1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các trường Đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay

208 1,4K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 3,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, cần phải có các nghiên cứu khoa học phân tích những vấn đề lý luận, làm rõ thực trạng của đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường ĐH, CĐ; đưa ra những giải pháp nâng cao chất lư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

VŨ THANH BÌNH

VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC,

CAO ĐẲNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

VŨ THANH BÌNH

VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC,

CAO ĐẲNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS

Mã số : 62 22 80 05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Phạm Ngọc Anh

2 PGS TS Dương Văn Thịnh

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 23

1.1 Chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị - một số vấn đề lý luận 23

1.1.1 Đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 23

1.1.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 37

1.1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 41

1.2 Tầm quan trọng và những yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 45

1.2.1 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 45

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 57

Chương 2 CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 76

2.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay 76

2.1.1 Về cơ cấu 76

2.1.2 Năng lực chuyên môn 84

2.1.3 Trình độ được đào tạo 99

2.1.4 Phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị 104

2.2 Những vấn đề đặt ra từ thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 112

2.2.1 Mâu thuẫn giữa yêu cầu có môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội thuận lợi để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị với những yếu kém, hạn chế của đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội 112

2.2.2 Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải có cơ chế chính sách đồng bộ, chiến lược phát triển hợp lý, quá trình đào tạo hiệu quả cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị với những bất cập trong chiến lược phát triển, trong cơ chế chính sách và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ 115

2.2.3 Mâu thuẫn giữa yêu cầu về điều kiện cơ sở vật chất cho việc nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị với những hạn chế về điều kiện vật chất 118

Trang 4

2.2.4 Mâu thuẫn giữa yêu cầu cao về ý thức tự giáo dục, tự bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ với sự hạn chế về ý thức tự học, tự bồi dưỡng cũng như sự

nỗ lực vươn lên của một bộ phận giảng viên lý luận chính trị 120

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ

GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 125 3.1 Những quan điểm cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 125 3.1.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải gắn với xây dựng môi trường kinh tế - xã hội, văn hóa lành mạnh 125 3.1.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải trên cơ sở một chiến lược lâu dài, song có lộ trình, bước đi phù hợp và những khâu then chốt, đột phá 129 3.1.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải trên cơ sở đảm bảo sự cân đối trong cơ cấu, kết hợp hài hòa giữa năng lực chuyên môn, trình độ được đào tạo và phẩm chất chính trị, đạo đức 131 3.1.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải gắn với khắc phục những hạn chế trong nhận thức của các cơ quan quản lý giáo dục, các cấp ủy Đảng và chính quyền về vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị

và của chính bản thân đội ngũ 134 3.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 137 3.2.1 Nâng cao bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp, tư tưởng, đạo đức cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 137 3.2.2 Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn giảng viên lý luận chính trị theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa 142 3.2.3 Đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách, tạo động lực khuyến khích đội ngũ giảng viên lý luận chính trị không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp 147 3.2.4 Phát huy và nâng cao tính tích cực, tính tự giác của bản thân đội ngũ giảng viên

lý luận chính trị trong nâng cao năng lực chuyên môn, rèn luyện nhân cách 153

KẾT LUẬN 159 NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 161

TÀI LIỆU THAM KHẢO 162 PHỤ LỤC 172

Trang 5

BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT

BCHTW: Ban chấp hành Trung ương CMKHCN: Cách mạng khoa học - công nghệ CMKHKT: Cách mạng khoa học - kỹ thuật CMVS: Cách mạng vô sản

CNXH: Chủ nghĩa xã hội CNXHKH: Chủ nghĩa xã hội khoa học CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNĐQ: Chủ nghĩa đế quốc

ĐCSVN: Đảng Cộng sản Việt Nam GDĐH: Giáo dục đại học

GDĐT: Giáo dục - đào tạo LLCT: Lý luận chính trị TBCN: Tư bản chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tốc độ phát triển nhanh chóng của cuộc CMKHCN hiện đại, sự phát triển kinh tế tri thứccùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo những thời cơ, những vận hội to lớn cho các quốc gia lớn, nhỏ trên thế giới, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh đó, không ít những khó khăn, thách thức cũng đang trở thành những rào cản to lớn, nếu các nước không tìm

ra cách thức nhanh chóng vượt qua Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức - quá trình đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó trực tiếp là nguồn lực con người Nhận thức sâu sắc điều đó, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng CSVN đã đặt con người ở vị trí trung tâm Trong chiến lược phát triển con người, Đảng khẳng định: phát triển GDĐT cùng với phát triển khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu. GDĐT, đặc biệt giáo dục bậc cao (ĐH, CĐ) là chìa khoá mở cửa tiến tới tương lai; đầu tư cho GDĐT là đầu tư cho sự phát triển

Trên cơ sở nhận thức vai trò, tầm quan trọng của GDĐT, Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VIII) của Đảng đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản

của GDĐT là phải xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý

tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có nǎng lực tiếp thu tinh hoa vǎn hoá nhân loại, có tư duy sáng tạo, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có kỹ nǎng thực hành giỏi, có sức khoẻ… Đó là những con người, những thế hệ phát triển toàn diện, “vừa hồng, vừa chuyên”

Đặt con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng luôn xác định vấn đề mấu chốt của công cuộc đổi mới là phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu CNXH,

mà làm cho CNXH được nhận thức đúng đắn và được xây dựng hiệu quả Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng

Trang 7

của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.

Kiên định những mục tiêu nói trên, vấn đề củng cố nền tảng tư tưởng

xã hội ngày càng vững vàng hơn trở nên cấp thiết, trong đó, giáo dục thế hệ trẻ nhận thức tích cực, đúng đắn về chủ nghĩa Mác-Lênin, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về CNXH… từ đó có những hành động thiết thực, có trách nhiệm đối với xã hội, đối với cộng đồng, đối với đất nước… vừa là một yêu cầu, vừa là nhiệm vụ và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các ban ngành liên quan Vì thế, từ hơn 50 năm nay, trong chương trình giáo dục ĐH, CĐ đã luôn có khối kiến thức thuộc các môn khoa học xã hội - đó là khối kiến thức LLCT Các môn học của khối LLCT cung cấp cho sinh viên những kiến thức về tự nhiên,

xã hội và tư duy trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó, hình thành nên những kỹ năng để giải quyết, xử lý những vấn đề thực tế một cách khoa học, mang tính nhân văn, phù hợp với lợi ích của cộng đồng, tập thể, chế độ và xã hội

Với tầm quan trọng đặc biệt, nội dung khoa học của các môn LLCT, yêu cầu đối với chất lượng đội ngũ truyền tải nội dung kiến thức các môn LLCT đến người học, đến thế hệ trẻ là rất cao Đảng, Nhà nước cũng hết sức quan tâm, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên LLCT theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp

và trình độ chuyên môn, năng lực giảng dạy Song, có một hiện thực không thể không thừa nhận là đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường ĐH, CĐ nước ta chưa đáp ứng đầy đủ những yêu cầu nêu trên Chính vì thế, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường ĐH, CĐ đang là một vấn đề thực tiễn bức xúc đặt ra hiện nay Do vậy, cần phải có các nghiên cứu khoa học phân tích những vấn đề lý luận, làm rõ thực trạng của đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường ĐH, CĐ; đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ, đóng góp thiết thực cho sự phát triển của GDĐT trong sự nghiệp chấn hưng đất nước Một công trình như vậy vừa có ý nghĩa lý luận và

Trang 8

thực tiễn, vừa có tính thời sự nóng hổi Với những lý do đó, chúng tôi lựa

chọn “Vấn đề chất lượng đội ngũ giảng viên các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên

cứu của luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT nói chung, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ nói riêng là một vấn đề được giới nghiên cứu quan tâm và tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Những năm qua, tuy chưa có một công trình chuyên luận nào công bố về vấn đề này, song có khá nhiều các công trình nghiên cứu có liên quan Có thể phân loại thành những nhóm công trình như sau:

Các công trình nghiên cứu về lý luận chính trị

“Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa" (1991), Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo, Nxb Sự thật, Hà Nội; “Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng vững bước tiến vào thế kỷ XXI” (1998), Lê Khả Phiêu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Đổi mới bước phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam” (1999), Nguyễn Khánh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

“Giáo dục tư tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam trong tình hình mới” (2000), Phạm Đình Nghiệp, Nxb Thanh niên; “Ổn định chính trị - xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam” (2004), Nguyễn Văn Cư, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Đổi mới sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam” (2006), Tập I, II, Phan Văn Khải, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

“Dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn - Một số vấn đề lý

luận và thực tiễn” (2010), GS TS Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội; "Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Lênin" (2010), GS TS Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; "Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới" (2010), GS TS Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nxb

Trang 9

Mác-Chính trị quốc gia, Hà Nội; "Văn hoá và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế" (2010), GS TS Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội…

Trong những công trình này, trên cơ sở tổng kết quá trình đổi mới ở Việt Nam với những thành tựu, hạn chế, thời cơ, thách thức…, các tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về CNXH, về con đường đi lên CNXH, nghiên cứu và giải quyết hàng loạt những vấn đề lý luận nóng bỏng, gắn lý luận với tổng kết thực tiễn, đưa ra hàng loạt những nhận thức khoa học mới

Trong những công trình nêu trên, đáng chú ý là nhóm công trình của

GS TS Hoàng Chí Bảo - một trong những nhà khoa học đầu ngành trong giới

nghiên cứu LLCT Sách “Dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân

văn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do GS TS Hoàng Chí Bảo chủ

biên, gồm 26 bài viết của các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu thuộc những viện nghiên cứu các vấn đề về LLCT có uy tín khác nhau Với 378 trang, cuốn sách tập trung làm rõ mối quan hệ giữa dân chủ với sự phát triển các năng lực sáng tạo của người nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, bước đầu tìm tòi những vấn đề lý luận và thực tiễn của cơ chế thực hiện dân chủ trong nghiên cứu khoa học, nhằm tạo động lực, thúc đẩy sự phát triển bền vững của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam

Cuốn sách "Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Lênin" là sách chuyên khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu lý luận chủ nghĩa

Mác-Mác-Lênin Các tác giả đã trình bày một cách hệ thống quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ chủ nghĩa Mác đến chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác- Lênin sau V.I.Lênin và hiện nay, từ đó luận lý về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin Các tác giả cũng phân tích sâu sắc về nhận thức và vận dụng bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong thực tiễn lịch sử của CNXH hiện thực ở thế kỷ XX và hiện nay, từ CNXH hiện thực mô hình Xô viết đến CNXH hiện thực mới trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam Bên cạnh đó, một trong những đóng góp quan trọng của

Trang 10

các tác giả là sự trình bày về phát triển bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong những điều kiện lịch sử mới của thế giới đương đại; thế giới đương đại gắn liền với chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH khoa học

Sách "Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới" là cuốn sách lý luận được tổng kết trên cơ sở

thực tiễn Việt Nam qua 25 năm đổi mới Giáo sư Hoàng Chí Bảo và các tác giả đã đưa ra những vấn đề về phương pháp luận và cơ sở lý luận của phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới; một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên thế giới Các tác giả đã phân tích một số mô hình phát triển của Đức, Nhật Bản, Thuỵ Điển; quan điểm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Ngân hàng thế giới, góp phần làm sáng rõ về biến đổi xã hội và quản lý phát triển xã hội trên một số lĩnh vực chủ yếu ở nước ta, đưa ra quan điểm định hướng về hệ giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay

Cuốn sách "Văn hoá và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế" là một công trình khoa học công phu, được giới nghiên cứu đánh giá

cao Trong cuốn sách, GS Hoàng Chí Bảo không thuyết trình một cách khô khan mang tính minh hoạ những vấn đề về văn hoá và con người Việt Nam, mà

đi vào phân tích sâu sắc những vấn đề về văn hoá Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế, khẳng định văn hoá dân tộc Việt Nam là cội nguồn, nền tảng, mục tiêu của dân tộc ta trong xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, bảo đảm cho dân tộc Việt Nam có vị thế xứng đáng trong cộng đồng văn hoá nhân loại Bằng những phân tích, luận lý sắc sảo, GS Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh đến yếu tố con người sáng tạo ra văn hoá với tư cách là chủ thể của hoạt động lịch sử và đến lượt nó, văn hoá góp phần phát triển và hoàn thiện con người, làm cho hoàn cảnh ngày càng có tính người hơn như C.Mác đã từng nói Đặc biệt, triết lý nhân sinh và hành động thấm nhuần tính văn hoá đạo đức trong ứng xử, cơ sở khách quan quy định bản sắc đa dạng của các nền văn hoá; vấn

đề tiếp xúc, giao lưu, đối thoại giữa các nền văn hoá; sự thống nhất giữa mục

Trang 11

tiêu và động lực của văn hoá trong phát triển và tiến bộ xã hội… đã được GS Hoàng Chí Bảo phân tích khá sâu và kỹ Đây thực sự là một cuốn sách có giá trị tham khảo tốt về nghiên cứu văn hóa, về nghiên cứu LLCT

Đóng góp đáng kể cho việc khái quát về những vấn đề liên quan đến nhận thức của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam phải

kể đến những cuốn sách tham khảo, hoặc chuyên khảo của tác giả Nguyễn

Phú Trọng như: “Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng trong điều kiện cơ chế thị trường” (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Đổi mới và phát triển - những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội…

Trong các công trình này, tác giả đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận như vai trò của Đảng thời kỳ đổi mới, xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tiến hành CNH, HĐH đất nước…

Đáng chú ý là cuốn sách của tác giả Đào Duy Tùng: “Quá trình hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (1994), lưu hành nội

bộ, Nxb Sự thật, Hà Nội Trong công trình, tác giả đã tập trung khắc họa về quá trình hình thành con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, từ quan điểm của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh những năm 1920-1945, đến sự hình thành lý luận CMDTDCND tiến lên CMXHCN của Đại hội II (2-1951); xây dựng CNXH trong những năm 1954-1975 và thời kỳ xây dựng CNXH trên phạm vi

cả nước Tác giả cũng tổng kết một số kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng CNXH thời kỳ này

Các nhà nghiên cứu Xô viết và Liên bang Nga cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và khoa học chính trị như

"Nhân cách của sinh viên" (1974), V.L.Lisốp ski và A.V Mitriev, Nxb Đại học Tổng hợp Lêningrat; "Thế giới quan khoa học và những vấn đề lý luận của việc xây dựng thế giới quan khoa học trong xã hội xã hội chủ nghĩa" (1975), V.I.Vaxilenco, Nxb Matxcova; "Những vấn đề cấp bách của việc hình thành thế giới quan Mác-Lênin" (1985), T.L.Xmecôp, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 3… Trong nhóm công trình này, chuyên luận "Chủ nghĩa xã hội thế giới trên

Trang 12

con đường cải tổ" (Tạp chí Người Cộng sản, số 16, tháng 11-1987) của nhà

nghiên cứu O.Bôgômôlốp đã cho một cái nhìn khái quát về quá trình hình, phát triển và bước đầu cải tổ của hệ thống XHCN Viết về dân chủ, O.Bôgômôlốp coi sự phát triển chủ nghĩa đa nguyên chính trị như một giá trị của sự phát triển hệ thống chính trị của cơ quan dân cử trong CNXH

Đây là những nghiên cứu xuất bản dưới thời Liên Xô cũ và sau khi Liên Xô sụp đổ, có những giá trị to lớn trong nghiên cứu so sánh các vấn đề LLCT trong tiến trình hình thành, đổi mới và phát triển

Ở Trung Quốc, một số học giả đã công bố một loạt tác phẩm nghiên

cứu LLCT như “Tổng quan lý luận về dân chủ và dân chủ hóa" (Tạp chí Thông tin lý luận, số 12 -1990); "Cuộc đọ sức giữa hai chế độ xã hội - bàn về chống diễn biến hòa bình" (1994) của Cốc Văn Khang, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; "Cải cách thể chế chính trị" (1996), Tập thể tác giả (sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, "Kiên trì và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa" (1997), Lý Lâm và Ngô Ngọc Trương (tài liệu phục vụ nghiên

cứu), Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội… Những công trình này chủ yếu bàn tới việc xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện dân chủ XHCN Khi bàn tới dân chủ, những nhà nghiên cứu Trung Quốc luôn khẳng định bản chất giai cấp của dân chủ, trực tiếp là dân chủ trên lĩnh vực chính trị; khẳng định vai trò của Đảng Cộng sản trong hệ thống chính trị XHCN Mặt khác, các tác giả cũng chỉ rõ những thiếu sót trong tổ chức, vận hành hệ thống chính trị đã làm ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng, làm xuất hiện hàng loạt nguy cơ đối với thực hành dân chủ và từ đó xuất hiện nguy cơ đối với sự tồn tại của cả hệ thống chính trị

Sẽ là thiếu sót nếu không kể đến một số công trình nghiên cứu của các học

giả phương Tây như: “Việt Nam từ năm 1975-1995 (1997), Jacques Boudet, P Larousse; “Việt Nam thời kỳ mới” (2001), Ralph Smith N.Y, Cornell University Press; “Việt Nam: Xã hội, kinh tế, môi trường” (2003), Benedict J

Tria Kerkvliet, Nxb.Australian National University;… Trọng tâm của các

Trang 13

công trình này là nghiên cứu tình hình Việt Nam, những bước chuyển lớn trong xã hội Việt Nam sau khi đất nước thống nhất, nhất là những năm tháng Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới Các tác giả cũng giành một dung lượng đáng kể trong các công trình cho việc nghiên cứu về CNXH ở Việt Nam trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, do những lý do khách quan, chủ quan, nhiều nhận định, đánh giá còn một chiều, phiến diện

Nhìn chung, nhóm công trình nghiên cứu về LLCT là nhóm công trình khá phong phú, khá đa diện nghiên cứu về LLCT Tuy những công trình này không trực tiếp nghiên cứu về đội ngũ giảng viên LLCT, song tiếp cận LLCT với tư cách là một trong những phương tiện trau dồi kiến thức, phương pháp giảng dạy, nâng cao năng lực nghiên cứu, năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên LLCT, tác giả luận án đã tiếp thu, kế thừa từ những nhà khoa học

đi trước những kiến thức, những gợi mở quan trọng cho việc triển khai một số nội dung của luận án

Các công trình nghiên cứu về công tác giáo dục lý luận chính trị

- “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy” (1987), GS

TS Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Cộng sản, số 10; “Quan hệ giữa lý luận và chính trị” (1992), Nguyễn Thế Phấn, Tạp chí Cộng sản, số 8; “Mấy vấn đề trong công tác lý luận” (1992), Đỗ Nguyên Phương, Tạp chí Công tác tư tưởng văn hóa, số 7; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của năng lực trí tuệ

và lý luận” (1995), PGS TS Trần Đình Huỳnh, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 2; Nguyễn Phú Trọng (1999), “Tạo bước chuyển biến mới trong học tập lý luận chính trị của cán bộ đảng viên”, Tạp chí Cộng sản, số 11; Nguyễn Khoa Điềm (2004), “Nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong tình hình mới”, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý

luận, số 1…

Các tác giả của nhóm công trình này đã nêu bật tầm quan trọng của việc giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên trong điều kiện hiện nay Các tác giả đã tập trung phân tích những khó khăn, thuận lợi tác động đến công tác giáo dục

