Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng nghề.. Câu hỏi nghiê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN QUỐC PHƯƠNG
QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CỘNG ĐỒNG
VÀ LỢI ÍCH CÁ NHÂN TRONG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
(Qua khảo sát tại hai làng nghề Bát Tràng thuộc thành phố Hà Nội
và Phước Tích thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN QUỐC PHƯƠNG
QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CỘNG ĐỒNG
VÀ LỢI ÍCH CÁ NHÂN TRONG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
(Qua khảo sát tại hai làng nghề Bát Tràng thuộc thành phố Hà Nội
và Phước Tíchthuộc tỉnh Thừa Thiên Huế)
Trang 33
Xác nhận của Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng
người hướng dẫn khoa học chấm luận văn Thạc sĩ Xã hội học
Trang 44
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các dữ liệu, kết quả
đƣợc nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ
Trang 55
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cám ơn đến tất cả quý Thầy, Cô đã giảng dạy chương trình Cao học Xã hội học khóa 2010, trường Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc ĐHQG Hà Nội, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích làm cơ sở cho tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô giáo ở Khoa
Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn các cán bộ xã, thôn tại xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội và làng Phước Tích, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình điền dã thu thập dữ liệu nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới GS TS Tô Duy Hợp, người
đã chỉ bảo, hướng dẫn, đóng góp ý kiến, động viên tận tình để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cám ơn đến bố mẹ, những người thân, những anh chị trong nghề và những người bạn đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Trang 66
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 4
LỜI CẢM ƠN 5
MỤC LỤC 6
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục tiêu nghiên cứu 10
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11
4.1 Đối tượng 11
4.2 Khách thể 11
4.3 Phạm vi 11
5 Câu hỏi nghiên cứu 11
6 Giả thuyết nghiên cứu 12
7 Phương pháp của đề tài 12
7.1 Phương pháp tiếp cận 12
7.2 Phương pháp cụ thể 13
7.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có 13
7.2.2 Phương pháp thu thâ ̣p thông tin sơ cấp 13
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14
9 Cấu trúc luận văn 15
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 16
1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài 16
1.1.1 Lợi ích 16
1.1.2 Cá nhân 18
Trang 77
1.1.3 Cộng đồng 19
1.1.4 Lợi ích cộng đồng 22
1.1.5 Lợi ích cá nhân 22
1.1.6 Làng nghề 22
1.2 Lý thuyết được vận dụng trong đề tài 24
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 30
1.3.1 Nghiên cứu về làng nghề và phát triển làng nghề 30
1.3.2 Nghiên cứu về quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển 33
1.3.2.1 Nghiên cứu về quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng 33
1.3.2.2 Nghiên cứu về quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng nghề 37
1.4 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu 39
1.4.1 Làng gốm Bát Tràng 39
1.4.2 Làng gốm Phước Tích 45
Chương 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CỘNG ĐỒNG VÀ LỢI ÍCH CÁ NHÂN TRONG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ BÁT TRÀNG VÀ PHƯỚC TÍCH 48 2.1 Đặc điểm mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong quá trình phát triển làng nghề Bát Tràng và làng nghề Phước Tích 48
2.2 Sự phát triển mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân và vai trò đối với phát triển làng nghề 56
2.2.1 Xu hướng phát triển mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân 56
2.2.2 Vai trò của mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân đối với phát triển làng nghề 71
Trang 88
2.3 Giải pháp phát triển làng nghề gắn với mối quan hệ lợi ích cộng đồng và lợi
ích cá nhân 79
2.3.1 Thay đổi nhận thức 79
2.3.2 Thay đổi hành vi, hành động 80
2.3.3 Thay đổi chính sách 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Khuyến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 95
A MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC ĐỊA TẠI ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 95
B BẢN HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU TẠI HAI LÀNG PHƯỚC TÍCH VÀ BÁT TRÀNG 97
C BẢN HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM TẠI HAI LÀNG PHƯỚC TÍCH VÀ BÁT TRÀNG 98
Trang 9xã hội ở Việt Nam.Cách tiếp cận nào cũng là trọng tâm được giới nghiên cứu xã hội học nông thôn chú trọng1 [9]
Trong khuôn khổ nghiên cứu về làng và phát triển làng thì nghiên cứu về làng nghề truyền thống là một trong những hướng nghiên cứurất quan trọng Bởi, làng nghề thủ công truyền thống là một thành phần không thể thiếu của nông thôn cổ truyền Một mặt, làng nghề vẫn còn lưu giữ tính khép kín cố hữu của làng nông nghiệp Mặt khác, làng nghề cũng là nơi biểu hiện tính năng động, sáng tạo của người dân nông thôn trong quá trình thích ứng với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội mang dấu ấn thị trường đậm nét từ rất sớm Chính vì vậy, làng nghề luôn có vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển nông thôn Việt Nam và cả tiến trình đổi mới nông thôn ngày nay Trong bối cảnh xây dựng và phát triển nông thôn mới đang được tiến hành ở Việt Nam hiện nay, cần thiết làm rõ được vai trò và sức mạnh của làng nghề trong chiến lược xây dựng nông thôn nói chung và xây dựng làng mới nói riêng để góp phần hoàn thiện bộ tiêu chí phát triển nông thôn và phát triển làng nghề mới
Một khía cạnh khác, những nghiên cứu về nông thôn Việt Nam từ trước đến nay đều thể hiện rõ một đặc điểm mà chúng ta cần phải quan tâm đến đó là quan hệ giữa cộng đồng và cá nhân trong tiến trình phát triển Đây là mối quan
1 Có thể tham khảo ý kiến có tầm nhìn xa của nhà dân tộc học Từ Chi trong “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ
truyền ở Bắc Bộ” xuất bản năm 1984, khi ông cho rằng nghiên cứu về làng – xã sẽ là một chủ đề có tính
trọng tâm của các nghiên cứu khoa học xã hội về Việt Nam
Trang 1010
hệ đã trải qua quá trình hình thành rất phức tạp và thăng trầm ở nông thôn Việt Nam, chính mối quan hệ này đã chi phối toàn bộ sự hình thành và phát triển bản sắc truyền thống làng Việt nói chung và bản sắc riêng cụ thể của từng làng [1]
Vì vậy, nghiên cứu, tìm hiểu và đề xuất những giải pháp để giải quyết hay hóa giải mối quan hệ giữa cộng đồng và cá nhân một cách hợp lý và hợp tình trong phát triển góp phần quan trọng vào việc hóa giải mối quan hệ cơ bản trong phát triển làng ở nông thôn Việt Nam
Từ những yếu tố xuất phát về mă ̣t lý luận và thực tiễn như vậy, chúng tôi
đi đến chọn đề tài nghiên cứu “Quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá
nhân trong phát triển làng nghề (Qua khảo sát tại hai làng nghề Bát Tràng
thuộc thành phố Hà Nội và Phước Tích thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế)” Chúng tôi
chọn hai làng Bát Tràng thuộc thành phố Hà Nội và làng Phước Tích thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế làm địa bàn nghiên cứu trường hợp với mục đích so sánh mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân giữa làng Bắc Bộ và làng Trung Bộ có những điểm tương đồng và khác nhau như thế nào? Bên cạnh đó, đây là hai làng gốm cổ truyền có từ lâu đời, và gắn liền với hoạt động du lịch và hội nhập chính vì vậy có thể rút ra những điểm ưu trội trong đi ̣nh hướng chiến lươ ̣c xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiê ̣n nay cũng như trên thế giới
2 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ đặc điểm mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng nghề
Đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề bền vững dựa trên mối quan
hệ hài hòa giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát được những đặc điểm lịch sử của mối quan hệ cộng đồng và
cá nhân trong quá trình phát triển làng nghề
Tìm hiểu thực trạng mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng nghề hiện nay
Trang 1111
Dự báo xu hướng biến đổi mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích
cá nhân trong phát triển làng nghề ở tương lai
Tìm kiếm các giải pháp phát triển làng nghề bền vững dựa trên mối quan
hệ hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng nghề Cụ thể, luận văn sẽ tập trung làm rõ cấu trúc của cộng đồng trong làng và sự tương tác giữa cá nhân với cộng đồng về mặt lợi ích thể hiện qua tiến trình đổi mới có sự so sánh với lịch sửhoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội của làng nghề
Giới hạn về thời gian: đề tài tiến hành nghiên cứu từ 2012 - 2013
Giới hạn vấn đề nghiên cứu: đề tài tập trung vào nghiên cứu quan hệgiữa
lơ ̣i ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng nghề qua khảo sát tai 2 làng gốm Bát Tràng và Phước Tích
5 Câu hỏi nghiên cứu
Mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng nghề có những đặc điểm gì?
Mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân sẽ thay đổi như thế nào trong tương lai của phát triển làng nghề?
Cần có những giải pháp nào để có thể phát triển làng nghề bền vững dựa trên mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân?
Trang 1212
6 Giả thuyết nghiên cứu
Đặc điểm chung giữa mối quan hệ lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng nghề là hỗn hợp hai lợi ích nhưng trong đó lợi ích cộng đồng được coi trọng hơn lợi ích cá nhân
Quá trình thay đổi mối quan hệ lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân diễn ra theo ba xu hướng: một là, tiếp tục truyền thống hỗn hợp hai lợi ích nhưng coi trọng lợi ích cộng đồng hơn lợi ích cá nhân; hai là, xuất hiện mô hình hỗn hợp hai lợi ích nhưng coi trọng lợi ích cá nhân hơn lợi ích cộng đồng; ba là, xuất hiện mô hình cân bằng hoặc hòa hợp giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân
7 Phương pháp của đề tài
7.1 Phương pháp tiếp cận
Trong quá trình nghiên cứu, có khá nhiều cách tiếp cận có thể vận dụng
như: tiếp cận lịch sử, tiếp cận logic, tiếp cận biê ̣n chứng, tiếp cận hệ thống, tiếp cận so sánh, tiếp cận liên ngành, tiếp cận phức hợp… Đối với nghiên cứu về mối
quan hệ cộng đồng và cá nhân, chúng tôi sẽ sử dụng hai cách tiếp cận mang tính tổng - tích hợp, đó là:
Tiếp cận liên ngành: Khảo về tính đa dạng của quan hệ cộng đồng và cá
nhân được thể hiện trên nhiều bình diện từ lịch sử, kinh tế đến chính trị, văn hóa
- xã hội…
Tiếp cận phức hợp: Xem xét mối quan hệ cộng đồng và cá nhân trên ba cấp độ: Mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân như là một đối/hợp;Hồi quy trong mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân; Xem xét toàn thể mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân [66, tr
112-115]
Tiếp cận Khinh – Trọng: Nhằm tăng cường mức đô ̣ và quy mô t ổng –
tích hơ ̣p, chúng tôi sẽ sử dụng hướng tiếp cận này vào chủ đề nghiên cứu về mối quan hê ̣ giữa lợi ích cô ̣ng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng nghề đ ể
Trang 1313
giải quyết vấn đề phát triển làng nghề bền vững dựa trên mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân [42][44]
7.2 Phương pháp cụ thể
7.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có
Phương pháp được sử dụng để phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan đối với đề tài, các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tại hai làng nghề Bát Tràng và Phước Tích Bên cạnh đó, luận văn cũng sẽ quan tâm đến phân tích các văn bản thuộc lịch sử phát triển làng như di chỉ, hương ước… nhằm đi sâu tìm hiểu quan hệ cộng đồng và cá nhân qua các lát cắt đồng đại và lịch đại
7.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Đề tài luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, bao gồm hai kỹ thuật thu thập thông tin chính là phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
Các thành viên tham gia thu thập thông tin tiến hành đi thực địa tại địa phương trong những đợt khác nhau, mỗi đợt kéo dài từ 2 – 3 ngày Chúng tôi lên kế hoạch phỏng vấn các đối tượng được định sẵn, tại thực địa, thông qua các trưởng thôn chúng tôi một lần nữa xác định khả năng tiến hành phỏng vấn đối với các đối tượng này Cũng có trường hợp các đối tượng không phù hợp với thực tế nên chúng tôi buộc phải thay đổi Bên cạnh đó, có những thông tin nảy sinh ngoài nội dung nên chúng tôi cũng phải mở rộng đối tượng phỏng vấn
Đối với làng nghề Phước Tích, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, thuận lợi lớn nhất là chúng tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của người dân, thời lượng phỏng vấn thoải mái, không bị giới hạn Tuy nhiên, khó khăn lại ở đối tượng phỏng vấn, tỉ
lệ người cao tuổi quá lớn khiến việc lựa chọn đối tượng phỏng vấn trở nên khó khăn
Đối với làng nghề Bát Tràng, thuận lợi đó là chúng tôi được các anh chị trong nghề đã từng nghiên cứu ở đây hướng dẫn tại địa bàn Tuy nhiên, khó khăn nhất đó chính là việc tiến hành phỏng vấn các đối tượng như kế hoạch, thời gian phỏng vấn không nhiều, một số đối tượng từ chối không tham gia cung cấp thông tin khiến cho kế hoạch của chúng tôi bị thay đổi
Trang 147.2.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm
Đối với mỗi địa bàn nghiên cứu, đề tài tiến hành thực hiện các cuộc thảo luận nhóm đối với các đối tƣợng cụ thể sau:
7.2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin sơ cấp
Sử dụng phần mềm Nvivo 8.0 để xử lý các thông tin định tính
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học của luận văn là góp phần phát triển bộ môn xã hội học nông thôn nói chung và xã hội học về làng nói riêng Hệ thống hoá, cung cấp các
cứ liệu ở cấp độ vi mô nhằm bổ sung cho những hiểu biết toàn diê ̣n và sâu sắc về quan hệ giƣ̃a cộng đồng và cá nhân trong phát triển làng nói chung và làng nghề nói riêng
Trang 159 Cấu trúc luận văn
Phần mở đầu
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân trong phát triển làng nghề gốm Bát Tràng và Phước Tích
Kết luận&Khuyến nghị
Trang 1616
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1 Lợi ích
Trong ngôn ngữ thường ngày, từ “lợi ích” có ba nghĩa liên quan với
nhau Một ai đó được nói là quan tâm đến một chủ đề, theo nghĩa là nó kích thích sự chú ý hay tò mò của người ấy Cách dùng này ít có ý nghĩa chuyên môn trong các ngành khoa học xã hội
Trong cách dùng thứ hai, lợi ích được sử dụng như một từ đồng nghĩa với sự sở hữu hay đầu tư Cách dùng này liên quan chặt chẽ với cách sử dụng rộng rãi hơn, theo đó lợi ích bao gồm bất kỳ thứ gì góp phần vào sự sung túc nói chung hay hoàn thành những mục tiêu của một cá nhân Hai cách dùng này rất quan trọng trong triết học và các khoa học xã hội [14]
Triết học chính trị của Thomas Hobbes hình thành dựa trên quan điểm duy vật về bản tính con người, theo đó sự tự bảo tồn là động cơ nền tảng của mọi hành động Quan điểm lợi ích tự thân về động cơ của con người cũng được thừa nhận rộng rãi hơn trong môn kinh tế học chính trị Nhưng quan điểm này bị David Hume, Adam Ferguson và nhiều người khác bác bỏ dựa trên một số căn
cứ Con người về bản chất là có tính xã hội, vì vậy không thể phân biệt rạch ròi giữa lợi ích tự thân và lợi ích của người khác Ferguson đặc biệt chỉ trích việc gắn lợi ích và của cải kinh tế và sự chiếm hữu ruộng đất, khi lập luận rằng những phẩm chất như can đảm, lương thiện và trung thành là những thứ có giá trị cao hơn nhiều của bản ngã, vì vậy phải chiếm vị trí cao quý trong bất cứ một lý giải thỏa đáng nào về lợi ích [14]
Bất chấp quan điểm của Ferguson, truyền thống duy vật trong việc khái niệm hóa lợi ích trước hết trong mối quan hệ với của cải, vật chất hay quyền lực chính trị và tách chúng ra khỏi lĩnh vực của các giá trị và nguyên lý vẫn cứ tồn tại dai dẳng, cả trong ý thức thông thường cũng như trong khoa học xã hội và
Trang 1717
khoa học chính trị Tuy vậy, một bước chuyển quan trọng diễn ra vào thế kỷ XIX, đặc biệt trong khung cảnh chủ nghĩa duy vật lịch sử của K Marx và F.Engels, đó là việc gán lợi ích thành một thuộc tính cho những tác nhân tập thể giả định – các giai cấp và các nhóm xã hội Việc làm này về sau đã trở nên phổ biến trong các lĩnh vực như Xã hội học công nghiệp, Xã hội học chính trị và Xã hội học nghề nghiệp, cũng như áp dụng cho bất kỳ nhóm nào có những lợi ích chung có thể xác định được về kinh tế hay về xã hội để bảo vệ những bất lợi chung cần phải vượt qua [14]
