1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý môi trường trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với công đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu

86 529 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 749,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ THU THẢO QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN CƠ SỞ NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU THẢO

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN CƠ SỞ NHẬN DIỆN

XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Bạc Liêu, 2013

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU THẢO

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN CƠ SỞ NHẬN DIỆN

XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ CAO ĐÀM

Bạc Liêu, 2013

Trang 3

3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 7

PHẦN MỞ ĐẦU 8

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Lý do nghiên cứu 8

2 Lịch sử nghiên cứu 9

3 Mục tiêu của đề tài 12

4 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Mẫu khảo sát 12

6 Câu hỏi nghiên cứu 12

7 Giả thuyết nghiên cứu 12

8 Phương pháp nghiên cứu 13

9 Kết cấu của luận văn 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG VỚI XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG 15

1.1 Các khái niệm 15

1.1.1 Khái niệm về môi trường 15

1.1.2 Vấn đề môi trường 17

1.1.3 Ô nhiễm môi trường 19

1.1.4 Xung đột môi trường 20

1.1.5 Khái niệm về doanh nghiệp, doanh nghiệp thủy sản 26

1.1.6 Khái niệm về cộng đồng dân cư 28

1.1.7 Khái niệm quản lý 28

1.1.8 Khái niệm quản lý môi trường 29

1.2 Quan hệ giữa xung đột môi trường với vấn đề môi trường và quản lý môi trường 30

* Kết luận chương I 33

CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU 34

2.1 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế - Xã hội tỉnh Bạc Liêu 34

2.1.1 Diễn biến chất lượng không khí, tiếng ồn tại các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ 36

2.1.2 Diễn biến nước thải công nghiệp 37

2.2 Tổng quan về hoạt động chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 38

Trang 4

4

2.2.1 Hoạt động của ngành chế biến thủy sản 38

2.2.2 Các nhân tố của ngành chế biến thủy sản ảnh hưởng tới môi trường 41

2.2.3 Hoạt động của ngành chế biến thủy sản tại Bạc Liêu 44

2.2.4 Cơ sở vật chất cho hoạt động bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 46

2.3 Các dạng xung đột và nguyên nhân từ vấn đề môi trường 50

2.3.1 Các dạng xung đột môi trường 50

2.3.2 Các xung đột môi trường trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 52

2.3.2 Xung đột giữa các doanh nghiệp thủy sản với những người dân sống xung quanh 56

2.3.3 Xung đột giữa các doanh nghiệp thủy sản với các hộ nuôi trồng thủy sản 60

2.3.4 Xung đột giữa các doanh nghiệp thủy sản với chính quyền các cấp và các cơ quan quản lý môi trường 62

2.3.5 Xung đột giữa các cơ quan quản lý môi trường 63

2.3.6 Các vấn đề môi trường thông qua nhận diện xung đột môi trường 64

2.4 Đánh giá ô nhiễm môi trường 66

* Kết luận Chương 2 67

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN CƠ SỞ NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG 69

3.1 Đặt vấn đề 69

3.2 Cách thức nhận diện xung đột môi trường 71

3.2.1 Quan sát xã hội 71

3.2.2 Nghiên cứu đơn thư khiếu tố 71

3.2.3 Phỏng vấn 72

3.3 Đánh giá vai trò cơ quan quản lý trong việc nhận diện xung đột môi trường 72

3.3.1 Hệ thống tổ chức quản lý môi trường tỉnh Bạc Liêu 72

3.3.2 Kinh nghiệm thực tiễn của tỉnh trong việc quản lý môi trường thông qua nhận diện xung đột môi trường 76

3.3.3 Đề xuất biện pháp quản lý môi trường (từ tổng kết thực tiễn) 80

KẾT LUẬN 82

KHUYẾN NGHỊ 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 5

cô phụ trách khoa Khoa học quản lý và tất cả các Thầy cô giảng dạy lớp Cao

học Quản lý Khoa học và công nghệ đã tận tâm truyền đạt kiến thức trong

suốt thời gian của khóa học;

Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn Thầy PGS,TS Vũ Cao Đàm, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Bạc Liêu, Phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Bạc Liêu đã cung cấp những thông tin, số liệu thực tế để tác giả có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này Xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

QCVN: Quy chuẩn Việt Nam

TN&MT: Tài nguyên và Môi trường

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 7

7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế của tỉnh Bạc Liêu (Đơn vị: Triệu đồng) 35

Bảng 2.2 Kết quả phân tích chất lượng nước thải CBTS tại Bạc Liêu 38

Bảng 2.3 Phân bố các doanh nghiệp CBTS trên địa bàn tỉnh 53

Bảng 2.4 Thống kê tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại về môi trường 54

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1 Bản đồ ranh giới tỉnh Bạc Liêu 34

Hình 2.2 GDP theo ngành kinh tế 36

Hình 2.3 Quy trình chế biến thủy sản tiêu biểu 43

Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống tổ chức bảo vệ môi trường 74

Trang 8

sẽ phải gánh chịu Vì vậy, việc bảo vệ môi trường hiện đang là một trong những vấn đề quan tâm mang tính toàn cầu của nhân loại

Tại Việt Nam, trong những năm qua đã có sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội Chỉ số tăng trưởng kinh tế không ngừng nâng cao, trong khi các chủ trương chính sách để giải quyết các vấn đề môi trường chưa hoàn thiện, do đó không đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Nhìn chung vấn đề môi trường một số nơi ở nước ta đã trở nên bức xúc đến mức báo động

Bạc Liêu là một tỉnh nằm ở phía Đông bán đảo Cà Mau, với hơn 56km

bờ biển, Bạc Liêu có tiềm năng và thế mạnh về nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Toàn tỉnh có hơn 40 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản và rất nhiều cơ sở thu mua, chế biến thủy sản Bên cạnh sự phát triển ngành công nghiệp thế mạnh này thì vấn đề ô nhiễm nguồn nước ở Bạc Liêu và ảnh hưởng của nó đối với cuộc sống sinh hoạt, cũng như hoạt động sản xuất nông nghiệp của cộng đồng dân cư trên địa bàn đã đến mức đáng lo ngại Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng trên là do phần lớn các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh đều vi phạm về xử lý nước thải Ngoài các doanh nghiệp lớn có đầu tư công nghệ tương đối hiện đại, còn lại một số doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh xây dựng một cách tự phát, không có thiết

kế hệ thống xử lý nước thải, một số khác thì có hệ thống xử lý nước thải nhưng chỉ đối phó với đoàn kiểm tra chứ ít vận hành xử lý nước thải phục vụ sản xuất, bảo vệ môi trường

Trang 9

9

Các doanh nghiệp thủy sản vì lý do lợi nhuận đã không quan tâm đến việc bảo vệ môi trường , gây ô nhiễm, làm thiệt hại không nhỏ đến đời sống sản xuất của cộng đồng dân cư, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân trong khu vực Từ đây, xuất hiện mâu thuẫn, xung đột môi trường giữa cộng đồng dân cư đối với các doanh nghiệp thủy sản Sự xung đột môi trường ấy đến lúc phải có sự can thiệp của các cấp chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước

để tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề xức xúc đó Trong phạm vi ngành

học của mình, tôi mạnh dạn đề xuất hướng nghiên cứu: “quản lý môi trường

trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu”

Ý nghĩa lý thuyết của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm bổ

sung lý thuyết về xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với cộng đồng dân cư; đánh giá thực trạng xung đột và thực trạng các vấn đề môi trường, từ đó nhận dạng các điểm yếu cần khắc phục trong công tác quản lý môi trường tại các doanh nghiệp

Ý nghĩa thực tế: Thông qua việc nhận dạng xung đột môi trường, chỉ ra

những vấn đề về môi trường từ đó cung cấp những luận cứ khoa học cho các nhà quản lý và các cấp chính quyền trong việc hoạch định chính sách quản lý môi trường, nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

2 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu về xung đột môi trường là nội dung được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước quan tâm đến Đã có nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều châu lục trên thế giới như quan tâm như Mỹ, Pháp, Thụy Điển, Canada…Những nghiên cứu về lý thuyết cũng như thực nghiệm đã được thực hiện trong những năm gần đây chứng tỏ vấn đề này đang rất được thế giới quan tâm Bên cạnh đó cũng đã hình thành các tổ chức tư vấn, giải quyết các vấn đề về tranh chấp môi trường tại các nước trên thế giới như: Hội đồng chất lượng môi trường, viện giải quyết các tranh chấp môi trường tại Hoa Kỳ, ở Nhật Bản cũng có hiệp hội liên kết giải quyết tranh chấp môi trường… Các tổ

