ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Phạm Thị Thanh Vân Phân tích vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện cơ chế, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Phạm Thị Thanh Vân
Phân tích vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện cơ chế,
tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập tại Hải Dương (nghiên cứu trường hợp của Trung tâm thông tin KHCN & Tin học Hải Dương)
Trang 2
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài : 6
2 Lịch sử nghiên cứu : 7
3 Mục tiêu nghiên cứu : 7
4 Phạm vi nghiên cứu: 8
5 Khách thể nghiên cứu và mẫu khảo sát 8
6 Vấn đề nghiên cứu : 8
7 Giả thuyết nghiên cứu 8
8 Luận cứ và phương pháp nghiên cứu : 9
9 Kết cấu của luận văn : 10
PHẦN NỘI DUNG………12
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM, VỀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 12
1.1 Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm : 12
1.1.1 Các khái niệm liên quan: 12
1.1.2 Ý nghĩa của vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm : 13
1.1.3 Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&PT theo một số đánh giá, kinh nghiệm của nước ngoài : 15
1.1.4 Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH & CN tại Việt Nam : 19
1.1.5 Những thuận lợi khi thực hiện chuyển đổi theo Nghị định 115 21 1.2 Hoạt động thông tin : 23
1.2.1 Khái quát về hoạt động thông tin : 23
1.2.2 Các hoạt động thông tin : 25
1.2.3 Việc thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm trong các đơn vị có hoạt động dịch vụ thông tin : 27
Trang 31.2.4 Hiện trạng của hệ thống thông tin KH&CN tại Việt Nam 33
1.2.5 Một số nhiệm vụ và phương hướng phát triển hoạt động thông tin KHCN : 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ & TIN HỌC HẢI DƯƠNG 43 2.1 Thực trạng hoạt động : 43
2.1.1 Về tổ chức bộ máy : 43
2.1.2 Về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động : 43
2.1.3 Về tình hình tài chính, tài sản : 44
2.1.4 Tiến độ thực hiện chuyển đổi : 45
2.1.5 Chức năng, nhiệm vụ : 46
2.2 Một số hoạt Động của Trung tâm có thể chuyển đổi theo NĐ 115/CP : 49
2.3 Các hoạt động của Trung tâm chưa thực hiện chế độ tự chủ : 50
2.4 Những khó khăn của đơn vị trong quá trình thực hiện chuyển đổi: 50 CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC THỰC HI ỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP 58
3.1 Chính sách của Nhà nước đối với các đơn vị KH & CN thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhi ệm 59
3.1.1 Nhà nước tăng cường tuyên truyền, phổ biến mục đích chuyển đổi để thay đổi tư duy cho lãnh đạo, cán bộ công nhân viên : 59
3.1.2 Nhà nước có sự phân cấp quản lý rõ ràng để tạo sự tự chủ thực sự cho các tổ chức KH&CN : 62
3.1.3 Chính sách con người trong các tổ chức KH&CN…… ……… 62
3.1.4 Chính sách hỗ trợ kinh phí thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, vốn sản xuất kinh doanh và đầu tư cơ sở vật chất cho các tổ chức KH&CN:……… ………… 63
3.1.5 Ban hành đồng bộ, kịp thời các văn bản, chế độ :……… 66
Trang 43.1.6 Chính sách phát triển thị trường, tuyên truyền quảng bá sản phẩm
………67:
3.1.7 Nhà nước cần quan tâm tạo điều kiện cho các tổ chức KH&CN được dự bình xét thi đua và được Bộ khen thưởng công bằng như các tổ chức khác……… ……….68
3.1.8 Chính sách cuả Nhà nước đối với hoạt động chưa thực hiện cơ chế tự chủ: 69
3.2 Chính sách của Nhà nước đối với các hoạt động thông tin: 71
3.2.1 Đối với các hoạt động có thể tự chủ theo Nghị Định 115:……….……….71
3.2.2 Đối với các hoạt động chưa tự chủ theo Nghị định 115 vẫn được Nhà nước cấp kinh phí qua hình thức giao nhiệm vụ thường xuyên……….… 73
3.3 Một số đề xuất đối với công tác quản lý : 74
KẾT LUẬN 80
KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 5LỜI CÁM ƠN
Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : "Phân tích vai trò của Nhà nước
trong việc thực hiện cơ chế, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập tại Hải Dương (nghiên cứu trường hợp của Trung tâm thông tin KHCN & Tin học Hải Dương" là kết quả học tập và nghiên cứu
của tôi trong khoá học về Quản lý Khoa học và Công nghệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Vũ Cao Đàm, xin chân thành cảm ơn Thầy
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các Thầy cô không ngại đường xá đã đến giảng dạy cho lớp học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ tại Hải Dương
Cuối cùng, xin được cảm ơn các đơn vị đã nhiệt tình cung cấp thông tin, nhất là Trung tâm thông tin KHCN & Tin học Hải Dương đã hỗ trợ tôi hoàn thành bài nghiên cứu này
Người thực hiện Phạm Thị Thanh Vân
Trang 7Nghị định trên có tác dụng gắn kết nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh, với thị trường; đưa các hoạt động khoa học công nghệ đến với đời sống và nguồn nhân lực khoa học công nghệ được đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu của sự phát triển chung toàn xã hội; đẩy nhanh quá trình hội hoá các hoạt động khoa học và công nghệ Nghị định tạo điều kiện tập trung đầu tư kinh phí một cách có trọng điểm cho các tổ chức khoa học và công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này và góp phần tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ cho đất nước
Các tổ chức khoa học & công nghệ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương đóng vai trò rất quan trọng đối với việc nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ tại địa phương Sự thay đổi trên là bước chuyển biến mới với
Trang 8sự phát triển của sự nghiệp khoa học và công nghệ Tại tỉnh Hải Dương, các
tổ chức khoa học và công nghệ như Trung tâm thông tin khoa học công nghệ
và Tin học đã tiến hành chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tổ chức, biên chế và kinh phí Thực tế cho thấy khi thực hiện Nghị định trên đã gặp phải một số khó khăn, vướng mắc về điều kiện thành lập, về kinh phí, về tổ chức, về tài sản, về nhân sự Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả
đã đi tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề này
2 Lịch sử nghiên cứu :
Căn cứ vào các tư liệu thu thập được, đã có một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/NĐ-
CP Bài nghiên cứu của Trung tâm thông tin KH&CN quốc gia : Tổng luận
tự chủ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và phát triển
Nghiên cứu được thực hiện năm 2005, đã nêu ra một số kinh nghiệm thế giới
và thực tế đổi mới đang diễn ra về vấn đề thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại thế giới và nước ta
Các bài nghiên cứu, bài viết trên Tạp chí Khoa học & công nghệ, Tạp chí Tia sáng, các tài liệu tại Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện Nghị định 115/NĐ-
CP của các tỉnh
3 Mục tiêu nghiên cứu :
Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học & công nghệ công lập được ban hành được coi
là một bước đột phá, "cởi trói" cho các tổ chức khoa học và công nghệ trong hoạt động nghiên cứu và sản xuất kinh doanh, là cơ sở pháp lý cho hoạt động của các tổ chức này trong giai đoạn mới Tuy nhiên, việc thực hiện quy định trên còn chậm, các tổ chức khoa học & công nghệ chưa thực sự phát huy được hiệu quả hoạt động Có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân từ phía Nhà nước là chủ yếu Mục tiêu của tác giả là đi sâu nghiên cứu phân tích vai
Trang 9trò của Nhà nước trong việc thực hiện Nghị định trên tại Trung tâm thông tin khoa học công nghệ & Tin học Hải Dương
4 Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu các tổ chức khoa học & công nghệ công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương đang chuẩn bị và đã tiến hành chuyển đổi theo cơ chế mới
- Thời gian tiến hành khảo sát từ năm 2006 đến năm 2008
5 Khách thể nghiên cứu và mẫu khảo sát
- Khách thể nghiên cứu là các tổ chức khoa học & công nghệ công lập tại tỉnh Hải Dương hoạt động theo các quy định của Nhà nước về khoa học & công nghệ
- Mẫu khảo sát : Trung tâm thông tin khoa học công nghệ & Tin học Hải Dương
6 Vấn đề nghiên cứu :
Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ chế hoạt động đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với các tổ chức khoa học & công nghệ Hầu hết các tổ chức này đang lúng túng trong việc lựa chọn mô hình quản lý, thủ tục để được cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh, kinh phí hoạt động cho tổ chức, đào tạo
sử dụng nguồn nhân lực khoa học công nghệ, giải quyết chế độ cho các cán
bộ không còn phù hợp với cơ chế mới, sử dụng tài sản được giao sao cho có hiệu quả Vấn đề đặt ra cho nghiên cứu là : Khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ
tự chịu trách nhiệm, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập gặp phải rất nhiều khó khăn, vậy nguyên nhân những khó khăn đó là gì ? Vai trò của Nhà nước thể hiện như thế nào trong việc xử lý các vướng mắc, khó khăn đó ?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức khoa học và công nghệ muốn tồn tại và đứng vững được phải đầu tư tiếp cận thị trường, tìm kiếm thị
Trang 10trường, chủ động tạo ra các nguồn thu để vận hành tổ chức Trong khi đó các
tổ chức này đều thiếu vốn và chưa được Nhà nước hỗ trợ về kinh phí, về điều kiện hoạt động
Do vậy, Nhà nước cần hỗ trợ về mặt pháp lý và hỗ trợ về mặt tài chính ban đầu thì các tổ chức R&D mới có thể có đủ năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm
8 Luận cứ và phương pháp nghiên cứu :
* Luận cứ :
Theo hướng dẫn của Bộ KH&CN, các tổ chức này được Nhà nước tạo điều kiện về các thủ tục pháp lý, về kinh phí để có thể chuyển đổi cơ chế hoạt động sang tự chủ tự chịu trách nhiệm Nhưng qua thực tế chuyển đổi tại tỉnh Hải Dương của Trung tâm thông tin khoc học công nghệ & Tin học Hải Dương cho thấy : tỉnh chưa có sự quan tâm đúng mức với các tổ chức này, chưa đầu tư, hỗ trợ những điều kiện cần thiết để đơn vị củng cố tổ chức, ổn định hoạt động Điều này đã tạo ra những khó khăn cho đơn vị trong quá trình chuyển đổi
- Nhà nước chưa có chính sách giúp các tổ chức KH&CN thực hiện tự chủ và
tự chịu trách nhiệm
+ Hiện thủ tục cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh không thực hiện được Nguyên nhân do Sở Kế hoạch - đầu tư không cấp cho các tổ chức khi chưa phải là doanh nghiệp Do đó các tổ chức này chưa thực hiện được nghĩa
vụ nộp thuế cho nhà nước và cũng không được hưởng các ưu đối đối với đơn
vị mới được thành lập
+ Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chưa tạo được hành lang pháp lý cho các đơn vị này trong khi thực hiện chức năng nhiệm vụ khoa học công nghệ
- Nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ tài chính, tạo cơ sở vật chất ban đầu giúp các tổ chức KH&CN có thể tự chủ về các mặt hoạt động:
Trang 11+ Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí cho tổ chức vào năm thực hiện chuyển đổi (theo quy định của Nghị định 115/2005/NĐ-CP được hỗ trợ 50% kinh phí vào năm chuyển đổi)
+ Nhà nước chưa hỗ trợ về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho tổ chức
+ Kinh phí hoạt động của các tổ chức này rất hạn hẹp, Ngân sách Nhà nước chỉ hỗ trợ 80% kinh phí của năm trước Do đó các tổ chức này ban đầu không có kinh phí để đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, giải quyết chế độ cho các lao động dôi
dư
* Phương pháp nghiên cứu
- nghiên cứu tài liệu : thu thập tài liệu liên quan, xử lý phân tích và tổng hợp các tài liệu có được Trên cơ sở đó kế thừa lý thuyết, kinh nghiệm và có những đánh giá mới
- tổ chức điều tra, khảo sát, phỏng vấn : tiến hành điều tra, khảo sát tại một số đơn vị chọn mẫu về thực hiện chuyển đổi cơ chế hoạt động sang tự chủ tự chịu trách nhiệm; tiến hành phỏng vấn sâu các nhà lãnh đạo của các tổ chức KH&CN đã thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm
- khảo sát bằng phiếu điều tra về tình hình hoạt động của các tổ chức KH&CN khi chuyển đổi sang cơ chế tự chịu trách nhiệm
9 Kết cấu của luận văn :
Lời mở đầu
Chương 1 : Những vấn đề lý luận chung về thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm, về hoạt động thông tin của các tổ chức khoa học & công nghệ
1.1 Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm
1.2 Lý luận chung về hoạt động thông tin
Chương 2: Thực trạng hoạt động tại Trung tâm thông tin KHCN & Tin học Hải Dương
Trang 122.1 Thực trạng hoạt động về chức năng nhiệm vụ , cơ cấu tổ chức, tình hình tài chính, biên chế của đơn vị
2.2 Các hoạt động của đơn vị có thể chuyển đổi theo Nghị định 115 2.3 Các hoạt động của đơn vị chưa thực hiện chế độ tự chủ
2.4 Những khó khăn của đơn vị trong quá trình thực hiện chuyển đổi
Chương 3 : Vai trò của Nhà nước và một số đề xuất đối với việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP của các tổ chức khoa học & công nghệ
3.1 Chính sách của Nhà nước đối với các đơn vị KH&CN khi thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
3.2 Chính sách của Nhà nước đối với các hoạt động thông tin
3.3 Một số đề xuất đối với công tác quản lý
Kết luận
Khuyến nghị
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM, VỀ HOẠT ĐỘNG THÔNG
TIN CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
1.1 Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm :
1.1.1 Các khái niệm liên quan:
a.Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức khoa học và công nghệ
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm : là quyền được chủ động, sáng tạo về nhiệm vụ, tài chính và tài sản, tổ chức và biên chế và trách nhiệm với các vấn đề trên của thủ trưởng các tổ chức khoa học và công nghệ công lập
- Tổ chức khoa học và công nghệ: là các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học
và công nghệ có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập
b Thông tin khoa học công nghệ
- Thông tin khoa học và công nghệ là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội
- Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin khoa học và công nghệ; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học và công nghệ
- Tài liệu là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản, âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến và
sử dụng
- Vật mang tin là phương tiện vật chất dùng để lưu giữ thông tin gồm giấy, phim, băng từ, đĩa từ, đĩa quang và các vật mang tin khác
Trang 14- Nguồn tin khoc học và công nghệ bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học khoa học công nghệ, tài liệu sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được
tổ chức, cá nhân thu thập
- Tổ chức dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là dơn vị sự nghiệp thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật 1
1.1.2 Ý nghĩa của vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm :
Một trong những đặc điểm nổi bật của xu hướng mới trong KH&CN hiện nay có ảnh hưởng tới tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức Kh&CN là mối liên kết giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển Quá trình từ phát minh khoa học đến sáng chế, phát triển công nghệ và đưa vào sử dụng trong sản xuất ngày càng rút ngắn
Gắn bó chặt chẽ giữa hoạt động KH&CN với hoạt động sản xuất đòi hỏi các tổ chức nghiên cứu nói chung phải chủ động 1mở rộng quan hệ với doanh nghiệp, phải năng động trước các diễn biến của đời sống kinh tế và điều đó chỉ có thể thực hiện được đúng với việc tăng cường quyền tự chủ, thái
độ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN
Ngoài việc tăng cường quyền tự do, tự chủ trong nghiên cứu KH&CN
và phát huy các kết quả nghiên cứu KH&CN, ý nghĩa khác của tự chủ, tự chịu trách nhiệm còn là nâng cao đời sống của các nhà KH&CN Cần nhấn mạnh đến đời sống của nhà KH&CN là bởi vì mức thu nhập quá thấp đang khiến cho nhiều cán bộ nghiên cứu không muốn gắn bó với công việc của mình với
tổ chức KH&CN Đời sống cũng là nguyên nhân chính làm cho các đơn vị KH&CN không thu hút được người giỏi vào làm việc Thực ra, đảm bảo lợi ích của nhà KH&CN là vấn đề từng đợc công khai đề cập tới từ lâu, chẳng hạn, trên Tạp chí hoạt động Khoa học số 7/1988, các tác giả Nguyễn Điền và Ngô Vi Khoát (Viện công cụ cơ giới hóa nông nghiệp, nay là Viện cơ điện
1
Trang 15nông nghiệp) đã xác định rõ hai mục tiêu của viện nghiên cứu là: “ Mục tiêu
hàng đầu là mỗi hoạt khoa học kỹ thuật của viện nghiên cứu phải xuất phát
và nhằm phục vụ cho yêu cầu của sản xuất, thúc đẩy khoa häc kỹ thuật đi vào sản xuất, làm lợi cho sản xuất; mục tiêu thứ hai là làm lợi cho người lao động khoa học kỹ thuật, bao gồm cả cá nhân và tập thể đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật được bồi dưỡng và đầu tư theo chiều sâu để lao động chất xám sáng tạo không ngừng” Sở dĩ sau nhiều năm mục tiêu nâng cao đời sống của các nhà KH&CN tiếp tục được nhấn mạnh là do mức sống và các chính sách có liên quan tới lợi ích của họ vẫn chưa có những thay đổi đáng kể 2
Có thể nói tự chủ sẽ buộc các tổ chức tự chịu trách nhiệm về khả năng hoạt động của mình Đồng thời, sau một thời gian thiết lập tràn lan các tổ chức KH&CN thuộc Nhà nước, lúc này cần rà soát lại xem những đơn vị nào cần giữ lại thuộc Nhà nước và những đơn vị có thể chuyển sang thành phần kinh tế khác
Qua những phân tích trên, có thể rút ra một số định hướng quan trọng cho nghiên cứu nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN:
- Tự chủ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức là nhằm vào các mục tiêu cụ thể
về : giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, đáp ứng những thay đổi trong chính sách KH&CN, đáp ứng xu hướng phát triển mới của KH&CN
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm là một tất yếu khách quan, nhưng cũng là những tình huống phụ thuộc vào hoàn cảnh (không gian và thời gian) nhất định Tự chủ tự chịu trách nhiệm không phải là một chế độ được xác lập theo tính chất
"từ không đến có" và nhất thành bất biến, mà chủ yếu là các động thái biến đổi, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng
- Nhìn chung các tổ chức KH&CN cần tăng cường tự chủ trên cả 2 mặt : giảm những loại tổ chức KH&CN mang tính phụ thuộc cao, đồng thời tăng mức độ
Trang 16tự chủ ở mọi loại hình tổ chức KH&CN Nói một cách khác là tăng tự chủ ở mọi loại và tăng loại có khả năng tự chủ cao.2
1.1.3 Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&PT nhà nước theo một số đánh giá, kinh nghiệm của nước ngoài :
Hoạt động của các tổ chức NC&PT có liên quan đến nhiều mặt về hoạt động KH&CN, tài chính, quản lý nhân sự, quan hệ quốc tế Tự chủ, tự chịu trách nhiệm diễn ra trên tất cả các mặt đó; tự chủ trong các hoạt động thuộc khuôn khổ Nhà nước (nhiệm vụ của Nhà nước giao, kinh phí nhà nước cấp ),
tự chủ trong hoạt động ngoài khuôn khổ nhà nước, quan hệ giữa tự chủ (quyền) và tự chịu trách nhiệm (nghĩa vụ), cách thức giải quyết những mâu thuẫn đặt ra
a Về nhiệm vụ KH&CN:
Liên quan tới tự chủ của các tổ chức NC&PT nhà nước có thể chia thành 3 loại nhiệm vụ Loại nhiệm vụ thứ nhất là những công việc được Nhà nước giao cụ thể và trực tiếp Ví dụ như một số vấn đề cấp bách đã được xác định rõ về đối tượng nghiên cứu trong quốc phòng, phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế-xã hội Với loại nhiệm vụ này, tổ chức NC&PT chỉ là người lĩnh hội và thực hiện nhiệm vụ trên giao
Loại nhiệm vụ thứ hai là các chủ đề nghiên cứu trong chức năng hoạt động của tổ chức (đã được Nhà nước quy định) Trong một phạm vi khá rộng, việc nghiên cứu có quyền và phải tự chịu trách nhiệm lựa chọn ra các vấn đề làm nhiệm vụ khoa học và công nghệ cụ thể Đối với một số nhiệm vụ được Nhà nước giao trực tiếp nhưng chỉ có tính chất định hướng, viện nghiên cứu cũng phải tự cụ thể hoá, xác định rõ các vấn đề cần tập trung giải quyết
Nhìn chung, mức độ tự chủ của loại nhiệm vụ thứ hai cao hơn nhiệm
vụ thứ nhất, nhưng giới hạn về tự chủ ở loại này cũng rất rõ ràng, Ngoài giới hạn lĩnh vực, phạm vi xác định đề tài theo chức năng và theo nhiệm vụ định hướng do Nhà nước giao trực tiếp, thông thường các kế hoạch nghiên cứu của đơn vị còn phải được Nhà nước xét duyệt một cách chặt chẽ
2
Trang 17Loại nhiệm vụ thứ ba là các hợp đồng mà tổ chức NC&PT ký kết thực hiện với bên ngoài Lựa chọn những hợp đồng nào hoàn toàn thuộc quyền tự chủ của các đơn vị trên cơ sở vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường Một số nghiên cứu của Nhà nước được mang ra đấu thầu cũng thuộc loại nhiệm vụ thứ ba, bởi vậy đơn vị có thể toàn quyền quyết định có tham gia đấu thầu hay không và tham gia vào chương trình nào
b Về tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu
Nếu như ở khâu xác định nhiệm vụ nghiên cứu có khác nhau nhất định về mức độ độc lập, tự chủ giữa 3 loại nhiệm vụ thì trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ nghiên cứu lại có xu hướng chung tôn trọng tính chủ động của tổ chức Các tổ chức NC&PT tự do xác định phương pháp nghiên cứu, tự do huy động và bố trí các nguồn lực phục vụ cho nghiên cứu
Tổ chức NC&PT thường có quyền tự do liên doanh, liên kết với bên ngoài, được thành lập các doanh nghiệp khoa học như Spin of trên cơ sở các kết quả nghiên cứu ra Các đơn vị cũng có thể tự thay đổi tổ chức, cơ cấu bên trong nhưng không được có biểu hiện xa rời nhiệm vụ chức năng được giao
c Về sử dụng truyền bá kết quả nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu là sản phẩm của việc sử dụng các nguồn lực tự huy động của tổ chức NC&PT sẽ thuộc toàn quyền sử dụng của đơn vị Vấn đề là những kết quả nghiên cứu sử dụng kinh phí của Nhà nước thì các tổ chức NC&PT
có quyền tự chủ sử dụng và truyền bá hay không?
Đây là một chủ đề được thảo luận nhiều ở các nước và trên thực tế cũng tồn tại những cách khác nhau
ở Trung Quốc, lúc đầu người ta cho rằng quyền sở hữu thành quả nghiên cứu sử dụng kinh phí Nhà nước phải thuộc về cơ quan nghiên cứu, nhưng sau đó
đã thống nhất là thành quả nghiên cứu được Nhà nước cấp tiền thì quyền sở hữu là của Nhà nước
Tại Nga, tình hình cũng giống như Trung Quốc Luật Khoa học và Chính sách Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia Liên Bang Nga đã quy định: "Các kết quả nghiên cứu khoa học của Viện hàn lâm Khoa học Nga và các viện hàn lâm Khoa
Trang 18học ngành được thực hiện bằng vốn ngân sách Liên bang đều phải giao nộp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật liên bang Nga:"
d Về quản lý tài chính
Các tổ chức NC&PT được Nhà nước đảm bảo cung cấp một nguồn kinh phí thường xuyên phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Nguồn kinh phí thường bao gồm chi cho các khoản về vốn cố định và vốn lưu động tối thiểu để đơn vị có đủ điều kiện tiến hành một số nội dung nghiên cứu
cụ thể trong phạm vi chức năng của mình
Ngoài kinh phí Nhà nước cấp, các tổ chức còn mở rộng nguồn vốn từ nhiều hình thức như: hợp đồng nghiên cứu với bên ngoài, sản xuất thử nghiệm, nguồn tài trợ, vốn đi vay,
e Về quản lý nhân lực
Nhìn chung, tổ chức có quyền tự chủ trong việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đề bạt cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong đơn vị Trong đó, nổi bật có một số vấn đề về quyền của thủ trưởng, tự chủ của cán bộ nghiên cứu, phân biệt giữa lực lượng cán bộ trong tổ chức NC&PT với đội ngũ công chức nhà nước nói chung
Là đơn vị thuộc thành phần nhà nước, các tổ chức NC&PT thường có những quy chế hoạt động được cấp trên quy định rõ ràng Đây là khuôn khổ để các thủ trưởng đơn vị sử dụng quyền hạn của mình
Tự chủ của các tổ chức NC&PT nhà nước thường bao gồm cả tự chủ của các cán bộ nghiên cứu trong đó
Nhân lực hoạt động trong tổ chức NC&PT là một loại lao động khá đặc thù Làm việc trong các cơ quan của Nhà nước thì dường như họ là những công chức Nhà nước, nhưng nghiên cứu khoa học thì lại cần có sự độc lập, tự chủ ở nhiều nước, mâu thuẫn này được giải quyết bằng cách coi cán bộ là loại công chức, viên chức đặc biệt, có bổ sung thêm những quy chế riêng3
Trang 19Hệ thống KH&CN trước đây của Trung Quốc theo mô hình của Liên
Xô cũ hoạt động kém hiệu quả, được thể hiện ở ba khía cạnh : có quá nhiều viện được thành lập và hoạt động tách rời sản xuất nên gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu của sản xuất; cơ cấu tổ chức phức tạp, kinh phí đầu tư hạn chế chủ yếu từ ngân sách nhà nước lại dàn trải nên kém hiệu quả
Tóm lại, một hệ thống KH&CN được hình thành tách rời hệ thống sản xuất, có sự ngăn cách giữa người tạo ra và người sử dụng tri thức, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Từ những năm 1980, yêu cầu bức thiết đặt ra là phải cải cách thể chế kinh tế, thể chế KH&CN và đổi mới công tác kế hoạch hoá Hàng loạt nỗ lực của Nhà nước được thực hiện nhằm khắc phục sự ngăn cách giữa KH&CN và sản xuất, thông qua một số chính sách như thành lập các liên hiệp KH-SX, chuyển một số viện nghiên cứu vào xí nghiệp và tổng công ty, cải tiến cơ chế lập kế hoạch KH&CN, tạo những biện pháp khuyến khích cho ứng dụng nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất Những chính sách này được xem
là những chính sách áp dụng đối với hệ thống KH&CN hoạt động trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung
- Quá trình chuyển đổi : chia thành 4 giai đoạn :
+ giai đoạn 1 : cải cách thể chế bước đầu: cải cách chế độ cấp phát tài chính
và xây dựng, phát triển thị trường công nghệ Nhà nước quản lý chặt kinh phí của Nhà nước cấp đồng thới khuyến khích các cơ quan nghiên cứu khai thác các nguồn tài chính khác như thông qua hợp đồng sản xuất Tuy nhiên thị trường công nghệ chưa phát huy được vai trò là nơi trao đổi giữa người bán
và người mua và là công cụ để tăng cường mối liên kết giữa khu vực nghiên cứu và sản xuất
+ giai đoạn 2 : tiếp tục cải cách sâu hơn : biến xí nghiệp trở thành chủ thể tiếp nhận kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; khuyến khích chuyển đổi viện nghiên cứu ứng dụng thành doanh nghiệp; tổ chức lại hệ thống KH&CN gắn với sản xuất
Trang 20+ giai đoạn 3 : chuyển thế mạnh đối với các viện và tăng khả năng thâm nhập thị trường
+ giai đoạn 4 : thay đổi toàn bộ cấu trúc hệ thống KHCN : Nhà nước tập trung đầu tư kinh phí cho một số tổ chức nghiên cứu thuộc lĩnh vực nhà nước cần phát triển ở trình độ cao; tăng cường sáng tạo KH&CN, đẩy nhanh chuyển hoá thành quả khoa học
- Các chính sách của Nhà nước để hỗ trợ cho các tổ chức chuyển đổi : + Nhà nước vẫn duy trì kinh phí sự nghiệp để các tổ chức NC&PT dùng cho bảo hiểm xã hội đối với những đối tượng vệ hưu, cán bộ nghiên cứu đương chức được hưởng chế độ bảo hiểm viên chức
+ Các tổ chức chuyển đổi được hỗ trợ : miễn thuế thu nhập trong 5 năm đối với doanh nghiệp, miễn thuế kinh doanh thu nhập qua chuyển giao công nghệ, miễn thuể sử dụng đất cho các cơ quan nghiên cứu sử dụng đất phục vụ hoạt động NC&PT; được quyền xuất nhập khẩu sản phẩm KH&CN; có quyền đăng ký nhận nhiệm vụ KH&CN của Nhà nước; được tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đã được nhận trước đây; được hưởng quyền lợi của đơn vị khoa học trước khi trở thành doanh nghiệp; được tự chủ trong việc lựa chọn các loại hình tổ chức
1.1.4 Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH & CN tại Việt Nam :
a Trong xác định nhiệm vụ và mở rộng chức năng hoạt động :
Cùng với việc ban hành những chính sách đổi mới, trên thực tế đã có nhiều đơn vị thể hiện sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm ttrong việc ký kết hợp đồng kinh tế thực hiện nhiệm vụ khoa học & phát triển công nghệ với tổ chức,
cá nhân được tiến hành chủ yếu ở ba loại hoạt động : nghiên cứu khoa học
và triển khai kỹ thuật, sản xuất thử và sản xuất một số sản phẩm có trình độ
kỹ thuật cao hơn, nhưng chưa có điều kiện sản xuất đại trà
b Trong tổ chức liên doanh liên kết :
Các tổ chức KH & CN được phép thiết lập và mở rộng mọi hình thức liên doanh, liên kết để ứng dụng các thành tựu KHKT vào sản xuất và đời
Trang 21sống giữa các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở đào tạo, cơ sở sản xuất kinh doanh
d Về nguồn tín dụng ngân hàng :
Các tổ chức đƣợc vay vốn ngân hàng để triển khai nghiên cứu khoa học
và áp dụng kỹ thuật tiến bộ, đổi mới công nghệ
* Một số kết quả đạt được :
- Các tổ chức KH&CN đƣợc tự chủ trong việc ký kết hợp đồng kinh tế với các doanh nghiệp, các cơ quan nghiên cứu, giáo dục, tƣ vấn dịch vụ KH&CN đã làm tăng số thu đáng kể cho đơn vị, đƣợc tự chủ trích lập quỹ,
tự chủ về biên chế, sử dụng nguồn kinh phí thu đƣợc
Trang 22* Một số hạn chế :
- quan hệ tài chính vẫn mang nặng tính hành chính, bao cấp; quản lý cán bộ còn dập khuôn theo chế độ công chức Nhà nước, chính sách Nhà nước còn chưa đồng bộ do nhận thức, ý thức trách nhiệm, trình độ quản lý
1.1.5 Những thuận lợi khi thực hiện chuyển đổi theo Nghị định 115
Việc ban hành NĐ 115/CP sẽ góp phần thay đổi tư duy, sức ỳ lớn đang tồn tại trong một bộ phận cán bộ nghiên cứu khoa học NĐ 115/CP không đẩy các viện, các nhà khoa học ra ngoài đường như một vài ý kiến gần đây, mà tạo một hành lang pháp lý thông thoáng hơn, cởi mở và tự chủ hơn cho hoạt động nghiên cứu khoa học
Về tài chính: Nghị định 115 quy định thay đổi căn bản phương thức cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước, thay vì cấp theo biên chế, nay các tổ chức KH&CN sẽ được cấp theo nhiệm vụ do nhà nước giao, đặt hàng (có thể bao gồm cả kinh phí để duy trì bộ máy theo chức năng nhiệm vụ), hoặc thông qua đấu thầu, tuyển chọn
Ngoài ra, Nghị định 115 cho phép các tổ chức KH&CN khi có sản xuất kinh doanh thì được hoạt động “như doanh nghiệp” hoặc có thể chuyển thành doanh nghiệp thực sự, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như doanh nghiệp, được miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (miễn 4 năm, giảm 50% trong 9 năm và thuế suất 10%) và nhiều ưu đãi khác, có quyền xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm thuộc lĩnh vực chuyên môn, được liên doanh, liên kết sản xuất với mọi tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nước, được trực tiếp thuê chuyên gia nước ngoài vào làm việc
Riêng các tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học phục vụ dịch vụ công ích của nhà nước được ngân sách nhà nước tiếp tục cấp kinh phí hoạt động thường xuyên nhưng cho phép sử dụng theo phương thức khoán tương ứng với nhiệm vụ được giao
Về tài sản, Nghị định 115 cho phép các tổ chức KH&CN được cấp có thẩm quyền giao tài sản, kể cả quyền sử dụng đất và được quản lý, sử dụng tài
Trang 23sản cho nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật, tài sản nào sử dụng cho sản xuất kinh doanh thì phải trích khấu hao như tài sản nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước và hạch toán vào giá thành sản phẩm, được giữ lại khấu hao để bổ sung vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị Nếu đơn vị chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN theo Nghị định 80 thì tài sản được coi là phần vốn nhà nước trong doanh nghiệp, có thể được giao đất, thuê đất và sử dụng tài sản thế chấp, vay vốn, liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật
Về quản lý cán bộ viên chức, Nghị định 115 tăng quyền hạn cho người đứng đầu các tổ chức KH&CN góp phần cải cách hành chính và phân cấp quản lý một cách triệt để, đồng thời có quy định sự phối hợp, giám sát của các
tổ chức chính trị và chính trị xã hội trong đơn vị Đó là:
1 Thủ trưởng tổ chức KH&CN được quyền quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, ký hợp đồng làm việc, nâng bậc lương (đúng thời hạn, trước thời hạn và vượt 1 bậc khi có thành tích xuất sắc) trong cùng ngạch và quyết định chuyển ngạch viên chức từ ngạch nghiên cứu viên chính và tương đương trở xuống
2 Mức thu nhập của cán bộ, viên chức không bị giới hạn mức tối đa căn cứ vào hiệu quả công việc, có thể gấp nhiều lần mức lương cơ bản theo quy định của nhà nước, sau khi đó hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước và trích lập các quỹ theo quy định, tiền lương trong hợp đồng làm việc được tính vào chi phí hợp lý trước thuế;
3 Chính thức cho phép bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo của tổ chức KH&CN đối với viên chức đã làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc không xác định thời hạn có thời gian từ 3 năm trở lên
4 Cán bộ, viên chức chuyển sang chế độ ký hợp đồng làm việc, không phân biệt người đó trước đây trong biên chế hay ngoài biên chế
Khi tổ chức KH&CN lựa chọn hình thức chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN theo Nghị định 80, cán bộ viên chức sẽ hưởng chính sách chung đối với người lao động trong doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp
Trang 24Mặc dù vậy, vẫn có nhiều người hiểu sai tinh thần của Nghị định 115 nên lo ngại một cách thiếu căn cứ Ví dụ họ hiểu thuật ngữ “tự chủ” theo nghĩa hẹp là tự trang trải về tài chính mà quên rằng Nghị định 115 cũng tạo cho họ quyền tự chủ cao và toàn diện về tổ chức, biên chế, quản lý cán bộ Hoặc hiểu “tự trang trải kinh phí” là nhà nước sẽ cắt mọi nguồn kinh phí mà không biết rằng Nghị định 115 quy định chỉ thay đổi phương thức cấp kinh phí hoạt động thường xuyên (tức là quỹ lương và chi bộ máy) từ phương thức cấp theo số lượng biên chế sang phương thức cấp theo nhiệm vụ, kể cả nhiệm
vụ duy trì bộ máy để thực hiện chức năng thường xuyên của đơn vị
Thực tế, nhiều đơn vị đã rất thành công sau khi chuyển đổi theo Nghị định 115 và đánh giá cao chính sách của Chính phủ đã tạo cho họ “cơ hội vàng” để phát triển
1.2 Hoạt động thông tin :
1.2.1 Khái quát về hoạt động thông tin :
Cách mạng khoa học và công nghệ đòi hỏi áp dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học vào đời sống thực tiễn Nhưng quá trình này không xảy ra một cách tự động, nó đòi hỏi những cố gắng thường xuyên của toàn bộ hoạt động thông tin trong xã hội
Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại một sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực và giữa các nước về hai tham số cơ bản là: trình độ khoa học – giáo dục và khả năng với tới thông tin – tri thức 90% số nhà khoa học trên thế giới hiện đang làm việc ở khoảng 20 nước công nghiệp phát triển, 93% số bằng phát minh sáng chế được ghi nhận là của các nước này Trong khi đó tại 150 quốc gia còn lại tiềm lực khoa học chỉ chiếm có chưa đầy 10% Đây là sự mất cân đối chính và phản ánh tính không đồng đều trong quá trình phát triển Vì vậy, nhiệm vụ được đặt ra cho từng nước là phải có các chiến lược thích hợp
để củng cố tiềm lực khoa học của mình, hoàn thiện hệ thống và chương trình giáo dục - đào tạo, đặc biệt là đào tạo đại học và sau đại học, tạo lập hệ thống đổi mới đáp ứng với yêu cầu phát triển và hội nhập
Trang 25Thế giới đang diễn ra quá trình tiến vào “xã hội thông tin toàn cầu” Trong bối cảnh đó, việc hướng tới sự định hình một xã hội thông tin ở từng nước đã đặt ra yêu cầu đối với việc khai thác và sử dụng thông tin như một nguồn lực cơ bản và quan trọng để phát triển quốc gia Là loại tài sản vô hình, thông tin và tri thức khác với các nguồn lực vật chất truyền thống ở những đặc điểm nổi trội, ví như: không bị giới hạn về trữ lượng, trong quá trình sử dụng giá trị của thông tin không bị “hao mòn” hoặc bị mất đi thậm chí có thể được làm giàu hơn, tức là thông tin có khả năng tái sinh, tự sinh sản và không bao giờ cạn kiệt Với sự phát triển của mạng Internet, không gian thông tin của nhân loại được mở rộng và lớn hơn rất nhiều
Ngày càng có nhiều trang Web được xây dựng trên mọi lĩnh vực để đăng tải và truyền thông tin Các bản tin, các loại ấn phẩm, các cơ sở dữ liệu, các cuộc thảo luận và tham vấn được xuất hiện trên mạng Internet Mọi hoạt động trong xã hội hiện đại đều phải dựa trên thông tin Ngày nay, chúng ta càng thấy thấm thía hơn lời tiên tri của N Winear – cha đẻ của ngành Cybernetics cách đây nửa thế kỷ, “Cuộc sống có chất lượng là cuộc sống với thông tin” Trong thời đại thông tin, lợi thế so sánh sẽ thuộc về quốc gia nào
có năng lực tổ chức khai thác với hiệu quả cao nhất các nguồn thông tin và tri thức hiện có của nhân loại
Từ vài thập kỷ qua, cùng với hai yếu tố năng lượng và nguyên liệu, thông tin KHCN đã được coi là tiềm năng thứ 3 - một tiềm năng đặc biệt quan trọng, có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy phát triển mọi hoạt động xã hội của con người Thông tin KHCN được xem là hàng hoá đặc biệt với đặc điểm là khi được sử dụng, chúng không những mất đi mà ngược lại càng sử dụng giá trị của chúng càng được nhân lên mà hiệu quả mang lại càng tăng Thông tin KHCN là yếu tố nền tảng của kinh tế tri thức Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KHCN, đặc biệt là CNTT và truyền thông trong thập kỷ gần đây
đã tác động sâu sắc tới hoạt động thông tin KHCN, đưa thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức Sự hội tụ giữa thông tin, viễn thông, tin học là một xu hướng quan trọng trong xu thế
Trang 26phát triển hoạt động thông tin nói chung và thông tin KHCN nói riêng trên toàn cầu Đầu tư cho thông tin KHCN từ chỗ được coi là đầu tư cho phúc lợi
xã hội chuyển thành đầu tư cho sự phát triển
Công tác phục vụ thông tin KHCN được chú trọng với nhiều hình thức
đa dạng, đặc biệt là các thông tin nhanh, thông tin chọn lọc, các tổng luận phân tích, các số liệu thống kê, so sánh
Phục vụ thông tin KHCN cho nông nghiệp nông thôn được nhiều cơ quan thông tin chú trọng phát triển, nhất là các cơ quan thông tin địa phương Công tác phục vụ thông tin cho doanh nghiệp, phát triển thị trường công nghệ được đặc biệt quan tâm Để có sức cạnh tranh trong môi trường của nền kinh
tế tri thức, điều cốt yếu cho mỗi quốc gia là phải có năng lực tiếp thu thông tin, dựa trên thông tin sáng tạo ra nhiều tri thức và tích cực đổi mới4
1.2.2 Các hoạt động thông tin :
Hoạt động thông tin là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử
lý, lưu trữ, phổ biến thông tin KH&CN; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin KH&CN Nội dung hoạt động thông tin KH&CN gồm :
- Các hoạt động thu thập và xử lý các dữ liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức nhằm tạo lập nguồn tin KH&CN
- Quản lý, lưu giữ nguồn tin KH&CN
- Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN trên cơ sở hợp đồng dịch vụ với các cá nhân, tổ chức
- Cung cấp thông tin mang tính luận cứ để xây dựng các dự báo về tình hình phát triển, phục vụ hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
- Cung cấp, trao đổi thông tin miễn phí theo chủ trương, chính sách của Nhà nước nhằm tuyên truyền, phổ biến tri thức hoặc để hợp tác phát triển KH&CN
4 http:// www.vjol info: PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng, Phát triển thông tin KH&CN để trở thành nguồn l ực,
Trang 27- Xõy dựng và tổ chức thực hiện cỏc chương trỡnh, kế hoạch hoạt động thụng tin KH&CN; hướng dẫn, kiểm tra về chuyờn mụn, nghiệp vụ hoạt động thụng tin KH&CN
- Hướng dẫn, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ về hoạt động thụng tin KH&CN
- Xõy dựng cỏc cơ sở dữ liệu tổng hợp, chuyờn đề và cỏc trang thụng tin điện
tử về KH&CN; ứng dụng và phỏt triển cụng nghệ tiờn tiến trong hoạt động thụng tin KH&CN
- Nghiờn cứu khoa học, phỏt triển cụng nghệ phục vụ hoạt động KH&CN
- Tổ chức cỏc hoạt động thư viện, hội nghị, hội thảo, triển lóm, hội chợ về KH&CN, chợ cụng nghệ và thiết bị
- Hợp tỏc quốc tế về thụng tin KH&CN
- Cỏc hoạt động khỏc về thụng tin KH&CN theo quy định của phỏp luật
* Nguyờn tắc chung của hoạt động thụng tin khoa học và cụng nghệ
- Bảo đảm tớnh chính xỏc, trung thực, khỏch quan, đầy đủ và kịp thời trong cỏc hoạt động thụng tin khoa học và công nghệ; bảo đảm chất lượng, khối lượng sản phẩm, dịch vụ thụng tin khoa học và công nghệ theo yờu cầu của tổ chức, cỏ nhõn
- Bảo đảm khai thỏc, sử dụng và quản lý cú hiệu quả thụng tin khoa học và công nghệ phục vụ quản lý nhà n-ớc, phỏt triển kinh tế - xó hội, xõy dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Bảo đảm quyền tiếp cận thụng tin khoa học và công nghệ được tạo ra bằng ngõn sách nhà n-ớc đối với cỏc tổ chức, cỏ nhõn phự hợp với quy định của phỏp luật
- Giữ bớ mật cỏc thụng tin khoa học và công nghệ thuộc danh mục bớ mật nhà n-ớc hoặc do tổ chức, cỏ nhõn yờu cầu phự hợp với quy định của phỏp luật
Trang 28- Kết hợp chặt chẽ hoạt động nghiệp vụ thụng tin khoa học và công nghệ với hoạt động thư viện, lưu trữ, thống kờ và cỏc hoạt động thụng tin đại chỳng khỏc 5
* Đối tượng phục vụ của hoạt động thụng tin:
+ Cỏc tổ chức R&D
+ Cỏc tổ chức sản xuất kinh doanh, cỏc doanh nghiệp…
+ cỏc cơ quan Chớnh phủ
+ khu vực xó hội dõn sự (cỏc Hội, người tự do )
1.2.3 Việc thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trỏch nhiệm trong cỏc đơn vị cú hoạt động dịch vụ thụng tin :
Nghiờn cứu khoa học trong lĩnh vực thụng tin KH&CN là rất quan trọng đối với sự phỏt triển kinh tế xó hội Quản lý tốt nguồn tin KHCN nội sinh thụng qua việc củng cố và tăng cường cụng tỏc thu thập, lưu trữ, xử lý và phổ biến thụng tin về cỏc nhiệm vụ KHCN, kết quả nhiệm vụ KHCN, luận ỏn tiến sỹ, thụng tin điều tra cơ bản là vấn đề hết sức cần thiết Từ cỏc thụng tin KHCN mang tớnh luận cứ, cỏc nhà quản lý cú thể xõy dựng cỏc dự bỏo về kế hoạch phỏt triển, chiến lược phỏt triển, định hướng và hoạch định chủ trương, đường lối phỏt triển lõu dài của tổ chức, của quốc gia
Thụng tin KHCN theo chủ trương của Đảng và Nhà nước cũn được cung cấp rộng rói cho nhiều đối tượng nhằm tuyờn truyền, phổ biến tri thức giỳp cỏc đối tượng khỏc nhau hiểu và ứng dụng vào đời sống
Thụng tin đúng vai trũ quan trọng đối với sự hoạt động của bất kỳ một
tổ chức nào Do đú việc thực hiện tự chủ, tự chịu trỏch nhiệm cú thể núi đó tạo sự chủ động, sự năng động sỏng tạo cho cỏc tổ chức KHCN hoạt động trong lĩnh vực thụng tin Nhưng bờn cạnh sự đổi mới cơ chế hoạt động cần phõn loại cỏc hoạt động cú thể tự chủ và cỏc hoạt động chưa tự chủ được cần được Nhà nước cấp kinh phớ thực hiện Cú như vậy thụng tin mới được khai thỏc và sử dụng hiệu quả, trở thành nguồn lực cơ bản và quan trọng để phỏt triển quốc gia
Điều 4 Nghị định số 159/2004/NĐ-CP về hoạt động thụng tin khoa học và cụng nghệ.
Trang 291.2.3.1 Một số hoạt động dịch vụ thông tin có thể chuyển đổi sang cơ chế tự chủ :
a Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN trên cơ sở hợp đồng dịch vụ với các cá nhân, tổ chức
Dịch vụ thông tin khoa häc vµ c«ng nghÖ là một loại hình dịch vụ khoa häc vµ c«ng nghÖ bao gồm dịch vụ thông tin c«ng ích và dịch vụ thông tin có thu Dịch vụ thông tin c«ng ích được cung cấp miễn phí hoặc mức phí thấp do ngân s¸ch nhµ n-íc hỗ trợ một phần Dịch vụ thông tin có thu được cung cấp theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân thông qua hợp đồng dịch vụ thông tin khoa häc vµ c«ng nghÖ Dịch vụ thông tin khoa häc vµ c«ng nghÖ được tiến hành dưới các hình thức sau đây:
+ Phổ biến thông tin chọn lọc;
+ Cung cấp tài liệu phân tích, tổng hợp thông tin khoa học và công nghệ theo chuyên đề;
+ Cung cấp bản sao, bản dịch tài liệu, dữ liệu về khoa học và công nghệ; + Tra cứu và cung cấp thông tin khoa học và công nghệ trên mạng;
+ Tổ chức triển lãm, chợ công nghệ và thiết bị;
+ Các hình thức dịch vụ khác do pháp luật quy định
Có thể nói hoạt động thông tin này cần thiết cho hầu hết các đối tượng : người dân, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các tổ chức, các cơ quan Nhà nước
* Đối với người dân : cần thông tin KH&CN để giảm chi phí và rủi ro xảy ra khi mua-bán chuyển giao công nghệ, thiết bị mới cho tiêu dùng, cho sản xuất
* Đối với doanh nghiệp :
Cạnh tranh là yếu tố thúc đẩy doanh nghiệp phát triển Có nhiều yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh cao như : công nghệ, quản lý, năng suất, chất lượng, giá cả, chế độ bảo hành, quảng cáo, nhãn hiệu uy tín Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức quản lý để đáp ứng các yêu cầu về tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm
Trang 30Thông tin KH&CN có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, đó là cung cấp các thông tin để lựa chọn công nghệ thích hợp, cải tiến mẫu mã, bao bì, nghiên cứu chế thử sản phẩm.Thông tin KH&CN hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu triển khai, cho việc áp dụng các thành tựu KH&CN mới vào sản xuất Thông tin KH&CN còn giúp cho việc hoạch định, xây dựng chiến lược phát triển công nghệ, xác định được các hướng ưu tiên cho sự phát triển của doanh nghiệp
Trên thế giới, các công ty lớn sớm nhận thức được tầm quan trọng của thông tin KH& CN, đã tổ chức hoạt động thông tin KH&CN như một trong những hoạt động quan trọng của công ty, mang tính chiến lược trong sản xuất kinh doanh và cạnh tranh trên thương trường Các doanh nghiệp lớn ngày càng đầu tư nhiều vào khâu thu thập, xử lý thông tin KH&CN để nắm bắt những tiến bộ kỹ thuật công nghệ trong và ngoài nước, để có cơ sở hoạch định chiến lược nghiên cứu, kế hoạch sản xuất kinh doanh tại đơn vị
Thông tin KH&CN đã trở thành một trong những nguồn lực quan trọng, một bộ phận hữu cơ không thể thiếu được trong quá trình hoạt động đổi mới của doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp duy trì khả năng cạnh tranh cũng như đón đầu các xu hướng phát triển để tránh tụt hậu
Đối với các nước đang phát triển, do khả năng tài chính còn eo hẹp không có khả năng chi phí nhiều cho những hoạt động nghiên cứu triển khai, cũng như trình độ kỹ thuật, công nghệ còn thấp, các công nghệ tiên tiến được
sử dụng đều phải nhập từ nước ngoài nên thông tin KH&CN hỗ trợ việc lựa chọn công nghệ, thiết bị phù hợp với những điều kiện có thể chấp nhận được
là vô cùng quan trọng
Các doanh nghiệp nước ta hầu hết trình độ công nghệ còn thấp và lạc hậu Do đó sản phẩm sản xuất ra chất lượng không cao, giá thành cao Tuy nhiên việc cải tiến chất lượng, mẫu mã gặp nhiều khó khăn vì nhiều lý do : thiếu thông tin, thiếu vốn, trình độ tiếp thị kém, trình độ công nghệ thấp.Để tồn tại và nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình, tiến tới hội nhập với khu vực và thế giới, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và quốc
Trang 31tế, các doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng Một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của doanh nghiệp là khai thác và sử dụng thông tin KH&CN một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời
Trong thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng đủ sức duy trì và phát triển công tác thông tin KH&CN ngang tầm với yêu cầu phát triển ngay tại đơn vị Ngoài tính chất phức tạp mang tính đặc thù của hoạt động thông tin KH&CN trong các khâu thu thập, xử lý, lưa trữ, cập nhật thông tin, các doanh nghiệp Việt nam còn chưa quan tâm đúng mức đến những tác động tích cực của thông tin KH&CN trong quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy việc thu thập, sử dụng thông tin KH&CN một cách hệ thông trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp còn hạn chế
Do vậy, các doanh nghiệp cần biết cách khai thác, sử dụng thông tin KH&CN như đến với các cơ quan thông tin thường xuyên; hợp đồng đề nghị
tư vấn, cung cấp các dịch vụ thông tin KH&CN theo yêu cầu thì việc tiếp cận những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới sẽ thuận lợi hơn
* Đối với các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước :
Thông tin KH&CN giúp cho việc hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội Hệ thống quản lý có hiệu quả rất cần có nhiều thông tin, thông tin cần được thu thập, xử lý đầy đủ, kịp thời sẽ có được những quyết sách đúng đắn, theo kịp sự phát triển của xã hội, của thế giới
Hiện nay, thông tin KH&CN tại các cơ quan quản lý chưa được quan tâm đúng mức, chưa có sự liên hệ chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các bộ phận nên hiệu quả quản lý còn chưa cao Để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, Chính phủ đã có nhiều biện pháp như : xây dựng Chính phủ điện tử, thực hiện Đề án tin học hoá hành chính 112, tăng cường làm việc qua mạng.Công tác thu thập, lưu trữ, xử lý thông tin ngày càng được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng quản lý
Ngoài ra, phục vụ thông tin KHCN cho nông nghiệp nông thôn cũng được nhiều cơ quan thông tin chú trọng phát triển, nhất là các cơ quan thông
Trang 32tin địa phương Đặc biệt là việc nhân rộng mô hình : "Cung cấp thông tin
phục vụ phát triển KTXH nông thôn miền núi"
b Hướng dẫn, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ về hoạt động thông tin KH&CN
Hoạt động này tại các tổ chức KH&CN bao gồm :
- Việc mở các lớp đào tạo tin học, bồi dưỡng nghiệp vụ về công nghệ thông tin cho các đối tượng : sinh viên-học sinh, cán bộ, công chức, người dân tự do đã tạo nguồn thu không nhỏ cho các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực thông tin
- Tổ chức hội thảo về công nghệ thông tin, thảo luận về những quy định mới
về thực hiện bản quyền trong sử dụng các sản phẩm tin học, những sản phẩm mới về công nghệ, thiết bị và sản phẩm phần mềm đã và sẽ xuất hiện trên thị trường trong nước và ngoài tỉnh cho các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh các sản phẩm về tin học
c Xây dựng các cơ sở dữ liệu tổng hợp, chuyên đề và các trang thông tin điện
tử về KH&CN; ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến trong hoạt động thông tin KH&CN
- tư vấn, cung cấp cho các đơn vị có nhu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu trực tuyến, tạp chí điện tử trực tuyến và các trang thông tin điện tử về KH&CN, giúp cho việc trao đổi thuận tiện, nội dung phong phú, bao gói thông tin dễ dàng Việc xây dựng Cổng giao tiếp điện tử, thư viện điện tử, Website đã góp phần nâng cao chất lượng phục vụ cho các đối tượng
- tư vấn và thực hiện triển khai ứng dụng, phát triển công nghệ tiên tiến cho các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân có nhu cầu
d Tổ chức các hoạt động thư viện, hội nghị, hội thảo, triển lãm, hội chợ về KH&CN, chợ công nghệ và thiết bị
Hiện nay, tại các cơ quan thông tin KHCN lớn đã xây dựng được Website về KHCN, một số cơ quan đã tạo lập được Thư viện điện tử chuyên ngành Trong phạm vi toàn hệ thống thông tin quốc gia có nhiều mạng thông
Trang 33tin điện tử với nguồn tin phong phú, đáp ứng tốt yêu cầu tin của người dung như :
- Mạng thông tin KHCN Việt Nam (VISTA), mạng thông tin KHCN phục vụ vùng sâu, vùng xa (Thư viện điện tử phục vụ nông thôn)
- Chợ ảo về công nghệ và thiết bị Việt Nam
- Mạng thông tin nông nghiệp nông thôn AGroViet
- Mạng thông tin y học, y tế
- Mạng thông tin thương mại VITRANET
Những mạng này đã đóng góp nhiều trong việc cung cấp thông tin KHCN một cách kịp thời, thiết thực cho các đối tượng dùng tin trong nước và
cả ngoài nước
Việc phục vụ thông tin cho các doanh nghiệp, phát triển thị trường công nghệ được các tổ chức KH&CN đặc biệt quan tâm mở rộng phát triển liên tục Trong những năm qua, chợ công nghệ đã được tổ chức ở nhiều quy
mô, cấp độ khác nhau (quốc gia, tỉnh, huyện) Chợ ảo công nghệ và thiết bị cũng được xây dựng và liên tục đầu tư
1.2.3.2 Các hoạt động chưa chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm :
- Các hoạt động thu thập và xử lý các dữ liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức nhằm tạo lập nguồn tin KH&CN
- Quản lý, lưu giữ nguồn tin KH&CN
- Cung cấp thông tin mang tính luận cứ để xây dựng các dự báo về tình hình phát triển, phục vụ hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
- Cung cấp, trao đổi thông tin miễn phí theo chủ trương, chính sách của Nhà nước nhằm tuyên truyền, phổ biến tri thức hoặc để hợp tác phát triển KH&CN
- Xây dựng các cơ sở dữ liệu tổng hợp, chuyên đề và các trang thông tin điện
tử về KH&CN; ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến trong hoạt động thông tin KH&CN
Trang 34- Hợp tác quốc tế về thông tin KH&CN
1.2.4 Hiện trạng của hệ thống thông tin KH&CN tại Việt Nam
Nếu tính từ thời điểm Hội nghị thông tin KH&CN toàn quốc lần thứ nhất (năm 1971) được tổ chức và khi Nghị Quyết 89-CP (năm 1972) được ban hành, thì lịch sử của ngành thông tin KH&CN Việt Nam đã có được 33 năm Khác với các ngành công nghiệp truyền thống như : cơ khí, luyện kim, đóng tàu ngành thông tin nước ta vào cuộc không chậm hơn thế giới là bao Đến nay, chúng ta đã xây dựng trong toàn quốc một mạng lưới các cơ quan thông tin, tư liệu, thư viện lưu trữ với các qui mô khác nhau Với việc đầu tư của nhà nước, chúng ta đã hình thành một kết cấu hạ tầng thông tin cho hoạt động khoa học và kinh tế-xã hội Kết cấu hạ tầng thông tin đó bao gồm các cơ quan thông tin – thư viện, các mạng truyền thông - máy tính trong hầu hết các
cơ quan quản lý hành chính, các cơ sở khoa học và đào tạo, các doanh nghiệp lớn nối với mạng thông tin toàn cầu
Không ít các cơ sở thông tin - thư viện đã bắt đầu có khả năng thu thập được nhiều thông tin bên ngoài từ các nguồn trên mạng Internet Phải chăng đây là tất cả những gì để chúng ta xác lập con đường tiến tới một “xã hội thông tin” như đã được khẳng định trong Nghị Quyết của Chính phủ số 49-CP năm 1993?
Song trên thực tế, và đó là điều cốt yếu nhất, hiện nay rất nhiều người dùng tin, trong đó có cả nhiều nhà quản lý, nhà khoa học, nhà giáo, nhà doanh nghiệp, vẫn thường xuyên không có được các thông tin cần thiết cho công việc Nhiều thông tin được sản sinh trong nước (thông tin nội sinh), thông tin hiện đang có ở nước ta vẫn không được kiểm soát và/hoặc không thể truy cập được Lấy ví dụ trong lĩnh vực khoa học và đào tạo, chúng ta không hề biết năng lực của các cơ sở khoa học và đào tạo thế nào? Có những đề tài/dự án khoa học gì đang được triển khai và kết thúc ra sao? Có những hội thảo khoa học nào đã được tổ chức và ở đâu được lưu giữ trong các kỷ yếu? Hàng năm
có bao nhiêu đoàn đi tham quan, thực tập, khảo sát ở nước ngoài (đoàn ra) và
có những đoàn nào vào ta (đoàn vào), thông tin về các đoàn công tác này có
Trang 35thể truy cập ở đâu? Có cơ sở thông tin nào giúp cho việc hỗ trợ và giám sát để hạn chế tình trạng đạo văn trong các luận văn/luận án? Những vấn đề trên và tương tự nhiều vấn đề thông tin khác đã được cảnh báo ngay tại Hội nghị thông tin thông tin KH&KT toàn quốc lần thứ nhất từ năm 1971 khi mà ngành thông tin KH&CN còn trong “trứng nước”, thì đến nay vẫn còn là thời
sự, cho dù “cơ thể” của ngành đã trưởng thành sau 33 năm được nhà nước nuôi dưỡng Như vậy, điều chính yếu nhất là nội dung thông tin, phần thông tin của ta, do ta tạo lập để phục vụ thiết thực cho các hoạt động phát triển nói chung và hoạt động khoa học - đào tạo nói riêng thì gần như chưa có được bao nhiêu Vì vậy, nếu năm 1993, trong Nghị Quyết 49-CP xác định nước ta còn “lạc hậu về thông tin” và còn thiếu nhiều thông tin ở cả trong và ngoài nước thì đến nay, chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi cảnh nghèo thông tin và tri thức Hiển nhiên trong hoàn cảnh đó, nền kinh tế của ta vẫn còn là chậm phát triển, năng lực đổi mới còn thấp kém và còn kém sức cạnh tranh trên thế giới
Để xây dựng xã hội thông tin, biến thông tin trở thành nguồn lực phát triển, tất nhiên còn phải tiếp tục đầu tư để trang bị thêm nhiều máy, nâng cấp mạng với công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, phần huyết mạch, cốt lõi của vấn đề lại nằm ở phần nội dung thông tin mà để có được, đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, trí tuệ và tâm huyết Tổ chức nội dung thông tin là phần lõi, “phần hồn”, còn việc ứng dụng công nghệ thông tin chỉ là sử dụng một công cụ để có thể giúp cho việc kiểm soát, tổ chức, truy cập, tìm kiếm và khai thác được các nguồn thông tin hữu ích một cách nhanh chóng, thuận tiện, kinh tế và có hiệu quả hơn Gần đây, trong xã hội, việc xây dựng các website đã trở thành phong trào rộng khắp tại nhiều cơ quan, tổ chức Song rất tiếc, sau khi đã giải quyết xong phần kỹ thuật thì phần nội dung lại ít được quan tâm, nên kết cục, nhiều website đã được xây dựng rất ít tác dụng do quá sơ sài và nghèo nàn về thông tin Bài toán thông tin, do vậy, là bài toán lớn, phức tạp và để có lời giải phải
có cách nhìn trên quan điểm có tính hệ thống chứ không đơn thuần là bài toán của công nghệ như ta vẫn tưởng trong thời gian dài vừa qua dẫn tới việc chỉ tập trung vào mua sắm trang bị, thay phần mềm, tạo lập các Websites
Trang 361.2.5 Một số nhiệm vụ và định h-ớng phát triển hoạt động thông tin KHCN :
1.2.5.1 Một số nhiệm vụ và giải phỏp
Cú rất nhiều cụng việc cần phải giải quyết để thiết lập tại nước ta một mụi trường thụng tin lành mạnh và hữu hiệu Dưới đõy là một số nhiệm vụ : + Nhiệm vụ kiểm soỏt thụng tin
Xột về phương diện nguồn tin tài nguyờn thụng tin cú thể chia thành hai phần: phần nằm trong tài liệu và phần phi tư liệu (Non-document), trong phần tài liệu cú dạng cụng bố và dạng khụng cụng bố Đối với cỏc nguồn tư liệu cụng bố, cụng cụ kiểm soỏt truyền thống là cỏc thụng tin thư mục, dưới dạng giấy hoặc dưới dạng cơ sở dữ liệu Hiện nay, khụng phải tất cả vốn tư liệu hiện cú trong cỏc cơ quan thụng tin – thư viện đó được kiểm soỏt thư mục
Song trờn thực tế, khú khăn hơn là kiểm soỏt thụng tin đối với phần tài liệu khụng cụng bố như cỏc tài liệu về cỏc đề tài nghiờn cứu, tài liệu hội thảo, cỏc luận văn sau đại học , đặc biệt là cỏc nguồn phi tư liệu như: bỏo cỏo đoàn vào-đoàn ra, thụng tin về cỏc thực thể sống như nhõn sự, tổ chức, cỏc loại sản phẩm, Trờn bỡnh diện quốc gia phải cú sự phõn cụng cụ thể giữa cỏc cơ quan quản lý và cơ quan thụng tin Nguyờn tắc chung là khụng trựng lặp và khụng
bỏ sút Hiện nay, bỏ sút cũn nhiều, trựng chộo vẫn cũn khụng ớt làm cho nhiều nguồn tin cũn chưa được quản lý gõy tổn thất nhiều cho xó hội
Nhà nước cần cú chương trỡnh mục tiờu để xõy dựng hệ thống cỏc CSDL quốc gia và phải coi đõy là phần tài nguyờn tớch cực của quốc gia trong quỏ trỡnh đảm bảo sự phỏt triển cú tớnh bền vững
+ Nhiệm vụ xử lý thụng tin
Nguyờn tắc hoạt động thụng tin là xử lý một lần, sử dụng nhiều lần Trờn toàn cục, trong từng cơ quan, hiện tượng trựng lặp trong xử lý tài liệu/thụng tin cũn khỏ phổ biến Nếu kiểm tra cỏc cơ sở dữ liệu, cựng một tài liệu cú nhiều biểu ghi: lặp trong một cơ sở dữ liệu, lặp giữa cỏc cơ sở dữ liệu trong cựng một cơ quan và giữa cỏc cơ quan khỏc nhau Bờn cạnh đú, việc lựa chọn và đỏnh giỏ tài liệu chưa thật khoa học làm cho ảnh hưởng khụng tốt tới
Trang 37chất lượng và giá trị các cơ sở dữ liệu được xây dựng Để khắc phục các tồn tại trên trong xử lý thông tin cần, một mặt, xây dựng và thực hiện một quy trình nghiêm ngặt, mặt khác, cần có sự phân công rõ ràng và hiệp tác chặt chẽ giữa các cơ quan thông tin-thư viện
+ Nhiệm vụ truy cập thông tin
Đặc trưng quan trọng của xã hội thông tin là mở rộng khả năng để mọi người dân có cơ hội truy cập tới thông tin và sử dụng được thông tin Thêm nữa, phần lớn các nguồn lực thông tin của ta hiện nay là thuộc sở hữu Nhà nước, do vậy, về lý thuyết người dùng tin sẽ phải dễ dàng truy cập được Nhưng trên thực tế, việc người dân truy cập tới thông tin còn gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân có nhiều, có cái về chính sách, có cái về hành chính, có cái về kinh tế và cả về công nghệ Rất nhiều thông tin với lý do “bảo mật”, các thủ tục hành chính ngự trị ở từng cơ quan làm không gian thông tin bị cắt
xẻ, giá cả dịch vụ thông tin quá đắt và sự không tiện ích về mặt công nghệ làm người dùng tin dần dần trở nên mặc cảm và thậm chí xa lánh thông tin + Nhiệm vụ tìm cung cấp thông tin
Áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin – thư viện đã tạo khả năng tìm tin nhanh hơn, nhiều chiều hơn (tìm theo nhiều chủ đề và tiêu thức khác nhau), linh hoạt hơn và thân thiện hơn Đáng lẽ, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin mới thì thời gian và khoảng cách sẽ không còn là trở ngại Thế nhưng, trên thực tế, bài toán cung cấp thông tin cho những người dùng tin ở ngoài cơ quan, ngoài địa phương còn rất chậm chạp Nhiều hợp đồng thực hiện các dịch vụ cung cấp thông tin cho các đề tài khoa học, cho các nhiệm vụ kinh tế kéo dài trong sự chờ đợi đã làm mất đi các cơ hội Thông tin có tính thời sự, giá trị của thông tin phụ thuộc vào thời điểm tiếp nhận chúng, do vậy, việc cung cấp thông tin kịp thời là trách nhiệm và là sứ mệnh của cơ quan thông tin – thư viện
+ Nhiệm vụ đánh giá thông tin
Cần phải nói rằng, chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi cuộc “khủng hoảng thông tin” mà một trong số các đặc điểm của nó là môi trường thông tin vẫn
Trang 38còn bị ô nhiễm: nhiều thông tin trùng lặp, kém chất lượng, lỗi thời, thậm chí còn sai lệch vẫn còn được tồn tại và lưu thông trong xã hội Cách đây gần 40 năm, nhà vật lý học Conyers Herring đã cảnh báo về tác hại của việc “ô nhiễm” thông tin này và đã đưa ra các giải pháp đánh giá thông tin trong các sản phẩm tổng luận Cùng với sự phát triển, hoạt động thông tin cần được định hướng vào quá trình điều hành và phát triển kinh tế-xã hội Ngoài việc
“cung cấp” thông tin, cơ quan thông tin trong môi trường mới cần phải xác lập chế độ kiểm soát và điều khiển thông tin trong các quá trình quản lý, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh, Các
cơ quan thông tin ngày nay, nếu muốn khẳng định vị thế của mình trước xã hội, phải thực hiện chức năng kép, vừa là nhà cung cấp thông tin vừa là nhà phản biện và đánh giá thông tin
+ Nhiệm vụ khai thác và sử dụng thông tin
Thông tin không có mục tiêu tự thân Giá trị và hiệu quả của thông tin được thể hiện ở chỗ chúng được sử dụng ra sao trong các hoạt động của con người Thông tin có trở thành nguồn lực hay không phần nào phụ thuộc vào trình độ “văn hoá thông tin” của người dân mà trước hết là lực lượng trí thức trong xã hội Một xã hội học tập đòi hỏi mọi người phải trở thành người dùng tin tích cực: ý thức được tầm quan trọng của thông tin, muốn sử dụng thông tin, coi việc khai thác và sử dụng thông tin là thói quen hàng ngày, biết sử dụng thông tin có hiệu quả Để đạt được mức trên cần giải quyết hai vấn đề cơ bản Thứ nhất, nhà nước phải có chính sách khuyến khích sử dụng thông tin, sau nữa, cơ quan thông tin – thư viện phải có các sản phẩm và dịch vụ tốt và thực sự hữu ích Gần đây, khi tìm kiếm về các giải pháp để mở rộng việc sử dụng thông tin đối với các sản phẩm trong hoạt động của các cơ quan thông tin - thư viện nhiều người viện dẫn về việc cần đẩy mạnh tiếp thị Về vấn đề này, chúng tôi muốn lưu ý các cơ quan thông tin thư viện về một bài học có tính quốc tế Cách đây gần 20 năm, khi phân tích về hoạt động thông tin ở các nước đang phát triển, G.S Dwight E Gray, một chuyên gia của Tổ chức Văn hoá, Giáo dục và Khoa học của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã lưu ý khi sử
Trang 39dụng tiếp thị Ông viết “Nếu khi quảng cáo cho cơ quan thông tin mà vượt quá những khả năng và giá trị thực có của nó thì sẽ dẫn tới tác dụng phản lại: Người dùng tin sẽ thờ ơ, mặc cảm thậm chí sẽ xa lánh cơ quan thông tin” Như vậy, chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ thông tin sẽ là lực kéo quan trọng để mọi người gần lại với hoạt động của các cơ quan thông tin – thư viện
+ Nhiệm vụ chia sẻ thông tin
Không gian thông tin là một thể thống nhất, do vậy, sức mạnh của thông tin nằm trong sự tương tác của các cơ quan thông tin trong một hệ thống Đến nay, các cơ quan thông tin – thư viện của ta hoạt động về cơ bản vẫn theo một hệ đóng Các tổ chức thông tin đều có xu hướng nặng về muốn
“sở hữu” nhiều hơn Nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, việc lưu thông tư liệu, thông tin còn qua nhiều cửa cũng sẽ là rào cản trong việc trao đổi và vận động thông tin trong hệ thống Trên quy mô của hệ thống thông tin quốc gia, còn phổ biến hiện tượng, cùng một nguồn tin giao nộp, được xử lý và lưu nhiều nơi, song thông tin của nó vẫn rất khó đến với những người dùng tin cần thiết Ví dụ, như hiện nay ở nước ta người làm luận án tiến sỹ phải nộp luận án của mình vào ít nhất 4 cơ quan: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cơ sở đào tạo, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Thông tin KHCN Quốc gia Kết cục theo quy trình hoạt động, trong toàn quốc sẽ bị trùng lặp lớn, vi phạm nguyên tắc tổ chức của hệ thống thông tin khoa học công nghệ quốc gia là xử
lý một lần, cùng một thực thể tài liệu, sẽ phải quản trị nhiều nơi và qua nhiều lần thực hiện các việc: thu thập, xử lý, sắp xếp, bảo quản, tạo lập biểu ghi và xây dựng cơ sở dữ liệu Chúng ta vẫn chưa xây dựng được thói quen và văn hoá chia sẻ thông tin trong đất nước
1.2.5.2 Định hướng phát triển hoạt động thông tin KH&CN trong thời gian tới :
Mục tiêu hoạt động thông tin là : Xây dựng được hệ thống thông tin KHCN với một số tổ chức thông tin KHCN hiện đại, đạt trình độ như một số nước tiên tiến trong khu vực; tạo lập được nguồn lực thông tin KHCN đủ
Trang 40mạnh có thể phục vụ một cách hiệu quả các nhu cầu thông tin của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, góp phần đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển
Để đạt được thông tin như vậy, hoạt động thông tin của nước ta trong thời gian tới cần chú trọng phát triển theo hướng sau :
- Củng cổ và phát triển hệ thống thông tin KHCN quốc gia
- Đẩy mạnh công tác thông tin KHCN phục vụ CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, công tác thông tin KHCN phục vụ chuyển giao nhanh và ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp là một trọng tâm của HĐH, CNH sản xuất nông nghiệp
- Thúc đẩy thông tin phục vụ hoạt động xúc tiến và phát triển thị trường Thị trường công nghệ là một bộ phận của nền kinh tế thị trường XHCN và được chú trọng phát triển trong thời gian tới Công tác thông tin hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ hướng vào việc thông tin rộng rãi các sản phẩm KHCN được mua bán thuận lợi trên thị trường, tổ chức các Chợ Công nghệ và thiết
bị, phát triển sàn giao dịch công nghệ trên mạng, nâng cao nhận thức của công chúng và phổ biến kiến thức KHCN trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Phát triển công tác nghiên cứu và phân tích thông tin phục vụ quản lý, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển KT-XH; đặc biệt chú ý phát triển thông tin phân tích, tổng hợp, tình báo cạnh tranh, cảnh báo công nghệ, nghiên cứu thị trường, thẩm định công nghệ…như cung cấp nội dung về KHCN trên Website của Chính phủ, xuất bản sách, tạp chí Khoa học & công nghệ
- Phát triển dịch vụ thông tin KHCN phục vụ doanh nghiệp Doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong phát triển KTXH, do vậy việc cung cấp thông tin phục vụ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những hướng công tác cần đặc biệt quan tâm : phát triển thông tin phân tích, tổng hợp, tình báo cạnh tranh, cảnh báo công nghệ, cảnh báo chiến lược, nghiên