Ưu điểm lớn nhất của khái niệm lợi ích là khả năng rõ ràng của nó trong việc kết nối những phân tích về các điều kiện khách quan của đời sống với những khuôn mẫu của niềm tin và hành động Tuy vậy, vẫn còn một số vấn đề gây tranh cãi là liệu có thể gán một cách chính đáng một lợi ích nào đó cho một
cá nhân hay một nhóm khi không biết gì cả về những niềm tin và mục đích của nhóm hay không Nếu chuyện đó là không thể được, thì phần lớn hiệu lực của những giải thích dựa vào lợi ích sẽ không đạt được hiệu quả Hầu hết các nhà xã hội học có lẽ cũng cho rằng ý thức về bản sắc xã hội của một cá nhân cần phải đi trước quan niệm về lợi ích tự thân của người đó – và vì lý do đó mà các lợi ích thường được xác định một cách chủ quan hơn là được quy định một cách khách quanthuần túy [14]
Trong khuôn khổ luận văn, khái niệm “lợi ích” được hiểu là quyền lợi,
giá trị vật chất và giá trị tinh thần có được trong những lĩnh vực khác nhau như kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường Những quyền lợi này sẽ giúp cộng đồng hoặc cá nhân phát triển, đồng thời nó đối lập với những thiệt hại về quyền lợi, giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà cộng đồng và cá nhân phải đón nhận
Phân loại lợi íchbao gồm: lợi ích kinh tế, lợi ích văn hóa, lợi ích xã hội, lợi ích môi trường Với giới hạn nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sẽ tập trung phân tích chủ yếu những lợi ích kinh tế của cộng đồng và cá nhân trong quá trình phát triển
Trang 1818
1.1.2 Cá nhân
Cá nhân là mỗi con người với tư cách là thành viên của xã hội loài
người Theo Phạm Minh Hạc cá nhân chỉ là một cấp độ khái niệm về con người [33][34]:
- Cấp độ 1,con người với tư cách là khái niệm chung nhất,
- Cấp độ 2,cá thểlà con người với tư cách là đại diện loài người (một loài sinh vật cao cấp nhất trong tiến hóa của sinh giới),
- Cấp độ 3,cá nhân là con người với tư cách là thành viên xã hội loài người,
- Cấp độ 4,nhân cách là con người với tư cách là chủ thể hoạt động Ông còn cho rằng trong nội hàm của khái niệm con người nói chung, cá
nhânnói riêng có tình trạng mâu thuẫn mà thống nhất (hay nói khác đi là tình trạng đối/hợp) giữa các đặc trưng cơ bản sau đây:
nghĩa về quá trình cá nhân hóa như sau: “Cá nhân hóa là quá trình xuất hiện của
cá thể với tư cách là cá nhân duy nhất và không thể thay thế được Cá nhân hóa
là hệ quả của quá trình xã hội hóa gia đình và ngoài gia đình và của quá trình đào tạo sư phạm thông qua việc đưa vào và học các chuẩn giá trị và các quy tắc hành vi xã hội Mục tiêu của cá nhân hóa là phát huy một nhân cách độc lập và
tự chịu trách nhiệm, có khả năng hành động linh hoạt, độc lập” [25, tr 37]
Tính cá nhân là thuộc tính của các cá nhân Trong từ điển Tâm lý học, Hofstede đã định nghĩa tính cá nhân như sau: “Tính cá nhân là một mô thức văn
Trang 1919
hóa (cultural pattern), theo đó người ta đặt mình vào trung tâm của trường tri giác, ưu tiên cho các mục tiêu cá nhân khi các mục tiêu này cạnh tranh với các mục tiêu của tập thể, hành động theo các thái độ của mình hơn là theo các chuẩn mực của tập thể và chú ý tới cái được và mất rút ra từ các quan hệ liên cá nhân” [12, tr 413]
Tính xã hội nói chung, tính tập thể nói riêng không phải là số cộng giản đơn của những tính cá nhân Đó là do bản chất hệ thống xã hội quy định Khi nhiều cá nhân hợp lại thành tập thể hay thành hệ thống xã hội thì hệ thống đó có những thuộc tính mới mà mỗi cá nhân riêng lẻ không có Cá nhân và tập thể cũng như cá nhân và xã hội có quan hệ biện chứng phức hợp, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau Khi mâu thuẫn bị đẩy tới cực độ thì xuất hiện tình trạng chủ nghĩa cá nhân đối kháng với chủ nghĩa tập thể Tuy nhiên đấy không phải là tình trạng duy nhất của mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể Bởi vì cá nhân còn có thể có những quan hệ khác với tập thể, như cá nhân phục tùng tập thể, cá nhân đồng thuận với tập thể, cá nhân hòa mình vào tập thể, cá nhân hy sinh vì tập thể, v.v…Tính cá nhân cũng vậy, không chỉ có tình trạng tính cá nhân và tính tập thể đối lập, loại trừ nhau mà còn có thể có cả tình trạng hỗn hợp cả hai tính cá nhân
và tập thể với những liều lượng, mức độ khinh – trọng khác nhau như: hỗn hợp
trọng tính cá nhân hơn tính tập thể hoặc hỗn hợp đề cao tính tập thể hơn tính cá nhân hoặc hỗn hợp cân bằng tính cá nhân và tính tập thể Những khuôn mẫu văn hóa này không nhất thành bất biến vì người ta có thể điều chỉnh hoặc thay đổi
khinh – trọng giữa tính cá nhân và tính tập thể tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể và
sự lựa chọn của mỗi con người hoặc mỗi tập thể với cái giá mà họ đánh cược cho
sự quyết chọn đó [45, tr 12-13]
1.1.3 Cộng đồng
Trước tiên, chúng ta cần phân biệt “cộng đồng tính” với “cộng đồng thể” như sau:cộng đồng tính là thuộc tính hay quan hệ xã hội như tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng còn cộng đồng thể là các nhóm
Trang 20và hành vi
Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành
viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, bạn bè…) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy có tính cội nguồn
Nó mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm về trật tự, không xuất phát từ các tính toán lợi ích riêng lẻ và được thỏa thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về mặt tinh thần – tâm linh bao quát hơn (láng giềng, phường hội, nhà thờ…) và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị [25]
Về tính cộng đồng: Trong từ điển tâm lý học, Hofstede đã định nghĩa tính cộng đồng như sau: Tính cộng đồng là một mô thức văn hóa (cultural pattern), theo đó người ta đặt một tập thể (ví dụ gia đình, bộ tộc, đất nước) vào trung tâm của trường tri giác, ưu tiên cho các mục tiêu của tập thể đó cao hơn các mục tiêu của cá nhân, hành động theo các thái độ của họ và chú ý tới các nhu cầu của những người khác nhiều hơn là cái được và mất rút ra từ quan hệ liên cá nhân [12, tr 413]
Như vậy, theo quan điểm của Hofstede thì tính cộng đồng/tính cá nhân là hai khái niệm mang tính đối lập nhau Theo Hofstede, các xã hội mang xu hướng
cá nhân thì nhấn mạnh về sự độc lập, về quyền riêng tư còn các xã hội theo xu hướng tập thể thì nhấn mạnh đến ý thức tập thể và sự đồng nhất tập thể cũng như
Trang 21đô thị cổ Tính cách mạng triệt để của quá trình chuyển đổi này đã xóa bỏ tính cộng đồng với các đặc trưng cơ bản của nó: không có chuyên môn hóa trong phân công lao động, các mối liên hệ tương trợ trực tiếp giữa các thành viên, điều chỉnh các quan hệ này bằng các chuẩn mực đạo đức đơn giản, ảnh hưởng quyết định của các giá trị, tín ngưỡng và tôn giáo cổ xưa, sự thống trị của thiết chế thân tộc,…Và ông đã phê phán tính cách mạng quá khích này Như vậy là Tonnies đã
đồng nhất khái niệm cộng đồng (Community) với khái niệm cộng đồng tiền xã
hội và cho rằng cộng đồng tiền xã hội chỉ có tính cộng đồng, trong khi đó khái