Trang 10

Năm 1990, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên & Môi trường thộc đại học Australia đã tổ chức một khóa đào tạo về quản lý xung đột môi trường trên cơ sở những nghiên cứu điển hình quản lý môi trường ở Australia Xung đột môi trường là một vấn đề bức xúc và đang diễn ra rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới

Năm 1993, trung tâm đào tạo thường xuyên của học viện Công nghệ Châu Á (AIT) đã đưa nội dung xung đột môi trường vào chương trình đào tạo chính thức trong khóa học về môi trường Trong chương trình này, người ta

đề cập đến khái niệm và nguyên nhân xung đột môi trường, đồng thời đưa ra những lý thuyết về các phương thức giải quyết xung đột môi trường như một

bộ phận quan trọng của chính sách quản lý môi trường

Ở Việt Nam, vấn đề tranh chấp môi trường và xung đột môi trường ngày càng được nhiều người quan tâm Những đề tài về xung đột môi trường được thực hiện trong nước như:

Lê Thanh Bình (2000)“Chính sách quản lý môi trường đối với việc giải quyết xung đột môi trường” Nghiên cứu này quan tâm chủ yếu đến việc tìm

cơ sở lý luận cho các luận cứ khoa học mang tính lý thuyết cho việc giải quyết xung đột môi trường

Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006) “Giải pháp quản lý môi trường thông qua việc nhận dạng xung đột môi trường giữa cơ sở xử lý rác thải với cộng

Trang 11

11

đồng dân cư sống xung quanh (Nghiên cứu trường hợp tại bãi rác Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội)” tác giả quan tâm đến vấn đề môi trường, xung đột môi trường tại bãi rác Nam Sơn Trong nghiên cứu tác giả tập trung chủ yếu vào các biện pháp giải quyết xung đột môi trường liên quan đến bãi rác, cơ chế xử

lý, thu gom rác, và tiêu chuẩn để có một bãi rác không ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân

Nguyễn Đắc Dương (2009) “Đề xuất chính sách giảm thiểu ô nhiễm môi trường thông qua việc nhận dạng và giải quyết xung đột môi trường giữa các cộng đồng dân cư trong khu vực sông Nhuệ, sông Đáy (đoạn qua tỉnh Hà Nam)” Tác giả đã đưa ra những giải pháp chính sách giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa xung đột môi trường nhằm phục vụ phát triển kinh tế-

xã hội một cách bền vững

Nguyễn Xuân Hoa (2010) “Nhận dạng vấn đề môi trường thông qua nhận diện xung đột môi trường giữa các cơ sở sản xuất chế biến kinh doanh hải sản với cộng đồng dân cư sống xung quanh” Đề tài đi sâu nghiên cứu các xung đột giữa con người với môi trường tự nhiên, giữa các cơ sở sản xuất gây

ô nhiễm với cộng đồng dân cư, xem xét vấn đề trong mối quan hệ với các cơ quan quản lý môi trường, chính quyền địa phương để đề xuất phương thức quản lý môi trường

Vũ Hải Trang (2010) ”Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lí xung đột môi trường do tác động của rác thải công nghệ” Nghiên cứu chỉ ra các rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc xử lý rác thải công nghệ (E-Waste)

Các nghiên cứu trên đã mô tả được thực trạng, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và chính sách quản lý môi trường thông qua việc giải quyết xung đột môi trường ở một số tỉnh thành phố khác Tuy nhiên đối với tỉnh Bạc Liêu, vấn đề này chưa từng được quan tâm, tác giả muốn thực hiện nghiên cứu này để phân tích rõ hơn về thực trạng những xung đột môi trường ở Bạc

Trang 12

12

Liêu, mối quan hệ giữa những xung đột môi trường và vấn đề môi trường để

có những đề xuất quản lý môi trường tốt hơn

3 Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thuỷ sản với cộng đồng dân cư tại Bạc Liêu để phát hiện ra các vấn đề môi trường,

từ đó đề xuất biện pháp quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh

Âu Vững do hệ thống sự lý nước thải của công ty này không đúng với thiết kế

đã được phê duyệt, gây ô nhiễm nghiêm trọng, Cơ sở sản xuất của Ông Cái Trường Giang, bà Cái Thị Phương, có nhiều đơn thưa kiện Tại huyện Hòa Bình, quan tâm trường hợp công ty Anh Tuấn chế biến vỏ đầu tôm vừa bị đình chỉ hoạt động do ô nhiễm môi trường Nguồn thông tin để khảo sát được lấy từ các cơ quan quản lý môi trường đó là: Phòng Cảnh sát môi trường, Sở

TN & MT tỉnh và phòng tài nguyên môi trường huyện Giá Rai và người dân tại các khu vực khảo sát

6 Câu hỏi nghiên cứu

Làm cách nào để nhận ra các vấn đề môi trường thông qua xung đột môi trường để từ đó xây dựng biện pháp quản lý môi trường một cách hiệu quả trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Xung đột môi trường xảy ra giữa các doanh nghiệp thủy sản với công đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu diễn ra dưới nhiều hình thức Nguyên

Trang 13

13

nhân là do các doanh nghiệp chế biến thủy sản trong quá trình sản xuất đã xả các chất thải gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống của công đồng dân cư sống xung quanh

- Từ các nguyên nhân của xung đột ta có thể nhận diện được vấn đề môi trường và đề xuất các biện pháp quản lý môi trường một cách hiệu quả hơn

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được sử dụng trong quá trình thu

thập, tìm kiếm các cơ sở lý luận; tổng hợp và phân tích các nguồn tư liệu, số liệu sẵn có về thực trạng xung đột môi tường ở Bạc Liêu, ngoài ra, tác giả còn

sử dụng những thông tin thu được từ sách, báo, các văn kiện, tài liệu của địa phương và các tư liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Tác giả trực tiếp đọc và phân tích các đơn thư khiếu kiện của người dân gửi đến cơ quan chức năng thông qua nội dung đơn thư, có thể đánh giá mức

độ căng thẳng trong xung đột giữa công đồng dân cư đối với doanh nghiệp Nghiên cứu các số liệu trong các đợt khảo sát của sở TN&MT để nắm được các thông số về nồng độ các chất gây ô nhiễm có trong nước thải của từng doanh nghiệp thủy sản vượt quá tiêu chuẩn quốc gia quy định, qua đó đánh giá mức độ xung đột chức năng của môi trường

- Phương pháp nghiên cứu hiện trường: là các phương pháp sử dụng

trong quá trình khảo sát hiện trường Trong phương pháp này, tác giả đã tiến hành khảo sát và quan sát thực tế tình hình ô nhiễm môi trường tại địa bàn nghiên cứu Dựa trên những thông tin thu thập được ban đầu về các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, tác giả đã trực tiếp đến tiếp xúc với người dân nơi xảy ra ô nhiễm để nắm được mức độ ô nhiễm và nguyên nhân dẫn tới xung đột

- Phương pháp phỏng vấn : trong phương pháp này sẽ tiến hành phỏng

vấn trực tiếp một số đối tượng về những vấn đề liên quan

Trang 14

14

- Các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp: được sử dụng trong

quá trình tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin liên quan tới đối tượng nghiên cứu của đề tài

9 Kết cấu của luận văn

Toàn bộ nội dung của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị sẽ được trình bày trong 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa vấn đề môi trường với xung đột môi trường

- Chương 2: Nhận diện vấn đề môi trường thông qua xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu

Chương 3: Giải pháp quản lý môi trường trường trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu

Trang 15

15

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ MÔI

TRƯỜNG VỚI XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG 1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm về môi trường

Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau khi đưa ra khái niệm về môi trường, có thể kể ra mội vài khái niệm sau đây:

Theo luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì: “Môi trường bao gồm các

yếu tố tự nhiên và vật chất, nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.[12; Điều

3.1]

Còn đối với khái niệm “môi trường” dưới tiếp cận hệ thống, có thể coi

“ Môi trường là tập hợp các phần tử nằm ngoài hệ thống được xem xét và có tương tác với hệ thống được xem xét” [9; Tr.21]

Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội Theo nghĩa hẹp thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các yếu

tố tự nhiên và các yếu tố xã hội liên quan trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người Như vậy, có thể xem môi trường sống của con người bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Môi trường tự nhiên: bao gồm các thành phần của tự nhiên như địa hình, địa chất, đất đai, khí hậu, nước, sinh vật…

Môi trường xã hội: là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người, định hướng hoạt động của con người theo khuôn khổ nhất định, tạo thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác Môi trường xã hội được thể hiện cụ thể bằng các luật lệ, thể chế, quy định

Trang 16

16

Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các yếu tố do con người tạo ra và chịu sự chi phối của con người như: nhà ở, đường xá, các phương tiện đi lại, công viên…

Các loại môi trường trên luôn tồn tại cùng nhau và có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau và có ảnh hưởng lớn đối với sự tồn tại và phát triển của con người.1

Đối với từng cá thể con người cũng như toàn thể nhân loại, môi trường

có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi những chức năng đặc biệt của nó Xét một cách khái quát, nói đến chức năng, tính hữu ích của môi trường, có thể kể đến

ba chức năng chính sau đây:

+ Môi trường là không gian sinh tồn của con người Giống như mọi sinh vật khác, để tồn tại và phát triển về mặt sinh lý, tâm lý và tinh thần con người cần có một không gian sống với những yêu cầu nhất định về chất và lượng của nó Môi trường trước hết chính là không gian sống đó, là yếu tố có ý nghĩa quyết định cho sự tồn tại của con người Đó là một chức năng hết sức quan trọng của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của con người + Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên, kể cả vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho cuộc sống và hoạt động của con người Thiếu đi những yếu tố này, con người khó có thể tiến hành bất kỳ một hoạt động nào cho sự phát triển của chính mình Nói cách khác, thiếu đi những thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên, con người sẽ phải đối mặt với những khó khăn lớn cho

sự phát triển của chính mình

+ Môi trường là nơi chứa đựng và xử lý chất thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình Một điều rất dễ nhận thấy là trong quá trình sinh tồn, con người không chỉ khai thác những nguồn lợi thiên nhiên xung quanh mình mà còn phải thải bỏ rất nhiều loại chất thải khác nhau vào môi trường Môi trường, bằng khả năng tự điều chỉnh vốn có của mình, không chỉ chứa đựng mà còn có thể tự đồng hoá một lượng chất thải nhất định

1 Nguyễn Thị Thanh Thanh, (2012) Xung đột môi trường giữa các nhóm xã hội ở làng trống Đọi Tam, Đọi

Sơn, Duy Tiên, Hà Nam, trang 20

Trang 17

17

để đảm bảo sự cân bằng tự nhiên của chính nó Vì thế, trong một giới hạn nhất định, con người có thể thải bỏ các chất thải vào môi trường mà không làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng không gian sống của mình.[8; Tr.50]

Như vậy, đối với luận văn này tác giả chọn khái niệm môi trường theo chức năng Đây là một trong các tiêu chí để đánh giá xung đột môi trường ngay cả khi xung đột còn tiềm ẩn Dựa trên các tiêu chuẩn quốc gia quy định, khi một trog các chức năng của môi trường bị khai thác quá mức sẽ dẫn đến mất cân bằng về môi trường, chất lượng môi trường không đảm bảo, tài nguyên có thể tái tạo ít hơn lượng tài nguyên đã sử dụng, tài nguyên khai thác lớn hơn lượng thay thế, chất thải ra môi trường lớn hơn lượng chất thải tái sử dụng hoặc phân hủy tự nhiên thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường và xung đột môi trường xảy ra

1.1.2 Vấn đề môi trường

Vấn đề môi trường là những vấn đề liên quan đến môi trường cần được nghiên cứu giải quyết để bảo vệ môi trường, đưa môi trường trở về trạng thái vốn có của nó, có ích cho cuộc sống con người

Cùng với sự phát triển kinh tế -xã hội, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật

và với sự gia tăng dân số là một trong những lý do gây tác động đến môi trường tự nhiên Khi công tác bảo vệ môi trường chưa đáp ứng với sự phát triển kinh tế - xã hội, thì sẽ gây mất cân bằng và ảnh hưởng không tốt đến mội trường, không đảm bảo cho phát triển bền vững

Hiện tại, về môi trường rừng ở Việt nam chưa được cải thiện: Rừng nghèo, rừng tái sinh chiếm 55% tổng diện tích rừng và tình trạng khai thác tràn lan chưa ngăn chặn triệt để, gần đây, các hoạt động trồng rừng được coi trọng, diện tích rừng có tăng lên nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục giảm sút, cháy rừng và thiên tai cũng ảnh hưởng lớn đến tài nguyên này;

Về đất đai: diện tích đất bình quân đầu người thuộc loại thấp nhất, bằng khoảng 1/6 mức bình quân của thế giới, đất đai bị thoái hóa, chất lượng đất không ngừng giảm do xói mòn, rửa trôi, ô nhiễm đất do sử dụng phân hóa học, chất độc do hoạt động sản xuất của con người;

Trang 18

18

Về môi trường nước: do hoạt động kinh tế gia tăng và do công tác quản

lý chưa tốt khiến tài nguyên nước ở Việt nam đang bị sử dụng quá mức và ô nhiễm;

Về không khí: ở miền núi và vùng nông thôn nhìn chung chưa bị ô nhiễm (trừ một số làng nghề và một số nơi gần khu công nghiệp, đường giao thông), còn lại hầu hết các đô thị Việt Nam đều bị ô nhiễm bụi từ các nhà máy, xí nghiệp, khói động cơ do hoạt động giao thông, nhất là các thành phố lớn, ở Miền Nam, điển hình là thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai…

Về độ đa dạng sinh học suy giảm mạnh, số lượng cá thể của các loài giảm mạnh, nhiều loài đã bị tuyệt chủng và nhiều loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt;

Tài nguyên khoáng sản bị khai thác cạn kiệt và sử dụng không hợp lý; Nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên hạn hẹp và khan hiếm

sẽ dẫn đến việc tranh chấp, xung đột môi trường

Chính phủ Việt Nam dưới sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế đã xác định 8 vấn đề môi trường bức bách nhất cần được ưu tiên giải quyết là:

- Nguy cơ mất rừng và tài nguyên rừng đang đe doạ cả nước, và trong thực tế tai hoạ mất rừng và cạn kiệt tài nguyên rừng đã xảy ra ở nhiều vùng, mất rừng là một thảm hoạ quốc gia

- Sự suy thoái nhanh của chất lượng đất và diện tích đất canh tác theo đầu người, việc sử dụng lãng phí tài nguyên đất đang tiếp diễn

- Tài nguyên biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật biển ở ven bờ đã bị suy giảm đáng kể, môi trường biển bắt đầu bị ô nhiễm, trước hết do dầu mỏ

- Tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, các hệ sinh thái v.v đang được sử dụng không hợp lý, dẫn đến sự cạn kiệt và làm nghèo tài nguyên thiên nhiên

- Ô nhiễm môi trường, trước hết là môi trường nước, không khí và đất

đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều lúc đến mức trầm trọng, nhiều vấn đề về vệ sinh môi trường phức tạp đã phát sinh ở các khu vực thành thị, nông thôn

Trang 19

19

- Tác hại của chiến tranh, đặc biệt là các hoá chất độc hại đã và đang gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và con người Việt Nam

- Việc gia tăng quá nhanh dân số cả nước, sự phân bố không đồng đều

và không hợp lý lực lượng lao động giữa các vùng và các ngành khai thác tài nguyên là những vấn đề phức tạp nhất trong quan hệ dân số và môi trường

- Thiếu nhiều cơ sở vật chất - kỹ thuật, cán bộ, luật pháp để giải quyết các vấn đề môi trường, trong khi nhu cầu sử dụng hợp lý tài nguyên không ngừng tăng lên, yêu cầu về cải thiện môi trường và chống ô nhiễm môi trường ngày một lớn và phức tạp.2

1.1.3 Ô nhiễm môi trường

Một trong những vấn đề môi trường đang được quan tâm hiện nay đó chính là vấn đề ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị biến đổi, gây tác hại tới đời sống của con người và các sinh vật khác

Luật bảo vệ môi trường năm 2005 của nước ta định nghĩa: “Ô nhiễm

môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.[12; Điều

3.6]

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thì: “Ô nhiễm môi trường là việc

chuyển các chất thải hoặc các nguyên liệu vào môi trường đến mức có khả năng gây hại cho sức khỏe của con người và sự phát triển của sinh vật hoặc làm giảm chất lượng môi trường sống” 3

Ô nhiễm môi trường nước là hiện tượng nguồn nước nguồn nước bị nhiễm các chất lạ ở thể lỏng, rắn, làm thay đổi tính chất vật lý-hoá học-sinh học của nước theo hướng xấu đi và trở nên độc hại với con người và sinh vật

2

Trang thông tin Tổng cục Môi trường, http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/hoidapmt/Pages, Mục hỏi đáp, cập

nhật ngày 14/09/2009

3 Nguyễn Thị Thanh Thanh, (2012) Xung đột môi trường giữa các nhóm xã hội ở làng trống Đọi Tam, Đọi

Sơn, Duy Tiên, Hà Nam, trang 22

Trang 20

20

Nguồn gốc của sự ô nhiễm nguồn nước có thể là do nước bẩn và rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư, các hộ dân, nước thải công nghiệp của các nhà máy, xí nghiệp, làng nghề, từ phân bón, thuốc trừ sâu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp… Ô nhiễm nước sẽ tác động trực tiếp đến sức khỏe của con người, là nguồn gốc gây ra các loại bệnh đường ruột như tả, lỵ, tiêu chảy, giun sán, các bệnh về da, đồng thời ảnh hưởng xấu đến sự sống của sinh vật