Trang 14

LLCT cho cán bộ, đảng viên; thực trạng giáo dục LLCT trong thời gian qua; trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt yêu cầu giáo dục lý luận trong tình hình mới Các công trình này tuy không đề cập trực tiếp đến đội ngũ giảng viên LLCT, song những kiến giải về công tác giáo dục LLCT, những giải pháp thiết thực về đào tạo và đào tạo lại đội ngũ làm công tác LLCT là những gợi mở tốt cho tác giả luận án

- Các công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng dạy và học các môn lý luận chính trị

Đề tài KX 10-08, “Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin ở Việt Nam - Những vấn đề chung”, Hà Nội, 2002, do GS.TS

Nguyễn Hữu Vui, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội làm chủ nhiệm là một trong những đề tài đầu tư khá công phu về đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin Nghiên cứu đổi mới phương pháp dưới một góc độ hẹp - “giảng dạy” (phân biệt với

“dạy và học”), đề tài trình bày một cách tổng quát về đội ngũ giảng viên Lênin, về những phương pháp giảng dạy truyền thống thường gặp ở đội ngũ

và khẳng định: muốn đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Lênin một cách hiệu quả, vấn đề phải được bắt đầu từ chính đổi mới tư duy, nhận thức của đội ngũ giảng viên về phương pháp giảng dạy, về sự cần thiết phải đổi mới phương pháp Muốn vậy, cần thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao năng lực nhận thức, năng lực chuyên môn cho đội ngũ Đó cũng là một trong những phương thức nâng cao chất lượng đội ngũ, từ đó, có tác động tích cực ngược lại đối với đổi mới phương pháp giảng dạy

Mác Ban Khoa giáo Trung ương, Đề tài nghiên cứu khoa học, mã số

KHBĐ-2003-20:“Rà soát và đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung một số nội dung giáo dục đạo đức công dân, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhà trường ở từng cấp học” Đây là một công trình nghiên cứu có mục

tiêu tìm ra các giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn LLCT, đạo đức công dân trong các bậc học khác nhau Để hoàn thành mục

Trang 15

đích nêu trên, đề tài đã giành một dung lượng đáng kể để nghiên cứu về thực trạng của đội ngũ giáo viên, giảng viên giảng dạy các môn học này Theo nhóm tác giả, đội ngũ giảng viên Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường ĐH, CĐ nước ta hiện nay tuy tăng nhanh về số lượng, song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo Tình trạng dạy vượt giờ, quá tải khiến một số đông đội ngũ không có thời gian đầu tư, hoàn thiện chuyên môn, ảnh hưởng đáng

kể đến chất lượng của đội ngũ

- Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2003), Hội thảo Khoa học:

“Thực trạng và giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng” Hội thảo đã đánh giá, phân tích thực trạng giảng dạy, học

tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường

ĐH, CĐ, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn khoa học này Rất nhiều nhà khoa học tham gia Hội thảo đã tập trung nghiên cứu về đội ngũ giảng viên, đề xuất các giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng đội ngũ, coi đó là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao một bước chất lượng giảng dạy các môn học khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

- Ban Tuyên giáo Trung ương, Đề tài nghiên cứu khoa học: “Tình hình giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng và chủ trương, giải pháp cho thời gian tới” (10-2007) Nhằm đưa ra các định hướng lớn và giải pháp tổng thể nâng

cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường ĐH, CĐ, đề tài đã nghiên cứu một cách tổng quát

về đội ngũ giảng dạy các môn khoa học này với tư cách là một trong những yếu tố quan trọng, trực tiếp tác động đến chất lượng quá trình dạy và học Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh hàng loạt các ưu điểm về gia tăng học hàm, học vị trong đội ngũ, thì hạn chế lớn nhất của một bộ phận của đội ngũ này là sức ỳ lớn, chậm đổi mới tư duy, ngại trau dồi kiến thức, ít chịu tìm tòi

Trang 16

phương pháp giảng dạy phù hợp với những đối tượng khác nhau, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy Trong quá trình dạy và học, hiện tượng đọc - chép vẫn là hiện tượng phổ biến Đặc biệt, tâm lý coi các môn học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là môn học phụ, nhất là trong các trường kỹ thuật cũng là một trong những nguyên nhân cản trở đổi mới phương pháp Bên cạnh đó, đề tài cũng chỉ rõ rằng, ở một bộ phận hăng hái đổi mới phương pháp, thì vẫn có nhận thức, quan niệm chưa đúng về phương pháp, đồng nhất phương pháp với việc ứng dụng kỹ thuật soạn thảo và trình chiếu PowerPoint (kỹ thuật PowerPoint)

- Cụm đề tài nghiên cứu khoa học về đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường

ĐH, CĐ các khối ngành khác nhau:

+ Trường Đại học Nông nghiệp I (2006), Đề tài: “Đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các trường đại học, cao đẳng khối ngành Nông - Lâm - Ngư”

+ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2006), Đề tài: “Đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các trường đại học, cao đẳng khối ngành Sư phạm”

+ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (2006), Đề tài:“Đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các trường đại học, cao đẳng khối ngành kỹ thuật”

+ Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Đề tài: “Đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các trường đại học, cao đẳng khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn”

Điểm chung của các đề tài này là dựa trên thức nhận rằng, sinh viên ở mỗi khối ngành học đều có đặc thù riêng Do vậy, giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho những đối tượng này cũng cần có phương pháp thích hợp Trên cơ sở đó, đề tài tập trung đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng

Trang 17

Hồ Chí Minh phù hợp với đặc thù sinh viên của từng khối ngành Một trong những giải pháp được các đề tài chú trọng là giải pháp về đội ngũ giảng dạy, trong đó đặc biệt chú ý vấn đề nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ dựa trên việc nắm bắt những đặc điểm riêng biệt cả về ưu điểm lẫn hạn chế của đội ngũ trong từng khối ngành khác nhau Những nhận xét, luận giải về đặc điểm của giảng viên Mác-Lênin trong các khối ngành khác nhau của các

đề tài gợi mở cho tác giả luận án về hướng tiếp cận nghiên cứu thực trạng đội ngũ giảng viên LLCT: ngoài nghiên cứu tổng thể về đội ngũ, cần khu biệt những đối tượng khác nhau trong đội ngũ để có cái nhìn chính xác, cụ thể, đưa ra những giải pháp sát thực, hiệu quả

- Các công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị

- Luận án tiễn sĩ Triết học: “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán

bộ giảng dạy lý luận Mác-Lênin ở các trường chính trị tỉnh” (2001) của

nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Trãi

Luận án đã chỉ ra đặc thù của công tác giảng dạy lý luận Mác-Lênin, khảo sát sâu hiện trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận Mác-Lênin ở các trường chính trị tỉnh; chỉ ra những nguyên nhân của những yếu kém về năng lực tư duy lý luận của cán bộ giảng dạy lý luận Mác-Lênin ở các trường chính trị tỉnh; trên cơ sở đó, đề xuất những phương hướng

và giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ này Đó là những giải pháp có tính khả thi

- Đề tài KX 10-09 do GS Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm: “Đổi mới quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học Mác-Lênin - kiến nghị và giải pháp” Với mục tiêu đưa ra những giải

pháp nhằm đổi mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, đề tài đã làm rõ yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, đánh giá thực trạng của đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin trong các trường ĐH, CĐ của cả nước, chỉ ra ưu điểm,

Trang 18

hạn chế của đội ngũ, nguyên nhân hạn chế Một trong những hạn chế căn bản của đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin mà đề tài chỉ ra là phần lớn trong các trường ĐH, CĐ, việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học tách rời nhau Các giảng viên, nhất là giảng viên trẻ hầu như không tham gia nghiên cứu khoa học và điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giảng dạy, làm cho bài giảng thiếu những kiến thức cập nhật, trở nên khô khan, thiếu sức thuyết phục Đề tài cũng liệt kê những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên và tập trung phân tích những nguyên nhân chủ yếu như kinh phí nghiên cứu khoa học của các trường hạn hẹp, Ban Giám hiệu một số trường chưa thực sự quan tâm đến các môn khoa học Mác-Lênin…

Nhìn chung, những đánh giá mạnh dạn mà nhóm tác giả nêu lên đã gợi

mở một hướng tiếp cận về một hiện tượng khá phổ biến trong thực trạng đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, song ít được chú ý tới Đó cũng

là một trong những định hướng nghiên cứu, mà khi giải quyết các vấn đề thuộc về nội dung của luận án chúng tôi hết sức chú trọng

- Đề tài KX 10-09D do PGS,TS Tô Huy Rứa chủ trì (2004): “Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo giảng viên lý luận chính trị các trường đại học, cao đẳng” Nhóm nghiên cứu đã khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên

LLCT ở các trường đại học lớn ở các khu vực trung tâm (đặc biệt là ở Thủ đô

Hà Nội); phân tích các chương trình đào tạo giảng viên LLCT của một số trường đại học, học viện khu vực Hà Nội; đồng thời, đánh giá khái quát năng lực đào tạo lý luận Mác-Lênin của các trường nêu trên; lấy đó làm cơ sở đề xuất khung chương trình đào tạo đội ngũ giảng viên LLCT với những bổ sung, thay đổi phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học các môn LLCT trong thời kỳ hiện tại Như vậy, ở đề tài này, thực trạng đội ngũ giảng viên LLCT ở những cơ sở đào tạo lớn đã được nghiên cứu khá kỹ, có những đánh giá sát thực về ưu, nhược điểm, về xu hướng biến đổi đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn học này Cũng cần lưu ý rằng, đề tài chủ yếu khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên LLCT trong phạm vi các trường lớn, thuộc khu vực

