1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính cộng đồng của nông dân Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ( Qua nghiên cứu khu vực đồng bằng Sông Hồng

108 1,5K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Tính cộng đồng của nông dân Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay Qua nghiên cứu khu vực đồng bằng sông Hồng là

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

==================

PHẠM THỊ HƯỜNG

TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY

(Qua nghiên cứu khu vực đồng bằng sông Hồng)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 60.22.85

Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Thị Phượng

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Tính cộng đồng của nông dân Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay (Qua nghiên cứu khu vực đồng bằng sông Hồng) là công trình nghiên cứu của

riêng cá nhân tôi và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn

toàn trung thực

Hà Nội, tháng 9 năm 2014

Tác giả Luận văn

Phạm Thị Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn, bên cạnh những nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tất cả các cá nhân, tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Trước tiên, với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng

cảm ơn cô giáo – TS Ngô Thị Phượng đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa

học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, quý thầy cô, các cán

bộ, công chức của Phòng, Ban, Khoa, Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này

Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô cùng toàn thể bạn đọc

Xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN Phạm Thị Hường

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 8 Chương 1: TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ BIỂU HIỆN CƠ BẢN CỦA NÓ TRONG LỊCH SỬ 8 1.1 Quan niệm về tính cộng đồng và cơ sở hình thành tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng 8 1.2 Những biểu hiện cơ bản tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng trong lịch sử 26 Chương 2: TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG HIỆN NAY: BIẾN ĐỔI CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP 45 2.1 Khái quát về kinh tế thị trường và sự tác động của nó đối với nông thôn Việt Nam hiện nay 45 2.2 Biến đổi cơ bản tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay 62 2.3 Một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tính cộng đồng, hạn chế chủ nghĩa cá nhân của nông dân Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay 82 KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong những nội dung căn bản trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

là bước chuyển biến từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường,

cụ thể là kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có

sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa) Sau gần ba mươi năm xây dựng và phát triển, kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã có ảnh hưởng lớn đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là kinh tế đến văn hóa, xã hội và con người Việt Nam

Một mặt kinh tế thị trường đã đem đến sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, đời sống nhân dân được cải thiện, vị thế của Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế Mặt khác, kinh tế thị trường cũng nảy sinh những tác động tiêu cực đến sự phát triển của xã hội Khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân có xu hướng gia tăng, một số giá trị văn hóa, đạo đức có nguy

cơ bị xói mòn Những giá trị truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần nhân văn, tinh thần cộng đồng vốn là khuôn mẫu cho mọi hành vi của con người Việt Nam, đang đứng trước những thách thức Do chạy theo lợi nhuận, một bộ phận không nhỏ người Việt Nam đã lấy đồng tiền làm thước đo cho mọi giá trị, vì tiền

mà họ sẵn sàng đánh mất lương tri, phẩm giá, trà đạp lên những tình cảm tốt đẹp trong quan hệ giữa người với người Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Đảng ta đã nhận định: “ về khách quan mà nói, kinh tế thị trường với sức mạnh tự phát ghê gớm của nó đã khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng làm cho người ta chỉ chú ý đến vật chất mà coi nhẹ tinh thần, chỉ chú ý lợi ích cá nhân mà coi nhẹ lợi ích cộng đồng, chỉ chú ý lợi ích trước mắt mà coi nhẹ lợi ích lâu dài” [14, tr.29 - 30] Có thể thấy rằng, kinh tế thị trường tạo cho con người Việt Nam những cơ hội mới để phát triển, nhưng cũng đặt con người Việt Nam trước những thách thức lớn Cơ hội và thách thức đan xen nhau, tác động tổng hợp và có những diễn biến phức tạp

Trang 7

Đồng bằng sông Hồng là một trong những trọng điểm kinh tế và biểu trưng cho nền kinh tế trồng lúa nước của Việt Nam Văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng là đặc thù của văn hóa Việt Nam Ở đây, có những đặc trưng mà ở các vùng khác không có hoặc không đậm nét Một trong những đặc trưng văn hóa ấy là tính cộng đồng của người Việt Nam nói chung và nông dân Việt Nam nói riêng Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tính cộng đồng ấy có nhiều biến đổi theo những chiều hướng khác nhau, trong đó, có những yếu tố tiếp tục được duy trì và phát triển nhưng có những biểu hiện mới Có những yếu tố đã bị lu mờ, xói mòn và bị thay thế bởi chủ nghĩa cá nhân

Nghiên cứu những biến đổi đó góp phần không nhỏ vào việc tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong tính cộng đồng của nông dân Việt Nam, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,

đậm đà bản sắc dân tộc Do vậy, tôi chọn vấn đề “Tính cộng đồng của nông dân

Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay (Qua nghiên cứu khu vực đồng bằng sông Hồng)” làm đề tài nghiên cứu của mình

Trong những năm gần đây, tính cộng đồng của người Việt Nam nói chung

và nông dân Việt Nam nói riêng trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong nghiên cứu của các ngành xã hội và nhân văn Các công trình nghiên cứu đó thể hiện những góc nhìn và quan điểm khác nhau về tính cộng đồng Kết quả của các nghiên cứu đó được phân chia thành các nhóm sau:

- Nhóm công trình nghiên cứu, tìm hiểu về biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của người Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay trước những thách thức của toàn cầu hóa như:

+ Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX - 07 Đề tài KX

07 - 02, Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang (chủ biên) (1994), “Các giá trị truyền

thống và con người Việt Nam hiện nay” (1994), Công trình khoa học công nghệ

cấp nhà nước, KX.07

Trang 8

+ Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm,

Nxb Văn hóa dân tộc, Tạp chí văn hóa nghệ thuật

+ Đỗ Huy (2001), Giá trị truyền thống Việt Nam trước thách thức của

toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc Gia, Hà Nội

+ Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (chủ biên) (2002),

Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc Gia, Hà Nội

+ Phan Đại Doãn (2004), Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong

lịch sử, Nxb Chính trị quốc Gia, Hà Nội

+ Dương Phú Hiệp (2010), Nghiên cứu về văn hóa và con người Việt Nam

hiện nay, Nxb Chính trị quốc Gia, Hà Nội

+ Đặng Vũ Cảnh Linh (chủ biên) (2010), Con người Việt Nam truyền

thống - những giá trị đối với sự phát triển, Nxb Lao động, Hà Nội

+ Nguyễn Ngọc Hà (2011), Đặc điểm tư duy và lối sống của con người

Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội

- Nhóm công trình, bài viết nghiên cứu đề cập đến tính cộng đồng và sự biến đổi tính cộng đồng của người Việt Nam và nông dân vùng đồng bằng sông Hồng:

+ Vũ Tự Lập (chủ biên) (1991), Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng,

Nxb Khoa học xã hội

+ Lê Hữu Xanh (chủ biên) (1998), Tâm lý của nông dân vùng đồng bằng

Bắc Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân hiện nay, Nxb Chính trị quốc Gia, Hà Nội

+ Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Dân tộc học

(2000), Người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

+ Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Xã hội học,

Tô Duy Hợp (chủ biên) (2000), Sự biến đổi của làng - xã Việt Nam ngày nay ở

Trang 9

+ Đỗ Long - Phan Thị Mai Hương (chủ biên), (2002), Tính cộng đồng -

Tính cá nhân và “cái tôi” của người Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc

Gia, Hà Nội

+ Lê Văn Hảo (2004), “Về khái niệm tính cộng đồng và tính cá nhân”,

Tạp chí Tâm lý học, số 9, tr.11

+ Lê Văn Hảo (2005), Nghiên cứu tính cộng đồng và tính cá nhân của

người dân xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội (2005), Luận án tiến sĩ Tâm lý học,

Viện Tâm Lý học, Hà Nội

+ Nguyễn Bá Dương (2006), “Tính cộng đồng tự quản và vai trò của nó đối với hoạt động của các tổ chức cộng đồng tự quản các khu dân cư ở nước ta

hiện nay” (2006), Tạp chí Tâm lý học, số 6, tr.31

+ Phan Thanh Khôi - Lương Xuân Hiến (2006), Một số vấn đề kinh tế - xã

hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng,

Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội

+ Ngô Thị Phượng (2014), Lối sống của nông dân Việt Nam do ảnh

hưởng của chuyển đổi mục đích sử dụng đất (trường hợp nghiên cứu tỉnh Ninh Bình), Nxb Đại học quốc Gia, Hà Nội

Các công trình và bài viết trên đã nghiên cứu về những giá trị văn hóa truyền thống, tính cộng đồng và sự biến đổi của tính cộng đồng của người Việt Nam Tuy nhiên, trong các công trình đã liệt kê ở trên thì có rất ít các công trình

đi sâu vào nghiên cứu những thay đổi trong tính cộng đồng của người nông dân Việt Nam hiện nay Mặt khác, các tác giả cũng chưa đưa ra những giải pháp tăng cường mặt tích cực cũng như nhằm hạn chế những yếu tố tiêu cực của tính cộng đồng Vì thế, tác giả luận văn hy vọng đem lại cái nhìn mới, cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về tính cộng đồng của nông dân Việt Nam trong truyền thống và hiện nay với mong muốn đưa ra những giải pháp tăng cường hơn nữa mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong tính cộng đồng của nông dân Việt Nam hiện nay

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Luận văn làm rõ những biến đổi cơ bản từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng dưới tác động của kinh tế thị trường hiện nay

- Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

+ Khái quát quan niệm về tính cộng đồng

+ Trình bày cơ sở hình thành và những biểu hiện tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng trong lịch sử

+ Phân tích những biến đổi cơ bản trong tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng dưới tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tính cộng đồng và hạn chế chủ nghĩa cá nhân của nông dân Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tính cộng

đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tìm hiểu tính cộng đồng của nông dân

Việt Nam trong lịch sử và những biến đổi của nó trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở khu vực đồng bằng sông Hồng

5 Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Cơ sở lý luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan

điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam về nông dân

- Cơ sở thực tiễn: Quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và những tài liệu phản ánh về tính cộng đồng của nông dân Việt Nam hiện nay

Trang 11

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, thống kê…

để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đặt ra

7 Đóng góp của luận văn

- Luận văn trình bày cơ sở hình thành tính cộng đồng của nông dân Việt Nam trong truyền thống và những biểu hiện của tính cộng đồng của nông dân

Việt Nam

- Luận văn bước đầu phân tích một số biến đổi trong tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng dưới tác động của kinh tế thị trường hiện nay

8 Ý nghĩa của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ hơn tính cộng đồng của nông

dân trong giai đoạn hiện nay

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các

chuyên đề về tính cộng đồng của nông dân Việt Nam, đặc biệt có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới hiện nay

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 5 tiết

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1: TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ BIỂU HIỆN CƠ

BẢN CỦA NÓ TRONG LỊCH SỬ 1.1 Quan niệm về tính cộng đồng và cơ sở hình thành tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng

Ở góc độ tâm lý học, tính cộng đồng được nghiên cứu như là một đặc

điểm tâm lý của con người Theo tác giả Đỗ Long, “Tính cộng đồng là một đặc trưng tâm lý của nhóm, thể hiện năng lực phối hợp, kết hợp ở sự thống nhất các thành viên trong hành động và làm cho các mối quan hệ qua lại của các hoạt động diễn ra một cách nhịp nhàng nhất” [48, tr.46 – 47] Cùng cách tiếp cận này, tác giả Hofstede cho rằng: “Tính tập thể/ cộng đồng là một mô thức văn hóa theo

đó người ta đặt một tập thể/ cộng đồng (ví dụ gia đình, bộ tộc, đất nước) vào trung tâm của trường tri giác, ưu tiên cho các mục đích của tập thể/ cộng đồng đó cao hơn mục đích của cá nhân, hành động theo các thái độ của họ (tập thể) và chú ý tới các nhu cầu của những người khác nhiều hơn là cái được và mất rút ra

từ các quan hệ liên cá nhân” [Dẫn theo 29, tr.13]

Cũng nghiên cứu tính cộng đồng với tư cách là một đặc điểm tâm lý của nhân cách, tác giả Triandis thì cho rằng: “tính tập thể/ cộng đồng là xu hướng của con người nhấn mạnh đến: Cách nhìn nhận, nhu cầu và mục đích của nhóm nội hơn là bản thân; chuẩn mực xã hội và bổn phận do nhóm nội xác định hơn là hành vi tạo sự vui sướng cho bản thân; niềm tin làm mình hòa chung với nhóm nội hơn là niềm tin phân biệt mình với nhóm nội; sự sẵn sàng hợp tác với thành viên nhóm nội; gắn bó về mặt cảm xúc với nhóm nội” [Dẫn theo 29, tr.13 - 14]

Trang 13

Khi nghiên cứu về tính cộng đồng của người Nhật, tác giả Yamaguchi định nghĩa: “Tính cộng đồng là xu hướng coi trọng các mục đích của nhóm hơn các mục đích của cá nhân khi các mục đích này có mâu thuẫn” [Dẫn theo 29, tr.14]

Tác giả Lê Văn Hảo khi nghiên cứu về tính cộng đồng đã cho rằng tính cộng đồng là xu hướng hành động của con người, xu hướng “Đặt người khác, tập thể/ cộng đồng vào vị trí ưu tiên trong nhận thức của cá nhân (cái tôi phụ thuộc lẫn nhau được ưu tiên) Ưu tiên, coi trọng các giá trị tập thể/ cộng đồng hơn là định hướng vào các giá trị cá nhân Hành động, ứng xử vì tập thể/ cộng đồng hơn

là vì cá nhân” [29, tr.14]

Ở góc độ văn hóa học, tính cộng đồng được xem xét như là một giá trị văn

hóa, giá trị xã hội Ở góc độ này, tác giả Nguyễn Hồng Phong cho rằng tâm lý tập thể - cộng đồng là một biểu hiện rất nổi bật của người Việt Nam truyền thống Tuy không đưa ra định nghĩa về tính cộng đồng nhưng tác giả cho rằng tâm lý cộng đồng biểu hiện ở năm nội dung sau: “Tinh thần tương trợ, hào hiệp, tình nghĩa trung hậu, vị tha; tinh thần hàng hội; sự quan tâm nhiệt tình đến công việc công ích, ý thức dân chủ làng xã; tình yêu quê hương đất nước, ý thức cộng đồng dân tộc và tinh thần đại đoàn kết; truyền thống hợp tác tương trợ, tinh thần tập thể - cộng đồng trong cách mạng và kháng chiến chống giặc ngoại xâm” [63, tr.46] Cách tiếp cận này cho thấy, mục tiêu, lợi ích của cộng đồng, sự gắn kết, hợp tác tương trợ trong cộng đồng được coi trọng

Theo cách tiếp cận này, tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Tính cộng đồng là một sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác - nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại” [76, tr.96]

Những quan niệm trên về tính cộng đồng đã phản ánh tính chất phức tạp của khái niệm tính cộng đồng Mỗi quan niệm đã chỉ ra được một hoặc một vài đặc điểm nào đó của tính cộng đồng Một số đề cập đến tính cộng đồng với tư cách là một đặc điểm tâm lý của nhóm, số khác lại đề cập với tư cách là một đặc điểm tâm lý của nhân cách Điểm tương đồng trong quan niệm về tính cộng đồng

Trang 14

của các tác giả vừa nêu là ở chỗ, họ đều khẳng định tính cộng đồng là đặc điểm tâm lý dân tộc, là một giá trị văn hóa, là tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau Tuy nhiên, điểm khác biệt trong các quan niệm trên ở chỗ, trong khi một số nhà khoa học nhấn mạnh tính cộng đồng ở góc độ tâm lý dân tộc, số khác lại nhấn mạnh khía cạnh là đặc điểm tâm lý của nhân cách Trong nghiên cứu này, tính cộng đồng được tiếp cận chủ yếu với tư cách là một giá trị văn hóa với mục đích tìm hiểu tính cách dân tộc Việt Nam

Nghiên cứu tính cộng đồng của nông dân Việt Nam là một công việc không dễ, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với việc hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam Tính cộng đồng tạo nên tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái là một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc Việt Nam Truyền thống ấy đã góp phần tạo nên những kỳ tích trong lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam Giá trị, truyền thống này có cội rễ sâu

xa từ phương thức sinh tồn và tổ chức xã hội truyền thống Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ý thức cộng đồng và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái đã được hun đúc, trở thành một giá trị văn hóa chủ đạo, một truyền thống quý báu, một bệ đỡ quan trọng nhất của chủ nghĩa yêu nước Chính vì thế,

nó là cơ sở, là nội lực phát triển của dân tộc Việt Nam

Để lý giải cơ sở hình thành tính cộng đồng của dân tộc Việt Nam nói chung và của nông dân Việt Nam nói riêng cần dựa vào những quan điểm mang tính khoa học cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Với quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải quyết một cách khoa học vấn đề hình thành và phát triển tâm lý, ý thức xã hội Các ông đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất, không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, mà phải tìm trong hiện thực vật chất Nhận thức về nguyên lý mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, C.Mác đã viết:

“Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức cái

cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị

Trang 15

“Không phải ý thức con người quyết định tồn tại của họ, trái lại, tồn tại xã hội quyết định ý thức của họ”, “phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội” [50, tr.15] Lý giải cơ sở hình tính cộng đồng của người Việt Nam, các nhà văn hóa học ở Việt Nam như GS Phan Ngọc, Hữu Ngọc, Trần Ngọc Thêm …có những ý kiến khác nhau, nhưng đều có xu hướng chung, khẳng định rằng: “do lịch sử thường xuyên phải chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta; do đặc điểm khí hậu nước ta luôn xảy ra thiên tai: lụt, bão, hạn hán, đòi hỏi nhân dân ở các cộng đồng từ quy mô nhỏ như làng, xã đến cộng đồng lớn hơn và cả dân tộc phải cùng nhau hợp tác, gắn bó để tạo nên sức mạnh chống các thế lực ngoại xâm, bảo vệ đất nước, chống thiên tai để duy trì cuộc sống, bảo vệ mùa màng, bảo

vệ thành quả sản xuất, xây dựng đất nước” [49, tr.232]

Như vậy, cơ sở hình thành tính cách nói chung và tính cộng đồng của con người Việt Nam nói riêng chính là tồn tại xã hội của con người Việt Nam Tồn tại xã hội ấy là những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam

Với những nhận thức trên chúng tôi quan niệm tính cộng đồng là sự liên

kết, hòa đồng, đoàn kết giữa người và người, tạo nên những cộng đồng (hay tập thể nhất định), hoạt động với những mục đích và lợi ích chung Tính cộng đồng

vừa phản ánh đặc điểm nhân cách, cách thức tổ chức của con người trong xã hội, đồng thời phản ánh một đặc điểm trong quan hệ xã hội Tính cộng đồng, một mặt tạo nên sức mạnh để con người vừa có khả năng chống chọi với thiên nhiên, vừa chống chọi với chính con người Mặt khác, chính tính cộng đồng đó lại tạo nên

sự biệt lập nhất định giữa các cộng đồng người với nhau và, đôi khi, tính cộng đồng lại thủ tiêu chính vai trò của cá nhân trong xã hội

1.1.2 Cơ sở hình thành tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng

Điều kiện tự nhiên

Đồng bằng sông Hồng là một châu thổ được bồi đắp nên bởi hai con sông lớn của Việt Nam: sông Hồng và sông Thái Bình, bao gồm một số huyện của Phú

Trang 16

Thọ, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hòa Bình và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình Đặc trưng cơ bản về địa hình của đồng bằng sông Hồng là đất tương đối thấp và cơ bản là bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam Tuy nhiên, mỗi vùng cụ thể, địa hình cao thấp không đồng đều Vùng địa hình cao vẫn

có những nơi trũng thấp, vùng địa hình thấp vẫn có những dải cồn cát nổi lên cao

Khí hậu đồng bằng sông Hồng thuận lợi cho việc trồng lúa nước Tuy nhiên, so với đồng bằng miền Trung và miền Nam, khí hậu đồng bằng sông Hồng có nét độc đáo riêng, với bốn mùa khá rõ nét và cũng rất thất thường Mùa đông thì lạnh giá, khô hạn, gây nên các trận hạn hán, đồng ruộng khô nẻ, có thể thiếu nước trầm trọng Mùa hạ thì nóng bức, mưa nhiều gây lũ lụt, bão tố, lở đất, xói mòn Do phù sa lắng đọng khiến lòng sông ngày càng nâng cao, đặc biệt là sông Hồng nên chúng thường gây ra những trận lụt lớn, vỡ đê dẫn đến mất mùa, đói kém Hơn nữa, nền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cũng là điều kiện thuận lợi làm phát sinh dịch bệnh phá hoại mùa màng, cây cối, cướp đi cuộc sống của biết bao con người cũng như vật nuôi Chính điều đó làm cho cuộc sống của người Việt khu vực này không mấy thuận lợi, đặc biệt là người nông dân với nguồn thu nhập chính là từ sản xuất nông nghiệp Nạn mất mùa, đói kém, dịch bệnh xảy ra liên miên, đời sống của nhân dân không ổn định

Với phương thức sản xuất hết sức lạc hậu, tự cấp tự túc, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, con người bắt đầu tìm cách chế ngự thiên nhiên, hạn chế những thiên tai do thiên nhiên mang lại Công cuộc chinh phục thiên nhiên của con người được bắt đầu bằng sự liên kết của những người Việt cổ Họ nhận thấy sự cần thiết phải sống tập trung lại với nhau, nương tựa vào nhau và sự cần thiết phải có sức mạnh của một tập thể để đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt ấy Việc trồng lúa nước vốn coi trọng nước và có tính thời vụ sát sao, nên để đảm bảo sản xuất, người Việt vùng đồng bằng sông Hồng không thể không coi trọng đắp đê chống lụt và đào mương phục vụ tưới tiêu Hàng năm, con người thường xuyên phải quai đê, hộ đê, trồng rừng ven biển Những công việc ấy không chỉ vì một

Trang 17

cá nhân, mà còn vì cộng đồng, tập thể Nó đòi hỏi sự cộng tác chặt chẽ, thống nhất của nhiều người, nhiều gia đình mới có thể làm được Giáo sư Vũ Khiêu khẳng định: “Xây đắp hàng vạn cây số đê và thường xuyên chống lụt, chống hạn

và tiếp sau đó là đẩy mạnh việc khẩn hoang, khai phá vùng đất phía Nam, tăng gấp hai lần diện tích đất canh tác cho đất nước Sự nghiệp vĩ đại đó sao có thể thành công nếu như không có sức mạnh của cộng đồng?” [42, tr.64] Nhà nghiên cứu Đặng Vũ Cảnh Linh khi nghiên cứu con người Việt Nam truyền thống cũng khẳng định: “Những con đê dài tít tắp, sừng sững hai bên bờ sông Hồng, những

kè, những đập ngăn lũ lụt; những mương, những máng chạy dọc, chạy ngang tắm mát những cánh đồng nhiều làng; những vùng đất mênh mông lấn ra biển cả…tất

cả chẳng là biểu tượng sáng ngời của tính cộng đồng dân tộc?” [45, tr.151] Và như vậy “đê là một công trình tập thể vĩ đại, một sản phẩm của quan hệ cộng đồng làng xã ở Việt Nam” [87, tr.180]

Đê điều, hệ thống thủy lợi đòi hỏi sức lao động chung của nhiều người, của nhiều cộng đồng mà trước hết là của những người dân làng: “Chúng đòi hỏi sức lao động không phải của một người mà của nhiều người, hoặc trước hết là của một tập thể xã dân nhất định Điều đó không phải chỉ do khối lượng to lớn phải hoàn thành của nó quyết định, mà còn do tác dụng của nó ảnh hưởng tới quyền lợi không phải của một người mà của rất nhiều người kế tiếp nhau quyết định” [87, tr.180 – 181] Công việc này không chỉ làm một lần là xong mà phải không ngừng đắp mới, tu bổ, sửa chữa từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác, đời nối đời kế tiếp nhau Vì vậy, từ bao đời nay, việc trị thủy luôn là công việc quan trọng của nhà nông và của cả dân tộc Là người Việt, chúng ta đã rất quen với những kinh nghiệm mà cha ông để lại: Nước - Phân - Cần - Giống hoặc nói một cách khẳng định hơn, văn vẻ hơn đó là “Nhất Nước, nhì Phân, tam Cần, tứ Giống” Vì thế, trong dân gian, “giặc thủy” luôn được xếp

là nạn lớn số một, truyện Sơn Tinh Thủy Tinh chính là kết quả của sự hình tượng hóa công việc trị thủy vô cùng khắc nghiệt, một mất một còn của con người Việt Nam nói chung và nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng nói riêng

Trang 18

Thực tế cho thấy, để tồn tại, điều kiện đầu tiên là con người phải gắn bó với nhau trong lao động, trong cuộc sống hàng ngày Do vậy, người dân Việt Nam ở đây, từ xưa đến nay đã phải lao động trong những hoàn cảnh khó khăn, đồng cam cộng khổ, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua hoàn cảnh sống khắc nghiệt Lịch sử phát triển Việt Nam từ Bắc tới Nam cho thấy, nếu con người không đùm bọc nhau, không yêu thương nhau thì không thể tồn tại Trong gian khổ, con người càng phải nương tựa vào nhau để sống, đấu tranh bảo vệ thành quả lao động của mình Gắn bó với nhau trong lao động như vậy, con người càng thấy được thành quả lao động không phải chỉ là của riêng mình, mà đó còn là của những người lao động khác cùng với mình nữa Chính nhờ vậy, họ ý thức được mình

là thành viên của cộng đồng, ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng, từ đó ý thức cộng đồng dân tộc hình thành và ngày càng trở nên bền chặt

Lịch sử đã chứng minh ý thức cộng đồng dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm, đặc biệt, là sự ra đời của nhà nước Văn Lang: “Xuất phát từ nhu cầu cố kết con người thành cộng đồng để vừa chống thiên tai, làm thủy lợi vừa tăng cường sức mạnh chống ngoại xâm” [58, tr.36] Công cuộc chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại làm cho nhu cầu của con người về đoàn kết, cố kết với nhau tạo thành nguồn sức mạnh to lớn vượt qua mọi khó khăn

Như vậy, xuất phát từ nhu cầu của sản xuất, việc trị thủy, thủy lợi đòi hỏi

sự đoàn kết, hợp tác bền vững giữa những người dân làng Hay nói cách khác, chính điều kiện tự nhiên đã góp phần hình thành nên tính cộng đồng của người nông dân Việt Nam, đã gắn kết những con người riêng lẻ thành cộng đồng, đã gộp sức yếu ớt của từng người thành sức mạnh cộng đồng, đã hòa ý thức của những người riêng lẻ thành ý thức chung của cộng đồng Từ đây, những con người riêng lẻ, yếu ớt đã biết nương tựa vào nhau, cùng đồng sức, cùng đồng lòng đấu tranh khắc phục thiên tai, dựng xây nên những công trình trị thủy mà cho đến tận ngày nay tinh thần đó, ý thức đó vẫn đang được người Việt Nam phát huy Có thể nói, điều kiện địa lý - tự nhiên không những đã góp phần thúc đẩy người Việt sống quây quần với nhau thành xóm làng mà chúng còn trở thành

Trang 19

những nhân tố trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự hình thành tính cộng đồng của người Việt trong làng, mà chủ yếu là người nông dân Nói về vai trò của điều kiện địa lý - tự nhiên đối với con người Việt Nam, giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Hoàn cảnh địa lý - tự nhiên quả đã góp phần nhào nặn các đức tính lớn của người Việt Nam ngay từ thời thượng cổ” [22, tr.64] Chính sự đe dọa thường xuyên của bão, lụt, lốc, hạn hán là tiền đề tự nhiên đầu tiên thúc đẩy những người Việt cổ tổ chức cuộc sống thành những xóm làng, thúc đẩy họ tiến hành các hoạt động trị thủy, thủy lợi chung Trên cơ sở cuộc sống cộng đồng xóm làng và những hoạt động chung này, tính cộng đồng của nông dân được hình thành và củng cố trong lịch sử

Điều kiện lịch sử

Việt Nam nằm ở ngã ba của khu vực Đông Nam Á, nối liền hai đại dương

là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, đồng thời là đầu cầu để mở vào Đông Nam Á theo hướng Ấn Độ và Trung Quốc Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển, mở rộng giao lưu với nhiều nước trong khu vực và quốc tế Từ vị trí địa lý đặc biệt quan trọng như vậy nên Việt Nam thường xuyên bị các thế lực ngoại xâm

đe dọa thôn tính Dân tộc Việt Nam luôn phải gồng mình đối phó, đấu tranh chống lại các thế lực ngoại xâm từ phương Bắc và sau đó là chống các đế quốc hùng mạnh khác

từ phương Tây

Một đất nước đất không rộng, người không đông, muốn đánh thắng được những đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới thì trước hết phải có tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng dân tộc cao Điều đó đã trở thành một truyền thống quý báu, không chỉ trong công cuộc dựng nước mà còn là truyền thống trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam

Sống trong điều kiện một đất nước luôn luôn phải có ý thức thường trực chống nạn ngoại xâm, người Việt Nam nói chung và người Việt vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng luôn tìm sức mạnh vật chất và tinh thần qua tính cộng đồng, thể hiện tập trung cao độ của tính cộng đồng là tình đoàn kết Do vậy, tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết dân tộc của người Việt Nam được hình thành từ rất sớm,

Trang 20

trong quá trình phát triển của lịch sử Tinh thần ấy ngày càng được phát triển, củng cố vững chắc, tạo nên truyền thống bền vững thấm sâu vào tình cảm, tâm hồn của mỗi con người xứ Việt Tinh thần ấy, ý thức ấy tạo nên sức mạnh vô địch của dân tộc để chiến thắng mọi thiên tai, địch họa Điều này đã được đúc kết và thể hiện trong triết lý: “Một cây làm chẳng lên non, Ba cây chụm lại lên hòn núi cao”

Cơ sở của tính cộng đồng là tinh thần đoàn kết trong chiến đấu chống ngoại xâm, bởi nước mất thì nhà tan Do vậy, mọi người dân đều có ý thức đoàn kết nhau, chống lại những cuộc xâm lăng của kẻ thù bên ngoài, để bảo vệ đất nước, gia đình và bản thân Ở Việt Nam, khi có giặc ngoại xâm thì tất cả mọi tầng lớp, mọi giai cấp luôn luôn nâng cao ý thức chung vì dân tộc, phải đoàn kết thống nhất với nhau vì mục tiêu đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Các giai cấp, tầng lớp dù khác nhau, thậm chí có mâu thuẫn, nhưng khi có giặc ngoại xâm thì họ lại cố kết lại với nhau, đặt lợi ích cá nhân xuống sau lợi ích

Tổ Quốc, của dân tộc Như vậy, ngay từ thời xa xưa, trên mảnh đất Việt Nam này

đã hình thành một triết lý vì lợi ích chung mà tạm gác lợi ích riêng

Trong lịch sử lập quốc của dân tộc Việt, ý thức cộng đồng đã thể hiện sâu sắc qua “sự hợp nhất một cách tự nguyện của 15 bộ lạc anh em thành một Nhà nước Văn Lang thống nhất là một minh chứng hùng hồn về sự đoàn kết của cộng đồng dân tộc” [58, tr 55] Giang sơn chính là lòng dân, thống nhất giang sơn bằng thống nhất lòng người là điều hiếm thấy từ xưa đến nay Đó cũng là điều kiện để hình thành nên một tâm lý chung, một tính cách dân tộc chung thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa dân tộc phản ánh và kết tinh truyền thống lịch sử dân tộc Nó nổi bật ở truyền thống khắc phục thiên tai, chinh phục

tự nhiên và chống giặc ngoại xâm Đứng trước vận mệnh dân tộc, mỗi cá nhân đã quên đi lợi ích riêng của mình để cố kết nhau lại tạo nên sức mạnh toàn dân tộc

Sự cố kết đó có cả sự kết tinh xương máu của biết bao thế hệ Trải qua hàng nghìn năm, sự cố kết ấy đã ăn sâu vào nếp nghĩ, phương cách ứng xử của mọi thành viên trong xã hội, một giá trị thiêng liêng trong tâm thức của mỗi người con nước Việt Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng đã trở thành lẽ sống của

Trang 21

mỗi người Việt Nam và của cả dân tộc không chỉ trong công cuộc dựng nước mà

cả trong công cuộc giữ nước Để giữ nước, nhân dân ta phải thường xuyên ý thức được sự đoàn kết với nhau vì một dân tộc độc lập để đương đầu với những kẻ thù lớn mạnh, phải chiến đấu và chiến thắng trong những điều kiện ác liệt Cuộc đấu tranh lâu dài chống giặc ngoại xâm đã ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống, làm nảy sinh ý thức và tình cảm đối với dân tộc, sớm phát triển chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng dân tộc, ý chí độc lập dân tộc, ý thức cộng đồng dân tộc và tinh thần quật cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam nói chung và người nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng nói riêng

Từ thuở Hùng Vương, khi cùng lúc phải chống trọi và thích nghi với thiên nhiên nghiệt ngã vừa liên tiếp đương đầu với nhiều kẻ thù xâm lược, người Việt nói chung và người nông dân nói riêng đã có ý thức cộng đồng dân tộc và chủ quyền đất nước Đúng như một nhà nghiên cứu đã viết: “Thời Bắc thuộc, ý thức cộng đồng dân tộc ngày càng trở nên rõ nét, nhất là trong bối cảnh nước ta có nguy cơ bị đồng hóa một cách vĩnh viễn Không phải ngẫu nhiên mà truyền thuyết trăm bọc trăm trứng, các dân tộc Việt đều từ cùng một bọc mà ra (đồng bào) lúc này xuất hiện” [30, tr.44] Đó chính là nhờ con người Việt Nam đã sớm

có lòng tự hào dân tộc, có ý thức về chủ quyền dân tộc, ý thức về văn hóa, về lãnh thổ, về truyền thống dân tộc Những yếu tố này đã thấm sâu vào tư tưởng của mỗi con người Việt Nam hình thành nên bản lĩnh dân tộc Mặc dù phong kiến phương Bắc có nền văn hóa và trình độ cao hơn, luôn muốn bành trướng xâm lược, đồng hóa cưỡng bức các dân tộc khác Trong thực tế, các thế lực phương Bắc đã đồng hóa được nhiều dân tộc cổ đại, duy chỉ có dân tộc Việt Nam, sau hơn 1.000 năm đô hộ mà vẫn không hề bị đồng hóa Việt Nam là điểm dừng trong sự nghiệp mở rộng bờ cõi của đế chế Trung Hoa về phía Nam, đã vượt qua những thảm họa lớn mà có lúc tưởng chừng như không thể vượt qua để trở về với chính mình, bảo tồn toàn vẹn bờ cõi, bảo tồn toàn vẹn nền văn hóa và tâm hồn người Việt

Trang 22

Tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng của con người Việt Nam được biểu hiện mạnh mẽ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, không chỉ trong 1.000 năm Bắc thuộc, mà còn đến cả các triều đại phong kiến về sau, đặc biệt hơn cả là trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ giành lại nền độc lập dân tộc Suốt 4.000 năm lịch sử, đã có thế kỷ nào dân tộc Việt Nam lại ngừng đấu tranh vì nền độc lập? Có thế kỷ nào vắng bóng những anh hùng? Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ khuất phục trước ngoại bang, chưa bao giờ quỳ gối trước kẻ thù Bởi ở

đó có những con người luôn ý thức về chủ quyền đất nước, về toàn vẹn lãnh thổ;

có những con người luôn tự hào về giống nòi, về nền văn hóa, về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc; có những con người luôn yêu quê hương tha thiết, yêu con người, yêu làng xóm, yêu “cây tre, bến nước, sân đình”; có những con người có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, có ý thức cố kết, đoàn kết nhau lại

để bảo vệ nền độc lập dân tộc, giữ gìn cuộc sống bình yên Họ hiểu rằng, chỉ có kết hợp ý chí, sức lực của một tập thể, của cộng đồng, phải “đồng lòng góp sức” mới đem lại sức mạnh chiến đấu và chiến thắng kẻ thù Tinh thần ấy, ý thức ấy được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, “từ trong khó khăn và thử thách khắc nghiệt, ý thức cộng đồng được hình thành và qua thời gian nó phát triển thành ý thức đại đoàn kết dân tộc” [58, tr.30]

Điều kiện kinh tế

Một trong những đặc thù của xã hội phương Đông đó là sự tồn tại lâu dài của chế độ công hữu về ruộng đất - chế độ ruộng đất công làng xã Chế độ sở hữu này có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành tâm lý của con người Việt Nam nói chung và của người nông dân nói riêng Trong “Thư Ăngghen gửi Mác ở Luân Đôn, Mansextơ, 6 tháng Sáu 1858” đã khẳng định: “Việc không có chế độ

tư hữu về ruộng đất quả thật là chìa khóa để hiểu toàn bộ phương Đông Đó là cơ

sở của toàn bộ chính trị và tôn giáo của phương Đông” [55, tr.345] Tiếp thu những chỉ dẫn trong nghiên cứu phương thức sản xuất châu Á, khi lý giải cơ sở hình thành tâm lý tập thể - cộng đồng của con người Việt Nam trong tác phẩm

“Tìm hiểu tính cách dân tộc”, tác giả Nguyễn Hồng Phong đã nhận định: “Chính

Trang 23

trên cơ sở chế độ sở hữu công xã ấy mà các phong tục, tập quán, các hình thức tổ chức và sinh hoạt của công xã thị tộc và công xã nông thôn đã được duy trì, phát triển và thích ứng với xã hội có giai cấp Tâm lý tập thể - cộng đồng trên kia tự đấy mà hình thành” [63, tr.120]

Chế độ ruộng công làng xã có nguồn gốc lâu đời, gắn với quá trình hình thành và phát triển của làng Việt Giai đoạn đầu, khi tổ tiên người Việt tiến xuống định cư ở miền đồng bằng, thì lúc ấy ruộng đất vẫn thuộc về toàn bộ dân làng Thời kỳ đầu, việc chế tác công cụ còn ở trình độ rất thấp, lao động sản xuất được tiến hành như những hoạt động chung, trên những ruộng đất chung thì ý thức cộng đồng và tâm lý cộng đồng làng biểu hiện rất mạnh Thời kỳ Văn Lang

- Âu Lạc, mặc dù thư tịch cổ cho biết có “ruộng lạc” và “dân lạc”; có “lạc dân cày ruộng”, “lạc hầu ăn ruộng”; và có dấu hiệu của chế độ nô tỳ sơ khai, nhưng trên thực tế, làng vẫn là chủ sở hữu của hầu hết ruộng đất Ruộng đất của làng được chia cho dân làng cày cấy theo nguyên tắc bình đẳng Làng giữ lại một phần ruộng đất cày cấy chung phục vụ những nhu cầu công cộng và đóng góp để nuôi lạc hầu, lạc tướng Tình hình sở hữu làng xã đó kéo dài mãi sang thời kỳ đầu Bắc thuộc

Trong thời Bắc thuộc, về danh nghĩa, toàn bộ đất đai trong cả nước thuộc

về nhà vua xâm lược Tuy nhiên, do không can thiệp được vào đời sống làng xã nên hầu như quyền sở hữu thực sự đối với ruộng đất vẫn thuộc về làng Chế độ ruộng đất công của làng Việt về cơ bản không có gì thay đổi Việc cùng nhau chiếm hữu toàn bộ ruộng đất, cùng nhau phân chia quyền sử dụng cũng như quyền cày cấy trên mảnh đất tổ tiên làng để lại, hưởng những hoa lợi trên mảnh đất chung đó đã góp phần tạo nên tính cộng đồng giữa những người nông dân từ đời này sang đời khác, kéo dài hàng mấy nghìn năm

Sau khi đất nước giành độc lập, nhà nước trung ương tập quyền đứng đầu

là nhà vua tuyên bố quyền sở hữu tối cao của mình đối với ruộng đất Nhưng trên thực tế, nhà vua vẫn phải thông qua làng để thực hiện quyền sở hữu tối cao đó Nhà nước vẫn phải để cho làng những quyền khá lớn trong việc quản lý và phân phối ruộng đất Ngoại trừ ruộng quốc khố là ruộng do nhà nước trực tiếp quản lý

Trang 24

và tổ chức sản xuất, làng vẫn là người phân chia ruộng đất công làng xã theo tục

lệ của mình Trong quá trình cai trị, nhà nước phong kiến nhận thức được vai trò quan trọng của ruộng đất công trong việc giữ gìn sự thống nhất quốc gia, chống lại khuynh hướng cát cứ, phân quyền Hơn nữa, chế độ ruộng đất công có vai trò

to lớn trong nuôi dưỡng bộ máy quan liêu phong kiến đồ sộ (trả lương bằng ruộng là cách trả lương phổ biến nhất trong xã hội phong kiến Việt Nam) Vì thế, nhà nước phong kiến luôn có xu hướng duy trì, bảo vệ chế độ ruộng công

Nền kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển ở nông thôn Việt Nam từ thế kỷ XVI Song song với nó là quá trình tư hữu hóa ruộng đất Việc chấp chiếm ruộng đất công thành ruộng đất tư trở nên phổ biến Nhà nước đã có nhiều chính sách ngăn chặn nhưng cũng không thể cưỡng lại xu thế tất yếu này Đến trước cách mạng tháng Tám, ruộng đất tư đã lấn át ruộng đất công Theo điều tra của Ivơ Hăngry thì “vào những năm 1930 - 1932 ruộng công có nhiều nhất ở Trung bộ chiếm khoảng 25% tổng số ruộng đất, ở Bắc bộ chiếm khoảng 20% còn ở Nam

bộ chỉ còn khoảng 3% tổng số ruộng đất” [ Dẫn theo 67, tr.29] Cùng với quá trình thu hẹp ruộng đất công là sự đẩy mạnh quá trình phong kiến hóa cách phân chia ruộng đất đó Nếu như ở thời kỳ đầu của chế độ ruộng công làng xã, ruộng công được chia theo nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đẳng cấp cao thấp, thì trong chế độ phong kiến sự phân biệt đó ngày càng rõ nét Đến thời kỳ phong kiến thực dân thì người ở đẳng cấp cao nhất có thể nhận phần ruộng công cao gấp 10 lần phần ruộng của người ở đẳng cấp thấp nhất Tất nhiên sự phân biệt này tùy theo từng làng có khác nhau, nhưng khuynh hướng đẳng cấp hóa trong việc phân chia ruộng đất công có khuynh hướng bao trùm Đặc biệt, vào thời kỳ này, việc được chia ruộng đất công, dù là ít ỏi nhưng nó là cái cớ để nhà nước tăng thêm phần sưu thuế Do vậy mà trong thời phong kiến thực dân, ở phần lớn làng Việt ruộng đất công không còn là cơ sở kinh tế quan trọng nhất của sự gắn kết cộng đồng làng Tuy nhiên, sự tồn tại của một bộ phận ruộng đất công do làng quản lý và những ruộng đất thuộc sở hữu của làng cho phép làng bằng cách này hay cách khác tạo ra một nguồn quỹ làng, không những để hỗ trợ cho những

Trang 25

người dân làng nộp sưu thuế mà còn là nguồn tài chính để tổ chức và hỗ trợ các sinh hoạt cộng đồng trong làng

Ngoài ruộng đất công thuộc sở hữu của nhà nước do làng quản lý, làng còn có một loại ruộng khác thuộc toàn quyền sở hữu của làng Đó là bản xã công điền công thổ Ở miền Bắc trước đây, hầu như làng nào cũng có loại ruộng này (trừ làng làm nghề đánh cá), với số lượng không nhiều từ vài mẫu đến vài ba chục mẫu Nguồn gốc của bản xã công điền công thổ có thể là ruộng của vua ban cho làng khi sắc phong Thành Hoàng để làng dùng vào việc tế lễ; có thể làng tự ý trích một phần ruộng công của nhà nước, những ruộng đó lâu dần trở thành ruộng của làng; có thể là ruộng tư nhân cúng cho làng để được làng khói hương sau khi chết (ruộng hậu); có thể do dân làng góp tiền mua, hoặc làng lấy tiền bán chức sắc để mua…Ngoài ra, trong làng thường có một bộ phận đất đai không ghi trong

sổ điền bạ như đất bến, bãi, đất chợ, ao, đầm, khe, suối, gò đồi…Số ruộng đất này thường cho thuê hoặc bán đấu giá lấy tiền dùng vào việc chung

Sự tồn tại lâu dài của chế độ ruộng công làng xã, bao gồm sự thừa nhận trên thực tế quyền lực khá lớn của làng trong việc sử dụng số ruộng đất thuộc quyền sở hữu của làng và của nhà nước theo cách riêng của mình, trong đó làng dựa vào tục lệ của mình nhiều hơn là dựa vào pháp luật của nhà nước Đây là cơ

sở kinh tế quan trọng góp phần hình thành và củng cố tính cộng đồng làng

Một vấn đề nữa mà chúng ta nói đến đó là nền kinh tế tự cấp, tự túc Nông dân là lực lượng lao động trong nông nghiệp Khi nói đến phương thức lao động của nông dân tức là nói đến tính chất, trình độ lao động và cả những loại hình lao động, sản xuất mà nông dân thực hiện để tạo ra của cải, duy trì sự tồn tại của chính mình Trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, lao động của người nông dân luôn mang tính chất cá thể, với kỹ thuật canh tác lạc hậu, dựa vào kinh nghiệm và thói quen Điều này có phần nào cho thấy, nông dân Việt Nam có điểm giống với nông dân các nước phương Tây, trong nhận định của C.Mác:

“Mảnh đất cỏn con, người nông dân và gia đình anh ta; cạnh đó lại một mảnh đất cỏn con khác, một nông dân khác và một gia đình khác Một nhóm những đơn vị

Trang 26

ấy tập hợp thành một làng, một nhóm làng tập hợp thành một tỉnh” [51, tr.264]

Và có khi cả “cái khối lớn dân tộc” cũng “được hình thành bằng cách đơn giản cộng những đại lượng cùng tên lại, đại khái cũng giống như một cái bao tải đựng những củ khoai tây hình thành một bao tải khoai tây vậy” [51, tr.264] Khi nghiên cứu công xã nông thôn Ấn Độ, C.Mác đã nhận xét rằng: “Công xã nông thôn Ấn Độ là một cấu trúc độc đáo, có khả năng tồn tại bền vững, là một cộng đồng “có tính biệt lập và có cuộc sống riêng rẽ”, cách biệt hoàn toàn như với công xã khác Trong cộng đồng đó, cá nhân bị chìm vào cộng đồng, cá nhân bị phụ thuộc vào cộng đồng “như con ong bám vào tổ của mình” Công xã nông thôn đó là cơ sở bền vững của chế độ chuyên chế kiểu Phương Đông” [Dẫn theo

72, tr.60 – 61] Ph.Ăngghen cũng có những nhận xét tương tự về công xã nông thôn Nga, ông viết: “Tình trạng hoàn toàn biệt lập đó giữa từng công xã với nhau

- tình trạng quả là đã tạo nên trên cả nước những lợi ích giống nhau, nhưng tuyệt nhiên không phải là những lợi ích chung - là cơ sở tự nhiên của chế độ chuyên chế phương Đông; từ Ấn Độ đến Nga, bất cứ chỗ nào mà hình thái xã hội ấy chiếm ưu thế thì nó đều sản sinh ra chế độ chuyên chế ấy, đều thấy chế độ chuyên chế ấy là cái bổ sung cho nó” [50, tr.436] Từ đó C.Mác và Ph.Ăngghen

đã vạch ra “nguồn gốc cơ bản, trực tiếp của sự bền vững, của tính cộng đồng khép kín cao độ của công xã nông thôn phương Đông là nền kinh tế tự cung, tự cấp thấp kém, trong đó có sự “kết hợp khéo léo giữa nghề thủ công và canh tác ruộng đất” với mục đích của lao động không phải là để tạo ra giá trị thặng dư, để trao đổi mà là để đảm bảo sự tồn tại của gia đình người lao động cũng như của công xã” [Dẫn theo 72, tr.62]

Cho đến trước cách mạng Tháng Tám, kinh tế làng Việt nói chung, khu vực đồng bằng sông Hồng nói riêng vẫn mang tính chất tự cung tự cấp Mỗi làng Việt Nam dường như là một “bầu trời riêng” về kinh tế Sự trao đổi liên làng, liên xã, liên vùng diễn ra yếu ớt và không liên tục Ở những nước có nền kinh tế hàng hóa phát triển thì không thể nhìn vào kinh tế của một gia đình hay một vùng

mà biết được những đặc điểm của toàn bộ nền kinh tế nước ấy vì mỗi vùng, mỗi

Trang 27

gia đình chỉ chuyên làm một loại sản phẩm nào đó Nhưng, ở làng miền Bắc Việt Nam đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Hồng, trước cách mạng Tháng Tám chỉ cần nhìn vào kinh tế của một gia đình đại diện là có thể nhận biết tất cả Mỗi gia đình trong làng thường sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, nhưng mỗi sản phẩm chỉ

có một ít, trước hết phục vụ cho nhu cầu trong gia đình: một lượng thóc gạo, hoa màu đủ ăn một cách tiết kiệm trong năm, một ít rau dưa, cây quả đủ để hái dùng cho các bữa ăn hàng ngày, một con bò hay con trâu để cày bừa, một vài con lợn, một đàn gà vịt đủ để dùng trong các ngày lễ, tết, cưới hỏi, tang ma, giỗ chạp…Tất cả nhằm mục đích tự cung tự cấp, chỉ có một phần nhỏ dư thừa để trao đổi, bán ra để mua một số vật dụng cần thiết mà trình độ “công nghệ” của gia đình không thể sản xuất được như dao kéo, cày bừa, cuốc thuổng…

Khác với các nước Tây Âu, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa đã làm cho tầng lớp thương nhân lớn mạnh, đồng thời mở rộng giao thương kinh tế góp phần không nhỏ vào việc xóa bỏ tính khép kín và cát cứ của lãnh địa phong kiến thì ở làng Việt vùng đồng bằng sông Hồng, nền kinh tế tự cung tự cấp kéo dài hàng nghìn năm đã kìm hãm sự giao lưu kinh tế giữa các vùng, củng cố thêm tính độc lập khép kín giữa các làng Vì thế nó không tạo ra những điều kiện phát triển nhu cầu của người dân mà tạo nên trạng thái tự bằng lòng, tự thỏa mãn với những gì mình có Có thể nói, tính cách con người chính là kết quả tác động của họ vào điều kiện sống, môi trường tự nhiên và xã hội, đồng thời con người chịu sự quy định khách quan của những điều kiện và môi trường

ấy Nhà nghiên cứu Huỳnh Khái Vinh đã nhận xét: “Hoạt động sống của con người như thế nào thì họ là như thế ấy Do đó, họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách họ sản xuất Do

đó, những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ” [83, tr.30] Chính nền kinh tế tự cung tự cấp đó đã làm tăng sự cố kết cộng đồng làng, vì thế giao thương, trao đổi liên làng không

có điều kiện để xảy ra

Cơ sở văn hóa

Trang 28

Tính cách con người Việt Nam nói chung và tính cộng đồng của người nông dân vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng được hình thành trên cơ sở tồn tại

xã hội, nhưng những điều đó không hề phủ nhận rằng, bên cạnh đời sống vật chất với những điều kiện sinh hoạt vật chất thì mỗi cá nhân đều phải sống trong một môi trường văn hóa nhất định, chịu sự tác động của các giá trị văn hóa truyền thống Trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã viết: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [52, tr.11] Theo quan điểm này, con người luôn luôn tồn tại trong tự nhiên và xã hội Con người khác con vật về bản chất ở cả ba mặt: quan hệ với thiên nhiên, quan

hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Những quan hệ ấy thể hiện trong toàn bộ hoạt động cụ thể của con người Không có con người trừu tượng mà chỉ có những con người sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định, nghĩa là những con người cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển

ý thức Chỉ trong toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể đó, con người mới bộc lộ

và thực hiện được bản chất thực sự của mình Theo C.Mác: “Cuộc sống là thế nào nếu như nó không phải là sự hoạt động?” [53, tr.91] Trong mối quan hệ đó, con người thực hiện các hoạt động kinh tế, chính trị, pháp luật và cả văn hóa…Và cũng thông qua các hoạt động đó, con người bộc lộ đầy đủ bản chất NGƯỜI Con người sống - tức là con người hoạt động, con người tham gia các quan hệ với tự nhiên và xã hội Các mối quan hệ này rất phong phú, song có thể quy về hai phương diện chính: đời sống vật chất và đời sống văn hóa Để có thể tổng hòa được hai phương diện này thường xuyên vận động và phát triển, con người phải hoạt động, giao tiếp và ứng xử với tự nhiên, với cộng đồng người và chính bản thân con người trong quá trình bảo tồn và phát triển đời sống của cá nhân và cộng đồng

Truyền thống văn hóa hay môi trường văn hóa chính là cơ sở tạo nên sự khác biệt của mỗi con người Một đứa trẻ sinh ra lúc đầu chỉ có thể phân biệt

Trang 29

thành “con trai” hay “con gái” trên cơ sở đặc tính sinh học Nhưng khi lớn lên trong từng môi trường cụ thể, mới biết được đứa trẻ đó là đứa trẻ Việt Nam, Nhật Bản hay Mỹ Đứa trẻ lớn lên ở Nhật Bản có xu hướng điềm tĩnh, biết nghe lời, hòa mình vào tập thể; còn đứa trẻ lớn lên ở Mỹ sẽ có xu hướng chủ động, ưa tranh luận, coi trọng cái tôi cá nhân…Đứa trẻ lớn lên ở thành thị, thường lanh lợi, năng động hơn ở nông thôn Như vậy, mỗi truyền thống văn hóa có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành tính cách của mỗi con người sống trong cộng đồng văn hóa đó Về điều này, C.Mác đã khẳng định: “Con người làm ra lịch sử của chính mình nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là những điều kiện trực tiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc của những người đang sống Và ngay như khi con người có vẻ như là đang ra sức cải tạo mình và cải tạo sự vật, ra sức sáng tạo ra một cái gì chưa từng có thì chính trong thời kỳ khủng hoảng cách mạng như thế, họ lại sợ sệt cầu viện đến những linh hồn của quá khứ, lại mượn tên tuổi, khẩu hiệu chiến đấu, y phục của những linh hồn đó, để rồi đội lốt đáng kính của người xưa, và dùng những lời lẽ vay mượn đó, để trình diễn màn mới của lịch sử” [54, tr.145 – 146]

Dân tộc ta có hơn 4.000 năm lịch sử, có bề dày văn hóa vô cùng phong phú Đây chính là cơ sở vững chắc của ý thức cộng đồng dân tộc Việt nói chung

và tính cộng đồng của người nông dân nói riêng: “Ý thức cộng đồng dân tộc được đặt trên cơ sở chắc chắn - sự tích “Con rồng cháu tiên”, sự tích về bọc trăm trứng, nhằm khẳng định một tổ tiên chung, một nguồn gốc chung của người dân Việt Nam Truyền thuyết về bọc trăm trứng là bằng chứng chứng minh hùng hồn về ý thức cộng đồng dân tộc, dù bầu hay bí đều chung một giàn” [30, tr.9] Như vậy, tất cả người Việt dù ở miền ngược hay miền xuôi, dù ở núi rừng hay biển cả đều là con cháu Lạc Hồng, đều có chung tổ tiên, đều là anh em một nhà, cùng là con dân nước Việt

Trang 30

Văn hóa Việt Nam cổ truyền, đặc biệt đồng bằng sông Hồng, về cơ bản là văn hóa nông nghiệp, văn hóa xóm làng, văn hóa dân gian Đó là nền văn hóa gắn chặt với cộng đồng gia đình, gia tộc, dòng họ, làng xã và từ đó mở rộng ra cả cộng đồng quốc gia, dân tộc Văn hóa làng là một mô thức thể hiện văn hóa dân tộc mang tính đặc thù, nó gắn liền với môi trường sinh thái của làng, dân cư và truyền thống lịch sử, từ đó hình thành nên hệ thống các đặc trưng về nếp sống và tâm lý, về tín ngưỡng, phong tục và lễ hội, các sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại, các hoạt động văn hóa nghệ thuật Đặc biệt, hội làng là hiện tượng văn hóa tiêu biểu, thể hiện sức mạnh cố kết cộng đồng làng xã

Nông dân Việt Nam vùng đồng bằng sông Hồng chủ yếu sống trong đơn

vị quần cư là làng Làng xã đồng bằng sông Hồng là tiêu biểu, điển hình cho thiết chế làng xã Việt Nam cổ truyền Làng là một điểm tụ cư, nhưng đồng thời là một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp Làng Việt được hình thành trên cơ sở của sản xuất nông nghiệp tiểu nông, tự cấp tự túc Mặt khác, làng Việt cũng là mẫu hình xã hội phù hợp đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp Làng còn là một môi trường văn hóa, là tế bào của nền văn hóa truyền thống Việt Nam Văn hóa dân tộc Việt Nam là sự mở rộng của văn hóa làng

Làng xã chính là môi trường văn hóa sản sinh, nuôi dưỡng và lưu giữ tính cộng đồng của người Việt và người Việt đồng bằng sông Hồng Làng có sức sống mãnh liệt, đã tồn tại hàng nghìn năm, gắn bó chặt chẽ với quá trình dựng nước và giữ nước, là nơi nảy nở, vun trồng và khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc Việt

1.2 Những biểu hiện cơ bản tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng trong lịch sử

Tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, tình nghĩa thủy chung đã ăn sâu vào ý thức, thành nếp cảm, nếp nghĩ và trở thành lẽ sống của người nông dân truyền thống Chính lòng yêu quê hương, đất nước, cùng với cuộc sống đầy khó khăn vất vả, phải vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt

và đấu tranh chống giặc ngoại xâm đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, gắn bó

Trang 31

cộng đồng của dân tộc Mặt khác, do điều kiện sinh sống cùng với quy định chặt chẽ của lệ làng mà tính cộng đồng của nông dân cũng bền chặt hơn Thực tế cho thấy, tinh thần đoàn kết, tính cố kết cộng đồng của người nông dân nói chung và người nông dân khu vực đồng bằng sông Hồng nói riêng được biểu hiện tập trung trong kết cấu gia đình, làng xóm

1.2.1 Tính cộng đồng biểu hiện trong lao động sản xuất, ứng xử với tự nhiên và xã hội của nông dân

Nước ta vốn là nước nông nghiệp, dân ta chủ yếu là nông dân, thậm chí nhiều người thuộc thành phần xã hội khác vẫn còn gắn bó rất chặt chẽ với nông dân và nông thôn Làng - đơn vị quần cư khá độc đáo của người Việt vùng đồng bằng sông Hồng có sức sống mãnh liệt, đã tồn tại hàng ngàn năm, gắn bó chặt chẽ trong quá trình dựng nước và giữ nước, là nơi nảy nở, vun trồng và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc Việt Làng là chỗ dựa vững chắc, gắn bó, đoàn kết những người dân làng chống lại thiên tai, địch họa Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn: “Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp tự túc, mặt khác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình - tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy” [74, tr.130] Như vậy, nói đến làng là chúng ta nói đến một xã hội khép kín, bị hạn chế trong những mối quan hệ quẩn quanh trong lũy tre làng: gia đình, họ mạc, rộng ra là làng xóm Chính trong những mối quan hệ này tính cộng đồng được củng cố

Do điều kiện tự nhiên, điều kiện sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, buộc người nông dân phải liên kết với nhau, chống hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh, bởi

vì “lụt thì lút cả làng” Sự liên kết đầu tiên trong làng là liên kết dòng họ Liên kết dòng họ được xác lập trên cơ sở những người cùng huyết thống, cùng tổ tiên,

là mối quan hệ tự nhiên, tất yếu của loài người Vì thế, cha ông chúng ta thường răn dạy rằng: “con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn” Mỗi dòng họ thường bắt nguồn từ một vị “thủy tổ”, thường là người có công “khai

Trang 32

sơn phá trạch” khởi đầu cho một dòng họ ở một địa vực nhất định Trải qua thời gian, dòng họ có thể sinh sôi, nảy nở nhiều chi, ngành, thế hệ nối tiếp thế hệ Ở làng xã vùng đồng bằng sông Hồng, quan hệ dòng họ khá bền chặt Trải qua hàng nghìn năm đến những thế kỷ gần đây, dòng họ ngày càng thắt chặt hơn, gắn

bó những gia đình tiểu nông thành một khối vững chắc Quá trình hình thành làng xã Việt Nam nói chung và làng Việt vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng từ khởi đầu cho đến ngày nay là “sự chuyển đổi và phát triển từ liên kết hộ gia đình, tiến lên liên kết họ hàng và các dòng họ với nhau” [1, tr.118] Sự cố kết dòng họ

đã hỗ trợ đắc lực cho kinh tế tiểu nông, giúp nền kinh tế ấy khắc phục được những trở ngại, khó khăn trong sản xuất và sinh hoạt, và đặc biệt, sự cố kết dòng

họ cũng là cơ sở củng cố tính cộng đồng của người nông dân trong làng xã

Ở nông thôn, có rất nhiều những hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng Đây là cơ hội để bà con họ hàng đi lại thăm nom, giao lưu tiếp xúc, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau Những sinh hoạt văn hóa mang tính cộng đồng và dòng họ nhiều nhất phải kể đến việc giỗ tổ, lễ cưới và lễ tang Qua những hình thức sinh hoạt văn hóa chung này, sức cố kết cộng đồng được duy trì, củng cố và phát triển Những đố kị, những rạn nứt, có khi cả những hận thù diễn

ra trong đời sống hàng ngày lắng dịu một phần, đôi khi được xóa bỏ

Đã là người làng thì mỗi cá nhân phải thuộc về một dòng họ nào đó trong làng Trừ những người “ngụ cư” mới không có “dây mơ, dễ má” không có họ hàng trong làng Người trưởng họ là người đứng đầu dòng họ, là con trai cả của nhánh cả của dòng họ Người trưởng họ được thừa hưởng ngôi nhà thờ họ và ruộng họ, do đó, có nhiệm vụ coi sóc, đèn nhang thờ cúng tổ tiên, tổ chức những buổi họp mặt của cả họ Như vậy, nhà thờ họ vừa là nơi thờ cúng tổ tiên, tưởng nhớ đến những người đã khuất, vừa là nơi để tụ họp của những người trong họ Những ngày lễ tết, tất cả mọi người trong họ, không kể già, trẻ, gái, trai, dâu, rể phải tập trung tại nhà thờ họ để cúng lễ, tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công đức của những người khai sinh ra dòng họ mình Đó cũng là dịp cả họ tụ hội đông vui, làm cho mối quan hệ giữa các thành viên thêm gắn bó Đây là một nét đẹp

Trang 33

văn hoá gắn liền với tín ngưỡng tổ tiên, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt nói chung và người Việt vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng, đồng thời thể hiện tính cộng đồng sâu sắc

Gắn với giỗ tổ là việc tang ma trong gia đình và dòng họ Với tâm niệm chết không phải là hết, mà sang thế giới bên kia, cõi âm đi lại với cõi dương, dương nào âm vậy “sống gửi, thác về” Với sự tin tưởng trong ý thức tâm linh là cuộc sống của con người vĩnh hằng bất diệt Như vậy, việc tang ma là thể hiện tình cảm, đạo lý và quan hệ của những người đang sống với người đã khuất Nhưng tang ma không chỉ là công việc của riêng thân nhân gần gũi nhất với những người đã chết, đám tang còn có họ hàng, bà con láng giềng đến chia buồn, bày tỏ nỗi tiếc thương với người quá cố Đối với họ hàng, đến đám tang không chỉ do tình cảm mà còn vì cả trách nhiệm và nghĩa vụ Họ đến và phúng viếng bằng hiện vật, hoặc tiền bạc, đáp lại, gia chủ có nghĩa vụ mời họ ăn

cỗ đưa đám Như vậy, tang lễ không chỉ là nghi thức cần thiết đối với người đã khuất, mà đó là sự bầy tỏ tình đoàn kết giữa những người đang sống Việc tang

ma tạo ra một cơ sở vững chắc về cả mặt tinh thần lẫn vật chất cho sự cố kết cộng đồng, mà trước hết là cộng đồng dòng họ

Sau giỗ tổ và tang ma thì việc cưới xin cũng là việc quan trọng của gia đình và dòng họ: “Mục đích của hôn nhân là cốt duy trì gia thống, nên việc hôn nhân là việc chung của cả gia tộc chứ không phải việc riêng của con cái” [8, tr.77] Trong lễ cưới, gia đình thân chủ làm cỗ bàn mời mọi người đến tham dự

và chia vui, trong đó bà con họ hàng chiếm một phần đông đảo và quan trọng Họ đến để góp vui với cô dâu, chú rể và đôi bên gia đình cùng với quà tặng hay còn gọi là “mừng đỡ”, như một sự giúp đỡ nhỏ nhoi đầu tiên để cặp vợ chồng trẻ bắt đầu cuộc sống của gia đình mới Có thể thấy cả đám cưới và đám tang đều đi kèm với cỗ bàn và sự tham dự, đóng góp của những người trong họ Cưới xin, tang ma là những nghi lễ chuyển tiếp trong chu trình đời người đã trở thành những nghi lễ đoàn kết của họ hàng và cộng đồng làng xã, trong một hệ thống có

đi, có lại như những sự tương trợ, giúp đỡ kinh tế không thành văn, như là một

Trang 34

hình thức cho vay không có lãi Cùng với việc giỗ tổ, các nghi lễ này trở thành một nhu cầu xã hội để càng gắn kết cộng đồng và dòng họ

Như vậy, mối quan hệ họ hàng là một trong những mối quan hệ chủ yếu của con người, nó hình thành một cách tự nhiên trên cơ sở quan hệ huyết thống

“một giọt máu đào hơn ao nước lã” Nhờ quan hệ này mà tính cộng đồng của người nông dân vùng đồng bằng sông Hồng được duy trì và củng cố trong lịch

sử Tính cộng đồng đó được thể hiện trong sự quan tâm thăm viếng nhau những lúc bình thường, tương trợ nhau những lúc gặp khó khăn hoạn nạn Một người làm nhà cả họ đến giúp sức, nhiều khi giúp cả nguyên vật liệu Gia đình nào có việc hiếu, việc hỷ, cả họ đều góp công, góp của lo liệu chu đáo một cách tự nguyện Người nông dân coi việc giúp đỡ họ hàng khi có điều kiện là việc không thể chối từ Sự cố kết theo huyết thống tạo nên tình cảm dòng họ, trở thành một phương thức điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân Do đó, ở làng xã khi nói tới cá nhân, người ta thường liên hệ người ấy với cả dòng họ và truyền thống của dòng

họ ấy Tuy nhiên, cũng từ tình cảm dòng họ, trong làng xã Việt Nam còn tồn tại những hiện tượng bè phái, đố kỵ, hiềm khích giữa các họ trong làng Nhiều khi vì tình cảm dòng họ trong làng mà người ta có thể vượt qua những nguyên tắc chung của xã hội với tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ” Đôi khi làm nảy sinh ứng xử thiên lệch giữa những người trong họ với “người ngoài”,

“người dưng”, “họ chín đời còn hơn mười người dưng”, họ hàng thường bênh vực nhau, liên kết với nhau trong những vụ tranh chấp, xung đột với người ngoài chỉ xuất phát từ tình cảm huyết thống thuần túy mà không dựa trên cơ sở lý trí tỉnh táo Bởi vậy, nhiều khi, chỉ từ những mâu thuẫn, xích mích cá nhân đã trở thành những xung đột dòng họ “chuyện bé xé ra to”, “cái xẩy nảy cái ung” rất đáng tiếc

Khi bàn về tính cộng đồng trong xã hội Việt Nam, giáo sư Hà Văn Tấn viết: “Khảo cổ đã chứng minh rằng, ở Việt Nam nói riêng, ở vùng Đông Nam Á nói chung, kỹ thuật luyện kim đồng sắt, thủ công nghiệp đã phát triển rất sớm nhưng bản chất của nền văn minh vùng này vẫn là văn minh nông nghiệp xóm

Trang 35

làng Tuy nhà nước đã ra đời, sự phân hóa giàu nghèo sớm xuất hiện nhưng quan

hệ cộng đồng vẫn còn rất vững chắc Quan hệ họ hàng và làng mạc gắn bó với nhau trên cơ sở gia đình phụ hệ, vai trò rất lớn của người phụ nữ trong gia đình xuất hiện sớm và tồn tại lâu dài ở nông thôn Việt Nam cho đến ngày nay là một đặc điểm quan trọng in dấu ấn lên văn hóa Việt Nam Tính cộng đồng này về sau lại được bảo vệ, nuôi dưỡng như một chỗ dựa vững chắc cho việc chống ngoại xâm cũng như chống đồng hóa văn hóa Cách tổ chức này phù hợp với việc canh tác lúa nước” [5, tr.35 – 36] Như vậy, cùng với quan hệ dòng họ, quan hệ làng xóm cũng là mối quan hệ chủ yếu, mà ở đó tác động qua lại giữa người với người diễn ra mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự hình thành tính cộng đồng của người nông dân

Làng gắn bó với nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước tạo nên nền văn minh lúa nước - xóm làng Sống trong cộng đồng đó, những người dân làng gắn

bó, hợp tác, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống Với nền nông nghiệp lạc hậu và môi trường khép kín đã buộc con người phải liên kết với nhau để cùng tồn tại Mọi hoạt động và giao tiếp diễn ra trong phạm vi làng xã, cùng với làng

xã, gắn chặt cá nhân vào cộng đồng bé nhỏ ấy Bởi vậy, tinh thần đoàn kết, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, tình nghĩa thủy chung đã ăn sâu vào ý thức, thành nếp cảm, nếp nghĩ của người nông dân truyền thống Chính lòng yêu quê hương đất nước, cùng với cuộc sống đầy khó khăn, vất vả, phải vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt và đấu tranh chống giặc ngoại xâm đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, gắn bó cộng đồng của dân tộc Mặt khác, do điều kiện sinh sống cùng với sự quy định chặt chẽ của lệ làng mà tinh thần cộng đồng của nông dân cũng bền chặt hơn Thực tế cho thấy, tinh thần đoàn kết, tính cố kết cộng đồng của người nông dân được biểu thị tập trung trong kết cấu gia đình, làng xóm Gia đình hộ nông dân là tế bào của xã hội nông thôn, là một đơn vị kinh tế tự chủ, được duy trì trong tiến trình lịch sử Việt Nam Mọi sản xuất sinh hoạt trong gia đình thường khép kín, tự cấp, tự túc Sự tập hợp nhiều gia đình nông dân tụ cư trên một địa bàn nhất định tạo thành làng Làng là đơn vị định cư của người nông dân, có

Trang 36

chung cộng đồng về lãnh thổ, phong tục, tập quán, cùng chung hương ước Làng còn là sự chằng chịt những quan hệ huyết thống họ hàng nhưng cùng “chung lưng đấu cật” làm ăn Chính đây là cơ sở tạo nên sự đoàn kết, tính cố kết cộng đồng trong xử lý công việc chung của cả làng như: sản xuất, chống thiên tai, tham gia vào việc nước…

Như vậy, chính công việc cày cấy hàng ngày và sinh hoạt trong họ hàng, làng xóm đã làm cho người nông dân “tối lửa tắt đèn có nhau”, cùng nhau “chia ngọt sẻ bùi”…Từ trong tiềm thức, người nông dân đã hiểu rõ sự sống của mình là sống với làng, với xã, sống ở trong làng xã, với mọi quan hệ, trật tự đã định hình

Dư luận xã hội trong hình ảnh thu nhỏ của nó là dư luận của làng xã, của họ hàng thân tộc, của bà con hàng xóm láng giềng Nó có sức mạnh tự nhiên chi phối con người trong ứng xử và điều chỉnh thái độ, cử chỉ, hành vi của mỗi cá nhân Gắn

bó với cộng đồng làng đã củng cố bền vững tâm lý bám làng, đã sống với làng nên có chết cũng tâm nguyện trở về cội nguồn, với quê cha đất tổ Tâm lý bám làng rất mạnh ở người dân làng Việt khiến cho một quan viên người Pháp trước đây đã viết: “Có một sự thật không chối cãi được, một tâm lý không thể thay đổi được là bọn nhà quê chỉ chịu làm việc ngoài làng của chúng khi chúng đang chết đói Cho nên, chúng ta phải đi đến một kết luận kỳ cục là muốn chúng ta thoát khỏi tình trạng khó khăn hiện nay (về việc chiêu mộ dân công) thì phải làm sao cho nông thôn trở nên thật bần cùng…phải đánh thụt giá nông sản” [Dẫn theo 38, tr.54]

Những người nông dân thường quan tâm, đoàn kết, giúp đỡ nhau không chỉ những lúc neo đơn túng thiếu mà cả khi có những công việc vui mừng Tình làng, nghĩa xóm trở thành một giá trị luôn được coi trọng hàng đầu của những người nông dân Trải qua bao đời, tình làng, nghĩa xóm được đúc kết thành những câu ca dao, tục ngữ: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống những chung một giàn”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại lên hòn núi cao”…Phần lớn những nông dân luôn có ý thức sống hòa thuận, giữ gìn tình

Trang 37

làng, nghĩa xóm, giúp đỡ tương trợ người khác Họ coi đó là lương tâm, là bổn phận của mỗi người Truyền thống đó được đúc kết thành giá trị, được ghi vào hương ước của làng Ở bất cứ bản hương ước nào cũng có những mục khuyên răn mọi người ăn ở hòa thuận, coi trọng tình làng nghĩa xóm, khuyến khích mọi người yêu thương giúp đỡ nhau Pie Gourou - một học giả người Pháp đã ca ngợi

sự chặt chẽ của tổ chức làng và tinh thần cộng đồng làng Việt Bắc Bộ, ông viết:

“Làng được tổ chức chặt chẽ và ý thức cộng đồng làng cao đã cho người dân quê một cuộc sống tuy nghèo nhưng yên bình, nếu như làng tan vỡ thì người dân quê rất khó sống vì họ sẽ không có sự an ủi và bảo vệ của các cộng đồng trong đó có cộng đồng làng” [Dẫn theo 5, tr.278 – 279]

Tính cộng đồng làng xã là một hiện tượng tâm lý xã hội đặc trưng nổi bật trong tâm lý làng xã Nó như sợi dây vô hình thắt chặt mối quan hệ giữa những người làng xã, là chỗ dựa vững chắc về vật chất và tinh thần cho mỗi cá nhân sống trong làng Nó tạo nên sức mạnh hợp quần trong cuộc đấu tranh gian khổ với thiên nhiên khắc nghiệt để giành giật cuộc sống cũng như chống lại mọi sự xâm nhập từ bên ngoài để bảo vệ những gì được coi là giá trị mà làng xã tạo nên

Nó góp phần duy trì trật tự an ninh chung trong điều kiện tồn tại biệt lập Tuy nhiên, với tính cộng đồng, ở làng xã “cái tôi” bị xóa nhòa trong “cái ta” làng Mọi cái riêng của cá nhân đều bị phủ định Xu hướng, năng lực, tính cách…dường như phải giống nhau, như nhau tạo ra những nhân cách rập khuôn

“xấu đều hơn tốt lỏi” Tính cộng đồng làng cũng đẻ ra chủ nghĩa bình quân cào bằng về mọi mặt: nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm và vinh dự, nuôi dưỡng thói

đố kỵ, ganh gét níu kéo đối với những ai muốn vượt khỏi cái chung của cộng đồng Bên cạnh đó, với môi trường tự nhiên khắc nghiệt, điều kiện sản xuất nhỏ, phân tán đã tạo cho người nông dân thói quen chỉ lo vun vén cho mình, cho gia đình mình, làng mình; lâu dần thành thói quen, thành nếp sống, nó mang sắc thái cục bộ địa phương “Trống làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ”,

dù biết “giàu xứ quê không bằng ngồi lê kẻ chợ” thì vẫn là “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” Giáo sư Vũ Khiêu đã nói về vấn đề này như sau:

Trang 38

“Trong thời kỳ chống giặc ngoại xâm thì người dân không phân biệt ranh giới làng này hay làng khác, xả thân vì nước vì dân tộc, nhưng khi về chăm lo cho cuộc sống hàng ngày, trong thời bình lại xuất hiện những tư tưởng ích kỷ, vụn vặt, chăm lo cho lợi ích của gia đình, dòng họ làng xã Tâm lý cục bộ “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” nhiều khi đã tạo nên mâu thuẫn gay gắt giữa các cộng đồng nhỏ trong làng, giữa làng này với làng khác, thậm chí giữa làng với nước” [41, tr.21] Chính điều đó đã ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội, làm phương hại đến truyền thống đoàn kết vốn hình thành từ lâu trong lịch sử dân tộc

1.2.2 Tính cộng đồng biểu hiện trong sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội của nông dân

Đối với nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng, đời sống tinh thần chủ yếu biểu hiện qua tín ngưỡng, lễ hội, mà trước hết là tín ngưỡng, lễ hội gắn với văn hóa trồng lúa nước Tín ngưỡng, lễ hội thể hiện niềm tin, là chỗ dựa tinh thần cho mỗi con người, phản ánh đời sống hiện thực của người nông dân trong lao động sản xuất, trong đời sống gia tộc, làng xã Tín ngưỡng, lễ hội đó cũng thể hiện tính cộng cảm, cộng đồng sâu sắc của con người Tiêu biểu cho các tín ngưỡng, lễ hội của nông dân khu vực đồng bằng sông Hồng là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng

Trong gia đình người Việt Nói chung và người nông dân nói riêng thường thờ nhiều thần như Thổ Công (trông nom việc bếp), Thổ Địa (trông nom việc nhà), Thổ kỳ (trông nom việc chợ búa, sinh sản), Thần Tài…Tuy nhiên, trong gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Hồng, việc thờ cúng tổ tiên được coi trọng hơn cả, mỗi gia đình đều lập bàn thờ tổ tiên Bàn thờ tổ tiên là không gian thiêng liêng để các thành viên gia đình thể hiện, gửi gắm lòng tưởng nhớ, biết ơn những người đã sinh thành ra mình Bàn thờ tổ tiên thường được lập cố định, ở chỗ trang trọng nhất, gian chính giữa ở nhà trên Việc thờ cúng tổ tiên tại gia đình được tiến hành quanh năm, xuất phát từ quan niệm về đạo Hiếu của con cháu đối với tổ tiên Vào thời điểm gia đình có chuyện vui, buồn như: sinh con, ốm đau,

Trang 39

cưới vợ, gả chồng, làm nhà…là dịp để con cháu khói hương, thành kính dâng mời, cầu cúng gia tiên, cầu mong sự phù trợ của tổ tiên và thể hiện nghĩa vụ thiêng liêng với người đã khuất Thờ cúng tổ tiên không chỉ là cách ứng xử của người còn sống với người đã khuất mà còn là cách ứng xử giữa những người đang sống Điều này thể hiện nét độc đáo, thể hiện thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam nói chung và người nông dân nói riêng Như vậy, ở mức độ nào đó thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp văn hóa của con người Việt Nam, điều này đã được thủ tướng Phạm Văn Đồng ghi nhận: “Từ xa xưa dân tộc Việt Nam ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thường của nhiều nước khác Còn nói tôn giáo là thờ cúng thì mọi người đều thờ cúng ông bà, mọi họ đều Thờ cúng tổ tiên Từ góc độ văn hoá, tôi thấy đây là một đặc trưng đáng trọng của người Việt Nam, ở chỗ nó là sự tưởng nhớ những người có công trong việc tạo lập cuộc sống ngày nay trong mỗi gia đình và làng xóm” [18, tr.75]

Tín ngưỡng Thành Hoàng là tín ngưỡng phổ biến trong cả nước nói chung

và ở vùng đồng bằng sông Hồng riêng Trong các làng, các xã nông thôn Việt Nam, Thành Hoàng là một niềm tin thiêng liêng, là một chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng từ bao đời nay Theo quan niệm của người dân, đối với cộng đồng làng xã, Thành Hoàng có chức năng giám sát việc làm, hành vi của mỗi thành viên của cộng đồng, hướng họ đến cái thiện Sự trách phạt của Thành Hoàng thực chất là sự trách phạt của bản thân mình, ở đây Thành Hoàng đại diện như một đấng phán xét uy linh Đối với bên ngoài, Thành Hoàng khống chế tất cả những tác động gây thiệt hại cho cộng đồng làng như thiên tai, địch họa, cướp bóc…Đối với cộng đồng, Thành Hoàng góp phần giáo dục, lưu giữ truyền thống về làng:

“Thành Hoàng và ngôi đình là một biểu tượng, một thành tố tạo nên cái truyền thống làng, tâm lý làng không thể thiếu được trong đời sống con người Việt Nam” [75, tr.10]

Xét theo nguồn gốc, thời gian, điện thờ, có thể phân chia thần Thành Hoàng ra thành các nhóm chính như sau:

Trang 40

Các Thành Hoàng là nhiên thần: Đó là các vị thần có nguồn gốc thiên nhiên, không phải là những nhân thần, cho dù đã được nhân cách hoá như sơn thần Tản Viên Sơn Thánh, thuỷ thần như Long Vương, thần cây, thần rắn như Linh Lang đại vương

Các Thành Hoàng là những nhân vật văn hoá và lịch sử: Đây là loại Thành Hoàng có số lượng lớn nhất Nhóm Thành Hoàng này có thể chia thành bốn nhóm chính gồm nhóm: (1) Thành Hoàng là những bậc đế vương, danh tướng, danh nhân lịch sử có thật các đời được sử sách chính thức lưu truyền cho

dù thần tích có thêm phần dã sử hoặc huyền thoại; (2) Thành Hoàng là những nhân vật không có tên trong sử sách nhưng là những anh hùng của địa phương đã được huyền thoại hoá (3) Thành Hoàng là những nhân vật có công khai hoang lập ấp được dân làng tôn thờ làm Thành Hoàng (4) Thành Hoàng là những nhân vật cứu khổ cứu nạn cho nhân dân một địa phương nào đó như hành nghề y cứu đời, có phép màu xua đuổi thú dữ

Thành Hoàng có vai trò liên kết cộng đồng Tín ngưỡng Thành Hoàng, thực chất là tín ngưỡng phúc thần đóng vai trò liên kết cộng đồng người trong một cộng đồng lãnh thổ nông nghiệp hữu hạn, làm nơi quy tụ tâm linh cho cư dân Thành Hoàng chứng kiến đời sống của dân làng, ban phúc độ trì cho những người trung hiếu, hiền lành, giáng hoạ trừng phạt những kẻ độc ác vô luân Có tai biến, người nông dân thường đến lễ bái cầu xin thần che trở Có việc oan ức, người nông dân thường lễ bái cầu xin thần chứng giám chuyển giữ hoá lành, giải oan cho người đó Mọi người trong cộng đồng luôn tuân thủ theo luật lệ, đạo đức

vì họ luôn tâm niệm rằng thần luôn giám sát những hoạt động của từng thành viên trong cộng đồng Thần còn là lực lượng tiếp sức cho nhân dân trong các cuộc chống ngoại xâm, dập tắt thiên tai, bệnh dịch bằng con đường âm phù

“Hoạt động thờ cúng thành hoàng có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong đời sống làng xã Chính hoạt động này đã tạo ra sự cố kết cộng đồng làng xã và phân biệt nó với làng khác về tập quán và tâm lý” [6, tr.343]

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1938
2. Cao Văn Biền (1996), “Sự quản lý của nhà nước đối với hương ước trong lịch sử”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3, tr.42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự quản lý của nhà nước đối với hương ước trong lịch sử
Tác giả: Cao Văn Biền
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Năm: 1996
3. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1990
4. Bộ văn hóa – Thông tin (1997), Một số vấn đề xây dựng làng, ấp văn hóa hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xây dựng làng, ấp văn hóa hiện nay
Tác giả: Bộ văn hóa – Thông tin
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1997
5. Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX - 06 (1994), “Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội”. Văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội”. "Văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX - 06
Năm: 1994
6. Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX - 07. Đề tài KX 07 - 02, Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang (chủ biên) (1994), Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay. Tập I , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay. Tập I
Tác giả: Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1994
7. Di sản văn hóa Bắc Giang - Bước đầu tìm hiểu truyền thống văn hóa các dân tộc (2005), Bảo tàng Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa Bắc Giang - Bước đầu tìm hiểu truyền thống văn hóa các dân tộc
Tác giả: Di sản văn hóa Bắc Giang - Bước đầu tìm hiểu truyền thống văn hóa các dân tộc
Năm: 2005
8. Phan Đại Doãn (2001), Làng xã Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc Gia
Năm: 2001
9. Phan Đại Doãn (2004), Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc Gia
Năm: 2004
10. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm, khóa VII, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm, khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc Gia
Năm: 1993
11. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1999), Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương năm, khóa VIII, Về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc Gia
Năm: 1999
12. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc Gia
Năm: 2006
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, “Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X", “Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc Gia
Năm: 2008
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc Gia
Năm: 1998
15. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc Gia
Năm: 2011
16. Phạm Viết Đào (1996), Mặt trái của kinh tế thị trường, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trái của kinh tế thị trường
Tác giả: Phạm Viết Đào
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1996
17. Bùi Xuân Đính (1985), Lệ làng phép nước, Nxb. Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ làng phép nước
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb. Pháp lý
Năm: 1985
18. Phạm Văn Đồng (1994), Văn hóa và đổi mới, Nxb. Chính trị quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc Gia
Năm: 1994
19. Mạc Đường (chủ biên) (1995), Làng xã ở châu Á và ở Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã ở châu Á và ở Việt Nam
Tác giả: Mạc Đường (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
20. Lê Thanh Đức (2001), Đình làng Miền Bắc, Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình làng Miền Bắc
Tác giả: Lê Thanh Đức
Nhà XB: Nxb. Mỹ thuật
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w