niệm xã hội bị đồng nhất với khái niệm hiệp hội (Association) và chỉ có tính xã
hội Tuy nhiên, sự đồng nhất này là không hợp lý bởi vì cộng đồng không chỉ có tính cộng đồng mà còn có thể có tính hiệp hội (tính xã hội theo cách hiểu của Tonnies) và ngược lại xã hội không chỉ có tính hiệp hội mà còn có thể có tính cộng đồng Điều đó có nghĩa là tùy thuộc vào tương quan giữa cộng đồng tính và hiệp hội tính mà về nguyên tắc có thể có các thể trạng xã hội khác nhau:
Thứ nhất, cộng đồng thuần túy (các thành viên hoàn toàn không có tự do
cá nhân) hoặc hiệp hội hoàn toàn (các thành viên có tự do cá nhân hoàn toàn);
Thứ hai, xã hội hợp trội cộng đồng tính (kiềm chế tự do cá nhân) hoặc
xã hội hợp trội hiệp hội tính (giải phóng tự do cá nhân);
Thứ ba,xã hội cân bằng cộng đồng tính và hiệp hội tính(cân bằng giữa tự
do cá nhân và phụ thuộc cộng đồng);
Trang 2222
Thứ tư,không loại trừ khả năng bất phân cộng đồng tính/hiệp hội tính,
nghĩa là chấp nhận cả hai tính cộng đồng và hiệp hội đều bình đẳng như nhau [45]
1.1.4 Lợi ích cộng đồng
Lợi ích cộng đồng là tập hợp những điều mà số đông cùng muốn đạt được
về mặt vật chất và tinh thần,được hiểu đầy đủ bao gồm cả lợi ích kinh tế và giá trị văn hóa Cụ thể, có thể kể ra như lợi ích vật chất bao gồm lợi ích về kinh tế; lợi ích tinh thần bao gồm những lợi ích về giá trị sống, sinh hoạt tâm linh, đạo đức Xét trên quan điểm Khinh – Trọng, chúng ta có thể chia thành các cặp đối/hợp và sự lựa chọn khinh - trọng giữa 2 mặt đối lập, đó là: Lợi ích vật chất hoặc/và lợi ích tinh thần; Lợi ích trước mắt (sinh kế, xoá đói giảm nghèo) hoặc/và Lợi ích lâu dài (làm giàu, phát triển bền vững); Lợi ích chính đáng hoặc/và Lợi ích không chính đáng
1.1.5 Lợi ích cá nhân
Lợi ích cá nhân được hiểu là tất cả những điều mà cá nhâncố gắng đạt được
về mặt vật chất và tinh thần Những giá trị vật chất cụ thể về kinh tế, và giá trị về tinh thần, văn hóa mà cá nhân mong muốn đều được bao hàm trong khái niệm lợi ích cá nhân Lợi ích về mặt vật chất và tinh thần của cá nhân có thể đồng thuận hoặc/và xung đột, gắn liền hoặc/và tách biệt với lợi ích của cộng đồng mà cá nhân
là một thành viên trong đó Như vậy, xét đến lợi ích cá nhân chúng ta cần phải xét trong tương quan với lợi ích cộng đồng
1.1.6 Làng nghề
Làng nghề Việt Nam, làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống, hoặc làng nghề cổ truyền thường được gọi ngắn gọn là làng nghề, là những làng mà tại đó hầu hết dân cư tập trung vào làm một nghề duy nhất nào đó; nghề của họ làm thường có tính chuyên sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng [27]
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh
Trang 2323
thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính.Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Việt cổ chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa nước mà nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc Thông thường chỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dân mới có việc làm nhiều, vất vả như: cày bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặt lúa, phơi khô còn những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc để làm nếu không có nghề phi nông nghiệp [6]
Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hằng ngày về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân Như việc làm ra các đồ dùng bằng mây, tre, lụa phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành nghề sản xuất hàng hóa để trao đổi,
đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa và rau màu, hoa quả Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau, nghề riêng thành nghề chung [38]
Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng làm gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng, từ nghề của làng trở thành làng nghề [47]
Những khái niệm này tuy có khác nhau ở khía cạnh này, góc độ khác song vẫn có những đặc điểm giống nhau về cơ bản, đặc biệt là xét từ góc độ văn
hoá, chúng ta có thể sử dụng chung khái niệm làng nghề Làng nghề là một thực
thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một
Trang 2424
sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian Khái niệm
về làng nghề theo cách nhìn văn hoá bao gồm các nội dung cụ thể, như:
- Là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư có một nghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan toả mạnh mẽ
- Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm
- Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau
- Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hoá và xã hội liên quan tới chính họ [27]
Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây Các làng nghề thường tập trung chủ yếu ở các vùng châu thổ sông lớn như châu thổ sông Hồng, tại Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định
1.2 Lý thuyết được vận dụng trong đề tài
Có nhiều lý thuyết có thể vận dụng, nhưng trong nghiên cứu về quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân, ta có thể chia ra làm 2 cấp độ tiếp cận
về mặt lý thuyết: lý thuyết triết học xã hội và lý thuyết khoa học xã hội cụ thể trong xã hội học
Ở cấp độ lý thuyết triết học xã hội và văn hoá, có ba trường phái lý
thuyết cơ bản, đó là Chủ thuyết mácxít (K.Marx, F.Engels, ), Chủ thuyết thực chứng (A.Comte, E.Durkheim, ), Chủ thuyết phản thực chứng và phi mácxít
(M.Weber, G Simmel, ) [45]
Chủ thuyết mácxít và chủ thuyết thực chứng tuy đối lập nhau về lập trường triết học vì chủ nghĩa Mác dựa trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử còn chủ nghĩa thực chứng thì chống lại duy vật biện chứng – lịch sử bằng lập trường khoa học thực chứng nhưng lại gặp nhau ở quan điểm phương
Trang 2525
pháp luận nghiên cứu đó chính là quan điểm toàn thể phương pháp luận (methodological holism) Đây thực chất là một cách tiếp cận hệ thống, nó tuân theo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, cái toàn thể không phải là tổng số giản đơn của các bộ phận
hợp thành mà là cái gì đó lớn hơn số cộng giản đơn các bộ phận hợp thành do có tính hợp trội hệ thống; đồng thời, mặt khác do tính kiềm chế hệ thống cho nên số bậc tự do của hệ thống lại nhỏ hơn tổng số bậc tự do của các yếu tố trước khi liên kết thành hệ thống;
Thứ hai,bộ phận chỉ có ý nghĩa trong toàn thể, yếu tố chỉ có ý nghĩa
trong hệ thống nhất định;
Thứ ba,suy cho cùng, toàn thể quyết định bộ phận, hệ thống quyết định
yếu tố chứ không phải ngược lại Nguyên tắc này là cơ sở của tất định luận toàn thể hay tất định luận hệ thống [45]
Đối với chủ đề về mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân
ta thấy chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa thực chứng tuy có điểm chung ở chỗ đều coi lợi ích cộng đồng (hay tập thể) là lợi ích toàn thể (hay hệ thống xã hội) trong quan hệ với các cá nhân (hay cáthể) được coi là các thành viên xã hội (hay yếu tố
xã hội); song lại khác nhau cơ bản ở chỗ, chủ thuyết thực chứng đề cao chủ nghĩa cộng đồng văn hóa; trong khi đó chủ thuyết mácxít đề cao chủ nghĩa tập thể cách mạng (thực chất cũng là chủ nghĩa cộng đồng, song đây là cộng đồng cách mạng xã hội chủ nghĩa)
Trong các công trình nghiên cứu của mình, cả A.Comte và E.Durkheim đều đánh giá cao vai trò của quan điểm cộng đồng trong giải thích hành động xã
hội của các cá nhân Đối với A.Comte, cá nhân chỉ là “một đơn vị cơ bản của các thực thể phân tích lớn hơn như gia đình”, khi nghiên cứu xã hội, A Comte cho rằng: “Chúng ta nên nhìn vào cơ cấu xã hội và biến đổi xã hội”
E.Durkheim cũng cho rằng, đối tượng của các nghiên cứu xã hội học là các sự
kiện xã hội (social facts) Ông nhìn nhận các sự kiện xã hội như là những lực
Trang 2626
lượng và cấu trúc ở bên ngoài đối nghịch lại cái cá thể Trong tác phẩm “Tự tử”
nổi tiếng của mình, E.Durkheim nhìn nhận nguyên nhân cơ bản của sự tự sát không nằm ở hành vi cá nhân mà nó bắt nguồn từ nguyên nhân xã hội mà cụ thể
là từ các sự kiện xã hội, cấu trúc xã hội quyết định hành động cá nhân
“E.Durkheim không kiểm tra xem vì sao một cá thể A hoặc B lại tự sát: ông hướng sự quan tâm tới những nguyên nhân của các tỷ lệ tự sát khác nhau giữa các nhóm, các tôn giáo, khu vực, quốc gia, và các hạng người Lý luận cơ bản của ông là chính bản chất và các thay đổi của các sự kiện xã hội đã dẫn đến sự khác biệt trong tỷ lệ tự sát”[32] E.Durkheim cũng cho rằng, tính ổn định của xã hội được quyết định bởi cái gọi là “lương tri tập thể” và xã hội trở nên hỗn loạn bởi sự thoái hoá của “lương tri tập thể” E.Durkheim hoàn toàn không xem xét
đến vai trò cá nhân trong các nghiên cứu của mình, hay nói cách khác, ông coi trọng vai trò quyết định của cộng đồng đối với những hành động cá nhân và xem xét các vấn đề xã hội dưới góc độ quyết định luận cộng đồng văn hóa [45, tr 15]
Theo K.Marx: “Bản chất của con người là tổng hoà của các mối quan
hệ xã hội” [30, tr 612] Ông cho rằng, con người sinh ra đều mang tính xã hội,
và thể hiện mình thông qua các mối quan hệ xã hội Trong khi E.Durkheim chỉ
tập trung vào các giá trị văn hóa phi vật chất, có nghĩa là những niềm tin và thể
chế trong xã hội thì K.Marx lại tin rằng các vấn đề của xã hội hiện đại đều bắt nguồn từ căn nguyên vật chất – kinh tế K.Marx nhấn mạnh vai trò quyết định của cộng đồng cách mạng (tập thể cách mạng của quần chúng) và cho rằng muốn thay đổi cơ cấu xã hội thì cần phải có một hành động đấu tranh mang tính tập thể dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cách mạng tiên phong
“Marx khẳng định rằng, các vấn đề của xã hội hiện đại có thể tìm ra từ các căn nguyên vật chất, có thật (ví dụ, các cơ cấu của chủ nghĩa tư bản) và rằng các giải pháp, do đó, chỉ có thể tìm ra trong việc lật đổ các cơ cấu đó bởi một hành động tập thể của đại đa số quần chúng nhân dân” [32]
Trang 2727
Những người chống Chủ nghĩa thực chứng và phê phán cả Chủ nghĩa
mác (M.Weber, G Simmel, ) không lựa chọn quan điểm toàn thể phương pháp luận(methodological holism) mà lựa chọn quan điểm cáthể phương pháp luận
(methodological individualism), dựa trên những nguyên tắc đối lập với các nguyên tắc của quan điểm toàn thể phương pháp luận, như:
Thứ nhất, không có cá thể thì không có toàn thể;
Thứ hai, cái toàn thể chẳng qua chỉ là kết quả của sự liên kết, cố kết của
những cá thể;
Thứ ba,suy cho cùng thì cá thể quy định toàn thể chứ không phải ngược
lại [45]
Khi vận dụng vào chủ đề về mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng (tập thể)
và lợi ích cá nhân (cá thể); M.Weber cho rằng cộng đồng xã hội không phải là một thực thể có sẵn, tiền định đối với các cá nhân, trái lại cộng đồng xã hội là kết quả liên kết, cố kết của các cá nhân và suy cho cùng cá nhân quy định cộng đồng chứ không phải ngược lại Khuynh hướng giải thích lý thuyết của ông là đề cao vai trò của hành động cá nhân trong việc lựa chọn hợp lý các phương tiện và
mục đích “Weber coi chế độ quan liêu bàn giấy (và tiến trình lịch sử của nó) như là một ví dụ cổ điển cho tiến trình hợp lý hoá, nhưng sự hợp lý hoá có lẽ là được minh hoạ tốt nhất hiện nay bởi các nhà hàng thức ăn nhanh (fast food) Nhà hàng fast food là một hệ thống hợp lý đúng thể thức, trong đó mọi người (cả công nhân và thực khách) buộc phải tìm kiếm những phương tiện hợp lý nhất cho mục đích Ví dụ, cửa sổ quay là một phương tiện hợp lý mà qua đó có thể phân phối cho các công nhân, và thực khách có thể lấy thức ăn một cách nhanh
và hiệu quả nhất Tốc độ và hiệu quả đã được ấn định bởi các nhà hàng fast food và các quy tắc theo đó chúng vận hành” [32]
Một lý thuyết gia khác cùng thời với M.Weber là G.Simmel cũng đề cao vai trò của cá nhân trong xã hội theo quan điểm cá nhân phương pháp luận Trong khi Weber vận dụng quan điểm thấu hiểu ý nghĩa xã hội văn hóa của các
Trang 2828
hành động cá nhân vào việc nghiên cứu xã hội ở tầm vĩ mô nhằm làm rõ đặc điểm của các quá trình gia tăng hợp lý hoá nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và quan liêu hóa chế độ chính trị dân chủ tự do tư sản thì Simmel đã đi sâu vào việc thấu hiểu hành động xã hội ở tầm vi mô, nghiên cứu quá trình tương tác trực tiếp giữa các cá nhân trong các nhóm xã hội G Simmel cho rằng chính tương tác trực tiếp mặt đối mặt giữa các cá nhân với tư cách là thành viên của nhóm xã hội quy định bản chất và động thái của nhóm xã hội
Như vậy là ngay từ đầu các quan điểm toàn thể phương pháp luận và quan điểm cá thể phương pháp luận đã tạo thành tình trạng song đề lý thuyết tổng quát (theoretical dilemma):
- Chủ nghĩa toàn thể hoặc/và Chủ nghĩa cá thể;
- Chủ nghĩa tập thể hoặc/và Chủ nghĩa cá nhân;
- Chủ nghĩa cộng đồng hoặc/và Chủ nghĩa tự do
Quá trình thấu hiểu và hóa giải các song đề lý thuyết này, theo quan điểm lý thuyết Khinh – Trọng [42][44], thực chất là quá trình lựa chọn hợp lý
giữa các khung mẫu khinh – trọng lý thuyết, bao gồm:
Thứ nhất,người ta có thể lựa chọn một trong hai khung mẫu phân biệt
khinh – trọng lý thuyết thái quá, tạo ra tình trạng đối đầu lý thuyết:
- Hoặc là chỉ chấp nhận Chủ nghĩa toàn thể, Chủ nghĩa tập thể, Chủ nghĩa cộng đồng Những người mácxít hoặc thực chứng quá khích đi theo đường lối cực đoan này
- Hoặc là ngược lại, chỉ chấp nhận Chủ nghĩa cá thể, Chủ nghĩa cá nhân, Chủ nghĩa tự do Những người phản thực chứng hoặc phản mácxít quá khích lựa chọn đường lối này
Thứ hai,có thể lựa chọn một trong hai khung mẫu phân biệt khinh –
trọng lý thuyết có mức độ vừa phải, taọ ra tình trạng đối trọng lý thuyết chứ không phải đối kháng lý thuyết:
Trang 29Thứ ba, người ta cũng có thể lựa chọn khung mẫu không phân biệt khinh – trọng lý thuyết, tạo ra thế ứng xử nước đôi; chẳng hạn như lựa chọn khung mẫu cân bằng khinh – trọng theo nghĩa nửa nọ nửa kia giữa Chủ nghĩa toàn thể
và Chủ nghĩa cá thể, Chủ nghĩa tập thể và Chủ nghĩa cá nhân, Chủ nghĩa cộng đồng và Chủ nghĩa tự do Đây là đường lối chiết trung của những người không thích thiên vị chủ toàn hoặc chủ biệt
Ở cấp độ lý thuyết khoa học xã hội nói chung, lý thuyết xã hội học nói riêng đã xuất hiện các song đề lý thuyết xã hội tổng quát như:
- Lý thuyết cấu trúc xã hội hoặc/và Lý thuyết tác nhân xã hội
- Lý thuyết đồng thuận xã hội hoặc/và Lý thuyết xung đột xã hội
- Quyết định luận kinh tế hoặc/và Quyết định luận văn hóa
Trong đó, có liên quan trực tiếp đến chủ đề về mối quan hệ giữa cộng