Ô nhiễm không khí: có thể là do nguyên nhân từ tự nhiên như các quá trình phân hủy, thối rữa xác động vật, thực vật nhưng chủ yếu là do quá trình phát triển của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải… và ô nhiễm do các hoạt động khác của con người gây nên.4

1.1.4 Xung đột môi trường

Xung đột là chủ đề quan trọng của nhiều ngành khoa học khác nhau và nhiều học giả nổi tiếng đã viết về chủ đề này như Karl Marx, Max Weber, George Simmel, Rolf Dahrendorf, Lewis Coser Mỗi tác giả đều có cách nhìn nhận khác nhau về xung đột:

Karl Marx (1818-1883) đã đưa ra lý thuyết xung đột giai cấp, theo đó với sự phát triển của phân công lao động và sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ hình thành các giai cấp khác nhau bên trong một xã hội; sự bất bình đẳng của các giai cấp này dựa trên vị thế khác nhau của họ trong quá trình sản xuất của xã hội, nhưng trước hết là chiếm hữu hay không chiễm hữu các phương tiện sản xuất như nguyên liệu, máy móc hay đất đai Nó trở thành lý do cho sự quan tâm khác nhau và đối kháng tới việc nên giữ hay phải thay đổi những dạng thống trị và sở hữu đang tồn tại, nhưng quyền lợi đối kháng này có thể và sẽ thể hiện thành các cuộc đấu tranh giai cấp giữa các giai cấp thống trị và sỡ hữu với giai cấp những người lao động bị loại ra khỏi quyền lực và sỡ hữu Trên nền tảng lý thuyết của Weber, xung đột xã hội có ý nghĩa khác nhau tùy theo chúng dựa trên quyền lợi giai cấp do thị trường môi giới, nhu cầu cách biệt các cộng đồng xã hội hay quyền lợi, quyền lực của các đảng

4 Nguyễn Thị Thanh Thanh, (2012) Xung đột môi trường giữa các nhóm xã hội ở làng trống Đọi Tam, Đọi

Sơn, Duy Tiên, Hà Nam, trang 23

Trang 21

21

phái Weber cho rằng nguồn gốc dẫn đến xung đột xã hội là do bất bình đẳng

về cơ hội xã hội Trong xã hội có nhóm người có uy tín xã hội cao hơn so với nhóm khác, vì thế họ giành được những ưu thế do địa vị xã hội mang lại.Bất bình đẳng về chính trị cụ thể những người giữ quyền hành cao trong thang bậc quản lý xã hội, đảng phái chính trị, cầm quyền chiếm được ưu thế so với đảng phải khác

Tác giả Simmel cho rằng xung đột không chỉ là kết quả của các cấu trúc

xã hội hay những động cơ thiết yếu đối với lịch sử mà nó là một thành tố trung tâm của quá trình xã hội hay nó chính là đối tượng độc lập của việc phân tích xã hội học Theo tác giả này, thực tại xã hội được hình thành bởi các quá trình kết hợp và phân ly giữa các tập thể, cộng đồng, nghề nghiệp, tôn giáo, quê hương.Các quá trình đoàn kết của cộng đồng có xu hướng hợp nhất, còn các quá trình phân ly có bản chất đối kháng Quá trình thống nhất và phân

ly, hợp tác và đối kháng là quá trình tất yếu của đời sống xã hội Tuy nhiên giải thích của Simmel về xung đột xã hội chủ yếu tập trung giải thích xung đột ở cấp độ cá nhân, coi cộng đồng là sự kết hợp của nhiều cá nhân do vậy xung đột các cá nhân tất yếu sẽ dẫn đến xung đột cộng đồng

Xung đột (Confict) là trạng thái đối lập hay thù địch, sự đấu tranh; conflict cũng có nghĩa là sự mâu thuẫn, bất đồng, bất hòa nghiêm trọng, tranh cãi, tranh luận, sự đối lập, sự khác biệt, bất đồng, không tương hợp Như vậy,

từ xung đột ở đây được hiểu rộng hơn chứ không phải xung đột chỉ là sự đấu tranh, có đe dọa, vũ lực.5

Xung đột môi trường là một dạng của xung đột xã hội, khi quyền lợi của một nhóm này và nhóm người kia đối lập với nhau Theo Gunter Endruweit-

nhà xã hội học người Đức cho rằng: “ Xung đột xã hội là các quan hệ và quá

trình xã hội mà ở đó có thể phân biệt hai hay nhiều cá nhân hay nhóm có quyền lợi đối lập nhau trong những cách giải quyết vấn đề nhất định” [8;

Tr.82]

5 Xem thêm Nguyễn Thị Thanh Thanh, (2012) Xung đột môi trường giữa các nhóm xã hội ở làng trống Đọi

Tam, Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam, trang 23

Trang 22

22

Với khái niệm xung đột xã hội trên, xung đột môi trường là một trường hợp của xung đột xã hội trong quản lý, sử dụng tài nguyên và môi trường Bất kỳ một xung đột môi trường nào cũng xuất phát từ vấn đề quyền lợi và sự xuất hiện các đương sự chống đối

Có nhiều định nghĩa khác nhau về xung đột môi trường, tác giả Lê Thanh Bình trong nghiên cứu của mình đã dẫn ra ba cách hiểu xung đột môi trường của viện Khoa học Công nghệ Châu Á – AIT như sau:

- Xung đột môi trường là xung đột quyền lợi của cộng đồng, vị trí nghề nghiệp và ưu tiên chính trị; là mâu thuẫn giữa hiện tại và tương lai; giữa bảo tồn và phát triển, kết quả của xung đột môi trường có thể là xây dựng hoặc phá hủy phụ thuộc vào quản lý xung đột

- Xung đột môi trường là kết quả của việc sử dụng tài nguyên do một nhóm người gây bất lợi cho nhóm khác

- Xung đột môi trường là kết quả của việc triển khai quá mức hoặc lạm dụng tài nguyên thiên nhiên [15;Tr.24]

- Một số nhà xã hội học môi trường lại cho rằng: “ Xung đột môi trường

là xung đột (mâu thuẫn) về quyền lợi giữa các nhóm hội khác nhau trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên môi trường Nhóm này muốn được tước đoạt lợi thế của nhóm khác trong việc đấu tranh giữa các nhóm để phân phối lại lợi thế về tài nguyên” (Wertheim, 1999, Vũ Cao Đàm, 2000) [15; tr

24]

- “Xung đột môi trường là xung đột chức năng môi trường” Khi xét

các chức năng hữu ích của môi trường đối với đời sống con người thì “Xung

đột môi trường xuất hiện khi các chức năng môi trường lấn át lẫn nhau”

Khi một chức năng bị chiếm dụng quá mức, nó sẽ lấn át chức năng khác, dẫn

đến “Xung đột chức năng của môi trường ” 6

Xung đột môi trường xuất hiện khi các bên liên quan có sự khác biệt không thể hòa giải hoặc không tương thích lợi ích, giá trị, quyền lực, nhận

6 Phạm Thị Bích Hà Xung đột chức năng môi trường Trong Vũ Cao Đàm (chủ biên), Nghiên cứu xã hôi về

môi trường, NXB KH&KT 2010-Trang 102

Trang 23

23

thức và mục tiêu Hơn nữa, nếu không được giải quyết hoặc không được quản

lý, xung đột có thể leo thang và tăng cường

Tính tất yếu của xung đột môi trường

Xung đột môi trường mang tính tất yếu và tính phổ biến Nó liên quan đến sự khan hiếm cũng như sự phân bố bất bình đẳng các tài sản và dịch vụ môi trường Khi nhu cầu của con người ngày càng gia tăng, khoa học và công nghệ ngày càng phát triển và còn tồn tại sự phân bố bất bình đẳng về tài nguyên trên thế giới thì luôn có sự xung đột giữa bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế Con người luôn luôn phải vận động để tìm đến những nguồn tài nguyên mới thay thế những nguồn tài nguyên truyền thống đang ngày càng cạn kiệt Giải quyết những xung đột giữa bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế, con người sẽ tiến tới những phương thức phát triển bền vững hơn Quản lý biến đổi môi trường sẽ không thể thiếu quản lý xung đột giữa quyền lợi của cộng đồng, những vị trí nghề nghiệp và những ưu tiên chính trị;

là xung đột giữa hiện tại và tương lai; là xung đột giữa bảo tồn và phát triển Kết quả của xung đột có thể là xây dựng hoặc phá hủy tùy thuộc vào việc quản lý và giải quyết chúng như thế nào

Quản lý xung đột thành công làm giảm thiểu những nguy cơ và tăng tối

đa những cơ hội cho bảo tồn và phát triển.7

Đặc điểm của xung đột môi trường

Trước hết, xung đột là một tất yếu xã hội của quá trình biến đổi nó không phải là kết quả của sự sai lầm của một con người, cũng không phải là sai lầm của một hệ thống Nó là một bước trong quá trình giải quyết vấn đề Thứ hai, xung đột có thể chia sẻ Nó không phải là trách nhiệm của riêng ai hoặc của riêng nhóm nào Đương nhiên, khi nói đến xung đột là nói đến các nhóm đối đầu nhau thuộc đương sự sung đột, nhưng xung đột luôn diễn ra trong một cộn đồng xã hội nhất định, và vì vậy nó luôn có thể là mối quan tâm của toàn thể cộng đồng

7

Xem thêm Vũ Cao Đàm (chủ biên), Nghiên cứu xã hôi về môi trường, Nxb KH&KT 2010, Trang 95

Trang 24

24

Thứ ba, xung đột là một quá trình, có bước chuẩn bị, có bước khởi đầu

và các giai đoạn tiến triển, vì vậy mà chúng ta có thể quản lý xung đột, nhưng cần có thời gian và nguồn lực

Cuối cùng, xung đột là tín hiệu cho phép nhận biết những bất ổn xã hội,

để từ đó tìm kiếm các giải pháp xử lý các bất ổn xã hội Chẳng hạn, xung đột môi trường giúp các nhà quản lý nhận ra những vấn đề môi trường, từ đó tìm kiếm được biện pháp giải quyết các vấn đề môi trường

Sự không có xung đột không phải lúc nào cũng tốt, vì nó có thể chỉ ra sự thờ ơ, sự không hiểu biết hoặc sự kém năng lực của một bộ phận trong cộng đồng Trong mỗi một điều kiện như vậy đều có thể tạo ra cản trở đối với sự bền vững môi trường lớn hơn so với nếu có xung đột nhưng được quản lý tốt

Sự chuyển đổi từ những nguyên tắc môi trường cũ sang những nguyên tắc mới là nguyên nhân xung đột Những giá trị xã hội biến đổi đã mang lại sự đối lập giữa những nhóm người và giữa bảo tồn và đổi mới Những hạn chế

về nguồn tài nguyên và công nghệ có nghĩa là cần phải có sự lựa chọn Xung đột chính là một phần của mọi quá trình giải quyết sự khác biệt, phân hóa (Valerie Brown, 1995)8

Xung đột môi trường là một trường hợp của xung đột xã hội trong quản

lý sử dụng tài nguyên và môi trường Bất kỳ một xung đột môi trường nào cũng xuất phát từ vấn đề quyền lợi và sự xuất hiện các đương sự chống đối

[8; Tr.85]

Cũng như xung đột xã hội, xung đột môi trường mang tính tất yếu và phổ biến

Phân loại xung đột môi trường

Có thể phân loại xung đột môi trường theo nhiều tiêu chí như:

+ Phân loại theo đương sự xung đột

+ Phân loại theo nguồn tài nguyên môi trường – nguyên nhân xung đột

8

Xem thêm Vũ Cao Đàm (chủ biên), Nghiên cứu xã hôi về môi trường, Nxb KH&KT 2010, Trang 96

Trang 25

- Ít nghiêm trọng: tranh chấp, xung đột giữa các chủ đầu tư đang cùng khai thác môi trường trên cùng một địa bàn Trong chừng mực nào đó giữa họ

Ngoài ra nếu phân loại xung đột, tranh chấp môi trường dựa trên quy mô của các tranh chấp có thể phân chia như sau:

- Tranh chấp, xung đột trên quy mô nhỏ giữa các cá nhân, các hộ gia đình: như tranh chấp không gian phơi quần áo giữa các hộ gia đình trong các khu tập thể, khu chung cư

- Tranh chấp, xung đột trên quy mô nhóm/ tổ chức: Tranh chấp, xung đột giữa các nhóm những hộ gây ô nhiễm môi trường trong làng nghề với nhóm những hộ không gây ô nhiễm môi trường

- Tranh chấp, xung đột trên quy mô giữa các địa phương: Tranh chấp, xung đột nguồn nước, tranh chấp tài nguyên giữa hai địa phương

- Tranh chấp, xung đột giữa các quốc gia (tranh chấp, xung đột xuyên biên giới –Transboundary Environmental Disputes) Đây là dạng tranh chấp, xung đột rất nguy hiểm vì nó rất khó có thể giải quyết triệt để và hoàn toàn có thể leo thang thành các xung đột vũ trang, đối đầu giữa giữa các quốc gia Ví

Trang 26

26

dụ như: tranh chấp nguồn nước, tranh chấp tài nguyên, khoáng sản, dầu lửa giữa các quốc gia 9

1.1.5 Khái niệm về doanh nghiệp, doanh nghiệp thủy sản

Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều khái niệm về doanh nghiệp, mỗi khái niệm đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định

Theo Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005: “Doanh

nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”

Theo trang giáo trình mở voer.edu.vn có các định nghĩa khác về doanh

nghiệp như sau: 10

Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư

cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu

sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi

Xét theo quan điểm chức năng: “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức

sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá

cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy

(M.Francois Peroux)

Xét theo quan điểm phát triển: “Doanh nghiệp là một cộng đồng người

sản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có

9 Xem thêm Vũ Cao Đàm (chủ biên), Đào Thanh Trường, Nguyễn Thị Nghĩa, Nghiên cứu xã hôi về môi

trường, Nxb KH&KT 2010, trang 53

10

Xem thêm http://voer.edu.vn/module/kinh-te/dinh-nghia-doanh-nghiep.html

Trang 27

27

lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được “

Xét theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp được các tác giả nói trên

xem rằng " doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân

sự

Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những khái niệm khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau Song giữa các khái niệm về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây:

- Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính

- Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin

- Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra

- Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được

Doanh nghiệp được phân chia theo quy mô, bao gồm doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ

Căn cứ vào hình thức pháp lý thì có các loại hình doanh nghiệp như: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân…

Trang 28

28

Thủy sản: Là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước (ngọt và lợ/mặn) và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm

Doanh nghiệp thuỷ sản: là doanh nghiệp có hoạt động mua bán, chế biến, xuất nhập khẩu những mặt hàng có nguồn gốc từ thuỷ sản

1.1.6 Khái niệm về cộng đồng dân cư

Cộng đồng: là một nhóm xã hội của các cá thể sống sống chung trong

cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung.11

Dân cư: là số lượng cụ thể những cá thể (con người) sinh sống trên một

vùng lãnh thổ hay một vùng địa lý cụ thể

Công đồng dân cư: là một tập hợp các nhóm xã hôi hùng sinh sống trên

một vùng lãnh thổ hay một vùng địa lý cụ thể (Ví dụ: công đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện Giá Rai)

1.1.7 Khái niệm quản lý

Quản lý là một hoạt động có mục đích của con người, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý:

Theo từ điển tiếng Việt: quản lý là trông coi và giữ gìn, là tỏ chức và

điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định

Theo Frederick Winslow Taylor (1856-1915), một nhà quản lý người

Mỹ, đại diện cho thuyết quản lý khoa học, cho rằng: “Quản lý là biết chính

xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”

Theo Henry Fayol: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy,

phối hợp, kiểm tra và sử dụng một cách hợp lý nhất nguồn lực trong tổ chức

để đạt được mục tiêu đề ra”

Theo Mary Follet: ”quản lý là phương thức để người lãnh đạo đạt được

mục tiêu của mình bằng người khác và thông qua người khác”

11

Xem thêm http://vi.wikipedia.org/wiki/Cộng_đồng

Trang 29

29

Theo Vương Thị Hạnh : “quản lý không chỉ là hoạch định tổ chức, bố

trí nhân sự, chỉ đạo thực hiện, kiểm soát công việc, mà còn bao gồm cả việc phát huy những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu đã vạch ra”

Tóm lại: quản lý là điều khiển các bên tham gia tiến hành việc xác định,

lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát nguồn lực và hoạt động nhằm đạt được một cách có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra 12

1.1.8 Khái niệm quản lý môi trường

Theo khái niệm về quản lý đã tìm hiểu ở trên thì quản lý môi trường là việc tiến hành lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường

Ngoài ra, theo những cách tiếp cận khác nhau thì có những định nghĩa khác nhau về quản lý môi trường

Theo trang thông tin của tổng cục môi trường thì: "Quản lý môi trường

là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia" 13

Theo Vũ Cao Đàm, quản lý môi trường “ Là sự điều khiển hành vi của

những con người hoặc nhóm người trong cộng đồng (đối tượng trực tiếp), nhằm định hướng cho họ tác động lên các yếu tố của môi trường (đối tượng gián tiếp), sao cho có thể duy trì được một chuẩn mực chất lượng môi trường phù hợp với những chuẩn mực được một cộng đồng chấp nhận”.[15;Tr.33]14Quản lý môi trường nhìn từ giác độ quan hệ xã hội có nghĩa là quản lý biến đổi xã hội, hòa giải những đối lập về mặt xã hội giữa:

- Lợi ích tư nhân và lợi ích nhà nước

- Quyền lợi chính phủ và quyền lợi phi chính phủ

- Đối lập về mặt nghề nghiệp

12

Nguyễn Phú Hùng, Giáo trình Quản lý dự án,, Dùng cho các lớp Cao học tại trường Đại học KHXH&NV

Đại học Quốc gia-Hà Nội

13 http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/hoidapmt/Pages/Quảnlýmôitrườnglàgì.aspx

14

Xem thêm Vũ Cao Đàm (2002) Xã hôi học môi trường, Nxb KH&KT 2002, trang 215

Trang 30

30

- Giữa hiện tại và tương lai

- Giữa quy mô toàn cầu và quy mô khu vực

- Giữa bảo tồn và phát triển15

“Quản lý xung đột môi trường có bản chất là sử dụng các thiết chế xã hội, hệ thống pháp luật, chính sách về môi trường cũng như các chính sách xã hội có liên quan để thiết lập trật tự trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng như việc xử lý chất thải các loại.”[15;Tr.33]16

Khái niệm trên chỉ đề cập đến môi trường theo nghĩa là môi trường tự nhiên Nếu xem xét môi trường theo nghĩa rộng thì cần phải xem xét cả môi trường nhân tạo như hạ tầng sản xuất

Các nguyên tắc quản lý môi trường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trường

1.2 Quan hệ giữa xung đột môi trường với vấn đề môi trường và quản lý môi trường

Xung đột bao giờ cũng có nguyên nhân của nó Sự đối lập về quyền lợi của các đương sự là cơ sở của sự xung đột Ban đầu chỉ là những mâu thuẫn nhỏ về quyền lợi giữa bên này với bên kia Khi đó xung đột không được bộc

lộ rõ do có một sự nhượng bộ nào đó của bên bị hại hoặc khi chức năng môi trường bị lấn át ở mức độ chưa có biểu hiện rõ ra bên ngoài Chỉ đến khi nào

đó mức độ mâu thuẫn quá mức chịu đựng của bên bị hại hoặc mức độ thiệt hại biểu hiện thì xung đột mới được biểu hiện Quyền lợi của các đương sự chỉ có thể được thỏa mãn với sự ưng thuận hay ngược lại với sự chống đối của đương sự khác

Xung đột môi trường có nguyên nhân từ vấn đề môi trường Trong các vấn đề ô nhiễm môi trường mà con người dễ nhận thấy nhất và cũng dễ gây tranh chấp nhất đó là ô nhiễm môi trường không khí và ô nhiễm môi trường nước Bởi vì các yếu tố này gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày

15 Xem thêm Vũ Cao Đàm (chủ biên), Đào Thanh Trường, Nguyễn Thị Nghĩa, Nghiên cứu xã hôi về môi

trường, Nxb KH&KT 2010, trang 102

16

Xem thêm Vũ Cao Đàm (2002) Xã hôi học môi trường, Nxb KH&KT 2002, trang 216

Trang 31

31

của người dân, hơn nữa, nước và không khí là yếu tố thiết yếu trong sinh hoạt hàng ngày Nếu không khí có mùi khó chịu thì người ta sẽ đi tìm nguyên nhân và ngăn chặn những hành động gây ra ô nhiễm không khí Nếu người dân nhận biết được nguồn nước mà họ đang sư dụng bị ô nhiễm bởi một tác nhân là do doanh nghiệp X xả nước thải không qua xử lý, ảnh hưởng đến quyền lợi thì chắc chắn họ sẽ có phản ứng

Khi một bên đương sự vì lợi ích kinh tế, họ bất chấp các quy định hoặc lén lút thải chất bẩn không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường thì bên thiệt hại

sẽ có phản ứng là điều tất yếu Việc nhìn nhận cách phản ứng của người dân một mặt giúp ta nhận biết được nhu cầu về mặt chất lượng môi trường môi trường mặt khác cũng phản ánh việc người dân nhìn nhận và ý thức về môi trường ngày càng tăng Họ nhận thấy bị tước đoạt lợi thế về môi trường trong khi lẽ ra họ phải được hưởng (bầu không khí trong lành, nguồn nước tinh khiết, mát trong…)

Để nhận diện tốt các dạng xung đột môi trường, ta có thể dựa trên các loại xung đột môi trường, từ căn nguyên dẫn đến xung đột ta có thể nhìn nhận được các dạng xung đột đó

Thứ nhất là xung đột nhận thức, khi nghiên cứu dạng xung đột này cần tìm hiểu xem trong trong công đồng dân cư hay các doanh nghiệp họ nhận thức về vấn đề môi trường như thế nào? Ở các nhóm đối tượng có hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến hủy hoại môi trường và tác hại của việc ô nhiễm môi trường đến cuộc sống của bản thân và của công đồng hay không

Thứ hai là xung đột lợi ích, đó là sự xung khắc giữa các bên liên quan về lợi ích mà các nhóm đều mong muốn đạt được Tất cả những mâu thuẫn, xung đột giữa các nhóm cuối cùng cũng có nguyên nhân vì sự tư lợi về phần mình

mà bất chấp sự xâm hại đến quyền lợi của người khác Đối với các doanh nghiệp, vì lợi ích riêng, họ sẵn sàng xâm hại hoặc tước đoạt lợi ích của cộng đồng trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên Những mâu thuẫn khác biệt

về lợi ích là giá trị được coi là căn nguyên gây ra xung đột lợi ích Lợi ích chung mà người dân mong muốn là lợi ích được hưởng một môi trường trong

Trang 32

Thứ tư là xung đột chức năng môi trường, khi một trong các chức năng của môi trường bị chiếm dụng quá mức, dẫn đến suy giảm các chức năng có ích của môi trường đối với con người Đây là mối đe dọa nguy hiểm nhất đối với môi trường vì ban đầu xung đột còn ở dạng tiềm ẩn, khi xung đột bộc lộ thì nó đã gây hậu quả rất lớn cho cuộc sống con người.17

Quản lý môi trường không phải là ngăn chặn, lấp liếm, giữ kín xung đột

và cũng không phải là đưa xung đột ra khỏi sự kiểm soát vì bản thân xung đột không phải là xấu, có thể xem xung đột như là một điều kiện để thay đổi và phát triển, vì nó có thể làm sáng tỏ những vấn đề đang tồn tại, thúc đẩy sự biến đổi

Vai trò của cơ quan quản lý môi trường trong lúc này là rất cần thiết để điều chỉnh các hành vi lệch chuẩn môi trường và xử lý các xung đột môi trường, điều cần làm là giải quyết tận gốc nguyên nhân của của xung đột Giải pháp đầu tiên, và có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết xung đột môi trường

là xử lý vấn đề gây ô nhiễm môi trường

Thông qua việc phân tích các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội và công đồng dân cư trong việc tranh chấp quyền lợi về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, các nhà quản lý có thể tìm ra các biện pháp để điều hòa lợi ích giữa các nhóm trên cơ sở tôn trọng các cam kết và kiểm soát xã hội về chuẩn mực môi trường Cuối cùng là điều hòa xung đột môi trường, điều hòa quyền lợi giữa các nhóm xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước phải đưa ra các thiết chế

và giải pháp quản lý môi trường

17

Xem thêm Vũ Cao Đàm (chủ biên), Xã hội học Môi trường, Nxb KH&KT 2010, Trang 100&101

Trang 33

33

* Kết luận chương I

Trong chương 1 của luận văn đã đưa ra được cơ sở lý luận về mối quan

hệ giữa vấn đề môi trường với xung đột môi trường Trong đó nêu lên các cơ

sở lý thuyết về xung đột môi trường, các khái niệm liên quan đến môi trường, xung đột môi trường vấn đề môi trường và quản lý môi trường; các khái niệm

về doanh nghiệp thủy sản, công đồng dân cư Trong chương này cũng nêu lên được cách thức nhận diện các loại xung đột môi trường phân loại dựa trên nguyên nhân như xung đột nhận thức, xung đột mục tiêu, xung đột lợi ích, xung đột quyền lực và cuối cùng là xung đột chức năng môi trường Xung đột, mâu thuẫn là một trạng thái tự nhiên nhưng chỉ bộc lộ khi có tác động từ bên ngoài, đó là nguyên nhân dẫn đến xung đột Để nhận diện tốt các vấn đề môi trường thì nhà quản lý cần nhận diện tốt các dạng xung đột diễn ra ở địa phương và nguyên nhân của nó để kiểm soát và kiềm chế nó thông qua các công cụ quản lý là thiết chế xã hội, là công cụ pháp luật để điều chỉnh kiểm soát xã hội theo đúng chuẩn mực môi trường

Trang 34

34

CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH BẠC LIÊU 2.1 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế - Xã hội tỉnh Bạc Liêu

Tỉnh Bạc Liêu nằm ở miền Tây Nam Bộ, thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có toạ độ từ 9000’00’’ đến 9037’30’’ vĩ độ bắc và từ 105015’00” đến 105052’30” kinh độ đông, cách thành phố Hồ Chí Minh 280 km (về phía Bắc) Phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông

Hình 2.1 Bản đồ ranh giới tỉnh Bạc Liêu

Tỉnh Bạc Liêu được tái lập ngày 01-01-1997 với diện tích đất tự nhiên là 2.594 km2 Toàn tỉnh có 7 đơn vị hành chính bao gồm thành phố Bạc Liêu và

Trang 35

35

6 huyện là Phước Long, Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Hoà Bình, Giá Rai, Đông Hải với tổng cộng 64 xã, phường và thị trấn Thành phố Bạc Liêu là trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh Tính đến năm 2012 dân số của Bạc Liêu là 856.250 người

Bạc Liêu có bờ biển dài 56 km Biển Bạc Liêu có nhiều loài tôm, cá, ốc,

sò huyết, Hàng năm, sản lượng khai thác đạt gần 100 nghìn tấn cá, tôm Trong đó, sản lượng tôm gần 10 nghìn tấn

Bờ biển thấp và phẳng rất thích hợp để phát triển nghề làm muối, trồng trọt hoặc nuôi tôm, cá Hàng năm, sự bồi lấn biển ở Bạc Liêu ngày một tăng Đây là điều kiện lý tưởng cho Bạc Liêu phát triển thêm quỹ đất, đồng thời là yếu tố quan trọng đưa kinh tế biển của Bạc Liêu phát triển

Về nhân văn, người Bạc Liêu mang đậm tính cách của người Nam Bộ: hiền hòa, cần cù lao động, thẳng thắn, giàu ước mơ…Với tính cách đó họ luôn luôn là những người tiên phong trong việc tìm kiếm những phương thức sản xuất mới, cách quản lý mới để làm giàu cho quê hương, phát triển kinh tế

xã hội của tỉnh

Cùng với quá trình hội nhập phát triển kinh tế của đất nước, Bạc Liêu cũng đang trong quá trình xây dựng và đổi mới và phát triển vượt bậc trong những năm gần đây Cơ cấu kinh tế của Bạc liêu trong năm 2012 như sau:

Năm Tổng số Công nghiệp

và xây dựng

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Thương mại dịch vụ

(Ngu ồn: Niên giám thông kê tỉnh Bạc Liêu 2012)

Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế của tỉnh Bạc Liêu (Đơn vị: Triệu đồng)

Trang 36

36

GDP theo nganh kinh te

Công nghiệp và xây dựng

Thương mại dịch vụ

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

độ bụi vượt quá giới hạn cho phép của QCVN 05:2009/BTNMT

So với các năm trước, năm 2012 số lượng cơ sở sản xuất của tỉnh đã tăng lên, một số cơ sở sản xuất đã có dấu hiệu gây ô nhiễm Ngoài các cơ sở nhựa, giấy thì một số cơ sở chế biến thủy sản có nồng độ bụi và khí SO2 vượt quy chuẩn cho phép như : Công ty cổ phần chế biến thủy sản xuất nhập khẩu

Âu Vững, Công ty cổ phần thủy sản Bạc Liêu, nhà máy chế biến chả cá xuất khẩu thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, một vài cơ sở có xuất hiện khí H2S, NH3 Với sự phát triển nhanh chóng như hiện nay thì cần phải thực hiện công tác kiểm tra thường xuyên các cơ sở gây ô nhiễm, khuyến khích cơ sở xây dựng hệ thống xử lý khí thải, áp dụng các biện pháp thông thoáng nhà xưởng, quy hoạch địa điểm các cơ sở sản xuất hợp lý, đưa các cơ sở sản xuất vào khu hoặc cụm công nghiệp để dễ kiểm soát ô nhiễm.18

18

Xem thêm Báo cáo tổng hợp Diễn biến môi trường tỉnh Bạc Liêu năm 2012

GDP theo ngành kinh tế

Trang 37

37

2.1.2 Diễn biến nước thải công nghiệp

Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa với tốc độ phát triển nhanh trong hoạt động công nghiệp, xây dựng và năng lượng đã tác động mạnh đến môi trường Trong công nghiệp chế biến thủy sản, nông sản, thực phẩm, tỉ lệ thành phẩm là 25-30%, còn lại 70-75% trọng lượng tồn dưới dạng chất thải rắn và lỏng Ngành chế biến thủy sản là một trong những ngành gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như: ô nhiễm không khí do mùi hôi phát sinh từ việc lưu trữ các phế thải, chất thải rắn bao gồm vỏ đầu tôm và các phế phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất Nước thải trong quá trình chế biến thủy sản nếu không xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Bên cạnh đó còn có chất thải khác do quá trình sử dụng các nhiên liệu, vật liệu khác Về nước thải, do nhu cầu nước cho các cơ sở chế biến thủy sản, thực phẩm thường rất lớn, hầu hết các khâu trong sản xuất đều sử dụng nước, từ khâu rửa nguyên liệu, chế biến, hoàn tất sản phẩm cho đến vệ sinh nhà xưởng và dụng

cụ thiết bị Lượng nước thải trong quá trình sản xuất nếu không được xử lý hoặc xử lý kém hiệu quả, chảy tràn tự nhiên, gây ô nhiễm nặng nề, đây cũng

là nguồn ô nhiễm môi trường nước cho sản xuất nông nghiệp Nhiều xí nghiệp chế biến thực phẩm, đông lạnh đã có hệ thống xử lý nước thải, tuy nhiên một số cơ sở chỉ xây dựng hệ thống xử lý nước thải chiếu lệ, thường không vận hành, hàng ngày vẫn thải ra môi trường một lượng nước thải lớn không đạt tiêu chuẩn quy định

STT Thông số

ô nhiễm Đơn vị

Khảo sát Đợt 1

Khảo sát Đợt 2

QCVN /BTNMT (Cột B)

Số cơ sở đạt tiêu chuẩn

1 PH 6,8-8,3 7,1-8,2 5,5 – 9 29/29

2 TSS mg/l 13-200 42-176 100 19/29

3 BOD 5 mg/l 24-168 25-172 80 19/29

4 COD mg/l 45-435 62-385 50 19/29

Trang 38

28.000 5000 10/29

1.500-(Nguồn tổng hợp từ báo cáo diễn biến môi trường tỉnh Bạc Liêu năm 2012)

Bảng 2.2 Kết quả phân tích chất lượng nước thải CBTS tại Bạc Liêu

2.2 Tổng quan về hoạt động chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu

2.2.1 Hoạt động của ngành chế biến thủy sản

Chế biến thủy sản là khâu cuối cùng, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản trước khi đưa sản phẩm ra thị trường tiêu thụ Những sản phẩm thủy sản chế biến không những phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa mà còn được xuất khẩu, đem về ngoại tệ cho đất nước Những bước thăng trầm của ngành này luôn gắn liền với nhịp sống chung của nền kinh tế đất nước, nhất là công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Quá trình phát triển của ngành chế biến thủy sản

có thể được hình dung qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1975 - 1980

Nằm trong tình trạng trì trệ chung của kinh tế đất nước, ngành thủy sản cũng lâm vào tình trạng sa sút kéo dài Sản lượng khai thác tụt dần từ 607.000 tấn (năm 1975) xuống 398.000 tấn (năm 1980) Sản phẩm xuất khẩu giảm mạnh, năm 1980 kim ngạch chỉ còn bằng 1/2 của năm 1976 Phương tiện khai thác thủy sản bằng cơ giới giảm từ 34.789 chiếc (năm 1976) còn 28.522 chiếc (năm 1980) Trang bị bảo quản nguyên vật liệu rất thô sơ, lạc hậu Cá đánh bắt được chỉ bảo quản bằng ướp muối trong hầm tàu Các cơ sở chế biến có được chủ yếu bằng nguồn viện trợ không hoàn lại của quốc tế Năm 1980 cả

Trang 39

39

nước mới chỉ có 40 cơ sở chế biến đông lạnh với tổng công suất cấp đông là

172 tấn/ngày Trong khi đó nhiều nhà máy xây dựng xong nhưng không phát huy được công suất, nguyên liệu khai thác chỉ được huy động cho chế biến từ

20 - 30% Công nghệ chế biến lạc hậu nên có sự thất thoát lớn trong quá trình chế biến và bảo quản Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Hải sản năm 1992, nguyên liệu qua chế biến so với tổng nguyên liệu năm 1976 chỉ đạt 22%, trong số đó tổng lượng hao phí là 21%; nguyên liệu không qua chế biến là 72%, hao phí là 20%

Giai đoạn 1981 - 1994

Cuối năm 1979, Nhà nước cho phép Bộ Thủy sản quản lý thống nhất và khép kín toàn bộ quá trình từ đánh bắt đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, thay cho trước đây ngành chỉ đảm nhận khâu khai thác và chế biến, còn việc thu mua và tiêu thụ do ngành nội thương và ngoại thương đảm nhận Chủ trương này không những khắc phục được tình trạng manh mún, rời rạc, mà còn giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, hoạt động sản xuất gắn bó chặt chẽ với tiêu dùng Trong 15 năm liên tục, ngành thủy sản luôn hoàn thành vượt mức toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao với tốc độ tăng trưởng bình quân 5 - 7%/năm về sản lượng khai thác; 12 - 13% về giá trị kim ngạch xuất khẩu Năm 1990 giá trị sản lượng đạt 1.020.000 tấn và thu về 205 triệu USD hàng hóa xuất khẩu Năm 1994 đạt sản lượng 1.211.000 tấn và 458 triệu USD kim ngạch xuất khẩu

Nổi bật nhất trong giai đoạn này là lĩnh vực chế biến phát triển rộng khắp với tốc độ tăng bình quân 9 nhà máy mỗi năm Đến cuối năm 1994, số nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh lên đến 178 nhà máy, với tổng công suất cấp đông 780 tấn/ngày, thêm vào đó còn có hệ thống các nhà máy sản xuất nước đá với tổng công suất 2.000 tấn/ngày đã tạo ra bước phát triển nhảy vọt về chất trong quá trình giữ gìn độ tươi của nguyên liệu, giảm tiêu hao, thất thoát sau thu hoạch, góp phần nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm Kết quả

là tỷ lệ sản phẩm chế biến đông lạnh so với tổng nguyên liệu tăng nhanh và

Trang 40

Giai đoạn 1994 đến năm 2000

Nghị quyết 03/NQ/TW ngày 6 - 5 - 1993 của Bộ Chính trị, Nghị quyết

số 05-NQ/HNTW ngày 10 - 6 - 1993, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đều khẳng định xây dựng thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Bởi vậy, ngành chế biến thủy sản cũng nhận được sự chú trọng đặc biệt của các cấp, các ngành và các địa phương Nhiều chương trình, dự án táo bạo như đánh bắt xa bờ đã được hình thành Xuất khẩu tăng mạnh, từ 550 triệu USD (năm 1995) lên 1,478 tỷ USD (năm 2000) Tuy nhiên, với giai đoạn 1996-2000, theo đánh giá của các chuyên gia, mức tăng trưởng thực sự theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa chỉ mới là bước đầu

Giai đoạn từ năm 2001 đến nay

Chương trình chế biến và xuất khẩu thủy sản đến năm 2005 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và bắt đầu thực hiện từ năm 1998 là một chương trình tạo bước ngoặt trong thế kỷ XXI cho ngành chế biến thủy sản nước ta

Có thể nói, chế biến xuất khẩu thủy sản là động lực cho tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu trong khai thác và nuôi trồng thủy sản

Đến nay, theo Cục Quản lý chất lượng nông- lâm sản và thủy sản (Nafiqad), cả nước có 300 cơ sở chế biến thủy sản và khoảng 220 nhà máy chuyên sản xuất các sản phẩm đông lạnh phục vụ xuất khẩu, có tổng công suất 200 tấn/ngày Cũng theo thống kê của Nafiqad, tính đến thời điểm này,

cả nước có 300 doanh nghiệp được phép xuất khẩu thủy sản sang EU, hơn

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Hữu Duyên (2013), Báo động tình trạng vi phạm xử lý chất thải nguy hại, Báo Bạc Liêu số ra ngày 03/01/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo động tình trạng vi phạm xử lý chất thải nguy hại
Tác giả: Hữu Duyên
Năm: 2013
8. Vũ Cao Đàm, chủ biên (2010), Nghiên cứu xã hội về môi trường, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ghiên cứu xã hội về môi trường
Tác giả: Vũ Cao Đàm, chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 2010
9. Vũ Cao Đàm, (2007) Giáo trình Lý thuyết hệ thống trường Đại học khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết hệ thống
10. Vũ Cao Đàm, giải quyết xung đột môi trường trong các làng nghề nội dung tất yếu của quản lý môi trường.(http://www.nea.gov.vn/tapchi/Toanfvan/09-2k1-31.htm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: giải quyết xung đột môi trường trong các làng nghề nội dung tất yếu của quản lý môi trường
11. Hoàng Hạnh (2013), Hàng trăm hộ nông dân kêu cứu, Báo Nông nghiệp Việt Nam số ra ngày 02/07/2013http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/48/48/112041/hang-tram-ho- nong-dan-keu- cuu.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàng trăm hộ nông dân kêu cứu
Tác giả: Hoàng Hạnh
Năm: 2013
12. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật bảo về môi trường (Luật số 52/2005/QH11)-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo về môi trường
1. Bộ TN&MT QCVN 11:2008/BTNMT, Nước thải công nghiệp chế biến thủy sản Khác
2. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Khác
3. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 81/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 5 năm 2007, Quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Khác
4. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 72/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 2010, Quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường Khác
5. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có xả nước thải ra môi trường (gồm nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp) Khác
6. Cục thống kê tỉnh Bạc Liêu (2012), Niên giám thống kê Tỉnh Bạc Liêu năm 2012 Khác
13. Sở TN&MT tỉnh Bạc Liêu (2013), Báo cáo việc thực hiện chính sách pháp luật môi trường giai đoạn 2005 đến nay Khác
14. Sở TN&MT tỉnh Bạc Liêu, (2012) Báo cáo tổng hợp Diễn biến Môi trường tỉnh Bạc Liêu 2012 Khác
15. Nguyễn Thị Thanh Thanh, (2012) Xung đột môi trường giữa các nhóm xã hội ở làng trống Đọi Tam, Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1.  Bản đồ ranh giới tỉnh Bạc Liêu - Quản lý môi trường trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với công đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Hình 2.1. Bản đồ ranh giới tỉnh Bạc Liêu (Trang 34)
Hình 2.2. GDP theo ngành kinh tế - Quản lý môi trường trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với công đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Hình 2.2. GDP theo ngành kinh tế (Trang 36)
Bảng 2.2. Kết quả phân tích chất lượng nước thải CBTS tại Bạc Liêu - Quản lý môi trường trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với công đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Bảng 2.2. Kết quả phân tích chất lượng nước thải CBTS tại Bạc Liêu (Trang 38)
Hình 2.3. Quy trình chế biến thủy sản tiêu biểu  - Đặc trưng của nước thải chế biến thủy sản - Quản lý môi trường trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với công đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Hình 2.3. Quy trình chế biến thủy sản tiêu biểu - Đặc trưng của nước thải chế biến thủy sản (Trang 43)
Bảng 2.3.  Phân bố các doanh nghiệp CBTS trên địa bàn tỉnh  Tình hình giải quyết các đơn thư trong lĩnh vực BVMT của Phòng Cảnh  sát  PCTP môi trường: - Quản lý môi trường trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với công đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Bảng 2.3. Phân bố các doanh nghiệp CBTS trên địa bàn tỉnh Tình hình giải quyết các đơn thư trong lĩnh vực BVMT của Phòng Cảnh sát PCTP môi trường: (Trang 53)
Bảng 2.4. Thống kê tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại về môi trường - Quản lý môi trường trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với công đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Bảng 2.4. Thống kê tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại về môi trường (Trang 54)
Hình 3.1.  Sơ đồ hệ thống tổ chức bảo vệ môi trường - Quản lý môi trường trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường giữa các doanh nghiệp thủy sản với công đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Hình 3.1. Sơ đồ hệ thống tổ chức bảo vệ môi trường (Trang 74)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w