốc gia (giữa nhà máy và nhà máy, giữa xí nghiệp và xí nghiệp, giữa cơ sở nghiên cứu khoa học và nhà máy, giữa trường đại học với nhà máy, xí nghiệp )
nghệ giữa các tổ chức, cá nhân trong nước có đủ thẩm quyền CGCN với các
tổ chức cá nhân nước ngoài có nhu cầu tiếp nhận công nghệ trong phạm vi giữa các quốc gia
công nghệ giữa các tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền CGCN với các tổ chức, cá nhân trong nước có nhu cầu tiếp nhận công nghệ trong phạm vi giữa các quốc gia
c Theo nội dung công nghệ
Trang 34- Công nghệ chế tạo o: Chỉ sự CGCN về các phương diện như thiết bị,
vật liệu sản xuất mục đích là chế tạo sản phẩm
kế khai thác phát triển sản xuất, ứng dụng công nghệ, tài liệu thuyết minh công nghệ, số liệu tính toán và tư liệu ban đầu
như quản lý đặc biệt mà xí nghiệp hoặc cơ quan nghiên cứu khoa học triển khai thành công, hoặc công nghệ quản lý về tài vụ, vật tư, nhân sự, tư vấn, buôn bán
d Theo dòng công nghệ được lưu chuyển
- CGCN giữa các nước công nghiệp phát triển: chủ yếu là mua bán
thiết bị, công nghệ, các bí quyết kỹ thuật, các sáng chế, phát minh, các sản phẩm KH&CN
- CGCN giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển: phần lớn là CGCN đã tương đối lạc hậu
- CGCN giữa các nước đang phát triển với các nước kém phát triển:
chủ yếu khai thác nguyên liệu thô, tận dụng nhân công lao động rẻ, thu hồi vốn nhanh
e Theo loại hình công nghệ chuyển giao
- CGCN sản phẩm: Bao gồm các công nghệ thiết kế sản phẩm (chủ yếu
là các phần mềm thiết kế, các kỹ thuật mô phỏng, các số liệu để thiết kế sản phẩm), công nghệ sử dụng sản phẩm (chủ yếu là các phần mềm sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa khi có sự cố, các thông tin liên quan đến vận hành tối ưu)
- CGCN quá trình: bao gồm các quy trình công nghệ để chế tạo, sản
xuất sản phẩm đã được thiết kế (công nghệ sản xuất) và công nghệ dịch vụ
f Theo các vật mang công nghệ được chuyển giao
- Chuyển giao thông qua tài liệu kỹ thuật (các kiến thức công nghệ
dưới dạng giải pháp kỹ thuật, bí quyết, phần mềm máy tính, công thức, bản
vẽ, sơ đồ kỹ thuật)
Trang 3529
- Chuyển giao thông qua con người (các chuyên gia, các nhà khoa học,
công nghệ; công nhân kỹ thuật lành nghề)
- Chuyển giao thông qua công cụ, phương tiện kỹ thuật (máy móc, thiết
bị, dây chuyền sản xuất đồng bộ, nhà máy dạng chìa khóa trao tay)
g Theo hoạt động đầu tư kinh doanh
- CGCN thông qua hoạt động đầu tư dưới các hình thức: dự án đầu tư
trong nước, dự án FDI {dự án liên doanh, dự án 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT), Xây dựng - chuyển giao – kinh doanh (BTO), Xây dựng – chuyển giao (BT)}
- CGCN một cách độc lập: không phụ thuộc hoặc gắn với dự án đầu tư
dưới các hình thức hợp đồng mua bán công nghệ, máy móc thiết bị v.v
1.4 Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến chuyển giao công nghệ
1.4.1 Tác động dương tính
Tác động dương tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới
Chính sách KH&CN tác động dương tính đến hoạt động CGCN, có thể nhận thấy tác động này được thể hiện:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc CGCN từ khu vực nghiên cứu sang khu vực sản xuất, kinh doanh;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam
1.4.2 Tác động âm tính
Tuy nhiên, sau khi công bố một chính sách, không phải khi nào cũng chỉ có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính Tác động âm tính xuất hiện là một tất yếu khách quan, hơn nữa, tác động âm tính chính là cơ sở
để suy xét ban hành những chính sách ngày càng có vai trò tích cực hơn trong
Trang 36quá trình phát triển xã hội Vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng
các tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách
Tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách Chính sách KH&CN tác động
âm tính đến hoạt động CGCN, có thể nhận thấy tác động này được thể hiện:
- Do chỉ dựa vào công nghệ nhập khẩu dẫn đến năng lực KH&CN của các tổ chức nghiên cứu và triển khai trong nước bị hạn chế
- Do chỉ dựa vào công nghệ nhập khẩu dẫn đến năng lực cải tiến công nghệ của doanh nghiệp bị hạn chế
- Do chỉ dựa vào công nghệ nhập khẩu dẫn đến tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất không thể được nâng cao, trái ngược với dự kiến của các nhà hoạch định chính sách
1.4.3 Tác động ngoại biên
Tác động ngoại biên của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự liệu của cơ quan quyết định của chính sách Trong tác động ngoại biên, người ta lại có thể thấy xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính
Tác động ngoại biên dương tính, là tác đông ngoại biên góp phần nâng
cao hiệu quả của chính sách Chính sách KH&CN tác động ngoại biên dương tính đến hoạt động CGCN, có thể nhận thấy tác động này được thể hiện:
- Năng lực công nghệ của các doanh nghiệp nhận CGCN từ khu vực nghiên cứu sang khu vực sản xuất và kinh doanh, từ nước ngoài vào Việt Nam được nâng cao
- Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhận CGCN từ khu vực nghiên cứu sang khu vực sản xuất và kinh doanh, từ nước ngoài vào Việt Nam được nâng cao
Trang 3731
Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm
thiểu hiệu quả của chính sách Chính sách KH&CN tác động ngoại biên âm tính đến hoạt động CGCN, có thể nhận thấy tác động này được thể hiện:
- Do nhận CGCN có trình độ thấp từ nước ngoài vào Việt Nam, mà Việt Nam có thể biến thành “bãi rác thải công nghệ„ của thế giới
- Do nhận CGCN có trình độ thấp từ nước ngoài vào Việt Nam, mà năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bị hạ thấp
- Do nhận CGCN có trình độ thấp từ nước ngoài vào Việt Nam, mà thu nhập của nhân công làm trong các doanh nghiệp này thấp
1.4.4 Môi trường của chính sách
Khái niệm môi trường được trình bày trong Lý thuyết hệ thống: “Môi trường là tập hợp các yếu tố thuộc các hệ thống nằm ngoài hệ thống được xem xét và có quan hệ tương tác với hệ thống được xem xét”
Chính sách phải đặt trong khuôn khổ của môi trường pháp lý, giữa chính sách và môi trường pháp lý có quan hệ tương tác, trong đó, chính sách không vượt khỏi các ràng buộc của pháp luật Một mặt khác, theo chiều ngược lại, chính sách tạo ra những biến động trong môi trường pháp lý và tạo tiền đề cho sự thay đổi pháp luật.5
Chính sách KH&CN - với vai trò tác động đến hoạt động CGCN - không thể đứng độc lập, mà nó được đặt trong môi trường pháp lý, ví dụ: chính sách đánh thuế cao đối với hàng nhập khẩu có thể là lực cản cho việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp, chính sách kiểm soát sáng chế, thiết kế mạch tích hợp bán dẫn và các đối tượng khác của quyền SHTT đối với hàng xuất khẩu gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu, làm thiệt hại cho các doanh nghiệp
Mặt khác, hoạt động CGCN cũng có thể tác động ngược trở lại đối với chính sách KH&CN và các chính sách khác Làm động lực cho các cơ quan quản lý nghiên cứu, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp
Trang 38với thực tế và phù hợp với luật pháp quốc tế quy định cho các thành viên WTO - mà Việt Nam là quốc gia thành viên
* Kết luận chương 1
Trong chương 1, Luận văn đã khảo sát cơ sở lý luận về tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động CGCN, trong đó nhấn mạnh đến:
- Chính sách KH&CN tác động dương tính đến hoạt động CGCN:
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc CGCN từ khu vực nghiên cứu sang khu vực sản xuất, kinh doanh;
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam
- Chính sách KH&CN tác động ngoại biên dương tính:
+ Năng lực công nghệ của các doanh nghiệp được nâng cao
+ Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp được nâng cao
- Chính sách KH&CN tác động âm tính đến hoạt động CGCN:
+ Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp bị hạn chế
+ Tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất không thể được nâng cao, trái ngược với dự kiến của các nhà hoạch định chính sách
- Chính sách KH&CN tác động ngoại biên âm tính:
+ Việt Nam có thể biến thành “bãi thải công nghệ„ của thế giới
+ Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bị hạn chế
+ Thu nhập của nhân công làm trong các doanh nghiệp này thấp
Luận văn sẽ chứng minh những tác động vừa nêu trong chương 2, thông qua khảo sát tại các doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Trang 3933
CHƯƠNG 2
TÁC ĐỘNG DƯƠNG TÍNH VÀ TÁC ĐỘNG NGOẠI BIÊN
DƯƠNG TÍNH CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
2.1.1 Hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trong những năm qua, doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Cơ cấu, quy mô, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp chuyển biến phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh đã có những đóng góp quan trọng vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, góp phần tích cực vào việc giải quyết công ăn, việc làm, tham gia giảm nghèo và thực hiện các chính sách xã hội khác
Toàn tỉnh hiện nay có 4.715 doanh nghiệp với tổng vốn điều lệ đã đăng
ký là 21.361 tỷ đồng
Doanh nghiệp trong nước: Nếu như năm 2006 có 382 doanh nghiệp
thành lập mới với số vốn đăng ký là 1.375,582 tỷ đồng (bình quân 3,6 tỷ đồng/doanh nghiệp) Thì đến năm 2010, có 748 doanh nghiệp (tăng 96% so với năm 2006), số vốn đăng ký là 11.350,45 tỷ đồng (tăng gấp 7 lần so với năm 2006), bình quân 15,17 tỷ đồng/doanh nghiệp (tăng gấp 5 lần so với năm 2006)
Năm 2011 cộng đồng doanh nghiệp chịu tác động do những khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và trong nước nhưng số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn không ngừng được tăng lên Tính đến thời điểm 30/9/2011, Tỉnh đã có thêm 717 doanh nghiệp trong nước bằng 96% số doanh nghiệp thành lập mới của cả năm 2010
Trang 40Doanh nghiệp FDI: Tính đến nay, tỉnh Bắc Ninh có 325 đơn vị FDI
trong đó 308 doanh nghiệp FDI và 17 chi nhánh, văn phòng đại diện còn hoạt động với tổng vốn đăng ký 3.386,4 triệu USD Tính riêng 9 tháng đầu năm
2011, Bắc Ninh đã thành lập mới cho 43 doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 179,19 triệu USD
Năm 2006 khu vực doanh nghiệp thu hút 63.032 lao động, đến 2010 là 119.081 lao động Bình quân mỗi năm, khu vực doanh nghiệp thu hút thêm gần 14.012 lao động Lao động trong khu vực doanh nghiệp chiếm 21% lao động toàn tỉnh
Về thu nhập: thu nhập bình quân của 1 lao động trong khu vực doanh nghiệp đạt 2,023 triệu đồng/tháng (trong đó doanh nghiệp FDI là: 2,425 triệu đồng/lao động/tháng)
Năm 2010 giá trị sản xuất đạt 107.953,5 tỷ đồng gấp 2,2 lần so với năm
2006, trong đó doanh nghiệp nhà nước đạt 9.388,6 tỷ đồng; doanh nghiệp khu vực tư nhân đạt: 24.394,8 tỷ đồng và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 74.170,1 tỷ đồng Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2010 đạt 3.452,503 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp nhà nước đạt 496,8
tỷ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.207 tỷ, doanh nghiệp tư nhân đạt 748,70 tỷ
Tỷ trọng đóng góp của khu vực doanh nghiệp vào GDP tăng nhanh, năm 2006 chiếm 48,4%, năm 2010 là 65%
Các loại hình doanh nghiệp đóng góp vào ngân sách nhà nước với tốc độc gia tăng bình quân qua các năm là 33,9% Năm 2006, đóng góp của doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước là 460,8 tỷ đồng, đến năm 2010 là 2039,8 tỷ đồng, chiếm 38,26% tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bình quân các năm từ 2006-2009 là 74,47% Tính riêng năm 2010, hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp có bước “nhảy vọt”, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 2.190 triệu USD, vượt 74,8% KH năm, tăng 182,9% so với cùng kỳ 9