đồng và cá nhân đó là song đề lý thuyết: Chủ nghĩa cấu trúc hoặc/và Chủ nghĩa hành vi Quyết định luận cấu trúc dưới hình thái cực đoan cho rằng suy cho cùng
cấu trúc xã hội quyết định hành vi cá nhân, tổ chức xã hội quyết định hành động
xã hội; trái lại quyết định luận hành vi dưới dạng thái quá khẳng định rằng suy cho cùng hành vi cá nhân quy định cấu trúc xã hội, hành động xã hội quyết định
tổ chức xã hội Tuy nhiên lịch sử thấu hiểu và hóa giải song đề lý thuyết “Chủ nghĩa cấu trúc hoặc/và Chủ nghĩa hành vi” trong xã hội học nói riêng và trong
Trang 30phi mácxít quá khích lựa chọn đường lối cứng rắn này)
- Phân biệt khinh – trọng có mức độ dưới hình thức đối trọng giữa
“Thiên vị cấu trúc luận hơn hành vi luận” (những người mácxít hoặc thực chứng ôn hòa lựa chọn phương án này) hoặc là “Thiên vị hành vi luận hơn cấu trúc luận” (những người phản thực chứng hoặc phi mácxít ôn hòa thích lựa chọn
phương án này) Đây là những phương thức kết hợp hai lý thuyết trên cơ sở vẫn bảo vệ lập trường ban đầu và tìm cách bổ sung hạt nhân hợp lý của lý thuyết đối lập vào quan điểm gốc của mỗi trường phái
- Không cần phân biệt khinh – trọng giữa hai lý thuyết mà chấp nhận cả hai, tạo ra thế ứng xử nước đôi, tùy cơ ứng biến trong vận dụng cấu trúc luận và hành vi luận, chủ nghĩa cộng đồng và chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa tập thể và chủ
nghĩa cá nhân Đây có thể là đường lối chiết trung của những người không muốn
thiên vị cấu trúc luận hoặc thiên vị hành vi luận trong khi giải quyết cặp đối/hợp cộng đồng hoặc/và tự do, tập thể hoặc/và cá nhân
Dưới định hướng của lý thuyết Khinh – Trọng, đề tài sẽ xác định mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân là mối quan hệ cốt lõi và là một song đề trong tiến trình phát triển làng nghề
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
1.3.1 Nghiên cứu về làng nghề và phát triển làng nghề
Ở Việt Nam, vấn đề làng nghề được đề cập đến qua nhiều thời kỳ, với những khía cạnh và các mục đích khác nhau Trong nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ xin tổng quan những công trình nghiên cứu trên bình diện kinh
tế, văn hóa, xã hội của làng nghề
Trang 3131
Trong công trình “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của Bùi
Văn Vượng (1998), tác giả đã tập trung trình bày các loại hình làng nghề truyền thống như: đúc đồng, kim hoàn, rèn, gốm, chạm khắc đá, dệt, thêu ren, giấy gió, tranh dân gian, dệt chiếu, quạt giấy, mây tre đan, ngọc trai, làm trống, và có chú
ý phân biệt mặt hàng của làng nghề vì có làng đơn ngh ề, có làng đa nghề Chủ yếu tác giả giới thiệu lịch sử, kinh tế, văn hoá, nghệ thuật, tư tưởng, kỹ thuật, các
bí quyết nghề, thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật của các nghệ nhân và các làng nghề
thủ công truyền thống Việt Nam Trong cuốn “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa” của Dương Bá Phượng
(2001), tác giả đã đề cập khá đầy đủ từ lý luận đến thực trạng của làng nghề Công trình này đã đưa ra những đặc điểm, khái niệm, con đường và điều kiện hình thành làng nghề Tác giả tập trung nghiên cứu vào một số làng nghề nhằm đưa ra các quan điểm, giải pháp và phương hướng nhằm phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với hướng nghiên cứu này,
công trình “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa” của Mai Thế Hởn (2003) và nghiên cứu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội về “Đánh giá thực trạng và đề xuất chính sách phát triển một số làng nghề nông thôn ngoại thành Hà Nội” cũng đề cập đến những vấn
đề có tính lý luận về ngành nghề và làng nghề ở nông thôn, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề Đồng thời, phân tích thực trạng làng nghề và sự tác động của chính sách đến phát triển ngành nghề nông thôn ở ngoại thành Hà Nội giai đoạn 1995 – 2000, trong đó nhấn mạnh các giải pháp chính sách phát triển ngành
nghề Tiếp đến, có thể nhắc đến “Làng nghề Việt Nam và môi trường” của tác
giả Đặng Kim Chi và cộng sự (2005), đây là một công trình nghiên cứu tổng quát về vấn đề làng nghề và thực trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề hiện nay Các tác giả đã nêu rõ lịch sử phát triển, phân loại, các đặc điểm cơ bản làng nghề cũng như hiện trạng kinh tế, xã hội của các làng nghề Việt Nam Bên cạnh
đó, nghiên cứu về “Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làng nghề
Trang 3232
Việt Nam”, các tác giả Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương, Lê Vân
Trình (2005) đã nêu một số nét trong tiến trình triển làng nghề Việt Nam đồng thời đề cập đến những vấn đề an toàn lao động và sức khỏe lao động cho người
làm nghề Đồng thời, nhiều công trình khác của nhiều tác giả như: “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Trần Minh Yến (2003), Làng Đại Bái – Gò đồng Bắc Ninh của Đỗ Thị Hào (1987), “Về hai làng nghề truyền thống Phú Bài và Hiền Lương” của Bùi Thị Tân (1999) cũng đã chỉ ra những đặc điểm chung của làng
nghề Việt Nam trong tiến trình phát triển
Về đề tài nghiên cứu, đề tài khoa học “Hoàn thiện các giải pháp kinh tế tài chính nhằm khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng” được thực hiện bởi Học viện tài chính (2004); “Tiếp tục đổi mới chính sách
và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2010” của Bộ Thương Mại thực hiện năm 2003; “Nghiên cứu về quy hoạch phát triển làng nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa nông thôn ở nước Chủ nghĩa Xã hội Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
hợp tác cùng với tổ chức JICA Nhật Bản (2002), đã điều tra nghiên cứu tổng thể các vấn đề có liên quan đến làng nghề thủ công nước ta về tình hình phân bố, điều kiện kinh tế - xã hội của làng nghề, cung cấp nhiều dữ liệu, dẫn chứng về hiện trạng phát triển làng nghề trong khoảng thời gian 10 năm trở lại
Điểm qua các công trình nghiên cứu về làng nghề và phát triển làng nghề, các tác giả đã cung cấp những kiến thức chung như khái niệm, lịch sử phát triển cho đến các nội dung cụ thể về đặc điểm, đặc trưng hay thực trạng sản xuất
và xu hướng phát triển của làng nghề Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu trong mảng nội dung này có sự quan tâm khá nhiều đến vấn đề phát triển làng nghề, đặc biệt là vấn đề phát triển bền vững Các đề tài đã gợi mở những vấn đề chính liên quan đến phát triển làng nghề bền vững đó là vấn đề môi trường, vấn
Trang 33Bàn về những yếu tố hình thành nên tính cộng đồng trong tiến trình lịch
sử có thể điểm qua “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do Trần Quốc Vƣợng chủ biên, các tác giả cho rằng, từ xa xưa con người Việt Nam có tính cá nhân trên nền tảng tiểu nông nhưng do tư tư ởng công xã phương Đông bao trùm nên vai trò cá nhân không được phát huy và cá nhân luôn luôn được đặt trong và dưới cộng đồng [91, tr 52]; trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm nhận định rằng “Sông nước đã để lại một dấu ấn quan trọng trong tinh thần văn hoá khu vực này Đây là một hằng số địa lý rất quan trọng mà chính nó đã tạo nên nét độc đáo của loại hình văn hoá nông nghiệp lúa nước; mà đặc trưng của loại hình văn hoá này là lối sống trọng tình, coi trọng cộng đồng, tập thể” [77, tr 133] Cùng xuất phát từ điều kiện khí hậu, địa lý của Việt Nam, “Tâm lý người Việt Nam trong lịch sử và vài “Hằng số” của nó” Phan Ngọc nhận định rằng: người Việt Nam là những người của một dân tộc đắp đê Người Việt Nam xuống đồng bằng từ rất sớm, nhưng điều kiện khí hậu không thuận lợi, quanh năm bão
lũ nên muốn sống được thì cần phải đắp đê và giữ đê, muốn đắp được đê thì cần phải có sự thống nhất của chính quyền kết hợp với lao động tự nguyện của các công xã và yếu tố đê điều đã tạo nên tình đoàn kết, tính cộng đồng của người
Trang 3434
Việt Nam [67] Yếu tố lịch sử cũng được đề cập, Việt Nam có lịch sử dày đặc
những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và đó là một trong những yếu tố quan
trọng tạo nên tính cộng đồng của người Việt Nam Theo Hà Văn Tấn trong “Về
sự hình thành bản sắc dân tộc Việt Nam”, để chống lại sự xâm lăng, chống đồng
hoá, người Việt Nam phải cố kết lại với phương thức chủ yếu là duy trì các yếu
tố cộng đồng có nguồn gốc nguyên thuỷ mà đáng nhẽ nó phải tan rã theo quy luật [75] Ở đây, ý thức cộng đồng của người Việt là cơ sở hình thành và phát triển thành chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc
Bên cạnh những nghiên cứu bàn về tính cộng đồng trong lịch sử, còn có những nghiên cứu về làng Việt đề cập đến quan hệ cộng đồng và cá nhân như là một quan hệ tồn tại lâu đời và có giá trị đặc biệt Nghiên cứu của Phan Đại Doãn
về “Làng - xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế - văn hóa – xã hội” đã chỉ ra nhà
nước phong kiến Việt Nam không quản lý trực tiếp người dân mà quản lý họ thông qua tổ chức cộng đồng làng – xã [19] Chính đặc điểm cai trị này của chế
độ phong kiến đã củng cố thêm vị thế, vai trò tự quản của cộng đồng; kiềm chế
tự do cá nhân, thậm chí trói buộc con người trong một hệ thống tôn ty trật tự cộng đồng hết sức nghiêm ngặt: Nước – Làng – Nhà Tác giả Đỗ Long với
“Tâm lý cộng đồng làng và di sản” và “Quan hệ cộng đồng và cá nhân trong tâm lý nông dân” đã đưa ra những luận điểm về quan hệ cộng đồng và cá nhân ở
nông thôn, tác giả vẫn đi đến khẳng định tính cộng đồng luôn mang tính chất quyết định trong quá trình phát triển Tuy nhiên, đây là hai công trình thiên về nghiên cứu tâm lý nên dung lượng bàn về mối quan hệ cá nhân và cộng đồng nói
chung trong phát triển làng là chưa nhiều và chưa đầy đủ [61] Công trình “Quan
hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng” của hai tác giả Mai Văn Hai và Phan Đại
Doãn cũng có đề cập đến quan hệ cộng đồng và cá nhân thông qua quá trình xem xét sự phát triển quan hệ dòng họ trong các làng ở vùng châu thổ sông Hồng Trong nghiên cứu này, dòng họ được xem xét như một cộng đồng và được xem xét trong các khía cạnh kinh tế, tổ chức làng - xã và sinh hoạt văn hóa – xã hội
Trang 35sâu vào mối quan hệ cá nhân đối với cộng đồng khi đề cập vấn đề quyền lực gia trưởng trong hộ gia đình, vị trí của người phụ nữ trong hộ gia đình hoặc vị trí của con cả, con thứ, con trai, con gái trong gia đình… Đồng thời, tác giả cũng
đề cao vai trò của cộng đồng khi đặt trong bối cảnh tái cấu trúc các quan hệ làng
– xã [84]; “Xã hội học về một xã ở Việt Nam” của Francois Houtart và
Geneviève Lemercinier là một nghiên cứu tổng quan về làng Hải Vân – một làng
ở Bắc Bộ, trên nhiều khía cạnh được đề cập, hai tác giả này cũng đã đưa ra những miêu tả thú vị về mối quan hệ cộng đồng và cá nhân thông qua việc tìm hiểu cấu trúc gia đình, sự biến đổi của các quan hệ xã hội, quá trình thay đổi văn hóa làng và sự biến chuyển trong đời sống tôn giáo của nhóm giáo dân Một
công trình khác của nhà dân tộc học Diệp Đình Hoa “Người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ” cũng luận bàn khá sâu về quan hệ cộng đồng và cá nhân trong phát
triển làng Bắc Bộ, công trình đã đưa ra những nhận định đề cao tính cộng đồng ở
nông thôn Việt Nam là bất di bất dịch, tinh thần đoàn kết và cố kết đã gắn những người nông dân lại với nhau, gắn họ với làng - xã và được coi là nhu cầu, lẽ sống, tình cảm sâu sắc, một nghĩa vụ thiêng liêng [39]
Ngoài các sách chuyên khảo, tham khảo, còn có những bài viết, bài báo khoa học bàn về quan hệ cộng đồng và cá nhân trong phát triển làng ở Việt Nam Mặc dù không đề cập đến cụ thể và xem đó như là một đối tượng nghiên cứu nhưng các bài viết này phần nào đó xem mối quan hệ cộng đồng và cá nhân là khía cạnh không thể tách rời khi nghiên cứu về làng Lương Hồng Quang với bài
Trang 36Lệ với “Làng và quan hệ dòng họ của người Việt ở Nam Bộ” chỉ ra những khác
biệt trong quan hệ dòng họ giữa hai miền Nam Bắc, từ đó dẫn đến sự khác biệt
vai trò của mỗi cá nhân trong quan hệ dòng họ Tác giả cho rằng, ý thức độc lập của mỗi cá nhân trong dòng họ ở Nam Bộ cao hơn bởi vì nguồn gốc của các dòng họ ở Nam Bộ là do công cuộc khai hoang, mở đất mà thành [59, tr 340].Bài viết “Giúp đỡ và tương trợ trong cộng đồng làng quê ở miền Bắc Việt Nam: quan hệ giữa tình đoàn kết và sự phụ thuộc” của Olivier Tessier thông qua
miêu tả những hệ thống giúp đỡ, những mạng lưới giúp đỡ và tính chất của nó,
tác giả đã chỉ ra rằng chính những hoạt động này làm tăng thêm sự cố kết cộng đồng trong làng quê Việt ở miền Bắc [69] Tác giả Lương Văn Hy với một loạt bài khảo về “Quà và vốn xã hội ở hai cộng đồng nông thôn Việt Nam” cho thấy
cái nhìn bao quát về những đặc điểm giống và khác nhau giữa hai làng Việt ở miền Bắc và miền Nam thông qua quá trình tìm hiểu sâu về dòng quà tặng và vốn xã hội Tuy không đề cập trực tiếp đến mối quan hệ cá nhân và cộng đồng nhưng ẩn trong nội dung nghiên cứu, mối quan hệ này được thể hiện khá rõ nét với quá trình xây dựng mạng lưới xã hội, quà biếu hiếu hỉ hay quà biếu cá nhân
[53] Bên cạnh đó, chuyên đề “Mối quan hệ cộng đồng và cá nhân – Các giá trị truyền thống và những thách thức trước xã hội hiện đại” của hai tác giả Tô Duy
Hợp và Nguyễn Thị Thu Hoài đã đề cập sâu sắc đến mối quan hệ giữa cặp đôi cộng đồng và cá nhân Từ hướng tiếp cận xã hội học văn hóa, thông qua quá trình phân tích và tổng hợp tài liệu sẵn có, hai tác giả đã góp phần làm rõ khái niệm và lý thuyết về quan hệ cộng đồng và cá nhân; đưa ra đặc điểm của mối quan hệ cộng đồng và cá nhân trong truyền thống văn hóa Việt Nam; đánh giá thực trạng đổi mới (từ 1986 đến nay) và bàn về cơ hội cũng như những thách
Trang 3737
thức của quá trình chuyển đổi hệ giá trị cộng đồng và cá nhân từ truyền thống đến hiện đại và dự báo triển vọng đổi mới tiếp tục mối quan hệ này với tầm nhìn đến 2020 [45] Gần đây nhất là những bài viết bàn về vấn đề bản sắc làng Việt trong bối cảnh toàn cầu hóa cùng câu chuyện còn hay mất về tính cộng đồng trong làng Việt Có thể kể đến bài viết của Nguyễn Tuấn Anh và Annuska Derks
“Toàn cầu hóa và bản sắc làng Việt ở miền Bắc” trong khuôn khổ đề tài “Toàn
cầu hóa và bản sắc làng Việt” do Quỹ Phát triển Công nghệ Quốc gia tài trợ [1]
Có thể nhận thấy rằng, số lượng công trình nghiên cứu bàn về mối quan
hệ cộng đồng và cá nhân trong phát triển làng Việt là khá lớn Tuy vậy, số lượng những nghiên cứu đề cập trực tiếp hoặc xem mối quan hệ cộng đồng và cá nhân như là đối tượng nghiên cứu chính hầu như chưa xuất hiện Hầu hết, những công trình đều chỉ xem mối quan hệ này như là một khía cạnh cần phải có khi tìm hiểu
