Để hỗ trợ các DN tiến hành hoạt động ĐMCN, Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ trong đó sử dụng các công cụ tài chính nhằm hỗ trợ DN đầu tư vào hoạt động KH&CN được xem là công cụ hữu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM NGỌC THANH
Hà Nội, 2010
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC HÌNH 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
3 Mục tiêu nghiên cứu 11
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 12
5 Mẫu khảo sát 12
6 Câu hỏi nghiên cứu 12
7 Giả thuyết nghiên cứu 13
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 13
9 Kết cấu của luận văn 14
CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ, VAI TRÒ CỦA CÔNG CỤ HỖ TRỢ VỀ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC NHẰM THÚC ĐẨY ĐMCN VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG LĨNH VỰC NÀY 15
1.1 Công nghệ 15
1.1.1 Khái niệm công nghệ 15
1.1.2 Khái niệm đổi mới công nghệ 16
1.1.3 Đầu tư tài chính cho đổi mới công nghệ ĐMCN 19
1.2 Vai trò của công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước trong việc thúc đẩy ĐMCN 19
1.2.1 Sự cần thiết SDCCHT về tài chính của nhà nước cho hoạt động ĐMCN 19
1.2.2 Vốn ngân sách và vai trò của ngân sách trong việc thúc đẩy ĐMCN 22
1.2.3 Vốn tín dụng và vai trò của tín dụng trong việc thúc đẩy ĐMCN 22
1.2.4 Chính sách thuế và vai trò của thuế trong việc thúc đẩy ĐMCN 26
1.3 Kinh nghiệm một số quốc gia về SDCCHT tài chính của Nhà nước thúc đẩy ĐMCN 28
1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 28
Trang 31.3.2 Trung Quốc 31
1.3.3 Malayxia 32
1.3.4 Đài Loan 33
1.3.5 Thái Lan 34
1.3.6 Singapore 34
1.3.7 Vương Quốc Anh 35
1.3.8 Liên bang Mỹ 36
1.3.9 Nhận xét kinh nghiệm nước ngoài 36
* Kết luận Chương 1 37
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ HỖ TRỢ VỀ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC NHẰM THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ (TRƯỜNG HỌP CÁC DNCBD TỈNH BẾN TRE) 38
2.1 Tổng quan tinh hình ĐMCN của các doanh nghiệp Việt Nam 38
2.2 Thực trạng ĐMCN trong các doanh nghiệp chế biến dừa của tỉnh Bến Tre 42
2.2.1 Tình hình phát triển và những đóng góp của ngành chế biến dừa 42
2.2.2 Thực trạng công nghệ và ĐMCN của DN chế biến dừa tỉnh Bến Tre 46
2.3 Tình hình SDCCHT về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN 53
2.3.1 Vốn ngân sách chi cho hoạt động KH&CN 53
2.3.2 Tín dụng cho hoạt động đổi mới công nghệ 58
2.3.3 Chính sách thuế cho hoạt động ĐMCN 63
2.3.4 Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân chủ yếu trong việc SDCCHT về tài chính của nhà nước thúc đẩy ĐMCN 68
* Kết luận Chương 2 71
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU SỬ DỤNG CÔNG CỤ HỖ TRỢ VỀ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC NHẰM THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ (TRƯỜNG HỌP CÁC DNCBD TỈNH BẾN TRE) 72
3.1 Định hướng SDCCHT về tài chính của nhà nước thúc đẩy ĐMCN 72
3.2 Một số giải pháp SDCCHT về tài chính của Nhà nước thúc đẩy ĐMCN 74
3.2.1 Nhóm giải pháp chung 74
3.2.2 Tăng cường Đầu tư và sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước 76
Trang 43.2.3 Chính sách tín dụng 77
3.2.4 Chính sách thuế 80
3.2.5 Huy động các nguồn đầu tư cho hoạt động ĐMCN 81
3.2.6 Tăng cường vai trò của DN 83
3.2.7 Giải pháp riêng cho ngành chế biến dừa tỉnh Bến Tre 84
* Kết luận Chương 3 86
KẾT LUẬN 88
KHUYẾN NGHỊ 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 94
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Đề mục Trang
Bảng 2.1: Đầu tư của 1 chương trình, dự án KH&CN trong DN ……… ……… 39
Bảng 2.2: Diện tích và sản lượng dừa tỉnh Bến Tre giai đoạn 2005-2009……….42
Bảng 2.3: Tình hình phát triển cơ sở và DNCBD giai đoạn 2001-2005 và 2009 ………… 43
Bảng 2.4: Sản lượng và chủng loại các sản phẩm NCBD giai đoạn 2005-2009………43
Bảng 2.5: Tình hình vốn đầu tư của NCBD dừa giai đoạn 2001-2005 và 2009 ………… 44
Bảng 2.6: Tình hình lao động NCBD giai đoạn 2001-2005 và 2009 ……… 45
Bảng 2.7: Giá trị sản xuất NCBD giai đoạn 2001-2005 và 2009 ………44
Bảng 2.8: Tăng trưởng giá trị xuất khẩu của NCBD giai đoạn 2005-2009 46
Bảng 2.9: Điểm các thành phần công nghệ của DNCBD ……… 47
Bảng 2.10: Tỉ lệ phần trăm phân loại trình độ công nghệ của DNCBD ……… 48
Bảng 2.11: Điểm trình độ thành phần thiết bị của DNCBD ……… 48
Bảng 2.12: Điểm trình độ thành phần tổ chức của DNCBD ……… 49
Bảng 2.13: Điểm trình độ thành phần thông tin của DNCBD ……….50
Bảng 2.14: Điểm trình độ thành phần tổ chức của DNCBD……… 50
Bảng 2.15: Đầu tư ngân sách cho KH&CN của Việt Nam giai đoạn 2005-2009 ……… 54
Bảng 2.16: Tình hình hỗ trợ kinh phí cho các DN theo Nghị định 119 ……… 55
Bảng 2.17: Đầu tư cho hoạt động KH&CN tỉnh Bến Tre giai đoạn 2005-2009 56
Bảng 2.18: Chi ngân sách sự nghiệp KH&CN cho R&D và ĐMCN giai đoạn 2005 -2009…… 57
Bảng 2.19: Chi khuyến công và hỗ trợ ĐMCN ngành chế biến dừa 58
Bảng 2.20: Dư nợ tín dụng của DN trong tỉnh giai đoạn 2005-2009 60
Bảng 2.21: Dư nợ tín dụng Đầu tư phát triển giai đoạn 2005-2009 62
Bảng 2.22: Tình hình thu và chi ngân sách giai đoạn 2005 -2009 66
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Đề mục Trang
Hình 1.1: Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu ……… …… 18
Hình 1.2: Hệ thống khuyến khích về tài chính cho phát triển công nghệ của Hàn Quốc… 29
Hình 2.1: Đầu tư cho ĐMCN của DN ……… ……… 38
Hình 2.2: So sánh điểm các thành phần công nghệ của DNCBD ………47
Hình 2.3: Tỉ lệ phần trăm phân loại trình độ công nghệ của DNCBD ……… 48
Hình 2.4: Điểm trình độ thành phần thiết bị của DNCBD ……….48
Hình 2.5: Điểm trình độ thành phần nhân lực của DNCBD ……… 49
Hình 2.6: Điểm trình độ thành phần thông tin của DNCBD ……… 50
Hình 2.7: Điểm trình độ thành phần tổ chức của DNCBD ……… 51
Hình 2.8: Tỷ trọng chi ngân sách sự nghiệp KH&CN cho R&D và ĐMCN ……….57
Hình 2.9: Tăng trưởng dư nợ tín dụng của các Ngân hàng thương mại tỉnh Bến Tre … 61
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang tiến trình hội nhập và thực hiện cải cách kinh tế sâu rộng Đổi mới công nghệ doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ ưu tiên của công cuộc cải cách là giải pháp quan trọng nhằm tăng cường sức mạnh của khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia dựa trên nền tảng là khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là phương tiện có ý nghĩa quyết định đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, sự phát triển toàn diện của đất nước trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và hội nhập Quốc tế
Tuy nhiên, không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng đổi mới công nghệ bởi những hạn chế vốn có của doanh nghiệp về vốn, nhân lực, trình độ công nghệ hay những yếu tố bên ngoài như nhu cầu về cải tiến sản phẩm, rủi ro khi đầu tư, chính sách tài chính, thuế … cho ĐMCN (xem Feldman và cộng sự: 2002; Link: 1996, Tuyên: 2007)
Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô đối với sự phát triển kinh tế - xã hội có vai trò “điều chỉnh những khiếm khuyết của thị trường” hỗ trợ các DN đầu tư cho hoạt động KH&CN nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm và của DN, nền tảng của khả năng cạnh tranh quốc gia Để hỗ trợ các DN tiến hành hoạt động ĐMCN, Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ trong đó sử dụng các công cụ tài chính nhằm hỗ trợ DN đầu tư vào hoạt động KH&CN được xem là công cụ hữu hiệu thúc đẩy hoạt động ĐMCN của DN Tuy nhiên, những công cụ chính sách này được thiết kế như thế nào là hợp lý phải được đặt trong bối cảnh của từng quốc gia, trong từng giai đoạn và đối với từng loại hình DN (là các đối tượng thụ hưởng) nhất định
Các DN Việt Nam nói chung, các DN chế biến dừa của tỉnh Bến Tre nói riêng đóng vai trò tích cực và ngày càng lớn vào quá trình tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, giải quyết lao động và việc làm Trong điều kiện bị hạn chế bởi các nguồn lực, nhất là nguồn
lực tài chính cho hoạt động ĐMCN Việc nghiên cứu sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của Nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN (nghiên cứu trường họp các doanh nghiệp chế biến dừa tỉnh Bến Tre) là rất cần thiết có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn đối với việc thúc
đẩy ĐMCN nâng cao năng lực cạnh tranh của DN, nhất là các doanh nghiệp chế biến dừa của tỉnh Bến Tre
Trang 92 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chính sách tài chính cho KH&CN đã được giới nghiên cứu, hoạch định chính sách ở Việt Nam quan tâm, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đã được công bố trên các tạp chí, ấn phẩm Có thể kể đến một số công trình như:
- Nghiên cứu của Trần Ngọc Ca (2000) “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động ĐMCN và nghiên cứu - triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam”, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ (Viện Chiến lược và
Chính sách KH&CN chủ trì, 2000) đã đề cập về 2 mảng chính sách (tài chính và nhân lực) ảnh hưởng đến ĐMCN của DN Bên cạnh những điểm tích cực của những chính sách này cũng cho thấy có sự chưa phù hợp của môi trường chính sách với nhu cầu của hoạt động ĐMCN trong DN;
- Nghiên cứu của các tác giả Hoàng Trọng Cư, Nguyễn Lan Anh, Nguyễn Minh
Hạnh và một số người khác (1999) “Nghiên cứu vấn đề thuế trong hoạt động khoa học và công nghệ” , Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Viện (Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN,
1999) cho thấy rằng bên cạnh những tác động tích cực, các văn bản thuế này còn bộc lộ một
số điểm không phù hợp Ngoài ra, còn có sự phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp (quy mô, sở hữu) khác nhau, tạo ra một môi trường cạnh tranh không bình đẳng;
- Vũ Cao Đàm (2003) “Đổi mới chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN”, Báo cáo
tổng hợp đề tài cấp Viện (Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN) đề cập đến tín dụng cho hoạt động KH&CN cho thấy rằng tín dụng đối với hoạt động KH&CN hầu như không phát huy được hiệu quả, do sự khác nhau giữa bản chất hoạt động của ngân hàng và hoạt động KH&CN;
nghệ thích hợp ở các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
cần phải phân tích tình hình công ngh ệ trong mối quan hê ̣ chă ̣t chẽ với các yếu tố khác của
DN Ví dụ, một giải pháp tài trợ trung và dài ha ̣n cho các DN đầu tư ĐMCN là hoa ̣t đô ̣ng thuê mua Tuy vậy, để mở rộng hoạt động thuê mua , cần giải quyết mô ̣t số vấn đề như ta ̣o hành lang pháp lý , hoàn thiện hệ thống chính sách để hoạt động thuê mua phát triển Đồng thời cũng cần có các quy định pháp luật cụ thể về sở hữu, hơ ̣p đồng, luâ ̣t khuyến khích đầu tư, luâ ̣t thuế, thủ tục xuất nhập và trong pháp lệnh , luật ngân hàng cũng phải có quy đi ̣nh về các loa ̣i hình tổ chức thuê mua;
Trang 10- Nghiên cứu của Nguyễn Võ Hưng (2005) “Nghiên cứu cơ chế và chính sách KH&CN khuyến khích ĐMCN đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) có vốn Nhà nước” , Báo cáo
tổng hợp đề tài cấp Bộ (Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN chủ trì, 2005) chỉ ra rằng tuy còn thiếu những chính sách theo tư duy linh hoạt, hiện vẫn còn khá nhiều chính sách ưu đãi,
hỗ trợ cho DNV&N trong ĐMCN Hạn chế chung lớn nhất của những chính sách này là phần lớn chưa được thực hiện Nguyên nhân của tình trạng này là do: Thứ nhất, nhiều chính sách còn tham vọng, năng lực thực hiện chính sách (bao gồm cả khả năng về tài chính) của nhiều bộ, ngành, địa phương chưa cho phép thực hiện tốt chính sách đó; Thứ hai, là sự xung đột chính sách, dẫn đến chính sách bị giảm hiệu lực, thậm chí vô hiệu hoá; Thứ ba, là công tác phổ biến chính sách còn chưa tốt khiến nhiều chính sách tuy tiến bộ nhưng không được phổ biến nên cũng làm giảm hiệu lực;
- Nghiên cứu của Hoàng Xuân Long (2006) “Phân tích một số mô hình liên kết Viện nghiên cứu, Trường Đại học với DN để phát triển công nghệ mới”, Báo cáo tổng hợp đề tài
cấp Bộ (Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN chủ trì, 2006), tác giả đã chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến sự liên kết này, gồm: Lãnh đạo DN phải thực sự coi trọng khoa học và công nghệ Đồng thời thái độ đối với KH&CN phải thể hiện cụ thể ở các mặt như đầu tư kinh phí cho nghiên cứu và triển khai (R&D), chú trọng phát triển bộ phận R&D trong DN; có chiến lược phát triển kinh doanh và định hướng phát triển công nghệ rõ ràng; doanh nghiệp phải nắm vững thông tin và có khả năng phân tích về các đối tác cần liên kết; xây dựng được quan hệ tin cậy lẫn nhau; phối hợp chặt chẽ giữa DN với Viện, Trường trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ liên kết, thay vì giao trọn gói cho Viện hoặc Trường tiến hành nghiên cứu;
- Trong nghiên cứu của Nguyễn Việt Hoà (2007) “Nghiên cứu tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích DN đầu tư vào KH&CN”, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp
Bộ (Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN chủ trì, 2007) cho thấy đối tượng được hưởng lợi từ cơ chế chính sách của Nhà nước chủ yếu là các DN cổ phần, DN Nhà nước và một số tổ chức đã chuyển đổi từ Viện/Trung tâm nghiên cứu thành DN Một số yếu tố cản trở DN đầu
tư vào KH&CN đó là DN thiếu cộng tác với các tổ chức KH&CN; cam kết và nhận thức của DN; năng lực đổi mới và năng lực KH&CN của DN còn yếu; cơ chế chính sách chuyển giao công nghệ phức tạp dẫn đến DN hạn chế chuyển giao; thiếu tinh thần hợp tác, thiếu sự sẵn
Trang 11sàng giúp đỡ, nhiều sự né tránh bất hợp tác; thiếu sự tác động kịp thời của Nhà nước và cuối cùng là thiếu ngôn ngữ giao tiếp, đàm phán và ký kết;
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy hầu hết các nghiên cứu đã có những nhận định, phân tích, làm sáng tỏ nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính cho KH&CN ở Việt Nam nói chung Các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào những yếu tố về môi trường chính sách ảnh hưởng đến hoạt động KH&CN của DN, chỉ ra khiếm khuyết, hạn chế lớn nhất của những chính sách này ở Việt Nam là: phần lớn chưa được thực hiện và chưa trở thành động lực thúc đẩy ĐMCN Tuy nhiên, vấn đề SDCCHT về tài chính của Nhà nước như thế nào nhằm thúc đẩy ĐMCN trong các DN với các quy mô, ngành nghề, địa phương khác nhau chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, phù hợp với thực tiễn từng ngành, từng địa phương (trong đó có các DNCBD của tỉnh Bến Tre) Luận văn Thạc sĩ sẽ chọn lọc, kế thừa những tư tưởng, luận điểm đã được công bố và vận dụng phân tích tổng quát có hệ thống hiện trạng SDCCHT về tài chính của Nhà nước thúc đẩy ĐMCN tại địa phương (nghiên cứu trường hợp các DNCBD tỉnh Bến Tre) Đồng thời Luận văn cũng nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia trong lĩnh vực này Từ nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài cũng như tình hình tại Việt Nam, đặc biệt là trong ngành chế biến dừa Bến Tre, luận văn đi đến đề xuất nhóm giải pháp SDCCHT về tài chính của Nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN trong các DN nói chung và trường hợp các DNCBD tỉnh Bến Tre nói riêng
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận ĐMCN và vai trò của các công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN của các DN trong nền kinh tế thị trường và kinh nghiệm một số quốc gia trong lĩnh vực này;
- Phân tích hiện trạng ĐMCN và sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN (trường hợp các DN chế biến dừa tỉnh Bến Tre) trong thời gian qua Rút ra những hạn chế trong sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN và nguyên nhân;
- Định hướng và đề xuất nhóm giải pháp chủ yếu sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN (trường hợp các DN chế biến dừa tỉnh Bến Tre) trong thời gian tới
Trang 124 Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc định hướng và sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN các doanh nghiệp trong đó nghiên cứu trường hợp các DN chế biến dừa tỉnh Bến Tre
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: đề tài giải quyết mục tiêu nghiên cứu đề ra mục 3
- Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2009
5 Mẫu khảo sát
Khảo sát 50 DN chế biến dừa tỉnh Bến Tre Ngoài ra còn tiến hành phỏng vấn trực tiếp đại diện 5 cơ quan thực thi chính sách (Tài chính; Kế hoạch; Ngân hàng Nhà nước; Thuế và Khoa học
và Công nghệ)
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thúc đẩy ĐMCN, nâng cao năng lực cạnh tranh các DN, có ý nghĩa quyết định đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, sự phát triển toàn diện của đất nước trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và hội nhập Quốc tế Sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN đã được giới nghiên cứu và hoạch định chính sách quan tâm Tuy nhiên vẫn có quan điểm, biện pháp và định hướng khác nhau về việc sử dụng công cụ hỗ trợ
về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN trong các DN Đây là vấn đề cần được tiếp tục làm sáng tỏ trong khuôn khổ luận văn nghiên cứu này Cụ thể những vấn đề đặt ra:
- Trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường, cạnh tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay để thúc đẩy ĐMCN các DN, Nhà nước có cần thiết sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính hay không? Vai trò của công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước như thế nào đối với hoạt động ĐMCN của các doanh nghiệp?
- Hiện trạng ĐMCN và sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN các DN nói chung và DN chế biến dừa tỉnh Bến Tre như thế nào? Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu?
- Định hướng và giải pháp chủ yếu sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN các DN nói chung và DN chế biến dừa tỉnh Bến Tre trong thời gian tới như thế nào?
Trang 137 Giả thuyết nghiên cứu
- Trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường, cạnh tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay thì nhà nước cần can thiệp vào thị trường và sự “can thiệp” của nhà nước thông qua nhiều công cụ trong đó sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN của DN được xem là hữu hiệu nhất;
- Trình độ, năng lực công nghệ trong các DN còn yếu, tốc độ ĐMCN diễn ra chậm; các công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước chưa có tác động rõ nét để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cho ĐMCN Nguyên nhân chủ yếu:
* Cơ chế tài chính cho ĐMCN chưa hấp dẫn;
* Tăng cường cung cấp thông tin và hỗ trợ môi trường pháp lý cho DN;
* Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động và trình độ năng lực đội ngũ quản lý DN;
* Tăng cường đầu tư và sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cho ĐMCN;
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
Để đạt được những mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
8.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu (thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu) từ các ấn phẩm và báo cáo khoa học, số liệu thống kê và báo cáo các ngành
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp khảo sát 50 DN, kết hợp với việc sử dụng các tư liệu, báo cáo của các DN được lựa chọn
- Đồng thời phương pháp chuyên gia (5 chuyên gia các ngành thực thi chính sách), phương pháp hội thảo bàn tròn cũng được sử dụng trong đề tài để làm rõ những phát hiện của nghiên cứu
Trang 14Sắp xếp, phân loại, tổng hợp và phân tích theo các đề mục đã định trước bằng cách dùng chương trình Microsoft Excel
9 Kết cấu của luận văn
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1: Đổi mới công nghệ, vai trò của các công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước
nhằm thúc đẩy ĐMCN và kinh nghiệm một số quốc gia trong lĩnh vực này;
Chương 2: Hiện trạng ĐMCN và sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN (trường họp các DN chế biến dừa tỉnh Bến Tre);
Chương 3: Giải pháp chủ yếu sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc
đẩy ĐMCN trong các DN (trường hợp các DN chế biến dừa tỉnh Bến Tre)
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 15CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ, VAI TRÕ CỦA CÔNG CỤ HỖ TRỢ VỀ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC NHẰM THÖC ĐẨY ĐMCN VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ QUỐC GIA
TRONG LĨNH VỰC NÀY 1.1 Công nghệ
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của khoa học, các quy luật tự nhiên, xã hội, bản chất sự vật ngày càng được làm sáng tỏ Sự thông hiểu thế giới tự nhiên, xã hội tạo tiền
đề cho hoạt động sản xuất, quản lý đi vào chuyên môn và chuẩn hóa trong một quy trình, như một công nghệ
1.1.1 Khái niệm công nghệ
Khái niệm công nghệ cũng ngày càng được mở rộng qua nhiều lĩnh vực khác như công nghệ du lịch, công nghệ ngân hàng,
Suy cho cùng, các mở rộng này tạo nên các khái niệm công nghệ vừa có điểm chung, vừa có cái riêng Gần đây, đã có nhiều tổ chức Quốc tế về KH&CN cố gắng đưa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hòa các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển
và hòa nhập của các quốc gia trong từng khu vực và phạm vi toàn cầu
Ngân hàng Thế giới 1985: Là phương pháp chuyển hóa các nguồn thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố (1) thông tin về phương pháp, (2) phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa (3) sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao?
Theo Tổ chức phát triển công nghệ liên hợp quốc (UNIDO) thì: Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp
Theo Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) thì: Công nghệ là
hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin và sau đó ESCAP mở rộng thêm: Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ quản lý, thông tin
TheoVũ Cao Đàm (1997), Công nghệ là quá trình sử dụng hệ thống các thành phần (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức) chế biến vật chất, thông tin thành sản phẩm
Trang 16Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, đã đưa ra định nghĩa khái quát: Công nghệ
là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm
Luật chuyển giao công nghệ năm 2006: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết, kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
* Điểm chung các định nghĩa trên điều xem Công nghệ có bản chất là tri thức cần có
để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm theo một quy trình nhất định
1.1.2 Khái niệm đổi mới công nghệ
Tùy theo mục đích sử dụng và tác giả mà khái niệm ĐMCN có ý nghĩa khác nhau Nhưng nhìn chung theo các tác giả này, có thể có một số các định nghĩa chung nhất về ĐMCN như sau:
Theo Freeman (1982), đổi mới là các hoạt động thiết kế kỹ thuật, sản xuất chế tác, quản
lý và thương mại liên quan đến việc đưa ra thị trường một sản phẩm mới (hoặc được cải tiến) hoặc là việc sử dụng mang tính thương mại lần đầu tiên của một quy trình hoặc thiết bị mới (hoặc được cải tiến) Theo một định nghĩa đơn giản hơn nhưng cũng rất bao quát, đổi mới theo nghĩa rộng nhất có thể bao gồm các công nghệ mới và phương thức mới thực hiện công việc (Porter,1990)
Do đó, ĐMCN có thể xảy ra trong một quy trình hay trong một sản phẩm Như vậy đổi mới công nghệ quy trình (process innovation) là những đổi mới liên quan đến quy trình công nghệ của sản xuất sản phẩm và dịch vụ và ĐMCN sản phẩm (product innovation) là những đổi mới liên quan đến việc đưa ra các sản phẩm mới hoặc dịch vụ mới Tuỳ theo loại hình sản phẩm, ngành công nghiệp hoặc dịch vụ, giai đoạn của đổi mới mà ĐMCN quy trình hay ĐMCN sản phẩm sẽ có những mức độ đổi mới khác nhau và cũng liên quan đến nhau Thông thường, khi mức độ đổi mới sản phẩm giảm dần thì mức độ đổi mới của quy trình sẽ tăng dần Điểm quan trọng nhất cần nhấn mạnh ở đây là các đổi mới là một quá trình tác động, dù đó là đổi mới quy trình hay sản phẩm (Coombs et al,1987) Nhưng các thay đổi về mặt quy trình thường khó ghi nhận lại, khó nhìn thấy và vì thế khó bắt chước hơn (Rosenberg, 1982)
Trong nhiều nghiên cứu khác nhau, một kết luận có thể rút ra được là đổi mới là một quá trình quản lý Khác với sáng chế, đổi mới có những đặc thù của nó và liên quan đến giai đoạn đưa sản phẩm ra được thị trường (Bryson, 1994) Hơn thế nữa, có tác giả còn đi xa hơn và cho rằng vì
Trang 17vai trò đóng góp của người sử dụng vào quá trình đổi mới rất quan trọng, các cố gắng áp dụng để tạo hình thái cho hệ thống công nghệ cũng là những thành phần của hoạt động đổi mới (Fleek,1992)
Đổi mới thường được hiểu là một thứ gì đó mới áp dụng vào sản xuất, phân phối hay tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ ĐMCN được định nghĩa như một sản phẩm mới (đổi mới sản phẩm) và một máy móc mới (đổi mới quy trình) hay cải tiến các sản phẩm hoặc quy trình đang có thông qua việc thay đổi về công nghệ do các nhà đổi mới tạo ra nhằm vào mục đích thương mại (Beije, 1998)
Hai tác giả Gregory and Botha (2003) cho rằng hoạt động đổi mới có thể xảy ra trong quá trình cải tiến bên trong nhằm tăng năng suất, phát triển thị trường, sản phẩm hoặc dịch
vụ mới, hay đổi mới công nghệ để tạo ra công nghệ mới hoặc có thể là sự kết hợp của tất cả các hoạt động trên Trong nhiều trường hợp thì hoạt động đổi mới của một công ty có thể coi là hoạt động R&D, tùy vào từng loại hình công việc cụ thể
* Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa từ tài liệu hướng dẫn của tổ chức OECD (Oslo Manual, 1996) trong đó giải thích rằng ĐMCN cho một sản phẩm hoặc một chu trình có thể chia thành các hoạt động sau: R&D, thu nạp công nghệ, trang bị máy móc và thiết kế công nghiệp, kiểu dáng công nghiệp, phát triển sản xuất, hoạt động marketing cho sản phẩm mới hoặc sản phẩm cải tiến và hoạt động đào tạo
Theo Vũ Cao Đàm (Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, Tr 40)
nghiên cứu khoa học chia làm 3 loại: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai, gọi chung là nghiên cứu và triển khai, viết tắt tiếng Anh là R&D (tuy viết tắt là D nhưng thực ra thuật ngữ này có tên gọi đầy đủ là Technological Experimental Development, gọi tắt
là Technological Development hoặc là Development)
Trang 18Hình 1.1: Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu
Nghiên cứu chuyên đề Tạo vật mẫu
(Prototype)
Tạo quy trình s/x vật mẫu
Sản xuất thử Série Nº 0
(Nguồn: Vũ cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, Tr 30)
nghệ” theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu:
- Mở mang công nghệ theo chiều sâu, chính là sự nâng cấp công nghệ (Upgrading) từ trình độ thấp lên một trình độ cao hơn Nội dung này thuộc phạm trù của chính sách đổi mới (innovation policy) Đó là sự đổi mới công nghệ (ĐMCN) dựa trên kết quả R&D các công nghệ của bản thân doanh nghiệp hoặc ký hợp đồng chuyển giao công nghệ để nhận một công nghệ có trình độ cao hơn từ các doanh nghiệp khác (chuyển giao ngang), hoặc nhận một công nghệ mới từ kết quả pilot của các tổ chức R&D (chuyển giao dọc), hoặc thậm chí
ký hợp đồng CGCN từ nước ngoài (bao gồm cả chuyển giao dọc và chuyển giao ngang)
- Mở mang công nghệ theo chiều rộng, chính là sự nhân rộng từ một dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp thành hai, ba hoặc nhiều dây chuyền công nghệ có cùng chức năng và cùng trình độ như dây chuyền công nghệ ban đầu Nội dung này thuộc phạm trù của chính sách đối với sản xuất, nằm ngoài mối quan tâm của hệ thống KH&CN của một số quốc gia, đặc biệt là ở các quốc gia Châu Âu và Bắc Mỹ
Trang 191.1.3 Đầu tư tài chính cho đổi mới công nghệ ĐMCN
Đầu tư tài chính cho ĐMCN là việc bỏ vốn để thay đổi, cải tiến công nghệ góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất, chất lượng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Có ba hình thức chính về đầu tư ĐMCN:
- Đầu tư cho nghiên cứu và triển khai là đầu tư mang tính dài hạn, hướng tới tương lai đồng thời kết quả thì chưa thể xác định trước và mang tính rủi ro cao nhưng cũng có thể đem lại lợi nhuận lớn Các công ty lớn, có tiềm lực về tài chính thường hay đầu tư cho hoạt động R&D;
- Đầu tư cho máy móc thiết bị hay công nghệ sản phẩm mới là những đầu tư ở giai đoạn tiếp theo khi việc sản xuất thử nghiệm các kết quả nghiên cứu và triển khai đã thành công hoặc trong quá trình chuyển giao “phần cứng” của chuyển giao công nghệ;
- Đầu tư cho việc đào tạo con người để sử dụng các công nghệ mới thường là những đầu tư đi kèm với hai loại đầu tư trên Máy móc thiết bị bản thân tự nó không thể tạo ra sản phẩm nếu không có sự điều khiển của con người Bản thân công nghệ, kỹ thuật mới đã đòi hỏi những kỹ năng mới vì vậy nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân lành nghề làm chủ và vận hành các công nghệ và kỹ thuật ngày càng rõ nét hơn
1.2 Vai trò của công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước trong việc thúc đẩy ĐMCN
1.2.1 Sự cần thiết SDCCHT về tài chính của nhà nước cho hoạt động ĐMCN
Chính sách đổi mới theo quan điểm của các nước OECD (OECD, 2005) đó là sự mở rộng của các chính sách R&D Bởi vậy chính sách đổi mới thường liên quan đến nghiên cứu
và sự phát triển công nghệ Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hoạt động kinh tế có nhiều thay đổi về cơ cấu, chính sách đổi mới được quan tâm nhiều hơn và được coi là chính sách nguồn, thông qua đó chính phủ có thể thúc đẩy sự phát triển của một nền kinh tế đổi mới và có tính thích nghi cao Do vậy, sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động đổi mới được nhấn mạnh hơn bao giờ hết
Tuy nhiên, hiện nay sự can thiệp của nhà nước cho hoạt động ĐMCN hiện vẫn còn nhiều tranh cãi Tác giả Hall (1986) đưa ra những lập luận phản bác vai trò can thiệp của nhà nước với lý do:
- Thứ nhất, Chính phủ không có khả năng làm bất kỳ điều gì tốt hơn là thị trường;
Trang 20- Thứ hai, hoạt động đổi mới phát sinh là để đáp ứng các nhu cầu của thị trường bởi vậy nhà nước không nên can thiệp Ngược lại, những ý kiến ủng hộ vai trò can thiệp của nhà nước dựa trên lập luận rằng những can thiệp của Chính phủ dựa trên một định nghĩa mà các nhà kinh tế gọi là “điều chỉnh những thất bại của thị trường” (Feldman và cộng sự: 2002; Link: 1996) Trong trường hợp DN mong muốn đạt được đổi mới thông qua hoạt động R&D, họ thường đầu tư dưới ngưỡng vì những gì hoạt động R&D mang lại cho DN đôi khi không dự báo trước được Tác giả Feldman và cộng sự (2002) giải thích rằng một DN có thể
dự đoán được các rủi ro sau:
- Do những rủi ro kỹ thuật cao, kết quả của hoạt động R&D có thể không giải quyết được hoàn toàn những vấn đề về kỹ thuật để đáp ứng các nhu cầu đã đặt ra;
- Ngay cả khi thành công về mặt kỹ thuật, thị trường có thể không chấp nhận công nghệ bởi vì có những lựa chọn để cạnh tranh hơn là chỉ tập trung vào công nghệ;
- Ngay cả khi không có những rủi ro về kỹ thuật hay thị trường, thì cũng rất khó để đăng ký quyền sở hữu trí tuệ cho công nghệ và công nghệ đó sẽ nhanh chóng được bắt chước và nhà sáng chế có thể sẽ không nhận được khoản tiền tương xứng với mức đầu tư cho hoạt động R&D
Những nhân tố này tạo ra rào cản để đầu tư cho hoạt động R&D, bởi vậy vai trò của Chính phủ là giải quyết “những thất bại của thị trường” để toàn thể xã hội có thể hưởng lợi
từ ĐMCN Thêm vào đó, tác giả Feldman và cộng sự (2002) lập luận rằng Chính phủ nên giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới, đặc biệt là ở khu vực tư nhân Bởi vì:
- Đổi mới thường dẫn đến công nghệ mới và công nghệ là nhân tố quan trọng nhất để tăng trưởng kinh tế
- Trong trường hợp không có can thiệp của nhà nước thì các DN thường đầu tư dưới ngưỡng cho công nghệ
- Chính phủ có nhiệm vụ giải quyết vấn đề đầu tư dưới ngưỡng này và giải quyết các vấn đề của thị trường thông qua việc cung cấp các khuyến khích để thực hiện hoạt động R&D để đạt được mục tiêu là tăng trưởng kinh tế
Mặt khác, tác giả Wade (1990) lại giải thích về nhu cầu cần có sự can thiệp của Chính phủ vào hoạt động đổi mới trên quan điểm của các nhà kinh tế tân cổ điển rằng “Khi phát triển công nghệ, những thất bại của thị trường có thể xảy ra bởi vì những thiếu hụt về
Trang 21tri thức Nếu một DN đầu tư cho việc làm chủ một công nghệ của một quy trình mới, họ thường giữ lợi thế cho riêng bản thân họ Tuy nhiên các công nhân có thể không làm việc cho DN đó nữa và có công việc mới, tại đó họ sẽ áp dụng những gì đã làm ở DN cũ Bởi vậy trong khi DN đầu tiên phải chịu chi phí cho hoạt động đổi mới nhưng toàn bộ xã hội sẽ được hưởng lợi từ những đầu tư đó” Chính vì vậy Chính phủ cần đầu tư cho hoạt động ĐMCN để cả xã hội có thể được hưởng lợi chung từ những đầu tư đó
Tác giả Porter (1990) khẳng định rằng, trong các giai đoạn phát triển của cạnh tranh thì giai đoạn khó nhất là khi một quốc gia chuyển từ định hướng phát triển theo đầu tư sang định hướng phát triển theo đổi mới Sự chuyển dịch này đòi hỏi vai trò can thiệp trực tiếp của Chính phủ để thúc đẩy một tỷ lệ đầu tư cho đổi mới cao ở cả khu vực nhà nước và tư nhân thông qua đầu tư cho hoạt động R&D
Tóm lại, sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động ĐMCN của DN thông qua các cơ chế, chính sách hỗ trợ khác nhau cũng xuất phát từ căn nguyên kinh tế học Các cơ chế này đều hướng đến mục đích tối đa hoá tổng số lợi ích chung cho xã hội do tác động lan tỏa của tri thức KH&CN được DN mang lại thông qua các giải pháp và nhằm khắc phục hiện tượng
DN đầu tư cho hoạt động ĐMCN thấp hơn ngưỡng đầu tư mà xã hội mong muốn Sự “can thiệp” của nhà nước thông qua nhiều công cụ trong đó SDCCHT về tài chính được xem là công cụ hữu hiệu nhằm thúc đẩy ĐMCN của DN Tuy nhiên, những công cụ chính sách này được thiết kế như thế nào là hợp lý phải được đặt trong bối cảnh của từng quốc gia, trong từng giai đoạn và đối với từng loại hình DN (là các đối tượng thụ hưởng) nhất định
Việt Nam chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các thực thể kinh tế (trong đó các DN là chính) tham gia vào các thị trường theo các quy luật của thị trường Các DN tự chủ quyết định sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ quy định của pháp luật Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật Chức năng chính của quản lý nhà nước đối với DN là định hướng về mặt chiến lược cho sự phát triển của các DN được thực hiện gián tiếp qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô, công cụ pháp luật; hình thành môi trường hoạt động cho các DN mà cơ bản là các môi trường pháp lý và thể chế; hỗ trợ và điều tiết hoạt động của các DN bằng các công cụ kinh tế vĩ mô; kiểm tra giám sát sự tuân thủ pháp luật của các DN; tham gia khắc phục những khuyết tật của thị trường Hơn nữa với vai trò của mình, nhà nước SDCCHT về tài chính khuyến khích thúc
Trang 22đẩy ĐMCN nâng cao khả năng cạnh tranh của DN là việc làm cần thiết, phù hợp với yêu cầu khách quan và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trong phạm vi luận văn này các công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN được kể đến là: vốn ngân sách; vốn tín dụng và các ưu đãi về thuế
1.2.2 Vốn ngân sách và vai trò của ngân sách trong việc thúc đẩy ĐMCN
Thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất Theo Luật Ngân sách
đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 16 tháng
12 năm 2002, định nghĩa (Điều 1): “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”
Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế - xã hội, định hướng, kích thích phát triển sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới, điều tiết thị trường, bình ổn giá
cả, điều chỉnh đời sống xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Chính phủ đã hoạch định để hình thành
cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu kinh tế hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các DN thuộc mọi thành phần kinh tế Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các DN thông qua việc thúc đẩy ĐMCN
Vốn Ngân sách cho KH&CN được xem là một trong những biện pháp quan trọng nhất thể hiện nỗ lực của nhà nước đối với KH&CN nói chung và ĐMCN của DN nói riêng Tài trợ ngân sách nhà nước có tính chất châm ngòi, khơi thông thu hút các nguồn vốn khác, mặc khác trong điều kiện ngân sách còn khó khăn thì việc chi đúng, chi có trọng tâm và trọng điểm và có cơ chế kiểm tra phù hợp thì phát huy tính tích cực của vốn đầu tư
1.2.3 Vốn tín dụng và vai trò của tín dụng trong việc thúc đẩy ĐMCN
Tín dụng là phương thức huy động vốn quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường Vì vậy sử dụng có hiệu quả phương thức này sẽ góp phần giải quyết nhu cầu vốn đang là vấn
đề cấp thiết cho sản xuất và đầu tư phát triển Hiện nay, tại Việt Nam xuất hiện nhiều hình
Trang 23thức tín dụng khác nhau Tuy nhiên, có 3 hình thức tín dụng chủ yếu là Tín dụng Ngân
hàng; Tín dụng Thương mại; Tín dụng thuê mua
a Tín dụng và ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế Trong đó ngân hàng vừa đóng vai trò người đi vay (nhận tiền gửi của các chủ thể khác trong nền kinh tế hoặc phát hành các chứng chỉ tiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng
để huy động vốn), vừa đóng vai trò người cho vay (cấp tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế bằng việc thiếp lập các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ…) Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng DN nói riêng Ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế
Theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng
Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch vụ tài chính
đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Sự đa dạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các “bách hóa tài chính” và người ta bắt đầu thấy xuất hiện các khẩu hiệu quảng cáo tương tự như: Ngân hàng của bạn - Một tổ chức tài chính cung cấp đầy đủ dịch vụ
Tín dụng ngân hàng ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động ĐMCN các doanh nghiệp đó là: Đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn để các DN đầu tư thêm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của DN Mặc khác trong quá trình cung ứng vốn cho các DNV&N, các tổ chức tín dụng còn phải kiêm thêm chức năng tư vấn, cung cấp thông tin cho DN để giúp DN lập phương án kinh doanh, hoạch định chiến lược kinh doanh
b Tín dụng vay ưu đãi tại các Quỹ Đầu tư phát triển
Quỹ ĐTPT là một tổ chức tài chính nhà nước thành lập ra với mục đích là tiếp nhận vốn ngân sách và huy động vốn từ các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư phát triển
hạ tầng kinh tế - xã hội Chức năng của Quỹ là đầu tư tài chính và đầu tư phát triển ĐTPT
Trang 24Các Quỹ ĐTPT ở địa phương có thể thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp (cho vay) cũng như đầu tư trực tiếp (đầu tư mua cổ phần) Vốn điều lệ là nguồn vốn chủ sở hữu chính thức của các Quỹ ĐTPT địa phương do các chính quyền địa phương cấp từ ngân sách địa phương Vốn huy động là nguồn vốn mà các Quỹ ĐTPT địa phương huy động được để thực hiện các hoạt động đầu tư Vốn ủy thác là nguồn vốn đầu tư của chính quyền địa phương và các tổ chức khác thông qua Quỹ ĐTPT địa phương Việc thực hiện đầu tư các nguồn vốn ủy thác, thường không tuân theo quy trình thẩm định dự án cơ bản của các quỹ
Vai trò tín dụng ưu đãi là làm giảm chi phí đầu tư, tăng khả năng thu lợi nhuận của nhà đầu tư và tăng cường nguồn vốn đầu tư cho DN, đồng thời cũng là công cụ quan trọng
để định hướng đầu tư thúc đẩy ĐMCN
c Tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các DN với nhau, biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá Để thanh toán hoặc đòi tiền lẫn nhau, các DN thường sử dụng các công cụ như hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ hay séc Những loại giấy tờ này, nếu còn giá trị, đều có thể chuyển nhượng lại
Cơ sở pháp lý xác định quan hệ nợ nần của tín dụng thương mại là giấy nợ - một dạng đặc biệt của khế ước dân sự xác định trái quyền cho người bán và nghĩa vụ phải thanh toán nợ của người mua Giấy nợ trong quan hệ tín dụng thương mại được gọi là kỳ phiếu thương mại (thương phiếu) với 2 loại: hối phiếu và lệnh phiếu
Vai trò tín dụng thương mại sẽ giúp cho các nhà DN chủ động khai thác được nguồn vốn nhằm đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh; có lợi thế là thủ tục nhanh, gọn, đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và góp phần đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp Tuy nhiên tín dụng thương mại chỉ có thể cung cấp được cho một số DN nhất định, hơn nữa là chỉ thực hiện được giữa các DN quen biết, tín nhiệm lẫn nhau; quy mô tín
dụng chỉ được giới hạn trong khả năng vốn hàng hoá mà họ có
d Cho thuê tài chính (Tín dụng thuê mua)
Cho thuê tài chính là một hình thức đang được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Thụy Điển, Úc, là hình thức tài trợ có an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả cho các bên giao dịch Hiện nay ở Mỹ, ngành thuê mua thiết bị chiếm khoản 25- 30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hàng năm của các doanh nghiệp Trong
Trang 25khi các DN đang gặp khó khăn về thủ tục thế chấp tài sản khi vay vốn ở các ngân hàng thì việc có mặt của các công ty cho thuê tài chính đã mở ra nhiều thuận lợi cho các DN
Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng giữa bên thuê và bên cho thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã thoả thuận Khi kết thúc thời hạn thuê bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê
Hoạt động cho thuê tài chính là một loại hình tín dụng có nhiều ưu điểm, DN sử dụng linh hoạt đồng vốn của mình vào mục đích khác, nhằm mang lại lợi ích nhiều hơn thay vì phải đầu tư vốn để mua tài sản cố định, tận dụng được cơ hội kinh doanh; không làm ảnh hưởng tới hạn mức tín dụng của DN khi DN đi vay vốn ngân hàng, hạn chế rủi ro, tiết kiệm chi phí, thủ tục tương đối đơn giản, đặc biệt phát huy hiệu quả trong hỗ trợ DN đầu tư chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị để mở rộng sản xuất Được xem là giai đoạn phát triển cao của hoạt động tín dụng thuê mua và được đánh giá là một hình thức mới để đầu tư vào ĐMCN, tài sản sản xuất, hiện nay đang là một loại hình kinh doanh dịch vụ được ưa chuộng trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển
Vai trò cho thuê tài chính góp phần thúc đẩy ĐMCN Thông qua hoạt động cho thuê tài chính các loại máy móc, thiết bị có trình độ công nghệ tiên tiến được đưa vào các DN góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền sản xuất trong những điều kiện có khó khăn về vốn đầu tư;
Tuy nhiên, trên bình diện vĩ mô cũng cần có chính sách quản lý chặt chẽ, biện pháp khoa học để khắc phục những mặt trái của cho thuê tài chính nhất là đối với các quốc gia chậm phát triển Do thông tin thiếu, trình độ quản lý yếu, luật pháp không rõ ràng … và nhất
là trong xu hướng các nước phát triển đang muốn chuyển giao các công nghệ, thiết bị lỗi thời gây ô nhiễm môi trường, hao tốn nguyên liệu, sử dụng nhiều lao động, điều kiện an toàn không đảm bảo, sản xuất ra sản phẩm có chất lượng kém.v.v sang các quốc gia đang phát triển Do đó, nếu không có chiến lược chính sách công nghiệp hóa - hiện đại hóa đúng đắn, khoa học; hoạt động cho thuê tài chính sẽ góp phần gây lãng phí nguồn ngoại tệ của quốc gia, biến đất nước thành bãi rác thiết bị công nghiệp
Trang 261.2.4 Chính sách thuế và vai trò của thuế trong việc thúc đẩy ĐMCN
Trong số các biện pháp về tài chính liên quan đến hoạt động ĐMCN thì các khuyến khích ưu đãi về thuế được nhắc đến nhiều nhất Khuyến khích về thuế là cơ chế mà Chính phủ thường dùng để khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư cho hoạt động ĐMCN Sở dĩ các khuyến khích về thuế hay được sử dụng bởi vì hệ thống này ít can thiệp tới cơ chế thị trường
và không đòi hỏi phải dành quỹ để tổng kết hàng năm (Mani: 1999, Feldman và cộng sự:
2002, Link: 1996)
Theo Mác “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu bằng tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp dùng vào việc chi tiêu của nhà nước” (Lênin toàn tập, tập 33 trang 16) Như vậy thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước, vì nhà nước và do nhà nước
Thuế do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với nhà nước, phát sinh trên
cơ sở các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế, thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù nhà nước và pháp luật
Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị của nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội Nhà nước thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa nhà nước và các thể nhân và pháp nhân trong xã hội Đối tượng của quan hệ
phân phối này là của cải vật chất được biểu hiện dưới hình thức giá trị
Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luật thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau:
- Thuế gián thu là loại thuế mà nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dich vụ Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh nộp cho nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người chịu thuế Ở nước ta thuế gián thu bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, …
- Thuế trực thu là loại thuế mà nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc các thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy
Trang 27định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế.Ở nước ta thuế trực thu bao gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp,…
Vai trò của thuế được thể hiện là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh
tế và đời sống xã hội Hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng thông qua sự phân bổ và sử dụng các nguồn lực Nó cũng là đòn bẩy kinh tế quan trọng, kích thích hiệu quả sản xuất kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường Nhà nước có thể sử dụng công cụ thuế để khuyến khích
mở rộng đầu tư, ĐMCN Với chính sách ưu đãi qua thuế suất, thời gian miễn, giảm của thuế là làm tăng khả năng thu lợi nhuận ròng của nhà đầu tư, là tăng động cơ thúc đẩy đầu tư trực tiếp ĐMCN, mặc khác miễn, giảm có trọng điểm là công cụ quan trọng có hiệu lực để định hướng đầu tư, nhà nước có thể khuyến khích đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài vào những ngành, những lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư Việc áp dụng chính sách thuế, có tác động mạnh mẽ đến việc đầu tư ĐMCN, song tác động đó chỉ có hiệu lực tốt nhất trong một thời hạn nhất định, thích hợp
Để phát huy được tốt vai trò của thuế trong hướng dẫn đầu tư ĐMCN, phải xác định được thời gian ưu đãi, miễn giảm thuế thích hợp nhất Nếu thời gian ưu đãi quá ngắn, khó thu hút được vốn đầu tư do các dự án ĐMCN chưa đủ thời gian vượt qua những khó khăn Ngược lại, nếu thời gian ưu đãi thuế quá dài thì sự linh hoạt trong phân bổ nguồn lực của thị trường
sẽ triệt tiêu sự ưu đãi, do ưu đãi đã san đều cho các khu vực khác trong nền kinh tế Vì vậy xác định thời gian miễn, giảm thuế thích hợp nhằm thực hiện chính sách điều chỉnh, hướng dẫn, thu hút vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh, tái phân bổ vốn đầu tư và thúc đẩy ĐMCN
Mỗi sắc thuế sẽ tác động đến lợi ích của các chủ thể đầu tư ở các khía cạnh khác nhau Do đó, không thể đồng nhất một thời gian miễn giảm thuế như nhau đối với tất cả các sắc thuế, các loại đối tượng khác nhau Thông thường, các loại thuế trực thu có tác động thiết thực, nhanh, mạnh đến lợi ích của các nhà đầu tư hơn thuế gián thu Cùng với việc miễn thuế nhập khẩu đối với các máy móc, thiết bị phục vụ trực tiếp cho hoạt động phát triển công nghệ thì việc nhà nước quy định thuế suất thuế nhập khẩu khác nhau theo
tỷ lệ nội địa hoá cũng sẽ kích thích các nhà sản xuất bỏ vốn đầu tư, tận dụng kịp thời những kết quả nghiên cứu KH&CN vào sản xuất
Trang 28* Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay, thúc đẩy ĐMCN là một nhu cầu cấp thiết và là một tất yếu khách quan, Nhà nước với vai trò là “điều chỉnh những khiếm khuyết của thị trường” phải có những cơ chế chính sách để hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện thành công nhiệm vụ ĐMCN của mình Sử dụng công cụ hỗ trợ tài chính nhà nước là một trong những biện pháp tích cực, thiết thực nhất để thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện thành công đổi mới công nghệ, giúp cho doanh nghiệp vững bước trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay Tuy nhiên thực tiển sử dụng công cụ hỗ trợ tài chính của nhà nước ở mức độ nào? và những tác động ra sao? cho ĐMCN sẽ được đề cập ở những phần tiếp theo
1.3 Kinh nghiệm một số quốc gia về SDCCHT tài chính của Nhà nước thúc đẩy ĐMCN
Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới cho thấy ĐMCN đóng vai trò quyết
định trong quá trình tăng trưởng kinh tế Đặc biệt, trong quá trình phát triển của một số quốc
gia Đông và Đông Nam Á Để thúc đẩy ĐMCN diễn ra hầu như mọi Chính phủ đều có các
chính sách khuyến khích hỗ trợ DN Trong số đó, chính sách về tài chính với KH&CN nói chung và ĐMCN nói riêng là một trong những chính sách khuyến khích có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy doanh nghiệp ĐMCN Việc nghiên cứu kinh nghiệm chính sách
khuyến khích tài chính cho hoạt động ĐMCN của một số quốc gia thiết nghĩ sẽ là có ích đối
với Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc đã đạt được vị thế cao trong phát triển công nghệ Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, Hàn Quốc tập trung phát triển các doanh nghiệp lớn, nhưng sau những khủng hoảng kinh tế, đã có sự chuyển dịch hỗ trợ sang cho các DNV&N và các DNV&N của Hàn Quốc nhận được hàng loạt các ưu đãi để phát triển công nghệ
Tác giả Mani (2002) đã đưa ra mô hình về sự phát triển của hệ thống khuyến khích
về tài chính nhằm phát triển công nghệ của Hàn Quốc có thể chia thành 3 nhóm như sau:
Trang 29Hình 1.2: Hệ thống khuyến khích về tài chính cho phát triển công nghệ của Hàn Quốc
(Nguồn: Mani (2002))
a Các khuyến khích về thuế
Hệ thống quỹ dự trữ phát triển công nghệ: Hàn Quốc đưa ra hệ thống tương đối phức tạp nhằm khuyến khích các DN có khả năng nhận được các khuyến khích thông qua việc yêu cầu các DN này duy trì tỷ lệ thu nhập đầu tư cho hoạt động R&D;
Các chương trình khuyến khích về thuế bao gồm việc giảm thuế và miễn giảm đặc biệt cho các hoạt động đầu tư vào R&D của các DN tư nhân Theo Luật thúc đẩy phát triển công nghệ công nghiệp và một số luật khác, các DN tư nhân sẽ được giảm thuế trong vòng 3 năm nếu DN trích khoản tiền thành lập quỹ cho phát triển công nghệ, thông tin kỹ thuật, nguồn nhân lực và thiết bị phục vụ R&D Thêm nữa các DN sẽ được giảm thuế đến 15% tổng chi phí sử dụng cho đào tạo cán bộ kỹ thuật Bên cạnh đó, khi tính thuế các DN này được giảm đến 10% khoản kinh phí đầu tư vào trang thiết bị phục vụ nghiên cứu và phát triển và khấu hao nhanh đối với thiết bị nghiên cứu và thử nghiệm ở tỉ lệ 90% một năm… Các DN đầu tư vào việc thương mại hoá các công nghệ mới được miễn thuế bằng 3% của tổng số chi phí
b Trợ cấp của chính phủ
Chính phủ Hàn Quốc cung cấp lên tới 50% tổng chi tiêu của các Viện công nghiệp của tư nhân liên quan đến các dự án R&D cấp quốc gia nhằm phát triển các công nghệ nền tảng và nòng cốt, phát triển công nghệ công nghiệp, phát triển năng lượng thay thế Các
DN nhỏ hoặc các cá nhân có thể nhận được từ 80 - 90% tổng chi phí nếu thương mại hoá được các công nghệ mới
Hệ thống khuyến khích về tài
chính nhằm phát triển công nghệ trong nước
Thúc đẩy chuyển giao công nghệ
Thúc đẩy thương mại hoá công nghệ
Thúc đẩy đầu tư cho R&D
thông qua các khuyến khích
về thuế
Trang 30Quỹ phát triển công nghệ tài trợ 50 - 70% chi phí phát triển công nghệ cho các ngành công nghiệp; hỗ trợ những nghiên cứu hợp tác giữa khu vực công nghiệp với trường Đại học
và Viện nghiên cứu và phát triển
c Các hỗ trợ tài chính khác
Chính phủ thành lập một hệ thống tài chính nhằm hỗ trợ phát triển công nghệ bằng cách trợ giúp về tài chính để phát triển công nghệ trong nước thông qua các khoản vay với lãi suất ưu đãi Một số quỹ chính thức được thành lập cùng với các Ngân hàng cung cấp các khoản vay dài hạn, lãi suất thấp cho các DN tư nhân thực hiện hoạt động R&D nhằm phát triển các sản phẩm hay quy trình mới và thương mại hoá các công nghệ mới (Mani, 2002)
Ủng hộ từ những Viện có vốn liên doanh như Viện Ngân hàng công nghệ Hàn Quốc cung cấp tài chính cho các hoạt động triển khai công nghệ mới của các công ty tư nhân Sự cung cấp tài chính này theo dạng đầu tư cổ phần, mua các trái phiếu của công ty, vay vốn có điều kiện
d Các khuyến khích tài chính cho các DN vừa và nhỏ ĐMCN
Chính phủ Hàn Quốc sử dụng hàng loạt các biện pháp nhằm hỗ trợ cho các DNV&N nhằm giúp họ thích ứng một cách nhanh nhất với các thay đổi về môi trường công nghệ trong
và ngoài nước Nhờ vậy công nghệ và chất lượng sản phẩm của các DNV&N được cải thiện đáng kể Theo OECD (2002), Chính phủ Hàn Quốc đã cung cấp hàng loạt các khuyến khích bao gồm thuế và các khuyến khích về tài chính nhằm hỗ trợ cho các hoạt động phát triển công nghệ và có tới 35.000 DNV&N nhận được các hỗ trợ này, Nhờ đó, tỷ lệ đầu tư cho hoạt động R&D của các DNV&N đã có tăng trưởng mạnh, từ 851,6 tỷ won năm 1995 lên tới 2000 tỷ won năm 2000 và tỷ lệ đầu tư cho R&D trên tổng doanh thu đã tăng từ 2.4% lên 3.4% trong giai đoạn tương ứng
Hệ thống hỗ trợ của Chính phủ bao gồm các hoạt động:
- Hỗ trợ tài chính cho việc phát triển và đổi mới công nghệ của các DNV&N (nhằm giải quyết các khó khăn về tài chính và nguồn nhân lực khi tiến hành cải tiến công nghệ, Chính phủ gián tiếp tới 75% trong tổng chi phí phát triển công nghệ của các DNV&N);
- Hỗ trợ phát triển công nghệ thông qua liên kết giữa các ngành công nghiệp, các Viện nghiên cứu và hàn lâm (nhằm mục đích sử dụng nguồn nhân lực của các Viện nghiên cứu và trường đại học để phát triển công nghệ của các DNV&N, thành lập các coong-xoc-xi-om với 50% vốn của Chính phủ, 25% của Chính quyền địa phương và 25% của DN, số lượng DN có
Trang 31quan hệ chặt chẽ với các Viện nghiên cứu tăng lên 4 lần, từ 1,578 DN năm 1995 lên tới 6,307
DN năm 2000 (theo OECD, 2002) Chương trình nghiên cứu đổi mới của các DN nhỏ đã khuyến khích các Viện nghiên cứu dành 5% tổng số vốn đầu tư cho phát triển công nghệ của DNV&N
- Hỗ trợ hướng dẫn công nghệ cho các DNV&N: Chính phủ hỗ trợ về tài chính cho đội ngũ nhân lực trong các trường Đại học và Viện nghiên cứu để họ giúp các DN giải quyết các khó khăn về công nghệ và quản lý công nghệ trong sản xuất
- Khuyến khích sự tham gia của các tổ chức công trong phát triển công nghệ của DNV&N hàng năm có khoảng 30 tỷ won được chi để các DNV&N được tham gia vào các
dự án R&D trong 18 Viện nghiên cứu công Tỷ lệ đầu tư cho R&D của các DN cho DNV&N vào khoảng 5%/năm
- Hỗ trợ phát triển chuyển giao và thương mại hoá công nghệ
Như vậy, có thể kết luận rằng hệ thống hỗ trợ về tài chính cho hoạt động ĐMCN của Hàn Quốc rất hoàn thiện và đa dạng Các DN có thể tìm kiếm nhiều nguồn hỗ trợ cho hoạt động R&D với mức hỗ trợ rất cao Tuy nhiên, sự thành công của hệ thống khuyến khích về tài chính của Hàn Quốc có sự đóng góp không nhỏ của các biện pháp phi tài chính như dịch
vụ thông tin, quản lý tiêu chuẩn và chất lượng, IPR, hợp tác nghiên cứu giữa các ngành công nghiệp, Viện nghiên cứu và hàn lâm
1.3.2 Trung Quốc
Trung Quốc luôn chú trọng đến phát triển KH&CN Nhà nước từng bước nâng cao tổng mức đầu tư kinh phí cho KH&CN đảm bảo mức tăng trưởng của ngân sách nhà nước dành cho KH&CN cao hơn mức tăng trưởng thu nhập bình thường của ngân sách nhà nước Ngoài nguồn tài chính quan trọng từ ngân sách nhà nước, Trung Quốc còn có nhiều loại quỹ khác nhau để đầu tư cho ĐMCN: Quỹ khoa học tự nhiên, quỹ khoa học thanh niên, quỹ chuyển hoá thành quả KH&CN Chính phủ Trung Quốc đã có những chính sách tài chính khuyến khích, ưu đãi tạo điều kiện cho hoạt động ĐMCN như sau:
a Khuyến khích về thuế
Miễn thuế thu nhập đối với các dịch vụ tư vấn kỹ thuật, chuyển nhượng công nghệ, dịch vụ kỹ thuật và triển khai công nghệ Miễn thuế lợi tức từ 1 đến 3 năm đối với sản phẩm thử nghiệm trung gian của đơn vị nghiên cứu khoa học được và đối với những sản phẩm có
Trang 32ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân, an ninh quốc phòng, kỹ thuật khó, hoặc những sản phẩm nhà nước rất cần mà có thể sử dụng để thay thế nhập khẩu
Đưa ra tỷ lệ khấu trừ là 150% cho đầu tư vào R&D đối với những doanh nghiệp nước ngoài khi mức đầu tư của doanh nghiệp năm sau cao hơn năm trước từ 10% trở lên
Đối với các khu triển khai kỹ thuật cao mới nhà nước quy định giảm 15% thuế lợi tức đối với xí nghiệp kể từ ngày được công nhận; Giảm 10% thuế lợi tức đối với giá trị sản lượng sản phẩm xuất khẩu của xí nghiệp đạt trên 70% tổng giá trị sản lượng của cả năm Trong trường hợp cần thiết, miễn thuế lợi tức 2 năm kể từ khi đầu tư đưa vào sản xuất đối với xí nghiệp mới thành lập hoặc kể từ khi có thu lợi đối với xí nghiệp có hợp tác với nước ngoài mà thời hạn hợp đồng dài hơn 10 năm
1-DN lớn và trung bình được miễn giảm những khoản chi trả hàng tháng từ quỹ khấu hao cho năng lượng, giao thông, xây dựng và các khoản chi ngân sách khác
Nhà nước (Ngân hàng, Kho bạc nhà nước) có chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ việc thương mại hoá thành tựu khoa học kỹ thuật cho các cơ sở R&D thử nghiệm hay sản xuất các sản phẩm mới theo yêu cầu của mình được vay vốn với lãi suất thấp
Trang 33a Khuyến khích R&D trong nước đối với các DN
Trợ cấp thuế đầu tư (ITA) 50% đối với chi phí vốn hạn chế liên quan đến hoạt động R&D trong thời gian 10 năm, nó sẽ được trợ cấp ở mức thu nhập theo Luật định và sự thanh toán được hạn chế tới 70% thu nhập theo Luật định
Khấu trừ 2 lần đối với thu nhập hoặc chi phí bộ máy phải gánh chịu đối với các dự án R&D được chấp nhận
b Khuyến khích R&D độc lập
Các doanh nghiệp tiến hành R&D theo hợp đồng được quyền nộp đơn xin được hưởng tình trạng tiên phong trong thời gian 5 năm hoặc trợ cấp thuế đầu tư tới 100% đối với chi phí vốn hạn chế gánh chịu trong thời hạn 10 năm
Các doanh nghiệp tiến hành R&D có quyền nộp đơn xin được hưởng trợ cấp thuế đầu
tư tới 100% đối với chi phí vốn hạn chế gánh chịu trong thời hạn 10 năm
c Đối với các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao
Miễn thuế hoàn toàn ở mức thu nhập theo Luật định trong thời hạn 5 năm;
Trợ cấp thuế đầu tư 60% đối với chi phí vốn hạn chế gánh chịu trong thời hạn 5 năm Tiền trợ cấp này có thể được đặt ra đối với thu nhập theo Luật định cho từng năm đánh giá
mà không có bất kỳ sự hạn chế nào
1.3.4 Đài Loan
Chính phủ Đài Loan rất chú trọng đến hoạt động ĐMCN đặc biệt là R&D Tuy tài chính dành cho R&D không nhiều (tính theo tỷ lệ GDP là 0,5% trong giai đoạn 1978-1982) song trong số đó Chính phủ đã chi tới 52% năm 1979 và 51,5% năm 1984, Chính phủ đã có chính sách nhằm khuyến khích đối với hoạt động R&D, cụ thể là:
- Giảm thuế thu nhập đối với các khoản chi phí cho R&D;
- Cho phép khấu hao nhanh thiết bị R&D đã dùng từ 2 năm trở lên;
- Miễn thuế nhập khẩu đối với các thiết bị mà trong nước chưa thể sản xuất được;
- Miễn thuế cho 20% các khoản chi phí cho R&D nếu tổng số chi cho R&D năm đó lớn hơn khoản chi trung bình hàng năm của 5 năm trước đó;
- Ưu đãi thuế đối với các công ty đáp ứng được yêu cầu nâng cao trình độ công nghệ;
Trang 34- Chính phủ quy định mức chi tối thiểu cho R&D của các công ty, kể cả công ty trong nước và các cơ sở đầu tư trực tiếp của nước ngoài Nếu công ty không chi đủ thì phần chênh lệch buộc phải nộp cho Chính phủ để dành chi cho các công trình nghiên cứu - triển khai phối hợp
1.3.5 Thái Lan
Năm 1991, Chính phủ Thái Lan đã thành lập Cơ quan Phát triển Khoa học công nghệ Quốc gia (NSTDA) để điều phối các hoạt động nghiên cứu và Quỹ Nghiên cứu Thái Lan năm 1992 Quỹ nghiên cứu Thái Lan được thành lập với quy chế tổ chức và hoạt động hoàn toàn độc lập và tự chủ với mức tài trợ ban đầu của Nhà nước là 2 tỷ Bat (80 triệu USD) Thành lập Uỷ ban phát triển KH&CN quốc gia để quản lý hoạt động phát triển KH&CN của các cơ quan, chủ yếu về việc xét duyệt kế hoạch phát triển KH&CN, hoạch định vốn và chính sách hỗ trợ việc tiếp thu và chuyển giao công nghệ
Giảm mức thuế đối với trang thiết bị sử dụng trong phòng thí nghiệm, thiết bị đo lường và thử nghiệm và đối với việc chế tạo có nhờ sự trợ giúp của máy vi tính
Giảm chế độ bảo hộ đối với công nghiệp trong nước bao gồm việc điều chỉnh lại mức bảo hộ, huỷ bỏ lệnh cấm đối với việc nhập mới các công nghệ có lựa chọn, nới lỏng kiểm tra nhập khẩu và giảm các mức thuế hải quan cao
Tiến tới thúc đẩy các tổ chức khu vực công cộng hoạt động có hiệu quả như các tổ chức tư nhân; cho phép giữ lại thu nhập có được do việc chuẩn bị đầy đủ các dịch vụ để mua các thiết bị cần thiết và cho phép đề xuất các dịch vụ khác
1.3.6 Singapore
Chính sách ĐMCN của Singapore nhằm mục đích thúc đẩy phát triển công nghệ trong nước thông qua các DN công nghệ vừa và nhỏ Các khuyến khích về tài chính, chẳng hạn như tài trợ và khuyến khích về thuế đã chỉ được đưa vào thực hiện sau khi nguồn nhân lực kỹ thuật đã được phát triển Khuyến khích đối với hoạt động ĐMCN, cụ thể là:
- Giảm thuế 50% đối với đầu tư cho chi phí vốn cố định nhằm kích thích đầu tư vốn cho R&D trong công nghiệp và dịch vụ;
- Từ năm 1986 cho phép các công ty dành lại 20% thu nhập có thể bị đánh thuế để dự phòng cho R&D Quỹ dự phòng này được sử dụng trong 5 năm và được miễn thuế trong 3 năm Công ty có những biện pháp khuyến khích việc sử dụng quỹ này một cách thích hợp;
Trang 35- Đối với các xí nghiệp dành vốn cố định không ít hơn 10 triệu USD đầu tư cho sản xuất những sản phẩm được phê duyệt, có thể được miễn thuế lợi tức tăng lên cho việc mở rộng xí nghiệp;
- Khuyến khích các xí nghiệp tiến hành hoạt động R&D bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp dành vốn cố định tối thiểu là 1 triệu USD chi cho hoạt động R&D của xí nghiệp;
- Giảm 33,3%/ năm trong 3 năm đối với chi phí để mua quyền Know - how hoặc Patent
1.3.7 Vương Quốc Anh
Các nước Châu Âu có những hỗ trợ cho ĐMCN khá ma ̣nh và mô ̣t trong các chính phủ có những biện pháp tích cực nhất là chính phủ Anh Các chính sách hỗ trợ ĐMCN đặc biê ̣t có hiê ̣u quả là chương trình trao giải thưởng SMART và SPUR cho các nhà đổi mới tại doanh nghiệp
Technology) giành cho các cá nhân để phát tri ển công nghệ tại DN n ếu DN có ít hơn 50 nhân công, doanh số ít hơn 3,7 triê ̣u bảng Anh (khoảng gần 6 triê ̣u USD) Người nhâ ̣n giải đươ ̣c tới 75% của chi phí cho thử nghiệm phát tri ển công nghệ (chủ yếu là chi phí khả thi về công nghệ), dự án kéo dài từ 6 đến 18 tháng và nhận được tối đa 45 nghìn bảng Anh Sau khi các dự án kết thúc thành công với SMART và muốn triển khai các sản phẩm chế thử ,
DN có thể xin ngay trong vòng 6 tháng sau khi kết thúc SMART một tài trợ tiếp là SPUR Công ty có thể được cấp đến 50% của chi phí cho d ự án Cụ thể hơn có thể chia thành các loại sau:
- Theo chương trình SPUR (Support for Products Under Reseach ): nếu xin đô ̣c lâ ̣p SPUR, chương trình này dành cho các DN để triển khai công nghê ̣ sản phẩm và quy trình mới, có dưới 250 nhân công, doanh số dưới 14,8 triê ̣u bảng Anh Chương trình này có thể cấp tới 30% chi phí dự án, tối đa là 200 nghìn EURO (148 nghìn bảng Anh);
- Chương trình (SBRI – sáng kiến nghiên cứu DN nhỏ) nhằm nâng cao năng suất và ĐMCN cho doanh nghiệp bằng cung cấp các hợp đồng R&D cho các DN hoạt động dựa trên công nghệ Năm 2005, một mục tiêu bắt buộc cho các tổ chức tham gia sáng kiến này là
ít nhất 2,5% giá trị hợp đồng R&D của các tổ chức, cơ quan chính phủ phải dành cho các DNV&N
Trang 361.3.8 Liên bang Mỹ
Quốc hội Mỹ tuyên bố thừa nhận vai trò quyết định của KH&CN đến phát triển kinh
tế, chính trị, tiến bộ xã hội và chiến lược toàn cầu của Mỹ Tuy nhiên, các hoạt động KH&CN chỉ được Chính phủ Liên bang tài trợ khi nó phù hợp với chính sách phát triển KH&CN quốc gia và được các chuyên gia đánh giá là có triển vọng Để thực hiện chính sách KH&CN quốc gia, Quốc hội Mỹ tuyên bố rằng phát triển KH&CN là nhằm thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của đất nước Một trong những biện pháp để thực hiện điều đó là tín dụng thuế trong R&D
Mức tín dụng bằng 25% cho sự tăng trưởng trong tổng chi phí hợp lý cho R&D của doanh nghiệp
Dành 65% chi phí R&D cho nghiên cứu cơ bản của các Viện và các Trường Đại học Nghiên cứu cơ bản dường như chỉ bao hàm nghiên cứu khoa học và kỹ thuật
1.3.9 Nhận xét kinh nghiệm nước ngoài
Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới cho thấy ĐMCN đóng vai trò quyết
định trong quá trình tăng trưởng kinh tế Để thúc đẩy ĐMCN, hầu như một số quốc gia đều
có các chính sách khuyến khích hỗ trợ về tài chính đối với DN thông qua các hình thức: Hỗ trợ trực tiếp (vốn, vay lãi suất thấp) dưới hình thức các chương trình, kế hoạch hay sáng kiến; hỗ trợ gián tiếp dưới hình thức miễn/giảm thuế Trong đó, các khuyến khích ưu đãi về thuế được sử dụng nhiều nhất, bởi vì hệ thống này ít can thiệp tới cơ chế thị trường
Chính sách hỗ trợ vốn cho R&D và ĐMCN của DN đều thể hiện sự cân nhắc dung hoà giữa các đối tượng DN theo quy mô và sở hữu Quan tâm nhiều hơn đến khu vực tư nhân và DNV&N nhằm mục đích áp dụng công nghệ mới, ĐMCN tăng năng suất và chất lượng sản phẩm làm cho sản phẩm của khu vực này có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
Nhà nước hoa ̣ch đi ̣nh và thực thi các chính sách nói chung và chính sách tài chính nói riêng phải phù hợp bản chất và đă ̣c thù sẽ có ý nghĩa lớn đ ến hành vi của DN trong các cân nhắc của ho ̣ liên quan đến ĐMCN Doanh nghiệp phải chủ đô ̣ng có chiến lược ĐMCN ,
có nhu cầu ĐMCN thực sự Suy cho cùng Nhà nư ớc chỉ có thể ta ̣o điề u kiê ̣n hỗ trợ chứ không thể làm thay các quyết đi ̣nh của chính các DN , trong cả các vấn đề kinh doanh cũng như liên quan đến ĐMCN
Trang 37Hàn Quốc là quốc gia có hệ thống hỗ trợ tài chính cho hoạt động đổi mới tương đối hoàn thiện Nhà nước cung cấp hàng loạt các hỗ trợ về tài chính cho các DN thực hiện hoạt động R&D Không những thế, những khuyến khích này cũng được đưa ra đối với các cơ quan nghiên cứu và các tổ chức công nhằm thúc đẩy họ đưa các DNV&N vào các chương trình nghiên cứu của mình Các DN, đặc biệt là các DNV&N được nhận một hệ thống hỗ trợ cho hoạt động đổi mới bao gồm cả các biện pháp tài chính và phi tài chính
Từ những kinh nghiệm trên có thể suy luận rằng các khuyến khích về tài chính như là
một công cụ của chính sách đổi mới sẽ có hiệu quả hơn với các quốc gia đang trong giai
đoạn phát triển dựa trên công nghệ Hơn nữa, các biện pháp về tài chính chỉ thực sự có hiệu quả khi nó được kết hợp hợp lý với các chính sách phi tài chính khác
* Kết luận Chương 1
Chương 1 trên cơ sở chọn lọc, kế thừa những tư tưởng, luận điểm được công bố đã khái quát một số vấn đề lý luận chủ yếu về ĐMCN, sự cần thiết cần phải can thiệp của Nhà nước vào hoạt động ĐMCN và vai trò của các công cụ hỗ trợ về tài chính của Nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN các DN trong nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia trong lĩnh vực này
Những lý thuyết trên cùng với những kinh nghiệm rút ra của một số quốc gia trong lĩnh vực này sẽ góp phần định hướng và đề xuất nhóm giải pháp chủ yếu SDCCHT về tài chính của Nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN trong các DN Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại những vấn
đề lý luận để đề xuất giải pháp thì chưa đủ cơ sở Vì vậy, cần kiểm chứng thông qua việc phân tích, đánh giá hiện trạng xem xét những hạn chế và nguyên nhân trong việc SDCCHT về tài chính của Nhà nước nhằm thúc đẩy ĐMCN trong thời gian qua Đó cũng chính là nội dung được giải quyết ở chương 2
Trang 38CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ HỖ TRỢ VỀ TÀI CHÍNH
CỦA NHÀ NƯỚC NHẰM THÖC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
(TRƯỜNG HỌP CÁC DNCBD TỈNH BẾN TRE)
2.1 Tổng quan tinh hình ĐMCN của các doanh nghiệp Việt Nam
Năm 2005 Tổng cục thống kê tiến hành điều tra 7.580 doanh nghiệp công nghiệp, chia thành 29 nhóm ngành công nghiệp bao gồm 16,2% doanh nghiệp nhà nước (DNNN), 58,9% doanh nghiệp ngoài nhà nước (DNNNN) và 24,9% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNĐTNN) Sau đây là những vấn đề liên quan đến hoạt động ĐMCN của các doanh nghiệp này:
Trong số 7.580 doanh nghiệp công nghiệp điều tra thì chỉ có 185 DN (chiếm 2,44% tổng số DN) có đầu tư cho hoạt động ĐMCN với kinh phí 193,73 tỷ đồng (chiếm 11,8% tổng đầu tư cho KH&CN nói chung, nhưng chỉ bằng khoảng 0,003% tổng doanh thu)
Phân tích chi tiết về cơ cấu nguồn vốn đầu tư vào hoạt động ĐMCN cho thấy: Đầu tư
từ ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ ĐMCN trong DN chiếm 1,9%; gần 95%
là vốn của DN; 0,24% là đầu tư nước ngoài và 2,9% từ các nguồn khác Theo loại hình DN thì gần 90% tổng vốn đầu tư ĐMCN được thực hiện ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài; 11,4% trong các DN Nhà nước; còn lại khu vực DN tư nhân chỉ chiếm 1,4%
Hình 2.1: Đầu tư cho ĐMCN của doanh nghiệp
Nguồn vốn đầu tư cho KH&CN
Tự có 94.96%
ĐTNN 0.24%
NSNN 1.90%
Khác 2.90%
Đầu tư cho KH&CN phân theo loại hình DN
DNNN 11.40% DNNNN
1.40%
DNĐTNN 87.20%
(Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2005)
Trang 39Tại thời điểm điều tra, các DN mới thực hiện 1.433 chương trình, đề tài, dự án R&D
và ĐMCN với 7.814 sáng kiến, giải pháp kỹ thuật được áp dụng Số đề tài, dự án cấp nhà nước chiếm trên 27%, cấp Bộ/ngành khoảng 23%, song giải pháp được vận dụng ở cấp nhà nước chỉ có 0,7%, cấp Bộ/ngành khoảng 0,4%, còn cấp cơ sở lại chiếm 98,9% Nhìn chung, việc triển khai nhiệm vụ nghiên cứu diễn ra không đồng đều trong các loại hình doanh nghiệp 81,9% số chương trình, đề tài, dự án thực hiện trong các DN nhà nước; 2,5% ở các
DN có vốn đầu tư nước ngoài nhưng tỷ lệ vốn đầu tư lại có chiều ngược lại 66,4% trong các
DN có vốn đầu tư nước ngoài; 26,8% trong DN nhà nước và khoảng 6,8% trong DN tư nhân Mức độ và cơ cấu nguồn vốn đầu tư bình quân cho 1 chương trình:
Bảng 2.1: Đầu tư của 1 chương trình, dự án KH&CN trong DN
Đơn vị: Triệu đồng
Giá trị Thiết bị
Ngân Sách (%)
Tự có (%)
Nước Ngoài (%)
Khác (%)
(Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2005)
Bằng nguồn vốn huy động được, bình quân 1 chương trình, dự án, đề tài thực hiện trong DN nhà nước sử dụng 44,3 triệu đồng; DN ngoài nhà nước là 58,8 triệu đồng và DN
có vốn đầu tư nước ngoài lên tới 3.572,3 triệu đồng, gấp 80,6 lần DN nhà nước và 60,7 lần
DN tư nhân
Đầu tư cho ĐMCN trong những ngành có lợi thế xuất khẩu tuy được quan tâm, song giá trị bình quân của mỗi chương trình, dự án, đề tài của ngành thực phẩm mới đạt 26 triệu đồng; ngành giày da 68,7 triệu đồng; ngành may mặc cao nhất cũng chỉ đến 274,7 triệu đồng Những ngành thúc đẩy mạnh công nghiệp hoá như luyện kim, hoá chất, sản xuất máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, v.v cũng chỉ đạt từ 33 đến 46 triệu đồng cho 1 chương trình, dự án, đề tài
Trang 40Kết quả 2 đợt khảo sát (tháng 10/2007 và tháng 4/2008) đánh giá trình độ công nghệ của 429 DN, 17 ngành, thuộc 3 khu chế xuất và 8 Khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh với 55% DN trong nước và 45% DN có yếu tố nước ngoài cho thấy:
- Trình độ công nghệ tiên tiến là 1%, khá 4%, trung bình – khá 8%, trung bình 36%
và yếu là 51%; điểm yếu của các DN hầu như tập trung hai thành phần tổ chức (83%) và nhân lực (78%); thành phần thiết bị và thông tin đạt trung bình và khá;
- Đa phần DN lựa chọn giải pháp mua lại thiết bị đã sử dụng khi còn khoảng 50% đến 90% giá trị về mặt kỹ thuật Cá biệt có đến 10% DN trong Khu chế xuất - Khu công nghiệp mua lại thiết bị và công nghệ với giá trị kỹ thuật chỉ còn dưới 50%;
- Tuổi thọ thiết bị Đối với đối tượng là DN nhà nước, dây chuyền sản xuất có tuổi thọ trên 20 năm chiếm 2%, khoảng 10 - 20 năm là 23%, khoảng 3 - 10 năm là 56% và dưới
3 năm là 18% Còn đối với DN trong nước, số DN có trên 20 năm chiếm 2%, khoảng 10-20 năm chiếm 12%, khoảng 3 - 10 năm là 62% và dưới 3 năm là 21%;
- Hoạt động ĐMCN, có 39 DN/429 DN (tỷ lệ 9%), trong đó 25 DN trong nuớc (tỷ lệ 5,8%) và 14 DN nước ngoài (tỷ lệ 3,2%) hoạt động ĐMCN và trong 3 năm tổng kinh phí đầu tư ở 39 doanh nghiệp trên khoảng 85,2 tỷ, chiếm 4- 5% kinh phí của DN
Kết quả điều tra của Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam VCCI - tháng 12/2008 đến tháng 2/2009 với 630 DN có quy mô lao động trên 50 người ở 2 khu vực Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, trong đó 54,4% phiếu từ khu vực kinh tế tư nhân, 17% DN nhà nước và khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài 19,1%, DN có vốn sở hữu hổn hợp chiếm 7,5% còn lại DN khác Trong 3 năm 2006 - 2008, có 55,7% DN thực hiện đổi mới quy trình (thực hiện 1 quy trình sản xuất mới hoặc cải tiến sản xuất đáng kể, phương thức phân phối hoặc hoạt động hỗ trợ hàng hóa và dịch vụ DN), có khoảng 60,7 % DN thực hiện hoạt động đổi mới bằng mua máy móc thiệt bị phần mềm để đưa ra sản phẩm và quy trình mới hoặc có cải tiến, chỉ có 21% DN “mua tri thức bên ngoài”, đặc biệt là trong quy trình sản xuất và chế tạo các DN tự vận động là chính Vai trò của các Viện và Trường Đại học đối với việc ĐMCN ở các DN được đánh giá mờ nhạt Có đến 25% DN được hỏi không nhận thấy ý nghĩa của của tổ chức này trong việc đổi mới Ngược lại có 2/3 DN được hỏi đánh giá cao
và rất cao tầm quan trọng của hoạt động hợp tác từ phía khách hàng Tuy nhiên việc hợp tác