Trang 19

trung tâm- nơi có điều kiện giảng dạy và nâng cao trình độ chuyên môn tương đối thuận lợi Do vậy, dù có những đóng góp mới, song để các kết quả nghiên cứu thực sự phản ánh đầy đủ về toàn bộ đội ngũ giảng viên LLCT các trường

ĐH, CĐ cả nước, phạm vi khảo sát của đề tài cần được mở rộng hơn nữa Tuy nhiên, dựa vào góc độ tiếp cận và những kết quả mà nhóm tác giả đã đạt được trong không gian nghiên cứu mà đề tài đã xác định, chúng tôi cố gắng kết nối, hình dung và đưa ra ý tưởng giải quyết một số những nội dung căn bản của luận án

- Một số bài viết như: “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho giảng viên Mác-Lênin ở các Trường chính trị tỉnh” (1993), Nguyễn Đình Trãi, Tạp chí Triết học, số 1;

“Về giảng viên lý luận chính trị” (2005), Cao Duy Hạ, Báo Nhân dân (5/5/);“Hội thi giảng viên dạy giỏi - hoạt động đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở trường chính trị” (2005), Nguyễn Văn Sáu, Báo Nhân

dân (20/11)…

Những công trình này đã đánh giá vai trò đội ngũ giảng viên LLCT nói chung, trong một số trường chính trị tỉnh, thành phố cụ thể nói riêng; qua đó, chỉ ra những ưu điểm tiêu biểu và một số những hạn chế căn bản của đội ngũ này Tuy nhiên, do phạm vi hạn hẹp của một bài báo, nên những nội dung nghiên cứu nêu trên mới chỉ dừng lại ở mức khái lược

Một cách tóm lược, khi khảo cứu các công trình đã liệt kê, có thể rút ra

những kết luận cơ bản sau:

- Trước chúng tôi và cùng với chúng tôi đã và đang có những nghiên cứu về vấn đề chất lượng đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các môn LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta hiện nay Do vậy, các công trình nghiên cứu về đội ngũ giảng viên các môn LLCT nói chung tương đối đa dạng và có những đóng góp nhất định, đáng ghi nhận

Ở những khía cạnh khác nhau, những công trình nghiên cứu đó đã cung cấp kiến thức, những gợi mở cần thiết, quan trọng cho tác giả luận án đi sâu

Trang 20

nghiên cứu vấn đề Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã liệt kê là những

tư liệu quý, những cơ sở quan trọng để tác giả luận án tham khảo, kế thừa trong quá trình hoàn thành mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Các nhà nghiên cứu đi trước phần lớn và chủ yếu nghiên cứu về đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - có nghĩa là nghiên cứu về đội ngũ trong trạng thái khá ổn định khi các giảng viên đảm nhận giảng dạy theo chương trình chưa tích hợp năm môn LLCT thành

ba môn, trong đó có môn mới là môn “Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam”

- Do mỗi công trình có mục tiêu nghiên cứu khác nhau, cho nên vấn đề chất lượng đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng được trình bày ở những mức độ nông, sâu khác nhau Vẫn tồn tại rất nhiều khoảng trống trong nghiên cứu, hoặc có rất nhiều nội dung nghiên cứu mới chỉ được đề cập khá sơ sài, ở mức độ đặt vấn đề; hoặc có những nội dung nghiên cứu chưa được đặt trong một hệ thống, một chỉnh thể để nhận biết những mối quan hệ bản chất, chi phối, quy định, ràng buộc

- Trong các nghiên cứu nêu trên, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ, hệ thống, toàn diện về vấn đề chất lượng đội ngũ giảng viên các môn LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta như đề tài luận

án mà chúng tôi đã lựa chọn Do đó, chúng tôi mạnh tiến hành nghiên cứu về vấn đề này trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu đã có, tiếp tục khỏa lấp các khoảng trống, nhận chân, làm rõ những gì cần tiếp tục đi sâu phân tích, luận giải, nhằm đưa ra những những giải pháp căn bản, cốt yếu, có giá trị đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT; thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT trong các

Trang 21

trường ĐH, CĐ ở nước ta hiện nay, đề xuất một số quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng của đội ngũ này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta

- Phân tích thực trạng chất lượng của đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta hiện nay; đánh giá ưu điểm, hạn chế của đội ngũ và chỉ ra nguyên nhân hạn chế

- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các môn LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở Việt Nam thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chất lượng đội ngũ giảng viên các môn LLCT trong các trường ĐH,

CĐ ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung khoa học: luận án nghiên cứu những yếu tố, những điều

kiện làm nên và quy định chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT

- Về phạm vi thời gian: từ năm 2001 đến nay

- Về không gian nghiên cứu: các trường ĐH, CĐ trên phạm vi cả nước

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước về GDĐT, về đội ngũ giảng viên, về chất lượng đội ngũ giảng viên; về giảng dạy LLCT …

Luận án được triển khai, nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp lịch sử - logíc; phương pháp trừu tượng - cụ thể; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp so sánh và hệ thống hoá Ngoài ra, các phương pháp khác như

Trang 22

đối chiếu, thống kê, điều tra xã hội học cũng được vận dụng phù hợp với từng nội dung của luận án

6 Đóng góp khoa học của luận án

- Luận án góp phần làm rõ những khái niệm cơ bản liên quan đến chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT; tiêu chí xác định chất lượng và những yêu cầu về chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT các trường ĐH, CĐ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

- Đánh giá một cách khoa học thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta Dựa trên những phân tích lý luận

và thực tiễn, luận án nêu lên một số phương hướng, giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta thời gian tới

- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu hoặc phục vụ công tác giảng dạy cho những vấn đề có liên quan

- Kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể là căn cứ cho công tác chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý xây dựng chương trình, kế hoạch định kỳ bồi dưỡng giảng viên LLCT, đáp ứng yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên các môn LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở Việt Nam từ năm 2011 đến năm

2020

7 Kết cấu lớn của luận án

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án được cấu trúc thành 3 chương, 6 tiết:

Chương 1 Chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị và và tầm

quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị

Chương 2 Chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các

trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương 3 Quan điểm và giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội

ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay

Trang 23

Chương 1 CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

1.1 Chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị - một số vấn đề

lý luận

1.1.1 Đội ngũ giảng viên lý luận chính trị

1.1.1.1 Khái niệm "giảng viên", "giảng viên lý luận chính trị"

* Khái niệm "giảng viên"

Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội, đã xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của xã hội loài người Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống trên cơ sở tiếp thu, kế thừa

và phát triển những kinh nghiệm, tri thức mà nhân loại đã tích lũy được Nhiệm

vụ đặc biệt đó từ thời cổ đại đến nay đã trở thành một chức năng chuyên biệt và được giao cho các nhà giáo Ngành giáo dục với bề dày lịch sử của mình đã cho những dữ liệu phong phú để tiếp cận, làm rõ khái niệm “nhà giáo” như là

cơ sở để làm rõ khái niệm “giảng viên” Chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, lúc đầu ở Việt Nam, nhân dân cũng gọi người làm nghề dạy học là “Sư”

và trân trọng "Sư" - “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” Sau khi có chữ Nôm, nhân dân gọi những người làm nghề dạy học bằng "Thầy" - thầy Đồ, thầy Nho, đến khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, thì gọi là “Thầy giáo” Trong nhận thức

và trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam, nhà giáo là một chức danh

xã hội được xếp đầu tiên và không hàm nghĩa giới tính Theo Từ điển Tiếng Việt, nhà giáo là “những người làm nghề dạy học” [113, tr.516] Để làm rõ hơn

khái niệm nhà giáo, đồng thời quy định địa vị pháp lý của nhà giáo, tại Điều 70

của Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy

đủ về nhà giáo: “Nhà giáo là những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác” [89] Trong hệ thống giáo dục quốc

Trang 24

dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong hệ thống giáo dục nói chung được gọi là nhà giáo; ở cơ sở giáo dục

đại học gọi là giảng viên” [89] Như vậy, “giảng viên là khái niệm chỉ những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu trong các học viện, các trường đại học, cao đẳng”

Hiện nay, theo quan niệm của giáo dục hiện đại, khái niệm "giảng viên" cũng như vai trò giảng viên đã được mở rộng hơn, theo đó, giảng viên thực hiện vai trò trong quá trình đào tạo:

1) Vai trò của người thúc đẩy: Đây là vai trò rất quan trọng của giảng

viên, phù hợp với nguyên tắc lấy người học làm trung tâm, trong đó nhiệm vụ của giảng viên là gợi mở, khuyến khích, giúp đỡ, thúc đẩy sinh viên từng bước tự nhận thức, từ đó rút ra phương pháp và những kiến thức cần thiết áp dụng trong thực tiễn, giải quyết công việc hiệu quả

Để làm tốt vai trò của người thúc đẩy, giảng viên phải có phương pháp tốt, nhạy bén nghề nghiệp, nắm bắt được khả năng, đặc điểm tâm lý, điểm mạnh cũng như hạn chế của người học, từ đó tìm ra những điểm mấu chốt, khơi gợi, thúc đẩy mong muốn, khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học, hình thành kỹ năng xử lý vấn đề cho người học

2) Vai trò của người tổ chức: Giảng viên cần tổ chức tốt từng khâu

cũng như toàn bộ quá trình giảng dạy của mình, từ xác định nhu cầu, thiết kế đào tạo đến chuẩn bị bài giảng và tiến hành công việc giảng dạy Tổ chức quá trình giảng dạy hiệu quả, giảng viên phải chú ý đến tính tương tác giữa người dạy và người học, trong đó, người học được coi là trung tâm

Với vai trò của người tổ chức, giảng viên phải có phương pháp làm việc khoa học, có tinh thần tận tụy, phong cách sư phạm, thái độ cởi mở, sẵn sàng trao đổi, lắng nghe ý kiến của người học Trong vai trò của người tổ chức, ba yếu tố: Kiến thức, phương pháp, đạo đức nghề nghiệp được kết hợp nhuần nhuyễn, đạt tới trình độ cao

Trang 25

Ở nước ta, yêu cầu đối với giảng viên được xác định cụ thể: Về trình độ đào tạo, giảng viên ít nhất là có trình độ từ đại học trở lên Trong quá trình phát triển, yêu cầu đặt ra với giảng viên là phải từng bước chuẩn hoá để đạt trình độ văn bằng thạc sỹ, tiến sỹ Nhìn chung, giảng dạy ĐH, CĐ là một hoạt động mang tính nghề nghiệp bậc cao; giảng viên là tầng lớp trí thức có năng lực chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm để tham gia giảng dạy tốt một môn học (hoặc một số môn học)

* Khái niệm "giảng viên lý luận chính trị"

Theo tiếng Hy lạp, "Theorie"/lý luận - với nghĩa sơ khai của nó là quan

sát, nghiên cứu Cùng với sự phát triển của xã hội, của tri thức con người,

khái niệm lý luận càng ngày càng được hiểu đầy đủ hơn

Lý luận là phạm trù rộng lớn, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của tri thức loài người Theo sự phát triển của lịch sử, có rất nhiều cách định nghĩa và khái niệm lý luận ngày càng được hiểu một cách đầy đủ, phong phú hơn Nói về lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa một cách rất đơn giản, ngắn gọn, song đầy đủ: "Đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế Đó là lý luận chân chính" [75, tr.233] Từ khái niệm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát về lý luận ở mức độ sâu sắc hơn: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [77, tr.497] Định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những làm sáng tỏ quan niệm triết học về lý luận mà còn làm sáng tỏ nguồn

gốc, cách thức hình thành lý luận Về thực chất, lý luận chính là hệ thống những tri thức đã được khái quát tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên hệ cơ bản của hiện thực Để tồn tại và phát triển, con người

buộc phải tìm hiểu thế giới xung quanh, phải có tri thức nhất định về nó Tuy nhiên, những tri thức đó không phải tự nhiên mà có, nó chỉ được hình thành, được thu nhận thông qua hoạt động thực tiễn (qua cải tạo thế giới tự nhiên,

Trang 26

qua các hoạt động chính trị - xã hội, qua lao động sản xuất) Trong quá trình lao hoạt động thực tiễn con người dần dần đúc rút được kinh nghiệm, tích lũy những kinh nghiệm đó lại Và lý luận chính là sự khái quát hóa, trừu tượng hóa từ những kinh nghiệm thực tiễn đó Như vậy, lý luận không đơn thuần chỉ

là sự mô tả hiện thực khách quan, là sự sao chép giản đơn các kinh nghiệm trong thực tiễn, mà trên cơ sở phản ánh hiện thực của thực tiễn, nó phát hiện

ra những quy luật vận động và dự báo những xu hướng, những vấn đề được đặt ra cần giải quyết trong thực tiễn Những phân tích đó cho thấy: Lý luận được hình thành từ thực tiễn, trên cơ sở thực tiễn, đa dạng, phong phú của con người, loài người

Nhận thức của con người, nhìn chung, có cấu trúc phức tạp và có các cấp độ nhận thức khác nhau, song về tổng thể có thể khái quát thành hai cấp độ: Nhận thức kinh nghiệm (nhận thức trực tiếp) và nhận thức lý luận (nhận thức gián tiếp)

Nhận thức kinh nghiệm là quá trình nhận thức mang lại những tri thức

trực tiếp thu nhận được từ lao động, sản xuất, hàng ngày Hay nói cách khác, tri thức kinh nghiệm là những tri thức được chủ thể thu nhận trực tiếp trong quá trình hoạt động thực tiễn, giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới Tri thức kinh nghiệm giúp cho con người điều chỉnh kịp thời hoạt động của mình, làm cho con người có được những quyết định nhanh chóng và đúng đắn trong một phạm vi nhất định, hoàn cảnh cụ thể nhất định Song cũng cần phải nhấn mạnh rằng, dù quan trọng và có vai trò to lớn, song tri thức kinh nghiệm mới chỉ dừng lại ở

sự khái quát ban đầu, mới chỉ là sự phản ánh sự vật trong những hoàn cảnh cụ thể, cục bộ, riêng biệt, phản ánh cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên, mà chưa đi sâu vào bản chất và qui luật của sự vật, chưa tạo thành một hệ thống tri thức chặt chẽ, chưa tìm ra mối liên hệ bản chất Do vậy, phạm vi áp dụng cũng như tính hướng dẫn, chỉ đạo của tri thức kinh nghiệm thường bị hạn chế trong phạm vi hẹp Ph Ăngghen đã viết: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao

Trang 27

giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” [69, tr.718] Cho nên, biện chứng của quá trình nhận thức tất yếu vươn tới một tri thức sâu sắc hơn, bản chất hơn, mang tính khái quát cao hơn, đó là tri thức lý luận - kết quả của

nhận thức lý luận Nhận thức lý luận là quá trình mang lại những tri thức mới,

gián tiếp về mối liên hệ bản chất giữa các mặt khác nhau của khánh thể nhận thức, từ đó lý giải, nhận thức những quy luật cơ bản Tri thức lý luận thuộc trình độ cao hơn so với tri thức kinh nghiệm, nó đã vượt ra ngoài giới hạn của những tri thức kinh nghiệm Tri thức lý luận phản ánh hiện thực trong tính bản chất của sự vật, mang tính trừu tượng hóa và khái quát hóa cao, đem lại

sự hiểu biết sâu sắc về bản chất và qui luật của sự vật Chính vì vậy, phạm vi

áp dụng cũng như tính hướng dẫn, chỉ đạo của tri thức lý luận rộng lớn hơn so với tri thức kinh nghiệm Tri thức lý luận làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác, phong phú hơn, tránh được tình trạng mò mẫm, tự phát trong quá trình nhận thức cũng như cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội Tri thức lý luận là tri thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm, có được trên cơ sở khái quát tri thức kinh nghiệm Do đó, nếu tri thức kinh nghiệm được tích lũy càng nhiều, thì càng có cơ sở vững chắc, độ tin cậy càng cao cho sự khái quát

về lý luận Và lý luận chỉ thực sự là lý luận khoa học khi nó được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn

Tuy duy lý luận được hình thành từ kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng nó không hình thành một cách tự phát và không phải mọi

lý luận đều được hình thành từ kinh nghiệm thông thường Lý luận được xây dựng trên cơ sở trình độ khái quát cao, nắm vững một cách sâu sắc những mặt bản chất nhất trong mối quan hệ giữa sự vật và hiện tượng, từ đó rút ra những vấn đề mang tính quy luật trong sự vận động của thế giới khách quan và xã hội

Do đó, theo C Mác, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là: Đem quy sự vận động

bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự

Những luận giải trên đây dẫn đến cách hiểu lý luận theo một nghĩa

chung nhất: Lý luận là một hệ thống tri thức được khái quát từ những kinh

Trang 28

nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính qui luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực có vai trò chỉ đạo thực tiễn, dự báo, dự đoán tương lai, định hướng cho hoạt động thực tiễn của con người

Với những đặc trưng cơ bản như đã nêu ở trên, lý luận có vai trò hết sức

to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người Trước tiên, lý luận giúp con

người nhận thức đúng đắn thế giới khách quan cùng với những quy luật vận động nội tại của nó, có định hướng đúng trong hoạt động thực tiễn, mang lại những hiệu quả to lớn cho hoạt động thực tiễn, nhằm cải tạo, biến đổi thế giới khách quan phục vụ cho con người và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [76, tr.234] Bên cạnh đó, lý luận có khả năng dự báo, đưa ra những phương hướng, giải pháp hiệu quả cho hoạt động thực tiễn, bởi vì, việc nghiên cứu, phát hiện ra xu hướng vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng, khái quát nó thành lý luận khoa học mở ra khả năng to lớn trong dự báo; trên cơ sở

đó, có thể đưa những phương hướng, biện pháp để cải tạo, biến đổi thực tiễn theo những mục tiêu đã định phục vụ cho lợi ích của con người Với ý nghĩa

đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Lý luận như cái kim chỉ Nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế” [76, tr.233] Chính vì vậy,

lý luận còn tạo cho con người có niềm tin, sức mạnh vật chất trong hoạt động thực tiễn Lý luận tuy là dạng hoạt động tinh thần, thuộc hình thái ý thức xã hội, nhưng khi soi sáng, vận dụng vào trong hoạt động thực tiễn, nó đã thực sự trở thành sức mạnh vật chất Nhờ có lý luận chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn, con người hoàn toàn chủ động trong hoạt động của mình, tăng thêm sức mạnh vật chất để chiến thắng tất cả những khó khăn trở ngại, đạt được những mục tiêu cơ bản, như C Mác đã nói: “Vũ khí của sự phê phán không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng có thể trở thành lực lượng vật chất một khi

nó thâm nhập vào quần chúng” [65, tr.580]

Trang 29

Theo tiếng Hy lạp “Politica”/chính trị - có nghĩa là những công việc

liên quan tới nhà nước, là nghệ thuật cai trị đất nước Chính trị theo nguyên nghĩa của nó là những công việc nhà nước hay công việc xã hội liên quan tới Nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau, trong đó hạt nhân là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước

Trong tác phẩm “Chính trị”, Platon xem chính trị là nghệ thuật cung

đình liên kết trực tiếp các chuẩn mực của người anh hùng và sự thông minh;

sự liên kết cuộc sống của họ được thực hiện bằng sự thống nhất tư tưởng và tinh thần hữu ái

Mác Vâybe xem chính trị là khát vọng tham gia vào quyền lực, hay ảnh hưởng đến sự phân chia quyền lực giữa các quốc gia, bên trong quốc gia, giữa các tập đoàn người trong một quốc gia

Theo quan niệm mác-xít thì chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia đối với quyền lực nhà nước C Mác và Ph Ăngghen, những nhà sáng lập ra CNXHKH, khi đề cập đến chính trị, đã xem xét chính trị với

tư cách là một hiện tượng xã hội - chính trị mang tính lịch sử, chỉ ra vai trò to lớn của nó trong đời sống xã hội Kế thừa những tư tưởng của C Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng, khi xã hội phân chia ra thành các giai cấp,

có đấu tranh giai cấp và nhà nước xuất hiện thì chính trị ra đời Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là tham gia vào hoạt động của nhà nước, định hướng cho sự phát triển của đất nước, xác định hình thức, nhiệm vụ và nội dung hoạt động của nhà nước Chính trị phản ánh cuộc đấu tranh của các giai cấp xung quanh vấn đề giành, giữ, sử dụng chính quyền và cuối cùng do địa

vị kinh tế của những giai cấp đó qui định

Ngoài ra, còn có các định nghĩa khác nhau về chính trị như:

Chính trị là hoạt động cai trị con người của một tập đoàn, hoặc của một cá nhân nhất định triển khai xung quanh quyền lực nhà nước

Trang 30

Hoặc: Chính trị là một loại quan hệ - quan hệ giữa các giai cấp, trước hết là các quan hệ kinh tế

Hay như: Chính trị là hệ thống các chính sách và sách lược hành động của các giai cấp và các chính đảng để giành và giữ chính quyền nhằm phục

vụ cho lợi ích của giai cấp mình

Hoặc là: Chính trị là chủ thể của kiến trúc thượng tầng, có chức năng

xử lý và điều tiết các mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia

Những phân tích, những định nghĩa trên đây cho thấy chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó xuất hiện cùng với sự phân chia xã hội thành giai cấp và nhà nước Từ khi xuất hiện đến nay, chính trị luôn là lĩnh vực hoạt động phức tạp và quan trọng nhất Những bước thăng trầm của lịch sử nhân loại, xét đến cùng đều có nguồn gốc sâu xa ở những thay đổi trong lĩnh vực chính trị Bởi tính phức tạp đó, mà cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh khái niệm “chính trị”

Như vậy, chính trị biểu hiện trên các tri thức được tích lũy trong quá trình lịch sử và những quan hệ thực tế gắn với con người, với giai cấp với dân tộc và với thời đại về những vấn đề căn bản nhất như chính quyền nhà nước, quan hệ giai cấp, cơ sở kinh tế của xã hội Một cách chung nhất, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia trong vấn đề giành, giữ, sử dụng quyền lực Nhà nước; là những phương hướng, những mục tiêu được quy định bởi lợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt động thực tiễn chính trị của các giai cấp, các đảng phái, các Nhà nước để thực hiện đường lối đã lựa chọn nhằm đi tới mục tiêu đã đặt ra

Từ việc phân tích, làm rõ khái niệm “lý luận” và “chính trị”, khái niệm

“lý luận chính trị” được hiểu là “hệ thống lý luận, quan điểm, tư tưởng về chính trị, mang tính toàn diện, có tác dụng định hướng, chỉ đạo toàn bộ hoạt động chính trị của một Nhà nước, một quốc gia, giai cấp”

Đối với Việt Nam, nền tảng, cơ sở LLCT của Đảng CSVN là chủ nghĩa

Trang 31

Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Điều đó được Đảng khẳng định trong

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,

thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991): "Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động [34, tr.21] Như vậy, ở Việt Nam, LLCT ra đời và được hình thành trên cơ sở nền tảng tư tưởng của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, một hệ thống luận điểm hoàn chỉnh và khoa học với những quan điểm triết học, chính trị học và CNXHKH

Chủ nghĩa Mác-Lênin là khoa học về những qui luật phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân về đấu tranh lật đổ ách thống trị của các giai cấp bóc lột trong xã hội cũ và xây dựng một chế độ xã hội mới ấm no, tự do, hạnh phúc Ra đời trên cơ sở tiếp thu một cách chọn lọc những tinh túy của triết học, kinh tế chính trị học cổ điển và CNXH không tưởng cùng với sự tổng kết kinh nghiệm từ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới, chủ nghĩa Mác là một bước phát triển cách mạng vĩ đại trong khoa học về tự nhiên và xã hội

Đánh giá về học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen khẳng định rằng,

C.Mác đã có hai phát hiện vĩ đại: Một là, quan niệm duy vật về lịch sử; hai là,

học thuyết về giá trị thặng dư Bằng phát hiện thứ nhất, C.Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới, chỉ ra quy luật phát triển của xã hội loài người Với phát hiện thứ hai, C.Mác đã vạch rõ quy luật riêng biệt trong sự vận động của phương thức sản xuất và học thuyết

về giá trị thặng dư TBCN và của xã hội tư bản nói chung Toàn bộ học thuyết của C.Mác được cấu thành bởi ba bộ phận: Triết học, kinh tế chính trị học và CNXHKH, dựa trên cơ sở khoa học là phép biện chứng duy vật, hay nói như V.I.Lênin, phép biện chứng duy vật chính là linh hồn của chủ nghĩa Mác Chính vì vậy, học thuyết của C.Mác không chỉ giải thích thế giới một cách khoa học, đúng đắn, mà còn có khả năng cải tạo thế giới Đánh giá về những giá trị của học thuyết Mác, V.I.Lênin đã khẳng định: "… đó là lý luận lần đầu

Trang 32

tiên đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng thành khoa học; lý luận đó đã dựng lên những cơ sở vững chắc cho khoa học ấy và vạch rõ con đường mà chúng ta cần phải theo" [60, tr.230]

Với sức mạnh khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác luôn tìm thấy sức sống, sức sáng tạo của mình trong đời sống thực tiễn cách mạng và không ngừng được bổ sung, phát triển ngày càng phong phú bằng những luận điểm, kết luận khoa học mới, trở thành lý luận tiên phong dẫn dắt phong trào cách mạng thế giới Từ một học thuyết mang tính tư tưởng, học thuyết vĩ đại của Mác đã trở thành vũ khí lý luận giúp cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu tranh cải tạo xã hội, đưa xã hội ngày càng phát triển

Trên nền tảng tư tưởng học thuyết Mác, V.I.Lênin đã phát triển sáng tạo học thuyết của Mác trong thời kỳ CNĐQ V.I.Lênin đã chứng minh rằng, trong những điều kiện mới, cách mạng XHCN có thể giành thắng lợi ở một nước và một số nước trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa; đặc biệt về Đảng của giai cấp công nhân, coi đó là điều kiện cơ bản quyết định thắng lợi của cuộc CMVS, cũng như CMXHCN Với những cống hiến vĩ đại của mình, V.I.Lênin

đã góp phần tiếp tục phát triển, hoàn thiện chủ nghĩa Mác Với sự kết hợp và

sự phát triển chủ nghĩa Mác bởi V.I.Lênin, chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời Về giá trị, ý nghĩa của học thuyết này, GS Hoàng Chí Bảo đã phân tích: “Nói tới chủ nghĩa Mác-Lênin là nói tới thế giới quan, hệ tư tưởng và phương pháp luận của giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, thực hiện lý tưởng và mục tiêu cộng sản chủ nghĩa” [10, tr.7] Và LLCT được hình thành trên nền tảng học thuyết khoa học, cách mạng vĩ đại này

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc

về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Đó là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc

Trang 33

những tinh hoa của nhân loại, là sự kết hợp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người Tư tưởng Hồ Chí Minh với hạt nhân cốt lõi độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự nhận thức quy luật khách quan của lịch sử,

“là con đường phát triển của xã hội Việt Nam, là giải pháp cho sự chấn hưng, phát triển và hiện đại hoá dân tộc Việt Nam, văn hoá Việt Nam” [12, tr.16]

Cùng với các lý luận khoa học khác, lý luận Mác-Lênin đã thực sự trở thành một khoa học hướng dẫn cho Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân, lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động hoàn thành

sứ mệnh lịch sử vĩ đại của mình

Với tính cách mạng và khoa học, với toàn bộ giá trị lý luận và thực tiễn như đã luận giải ở trên, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng CSVN cần được tuyên truyền sâu rộng trong Đảng, trong quần chúng, vì thế, phải tiến hành giáo dục LLCT Đây là công việc có tầm quan trọng to lớn, mà Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo thực hiện, nhằm hoàn thành mục tiêu xây dựng CNXH

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục ĐH, CĐ là một bộ phận cấu thành quan trọng Ở các trường đại học, người học bao gồm sinh viên, học viên

và nghiên cứu sinh, trong đó, đông đảo nhất là sinh viên Các môn LLCT là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo ĐH, CĐ Các môn LLCT trong chương trình đào tạo ĐH, CĐ ở nước ta từ trước tới nay, ở từng thời kỳ, tuỳ theo kết cấu của chương trình đào tạo có cách gọi tên từng môn học khác nhau, tuy nhiên, bao giờ cũng gồm ba bộ phận cơ bản: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (trước đây là ba môn: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị học Mác-Lênin, CNXHKH); Tư tưởng Hồ Chí Minh (trước đây thể hiện trong phần vận dụng ở các môn Triết học, Kinh tế chính trị, CNXHKH); Đường lối cách mạng của ĐCSVN Riêng môn Đường lối cách mạng của Đảng CSVN có lịch sử hình thành, tồn tại khá phức tạp Đã có thời kỳ môn học này tồn tại độc lập với nội dung là những quan điểm, đường lối xây dựng đất nước trong một thời gian cụ thể trước mắt Sau đó, môn học không tồn tại với tư

Trang 34

cách một môn học độc lập, mà được được đưa vào phần liên hệ, vận dụng của các môn Triết học, Kinh tế chính trị học, CNXHKH, tiếp đó, được đưa vào giảng dạy thí điểm từ năm 2008 Hiện nay, một số nội dung của môn Lịch sử Đảng CSVN được truyền tải trong môn Đường lối cách mạng của Đảng CSVN Nhìn chung, dù tách, nhập, sắp xếp để phù hợp với thực tiễn phát triển của các ngành khoa học, của thực tiễn xã hội, của phương pháp đào tạo đại học

và quá trình đào tạo, của hội nhập quốc tế, thì nội dung giảng dạy các môn LLCT vẫn vừa bao gồm những nguyên lý, quy luật phát triển chung của thế giới, của xã hội loài người, lại vừa bao gồm những bài học về sự vận dụng sáng tạo của Đảng CSVN, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Do đó, các môn LLCT vừa chứa đựng các yếu tố của khoa học cơ bản chung, vừa mang yếu tố thực tiễn Việt Nam Các môn LLCT phản ánh chủ thuyết của Đảng cầm quyền - Đảng CSVN Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa tính Đảng và tính khoa học trong các môn LLCT là một yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt Xét từ góc độ giáo dục chính trị - tư tưởng cho sinh viên, điều

đó góp phần xác lập thái độ, lối sống đạo đức phù hợp với định hướng giá trị xã hội Việt Nam hiện nay

Dạy và học các môn LLCT trong các trường ĐH, CĐ là một hoạt động thuộc quá trình GDĐT, nằm trong sự nghiệp GDĐT Đó là quá trình nhà giáo dục (giảng viên) tác động vào đối tượng giáo dục (sinh viên) thông qua truyền thụ, luận giải, phân tích một cách khoa học những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của ĐCSVN, phân tích một cách khoa học những khái niệm, những quy luật, những quan điểm thuộc hệ thống LLCT, làm cho sinh viên nắm được những kiến thức căn bản, cốt lõi, quan trọng, trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở khoa học cho nhận thức và

niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng mà nhân dân ta theo đuổi, vào

sự lựa chọn CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

Thông qua việc học tập các môn LLCT, sinh viên có được những kiến thức, quan điểm, lập trường, đạo đức, lẽ sống cách mạng, nó trở thành máu

Trang 35

thịt, trở thành ý chí, khát vọng, trở thành nghị lực, đi vào tình cảm và chi phối mọi suy nghĩ và hành động của sinh viên Khi ra trường, họ sẽ trở thành một con người hữu ích cho xã hội, một chiến sĩ hàng đầu trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá, chính trị, khoa học, lao động sản xuất; những chiến sĩ xung kích trong sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng CNXH Trên phương diện tổng quát, kết quả của quá trình dạy và học các môn LLCT là sự trang bị cho sinh viên thế giới quan Mác-Lênin, nhân sinh quan, đạo đức cách mạng Với thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng, sinh viên có khả năng tư duy khoa học,

có năng lực sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, củng cố lòng tin vào lý tưởng, mục tiêu cách mạng, vào đường lối của Đảng Nói cách khác, dạy và học các môn LLCT chính là cách thức giúp hình thành và nâng cao phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, hướng dẫn đối tượng giáo dục - sinh viên biết vận dụng những hiểu biết ấy vào thực tiễn cuộc sống, giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra một cách hợp lý, khoa học

Như vậy, giảng viên lý luận chính trị là những giảng viên trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo, cung cấp những tri thức khoa học, nhằm hình thành cho người học thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, thông qua việc truyền thụ những nguyên lý, lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin;

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng CSVN; trên cơ sở đó, giúp cho người học có tư duy khoa học, đạo đức cách mạng, năng lực sáng tạo trong hoạt động thực tiễn

1.1.1.2 Khái niệm "đội ngũ giảng viên lý luận chính trị"

Theo Từ điển tiếng Việt, thì đội ngũ là “khối đông người cùng chức

năng nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành lực lượng” [113, tr.191] Khái niệm “đội ngũ” dùng cho các thành phần khác nhau trong xã hội như đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân viên chức… đều có nguồn gốc từ khái niệm

“đội ngũ” hiểu theo thuật ngữ quân sự - đó là một khối đông người, được tổ chức thành một lực lượng để tự bảo vệ, hoặc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu

Trang 36

Khái niệm “đội ngũ” có nội hàm vừa mang tính định lượng, lại vừa mang tính định tính

Theo nghĩa rộng, “đội ngũ là một nhóm người được tập hợp, tổ chức thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp, hoặc không cùng nghề nghiệp, nhưng có cùng chung một mục đích nhất định và cùng hướng tới mục đích đó”

Theo nghĩa hẹp, “đội ngũ được hiểu chung nhất là tập hợp một số đông người cùng đặc điểm, chức năng hoặc nghề nghiệp được tổ chức thành một lực lượng xã hội, cùng thực hiện chung những mục đích nhất định”

Có cùng đặc điểm là những trí thức, thực hiện hoạt động nghề nghiệp trí óc bậc cao - truyền thụ kiến thức, để hình thành phương pháp, kỹ năng hoạt

động cho đối tượng giáo dục là sinh viên, "đội ngũ giảng viên là một tập thể những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu ở bậc đại học, cao đẳng, hoạt động theo mục đích của các trường đại học, cao đẳng mà họ là thành viên, trên cơ sở mục đich chung mà ngành giáo dục- đào tạo đề ra”

Trên cơ sở khái niệm “đội ngũ” và “đội ngũ giảng viên”, “lý luận chính

trị”, “đội ngũ giảng viên lý luận chính trị” được hiểu là “một lực lượng giảng viên đông đảo, nằm trong đội ngũ giảng viên, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy các môn lý luận chính trị, nhằm góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục là đào tạo nên những thế hệ sinh viên Việt Nam phát triển toàn diện, vừa hồng, vừa chuyên”

Như vậy, khi các giảng viên LLCT đã được gắn kết tạo thành đội ngũ,

dù mỗi người có một phong cách riêng, cá tính riêng, thì giữa họ vẫn phải có

sự thống nhất cao độ về mục tiêu hành động, nhiệm vụ cần thực hiện trên những cơ sở và nguyên tắc nhất định Trên thực tế, đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường ĐH, CĐ ở nước ta là đội ngũ những người lao động trí tuệ sáng tạo, có trình độ chuyên môn, là lực lượng tích cực nghiên cứu khoa học,

có tinh thần yêu nước, có ý thức trách nhiệm; đồng thời, nhạy bén với cái mới, cái tiến bộ Đội ngũ này đã đóng góp cho đất nước rất nhiều nhà khoa

Trang 37

học lý luận đầu ngành; có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Hai khái niệm “giảng viên lý luận chính trị” và “đội ngũ giảng viên lý luận chính trị” có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không hoàn toàn đồng

nhất Trước hết, cả hai khái niệm đều phản ánh những mặt, những khía cạnh liên quan đến cùng một đối tượng là những người hoạt động giảng dạy, truyền

thụ những tri thức LLCT ở bậc ĐH, CĐ, song khái niệm “giảng viên lý luận chính trị” phản ánh mối liên hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến của những

người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục LLCT ở bậc học cao (ĐH, CĐ) với tính cách là những cá nhân nói chung; trên cơ sở đó, phân biệt một người nào

đó trong xã hội có phải là “giảng viên LLCT ” hay không Còn khái niệm “đội ngũ giảng viên lý luận chính trị” phản ánh mối liên hệ, thuộc tính bản chất, phổ

biến về sức mạnh, về vai trò của giảng viên LLCT với tính cách là cộng đồng được tổ chức thành lực lượng để thực hiện các hoạt động có mục đích Khái niệm này giúp nhận biết và phân biệt về quy mô, các hình thức tồn tại, vận động, biến đổi, cơ chế sắp xếp của lực lượng giảng viên LLCT trong một tổ chức nhất định và ở những thời điểm cụ thể Cả hai khái niệm đều là phương tiện giúp nhận định, đánh giá tương đối toàn diện và chính xác vai trò của

“giảng viên LLCT” với cả tính cách cá nhân và cộng đồng, từ đó có những giải pháp nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên LLCT trong quá trình đào tạo

ở bậc ĐH, CĐ

1.1.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị

1.1.2.1 Khái niệm "chất lượng"

Chất lượng là một khái niệm rất quen thuộc với loài người ngay từ thời

cổ đại; tuy nhiên, chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi Tùy theo đối tượng sử dụng, mà khái niệm "chất lượng" được định nghĩa khác nhau Những con người và nền văn hóa khác nhau trên thế giới cũng có những cách hiểu về chất lượng khác nhau Nói như vậy không có nghĩa chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức không thể đi đến một cách

Trang 38

diễn giải tương đối thống nhất Nhìn chung, chất lượng là một khái niệm động, vì thế, đối với khái niệm “chất lượng” có nhiều cách tiếp cận khác nhau Có thể liệt kê những góc độ tiếp cận như sau:

Thứ nhất, chất lượng là sự vượt trội Đây là cách tiếp cận mang tính truyền thống, coi chất lượng đồng nhất với sự đặc biệt, sự nổi trội, có nghĩa

chất lượng không thể được đong đếm bằng những tiêu chuẩn đo lường thông thường, mà là cái riêng biệt, hoàn thiện, không phổ biến đối với mọi sự vật Cách tiếp cận này có nhược điểm là không đưa ra được một công cụ để đo lường, đánh giá chất lượng Cách tiếp cận này đã tuyệt đối hóa khái niệm chất

lượng

Thứ hai, chất lượng là sự phù hợp với tiêu chí Theo cách tiếp cận này,

hệ thống tiêu chí được xem là bộ công cụ - một phương tiện trung gian để đánh giá, kiểm tra chất lượng, thể hiện những thuộc tính cần có của chất lượng một

sự vật, theo đó, chất lượng của sự vật là sự phù hợp với các tiêu chí được định

trước Cách tiếp cận này cho phép định trước một hệ thống thông số mang tính quy chuẩn cần đạt tới cho một sự vật, để sự vật đó đảm bảo các hoạt động của

mình ở mức cao Điểm cốt yếu của cách tiếp cận này là ở chỗ: Để có một bộ tiêu chí chuẩn, vấn đề xác định cơ sở xây dựng bộ tiêu chí là hết sức quan

trọng, đòi hỏi sự chuẩn xác, khoa học cao và điều này là hết sức khó khăn Bên cạnh đó, thuật ngữ “tiêu chí” cho ý niệm về một hình mẫu tĩnh tại, nghĩa là khi các tiêu chí đã được xác định, chúng tồn tại với tư cách là kết quả của một quá trình đã kết thúc, không cần xem xét, nhận thức lại, hoặc bổ sung chúng nữa, trong khi tri thức, quan niệm, nhận thức của con người luôn nằm trong sự vận động, biến đổi, phát triển Vì thế, nếu chấp nhận sự tĩnh tại của bộ tiêu chí, sẽ thiếu tính khoa học, nếu không, đòi hỏi phải khắc phục bằng cách không ngừng nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh bộ tiêu chí cho phù hợp

Thứ ba, chất lượng là sự đáp ứng và phù hợp với mục đích Đây là cách

tiếp cận khá thông dụng, được áp dụng rộng rãi, phổ biến Theo cách tiếp cận này, chất lượng không gì khác là những thuộc tính căn bản mà sự vật phải có

Trang 39

để đáp ứng và phù hợp mục đích được xác định Nói cách khác, chất lượng được đánh giá thông qua/bởi mức độ mà sự vật đáp ứng được mục đích được định sẵn/được xác định trước Vấn đề mấu chốt trong cách tiếp cận này là

việc xác định mục đích - một khái niệm động, phụ thuộc vào yếu tố thời

gian/thời điểm, mức độ (cao, thấp)… Như vậy, chất lượng của sự vật không

có tính độc lập tương đối, mà hoàn toàn phụ thuộc mục đích được xác định, hay được đánh giá tùy vào mục đích

Thứ tư, chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích Đây

là một phiên bản của cách tiếp cận trên, nhưng ở mức độ cao hơn, theo đó, chất lượng của một sự vật được đánh giá thông qua mức độ hiệu suất/hiệu quả đạt mục đích đã được xác định ở tầm mức cao Ở cách tiếp cận này, điểm

quan trọng, mang tính quyết định là vấn đề mức độ trong xác định mục đích

và thực hiện mục đích Chất lượng của sự vật được đánh giá không đơn thuần bằng tính mục đích, mà ở mức độ xác định và mức độ hoàn thành mục đích

Thứ năm, chất lượng với tư cách giá trị chuyển đổi Đây là cách tiếp

cận bắt nguồn từ khái niệm “thay đổi chất”, theo cách tiếp cận này, chất lượng của sự vật (A) được đánh giá thông qua một sự vật khác (B) - là kết quả của quá trình hoạt động mà sự vật (A) là chủ thể, tác động vào đối tượng hoạt động (sự vật B), làm chuyển biến, thay đổi sự vật B theo hướng gia tăng tích cực Giá trị gia tăng của sự vật B phản ánh chất lượng của sự vật A Ở đây, việc xác định chất lượng phụ thuộc vào việc định nghĩa “giá trị” và việc đo

lường giá trị gia tăng

Từ các góc độ tiếp cận nêu trên, có thể đưa ra kết luận tổng quát: Thứ nhất, các góc độ tiếp cận "chất lượng" dù khác nhau, song đều có những điểm giao thoa; thứ hai, “chất lượng” là một khái niệm triết học, có tính động và rất khó định nghĩa nó như một khái niệm đơn nhất; thứ ba, một cách bao quát

nhất, "chất lượng" là biểu hiện ra bên ngoài của sự vật qua các thuộc tính, nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật trong một thể thống nhất, gắn bó, bao quát toàn bộ

sự vật và không tách rời sự vật

Trang 40

Từ nhận thức được đúc rút, có thể khẳng định rằng, sự vật khi là chính bản thân nó/vẫn còn là bản thân nó thì không thể có sự thay đổi chất lượng Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật Về căn bản, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng Như

vậy, theo chúng tôi, “chất lượng là khái niệm chỉ mức độ của một tập hợp các thuộc tính căn bản, thống nhất hữu cơ, cấu thành nên sự vật, đảm bảo cho sự vật khả năng đáp ứng tốt nhất những mục đích xác định"

Khái niệm “chất lượng” mang tính tương đối, động, đa chiều, ở những thời điểm, góc độ, mục tiêu khác nhau, người ta có thể có những ưu tiên khác nhau trong xem xét, lựa chọn và đặt thứ tự lựa chọn các thuộc tính trong tập hợp thuộc tính phản ánh chất lượng Do vậy, không thể nói đến chất lượng như một khái niệm nhất thể; các thuộc tính biểu thị chất lượng được xác định

đi kèm với mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, điều kiện cụ thể… của bản thân sự vật,

hoặc cái mà sự vật hướng tới

1.1.2.2 Khái niệm "chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị"

Chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT là tổng hợp những nét đặc trưng thể hiện trạng thái nhất định của đội ngũ vừa có tính bản chất, vừa có tính đặc thù, chi phối, quyết định trực tiếp tới hoạt động, hiệu quả hoạt động của đội ngũ - một loại hình hoạt động hết sức đặc thù

Như vậy, chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị là khái niệm chỉ mức độ của một tập hợp các thuộc tính căn bản, thống nhất hữu cơ, thể hiện bản chất, đặc trưng cơ bản của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị với

tư cách là chủ thể của hoạt động giáo dục lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng, quyết định trực tiếp đến hiệu quả của quá trình giáo dục lý luận chính trị.

Là một bộ phận của đội ngũ giảng viên, đội ngũ giảng viên LLCT, một mặt,

phải đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về chất lượng của đội ngũ giảng viên nói chung

và tuân thủ nguyên tắc, phương thức đánh giá chất lượng giành cho đội ngũ giảng

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bác Hồ với sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ trẻ (1985), Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ trẻ
Tác giả: Bác Hồ với sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ trẻ
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 1985
3. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2004), Chỉ thị số 40 - CT/TW về nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 40 - CT/TW về nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2004
4. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2008), Thông báo kết luận số 125- TB/TW về đề án Tình hình giảng dạy, học tập các bộ môn khoa học Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng, chủ trương và giải pháp cho thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình giảng dạy, học tập các bộ môn khoa học Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng, chủ trương và giải pháp cho thời gian tới
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2008
5. Ban Chấp hành Trung ương (2009), Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2009
6. Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng (2010), Đề án: Công tác giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin trong các trường đại học, cao đẳng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án: Công tác giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin trong các trường đại học, cao đẳng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng
Năm: 2010
7. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2003), Kỷ yếu hội thảo Khoa học - Thực tiễn: Thực trạng và giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Năm: 2003
8. Nguyễn Duy Bắc (2004), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
9. GS. TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên, 2010), Dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
10. GS. TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên, 2010), Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
11. GS. TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên, 2010), Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
12. GS. TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên, 2010), Văn hoá và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
13. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thị số 34-CT/TW về tăng cường công tác chính trị trong trường học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 34-CT/TW về tăng cường công tác chính trị trong trường học
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1998
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Giáo dục Đại học Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Đại học Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2002
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Báo cáo về tình hình Giáo dục của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình Giáo dục của Chính phủ
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2004
16. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Báo cáo tổng kết 7 năm thực hiện chỉ thị số 34-CT/TW về tăng cường công tác chính trị trong trường học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 7 năm thực hiện chỉ thị số 34-CT/TW về tăng cường công tác chính trị trong trường học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
17. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Ban Khoa giáo TW (2006), Báo cáo tổng kết ba năm thực hiện nghị quyết TW5 khoá IX về công tác tư tưởng Lý luận (phần lý luận) giai đoạn 2005-2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết ba năm thực hiện nghị quyết TW5 khoá IX về công tác tư tưởng Lý luận (phần lý luận) giai đoạn 2005-2006
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Ban Khoa giáo TW
Năm: 2006
18. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Đề án Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, giai đoạn 2006-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, giai đoạn 2006-2020
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2006
19. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Đề án Đổi mới kết cấu nội dung chương trình, giáo trình các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Đổi mới kết cấu nội dung chương trình, giáo trình các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
20. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác-Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
21. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phụ lục 2. Bảng thống kê số giảng viên lý luận chính trị - Vấn đề chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các trường Đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay
h ụ lục 2. Bảng thống kê số giảng viên lý luận chính trị (Trang 194)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm