Để thực hiện được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây: - Phân tích bối cảnh và những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NHƢ HUẾ
QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC HỌC TRONG
CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA NÓ
ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NHƢ HUẾ
QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC HỌC TRONG
CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA NÓ
ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã ngành: 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Vũ Hảo
Hà Nội, 2013
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Triết học hiện sinh là một trào lưu triết học lớn của triết học phương Tây hiện đại, phát triển và phổ biến rộng rãi đặc biệt vào những năm 50 - 60 của thế kỷ XX, có ảnh hưởng và để lại dấu ấn đậm nét ở văn hóa phương Tây Khi thể hiện các tư tưởng triết học của mình, chủ nghĩa hiện sinh đã không sử dụng ngôn ngữ triết học trừu tượng, mà thường khai thác các hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ văn học qua các tiểu thuyết, các truyện ngắn, các vở kịch, các bài thơ với văn phong giản dị và khúc chiết để bước vào và chinh phục trái tim các độc giả Các nhà hiện sinh trình bày những quan điểm của mình với diện mạo độc đáo Họ cũng bàn đến vấn đề con người như bao triết học khác, nhưng con người trong triết học hiện sinh được khai thác ở khía cạnh nội tâm, tinh thần nằm trong miền sâu thẳm của mỗi con người Triết học hiện sinh đặc biệt nhấn mạnh những nỗ lực thường xuyên và tự giác của mỗi cá nhân trong việc duy trì và bảo vệ những giá trị nhân bản đặc trưng cho con người, phân biệt với các sinh vật khác trên trái đất, như tự do cá nhân,
lẽ sống, công bằng, lương tâm, trách nhiệm, v.v Bởi thế, triết học hiện sinh đã
có sức hấp dẫn và trở thành nền tảng tinh thần cho một bộ phận xã hội ở một loạt nước phương Tây, như Đức, Pháp, Mỹ, Italia, v.v.; qua đó đã có ảnh hưởng đến nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam
Nền văn minh phương Tây mang trong mình nhiều giá trị chung nhân loại; do vậy, chúng ta cần có thái độ sẵn sàng tiếp nhận những giá trị
đó và tất nhiên, phải tiếp nhận chúng trên cơ sở các giá trị văn hóa truyền thống của người Việt Điều này có nghĩa là những giá trị đó cần được
“Việt hóa”, cần được thích ứng với nền văn hóa Việt Nam với bản sắc độc đáo và diện mạo riêng của nó, chứ không phải dẫn tới thủ tiêu nền văn hóa
đó Chúng ta cũng phải tránh một thái cực khác là tâm thế sùng bái quá
Trang 4mức văn hóa phương Tây, tuyệt đối hóa những giá trị của nó, mà không biết rằng thực tế bản thân văn hóa phương Tây cũng có những nan đề của
nó Do vậy, việc chủ động nghiên cứu, đánh giá đúng những giá trị cũng như mặt hạn chế của đạo đức học phương Tây nói chung và đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh nói riêng để có định hướng đúng đắn cho việc tiếp thu văn hóa phương Tây là hết sức quan trọng và cần thiết trong bối cảnh thế giới đương đại
Với việc luận giải những khái niệm nền tảng của đạo đức học, như thiện,
ác, lương tâm, trung thực, tội lỗi, hèn nhát, trách nhiệm, tự do, v.v , đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh cũng góp tiếng nói trong việc phê phán những tư tưởng của thuyết định mệnh, những truyền thống lỗi thời, những tập quán xã hội lạc hậu vốn trói chặt, kìm hãm tính năng động, tính sáng tạo của con người Đạo đức học hiện sinh có những đóng góp quan trọng trong việc tôn vinh các giá trị nhân bản đích thực và lợi ích chính đáng của con người cá nhân trong mối quan hệ với tha nhân, với cộng đồng Nó thể hiện được tính độc đáo, khả năng sáng tạo, đề cao lương tâm, trách nhiệm cao cả của mỗi con người trước sự lựa chọn của mình, trước số phận của mình, trước tha nhân, trước cộng đồng và xã hội Vì lẽ đó, việc tiếp cận nghiên cứu đạo đức học phương Tây nói chung, đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh nói riêng
là việc làm cần thiết nhằm tiếp tục phát triển triết học và đạo đức học Mác - Lênin trong điều kiện mới
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, ở Việt Nam đã hình thành và phát triển nhiều giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Những giá trị này đã làm nên cốt cách, tinh thần, sức mạnh và bản sắc của dân tộc và đã được thế giới trân trọng, khâm phục Trong điều kiện hiện nay, khi đất nước đang đẩy nhanh tốc độ xây dựng kinh tế thị trường, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mọi lĩnh vực đời sống xã hội, hội nhập sâu và tăng cường
Trang 5các hoạt động mang tính toàn cầu hoá, thì có thể nhận thấy sự biến đổi của các thang bậc giá trị và sự gia tăng của hiện tượng suy thoái đạo đức Không
ít thanh niên sống thiếu tính tự lập, sáng tạo và nghị lực cá nhân Một bộ phận thanh niên quá đề cao vai trò của sự phát triển khoa học - công nghệ mà không thấy tầm quan trọng của đời sống tinh thần; thậm chí vì lợi ích vật chất trước mắt, vì quá đề cao lợi ích cá nhân mình mà có thể chà đạp lên những
giá trị đạo đức xã hội của dân tộc Một bộ phận không nhỏ cán bộ làm việc
thiếu trách nhiệm cá nhân gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển của xã hội Một số người đã đánh mất mình, đánh mất ý nghĩa cuộc sống của chính cuộc đời mình, họ sống giả dối, không trung thực với chính mình Bởi
thế, việc tiếp cận nghiên cứu đạo đức học phương Tây nói chung, đạo đức
học trong chủ nghĩa hiện sinh nói riêng, trên lập trường triết học Mác – Lênin
là việc làm cần thiết để tiếp thu, rút kinh nghiệm và vận dụng những giá trị, hạt nhân hợp lý của đạo đức học hiện sinh vào việc giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay
Có thể nói, việc tìm hiểu quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh
là việc làm có ý nghĩa để hiểu đúng về triết học hiện sinh, tránh cái nhìn hời hợt, phiến diện, sai lệch về trào lưu tư tưởng này cũng như sự đồng nhất một cách sai lầm chủ nghĩa hiện sinh với một lối sống buông thả, bệnh hoạn, trái với đạo đức truyền thống
Với những lý do cơ bản trên, nghiên cứu sinh chọn Quan niệm đạo đức
học trong chủ nghĩa hiện sinh và một số bài học của nó đối với việc giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là hệ thống hóa và làm rõ những nội dung đạo đức học cơ bản trong chủ nghĩa hiện sinh, từ đó phân tích một số bài học của
nó đối với giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay
Trang 6Để thực hiện được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích bối cảnh và những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh
- Hệ thống hóa và làm rõ những nội dung cơ bản của quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh
- Phân tích một số bài học từ giá trị và từ hạn chế của đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh đối với việc giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài nghiên cứu rất rộng Tuy nhiên, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ ở những vấn đề đạo đức học cơ bản qua một số nhà triết học hiện sinh tiêu biểu, như K Jaspers, M Heidegger, J.P Sartre, A Camus, Simone de Beauvoir
Đặc biệt, luận án giới hạn việc phân tích một số bài học của đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh đối với việc giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu ở việc đưa ra những đánh giá về ưu điểm và hạn chế của đạo đức học hiện sinh, từ đó, rút ra những khả năng vận dụng có ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay
Nói cách khác, những bài học rút ra từ đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh được hiểu chủ yếu với tư cách là những gợi mở có ý nghĩa đối với việc giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay nhằm bổ sung, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của nó
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu của những người đi trước
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án là những phương pháp mácxít nghiên cứu lịch sử triết học, phương pháp thống nhất lịch sử và lôgíc, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh
Trang 75 Đóng góp mới của luận án
Luận án đã hệ thống hóa, phân tích làm nổi bật những nội dung cơ bản của quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh
Luận án rút ra một số bài học từ giá trị cũng như bài học từ hạn chế của đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh đối với giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ hơn quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh và một số bài học của nó đối với giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay
Về mặt thực tiễn, luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, phục vụ bước đầu cho việc nghiên cứu và giảng dạy về một trào lưu triết học phương Tây hiện đại
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục những công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, nội dung luận án gồm 4 chương 11 tiết
Trang 8Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI: QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC HỌC TRONG CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Loại công trình và tư liệu liên quan đến bối cảnh và những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh và nội dung của triết học hiện sinh
Cuốn Hiện tượng luận về hiện sinh, [88] của tác giả Lê Thành Trị
(1974), đã dành phần lớn dung lượng cho việc phân tích ý nghĩa tổng quát của triết lý hiện sinh gồm năm điểm cơ bản: 1) phê phán gay gắt chủ nghĩa duy lý dưới nhiều hình thức; 2) phê phán các quan điểm nhìn con người như một đồ vật và ứng xử với con người như một công cụ; 3) đề cao chân lý chủ thể; 4) nhìn nhận và khai thác khía cạnh nội tại của con người, tự do chọn lựa, sự đối lập giữa thiện và ác, giữa cố gắng và buông trôi…; 5) nhấn mạnh khả năng của con người sẵn sàng đương đầu với thử thách của cuộc sống Từ năm điểm này, tác giả đi đến kết luận: Triết học hiện sinh chính là hiện tượng luận áp dụng cho việc tìm hiểu con người Sau đó, tác giả phân tích những luận đề triết học của từng triết gia hiện sinh như Kierkegaard, Nietzsche, Jaspers, Heidegger, Sartre
Chủ nghĩa hiện sinh còn được giới thiệu trong cuốn Một số học thuyết
triết học phương Tây hiện đại, [30] của Nguyễn Hào Hải (2001) Trong cuốn
sách này, tác giả giới thiệu nguồn gốc và cơ sở về phương diện bản thể luận
và nhận thức luận trong hiện tượng luận Husserl như là một trong những tiền
đề cho sự ra đời của triết học hiện sinh, kết hợp với sự phân tích khá chi tiết hoàn cảnh ra đời chủ nghĩa hiện sinh, cuốn sách đã dựng lại bức tranh khá sinh động về sự kết hợp lý luận giữa hai trào lưu triết học phương Tây có tầm
Trang 9ảnh hưởng rất to lớn giữa hiện tượng luận và chủ nghĩa hiện sinh trong nhiều thập kỷ của thế kỷ XX ở phương Tây Tác giả khẳng định “hai cuộc đại chiến khốc liệt là hoàn cảnh quyết định để hình thành và phát triển mạnh mẽ chủ nghĩa hiện sinh, nhưng không thể nói đơn giản rằng: chính hai cuộc đại chiến này đã sinh ra triết học hiện sinh” [30, tr.118, 121] Ông cũng chỉ ra nguyên nhân khác bao quát hơn là: những sự bất công giữa những con người sống trong những xã hội dựa trên bóc lột, và biểu hiện rõ nhất trong xã hội tư bản” [30, tr.119] Tác giả đã dành một dung lượng đáng kể phân tích vấn đề con người trong triết học hiện sinh, trong đó nổi bật là luận đề tồn tại có trước bản chất và thân phận con người theo quan điểm của Jaspers, Heidegger, Camus và Sartre Cuối cùng, tác giả đưa ra kết luận rằng, luận đề tồn tại có trước bản chất có ý nghĩa đối với sự phê phán các thuyết “hữu thần luận”,
“nhân tính luận” Tuy nhiên, hạn chế của chủ nghĩa hiện sinh theo tác giả là
“nhấn mạnh, khuyếch trương phóng đại tính co dãn, tính năng động về bản chất của con người, làm cho nó thoát ly hẳn cơ sở vật chất, hoàn cảnh khách quan, tính tất nhiên khách quan” [30, tr.147]
Tác giả Lưu Căn Báo (2003) đã viết về quãng đời của Nietzsche khi ông còn là một cậu học trò bé bỏng, cô đơn và đau buồn nhưng có tài năng
xuất chúng trong cuốn sách Ph Nietzsche [4] Ở đây, tác giả cũng đã kể về
cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Nietzsche và Schopenhauer: “Lúc ấy tôi đang lẻ loi chịu đựng một số thể nghiệm đau khổ, rất thất vọng, không có nguyên tắc, không có hi vọng Từ sáng đến tối, tôi u uất âm thầm suy nghĩ Chính trong tâm trạng ấy, tôi phát hiện ra Schopenhauer, tri âm của tâm hồn tôi” [4, tr.30 – 31] Sau đó tác giả đề cập đến nội dung cơ bản của một số tác phẩm
của Nietzsche như: Phía bên kia của cái thiện và cái ác, Zarathoustra đã nói
như thế
Trang 10Khi giới thiệu về các trào lưu tư tưởng của triết học phương Tây hiện
đại, cuốn Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI - Triết học phương Tây hiện đại
[24] của tác giả Lưu Phóng Đồng (2004) đã khái quát về chủ nghĩa hiện sinh như một trường phái triết học xuất phát từ việc biểu thị ý nghĩa tồn tại thật sự của con người tiến tới vạch ra mối quan hệ giữa cá nhân, tha nhân và thế giới Tác giả đề cập tới sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh gắn với các mâu thuẫn xã hội
và cuộc khủng hoảng của chế độ tư bản chủ nghĩa và hiện tượng tha hóa trong xã hội; đồng thời chỉ ra thực chất của chủ nghĩa hiện sinh Ông viết:
“Miêu tả vạch ra sự đánh mất cá tính con người, sự tước đoạt tự do của con người, sự chi phối của các lực lượng phi nhân trong xã hội hiện đại đầy rẫy mâu thuẫn và khủng hoảng; luận chứng làm thế nào để con người được tự do thực sự, thoát khỏi tình trạng tha hóa, khôi phục cá tính và sự tôn nghiêm của con người, lực lượng được các triết gia hiện sinh coi là vấn đề trung tâm của triết học” [24, tr 512] Sau đó, tác giả phân tích tư tưởng của các nhà triết học hiện sinh như M Heidegger, K Jaspers, J P Sartre
Cuốn Triết học hiện sinh [22] của Trần Thái Đỉnh (2005) cũng đã giới
thiệu khái quát về những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời và những nội dung
cơ bản của triết học hiện sinh Tác giả cho rằng: “triết học hiện sinh là triết học về ý nghĩa cuộc sống nhân sinh, nói tắt là triết học về con người” [22, tr.22] Tác giả phân tích một số tư tưởng chủ yếu của các nhà triết học hiện sinh, trong đó khẳng định, triết học hiện sinh là triết học dạy ta suy nghĩ về thân phận làm người và đề tài quan trọng nhất của triết học hiện sinh là con người tại thế với những điều kiện sinh hoạt nhất định và “định mệnh” độc đáo của mỗi người Chủ thể tính và nhân vị tự do là hai phương diện chính làm nên con người hiện sinh Khảo sát về lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, tác giả lần lượt chỉ ra khuynh hướng khác nhau của mỗi triết gia đã góp công tạo lập nền tảng và sự đa diện mạo của chủ nghĩa hiện sinh: Kiergaard, ông tổ
Trang 11hiện sinh đích thực; Nietzsche, ông tổ hiện sinh vô thần; Husserl, ông tổ văn chương triết lý hiện tượng học; Jaspers, người khởi xướng hiện sinh hướng
về siêu việt; Marcel, người chủ trương hiện sinh và huyền nhiệm; Heidegger, người đặt nền tảng cho hiện sinh và hiện hữu; Sartre, người đề cao hiện sinh
và hư vô
Trong cuốn Lịch sử triết học Phương Tây hiện đại [17], hai tác giả
Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng (2005) đã khảo sát chủ nghĩa hiện sinh
ở châu Âu và ở Mỹ Các tác giả đề cập đến nhiều chủ đề cùng một số khái niệm đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh, trong đó chủ đề về bản chất con người, về tự do, về cái chết và về sự lo âu… được phân tích khái quát trên những nét chung nhất Các tác giả đã khẳng định rằng, bản thể luận của chủ nghĩa hiện sinh lấy con người làm đối tượng, nhưng không phải con người phổ quát, chung chung, trừu tượng như trong triết học truyền thống, mà là con người cá nhân độc nhất vô nhị lấy hiện sinh, mặt cơ bản của hiện hữu
để làm nhân vị cho mình, rằng “hiện sinh chỉ có ở con người chứ không có
ở bất cứ sự vật nào Con người không có bản tính, không có sứ mạng phải làm vì ai Con người tự sáng tạo bản chất của mình” [17, tr.131]
Trong cuốn Tuyển tập danh tác triết học từ Platon đến Derrida [3], tác
giả Forrest E Baird (2006) đã đề cập đến cội nguồn của triết học hiện sinh với các luận điểm tiêu biểu như quan niệm về chủ thể tính: “tôi không thể thay đổi sự kiện rằng cái cây này đang ở trước mặt tôi hay tôi không thể đi xuyên qua nó Nhưng cả ở đây, tự do của tôi vẫn thắng Tôi tự tạo ra ý nghĩa của cái cây này như một vật để trèo lên hay như một nguồn gỗ hay như một vật phải giữ gìn hay như một mẫu sinh vật” [3, tr 644] Tác giả cũng đưa ra quan niệm về trách nhiệm của chủ nghĩa hiện sinh là con người phải chịu trách nhiệm về chính mình, về mọi người: “ khi chúng ta nói rằng một
Trang 12người chịu trách nhiệm về chính mình, chúng ta không chỉ muốn nói người
ấy chịu trách nhiệm về cá nhân họ, mà về mọi người” [3, tr 652]
Trong cuốn Diện mạo triết học phương Tây hiện đại [46] của tác giả
Đỗ Minh Hợp (2006), phần viết về chủ nghĩa hiện sinh, tác giả đã khẳng định rằng, tuy có nhiều đại biểu không hoàn toàn đồng nhất, nhưng các nhà hiện sinh đều thống nhất ở điểm coi con người là một thực thể đặc biệt hay là một loại đặc biệt của cái hiện tồn là không thể so sánh, là hoàn toàn khác biệt với tất cả các sinh vật và sự vật khác “Lựa chọn là một bộ phận cấu thành quan trọng bậc nhất của tồn tại người, là một trong các phạm trù phản ánh đặc điểm của tồn tại người” [46, tr 237] Tác giả cũng lưu ý: trong hệ thuật ngữ của chủ nghĩa hiện sinh “lo âu, quan tâm hay gánh nặng không phải là các phạm trù xã hội, mà là các phạm trù hiện sinh” [46, tr.242]
Cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX
- nửa đầu thế kỷ XX [47] của các tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn,
Nguyễn Thanh (2008) đã đưa ra cái nhìn tổng quan về các nhà sáng lập ra chủ nghĩa hiện sinh và tư tưởng cơ bản của các triết gia hiện sinh thông qua việc phân tích một số tác phẩm tiêu biểu nhất của các nhà hiện sinh chủ
nghĩa, chẳng hạn, tác phẩm Tồn tại và thời gian của M.Heidegger; các tác phẩm Buồn nôn và Chủ nghĩa hiện sinh – đó là chủ nghĩa nhân đạo của J.P.Sartre và tác phẩm Thần thoại về Sidip hay Kẻ xa lạ của Camus Cuốn
sách này cũng phân biệt các khái niệm “hiện sinh không đích thực” “hiện sinh đích thực” “Chỉ khi tiến gần tới nhận thức về cái chết như sự không có khả năng tồn tại , con người mới tìm thấy tồn tại đích thực cho mình” [47,
tr 152] Tác giả đã khái quát một số luận điểm cơ bản của triết học hiện sinh:
“con người – đó là sự hiện sinh, đó là sự tự do lựa chọn Sự hiện sinh lúc đầu
là hư vô, sự hiện sinh – đó là tự do, đó là hành vi sáng tạo Con người, tức là vượt ra khỏi giới hạn của mình, vượt lên trên tồn tại hiện có của mình, là giá
Trang 13trị tự thân và không thể được thay thế bằng bất kỳ cái gì, kể cả loài” [47, tr 232-233]
Xem xét mốt sống mang danh hiện sinh, Trần Thiện Đạo (2008)
trong cuốn Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc [21] khẳng định
rằng, nó không liên quan đến đặc tính của triết thuyết hiện sinh, mà chỉ là
sự thể hiện của một cái mốt chóng tàn Sau đó, tác giả đề cập đến J.P Sartre với tư cách là một triết gia tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh và tìm hiểu vở kịch “Ruồi” của Sartre Ở đây, tác giả cũng đã chỉ ra một số nét tư tưởng của J.P.Sartre: “hiện sinh có trước bản chất, cuộc đời này tự nó không có ý nghĩa gì hết, nó chỉ đơn thuần mang ý nghĩa mà chính con người gán cho nó Con người tự do là con người hành động một cách đích thực” [21, tr 72 – 73]
Tiếp tục khảo cứu các công trình về những triết thuyết trước chủ nghĩa hiện sinh để hiểu cho đúng những tiền đề lý luận của chủ nghĩa này sẽ
được khảo sát trong luận án, có thể kể đến cuốn Hiện tượng học Husserl
[40] do tác giả Nguyễn Chí Hiếu chủ biên (2008) Cuốn chuyên khảo đề cập đến cuộc đời và sự nghiệp của Husserl với sự ra đời hiện tượng học cũng như một số nội dung cơ bản của hiện tượng học như tính ý hướng, phép quy giản hiện tượng học vốn được các nhà hiện sinh hậu bối lấy làm phương pháp suy tư và khảo cứu về tồn tại và bản chất người Tác giả đưa ra quan niệm của Husserl: “bất kỳ hành vi nào của ý thức cũng định hướng vào một đối tượng nào đó” [40, tr 181] và chỉ ra rằng “hiện tượng học đi liền với những đòi hỏi như: hãy nhân thế giới sống (những cảm nghiệm) của mình lên, hãy phát hiện ra bản chất ở trong chúng, hãy đừng tách bản chất khỏi những cảm nghiệm, hãy hành động phù hợp với kết quả nhận thức hiện tượng học của mình Tất cả những đòi hỏi ấy đều mang đậm sắc thái đạo đức, vì chúng là câu trả lời cho vấn đề cơ bản của đạo đức học: cần sống
Trang 14như thế nào?” [40, tr 253] Như vậy, một phần của hiện tượng học gia nhập, lột xác trong học thuyết đạo đức của chủ nghĩa hiện sinh
Trong cuốn F.Nietzsche triết nhân và thi nhân [28] tác giả Trần Thanh
Hà (2009) đã khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Nietzsche, cuộc đời của ông là một chuỗi dài bi kịch nhưng ở con người ông luôn tồn tại một sức mạnh vươn lên trên mọi khổ đau của cuộc sống Ở đây, tác giả đã chỉ rõ tư tưởng của Nietzsche rằng, tự do thực sự chỉ đến với con người khi họ tự chủ lấy vận mệnh của mình mà không chịu tác động của hoàn cảnh xã hội, “con người là một sinh thể phải được sống đúng với bản ngã của riêng mình, mà không chịu sự áp chế của bất cứ thế lực nào” [28, tr 78]; đồng thời tác giả cũng phân tích những tư tưởng của Nietzsche mà sau này chủ nghĩa hiện sinh
kế thừa như tư tưởng về cô đơn, tự do, dấn thân Dĩ nhiên, những tư tưởng của Nietzsche không phải là không cực đoan khi muốn cho con người thoát khỏi mọi trói buộc của điều kiện, hoàn cảnh sống, nhưng chúng cũng thể hiện khao khát muốn bứt phá, vượt qua số phận của những con người đang chịu sự kìm nén bất công từ xã hội tư sản vị kỷ đầy vụ lợi
Trong cuốn Triết học hiện sinh [51] do tác giả Đỗ Minh Hợp chủ biên
(2010), các vấn đề về triết học hiện sinh đã được đề cập đến như sự khái quát đặc điểm chung của chủ nghĩa hiện sinh, đó là: 1) chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng lại và như là một con đường thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng của triết học duy lý Hegel, chủ nghĩa nhân bản Feuerbach Điều này được thể hiện rõ qua sự khảo sát hệ vấn đề hiện sinh người ở những bậc tiền bối như Dostoievski, Nietzsche và Kapka; 2) Xét về cội nguồn, trào lưu hiện sinh chủ nghĩa thể hiện là sự phục sinh triết học Kierkegaard; 3) Cội nguồn gần gũi hơn về mặt thời gian của chủ nghĩa hiện sinh là hiện tượng học Husserl; 4) Việc phân tích sự hiện sinh được trình bày không những trong các tác phẩm triết học mà cả trong các tác phẩm văn học của Sartre, Camus, Beauvoir, Marcel; 5) Đề tài về tính phi duy lý của tồn tại người thể hiện rất rõ nét
Trang 15trong chủ nghĩa hiện sinh; 6) Chủ nghĩa hiện sinh có ý định xây dựng một triết lý nhân sinh mới, qua đó là một chủ nghĩa nhân đạo mới Sau đó, các tác giả phân tích tư tưởng của các bậc tiền bối cũng như các triết gia tiêu biểu của trường phái này và đưa ra luận điểm cơ bản của triết học hiện
sinh: “Chủ nghĩa hiện sinh - đó là chủ nghĩa nhân văn”, cho rằng: “các nhà
hiện sinh khẳng định chính họ đem lại cho con người mục đích đích thực của tồn tại người Do vậy, họ đã đặt đạo đức học vào vị trí trung tâm của toà nhà triết học” [51, tr 362]
Tác giả Bùi Thị Tỉnh (2010), trong cuốn Phụ nữ và giới [86], đã đề cập
đến sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh như là sự phản kháng lại chủ nghĩa duy
lý Tác giả đã đi tìm cội nguồn của chủ nghĩa hiện sinh từ Socrat đến Kierkegaard, Husserl Sau đó, tác giả đề cập đến quan điểm giải phóng phụ
nữ của nhà triết học nữ quyền Simone de Beauvoir dựa trên luân lý hiện sinh như tự do, bản chất con người, tha nhân, chủ thể tính Bà cũng rất đề cao tự
do, đặc biệt tự do của phụ nữ, quyền bình đẳng giới, phải là mục đích, phải trở thành sự ưu tiên trong xã hội hiện đại: “tự do có nghĩa là con người phải thoát khỏi mọi áp bức để khẳng định sự tồn tại của cá nhân mình cũng như của toàn nhân loại” [86, tr 171]
Tác giả Lộc Phương Thủy (2005) trong bài viết Jean – Paul Sartre
và phê bình hiện sinh, [83] đã nhấn mạnh tính vô thần trong chủ nghĩa
hiện sinh của J.P.Sartre Theo đó, trách nhiệm của con người trong cuộc đời thể hiện ở sự tự lựa chọn của mình trong từng tình huống cụ thể Trong bài viết này, Sartre được bàn đến chủ yếu như một nhà lý luận và phê bình văn học xuất sắc
Tác giả Lê Kim Châu (2007) trong bài viết khái quát về Chủ nghĩa
hiện sinh trong thế kỷ XX [8] thừa nhận bên cạnh những hạn chế ở việc quá
đề cao “cái tôi” cá nhân con người, thì chủ nghĩa hiện sinh có những ưu điểm
Trang 16với các lực lượng làm tha hóa con người Bên cạnh đó, tác giả còn khẳng định: “chủ nghĩa hiện sinh dành ưu tiên cho những suy tư về con người, cho rằng tìm hiểu con người là việc cần thiết hơn so với tìm hiểu giới tự nhiên Nhưng con người mà chủ nghĩa hiện sinh quan tâm không phải là con người nói chung, con người trừu tượng mà là những cá nhân, tức những con người
có những số phận độc đáo riêng tư” (tr 311)
Ngoài ra, cũng có thể kể đến bài viết của tác giả Nguyễn Thị Thường
(2007), với nhan đề Sự hình thành, phát triển và đặc điểm cơ bản của chủ
nghĩa hiện sinh [85] Trong bài viết này, tác giả đề cập đến hai nguyên nhân
cơ bản dẫn tới sự ra đời triết học hiện sinh, một là, do phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa chạy theo lợi nhuận tối đa đã đẩy con người vào tình trạng tha hóa cùng cực, nguyên nhân thứ hai là chủ nghĩa hiện sinh ra đời như là sự phản kháng, đáp trả lại chủ nghĩa duy lý đã thổi phồng, quá đề cao vai trò của khoa học - kỹ thuật, mà quên mất các khía cạnh tình cảm - nhân văn trong bản tính con người Tiếp đó, tác giả bàn đến dòng chảy nối tiếp nhau của chủ nghĩa hiện sinh qua các triết gia tiêu biểu và tác giả kết luận: “Chủ nghĩa hiện sinh lấy con người làm đối tượng nhưng không phải con người phổ quát, cũng không phải cá nhân như trong triết học truyền thống , mà chủ nghĩa hiện sinh tìm tới những đặc thù hiện hữu ở mỗi con người, mỗi cá nhân, cái làm thành nhân vị của mỗi cá nhân Chủ nghĩa hiện sinh đích thực chính là cái nhìn nhân bản về con người Nó kêu gọi con người trở về với những bản chất vốn có của mình” [85, tr 547; 550]
Cũng trong Kỷ yếu này, tác giả Nguyễn Vũ Hảo (2007) đã có bài viết
Tư tưởng triết học của M Heidegger và ảnh hưởng của nó đến các trào lưu triết học phương Tây thế kỷ XX [33] trong đó tác giả đã giúp phân biệt các
khái niệm “cái tồn tại” và “cái hiện hữu”, cấu trúc của tồn tại người, phương thức thực và phương thức không thực của tồn tại người theo quan niệm của Heidegger “Phương thức tồn tại không thực là phương thức tồn tại, trong đó
Trang 17con người hoàn toàn bị nuốt chửng bởi môi trường tự nhiên hoặc xã hội của mình Khi đó con người có xu hướng được xem như một đồ vật; còn phương thức tồn tại thực là phương thức tồn tại, trong đó con người ý thức được tính lịch sử, tính hữu hạn và tự do của mình, sống trung thành với lương tâm của mình, nguyên tắc của mình, cái tôi của mình” [33, tr.356 – 357] Như vậy là việc đề cao “cái tôi” cá nhân dù hiểu cá nhân đó theo những sắc thái nào đi chăng nữa đều luôn là đặc trưng nhất quán, xuyên suốt tư tưởng của các nhà hiện sinh chủ nghĩa ở các thời kỳ khác nhau
Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh Những tài liệu này đã ít nhiều đề cập đến tính chất thảm khốc, phi nhân tính của hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai như là điều kiện cơ bản khiến những người có lương tri phải suy ngẫm lại về thực chất của tồn tại người, ý nghĩa cuộc sống con người Những suy ngẫm mang tính phản tư đó có ý nghĩa cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Nhưng trước khi trở thành một trào lưu triết học có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội thế giới phương Tây từ giữa thế kỷ XX thì trào lưu hiện sinh, như hầu hết các tài liệu chúng tôi khảo cứu, đều thống nhất nhận định, đã tản mát định hình ở một số nhà triết học như là sự phản kháng lại thực trạng xã hội tư bản có áp bức bóc lột làm cho cho con người bị tha hóa, khủng hoảng, bế tắc trong đời sống tinh thần, trong khi chủ nghĩa duy lý tỏ ra thờ ơ, không đáp ứng, giải quyết sự khủng khoảng này nên chủ nghĩa hiện sinh ra đời đã được đón nhận nồng nhiệt Tuy nhiên, các công trình trên thường chỉ đề cập khái quát một vài yếu tố liên quan đến sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh, chưa phân tích một cách có hệ thống để chỉ ra được tiến trình lịch sử và lôgic hình thành chủ nghĩa hiện sinh Và đây có lẽ cũng là một phần nhiệm vụ của luận án này: lấp khoảng trống trong sự trình bày về hoàn cảnh ra đời và các tiền đề lý luận của chủ nghĩa hiện sinh nói chung, quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh nói riêng
Trang 18Về mặt nội dung, các công trình đều thống nhất rằng triết học hiện sinh
là triết học áp dụng cho việc nghiên cứu con người, giúp con người suy tư về thân phận của mình Con người là phạm trù trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh, trong đó tự do và chủ thể tính là 2 đặc tính quan trọng của con người hiện sinh Con người trong triết học hiện sinh là con người tự kiến tạo bản chất của mình và hiện sinh chỉ có ở con người Các tác giả cũng đã nêu ra những phạm trù triết học cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh như tự do, trách nhiệm, cô đơn, cái chết, tồn tại người, phân biệt tồn tại thực với tồn tại không thực Tuy vậy, các công trình này mới đề cập đến những nội dung một cách tương đối cô lập, chưa phân tích một cách có hệ thống, nhất là chưa trình bày
và phân tích các nội dung triết học của chủ nghĩa hiện sinh nhằm mở đường vào những lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu các quan niệm khác của chủ nghĩa hiện sinh như về nghệ thuật, đạo đức, tâm lý, cũng như chưa đánh giá một cách hệ thống và đầy đủ những ưu điểm và hạn chế của các tư tưởng hiện sinh nói chung
1.2 Loại công trình và tư liệu liên quan trực tiếp đến đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh
Vấn đề đạo đức học ở những đại diện chủ nghĩa hiện sinh tiêu biểu
nhất đã được tác giả Đỗ Minh Hợp (2005) phân tích trong loạt bài báo, mà
theo trình tự thời gian đăng tải, có thể kể ra đây, trước hết là bài Tư tưởng
cách lý giải của chủ nghĩa hiện sinh về những phạm trù được coi là nền tảng đối với đạo đức học, như thiện, ác, lương tâm, trung thực, tội lỗi, hèn nhát, bổn phận Theo sự phân tích của tác giả, thì chủ nghĩa hiện sinh coi
tự do luôn gắn với trách nhiệm và xuất phát từ tự do, người ta có thể làm
rõ mọi phạm trù của đạo đức học, bởi vì chúng đều có mối liên hệ tương quan với tự do: “Thiện thể hiện nguyên tắc của tự do và trách nhiệm Ác là sự
Trang 19từ bỏ thiện Không trung thực là thông tin xuyên tạc tình hình thực tế và định hướng chống lại các lý tưởng về tự do Lương tâm là sự tự đánh giá của cá nhân trên phương diện tính cấp bách của nó đối với tự do Tội lỗi là sự từ bỏ trách nhiệm Hèn nhát là sự che dấu tự do nhờ dựa vào hoàn cảnh Bổn phận là việc phục tùng những giá trị mà bản thân mình lựa chọn” [45, tr 52] Phân tích của tác giả về lôgic liên hệ giữa các phạm trù đạo đức học hiện sinh là hữu ích cho việc nghiên cứu của luận án
Trong cuốn Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX [48], tác giả
Đỗ Minh Hợp (2007) cũng có bài viết nhan đề Tư tưởng đạo đức học của
F.Nietzsche Ở đây, tác giả đã đưa ra 7 tư tưởng cơ bản về đạo đức học của
Nietzsche “Thứ nhất, không nên tự ràng buộc mình với cái gọi là đạo đức; Thứ hai, cần phải trở thành người theo chủ nghĩa phi đạo đức để nó cho phép chúng ta né tránh được những sự bịa đặt trống rỗng, làm cho con người trở nên bất lực; Thứ ba, trở thành người theo chủ nghĩa hư vô còn tốt hơn là người theo chủ nghĩa duy luân lý; Thứ tư, cần phải đánh giá lại những giá trị cũ; Thứ năm, cần tạo khoảng không vô hạn cho bản năng tự do, cần trải nghiệm sự bành trướng của nó, vì đó là sự sống có đầy đủ giá trị, hay khát vọng quyền lực ; Thứ sáu, cần phải quay về với bản thân để là chính mình; Thứ bảy, không nên cam chịu sự yếu đuối, sự hèn kém, sự cào bằng, sự nhẫn nhục, sự nô dịch, sự nghèo nàn, sự vâng lời, cảm giác tội lỗi, lý tính khoa học” [48, tr.374 – 375] Những tư tưởng này của Nietzsche đã được các nhà hiện sinh thế kỷ XX tiếp thu phần nào trong học thuyết đạo đức của mình
Nối tiếp mạch suy tư về đạo đức học của chủ nghĩa hiện sinh, tác giả
Đỗ Minh Hợp (2007) đã trình bày thêm 11 “tín điều” đạo đức học hiện sinh
trong bài viết Tư tưởng đạo đức học của Heidegger [49]: Hãy triết lý, nhưng không phải theo cách nào khác mà bằng cách chất vấn tồn tại, chân lý của nó; Hãy hiện sinh, đừng thay thế sự hiện sinh bằng cảm tính và tư duy khái niệm; Hãy
Trang 20tiếp xúc với những sự vật hiện có và đối thoại với những người khác; Hãy nhớ rằng chân lý ra đời trong ngôn ngữ Ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn tại; Hãy thận trọng lựa chọn ngôn từ và làm sáng tỏ ngữ nghĩa của chúng; Hãy cho phép ngôn ngữ biểu thị sự bắt đầu của tồn tại, hãy gán ý nghĩa quyết định cho việc nói ra cái gì và nói ra như thế nào, có cần nói hay không; Hãy nỗ lực để trở thành một bộ phận của chân lý tồn tại, qua đó bạn sẽ hiện thực hoá được sứ mệnh của riêng mình, bản ngã của mình, chứ không phải sứ mệnh của người khác, lương tâm của mình, sự kiên định của mình; Hãy nhớ rằng con người
có năng lực khước từ chân lý của tồn tại, và khi đó nó sẽ rơi vào vòng phong toả của cái không phải của riêng nó; Hãy lý giải những căn cứ, những cội nguồn của tồn tại trong thế giới, hãy đừng vội vã, đừng chửi rủa nền văn minh bị hiểu sai Hãy im lặng bước đi thì sẽ đi xa hơn; Hãy đừng gán ép cho triết học những đòi hỏi vô căn cứ; Hãy có ít những lời nói trống rỗng và những hành vi hấp tấp, hãy quan tâm nhiều hơn đến lời nói, tư duy, đến việc làm Có thể coi những “tín điều” này như những phương châm sống phù hợp với chuẩn mực đạo đức học hiện sinh, trong số chúng không phải không có những điều vượt quá khả năng hạn hẹp của con người yếu đuối,
do vậy là bất khả thi, hoặc là ảo tưởng do những điều kiện thực tế chưa cho phép thực hiện
Khép lại loạt bài về đạo đức học của tác giả Đỗ Minh Hợp (2009)là
bài Tự do và trách nhiệm cá nhân trong Tồn tại và hư vô của J.P Sartre
[50] Tác giả cho rằng, với triết gia hiện sinh, tự do và trách nhiệm luôn là những hiện sinh thể quan trọng nhất Tuy nhiên, cần phải phân biệt rõ trách nhiệm với tư cách một khái niệm triết học với trách nhiệm với tư cách khái niệm luật học: “Trách nhiệm ở đây là trách nhiệm hiện sinh, chứ hoàn toàn không phải là trách nhiệm trước một người nào đó, trước một cái
gì đó” [50, tr 51] Tác giả phân tích quan niệm của Sartre rằng, con người
Trang 21vốn bị buộc phải tự do, coi đó là điều kiện tiên quyết để con người có đạo đức, không có tự do thì cũng không thể nói đến đạo đức ở con người Con người và chỉ có con người mới có quyền tự do quyết định mình sẽ trở thành người nào và như thế nào Con người xuất phát từ lương tâm, từ thế giới nội tâm của mình để tự quyết định việc đó, chứ không phải do người khác, nhân
tố khác quyết định thay cho mình; con người quyết định mà không chịu sự chi phối của những thiên kiến Tác giả cũng nhấn mạnh tự do trong quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh là không thể tách rời trách nhiệm: “Vốn có thiên mệnh phải trở thành tự do, con người mang toàn bộ sức nặng của thế giới trên đôi vai mình Con người chịu trách nhiệm về thế giới và về bản thân mình, và đó là phương thức tồn tại của nó” [50, tr 52]
Trong loại tài liệu này chúng tôi không thể không giới thiệu cuốn sách
của nhà triết học nữ người Nga đương đại E V Zolotukhina-Abolina Đạo
đức học hiện đại: cội nguồn và những vấn đề [92]
Theo tác giả, đạo đức học của J P Sartre phát xuất thẳng từ cách ông hiểu về chuẩn bản thể luận (tồn tại) của con người Đặc thù của con người bắt
rễ từ trong ý thức của họ Ý thức đối với J P Sartre không đơn giản là khách thể trong số các khách thể, nó không bao giờ có thể là đối tượng và
vì thế dường như là “rơi ra” khỏi tồn tại, khỏi thế giới đối tượng, vật nặng Ý thức là hư vô, trống rỗng, lỗ thủng trong tồn tại Nó vừa ở đây, vừa không, vừa có, vừa không có Nhưng đó là trống rỗng sống động được lấp đầy bởi các ý nghĩa Số phận con người, được khoác bởi ý thức, thật độc ác: con người hướng đến việc trở thành “tồn tại chân chính”, trong khi vẫn lưu giữ được ý thức và tự do vốn có ở nó, nhưng không bao giờ có thể làm được điều đó Sự thống nhất của đầy đủ và tồn tại với tự
do và ý thức là ưu tiên của Chúa Con người hướng tới việc “trở thành Chúa”, nhưng con người không phải là Chúa, và vì thế mà toàn bộ đời sống của họ là “sự sôi động vô ích”
Trang 22Tác giả phân tích, trong quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh J P Sartre,
con người không trở thành Chúa, nhưng con người tự do xây dựng bản chất
của mình, bởi lẽ ngay từ đầu đã được cho mình chỉ như là sự tồn tại Con
người không hoàn thiện như là sự vật, và tự làm ra từ mình cái mà con người
là: người trung thực hoặc kẻ giả tạo, kẻ hèn nhát hay người anh hùng Hiện
sinh của con người, nhờ ý thức, là tự do trước mọi quyết định Sartre cho
rằng, trong thế giới nội tâm của mình chúng ta không phụ thuộc vào xã hội
cũng như vào những người khác, cũng không phụ thuộc gì vào những định
chế đạo đức và tôn giáo, thậm chí cũng không phụ thuộc gì vào quá khứ của
mình Sự độc lập đó là kết quả của khả năng của ý thức chối từ tất cả và giải
phóng khỏi mọi ảnh hưởng từ bên ngoài Ý thức phấn chấn cao độ, nó hướng
ra ngoài các giới hạn của mọi trạng thái hiện tồn Mỗi hành vi lựa chọn diễn
ra “trong trống rỗng”, từ không, giống như nếu ta không bị ảnh hưởng giáo dục
đã thụ hưởng, bởi các tâm thế giá trị, bởi các áp lực của hoàn cảnh, bởi nỗi đau,
bởi sự đe doạ “Trong mọi tình huống con người đều có thể nói “không””. Theo
tác giả, những lời này của J P Sartre có tiếng vang đặc biệt ở Pháp những năm
40 của thế kỷ XX, bởi lẽ được viết ra trong thời kỳ chiếm đóng phát xít, mà
J.P.Sartre là một thành viên tích đã cực tham gia vào phong trào Kháng chiến
Tự do lựa chọn là nút điểm của mọi hành động người Theo J.P.Sartre,
con người có năng lực hướng đến tự do Nó nhất định phải lựa chọn ngay cả
khi không muốn lựa chọn Trong sự lựa chọn hành động và đạo đức, theo
J.P.Sartre, không phải ý thức phản tỉnh rõ ràng của con người tham gia lựa
chọn, mà là những mầm mống trước phản tư nào đó trong thế giới nội tâm
của nó Con người lựa chọn không phải bằng trí tuệ, mà bằng chỉnh thể “cái
tôi” của mình, và sự lựa chọn của nó được hiện thực hoá trong hành vi Khi ta
chưa hành động, thì ta vẫn chưa biết, trên thực tế ta là gì Chỉ có hành động
mới nói cho con người về các phẩm chất thật của mình
Trang 23Trong các công trình của mình, J.P Sartre trình bày một quan niệm khá độc đáo về sự giao tiếp con người, trong đó ông dùng các thuật ngữ “tôi”
và “Tha nhân” Những tha nhân là vật cản trở tôi trở thành tồn tại đầy đủ Tha nhân chỉ có khả năng xem tôi không phải như ý thức tự do, mà như một sự vật trong số các sự vật khác Thậm chí trong cái nhìn của Tha nhân, tôi chỉ là một khách thể, tự do của tôi hoàn toàn bị tước đoạt Hơn nữa, Tha nhân còn nắm được bí mật “cái tôi” của tôi theo cách nào đó, bởi lẽ tôi không thể tự thấy mình, bởi lẽ tôi được tạo ra bởi cái nhìn mang tính khách thể của Tha nhân
Phần thứ ba của cuốn sách về “Các phạm trù đạo đức cơ bản” đề cập đến quan niệm của các nhà hiện sinh chủ nghĩa về các hiện tượng như thiện
và ác, nghĩa vụ, lương tâm, hổ thẹn và lỗi lầm, phẩm giá con người, hạnh phúc và lẽ sống, tính trung thực và lẽ công bằng
Trong cuốn Existentialist ethics (Đạo đức học hiện sinh) [101], M
Warnock (1967) đề cập đến một số vấn đề liên quan tới đạo đức học hiện sinh như chủ thể tính và tự do: “Tôi ý thức về thế giới và bản thân tôi – hai điều này hợp với nhau sẽ cấu thành thế giới của tôi; bạn ý thức về thế giới của bạn và bản thân bạn – đó là thế giới của bạn” [101, tr 19] hay tự do: “nếu như chúng ta là tồn tại có ý thức, theo nghĩa của Sartre, thì cũng có nghĩa là chúng ta tự do” [101, tr 29]; Tác giả cũng đưa ra mối quan hệ giữa cá nhân với tha nhân theo quan điểm của Sartre: “Khi tôi cố gắng giải phóng tôi khỏi
sự nắm bắt của tha nhân, tha nhân lại đang cố gắng giải phóng bản thân anh
ta khỏi sự nắm bắt của tôi; khi tôi tìm cách biến tha nhân thành nô lệ cho mình, thì tha nhân lại tìm cách biến tôi thành nô lệ” [101, tr 45] Nữ tác giả
E V Zolotukhina-Abolina cũng đã có những phát hiện tương tự trong cách đặt vấn đề này
Trang 24Bài viết Applied existentialist (Thuyết hiện sinh ứng dụng) [98] của tác
giả Cunthia Gayman (2001) đã đề cập đến một số tư tưởng của S.Beauvoir như tự do Theo Beauvoir, Tha nhân là cần thiết đối với tồn tại người “Tự do đạo đức cần phải được mong muốn một cách tích cực, và tinh thần tự do đạo đức của một người yêu cầu người đó cũng phải có tinh thần tự do đạo đức của người khác Và tự do đạo đức của người khác có thể được khuyến khích bởi “càng nhiều người khác có thể phát triển được tự do của họ, tôi càng có thể phát triển được sự tự do của tôi” [98, tr 1 – 3]
Trong luận án tiến sĩ (bảo vệ tại trường Đại học Temple, Hoa Kỳ) với
tiêu đề Vietnamese existential philosophy: acritical reappraisal (Triết học
hiện sinh Việt Nam: sự đánh giá lại mang tính phê bình) [99], Tác giả Lương Thu Hiền (2009) đã khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và đưa ra đánh giá về lịch
sử du nhập và tồn tại của triết học hiện sinh ở Việt Nam thời kỳ trước năm
1975 Tác giả cũng đã phân tích đưa ra lịch sử của các cuộc tranh luận về chủ nghĩa hiện sinh Hơn nữa, tác giả đã đề cập đến Phật giáo Việt Nam như là một hình thái của triết học hiện sinh theo một nghĩa nào đó Tác giả thể hiện một cái nhìn mới về chủ nghĩa hiện sinh Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 Chủ nghĩa hiện sinh Việt Nam trong giai đoạn này được bắt nguồn từ những đặc thù của nền văn hóa truyền thống Việt, trong các kinh nghiệm sống của người Việt Nam qua lịch sử hàng 1000 năm bị đô hộ Tác giả mạnh dạn khẳng định rằng triết học hiện sinh Việt Nam là một triết học đạo đức sâu sắc và nó cần có
sự bình đẳng về tư tưởng như ở các lĩnh vực chính trị xã hội khác Chịu ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam, các nhà triết học hiện sinh Việt Nam cho rằng
sự áp bức về đời sống thinh thần, nội tâm phải được giải phóng và bạo lực trong xã hội phải được thay đổi So sánh giữa các nhà tư tưởng hiện sinh Việt Nam và hiện sinh phương Tây, tác giả luận án cho rằng triết học hiện sinh Việt Nam cũng có những đóng góp ban đầu về tư tưởng triết học và phải được ghi danh xứng đáng vào bản đồ triết học trên thế giới
Trang 25Như vậy, những tài liệu nghiên cứu chuyên về đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh (cả nguồn tài liệu viết bằng tiếng Việt và viết bằng tiếng Anh) đã khái quát ở mức độ nào đó về thực chất và những nội dung cơ bản của đạo đức học hiện sinh như vấn đề tự do, trách nhiệm Tuy nhiên, do mục đích của mình, những công trình này chưa phân tích có hệ thống và đầy đủ về đạo đức học hiện sinh qua các đại biểu tiêu biểu, đặc biệt chưa đưa ra được các đánh giá về các giá trị và hạn chế của đạo đức học hiện sinh cũng như các bài học có thể được rút ra từ đó cho việc giáo dục đạo đức
1.3 Loại công trình và tư liệu nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đến Việt Nam
Trong cuốn sách Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa [38], Đỗ
Đức Hiểu (1978) đã phê phán triết học hiện sinh là triết học tinh thần hóa con người và tự nhiên, tách con người khỏi thế giới vật chất khách quan Tác giả đã phê phán quan niệm về con người trong chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh chủ nghĩa là không tích cực, thụ động, không có hành vi tác động vào thế giới, chứ chưa nói gì đến việc cải tạo thế giới Tuy nhiên, triết học hiện sinh lại xem con người chỉ là một hữu thể sợ hãi và run rẩy,
cô đơn và bất lực, hữu hạn và phi lý, do vậy cũng rất cần phải đánh giá các tư tưởng hiện sinh chủ nghĩa từ cái nhìn bên trong, của chính họ, nhất
là phải thấy được hoàn cảnh lịch sử xã hội cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Cũng quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể thì rất cần đồng tình với kết luận mà tác giả đưa ra trên mặt trận văn học thời kỳ đó (sau giải phóng Miền Nam, 35 năm trước) là: “một trong những di hại “cần phê phán nghiêm khắc” của văn nghệ thực dân mới ở những vùng bị Mỹ, ngụy tam chiếm đóng trước ngày 30/4/1975, là cái gọi là “văn học hiện sinh chủ nghĩa Sài Gòn”” [38, tr 233]
Trang 26Trong luận án tiến sĩ với đề tài Chủ nghĩa hiện sinh và một vài ảnh
hưởng của nó ở Miền Nam Việt Nam [7], tác giả Lê Kim Châu đã đề cập đến
những chủ đề chính của chủ nghĩa hiện sinh như sự ngẫu nhiên và mong manh của cuộc sống con người; sự bất lực của lý trí; sự tha hóa; cái chết hay tính hữu hạn của con người; tính độc đáo và tự do của con người… Tác giả cũng đã chỉ ra sự thuận lợi của hoàn cảnh kinh tế - xã hội của miền Nam dưới chế độ cũ đã tạo điều kiện cho sự du nhập chủ nghĩa hiện sinh “Sống trong một xã hội đen tối và xáo trộn như vậy con người bị tha hóa toàn diện, người
ta không thể không hoang mang, mất tin tưởng, bi quan và chán nản Trong khi đó, chủ nghĩa hiện sinh lại đề cập đến những vấn đề hợp với tâm trạng của những người đang bị kẹt trong những mâu thuẫn không thể điều hòa được của xã hội Chủ nghĩa hiện sinh đã đến đúng lúc Người ta đón tiếp nó nồng nhiệt như một vị khách mà người ta nóng lòng chờ đợi từ lâu” [7, tr 83] Tác giả cũng đề cập đến năm nguồn du nhập của chủ nghĩa hiện sinh vào Việt Nam: “nguồn thứ nhất là các giáo sư công giáo và những linh mục; nguồn thứ hai là các giáo sư theo đạo Phật và những tu sĩ Phật giáo; nguồn thứ ba là các tạp chí văn nghệ, các văn nghệ sỹ, các tiểu thuyết gia; nguồn thứ
tư là chương trình triết học ở trung học và đại học; nguồn thứ năm là những nguyên bản tiếng ngoại quốc, cùng những biên khảo đủ mọi hình thức, mọi trình độ giới thiệu các triết gia, các tư tưởng hiện sinh” [7, tr 84] Cuối cùng tác giả phân tích một số biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong đời sống tinh thần của xã hội miền Nam dưới chế độ Mỹ - ngụy, trong đó đề cập đến các hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo ở miền Nam, lập trường chính trị của một
số trí thức miền Nam và lĩnh vực đời sống văn học nghệ thuật miền Nam trước đây
Trong quyển Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử, sự hiện diện của nó ở Việt
Nam [15] tác giả Nguyễn Tiến Dũng (2006) đã chỉ ra điều kiện kiện kinh
Trang 27tế - xã hội thuận lợi cho chủ hiện sinh hiện diện ở Việt Nam: “chúng ta đã nâng cao một phần đời sống của con người, mở rộng thị trường, nhưng chưa đủ sức để hiện đại hóa điều kiện lao động của con người, chưa khắc phục có hiệu quả những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo đã đạt được những thành quả nhất định, nhưng tệ quan liêu, nạn tham nhũng đang trở nên một quốc nạn, tình trạng thất nghiệp, nghèo đói và mặt trái của cơ chế thị trường đang đè nặng lên tâm trí của cá nhân Đó là miếng đất thuận lợi cho chủ nghĩa hiện sinh nảy nở” [15, tr 165] Tác giả đã khẳng định vấn đề trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh chính là con người Con người như một nhân vị Hiện sinh chính là một mặt cơ bản của tồn tại người, hiện sinh chỉ có ở con người, không có ở bất cứ vật nào, bởi chỉ có con người mới tự do lựa chọn cách thức, thái độ sống để thành hiện sinh Con người hiện sinh có hai đặc tính: một là chủ thể tính, hai là tự do Tác giả cũng đề cập đến các phạm trù xoay quanh vấn đề con người của chủ nghĩa hiện sinh, như: phạm trù tồn tại, hư vô, lựa chọn tự do, buồn nôn, lo âu, nhập cuộc, tha nhân
Sự hiện diện của trào lưu tư tưởng này ở miền Nam Việt Nam trong những năm 60 – 70 cũng như trong văn học Việt Nam cũng được Nguyễn Tiến Dũng trình bày khái lược Theo tác giả, đó là sự xâm nhập của một ý thức hệ hoàn toàn xa lạ mà trong quá trình thâm nhập nó đã được dần cấu trúc lại bằng những yếu tố bản địa Tác giả cũng chỉ ra sự xuất hiện rộng rãi của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam Ông viết: “có thể nói rằng, chưa một triết học nào ở nước ta trong một thời gian ngắn mà xuất hiện ồ ạt như chủ nghĩa hiện sinh Ngay từ năm 1955, chủ nghĩa hiện sinh đã có mặt trong chương trình của hệ thống giáo dục tiếng Pháp, tiếng Việt ở bộ môn siêu hình học, hoặc đạo đức học ở các trường đại học như Văn khoa Sài Gòn, Văn khoa Huế, Đại học Vạn Hạnh, Đại học Đà Lạt Nhiều tổ chức văn hóa xã hội đã
tổ chức diễn thuyết về chủ nghĩa hiện sinh ” [15, tr.134]
Trang 28Có thể nói, cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam Tuy nhiên, những công trình trên là đóng góp đáng ghi nhận Các tác giả của các công trình trên đã cố gắng làm sáng tỏ một số phạm trù xoay quanh quan niệm về con người trong chủ nghĩa hiện sinh và những ảnh hưởng của nó tới Việt Nam Họ đã chỉ ra sự ảnh hưởng cũng như sức lan tỏa rộng lớn của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam Tuy thế, các công trình này chủ yếu nghiên cứu những ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh tới các lĩnh vực văn học nghệ thuật, tôn giáo, chính trị chứ chưa đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của nó tới lĩnh vực đạo đức Bên cạnh đó, hầu hết các công trình chỉ nghiêng về phê phán chủ nghĩa hiện sinh mà chưa nhìn thấy những ảnh hưởng tích cực của nó
có thể nói vẫn còn ở tình trạng rất khiêm tốn, chỉ có một số công trình nghiên cứu về đạo đức học hiện sinh như đã đề cập ở trên Tóm lại, cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và có tính hệ thống
về đạo đức học hiện sinh cũng như nhận xét đánh giá một cách khách quan cả
về hạn chế và giá trị của nó
Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi càng thấy
rõ, việc trình bày một cách có hệ thống quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh và rút ra một số bài học đối với việc giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay vẫn là vấn đề mới và cần được quan tâm tiếp tục nghiên cứu Đó cũng là vấn
đề và nhiệm vụ cơ bản đặt ra cho luận án này phải giải quyết
Trang 29Chương 2 BỐI CẢNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC HỌC TRONG CHỦ NGHĨA HIỆN SINH
trong chủ nghĩa hiện sinh
Một câu hỏi đã từng được đặt ra là: Có phải cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và thứ hai chính là nguồn gốc hình thành chủ nghĩa hiện sinh nên
nó thấm đượm mầu sắc bi quan, thất vọng ? Hoặc, nếu không có chiến tranh liệu chủ nghĩa hiện sinh có xuất hiện hay không? Thực ra, không thể nói rằng khi sống trong xã hội không còn nguy cơ chiến tranh thì con người sẽ hết bi quan, buồn phiền, lo âu, con người sẽ không phải trăn trở về đời sống, về thân phận của mình nữa
Theo chúng tôi, hai cuộc đại chiến thế giới khốc liệt trong thế kỷ XX chỉ là yếu tố ảnh hưởng lớn đến bối cảnh xã hội với tính cách điều kiện cho
sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và đặc biệt là sự tàn khốc, dã man của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bao phủ khắp châu Âu bởi sự chết chóc và sự bất an Chủ nghĩa hiện sinh phản ánh khá rõ sự khủng hoảng kinh tế - xã hội trong và sau những cuộc chiến, khi mà tâm trạng lo âu, bi quan, thất vọng bao trùm lên xã hội Chủ nghĩa hiện sinh ra đời vào thời điểm mà châu Âu đang đắm chìm trong tâm trạng tuyệt vọng Mặc dù không phải không có hy vọng về việc tái thiết
xã hội, nhưng tình trạng bi quan cũng đủ để chấp nhận quan điểm hiện sinh
về tính vô mục đích của thế giới, sự “buồn nôn”, “vô nghĩa” và “phi lý” của cuộc đời
Ngay sau ngày Đức quốc xã bại trận, cả một thế hệ thanh niên chợt nhận diện được bóng dáng và chân tướng của mình trong các tác phẩm của
Trang 30Sartre Việc chủ nghĩa hiện sinh được hoan nghênh và các tác phẩm của nó trở thành sách gối đầu giường của không ít người trong giới trẻ không phải là một sự ngẫu nhiên, mà chính là do hoàn cảnh lúc bấy giờ đã tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa hiện sinh có thể bắt rễ, ăn sâu vào tâm hồn của một
bộ phận người trong xã hội, nhất là lớp trẻ - những người đang trông ngóng một làn sóng tư tưởng mới Bởi lẽ, với họ, những giá trị cũ, lỗi thời đã bị xói mòn và phá hủy bởi chiến tranh đã khiến cho trong tâm hồn họ chỉ còn lại những khoảng trống và sự thiếu hụt cần được lấp đầy
Sự phát triển như vũ bão của khoa học đã tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự phát triển con người một cách toàn diện Chủ nghĩa tư bản, như C.Mác từng nói, nhờ sự giúp đỡ của máy móc đã làm ra khối lượng sản phẩm bằng tất
cả các xã hội trước cộng lại Những thành tựu vĩ đại do khoa học - kỹ thuật mang lại đã khiến cho không ít người phương Tây cảm nhận rằng khoa học như
là chìa khóa vạn năng, có sức mạnh kỳ diệu vô biên Với sức mạnh của khoa học, biển cả không còn mênh mông vô tận, vũ trụ dường như được thu nhỏ lại Khoa học đã từng được nhìn nhận như một công cụ hữu hiệu, một phương thức
có thể hóa giải mọi vấn đề của đời sống con người
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ngoài mặt tích cực, khoa học - kỹ thuật cũng mang lại những tác động tiêu cực không thể coi thường đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống tinh thần Với việc tuyệt đối hóa vai trò của khoa học và kỹ thuật, con người dường như có nguy cơ đánh mất bản sắc riêng và tính độc đáo của chính mình như một nhân cách có một không hai Khi đó, vai trò của những giá trị tâm linh, tinh thần và đạo đức đã không được chú ý hay đánh giá đúng mức; xuất hiện xu hướng bàng quan trước nỗi đau của nhân loại Trong một xã hội hối hả, sôi động với khoa học
và kỹ thuật phát triển cao, con người cảm thấy mình bơ vơ, cô đơn và lạc lõng, đời sống tinh thần của họ trở nên đơn điệu, trống rỗng Điều này cách
Trang 31đó hơn một trăm năm, C.Mác cũng đã nhận ra theo cách riêng của mình:
“Chúng ta thấy rằng những máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người Những nguồn của cải mới, từ xưa tới nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần” [65, tr.10]
Rõ ràng, tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã đem lại một sức mạnh chưa từng thấy cho con người Tuy nhiên, nó cũng chứa đựng và tiềm ẩn những nguy cơ không nhỏ, đe dọa chính con người và sự sống trên trái đất, như tình trạng ô nhiễm môi trường, nguy cơ mất cân bằng sinh thái, nguy cơ chiến tranh hủy diệt, v.v Như vậy, có thể khẳng định rằng, những hậu quả của cuộc cách mạng kỹ thuật là hết sức đa dạng Sức mạnh kỹ thuật có thể mở ra những khả năng to lớn cho sự phát triển tinh thần theo các phương hướng khác nhau Song, kỹ thuật tự nó không tự động kéo theo sự tiến bộ trong lĩnh vực văn hóa, tinh thần, đạo đức, mà còn trở thành nhân tố làm phức tạp hóa bối cảnh tinh thần đang ngày càng trở nên phức tạp và rối rắm hơn rất nhiều so với trước kia Niềm tin mù quáng vào sức mạnh toàn năng của kỹ thuật có thể khiến cho con người đánh mất những giá trị nhân văn, như năng lực thấu hiểu và đồng cảm với người thân, khả năng phân biệt giữa cái thiện và cái ác Điều này có thể dẫn đến sự phi nhân hóa của các quan hệ
xã hội, đặc biệt là quan hệ giữa các cá nhân với nhau
Như vậy, hiện nay, bên cạnh nhiệm vụ giải phóng con người khỏi sự
áp bức bên ngoài, thực tiễn xã hội hiện đại còn đặt ra một cách gay gắt vấn đề
tự do nội tâm của con người Sự giải phóng con người khỏi áp bức xã hội chưa hẳn đã giải quyết được vấn đề tự do nội tâm của con người Sau khi
Trang 32được giải phóng khỏi xiềng xích của chế độ áp bức, "con người nhỏ bé" lại bộc lộ khát vọng ngày càng lớn là được giải phóng về mặt tinh thần
Nếu nhìn nhận mục đích sống của con người chỉ là khát vọng được giải phóng về phương diện xã hội, thì tư tưởng về các cội nguồn nào đó của lịch
sử sẽ trở nên vô nghĩa Không nên hiểu số phận của con người chỉ là số phận mang bản tính xã hội Không thể hình dung nổi tương lai của nhân loại sẽ ra sao nếu không tính đến số phận của con người với tư cách một thực thể tinh thần, một nhân cách Thực tế cho thấy, đối với những vấn đề liên quan đến đời sống nội tâm, tình cảm nằm trong tầng sâu thẳm tâm hồn của mỗi con người, thì khoa học, công nghệ dù phát triển mạnh mẽ đến đâu cũng khó có thể trở thành phương tiện tiếp cận và lý giải
Ngay từ thế kỷ XVII, khi chủ nghĩa duy lý đã trở thành một khuynh hướng rất mạnh, cũng đã xuất hiện khuynh hướng phản ứng ngược chiều Pascal từng tuyên bố rằng, con tim có những lý lẽ mà lý trí không thể hiểu nổi; Kant cũng đã nhận ra giới hạn của lý trí, lý tính và cho rằng, “lý trí cũng hạn hẹp, biết sao hết mọi nguyên lý của vũ trụ”
Có thể nói, chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng đối với chủ nghĩa duy
lý thống trị trong xã hội phương Tây – một xã hội đầy biến động, trong đó con người bị đè nén bởi lực lượng máy móc đến mức quên lãng tình cảm đồng loại và bị thao túng bởi sức mạnh của đồng tiền Ở một mức độ nhất định, chủ nghĩa hiện sinh còn được coi là sự phản kháng nhằm giành lại nhân
vị độc đáo, tự do cho con người, kêu gọi con người quay trở về đời sống nội tâm cá nhân Bởi lẽ, chủ nghĩa duy lý không thể đáp ứng, không thể giải đáp được những vấn đề nằm trong tầng sâu đời sống nội tâm của cá nhân con người Chủ nghĩa duy lý cực đoan không những không mang lại hạnh phúc cho con người, mà còn làm cho con người trở nên bất hạnh và bị tha hóa Chủ nghĩa duy lý cực đoan có thể không những cản trở sự phát triển các khả
Trang 33năng và giá trị nhân đạo ở con người, mà còn có thể đưa đến nguy cơ thống trị và nô dịch con người Nó đã biến tình cảm, tâm hồn con người trở nên lạnh giá, làm cho phẩm giá con người chỉ đơn thuần như một giá trị trao đổi khô cứng, mất đi ý nghĩa nhân văn sâu sắc
Với chủ nghĩa duy lý, xã hội phương Tây đã đạt đến giai đoạn đỉnh cao của phồn vinh Nhưng cũng chính từ đỉnh điểm này, xã hội duy lý hóa ở phương Tây đã rơi vào sự khủng hoảng sâu sắc vì nó phi nhân vị hóa con người, coi con người dường như chỉ là “một lực lượng vật chất đơn thuần” trong bộ máy kỹ thuật khổng lồ Con người không còn là con người trong ý nghĩa đích thực, mà biến thành cái máy không tư duy, không tình cảm Con người bị máy móc hóa, tự động hóa, trở thành một yếu tố đơn giản của khoa học - kỹ thuật, nên đánh mất hết mọi đức tính của riêng mình và không tồn tại như một nhân vị, một cá nhân nữa [xem: 15, tr.9]
Bên cạnh đó, tính duy lý của nhà nước cũng được thể hiện ở chỗ nó bị chi phối bởi những nhà kỹ trị Quyền lực chính trị thâm nhập vào mọi mặt của đời sống cá nhân và xã hội, nó dường như trở thành nhân tố quan trọng của xã hội hiện đại Con người bao giờ cũng sống trong cộng đồng, cũng cần phải được tổ chức theo những nguyên tắc, nguyên lý nhất định Nhà nước là công cụ đảm bảo an ninh cá nhân, kỷ cương xã hội Tuy nhiên, những mối nguy hiểm lại bắt nguồn từ chính quyền lực nhà nước Điều này thể hiện ở chỗ: Nhà nước có xu hướng can thiệp, khống chế, chi phối mọi mặt riêng tư của con người vì nó nắm trong tay quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, quân đội, cảnh sát, nhà tù, trại giam, luật pháp và các phương tiện truyền thông đại chúng để nhào nặn ý thức của con người theo hướng có lợi cho mình Những hệ giá trị tuyệt đối được áp dụng trong xã hội một cách triệt để bởi nhà cầm quyền Không gì dễ dàng hơn là điều khiển đám đông không
Trang 34Gasset: “Con người đại chúng là người không thể đánh giá mình từ mặt tốt cũng như từ mặt xấu, là người cảm thấy mình như tất cả mọi người và hoàn
toàn không thấy đau khổ vì điều đó” [trích theo: 46, tr.31] Họ là kiểu người
bình quân chủ nghĩa, thích sống kiểu “nước chảy bèo trôi” Con người đại chúng không muốn thừa nhận lẽ phải của người khác, song cũng không muốn bản thân mình là người có lý, nó đơn giản muốn gán ghép ý kiến của mình hoặc là hùa theo ý kiến chung, là con người không dám tách mình ra khỏi tập thể, là con người sống hời hợt, không nội tâm, rất dễ bị dao động bởi những thông tin Họ có thái độ thờ ơ với những vấn đề quan trọng, chỉ tiếp nhận sở thích, nhận xét do người khác đưa lại và được các phương tiện truyền thông gán cho chứ không tự mình xây dựng; vì vậy, nó là nơi nhận các mỹ từ từ
kẻ cầm quyền Con người đại chúng quen với nếp sống theo những khuôn mẫu phổ biến và sợ hãi sự thay đổi do chính mình tạo ra Điều này thể hiện tính không nhân văn của nhà nước phương Tây hiện đại, biến cá nhân con người trở thành nô lệ tinh thần cho nhà nước, con người biến thành chiếc đinh vít trong cỗ máy của nhà nước [xem 46, tr.31]
Mặc dù những con người phương Tây hiện đại dường như ở mức độ nào đó đã được giải phóng khỏi sự ngoại thuộc về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, nhưng họ lại bị nội thuộc về mặt tinh thần, tâm linh Giờ đây, phải thừa nhận rằng, tồn tại của con người luôn ẩn chứa những điểm yếu, những nguy cơ bị tha hóa hoặc bị hủy hoại
Do đó, vấn đề tự do tinh thần của con người cá nhân sống động, cụ thể
sẽ trở thành chủ đề xuyên suốt của triết học phương Tây hiện đại nói chung
và triết học hiện sinh nói riêng Triết học hiện đại cần quan tâm tới vấn đề tinh túy nhất, tế nhị nhất là tự do tinh thần, tự do nội tâm của tồn tại người Triết học hiện sinh là biểu tượng cho sự phản kháng, chống lại những tư tưởng và định chế, một mặt, đã kìm hãm tự do cá nhân; mặt khác, lại biến cá
Trang 35nhân thành kẻ chối bỏ trách nhiệm, trước hết là trách nhiệm với chính bản thân mình
Khi con người nhận ra rằng khoa học không phải là công cụ vạn năng,
xã hội công nghiệp không phải là thiên đường, và thấy có nhiều vấn đề mà không thể giải thích một cách đơn thuần bằng các quy luật, không thể nhận thức hết mọi mặt của thế giới, thì niềm tin vào chủ nghĩa duy lý sụp đổ Những thành tựu kỹ thuật không thể giải quyết được mọi vấn đề của con người Việc tuyệt đối hóa chủ nghĩa duy lý có thể khiến con người vô tình đánh mất những giá trị nhân văn, như năng lực thấu hiểu và đồng cảm với người thân và đồng loại Con người phải đối mặt với những nguy cơ, như hủy hoại môi trường, suy thoái đạo đức, nghèo nàn của thế giới nội tâm, giao cảm hời hợt giữa cá nhân và thế giới bên ngoài Con người cảm thấy mình nhỏ bé và mong manh, họ muốn phá bỏ mọi thói quen, mọi khuôn mẫu ứng xử, mọi chuẩn tắc trước kia của con người vì chính chúng đã gây nên cho con người cuộc sống bế tắc, đau khổ, rơi vào khủng hoảng tinh thần
Tóm lại, bối cảnh xã hội đã đặt ra nhiệm vụ cấp bách là lý giải thực chất, nguyên nhân của sự khủng hoảng đời sống tinh thần của con người
và chỉ ra con đường khắc phục nó Sự ra đời của triết học hiện sinh cũng như đạo đức học hiện sinh ra đời đã góp phần giải quyết nhiệm vụ này Trước và cùng với chủ nghĩa hiện sinh, đã xuất hiện nhiều sự phản kháng
từ các phong trào xã hội nhằm chống lại xu hướng tuyệt đối hóa vai trò của
lý tính Nhưng chủ nghĩa hiện sinh đã tìm được lối đi riêng của nó: Không phải là đập phá các giá trị hiện tồn, mà là tương đối hóa các giá trị và tuyệt đối hóa sự tự do lựa chọn, trách nhiệm với những giá trị của cá nhân Sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện sinh đã thể hiện một sự phản ứng mãnh liệt của những thân phận con người đang bị bỏ rơi, bị lãng quên trong xã hội
Trang 36đang đi tìm lại chính mình, tìm lại cái tôi độc đáo của mình Điều đó lý giải tại sao đạo đức học lại là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong chủ nghĩa hiện sinh
2.2 Những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh
Lịch sử tư tưởng nhân loại đã chứng minh rằng, không có hệ tư tưởng nào ra đời trên mảnh đất trống không mà không có sự kế thừa những tư tưởng đi trước Triết học học hiện sinh cũng như quan niệm đạo đức học của nó cũng có nguồn gốc từ những tư tưởng trước đó, bao gồm những tư tưởng mầm mống gián tiếp cho
sự ra đời đạo đức học hiện sinh và những tư tưởng của các bậc tiền bối trực tiếp cho sự ra đời đạo đức học hiện sinh
2.2.1 Những tư tưởng mầm mống cho sự ra đời đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh
Có thể nói, chủ nghĩa hiện sinh nói chung và đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh nói riêng đã kế thừa những tư tưởng mầm mống trong lịch sử tư tưởng phương Tây, đặc biệt ở Socrat, Augustin, Pascal, Kant và Dostoevski
*) Socrate (khoảng 469 – 399 TCN)
Không giống với nhiều nhà triết học cùng thời là mải mê tìm hiểu bản nguyên của vũ trụ, Socrate đã tìm cho mình một hướng nghiên cứu mới và độc đáo, đó là nghiên cứu bản thể người Có thể nói, kể từ Socrate, với luận điểm nổi tiếng: “Con người, hãy nhận thức chính mình” thì vấn đề con người cũng nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà triết học “Hãy tự nhận thức mình” có nghĩa là ý thức con người cần phải trở thành đối tượng chính cho việc tự ý thức và tự nhận thức về mình Theo Socrate, con người phải thừa nhận thân phận mình với những đau khổ và những trắc trở, âu lo ở trên đời Con người cần phải vượt qua,
rũ bỏ mọi thành kiến để trở về với chính mình, tự khám phá ra bản chất sâu xa của mình Tư tưởng về này sau được các nhà hiện sinh chú ý để
Trang 37luận giải con người như một chủ thể hiện hữu, tồn tại của con người là một tồn tại đặc biệt, không giống như tồn tại của mọi sự vật khách quan khác, tồn tại của con người là tồn tại hiện sinh
Đối tượng của triết học bây giờ là bản thân con người, mọi ứng xử, quy tắc đạo đức của con người đều xuất phát từ đó Socrate say mê theo đuổi sự thật và luôn tìm kiếm nền tảng cho tri thức chắc chắn và vững bền, nền tảng cho một cuộc sống tốt đẹp Đối với ông, “tri thức là đức hạnh”, đức hạnh liên quan đến việc “lo cho linh hồn trở nên tốt đến mức nhiều nhất có thể”; và điều cần thiết là phải biết cái gì làm cho linh hồn trở nên tốt Từ quan điểm này, ông khẳng định rằng cái xấu, cái ác cũng do sự không hiểu biết, sự thiếu vắng tri thức Do đó, những người có hành động xấu, hay làm điều ác không phải là chủ ý mà do vô tình, do ngu dốt
Socrate còn hiểu đức hạnh theo nghĩa là hoàn thành chức năng của mình, con người có chức năng cư xử theo lý trí, nhưng đồng thời con người còn có khát vọng về sự tốt lành của linh hồn mình Để linh hồn mình trở nên tốt đến mức nhiều nhất có thể thì con người phải có một cách thức cư xử nhất định nào đó Con người sẽ phải lựa chọn hành vi nào đó mà chúng ta hy vọng
sẽ đem lại hạnh phúc cho mình để thực hiện
Như vậy, đạo đức học của Socrate là mầm mống cho quan niệm đạo đức học hiện sinh ở chỗ: Tư tưởng của ông đã quay về với con người và với những suy tư về thân phận con người Sau này, đạo đức học hiện sinh cũng chịu ảnh hưởng quan niệm của Socrate về hạnh phúc hay bất hạnh như là kết quả của sự tự lựa chọn hành động hay tồn tại của cá nhân hay về chính con người với tư cách là đối tượng đích thực của triết học
*) Augustin (354 - 430)
Augustin lấy con người làm đề tài nghiên cứu Ông cho rằng, trong cuộc sống con người hay mắc tội và bị Chúa trừng phạt; do đó, con người
Trang 38luôn lo âu, thao thức cho tới khi nào tìm được „„an ninh‟‟ trong Chúa Khi suy tư về đời mình, ông nhìn thấy cả sự tội lỗi lẫn sự vô phương hướng về tinh thần của ông khi không có sự ân sủng của Chúa Nhưng con đường tìm được „„an ninh‟‟ trong Chúa là dấn thân vào việc chiêm ngưỡng những gì vượt khỏi lý trí suy luận, không phải bằng lý trí, bằng tư duy lý tính, mà bằng chính bản thân con người
Augustin khẳng định tự do của con người là tự do ý chí Tuy nhiên, Chúa
là sức mạnh tối cao quyết định mọi cái, vậy làm sao con người có tự do, cho
dù đó là tự do ý chí? Ông cho rằng, con người có tự do ý chí không có nghĩa
là con người có tự do tuyệt đối về mặt này, bởi mọi thao tác của ý chí của con người là ân sủng của Chúa Tư tưởng này sau được Jaspers thừa nhận và kế thừa: Tôi là một thực thể tự do; Tôi không hiện hữu bởi chính tôi, vì trong tự
do, tôi trở thành tặng vật cho tôi; Tôi được xác định trong giao tiếp với tha nhân và trong mối quan hệ với siêu nghiệm hay Chúa
Augustin thường bàn đến những vấn đề về cuộc sống con người, như ý nghĩa đời sống con người, cuộc sống tạm bợ của con người trên trần thế, đời sống tâm linh của con người, lương tâm của con người…Theo ông, lương tâm của con người có thể vượt mọi phép tắc, mọi luật định của cuộc sống để đưa đến những quyết định đối với những hành động của con người trong cuộc đời Ông đề ra công thức về luân lý: “Hãy yêu và làm những gì ngươi muốn”
Như vậy, đạo đức học Augustin có thái độ ôn hòa trong việc đánh giá các hành vi, suy nghĩ của tha nhân và luôn có niềm tin; vì vậy, những người thực hiện cái ác hay mắc lỗi thì sẽ có thể có hy vọng phục thiện Điều này cho thấy tính nhân văn và tình yêu đối với con người trong đạo đức học của ông Sau này, đạo đức học hiện sinh cũng bộc lộ khát khao về tính nhân văn của con người Các nhà hiện sinh đã tạo ra động lực cho con người trở về với tồn
Trang 39tại đích thực của mình, cho rằng, bản chất con người có thể thay đổi Mệnh lệnh làm theo nguyên tắc của lương tâm, của lòng mình là nguyên tắc đạo đức của chủ nghĩa hiện sinh, và nguyên tắc này đã có mầm mống ở quan niệm của Augustin
Pascal thừa nhận sức mạnh tư duy của con người và cho rằng, nhờ tư duy mà con người mạnh hơn cả những quy luật của vũ trụ: “nhưng ngay trong thời gian sống, con người cũng chỉ là một thứ hư vô so với “vô cực lớn” và “vô cực nhỏ” Vậy làm sao mà con người nắm bắt được chân lý bằng
lý tính? Do lý tính không chứng minh được có Thượng đế và đời sống bất tử hay không, cho nên cần đặt cược là có cả hai điều ấy để nếu thua ta chỉ mất cuộc sống trần thế ngắn ngủi, còn nếu được thì sẽ có cả thiên đường vĩnh cửu” [xem: 69, tr.260 - 261]
Trang 40Với quan điểm: “con tim có những lý lẽ mà nhiều khi lý trí không thể hiểu”, Pascal khẳng định: “nền luân lý đạo đức chân chính là những phán đoán hay nói cách khác là những tình cảm không theo một quy định nào, nó được xuất hiện từ tinh thần thực tế và nó chế giễu cái gọi là luân lý mực thước hình thức Đó là những luân lý được giản lược trong một ca-ta-lô những quy định” [trích theo: 62, tr.323] Do vậy, con người cần thoát ra khỏi sự ràng buộc, khống chế của các chuẩn mực đã được định sẵn để tìm đến một nền luân lý đạo đức đích thực – nền luân lý mà ở đó con người phát huy được tính sáng tạo cá nhân
Có thể nói, những suy tư và trăn trở của Pascal về thân phận con người, về tâm trạng ưu tư bất an của con người đã ảnh hưởng không nhỏ tới
tư tưởng của các nhà hiện sinh, trong đó có quan niệm đạo đức học
*) I.Kant (1724 - 1804)
Trong đạo đức học của Kant, tự do là cái cao giá nhất ở trên đời này, không một cái gì khác “chỉ có con người và cùng với nó, mỗi người là mục đích của chính bản thân mình” Tự do là lý tưởng đạo đức cao cả nhất của nhân loại Tự do và quy luật đạo đức gắn bó chặt chẽ với nhau Không có đạo đức thì không có tự do cũng như thiếu tự do thì không thể có đạo đức, không thể có cái này mà không có cái kia Chính xác như vậy, đạo đức thuộc loại quyết định luận xã hội, đòi hỏi con người phải được tự do lựa chọn, không có
tự do thì không thể nói đến đạo đức ở mọi người Ông viết: “Chính quy luật đạo đức được đặt ra trước mắt ta và dẫn ta tới quan niệm tự do, xét như tự do được biểu tượng như một nguyên tắc quyết định cho ý chí của ta, một nguyên tắc không bị chi phối bởi một điều kiện khả giác nào hết, nhưng hoàn toàn độc lập với những điều kiện khả giác” [trích theo: 84, tr.741]
Kant đánh giá cao sự tự chủ của con người, coi đây là yếu tố nền tảng, căn bản nhất của con người Khi con người không tự chủ được bản