đề cập đến mối quan hệ cộng đồng và cá nhân trong phát triển làng nghề còn ít, chưa chuyên sâu Đầu tiên, có thể kể đến công trình nghiên cứu thiên về môi
trường ở làng nghề nhưng có bàn đến vai trò của tính cộng đồng “Tính cộng đồng và xung đột môi trường tại khu vực làng nghề ở đồng bằng sông Hồng, thực trạng và xu hướng biến đổi” của tác giả Đặng Đình Long và Đinh Thị Bích
Thủy Nghiên cứu đã đề cập đến tình trạng xung đột môi trường hiện nay tại các làng nghề Việt Nam, nhất là khu vực Đồng bằng sông Hồng Các tác giả đã nêu
cơ sở lý luận của việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tính cộng đồng với xung đột môi trường tại khu vực nông thôn Đồng bằng sông Hồng và đã đi đến những kết
luận khá rõ ràng có liên quan như: chất lượng môi trường tại các làng nghề hiện
Trang 3838
nay là rất xấu; nhận thức đối với việc bảo vệ môi trường của cộng đồng còn hạn chế; tâm lý phổ biến của chính quyền và cộng đồng trước thực trạng ô nhiễm là sự trông chờ vào các cấp cao hơn, chưa có ý thức tự giác; mô hình ứng xử cơ bản của người dân đối với vấn đề môi trường là không biết làm gì và không có những hành
vi cụ thể để bảo vệ môi trường…[60].Nghiên cứu đề cập đến vai trò của cộng đồng
trong quá trình xử lý môi trường của làng nghề là chưa cao Qua đó, có thể thấy công trình vẫn nhìn nhận tính cộng đồng trong làng nghề là ưu trội hơn Tính cộng đồng vẫn mang tính chất quyết định sự phát triển hưng thịnh của làng nghề
Ngoài nghiên cứu kể trên, có thể điểm đến một vài nghiên cứu sâu chuyên
về xã hội học khảo về làng nghề và có quan tâm đến mối quan hệ giữa cộng đồng
và cá nhân như công trình “Ninh Hiệp truyền thống và phát triển” và “Tam Sơn truyền thống và hiện đại” do Tô Duy Hợp chủ biên Trong hai công trình này, các
tác giả đã cung cấp một tổng quan đầy đủ về hai làng nghề Ninh Hiệp và Tam Sơn
Thông qua những bàn luận về năng lực thị trường trong làng nghề, hay vai trò của người nữ thương nhân, các tác giả đã phần nào cho thấy vị trí của cá nhân trong mối quan hệ cộng đồng và cá nhân đối với phát triển làng nghề [41] Cụ thể, mỗi thời đại và môi trường xã hội sẽ sản sinh ra một kiểu người đặc trưng cho xã hội và thời đại đó Sự hình thành các nhân vật như là đại diện cho mô hình văn hóa là sự kết tinh của truyền thống địa phương, của đặc trưng kinh tế, thể hiện vai trò của họ trong việc đóng góp, tạo dựng diện mạo xã hội [41] Bên cạnh việc khẳng định vai
trò cá nhân trong phát triển làng nghề, tác giả cũng chú trọng đến truyền thống và
tính cộng đồng tạo nên bản sắc làng nghề thông qua truyền thống tình làng, nghĩa xóm; thực hành văn hóa theo khuôn mẫu truyền thống…[40] Một công trình khác
có thể điểm đến là “Chợ quê trong quá trình chuyển đổi” của Lê Thị Mai, qua khảo
sát ba làng Bắc Bộ (làng Ninh Hiệp, làng Hữu Bằng và làng Thổ Tang) đã cho thấy cái nhìn rõ nét về mối quan hệ giữa cộng đồng và cá nhân trong phát triển làng nghề Dấu ấn đậm nét nhất trong công trình này đó là tác giả đã đưa ra được những lập luận, dẫn chứng và số liệu minh chứng cho vai trò của cá nhân trong phát triển
Trang 3939
làng nghề thông qua quá trình trao đổi, buôn bán ở chợ quê trong bối cảnh chuyển đổi hiện đại Lê Thị Mai đã chứng minh rằng quá trình sản xuất – kinh doanh phát triển hàng hóa trong làng đã phá vỡ tính biệt lập kinh tế (tính đóng kín của làng Việt
ở Bắc Bộ), phá vỡ những giá trị văn hóa và quan trọng hơn hết là phá vỡ tính cộng đồng làng - xã Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu cũng chỉ ra quan hệ thị trường
đã đem lại những chuyển biến về tâm lý, thay đổi những giá trị xã hội, vai trò của cá nhân được đề cao trong làng nghề thương nghiệp [65]
Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu, có thể thấy được sự khác biệt giữa mối quan hệ cộng đồng và cá nhân trong phát triển làng và phát triển làng nghề Nếu như tính cộng đồng được đề cập đến như là bản tính quyết định trong sự phát triển của làng Việt thì ngược lại, trong phát triển làng nghề vai trò của cá nhân dường như được đặt nặng hơn, hoặc chiếm vị trí quan trọng hơn trong tiến trình phát triển
Tuy vậy, những nghiên cứu được điểm qua ở trên vẫn chưa bàn đến một cách đầy đủ về mối quan hệ cộng đồng và cá nhân như là đối tượng nghiên cứu
cụ thể Mặt khác, những nghiên cứu về làng nghề chưa thật sự có những công trình nghiên cứu sâu về mối quan hệ này Đây chính là khoảng trống để đề tài luận văn có thể bổ sung và làm phong phú thêm cho hướng nghiên cứu này của
xã hội học nông thôn nói riêng, khoa học xã hội và nhân văn nói chung
1.4 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu
1.4.1 Làng gốm Bát Tràng
- Giai đoạn từ thế kỷ XIV – XV [71]
Theo sử biên niên, có thể xem thế kỷ XIV – XV là thời gian hình thành
làng gốm Bát Tràng Đại Việt sử ký toàn thư chép "Nhâm Thìn, Thiệu Phong năm thứ 12 (1352) mùa thu, tháng 7, nước lớn tràn ngập, vỡ đê xã Bát, Khối, lúa má chìm ngập Khoái Châu, Hồng Châu và Thuận An bị hại nhất" Xã Bát là
xã Bát Tràng, xã Khối là xã Thổ Khối, hai xã ven đê bên tả ngạn sông Nhị, tức sông Hồng ngày nay Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư thì năm 1376, trong một
Trang 4040
cuộc Nam chinh, đoàn chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông xuất phát từ Thăng
Long xuôi theo sông Nhị (sông Hồng) đi qua "bến sông xã Bát" tức bến sông
Hồng thuộc xã Bát Tràng
Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép "Làng Bát Tràng làm đồ bát chén" và còn có đoạn "Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Câu thuộc huyện Văn Giang Hai làng ấy cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là 70 bộ bát đĩa, 200 tấm vải thâm" Nhưng theo những câu chuyện thu thập được ở Bát Tràng thì làng gốm
này có thể ra đời sớm hơn Tại Bát Tràng đến nay vẫn lưu truyền những huyền thoại về nguồn gốc của nghề gốm như sau:
Vào thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều (hay Cảo), Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) được cử đi sứ Bắc Tống Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu (Quảng Đông) (hiện nay là Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) gặp bão, phải nghỉ lại
Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê hương Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men sắc màu vàng đỏ Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nước men màu đỏ màu vàng thẫm Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng với ít nhiều sai biệt về tình tiết Nếu đúng vậy, nghề gốm Bát Tràng đã có từ thời nhà Lý, ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127
Theo ký ức và tục lệ dân gian thì trong số các dòng họ ở Bát Tràng, có dòng họ Nguyễn Ninh Tràng Có ý kiến cho rằng Nguyễn Ninh Tràng là họ
Nguyễn ở trường Vĩnh Ninh, một lò gốm ở Thanh Hoá, nhưng chưa có tư liệu
xác nhận Gia phả một số dòng họ ở Bát Tràng như họ Lê, Vương, Phạm, Nguyễn ghi nhận rằng tổ tiên xưa từ Bồ Bát di cư ra đây (Bồ Bát là Bồ Xuyên
và Bạch Bát) Vào thời Hậu Lê khoảng cuối thế kỉ thứ XIV đến đầu thế kỉ XV và đầu thời Nguyễn, xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện