Một trong những nội dung đổi mới quan trọng được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam quan tâm xây dựng, phát triển, đó là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.. Đó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
KHUẤT THỊ VANG
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội Khoa học
Mã số: 60.22.03.08
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đức Bách
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đức Bách Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2014
Tác giả luận văn
Khuất Thị Vang
Trang 4Nhân dịp luận văn được hoàn thành, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian
em học tập và rèn luyện tại trường Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS TS Nguyễn Đức Bách, người đã trực tiếp hướng dẫn em thực hiện đề tài này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua
Do những hạn chế về mặt nhận thức, luận văn không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của các quý thầy cô và các bạn để luận văn hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2014 Tác giả luận văn
Khuất Thị Vang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 8
8 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1: TÍNH TẤT YẾU HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 9
1.1 Kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 9
1.1.1 Kinh tế thị trường 9
1.1.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 15
1.2 Bối cảnh quốc tế, trong nước và nhu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 26
1.2.1 Bối cảnh quốc tế 26
1.2.2 Bối cảnh trong nước thời kỳ 1975 – 1985 29
1.2.3 Nhu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 31
1.3 Bước đầu hình thành quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 33
Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN 49
Trang 62.1 Sự phát triển quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 49
2.1.1 Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam lần đầu tiên khẳng định về “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” 49 2.1.2 Đại hội X và XI, Đảng ta tiếp tục hoàn thiện “thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa” 53
2.2 Khái quát đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 65 2.3 Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa 72
2.3.1 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng, hoàn thiện hệ thống lý luận về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 74 2.3.2 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, các cơ chế,
chính sách và các công cụ quản lý thị trường 76 2.3.3 Các giải pháp định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các loại thị trường
cụ thể 77 2.3.4 Từng bước xây dựng và hoàn thiện cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ Trung ương đến cơ sở 84 2.3.5 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý vĩ mô của nhà nước trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 86
KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7Các quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo thời gian, tiếp tục được phát triển, hoàn thiện tại các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Một trong những nội dung đổi mới quan trọng được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam quan tâm xây dựng,
phát triển, đó là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước chúng ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử
“Đất nước thực hiện thành công bước đầu công cuộc đổi mới, ra khỏi tình trạng kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt” [38, tr 20] Điều đó chứng tỏ đường lối lãnh đạo của Đảng là hoàn toàn đúng đắn Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, còn không ít khó khăn, thách thức “Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm; các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc; chế độ phân phối còn nhiều bất hợp lý” [38, tr 17] và “Thể chế kinh tế thị trường … vẫn là những điểm yếu cản trở
sự phát triển” [38, tr 18]
Đóng góp to lớn vào thành công bước đầu công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển chính là đổi mới tư duy lý luận trong đường lối của Đảng, xét về mặt kinh tế, đó là chuyển đổi từ nền kinh
tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tuy vậy, từ nhận thức cho đến hoạt động để từng bước hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vẫn
Trang 82
còn nhiều vấn đề hạn chế, thiếu sót, thậm chí còn những nhận thức và cách làm khác nhau, … (kể cả một số ý kiến chưa an tâm, chưa tán thành việc có thể định hướng xã hội chủ nghĩa cho kinh tế thị trường)
Do vậy, tiếp tục góp phần làm rõ hơn chủ yếu về nhận thức và một phần về hoạt động thực tiễn của quá trình hình thành và hoàn thiện dần “kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ở nước ta là một việc làm có ý nghĩa cấp thiết Với mong muốn góp phần nhỏ bé vào công việc có ý nghĩa
cấp thiết đó, tôi chọn đề tài “Sự hình thành và phát triển quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” làm
luận văn thạc sĩ chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học Hy vọng đây sẽ là một đóng góp nhỏ vào quá trình nghiên cứu lý luận nói riêng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng và dân tộc ta nói chung
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật thì vấn đề đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội, về kinh tế xã hội chủ nghĩa được đặt
ra cấp thiết Đã có nhiều tác giả và tập thể tác giả, nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề này Có thể điểm qua một số công trình:
“Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của PGS TS Nguyễn Đức Bách, Nxb Lao động, Hà Nội, 1998 Trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Lênin khi phân tích về tên nước “cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết” - ngay từ thời kỳ quá độ chỉ có ý nghĩa mục tiêu, định hướng, quyết tâm, … đi tới, tác giả đã đề cập những nhận thức cơ bản về “định hướng xã hội chủ nghĩa” – đó là một quá trình định hướng của Đảng, Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực cụ thể ở Việt Nam để cả quá trình xây dựng đất nước không chệch khỏi mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa xã hội của Việt Nam – với mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, …”
Trang 93
“Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới” của GS Trần Nhâm, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Tác giả trên cơ sở nghiên cứu vấn đề đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta trong bối cảnh thời đại, trong mối quan hệ với toàn cầu hóa và những thách thức đặt ra, cũng như trong mối tương quan giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với thời đại hiện nay Để từ đó, nghiên cứu, xem xét
và tổng kết đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và đổi mới tư duy lý
luận về kinh tế của Đảng ta
“Đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta của TS Nguyễn Đức Tài, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Tác giả đã khảo sát quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Trên cơ sở đó nghiên cứu sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta trong
các lĩnh vực cụ thể, nhất là tư duy mới về kinh tế Từ đó, chứng minh việc
đổi mới tư duy lý luận là tất yếu để phát triển đất nước trong bối cảnh mới của thực tiễn
“Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986 - 2005” do
tập thể tác giả Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (chủ biên), Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2006 Đây là cuốn sách tập hợp sự đóng góp của rất nhiều nhà nghiên cứu, là một công trình nghiên cứu có uy tín với sự tổng kết những hạn chế và thành tựu trong công cuộc đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
mà một trọng tâm lớn là tư duy kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đồng thời, chỉ ra những hạn chế trong nhận thức, tư duy về chủ nghĩa
xã hội trước đổi mới Các tác giả đi vào khảo sát vấn đề đổi mới tư duy lý luận trong từng lĩnh vực cụ thể Để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và yêu cầu tiếp tục đổi mới toàn diện theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước vào thời kỳ phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả Trịnh Quốc Tuấn chủ nhiệm đề tài: “Kết hợp tăng trưởng kinh
tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta” đã phân tích những thành tựu,
Trang 104
tác động và thách thức của tăng trưởng kinh tế và của công bằng xã hội trong đổi mới, đồng thời đề đạt một số phương hướng, quan điểm, giải pháp kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong những năm tới (2001 – Học viện Chính trị Quốc gia, Hà Nội)
Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản
Trung Quốc: “Chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường kinh nghiệm của Trung
Quốc, kinh nghiệm của Việt Nam”, 2003, nêu rõ sự tương đồng về bản chất,
mục tiêu, … giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc Cả hai nước xây dựng nền kinh tế thị trường trên tinh thần nhất quán là thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển kinh tế
“20 năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường” của
PGS.TS Nguyễn Cúc Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005 Tác giả đã phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế của sự nghiệp đổi mới đất nước; quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Từ đó đã rút ra những bài học kinh nghiệm, xác định rõ những bước đi tiếp theo là nhiệm vụ và đỏi hỏi vừa mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn
Bên cạnh đó còn có rất nhiều những luận án, luận văn nghiên cứu về quá trình đổi mới tư duy, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như: Luận án Phó tiến sĩ khoa học
kinh tế của Trần Anh Tài năm 1996 viết về “Vai trò quản lý của Nhà nước
trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” Luận án đã
đề cập đến vai trò quản lý của Nhà nước trong quá trình chuyển sang nền kinh
tế thị trường và nêu ra một số giải pháp nhằm giữ vững vai trò định hướng của Nhà nước trong phát triển nền kinh tế thị trường
Luận văn Thạc sĩ của Quách Thị Hà năm 2006 viết về “Thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Luận văn đã nêu lên
Trang 115
quá trình hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Luận văn Thạc sĩ Triết học của Đoàn Thị Thu Hương năm 2012 viết về
“Đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 đến nay”
Luận văn đã nêu lên quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam, những thành tựu, hạn chế và đề xuất một số giải pháp để tiếp tục hoàn thiện tư duy kinh tế của Đảng
Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học như: “Kinh
tế thị trường qua các bước đổi mới tư duy” của tác giả Hà Đăng được đăng
trên Tạp chí Cộng sản, số 127 (4 - 2007) Tác giả đã khái quát từng bước quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về kinh tế thị trường qua các kỳ Đại hội Đảng từ Đại hội Đảng VI đến Đại hội lần thứ X của Đảng ta
Bài viết “Vận dụng tư tưởng của V I LêNin trong đổi mới kinh tế ở
Việt Nam” của PGS TS Nguyễn Đức Bách đăng trên Tạp chí Tuyên giáo, số
4 năm 2008; GS.TS Chu Văn Cấp với bài viết: “Định hướng xã hội chủ nghĩa
nền kinh tế thị trường ở nước ta” được đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 71
năm 2004; TS Lê Xuân Bá có bài: “Về xây dựng thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 4
năm 2006; GS.TS Nguyễn Phú Trọng với bài viết: “Kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa: Quan niệm và giải pháp phát triển” đăng trên Tạp
chí Cộng sản, số 1 (122) năm 2007; GS.TS Nguyễn Đình Kháng có bài:
“Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 3/ 2007; GS.Viện sĩ Nguyễn Duy Quí
trong Tạp chí Lý luận Chính trị có bài: “Công bằng xã hội trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đăng trên Tạp chí Lý luận
chính trị, số 11/ 2007; PGS.TS Nguyễn Viết Thảo với bài viết: “Mối quan hệ
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị” đăng trên Tạp chí Lý luận
Trang 126
chính trị, số 5/2010; PGS.TSKH Lương Đình Hải viết bài: “Mấy vấn đề về
đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay” đăng trên Tạp chí
Triết học, số 7 (230) năm 2010; PGS, TS Ngô Quang Minh với bài viết:
“Quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về kinh tế thị trường” đăng trên Tạp
chí Cộng sản, số ra ngày 28/ 12/ 2011
Qua các công trình nghiên cứu, các tác giả đều cho rằng, cách tư duy
máy móc, siêu hình, chủ quan, duy ý chí, đặc biệt trong tư duy kinh tế là
nguyên nhân cản trở quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Do vậy, việc phải đổi mới tư duy lý luận là yêu cầu tất yếu Đồng thời các bài viết, các công trình nghiên cứu cũng nhận định quá trình đổi mới phải dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Cần bổ sung và phát triển những thành tựu lý luận đã đạt được để đổi mới phương pháp tư duy, khắc phục lối tư duy kinh nghiệm Các tác giả chỉ ra trong quá trình đổi mới, cần phải bám sát thực tiễn, tổng kết thực tiễn, từ đó phát triển lý luận
Như vậy, nghiên cứu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được nhiều tác giả đề cập đến, thể hiện trong các công trình nghiên cứu và bài viết Tuy nhiên, nghiên cứu sự hình thành và phát triển quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như một công trình khoa học hoàn chỉnh, có tính hệ thống, đến nay chưa có tác giả nào thực hiện
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu làm sáng tỏ sự hình thành và phát triển quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu làm rõ khái niệm “thị trường”, “kinh tế thị trường”, “kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và sự khác nhau giữa hai khái niệm “kinh tế thị trường”, “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
Trang 137
+ Nghiên cứu làm rõ tính tất yếu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
+ Nghiên cứu làm rõ quá trình hình thành quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Nghiên cứu làm rõ quá trình phát triển, hoàn thiện quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Nêu được những vấn đề đang đặt ra đối với tư duy lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Sự hình thành và phát triển quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích – tổng hợp, lịch sử - logic, các phương pháp chọn lọc – hệ thống hóa và khái quát, … được sử dụng đan xen để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 148
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn hệ thống hóa và phân tích ở góc độ triết học chính trị - xã hội đối với quá trình hình thành, phát triển quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời Luận văn
đóng góp vào việc đề xuất những vấn đề đang đặt ra và một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện quan điểm về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận
Luận văn khẳng định được ý nghĩa, tầm quan trọng trong đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhờ có lý luận đúng đắn, soi đường, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ lãnh đạo đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội
- Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, học tập cho học viên, sinh viên các học viện, viện, trường đại học và các nhà nghiên cứu lý luận; làm tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn kết cấu thành 2 chương 6 tiết
Trang 151.1.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường
Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội cho thấy, hình thức kinh
tế đầu tiên của loài người là kinh tế tự nhiên, kế tiếp là nền kinh tế tự cung,
tự cấp - nền kinh tế, trong đó sản phẩm làm ra chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người sản xuất Người sản xuất tự quyết định về loại sản phẩm (do các yếu tố tự nhiên, tập quán quy định), số lượng sản phẩm (theo nhu cầu của bản thân họ) và sản xuất của mình Sự trao đổi sản phẩm với nhau rất hạn chế chủ yếu dưới các hình thức đơn giản nhất, trao đổi trực tiếp sản phẩm với nhau
Kinh tế hàng hóa là sự phát triển trực tiếp từ kinh tế tự cung, tự cấp, trên cơ sở có phân công lao động và năng suất lao động ngày càng cao của nền kinh tế đã phát triển và qua tiến trình lịch sử Sản xuất hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra hàng hóa đó, mà để trao đổi nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua thông qua “vật trung gian” mang ý nghĩa tiền tệ Vì vậy loại sản phẩm, số lượng sản phẩm suy cho cùng
là do người mua quyết định, việc trao đổi sản phẩm được thực hiện thông qua quan hệ thị trường (quan hệ Hàng – Tiền) Đó chính là kiểu tổ chức kinh tế -
xã hội, trong đó quan hệ giữa người với người thông qua trao đổi hàng hóa
trên “thị trường hàng hóa – tiền tệ”
Có thể nói, kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển thì thị trường cũng xuất hiện và phát triển, nhưng không phải hễ có thị trường là có “kinh tế thị trường”
Thị trường là một phạm trù của nền sản xuất hàng hóa, nó ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa Kinh tế hàng hóa ra đời thì
Trang 1610
thị trường xuất hiện và cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, thị trường được mở rộng phong phú và đồng bộ, các quan hệ thị trường ngày càng hoàn thiện
“Thị trường” với định nghĩa tổng quát “là sự biểu hiện thu gọn của quá
trình, mà thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và các quyết định của cá nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được dung hòa bằng sự điều chỉnh của giá cả” [11, tr 41]
Theo nghĩa hẹp “thị trường là tập hợp các sự thỏa thuận, thông qua đó người mua và người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ” [11, tr 44]
Tác giả luận văn tán thành và kế thừa sự khái quát gọn về thực chất của
khái niệm “thị trường” trên đây
“Kinh tế thị trường” là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa,
trong đó sản xuất chủ yếu để trao đổi, gắn với sự phát triển ngày càng cao của phân công lao động và trình độ chuyên môn hóa Không gian thị trường đã được mở rộng cho sự lựa chọn, tư duy giá trị, hiệu quả trở nên phổ biến Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do, bình đẳng giữa mọi thành phần kinh tế được tôn trọng và các chủ thể kinh tế chịu sự điều tiết của các quy luật thị trường, thái độ ứng xử của họ là hướng vào tìm kiếm lợi ích của chính mình trên thị trường theo sự dẫn dắt của giá cả
Vậy “kinh tế thị trường là kiểu tổ chức kinh tế dựa trên cơ sở đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh [43,tr.70]
Theo tác giả Ngô Đình Giao thì, “Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Đến lượt nó, cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ cơ bản vận động dưới sự chi phối của các quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh, nhằm mục tiêu lợi nhuận Nhân tố cơ bản của cơ chế thị trường là cung – cầu và giá cả thị trường” [69, tr 11]
Trang 1711
Qua phân tích một số quan điểm của các tác giả đã công bố về “kinh tế thị trường”, tác giả luận văn mạnh dạn đưa ra quan điểm của mình về “kinh tế thị trường” như sau:
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Các hoạt động kinh tế gắn chặt với nhau thông qua thị trường Lực lượng sản xuất xã hội ngày càng phát triển, trình độ phân công lao động xã hội ngày càng cao, thì các quan hệ thị trường cũng ngày càng được mở rộng và trở nên phức tạp Hệ thống thị trường quốc gia trở nên thống nhất, thông suốt và gắn kết chặt chẽ hơn với thị trường thế giới Các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế quan hệ bình đẳng
cả đầu vào và đầu ra của sản xuất và nhìn chung cả người sản xuất và người tiêu dùng đều được hưởng lợi từ sự lệ thuộc đó
1.1.1.2 Đặc điểm cơ bản của kinh tế thị trường
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã thể hiện rất rõ những nét đặc trưng riêng của nó
Một là, trong kinh tế thị trường, có ba vấn đề cơ bản do thị trường
quyết định: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? (do giá cả, lợi nhuận mách bảo), sản xuất cho ai? (do thu nhập quyết định) Nguồn lực của xã hội được luân chuyển, không gian thị trường được mở rộng cho sự lựa chọn Sự vận động của cung – cầu và cạnh tranh đã làm bộc lộ một cách thực chất sản phẩm gì cần sản xuất, sản xuất bao nhiêu và các nguồn lực của xã hội cần được lựa chọn, cần sử dụng như thế nào để sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường, hơn nữa nguồn lực của xã hội được lưu chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ nơi có hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao
Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm đều là hàng hóa hoặc mang tính hàng hóa Điều này bắt nguồn ngay từ đầu quá trình sản xuất, kinh doanh
là sản xuất để bán Sản phẩm là hàng hóa không chỉ bao gồm sản phẩm hữu
Trang 1812
hình mà còn là sản phẩm vô hình như: tri thức (bản quyền tác giả - sở hữu trí tuệ), các dịch vụ, thông tin, bí quyết công nghệ
Hai là, cung, cầu hàng hóa trên thị trường quyết định giá cả của hàng
hóa Hai đại lượng cung, cầu vận động theo quy luật ngược chiều nhau và ấn định mức giá cả người mua và người bán đều chấp nhận được
Ba là, kinh tế thị trường gắn với tự do, tự chủ trong sản xuất kinh
doanh Các chủ thể kinh doanh có quyền tự do kinh doanh do cung – cầu thị trường tác động và chi phối Khi có cầu ắt có cung, các chủ thể kinh doanh tiến hành tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu thị trường
và tìm kiếm lợi nhuận (đây là điểm rất khác biệt với mô hình kinh tế kế hoạch hóa, sản xuất cái gì đều có “kế hoạch” đã định trước) Tuy vậy, hiểu tự do kinh doanh đúng nghĩa là hoạt động kinh doanh những gì mà pháp luật và Nhà nước không cấm
Bốn là, kinh tế thị trường luôn gắn với cạnh tranh Đặc trưng cạnh tranh
của kinh tế thị trường do nhiều nhân tố quy định Tự do kinh doanh mưu cầu, tìm lợi nhuận cao dẫn đến cạnh tranh, muốn chiếm giữ và mở rộng thị phần, muốn giành chiến thắng trên thương trường cũng cần tới cạnh tranh Cạnh tranh chính
là động lực của sự phát triển và hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh Do vậy, trong quản lý Nhà nước, cần hạn chế độc quyền, mở rộng cạnh tranh thực sự bình đẳng
Năm là, một hệ thống các thị trường đồng bộ, thống nhất, ngày càng
hiện đại Hệ thống thị trường là khách quan, hệ thống thị trường phải đồng bộ, thông suốt trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới, gồm tất cả các loại thị trường Thị trường vận động theo xu hướng ngày càng hiện đại,
mở rộng quy mô
Sáu là, kinh tế thị trường là kinh tế mở Nhờ tự do, mở cửa, không gian thị
trường được mở rộng, thị trường là một thể thống nhất thông suốt, hòa nhập thị trường thế giới Nguồn lực của xã hội được mở rộng không chỉ ở trong nước mà
Trang 1913
cả thế giới Trong điều kiện của xu hướng toàn cầu hóa, mỗi quốc gia có thể tìm thấy lợi thế của mình trong quan hệ đa phương Đối với các nước kém và đang phát triển, mở cửa hội nhập là xu hướng tất yếu để có thêm nguồn lực cho sự phát triển: vốn, công nghệ, thị trường, quản lý, mặt khác cũng đặt ra những yêu cầu mới cao hơn, có cả cơ hội và thách thức Điều quan trọng là phải có chiến lược đúng, biết chuẩn bị về nội lực để tiếp thu một cách có hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài
Bảy là, kinh tế thị trường gắn liền với sự tồn tại của nhiều thành phần kinh
tế, nhiều loại hình sản xuất kinh doanh Kinh tế thị trường bản thân nó là một nền kinh tế xã hội hóa gắn liền với chế độ sở hữu đa dạng, nhiều loại hình sản xuất kinh doanh, nhiều loại quy mô Sự đa dạng về sở hữu, loại hình quy mô tạo điều kiện để giải phóng sức sản xuất xã hội, nhằm khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng Kinh tế Nhà nước giữ vai trò định hướng, điều chỉnh nền kinh tế Kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác làm cho nền kinh tế năng động Kinh tế hợp tác
sẽ là hình thức phổ biến hỗ trợ các hoạt động kinh tế, tăng sức mạnh của các tác nhân kinh tế
* Mặt tích cực của nền kinh tế thị trường
Thứ nhất, có tính năng động và thích ứng cao do đòi hỏi của thị trường
Ưu thế này bắt nguồn từ tự do kinh doanh, từ sự lựa chọn của thị trường Ở đâu
có cầu, ở đó ắt có cung Vai trò của người tiêu dùng đặc biệt quan trọng Các doanh nghiệp, các nhà cung cấp dịch vụ phải đáp ứng với tính năng động, nhạy cảm của thị trường, ngược lại, sẽ mất cơ hội kiếm lợi nhuận và phát triển
Thứ hai, hiệu quả do cạnh tranh chi phối và mục tiêu lợi nhuận là tối
đa, các chủ thể kinh doanh, dịch vụ buộc phải tìm mọi phương sách trong việc đổi mới công nghệ, lựa chọn các đầu vào sao cho tối thiểu hóa chi phí, nhờ vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Nhu cầu sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và thị trường luôn mở rộng giúp nền kinh tế luôn có cơ hội phát triển Tuy vậy, cơ hội biến thành hiện thực
Trang 2014
còn tùy thuộc vào năng lực quản lý của Nhà nước, tùy thuộc sự kết hợp giữa bàn tay hữu hình với bàn tay vô hình
* Mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Với đặc trưng cơ bản là dân chủ hóa, tự do cá nhân, coi trọng động lực lợi ích, do đó dễ cường điệu lợi ích cá biệt, phá vỡ những cân đối chung, những cân đối tổng thể của nền kinh tế, coi trọng lợi ích kinh tế dễ bỏ qua những vấn đề xã hội, môi trường Thị trường là cạnh tranh, sẽ có kẻ thắng người thua, nhưng thị trường không bảo vệ những người chiến bại Cạnh tranh sớm muộn cũng dẫn đến độc quyền với những tác hại khôn lường; bóp méo sự vận động của quy luật cung, cầu, giá cả Kinh tế thị trường gắn liền với những thử thách về đạo đức, nhân cách, yếu tố văn hóa truyền thống của con người và trong quan hệ của con người với tự nhiên
Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường nói chung sẽ bảo đảm các mục tiêu cơ bản của hệ thống kinh tế là tăng trưởng, hiệu quả và công bằng Tuy nhiên, do bản chất của nó, nền kinh tế thị trường luôn kèm theo một loạt tiêu cực (nhiều người còn gọi là thất bại của kinh tế thị trường hoặc các khả
năng phi hiệu quả của kinh tế thị trường) dưới góc độ kinh tế học, các mặt
tiêu cực của kinh tế thị trường bao gồm:
Thứ nhất, xu hướng độc quyền trên những thị trường có điều kiện Xu
hướng độc quyền là xu hướng gắn liền với kinh tế thị trường Độc quyền có thể có những nguyên nhân khác nhau: độc quyền tự nhiên, độc quyền do Nhà nước cho phép hoặc chủ trương Trong mọi trường hợp, nếu các doanh nghiệp
và nhà cung cấp dịch vụ độc quyền sẽ chỉ mang lại lợi ích cho họ, còn người tiêu dùng và xã hội phải chịu thiệt về lợi ích Do vậy Nhà nước phải trực tiếp tham gia điều tiết độc quyền Ngoài ra, để chống tác hại của độc quyền, Nhà nước phải ban hành luật khuyến khích cạnh tranh, chống độc quyền
Thứ hai, các hàng hóa, dịch vụ có ngoại ứng, khi sản xuất, cung ứng
hoặc tiêu dùng sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến xã hội (ví dụ gây ô nhiễm môi
Trang 2115
trường), gây tác hại cho xã hội, ảnh hưởng đến môi trường sản xuất và sinh hoạt chung của dân cư, xã hội
Thứ ba, đối với các hàng hóa, dịch vụ công cộng – nhóm hàng hóa, dịch
vụ có đặc thù do tính chất đặc biệt của nó, phải được cung ứng với giá rẻ (thường Nhà nước phải trực tiếp cung ứng hoặc trực tiếp đặt hàng cho hàng hóa công cộng) Những hàng hóa, dịch vụ này gây nên tình trạng hoặc là không có ai đặt hàng sản xuất, dịch vụ dẫn đến thiếu thốn hoặc được sử dụng bừa bãi, không hiệu quả
Thứ tư, đối với các hàng hóa thiếu thông tin thị trường, cả về phía
người cung cấp hoặc phía người tiêu dùng đều dẫn đến tình trạng cung, cầu quá cao hoặc quá thấp so với thực tế, làm giảm hiệu quả xã hội
Ngoài ra, xét trên bình diện xã hội, có thể kể thêm một số tiêu cực sau đây của nền kinh tế thị trường
Tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập với xu hướng ngày càng tăng trong giai đoạn đầu phát triển
Do chỉ chạy theo lợi nhuận nên chỉ chú ý đến đầu tư vào các lĩnh vực có thu nhập cao, bỏ qua nhiều mặt hàng, dịch vụ cần thiết khác do lợi nhuận thấp
Cạnh tranh, phá sản dẫn đến mất cân đối vĩ mô ngắn hạn, gây ra những hậu quả tiêu cực về xã hội như thất nghiệp, lạm phát
Động cơ lợi nhuận dễ dấn đến các hành vi vi phạm pháp luật như lừa đảo, làm hàng giả, hủy hoại môi trường, tham nhũng, hối lộ, tệ nạn xã hội
Nhận thức đúng đắn, đầy đủ về mặt lý luận nền kinh tế thị trường, những đặc trưng, mặt tích cực và tiêu cực của nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội
1.1.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Theo học thuyết của C Mác thì loài người phát triển từ thấp đến cao qua các hình thái kinh tế - xã hội: Cộng sản nguyên thủy – Chiếm hữu nô lệ - Phong
Trang 2216
kiến – Tư bản chủ nghĩa – Cộng sản chủ nghĩa Nhưng xét theo tiến trình phát triển các kiểu tổ chức sản xuất xã hội, thì mới thấy có hai loại hình là: kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc và kinh tế hàng hóa mà giai đoạn phát triển cao của nó là kinh tế thị trường Như thế, giữa kiểu tổ chức sản xuất xã hội và hình thái kinh tế
- xã hội không phải là một khái niệm và đồng nhất Một kiểu tổ chức sản xuất có thể tồn tại và phát triển trong nhiều hình thái kinh tế - xã hội
Với nhận thức của chủ nghĩa Mác thì rõ ràng điều không thể chối cãi là, kinh tế thị trường không phải là kiểu tổ chức sản xuất riêng của chủ nghĩa tư bản
và nó càng không phải là chủ nghĩa tư bản, mà nó là kiểu tổ chức sản xuất xã hội, là thành tựu của loài người đạt được ở giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
Kế thừa những lý luận của Mác – Ăngghen, Lênin đã nói đến một thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là những nhân tố của xã hội mới và những tàn tích của xã hội cũ tồn tại đan xen lẫn nhau, đấu tranh với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tư tưởng, tập quán trong xã hội, …
Trong giai đoạn này, chưa có một lực lượng nào thắng thế tuyệt đối, có nghĩa là việc tiếp tục áp dụng phương thức sản xuất và phân phối cộng sản chủ nghĩa là một sai lầm “đáng tiếc” và “ngay trong giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản chúng ta cũng không thể đạt tới được” Lênin đã phát triển lý luận của Mác và nhấn mạnh việc cần thiết phải xác định xem mình đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển “… danh từ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa … có nghĩa là Chính quyền Xô Viết quyết tâm thực hiện bước chuyển lên chủ nghĩa xã hội, chứ hoàn toàn không có nghĩa là đã thừa nhận chế độ kinh tế hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa” [6, tr 17 – 18] Điều này có một
ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cho thấy rằng muốn duy trì được chủ nghĩa xã hội thì cần phải có những cơ sở kinh tế, xã hội nhất định
Vận dụng sự lý giải rất khoa học và thực tiễn mà V.I.Lênin đã để lại cho nhân loại về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội gắn với tên nước cộng
Trang 2317
hòa xã hội chủ nghĩa … cho đến nay còn nguyên giá trị: đó là việc xác định rõ
“quyết tâm” (tức là chủ trương đúng đắn của Đảng Cộng sản – mang tính định hướng mục tiêu xa của cả quá trình xây dựng đất nước là chủ nghĩa xã hội – chủ nghĩa cộng sản …) đi lên chủ nghĩa xã hội, chứ không phải xác định rằng: đất nước đã trở thành một nước xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh
Hiện nay, Việt Nam cũng đã có tên nước là “nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” có nghĩa là: chúng ta mới bắt đầu xây dựng và bảo vệ đất nước ta theo định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam về mục tiêu xa đó là chủ nghĩa xã hội – chủ nghĩa cộng sản … chứ không có nghĩa là hiện nay Việt Nam đã là một nước xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh Đó chính là một quá trình
“định hướng xã hội chủ nghĩa” thông qua sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng các chủ trương, chính sách; bằng việc tạo điều kiện, điều chỉnh, uốn nắn, … trên tất cả các lĩnh vực hoạt động để từng bước phát triển Việt Nam đạt tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh
Trước đổi mới, thực trạng, hoàn cảnh và mục tiêu của nước ta được khái quát qua đặc điểm lớn nhất của thời kỳ này là: Từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Vì thế, chúng ta đang nỗ lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhanh chóng hình thành một nền sản xuất lớn
xã hội chủ nghĩa với công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa, khoa học, kỹ thuật tiên tiến Quá trình đó tất yếu phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, phân công lại lao động giữa các ngành nghề, các vùng, miền và sự chuyên môn hóa lao động ngày càng cao
Mặt khác, từ một nền sản xuất hàng hóa nhỏ đi lên, lẽ dĩ nhiên nền kinh
tế nước ta còn tồn tại nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu khác nhau Hơn nữa, trong điều kiện mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, để đáp ứng yêu cầu đặt ra và chủ động hội nhập và cạnh tranh được trên trường quốc
Trang 2418
tế, chúng ta cần và phải xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển ở trình độ cao, vận hành theo cơ chế thị trường Đó chính là nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường tự do, bên cạnh những ưu điểm, còn có nhiều nhược điểm, mặt trái không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng
Những gì là phù hợp với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, là mặt tốt của kinh
tế thị trường, thì Nhà nước cần khai thác, phát huy, tạo điều kiện để phát triển Ngược lại, những gì là mặt trái của nó không phù hợp với mục tiêu xã hội chủ nghĩa cần được hạn chế, loại bỏ
Việc quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đảm bảo cho kinh tế thị trường phát triển phù hợp với mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng, toàn dân ta đã lựa chọn
Như vậy, từ một nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường một cách tự do hay nền kinh tế thị trường tự do đến nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tất yếu phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường có những nội dung, hình thức, tính quy luật toàn cầu, nhưng lại vừa không tách rời khỏi chế độ xã hội của mỗi quốc gia dân tộc với những đặc thù của nó Trong nhiều đặc tính có thể dùng làm tiêu thức để phân
Trang 2519
biệt nền kinh tế thị trường này với nền kinh tế thị trường khác phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêu kinh tế - xã hội của nhà nước đó Theo đó, có thể phân chia thành nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là nền kinh tế phát triển ở trình độ
cao, trong đó những quan hệ kinh tế của thị trường và của chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào nhau thành một thể thống nhất
Trong một thời gian dài chúng ta đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản nên không thừa nhận kinh tế thị trường Ngày nay, quan điểm trên đã hoàn toàn bị xóa bỏ Thay vào đó, ta coi phát triển kinh tế thị trường là yêu cầu tất yếu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính Lênin từng nhận định: “Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy
đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội, là nấc thang lịch sử mà giữa nó với nấc thang được gọi là chủ nghĩa xã hội thì không
có nấc thang nào ở giữa cả” [54, tr 258]
Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hiện nay đang được xây dựng ở
Trung Quốc Tại Đại hội IX (1992), Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chính thức khẳng định: “Mục tiêu cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc là xây dựng thể chế kinh tế thị trường và chỉ rõ: thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa chính là làm cho thị trường phát huy được vai trò mang tính cơ sở trong việc
bố trí các nguồn lực dưới sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, khiến cho các hoạt động kinh tế tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị, thông qua chức năng của đòn bẩy giá cả và cơ chế cạnh tranh, phân phối các nguồn lực một cách hiệu quả, tạo ra động lực và sức ép cho các doanh nghiệp, thực hiện chọn lọc tự nhiên, lợi dụng ưu điểm của thị trường, phản ứng mau lẹ với các tín hiệu kinh tế, thúc đẩy điều tiết kịp thời sản xuất và nhu cầu tiêu dùng”
Trang 2620
Trong quá trình xây dựng và hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, có rất nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Văn Cấp, kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế - xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau Đó là nhóm nhân tố của thị trường và nhóm nhân tố của xu thế mới đang vận động, đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó nhóm nhân tố thứ nhất đóng vai trò động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu quả Nhóm nhân tố thứ hai đóng vai trò hướng dẫn
sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đã xác định, bổ sung những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường, hoàn thiện
mô hình chủ nghĩa xã hội
Theo Ông, “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang tính đặc thù, đó là tính định hướng xã hội chủ nghĩa Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nước khác” và “Nền kinh tế thị trường ở nước ta có ba điểm rất cơ bản: lấy chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu làm nền tảng và kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; nền kinh quốc dân kết hợp nhiều hình thức phân phối, trong đó phân phối chủ yếu là theo kết quả lao động
và hiệu quả kinh tế, thực hiện tốt các chính sách xã hội” [14, tr 47]
Theo Tiến sĩ khoa học Trần Nguyễn Tuyên, “Nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa được cấu thành từ những hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất, trong đó công hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, tăng trưởng kinh tế gắn
Trang 27Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kiểu tổ chức kinh tế
vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức
sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc
Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế Nhà nước; đồng thời sử dụng kinh tế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của nền kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối
chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo
Trang 28Kế thừa có chọn lọc các quan điểm trên đây, tác giả luận văn xin nêu khái quát nhận thức của mình về “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa” qua những đặc trưng cơ bản nhất như sau:
Một là, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một loại hình
kinh tế được vận dụng, vận hành theo những tính quy luật chung của “kinh tế thị trường” mà thời đại hiện nay đang thể hiện Đó là loại hình kinh tế hàng hóa đã phát triển trên những địa bàn – “những cái chợ” – “những thị trường”
ở mỗi nước và quốc tế - nền kinh tế mở - liên thông của nhiều loại thị trường
Hai là, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có đặc thù nổi
bật ở nhân tố xã hội chủ nghĩa, trước hết đó là sự định hướng về chính trị - xã hội của Đảng Cộng sản Mác – Lênin, sự quản lý vĩ mô của Nhà nước trong một quốc gia dân tộc có mục tiêu – con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Ba là, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có bản chất và
mục đích thực sự một nền kinh tế trong đó chủ thể phải là đại đa số nhân dân lao động, của nhiều thành phần kinh tế, nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, đã là những người làm chủ, tự chủ, bình đẳng với nhau trước pháp luật Nhà nước
xã hội chủ nghĩa, cùng hợp tác, cạnh tranh đúng pháp luật để phát triển sản xuất, kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của mọi người, góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Trang 2923
Định hướng xã hội chủ nghĩa nhấn mạnh mặt tích cực, chủ động của nhân tố chủ quan tác động đến xu hướng có tính khách quan của quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội Sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi ngay từ đầu và trong suốt các chặng đường phát triển lâu dài lên chủ nghĩa xã hội sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội Sự kết hợp này vì thế là một điều kiện cơ bản giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
Định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta hiện nay chính là quá trình nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trên
cơ sở nhận thức những quy luật khách quan để kiểm soát, điều khiển quá trình vận động và phát triển của các yếu tố cấu thành, cũng như toàn bộ nền kinh tế nhằm đạt tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chống lại nguy cơ chệch hướng sang con đường khác Định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước
ta bao gồm cả việc định hướng phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, có một số sự khác biệt:
- Về mục đích: kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa phục vụ lợi ích của các nhà tư bản, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa tư bản, bảo
vệ sự tồn tại và phát triển của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động
- Về chế độ sở hữu: nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dựa trên chế
độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là chủ yếu Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện đa dạng hóa các hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân và nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp,
Trang 30tế, các lĩnh vực dịch vụ xã hội cần thiết cũng như an ninh quốc phòng mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư vì không có lãi hoặc ít lãi
- Về chế độ quản lý: bất kỳ một hình thức kinh tế thị trường nào cũng đều cần có sự quản lý của nhà nước Tuy nhiên, bản chất của mỗi nhà nước là không giống nhau Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa được quản lý bằng nhà nước tư sản nhằm bảo vệ quyền lợi, địa vị của giai cấp tư sản là chủ yếu Còn ở nước ta, Nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường
Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường theo nguyên tắc kết hợp tính định hướng, cân đối với kế hoạch, với tính năng động và nhạy cảm của thị trường và cơ chế thị trường Kế hoạch và thị trường đều là công cụ, phương tiện để phát triển kinh tế Sự quản lý của Nhà nước là để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường
Thực tế ngày càng chứng tỏ rằng, sẽ hợp lý và hiệu quả hơn, nếu thông qua công cụ kế hoạch hóa, Nhà nước điều tiết thị trường, thị trường điều tiết sản xuất và điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý kinh tế theo nguyên tắc kết hợp kế
Trang 31chủ nghĩa thực hiện hài hòa ba vấn đề sau đây:
Thứ nhất, kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội Mục đích của sự
kết hợp này là vừa đảm bảo cho các chủ thể tham gia kinh tế thị trường có được lợi nhuận cao, vừa tạo điều kiện chính trị - xã hội bình thường cho sự phát triển kinh tế
Thứ hai, kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của chủ nghĩa xã
hội và nguyên tắc kinh tế của thị trường như phân phối theo lao động, theo vốn, theo tài năng; phân phối qua quỹ phúc lợi xã hội, … Trong đó, phân phối theo lao động là chính
Thứ ba, điều tiết thu nhập Một mặt Nhà nước có chính sách nhằm
giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa lớp người giàu và lớp người nghèo; mặt khác, có chính sách, biện pháp, nâng cao thu nhập chính đáng của người giàu, người nghèo và của toàn xã hội
Điều tiết thu nhập được thực hiện bằng Nhà nước xã hội chủ nghĩa và theo những nguyên tắc của thị trường, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm đạt tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 32Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử - thời đại quá độ từ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới; đưa chủ nghĩa xã hội từ lý thuyết trở thành hiện thực Những thành công về kinh tế, khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô, làm nức lòng nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, đồng thời trở thành một đối thủ đáng gờm của chủ nghĩa đế quốc
Nhưng chính những thành tựu to lớn đạt được trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho các nhà lãnh đạo Liên Xô lúc bấy giờ có những suy nghĩ và hành động đơn giản và dễ mắc sai lầm Ở Liên Xô xuất hiện khuynh hướng tuyệt đối hóa những thành quả đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Nguy hiểm hơn, hình thành trong xã hội Liên Xô quan niệm về thời đại, dựa trên những ảo tưởng có thể nhanh chóng thủ tiêu chủ nghĩa tư bản và thúc đẩy một cách chủ quan quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như xây dựng chủ nghĩa xã hội Họ đã vi phạm quy luật khách quan của
sự phát triển xã hội và dẫn đến tình trạng khủng hoảng toàn diện đời sống kinh tế xã hội
Nhìn thấy những sai lầm, Liên Xô tiến hành cải tổ Nhưng do không có đường lối đúng đắn, công cuộc cải tổ chẳng những không đem lại kết quả, mà còn làm sụp đổ một mô hình của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô Mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan rã của các nước Đông Âu, khiến phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa tạm thời lâm vào thoái trào Đã
có không ít người vốn nuôi hy vọng đi tới chủ nghĩa xã hội một cách êm ả,
Trang 3327
phẳng lặng, cuối cùng lại nhanh chóng rơi vào tâm trạng bi quan, thất bại nên vội vàng phủ nhận nội dung và tính chất quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở thời đại ngày nay
Liên Xô tan rã, các nước đều tìm hướng đi riêng cho dân tộc mình nhưng hầu hết không ai trong số họ lựa chọn định hướng xã hội chủ nghĩa nữa
mà họ lựa chọn phát triển tư bản chủ nghĩa với sự giúp đỡ của các nước phương Tây Tuy nhiên, sự phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa ngày càng gặp không ít khó khăn bởi việc can thiệp sâu rộng vào nội bộ của chủ nghĩa tư bản Tây Âu hoặc Mỹ Tình trạng đa nguyên, đa đảng làm cho tình hình chính trị rối ren, không ổn định Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (SNG) là các quốc gia thành viên cũ của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, có một số nước chịu sự bảo trợ của phương Tây, một số chịu sự bảo trợ của Nga, nhưng nội chiến cũng diễn ra liên miên, đời sống kinh tế - chính trị - xã hội không được cải thiện đáng kể và người chịu khổ cuối cùng vẫn là nhân dân Với nước Nga, dường như họ đã tìm được hướng đi cho mình tuy nhiên cũng đang phải đối đầu với những khó khăn hiện tại
Cũng như Liên Xô, ở Trung Quốc việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa gặp không ít khó khăn Trong một thời gian dài vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng
Ở Trung Quốc, khi Đặng Tiểu Bình được đưa lên và nắm giữ trọng trách cao nhất đất nước, có câu nói nổi tiếng: “Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng, miễn là bắt được chuột” Quan điểm này mang đến cho Trung Quốc một sự khởi sắc mới Đó cũng là lúc “Người khổng lồ vươn mình thức giấc sau giấc ngủ mấy ngàn năm” Trung Quốc dần dần đã tìm được hướng đi riêng cho mình thông qua công cuộc đổi mới Khẩu hiệu họ đưa ra vẫn kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội, nhưng xây dựng chủ nghĩa
xã hội mang màu sắc Trung Quốc Sang thế kỷ XXI, Trung Quốc chủ trương
Trang 3428
xây dựng một “xã hội hài hòa” Những thành tựu của Trung Quốc trên các lĩnh vực kinh tế - khoa học – kỹ thuật – công nghệ, làm cho các nước tư bản chủ nghĩa phải kính nể
Sau khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, thế giới bước vào một giai đoạn phát triển mới Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên kết mới Vị thế của châu Á trong nền kinh tế thế giới đang tăng lên; sự phát triển mạnh mẽ của một số nước khu vực trong điều kiện hội nhập Đông Á và việc thực hiện các hiệp định mậu dịch tự do ngày càng sâu rộng, mở ra thị trường rộng lớn nhưng cũng tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt Quá trình tái cấu trúc các nền kinh
tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên
Toàn cầu hóa kinh tế được thúc đẩy bởi sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, hình thành nhanh chóng thị trường thế giới Sự tiến bộ của các phương tiện giao thông và kỹ thuật thông tin làm cho thế giới dường như
bị thu hẹp lại về không gian và thời gian, khoảng cách giữa các quốc gia được rút ngắn Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (đặc biệt là công nghệ thông tin) dẫn đến một nền kinh tế mới ra đời – nền kinh
tế tri thức – nền kinh tế này đang là lực lượng sản xuất quan trọng đối với các quốc gia phát triển Những thành tựu này đã tác động làm thay đổi cơ cấu kinh tế thế giới, nó không những tạo ra bước phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất
mà còn tác động đến quan hệ sản xuất, đến tư duy (tư duy kinh tế, tư duy chính trị, tư duy triết học)
Đối với các nước phát triển, toàn cầu hóa kinh tế tạo ra những điều kiện
để các nước tận dụng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của nhân dân
Trang 3529
Đối với các nước đang phát triển, toàn cầu hóa giúp rút ngắn thời gian phát triển nhờ áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiên tiến, thông qua chuyển giao công nghệ và hợp tác Với sự bùng nổ của nền kinh tế tri thức, các nước đang phát triển cũng sở hữu một nguồn nhân lực to lớn, đây sẽ là thế mạnh cho sự phát triển kinh tế Song toàn cầu hóa cũng đẩy các nước đang phát triển phải chấp nhận một sự cạnh tranh quốc tế gay gắt và khốc liệt Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, theo luật chơi mới do các nước tư bản phát triển sắp đặt, các nước đang phát triển và chậm phát triển thường ở vào thế bất lợi
Xu thế toàn cầu hóa đang đặt các nước phát triển và chậm phát triển trước những vấn đề lớn như bùng nổ dân số, cạn kiệt tài nguyên môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chiến tranh, xung đột sắc tộc – tôn giáo, …
và tình trạng phát triển kinh tế “quá nóng” dễ rơi vào khủng hoảng Điều đó buộc các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, phải lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn, bắt kịp, đón đầu được bước tiến của thời đại Thách thức cũng là cơ hội để cho các nước đang phát triển thể hiện mình và khai thác được tiềm năng của chính mình vì mục tiêu phát triển của đất nước, vấn
đề là ở chỗ phải nắm bắt được thời cơ và chọn thời cơ
1.2.2 Bối cảnh trong nước thời kỳ 1975 – 1985
Sau đại thắng Mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Nhưng hậu quả nặng nề của hơn hai mươi năm chiến tranh, cùng với việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa thời chiến quá lâu ở Việt Nam, đã bộc lộ những hạn chế và nó trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của đất nước Nền kinh tế Việt Nam trong trạng thái trì trệ, sản xuất nông nghiệp thấp kém không đáp ứng được nhu cầu trong nước; công nghiệp nặng được đầu tư lớn, nhưng hiệu quả thấp; nhiều mặt hàng tiêu dùng thiếu trầm trọng Dấu hiệu của suy thoái và khủng hoảng kinh tế - xã hội dần dần xuất hiện và bộc
lộ rõ nét vào cuối những năm 1970 và suốt những năm tiếp theo Trong một thời gian dài, nền kinh tế mất cân đối làm cho sản xuất trì trệ, lạm phát tăng
Trang 3630
nhanh, công ăn việc làm thiếu thốn, đời sống cán bộ dựa vào đồng lương lại càng khó khăn, chế độ tem phiếu kéo dài khiến cho hàng hóa sinh hoạt trong gia đình khan hiếm, khó khăn chồng chất những khó khăn
Sở dĩ có tình trạng đó, ngoài hậu quả chiến tranh, điểm xuất phát nền kinh tế thấp, … còn có những hạn chế của cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp Đó là:
+ Nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm
sự phát triển của các đơn vị sản xuất kinh doanh, kìm hãm sự tiến bộ khoa học – kỹ thuật Mô hình kinh tế này không phản ánh đúng yêu cầu khách quan của các quy luật của kinh tế thị trường, giá cả gần như không có quan hệ gì với giá trị hàng hóa cũng như tương quan cung cầu, nên mọi sự tính toán đều mang tính chủ quan, duy ý chí làm mất đi động lực của sự phát triển kinh tế, làm mất đi tính năng động sáng tạo của các đơn vị kinh tế, tạo nên một cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội
+ Chế độ công hữu được thiết lập một cách nóng vội chung chung, không rõ chủ sở hữu cụ thể của các tư liệu sản xuất, vai trò các tổ chức sản xuất và người lao động, … không những không tạo được động lực mà còn kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Sở hữu tư nhân không được thừa nhận
đã làm cho mặt tích cực của các thành phần kinh tế gắn với sở hữu tư nhân không được phát huy trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Điều này đồng nghĩa với việc lãng phí nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội
+ Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp duy trì quá lâu đã tạo ra nhiều lực cản đối với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Các
cơ quan quản lý hành chính nhà nước can thiệp sâu vào phạm vi vi mô đã đẩy các đơn vị kinh tế vào tình trạng thụ động, mất quyền tự chủ Cơ chế đó không ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hiệu quả sử dụng vốn, tài sản, vật tư, lao động Điều đó gây nên tình trạng lãng phí, thất thoát tài sản
Trang 37phân phối, còn người được phân phối lại chưa hẳn có nhu cầu
+ Không coi trọng quan hệ hàng hóa – tiền tệ đã đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng hiện vật hóa, không khai thác được vai trò, sức mạnh của quan hệ hàng hóa – tiền tệ để phát triển đất nước Những chức năng của tiền tệ (thước
đo giá trị, phương tiện thanh toán, phương tiện lưu thông, phương tiện tích trữ, tiền tệ thế giới) vốn được khai thác để phát triển kinh tế toàn cầu hiện nay thì khi đó nó gần như không được thể hiện trong cả điều hành vĩ mô và thực tiễn cuộc sống
Để tồn tại và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thấy phải có sự đổi mới, trước hết là đổi mới trong tư duy, nhận thức về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế
1.2.3 Nhu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Dưới chủ nghĩa xã hội, do yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản, trình độ chuyên môn hóa lao động ngày càng cao, có nhiều ngành nghề mới ra đời, sự phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, đa dạng và phức tạp hơn Mặt khác, dưới chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau
về tư liệu sản xuất và sản phẩm, như sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu
Trang 38Nước ta đang trong những chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ này ở nước ta là: Từ một xã hội
mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Vì thế, chúng ta đang nỗ lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhanh chóng hình thành một nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa với công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa, khoa học kỹ thuật tiên tiến Quá trình đó tất yếu phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, phân công lại lao động giữa các ngành nghề, các vùng, miền và sự chuyên môn hóa lao động ngày càng cao
Mặt khác, từ một nền sản xuất hàng hóa nhỏ đi lên, lẽ dĩ nhiên nền kinh
tế nước ta còn tồn tại nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu khác nhau Hơn nữa, trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, để đáp ứng yêu cầu đặt ra và chủ động hội nhập và cạnh tranh được trên trường quốc
tế, chúng ta cần và phải xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển ở trình độ cao, vận hành theo cơ chế thị trường Đó chính là nền kinh tế thị trường
Như trên đã đề cập, nền kinh tế thị trường tự do, bên cạnh những ưu điểm, còn có nhiều nhược điểm, mặt trái không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng
Trang 39Những gì là phù hợp với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, là mặt tốt của kinh
tế thị trường, thì Nhà nước cần khai thác, phát huy, tạo điều kiện để phát triển Ngược lại, những gì là mặt trái của nó không phù hợp với mục tiêu xã hội chủ nghĩa cần được hạn chế, loại bỏ
Việc quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đảm bảo cho kinh tế thị trường phát triển phù hợp với mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng, toàn dân ta đã lựa chọn
Như vậy, từ một nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường một cách tự do hay nền kinh tế thị trường tự do đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa tất yếu phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
1.3 Bước đầu hình thành quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12 – 1986) chính thức
khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó đổi mới kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm Đại hội xác định tư tưởng chỉ đạo cho quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước, sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế
để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất …
Trang 4034
Để tạo tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển, giải pháp mang tính chất chiến lược là xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và xóa bỏ triệt để cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp Đại hội VI xác định cơ chế quản lý nền kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới là: “Cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ” [26, tr 65] Trong đó, kế hoạch hóa là đặc trưng số một và sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa – tiền tệ là đặc trưng số hai của cơ chế quản
lý kinh tế mới
Kế hoạch hóa không thể là sự áp đặt chủ quan ý chí của nhà nước, mà
là sự vận dụng tổng hợp các quy luật kinh tế cơ bản, gắn liền với sử dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế Quản lý kinh tế bằng biện pháp hành chính mệnh lệnh, phải dần được thay thế bằng các phương pháp kinh tế là chủ yếu, với động lực thúc đẩy là sự kết hợp hài hòa lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân người lao động Các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, tự chủ về tài chính Hợp đồng kinh tế giữa các đơn
vị sản xuất kinh doanh vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch, vừa là công cụ pháp lý đảm bảo thực hiện kế hoạch
Trước đổi mới, Nhà nước trực tiếp giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các doanh nghiệp, trở thành nội dung tuyệt đối của kế hoạch hóa Tại Đại hội VI,
kế hoạch pháp lệnh chỉ được giới hạn sử dụng trong những trường hợp cá biệt, “việc giao kế hoạch pháp lệnh chỉ hạn chế trong một số chỉ tiêu thật cần thiết nhằm đảm bảo những cân đối cơ bản và những nghĩa vụ cam kết với nước ngoài” [26, tr 68]
Công tác kế hoạch hóa được phân công, phân cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính – kinh tế của các cơ quan Nhà nước Trung ương và địa phương với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở