1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tác động của Nghị định 119 1999 của Thủ tướng Chính phủ tới hoạt động đầu tư cho đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa

96 443 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ nhằm đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, Nhà nước có thể sử d

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Mục lục

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

LỜI CẢM ƠN 4

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do nghiên cứu: 5

2 Lịch sử nghiên cứu: 6

3 Mục tiêu nghiên cứu: 7

4 Phạm vi nghiên cứu: 7

5 Câu hỏi nghiên cứu: 8

6 Giả thuyết nghiên cứu: 8

7 Phương pháp nghiên cứu: 9

8 Các luận cứ 9

9 Cấu trúc của luận văn: 11

CHƯƠNG 1 12

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH KHUYẾN KHÍCH DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐẦU TƯ VÀO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 12

1.1: Các khái niệm cơ bản: 12

1.1.1 Lý luận chung về doanh nghiệp 12

1.1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế 14

1.1.3 Chính sách: 16

1.1.4 Chính sách tài chính 17

1.1.5 Công nghệ 17

1.1.6 Đổi mới công nghệ và vai trò của đổi mới công nghệ 18

1.1.7 Chính sách tài chính khuyến khích theo tinh thần của Nghị định 119 20

1.1.8 Đầu tư cho đổi mới công nghệ trong Nghị định 119 21

1.2 Một số vấn đề đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay 211

1.2.1 Tình hình ĐMCN của doanh nghiệp Việt Nam 21

1.2.2 Những khó khăn của các doanh nghiệp Việt nam trong quá trình ĐMCN: 26

1.3 Một số kinh nghiệm quốc tế về Chính sách tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đổi mới công nghệ 29

1.3.1 Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ ở Singapore: 30

1.3.2 Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính để đổi mới công nghệ đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Canada 33

Trang 3

1.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc về khuyến khích tài chính cho hoạt động đổi

mới công nghệ trong doanh nghiệp 38

CHƯƠNG 2 433

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 119 VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NGHỊ ĐỊNH ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 433

2.1 Cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện Nghị định 119/1999 44

2.2: Việc triển khai Nghị định 119 tại một số doanh nghiệp………44

2.2.1 Nhóm các doanh nghiệp thực hiện Nghị định (được thụ hưởng ưu đãi) 44 2.2.2 Nhóm áp dụng Nghị định 119 nhưng thực hiện các dự án gắn với điều kiện cụ thể của địa phương theo các hình thức khác nhau: 477

2.2.3 Nhóm doanh nghiệp có biết nội dung Nghị định 119 nhưng không thực hiện được: 488

2.2.4 Nhóm doanh nghiệp không biết thông tin gì về Nghị định 119: 49

2.3 Việc triển khai Nghị định 119 tại một số cơ quan quản lý Nhà nước Trung ương và địa phương: 4949

2.4 Phân tích tác động của chính sách trong nghị định đến hoạt động đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 51

2.5 Những mặt tích cực của Nghị định: 555

2.6 Những mặt còn hạn chế của Nghị định 56

2.7 Những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị định 58

2.8 Một số nghiên cứu trường hợp: 62

2.8.1 Trường hợp Công ty Cổ phần hươu giống Hương Sơn, Hà Tĩnh 62

2.8.2 Trường hợp Công ty Cổ phần Cao su – Nhựa Hải Phòng 644

2.9 Đánh giá chung 66

KẾT LUẬN VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT 699

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC: DANH SÁCH DOANH NGHIỆP ĐƯỢC TÀI TRỢ THEO NGHỊ ĐỊNH 119 78

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập Chương trình cao học chuyên ngàmh Quản lý Khoa học và Công nghệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà nội, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô giáo trong Khoa Khoa học quản lý, các Thầy, Cô giáo trong trường

và Ban lãnh đạo nhà trường Với sự quan tâm và giúp đỡ tận tình của PGS.TS Trần Ngọc Ca- Vụ trưởng, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với những nhận xét góp ý quí báu các Thầy, Cô giáo trong Khoa, đến nay Luận văn tốt nghiệp chương trình cao học của tôi đã hoàn thành

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Ngọc Ca đã giành nhiều thời gian, công sức giúp đỡ hướng dẫn, tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Chân thành cám ơn các thầy, cô giáo Khoa Khoa học quản lý – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các chuyên gia, các đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Bản Luận văn tuy đã có cố gắng cao, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết, rất mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy cô giáo, các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu để Luận văn được hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cảm ơn.

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Trong giai đoạn hiện nay, nhất là trong thời kỳ phát triển nhanh và bền vững, khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, kể từ khi tiến hành đổi mới kinh tế, Việt Nam đã có những thời kỳ đạt mức tăng trưởng kinh tế khá cao

Để duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao như thời gian trước, trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế khu vực và trên thế giới, môi trường cạnh tranh trong nước và

quốc tế hết sức khốc liệt, hoạt động khoa học công nghệ không chỉ được thể

hiện ở các trung tâm nghiên cứu, ở các trường viện mà còn đóng một vai trò quan trọng trong các doanh nghiệp Năng suất của các doanh nghiệp là một tiêu chí quan trọng để đo khả năng cạnh tranh quốc gia Để tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia, bên cạnh môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, cần thiết phải có chính sách kinh tế vi mô tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động nhằm tăng năng suất trong đó đổi mới công nghệ được cho là điều kiện sống còn cho các doanh nghiệp để có thể gia nhập và

cạnh tranh được trong nền kinh tế toàn cầu

Để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ nhằm đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ trong

đó các công cụ tài chính nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ được biết đến là công cụ hữu hiệu thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Bởi vậy, việc sử dụng công cụ tài chính nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động đổi mới công nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam là rất cần thiết Ngày 18 tháng 9 năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 119/1999/NĐ-CP về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các

Trang 7

doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh

Hoạt động đổi mới công nghệ được khuyến khích theo quy định của Nghị định này bao gồm: Ứng dụng các kết quả khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ, sản xuất sản phẩm mới; Dịch vụ khoa học và công nghệ

Năm 2008, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Hội thảo Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ về

hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu đổi mới công nghệ” nhằm mục đích tiếp tục sửa đổi Nghị định 119 cho phù hợp với tình hình thực tiễn và các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới, đồng thời tạo điều kiện để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn nữa cho hoạt động nghiên cứu đổi mới công nghệ Tuy nhiên, việc thực thi một số chính sách này đến đâu, gặp những thuận lợi và khó khăn gì vẫn đang còn là một câu hỏi lớn Với lý do nêu trên, tôi hi vọng đề tài này sẽ làm rõ hơn những vấn đề đó

2 Lịch sử nghiên cứu

Ở Việt Nam đã có đề tài cấp cơ sở :

Nghiên cứu đánh giá chính sách hỗ trợ tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp theo Nghị định 119 (năm 2006) của ThS Cao Thu Anh (Viện chiến lược và chính sách KH&CN)

Báo cáo chuyên đề về tình hình thực hiện Nghị định 119/1999 của Chính phủ (năm 2010) nhóm Nghiên cứu của Văn phòng Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia

Những nghiên cứu đã có chủ yếu ở tầm vĩ mô hoặc một số khía cạnh liên quan đến chính sách tài chính trong các doanh nghiệp nói chung Luận văn kế thừa có chọn lọc những tư tưởng, quan điểm và kết quả nghiên cứu đã được công bố, từ đó phân tích tình hình thực hiện Nghị định 119 trong các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời phân tích tác động của

Trang 8

chính sách tài chính theo Nghị định đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong hoạt động đổi mới công nghệ và đưa ra một số khuyến nghị

để Nghị định 119 thực sự đi vào cuộc sống, giúp các doanh nghiệp Việt nam nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng có thể vận dụng một cách dễ dàng hơn trong quá trình hoạt động của mình

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Tác động của các chính sách trong Nghị định 119 đối với các hoạt động đầu tư cho đổi mới công nghệ trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Đề xuất phương án bổ sung, hoặc xây dựng lại một số cơ chế, chính sách rõ ràng và đồng bộ với các Luật và các văn bản đã ban hành trong hoạt động đổi mới công nghệ của các Doanh nghiệp, bảo đảm tính khả thi trong qúa trình thực hiện, nhằm gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất có hiệu quả, chất lượng và tính cạnh tranh cao

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Do điều kiện không cho phép nên trong đề tài này tôi chỉ phân tích tác động của Nghị định 119 tới hoạt động đầu tư cho đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được thụ hưởng chính sách của Nghị định này Đồng thời đưa ra một số thuận lợi

và khó khăn trong quá trình thực hiện, trên cơ sở đó đưa ra một vài phương án

đề xuất điều chỉnh một số điều khoản trong Nghị định cho phù hợp hơn với

Trang 9

tình hình thực tế hiện nay cũng như để các doanh nghiệp áp dụng một cách dễ dàng hơn và có hiệu quả hơn

5 Câu hỏi nghiên cứu

5.1 Câu hỏi chính

Nghị định 119/1999 của Thủ tướng Chính phủ có tác động như thế nào đến hoạt động đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ?

5.2 Câu hỏi phụ

- Việc thực thi chính sách tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ theo Nghị định 119/1999 hiện nay như thế nào?

- Chính sách tài chính theo Nghị định 119 có những ưu và nhược điểm gì?

- Trong quá trình thực hiện những chính sách này gặp phải những thuận lợi và khó khăn gì?

- Nên điều chỉnh những chính sách này như thế nào để có thể tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và đổi mới công nghệ

6 Giả thuyết nghiên cứu

Các chính sách trong Nghị định đã tác động tích cực đến hoạt động đầu tư cho ĐMCN, đặc biệt là DN đã mạnh dạn đầu tư vào hoạt động NCKH để qua

đó ĐMCN, tuy nhiên tác động của Nghị định tới DN còn mờ nhạt và số lượng

DN thực hiện thành công không nhiều Ngoài những ưu điểm của Nghị định như Nghị định là đòn bẩy kích cầu để DN tăng cường đầu tư cho KHCN song vẫn còn tồn tại một số bất cậpkhông còn phù hợp với quy định về ưu đãi tại các Luật liên quan được ban hành những năm gần đây Mặt khác các thủ tục hành chính để hưởng các ưu đãi của Nghị định 119 quá rườm rà, nếu được

Trang 10

nghiên cứu để đưa sản phẩm ra thị trường nên doanh nghiệp không mặn mà, thậm chí còn bức xúc với cơ chế hành chính, với cơ quan quản lý như cơ chế

hỗ trợ tài chính, tổ chức thực hiện, công tác tuyên truyền quảng bá…

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp thu thập thông tin

Nghiên cứu tài liệu: Các văn bản pháp qui về quản lý khoa học và công nghệ, các văn kiện, nghị quyết của Đảng, các tài liệu liên quan đến cơ chế và chính sách tài chính cho doanh nghiệp

Thăm dò ý kiến các tỉnh, thành phố trực thuộc TW: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa, Bình Định, Phú Yên…, một số doanh nghiệp được thụ hưởng theo NĐ 119 và một số doanh nghiệp khác,

7.2 Phương pháp chuyên gia

Phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia, đồng nghiệp thông qua việc tổ chức Hội thảo và thu thập thông tin từ các tổ chức, cá nhân, các nhà khoa học, các nhà quản lý trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

8 Các luận cứ

8.1 Cơ sở lý thuyết

Ngày 18-9-1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số

119/1999/NĐ-CP về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu

tư vào các hoạt động KH&CN nhằm khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến

và ĐMCN, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh

Ngày 28 tháng 11 năm 2000, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường

và Bộ Tài chính đã có thông tư liên tịch số BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 119 Tiếp đó, tại thông tư liên tịch số 25/2003/TTLT/BKHCN-BTC, Liên Bộ Khoa học công nghệ và Tài chính đã

2341/2000/TTLT/BKHCNMT-bổ sung một số quy định tại thông tư liên tịch số

Trang 11

chính đối với việc hỗ trợ kinh phí nghiên cứu khoa học cho doanh nghiệp thực hiện đề tài nghiên cứu tạo ra công nghệ mới thuộc ngành nghề, lĩnh vực Nhà nước ưu tiên theo qui định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 119/1999/NĐ-

CP

Theo Nghị định 119, doanh nghiệp nhận được các ưu đãi sau:

- Miễn, giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp; ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất; ưu đãi về thuế nhập khẩu hàng hoá phục

vụ trực tiếp cho KH&CN và ưu đãi về tín dụng

- Ngoài ra, nếu doanh nghiệp có đề tài nghiên cứu khoa học tạo ra công nghệ mới thuộc ngành nghề Nhà nước ưu tiên, khuyến khích do doanh nghiêp thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan khoa học thực hiện thì sẽ được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí (tối đa không quá 30% tổng kinh phí) thực hiện đề tài Đối với doanh nghiệp nhà nước, 50% thu nhập tăng thêm sau thuế

do áp dụng công nghệ mới (thời hạn không quá 3 năm kể từ khi có thu nhập tăng thêm) được trích lại để đầu tư cho hoạt động KH&CN và thưởng cho cá nhân, tập thể trong và ngoài doanh nghiệp có công trong việc nghiên cứu, tạo

ra và tổ chức áp dụng công nghệ mới đó

Nghị định 119 quy định một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới công nghệ, với các hoạt động chủ yếu như: “ ứng dụng các kết quả KH&CN, đổi mới công nghệ, sản xuất sản phẩm mới, dịch vụ KH&CN” (tại Điều 1); “Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp”(tại Điều 4); “Ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất”(tại Điều 5); “Ưu đãi về thuế nhập khẩu” (tại Điều 6); “Ưu đãi về tín

dụng” (tại Điều 7) và “Các chính sách khuyến khích khác như: mức tiền phải

trả thù lao cho tác giả; nhà nước hỗ trợ tối đa 30% tổng kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu tạo ra công nghệ mới; tỷ lệ trích thu nhập đầu tư trở lại cho hoạt động khoa học và công nghệ; tỷ lệ mức thưởng ”(tại Điều 8) Đó là

Trang 12

doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động theo Pháp luật Việt Nam (Điều 2)

8.2 Luận cứ thực tiễn

Luận văn kế thừa kết quả từ các đề tài nghiên cứu về chính sách tài chính nhằm khuyến khích hoạt động khoa học công nghệ

Theo kết quả trưng cầu tại một số Sở Khoa học và Công nghệ và một

số doanh nghiệp đã được thụ hưởng các chính sách khuyến khích theo Nghị định 119

Kế thừa kết quả của các cuộc phỏng vấn một số nhà lãnh đạo, một số chuyên gia quản lý nhà nước ngành quản lý khoa học và công nghệ của các đề tài nghiên cứu trước đó

Kinh nghiệm về chính sách tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư hoạt động khoa học công nghệ của một số nước trên thế giới

9 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận

Phần nội dung bao gồm 2 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới công nghệ

Chương 2 Phân tích tình hình thực hiện Nghị định 119 và phân tích tác động của Nghị định đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong việc đầu tư cho đổi mới công nghệ

Kết luận và Một số khuyến nghị đề xuất chính sách

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH KHUYẾN KHÍCH DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐẦU TƯ VÀO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Lý luận chung về doanh nghiệp

Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005, có hiệu lực từ ngày 01-7-2006, thay thế Luật Doanh nghiệp đã ban hành năm 1999, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 và Luật Đầu tư nước ngoài năm

1996, một số khái niệm cơ bản về doanh nghiệp được thống nhất như sau:

1 Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật

nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (Điều 4)

2 Kinh doanh là việc thực hiện liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng

dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (Điều 4)

Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm Trên thực tế khái niệm doanh nghiệp được hiểu nôm na, dùng chung đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức, các ngành nghề khác nhau, có

tư cách pháp nhân

3 Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ Hiện tại ở Việt Nam có loại hình doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp có trên 50% vốn nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên 100% vốn nhà nước

Trang 14

viên có thể là tổ chức, cá nhân Số lượng thành viên không vượt quá 50 Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của Luật doanh nghiệp

5 Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty

Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phiếu

6 Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân có cổ phần Số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn CTCP có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty

7 Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung Ngoài các thành viên hợp danh còn có các thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình

về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

8 Doanh nghiệp tư nhân là một doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ

và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ một loại

Trang 15

chứng khoán nào Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân

9 Nhóm công ty là tập hợp công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác Nhóm công ty bao gồm các hình thức: Công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế và các hình thức khác

10 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện đầu tư tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại

11 Doanh nghiệp công nghiệp là doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh các sản phẩm công nghiệp

12 Hộ sản xuất, kinh doanh (hộ cá thể, hộ gia đình) là cơ sở sản xuất kinh doanh quy mô gia đình, có dưới 10 lao động thường xuyên (theo Nghị định 109 - CP ngày 02/4/2004 về Đăng ký kinh doanh)

Trong khuôn khổ luận văn này, nghiên cứu tập trung vào loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm số lượng rất lớn và đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, lại dễ bị tổn thương nhất trong quá trình hội nhập Doanh

nghiệp nhỏ và vừa với tiêu chí được xác định ở phần sau đây

1.1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế

Theo Công văn số 681/CP – KTN ngày 20 tháng 6 năm 1998 của Văn phòng Chính phủ quy định Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động dưới 200 người

Theo Nghị định 90/2001/NĐ – CP ngày 23 tháng 1 năm 2001 về trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, có mức vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao

Trang 16

thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp hoặc Luật Doanh nghiệp nhà nước hoặc Luật hợp tác xã hay một số hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinh

doanh

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

Tổng nguồn vốn

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người

II Công nghiệp

và xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người III Thương mại

và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10 tỷ đồng đến 50

tỷ đồng

từ trên 50 người đến

100 người

Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009

Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa

có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau:

- Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đóng góp của DNNVV vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể

- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều

Trang 17

chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, DNNVV được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế

- Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy

mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động

- Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh

- Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là thành phần kinh tế đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, tạo sản lượng và giải quyết việc làm cho người lao động ở địa phương

Với vai trò vô cùng quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế, vì vậy nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng Những chính sách đó nhất là chính sách về tài chính sẽ được đề cập ở các chương sau

Trang 18

1.1.4 Chính sách tài chính

Chính sách tài chính là một khái niệm rất rộng, được hợp thành bởi nhiều chính sách khác nhằm điều tiết, kiểm soát, định hướng sự phát triển của nền kinh tế Chính sách tài chính quốc gia là chính sách điều chỉnh các mối quan

hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị Nội dung của chính sách tài chính bao gồm: chính sách về vốn, chính sách tài chính doanh nghiệp, chính sách tài khoá, chính sách tài chính đối ngoại, các

chính sách về tín dụng, tiền tệ

1.1.5 Công nghệ

Thuật ngữ công nghệ gần đây đã được nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm, đã có nhiều tổ chức quốc tế về khoa học và công nghệ cố gắng đưa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia, trong từng khu vực và phạm vi toàn cầu

Theo Tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc UNIDO thì: Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp

Định nghĩa này của UNIDO đứng trên góc độ một tổ chức phát triển công nghiệp, nhấn mạnh tính khoa học là thuộc tính của công nghệ và khía cạnh hiệu quả khi xem xét sử dụng công nghệ cho một mục đích nào đó

Theo tổ chức Uỷ ban kinh tế xã hội Châu Á - Thái Bình Dương ESCAP

thì: Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin

Và sau đó ESCAP mở rộng thêm: Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch

vụ quản lý, thông tin

Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể, mà còn mở rộng khái niệm công nghệ ra

Trang 19

lĩnh vực dịch vụ và quản lý, vì vậy nó được coi là một bước ngoặt trong lịch

sử quan niệm về công nghệ

Ở Việt Nam, quan niệm phổ biến nhất hiện nay, phù hợp với các quan điểm, chính sách phát triển và quản lý công nghệ, đó là:

Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam (năm 2000) định nghĩa: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, qui trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

Theo Luật Chuyển giao công nghệ (năm 2006 số 80/2006/QH ngày 29/11/2006): Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm

Theo Gaynor G (1996) Công nghệ có thể hiểu là:

- Các phương tiện để thực hiện được một nhiệm vụ bao gồm tất cả những gì cần thiết để chuyển các nguồn lực trở thành các sản phẩm hoặc dịch

1.1.6 Đổi mới công nghệ và vai trò của đổi mới công nghệ

Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, do nhu cầu càng cao của con người do tiến bộ của tri thức và khoa học, do cạnh tranh… nên nhu cầu về sản phẩm ngày càng cao và càng đa dạng cùng với yêu cầu cao trong việc tiết kiệm chi phí Do vậy công nghệ luôn được thay đổi, cải tiến không ngừng để thoả mãn nhu cầu đó nên việc thay đổi công nghệ là một xu thế tất yếu của hệ thống công nghệ toàn cầu và đã mang lại những hiệu quả to lớn

Trang 20

nhờ liên tục đổi mới công nghệ Vậy đổi mới công nghệ là gì? Đó chính là cấp cao nhất của thay đổi công nghệ và là quá trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các hệ thống công nghệ Để có thể quản lý được hoạt động đổi mới thì cần tập trung vào những vấn đề cơ bản tất cả các thay đổi

nhỏ về công nghệ ta chỉ coi là cải tiến công nghệ

Theo OECD, đổi mới là việc triển khai thực hiện một sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ) hoặc qui trình công nghệ mới hoặc được cải tiến căn bản, một cách tiếp thị mới hoặc một cách tổ chức kinh doanh, cách tổ chức sản xuất hay cách quan hệ với bên ngoài mới Với định nghĩa đổi mới này người

ta phân biệt bốn loại đổi mới bao gồm: đổi mới sản phẩm, đổi mới qui trình, đổi mới cách tiếp thị và đổi mới cách tổ chức

Khái niệm đổi mới công nghệ thường liên quan đến doanh nghiệp Đổi mới thường được hiểu là một thứ gì đó mới được áp dụng vào sản xuất, phân phối hay tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ Đổi mới công nghệ được định nghĩa như một sản phẩm mới (đổi mới sản phẩm) và một máy móc mới (đổi mới quy trình) hay cải tiến các sản phẩm hoặc quy trình đang có thông qua việc thay đổi về công nghệ do các nhà đổi mới tạo ra nhằm vào mục đích thương mại (Beije, 1998)

Trong nghiên cứu này tôi muốn sử dụng từ tài liệu hướng dẫn của tổ

chức OECD (Oslo Manual 1996) trong đó giải thích rằng đổi mới công nghệ cho một sản phẩm hoặc một chu trình có thể chia thành các hoạt động sau: hoạt động R&D, thu nạp công nghệ, trang bị máy móc và thiết kế công nghiệp, kiểu dáng công nghiệp, phát triển sản xuất, hoạt động marketing cho sản phẩm mới hoặc sản phẩm cải tiến và hoạt động đào tạo

Công nghệ là một sản phẩm đặc biệt của con người và trước hết nó cũng là một sản phẩm cho nên nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của sản phẩm, tức là nó cũng được sinh ra, phát triển và cuối cùng là bị đào thải Chính vì lẽ đó việc quan tâm đặc biệt đến đổi mới công nghệ sẽ gắn chặt đến

Trang 21

lợi ích sống còn của doanh nghiệp, đến sự phát triển của nền kinh tế Nếu một quốc gia nào, hay một doanh nghiệp nào không có những hoạt động nhằm không ngừng ĐMCN thì chắc chắn ở quốc gia đó, ở doanh nghiệp đó không thể có sự phát triển Một điều quan trọng đó là ĐMCN sẽ mang lợi ích cho doanh nghiệp đổi mới cũng như cho nền kinh tế, các lợi ích đó là:

- Đổi mới công nghệ cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm, đây là một lợi ích thiết thực, trực tiếp và được các doanh nghiệp đặt lên hàng đầu

- Từ việc nâng cao được chất lượng sản phẩm sẽ làm cho doanh nghiệp duy trì, củng cố và mở rộng thị phần của sản phẩm

- Một lợi ích rất quan trọng khác đó là đổi mới công nghệ sẽ mở rộng phẩm cấp của sản phẩm, tạo thêm chủng loại sản phẩm mới

- Đáp ứng được các quy định, tiêu chuẩn, luật lệ và các quy định ngày càng khắt khe được thế giới và các quốc gia xây dựng lên

- Giảm tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, đây là một lợi ích hết sức quan trọng, nhất là trong bối cảnh thế giới đang lâm vào cảnh thiếu năng lượng, giá xăng dầu tăng rất cao

- Cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao độ an toàn sản xuất cho con người và thiết bị

- Giảm tác động xấu đến môi trường tự nhiên nói chung và môi trường sống nói riêng

Vì tất cả các lý do kể trên có thể khẳng định đổi mới công nghệ là một tất yếu phù hợp với quy luật phát triển

Công nghệ và đổi mới công nghệ có ý nghĩa quyết định nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bằng việc nâng cao năng xuất, chất lượng

hạ giá thành sản phẩm

1.1.7 Chính sách tài chính khuyến khích theo tinh thần của NĐ 119

Chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích được áp dụng trong nghị

Trang 22

giảm thuế thu nhập doanh nghiệp”(tại Điều 4); “Ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất”(tại Điều 5); “Ưu đãi về thuế nhập khẩu” (tại

Điều 6); “Ưu đãi về tín dụng” (tại Điều 7) và “Các chính sách khuyến khích

khác như: mức tiền phải trả thù lao cho tác giả; nhà nước hỗ trợ tối đa 30% tổng kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu tạo ra công nghệ mới; tỷ lệ trích thu nhập đầu tư trở lại cho hoạt động khoa học và công nghệ; tỷ lệ mức thưởng

”(tại Điều 8)

1.1.8 Đầu tư cho đổi mới công nghệ trong Nghị định 119

Đổi mới công nghệ theo tinh thần của Nghị định 119 là ứng dụng các kết quả của hoạt động nghiên cứu triển khai vào thực tế, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ đã có do chuyển giao công nghệ, cải tiến đáng kể công nghệ đã có, sản xuất sản phẩm mới, hoặc các sản phẩm hiện có nhưng

đã được cải thiện đáng kể tính năng chất lượng sản phẩm

1.2 Một số vấn đề đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay

1.2.1 Tình hình ĐMCN của doanh nghiệp Việt Nam

Đổi mới công nghệ có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ở cấp độ doanh nghiệp, nơi tạo ra đổi mới công nghệ và có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Công nghệ được coi là nhân tố quan trọng tạo khả năng cạnh tranh của một quốc gia Nếu không có phát triển công nghệ một quốc gia có thể đạt được tăng trưởng cao chẳng hạn như thông qua mức sống cao, tích lũy tư bản lớn nhưng họ không thể có tăng trưởng kinh tế lâu dài và bền vững

Ở cấp độ doanh nghiệp, tác giả Beije (1998) lập luận rằng đổi mới có tác động giúp doanh nghiệp cải thiện vị trí cạnh tranh và giúp tăng sản lượng hoặc lợi nhuận ròng Hơn nữa, theo tác giả Kim và Nugent (1994): cải tiến công nghệ là một phương thức quan trọng để các doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường Đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ họ

Trang 23

đang ở khu vực bất lợi so sánh với các doanh nghiệp lớn hơn bởi vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường hạn hẹp về nguồn lực đề đầu tư cho hoạt động R&D hay thu nạp công nghệ Bởi vậy các hệ thống hỗ trợ về mặt kỹ thuật giữ vai trò quyết định trong việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong môi trường hội nhập và cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, công nghệ được đánh giá là công cụ chiến lược để phát triển kinh tế-xã hội một cách nhanh chóng và bền vững Do vậy, với một quốc gia còn yếu về công nghệ như Việt Nam, đổi mới công nghệ là yêu cầu bức thiết cần được thực hiện đồng bộ từ Nhà nước đến doanh nghiệp (DN)

Nghiên cứu trước đây (Nguyễn Võ Hưng, 2005) đã chỉ ra ĐMCN ở các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là DNNVV, chủ yếu là các đổi mới mang tính nhỏ lẻ, nhằm giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình sản xuất, ít đổi mới mang tính đột phá về công nghệ, nếu có thì chủ yếu dựa vào các công nghệ có sẵn mua về từ nước ngoài, việc tự nghiên cứu, tạo ra công nghệ mới thay thế hầu như rất hiếm có doanh nghiệp thực hiện.Theo các nghiên cứu này có tới 81% doanh nghiệp cho biết đó chỉ là các cải tiến nhỏ lẻ, 60% doanh nghiệp thực hiện cải tiến sản phẩm của doanh nghiệp, 47% doanh nghiệp hiện đai hóa một

số công đoạn trong quy trình sản xuất, chỉ có 26% doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường loại sản phẩm mới Tuy nhiên, rất nhiều doanh nghiệp ĐMCN bằng cách nhập máy móc, thiết bị của nước ngoài (hơn 70%), làm theo mẫu sản phẩm nước ngoài (70%)

Các hoạt động đổi mới công nghệ mà doanh nghiệp đã thực hiện

1 Cải tiến nhỏ/thay thế/bổ sung thiết bị lẻ/đồ gá lắp

để nâng cao năng suất, tiết kiện chi phí

81

Trang 24

Hoạt động đổi mới Tỷ lệ (%)

trình sản xuất để nâng cao chất lượng, năng suất

3 Cải tiến mẫu mã/tính năng/công dụng của sản

phẩm mà doanh nghiệp đã từng sản xuất trước đó

60

4 Sản xuất, đưa ra thị trường loại sản phẩm mới mà

doanh nghiệp chưa từng sản xuất trước đó

26

5 Nhập máy móc, thiết bị của nước ngoài kèm theo

các dịch vụ tư vấn kỹ thuật, đào tạo của nhà cung

cấp

35

6 Nhập máy móc, thiết bị của nước ngoài, sau đó

hợp tác với chuyên gia trong nước lặp đặt/chạy

thử/khắc phục sự cố

37

7 Làm theo mẫu sản phẩm nhập ngoại, nhưng sản

phẩm có giá cạnh tranh so với hàng ngoại nhập

70

Nguồn: Hiện trạng đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa

ở Việt nam trong bối cảnh hội nhập Nguyễn Thanh Tùng (NISTPASS)

Cũng theo nhận định của các nghiên cứu này thì hoạt động ĐMCN có ý nghĩa nhất đối với doanh nghiệp chính là các hoạt động nhập máy móc, công nghệ của nước ngoài, sau đó mới đến các hoạt động hiện đại hóa một số công đoạn sản xuất, cải tiến sản phẩm, thiết bị sản xuất của doanh nghiệp

Hoạt động đổi mới công nghệ có ý nghĩa nhất

Trang 25

Nguồn: Hiện trạng đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa

ở Việt nam trong bối cảnh hội nhập Nguyễn Thanh Tùng (NISTPASS)

Để ĐMCN, các doanh nghiệp phải đầu tư nhiều nhất vào các khâu như lập phương án sản xuất kinh doanh (53%), sau đó là huy động vốn đầu tư (51%)

và cách thức làm chủ, cải tiến công nghệ (47%) Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp đã phải đầu tư nhiều cho việc tìm kiếm công nghệ, nhà cung cấp công nghệ (39%) Như vậy, kết quả này cho thấy các nội dung được lựa chọn để tìm hiểu nhu cầu hướng dẫn DNNVV thực hiện ĐMCN là xác đáng

Các nội dung doanh nghiệp đầu tư để thực hiện ĐMCN

Trang 26

5 Tìm thị trường cho sản phẩm 44

Nguồn: Hiện trạng đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa

ở Việt nam trong bối cảnh hội nhập Nguyễn Thanh Tùng (NISTPASS)

Từ lâu DN Việt Nam đã ý thức được việc đổi mới công nghệ là chìa khóa để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của DN nói riêng và quốc gia nói chung nên nhiều DN Việt Nam đã nỗ lực nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các nước phát triển để cải tiến sản phẩm

Thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều chính sách và nỗ lực đầu tư để thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp Cùng với việc ban hành các Chương trình quốc gia với trọng tâm thúc đẩy nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp thông qua các hoạt động đổi mới quy trình và đổi mới sản phẩm công nghệ Đồng thời đã nỗ lực hình thành thêm các kênh

hỗ trợ tài chính theo hình thức Quỹ như Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia, Quỹ Phát triển KH&CN của địa phương, Quỹ Phát triển KH&CN của doanh nghiệp, đặc biệt là Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia

Mặc dù đã có những đóng góp đáng ghi nhận, nhìn chung, trình độ công nghệ nước ta còn thấp, hoạt động đổi mới công nghệ chưa trở thành yếu

tố cạnh tranh, quyết định sự phát triển của doanh nghiệp và các ngành, các lĩnh vực Hiện nay, quá trình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ

và vừa đang gặp rất nhiều khó khăn Do quy mô nhỏ và vừa nên vốn ít, nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực thấp đã cản trở quá trình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Hơn nữa ở nước ta hiện nay thị trường khoa học và công nghệ mới được hình thành, cung – cầu về khoa học và công nghệ còn chưa thực sự gắn kết Do vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhìn

Trang 27

chung vẫn còn thiếu thông tin về công nghệ và thông tin về thị trường, thiếu

cơ hội tiếp xúc, nắm bắt công nghệ mới, cơ hội hợp tác với các tổ chức nghiên cứu và triển khai bên ngoài Phần lớn doanh nghiệp nước ta vẫn đang

sử dụng công nghệ lạc hậu từ hai đến ba thế hệ so với mức trung bình của thế giới Không chỉ có các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp nhà nước

có quy mô hoạt động lớn cũng chưa thật sự quan tâm, đầu tư thỏa đáng đổi mới công nghệ Với thực trạng về trình độ và quá trình đổi mới công nghệ như vậy, các doanh nghiệp nước ta chưa đủ năng lực để sản xuất tạo sản phẩm

có giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh cao Chính vì vậy, để giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam thực hiện quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh thì các chính sách hỗ trợ của nhà nước là

vô cùng quan trọng và cần thiết

1.2.2 Những khó khăn của các doanh nghiệp Việt nam trong quá trình ĐMCN

Theo các nghiên cứu và điều tra (Tuấn 2001 và Havie 2001) cho thấy rằng các DNNVV của Việt Nam hiện nay phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, trong nghiên cứu này tôi thấy rằng có một số khó khăn chủ yếu sau:

Khó khăn lớn nhất là về vốn và tín dụng, các DNNVV gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các khoản tín dụng ngắn, trung và dài hạn từ ngân hàng và các tổ chức tài chính khác Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này được ADB (2003: 216) chỉ ra đó là:

- Tiếp tục có sự bất bình đẳng trên thị trường tài chính khi các tổ chức tài chính hiện nay chủ yếu là các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước

- Các tổ chức tài chính này hoạt động kém hiệu quả và thiếu tính tự chủ;

Trang 28

- Các ngân hàng không hướng tới các DNNVV bởi vì họ muốn tránh các rủi ro và thương tổn khi nền kinh tế suy thoái, các ngân hàng thích cung cấp tài chính cho các công ty lớn để đảm bảo hơn và chi phí giao dịch cũng thấp hơn khi cho vay

Tố chức MPDF (1999) cũng chia sẻ những ý kiến tương tự: “80% nhân viên trong các tổ chức tài chính của mẫu điều tra trả lời rằng khi họ nhận được hai hồ sơ cho vay tiền, một từ DNNN, một từ khu vực tư nhân và cả hai hồ sơ đều đáp ứng các tiêu chuẩn cho vay, khi họ chỉ được chấp thuận một hồ sơ thì

họ sẽ cho DNNN vay, chỉ có 18% nói họ sẽ cho DNTN vay và 2% số nhân viên nói rằng họ không thể quyết định được việc đó”

Nhìn từ góc độ khác, các khoản vay từ ngân hàng cũng không có sức hấp dẫn đối với các DNNVV do chi phí cao, thủ tục và các điều khoản ràng buộc rất khó khăn với họ Điều này, giải thích tại sao có tới 85% DNTN dựa vào nguồn vốn của riêng họ hoặc vay mượn từ bạn bè, họ hàng Như vậy thị trường tài chính phi chính thức có sức hấp dẫn hơn so với thị trường tài chính chính thức đối với DNNVV Mặt khác, tác giả Annerstedt và cộng sự (1999) lập luận rằng nguồn vốn đầu tư mạo hiểm của Việt Nam hiện giờ rất hạn chế trong khi đó nguồn vốn này được khẳng định là rất cần thiết cho một nước đang công nghiệp hóa Sẽ rất khó khăn cho các doanh nghiệp tiếp cận với các lợi ích thương mại từ việc đổi mới công nghệ

Khó khăn thứ hai là vấn đề công nghệ Hầu hết các DNNVV sử dụng các công nghệ lạc hậu và không có khả năng cải tiến công nghệ đó do thiếu vốn, thông tin, mức thuế cao khi đầu tư Tác giả Havie (2001) dẫn ra rằng trình độ công nghệ của các DNNVV rất nghèo nàn, tỷ lệ đầu tư cho đổi mới rất thấp, chỉ chiếm khoảng 10% tổng mức đầu tư hàng năm Tác giả Annerstedt và cộng sự (1999) quan tâm đến các vấn đề sau liên quan đến hệ thống ĐMCN của Việt Nam ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp

Trang 29

+ Các doanh nghiệp dường như đầu tư rất ít cho năng lực công nghệ, công nghệ họ thu nạp được thường từ nước ngoài hoặc nguồn sẵn có trong nước Ở Việt Nam, rất ít các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ Hệ quả là họ không thể đưa ra sản phẩm có tính đổi mới về công nghệ so với các doanh nghiệp khác trong khu vực

+ Mối liên hệ giữa các Viện nghiên cứu và khu vực sản xuất rất yếu kém, đặc biệt khi so sánh với các nước trong khu vực

Một cuộc điều tra của Kokko và Sjoholm (2004) cho thấy các DNNVV thường có thị trường tiêu thụ là nội địa (bởi vì những phát triển nhanh chóng của thị trường trong nước của Việt Nam), chỉ có một số ít các doanh nghiệp này buộc phải tìm kiếm các cơ hội ở các thị trường nước ngoài và phần lớn các doanh nghiệp đó có các hoạt động xuất khẩu với tư cách là các nhà thầu phụ Tuy nhiên, theo quan điểm của hai tác giả này thì các DNNVV nên tập trung vào hoạt động xuất khẩu bởi vì kinh nghiệm của các DN thành công là gắn với hoạt động xuất khẩu Khi đó là chiến lược dài hạn cho các DNNVV thì việc sử dụng các công nghệ tiên tiến và hiện đại trở nên rất cần thiết khi

mà mức độ tiêu chuẩn hóa càng cao gắn liền với quy mô đầu tư và năng suất lao động

Mặt khác, các DNNVV của Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tình hình cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam Bởi vậy, họ cần cải thiện khả năng cạnh tranh và đổi mới công nghệ Tuy nhiên, để cải thiện các điều kiện phát triển công nghệ của các DNNVV, vấn đề cạnh tranh cần được đặt ra để khuyến khích các DN tiếp thu công nghệ mới và cải tiến công nghệ đang có Hơn nữa, các doanh nghiệp phải được khuyến khích cải tiến khả năng áp dụng công nghệ

Tuy nhiên, vấn đề tài chính cho hoạt động KH&CN là rất hạn chế đối với các doanh nghiệp khi nguồn vốn còn hạn hẹp Phần tiếp theo sẽ phân tích

Trang 30

về tình hình tài chính cho hoạt động này của một số nước trên thế giới và của các doanh nghiệp nói riêng

1.3 Một số kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đổi mới công nghệ

Các hoạt động R&D là một đầu vào quan trọng để phát triển công nghệ trong nước, đặc biệt ở cấp độ doanh nghiệp Có đủ bằng chứng để nhận ra rằng hoạt động R&D không thể để cho khu vực tư nhân quyết định toàn bộ, bởi vì theo tác giả Arrow (1962), nếu như làm vậy sẽ dẫn đến việc đầu tư dưới ngưỡng cho R&D Khu vực tư nhân thường thu về kết quả thấp hơn mức đầu tư cho hoạt động R&D do những khó khăn để mang lợi nhuận từ những

nỗ lực tiến hành nghiên cứu của họ Để thay đổi điều này, Nhà nước thường cung cấp các biện pháp tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp cam kết dành nhiều nguồn lực cho hoạt động R&D Các biện pháp tài chính này thường được đưa ra dưới nhiều hình thức chẳng hạn như khuyến khích về thuế và tài trợ cho các nghiên cứu Tuy nhiên, thành công của việc sử dụng các công cụ này rất rõ ràng ở các nước phát triển, trong khi ở các nước đang phát triển về sử dụng các công cụ này còn rất nhiều vấn đề cần xem xét, khi

mà ở các nước này, việc phát triển công nghệ chủ yếu dựa vào lắp ráp hoặc bắt chước các công nghệ nhập khẩu từ các nước phát triển từ nhiều kênh khác nhau nên việc cam kết đầu tư cho R&D là rất khó khăn

Tác giả Mani (2004) dựa trên số liệu thứ cấp thu nhập được về các công cụ của chính sách đổi mới và kết quả của các chính sách này từ một số

Bộ Khoa học và Công nghệ các nước để có được các nghiên cứu so sánh này Trong nghiên cứu này, tôi muốn tham khảo kinh nghiệm của Singapore, Canada trong việc hỗ trợ tài chính cho các DNNVV đổi mới công nghệ

Trang 31

1.3.1 Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ ở Singapore

Trong khu vực Asean, Singapore là nước có trình độ phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ cao nhất Tuy vậy họ vẫn rất coi trọng việc hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ để đáp ứng các đòi hỏi cạnh tranh ngày càng gay gắt trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới Ở Singapore hiện có trên 90.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa Lực lượng này tạo ra 58% GDP, thu hút 72% lực lượng lao động, kể cả công nhân nước ngoài Singapore là quốc gia đã có quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển nhất khu vực, nhiều năm được xếp số 1 về sức cạnh tranh của nền kinh tế Sở dĩ đạt được vị trí như vậy là do Singapore đã sớm nhận thức được những thay đổi và những đòi hỏi mới trong giai đoạn phát triển kinh tế thế giới và có những hỗ trợ hữu hiệu để các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển Để thích ứng với những thay đổi này, rõ ràng các doanh nghiệp nhỏ và vưa đang đứng trước những thách thức không nhỏ, chính vì vậy Bộ Công thương Singapore đã giao cho đơn vị trực thuộc là Cục Năng suất và Tiêu chuẩn triển khai một số chương trình hỗ trợ đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có chương trình hỗ trợ phát triển của Chính phủ Chính phủ Singapore đã áp dụng nhiều chương trình để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (trên 60 chương trình); trong đó, đáng lưu ý là một số chính sách khuyến khích về đổi mới công nghệ, hỗ trợ

kỹ thuật đối với các doanh nghiệp bản địa và cho vay với lãi suất ưu đãi để hỗ trợ trong việc nâng cấp, hiện đại hóa công nghệ

Cơ chế khuyến khích đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mục tiêu của chính sách là khuyến khích hỗ trợ các công ty và tổ chức nâng cao năng lực áp dụng các đổi mới công nghệ (bao gồm cả đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ khác) Tất cả các doanh nghiệp đăng ký hoạt động tại Singapore đều có thể nhận sự hỗ trợ với những

Trang 32

- Có dự án về đổi mới hoặc cải tiến sản phẩm, qui trình công nghệ và các dịch vụ có liên quan

- Có dự án thuộc các ngành xây dựng, chế tạo, dịch vụ, thương mại và du lịch, kể cả các dự án liên qan tới công nghệ thông tin

- Các dự án phải thuyết minh rõ các kết quả dự kiến đưa lại như: Rút ngắn thời gian sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm/ dịch vụ, nâng cao năng suất lao động

- Trong trường hợp dự án đang ở giai đoạn đầu (giai đoạn đánh giá khả thi

về công nghệ/ thị trường) hoặc chưa chỉ rõ được địa chỉ áp dụng cụ thể thì doanh nghiệp cần phải thuyết minh rõ mục tiêu cần đạt tới của dự á, ví dụ như đưa ra một báo cáo khả thi về thị trường/ công nghệ

- Thời gian thực hiện dự án tối đa không quá 5 năm

Về mức tài trợ tài chính: Mức hỗ trợ tối đa là 50% chi phí được phép để

thực hiện dự án Các khoản chi được phép gồm: Chi phí về nhân lực (tiền lương cho các thành viên tham gia dự án, chi phí đi lại, ăn và đào tạo); chi phí

về vật tư, thiết bị (thiết bị, xưởng thực nghiệm, vật tư, phần mềm); chi phí về các dịch vụ kỹ thuật (nghiên cứu khả thi/ nghiên cứu thị trường, chi phí làm mẫu thử, tư vấn, thử nghiệm sản phẩm…); chi phí về sở hữu trí tuệ

Phương thức cấp phát: Cấp trực tiếp cho doanh nghiệp theo nguyên tắc

hoàn trả lại tiền cho doanh nghiệp đã ứng ra để triển khai dự án

Cơ chế hỗ trợ kỹ thuật đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước

Mục tiêu là giúp các doanh nghiệp bản địa thu hút lực lượng chuyên gia

bên ngoài để thực hiện các dự án nâng cấp và hiện đại hóa công nghệ Các tiêu chuẩn để được nhận tài trợ là: Doanh nghiệp phải có tỷ lệ góp vốn trong nước trên 30% (trường hợp có liên doanh với các đối tác nước ngoài); có tài sản cố định không vượt quá 15 triệu đôla Singapore nếu doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thì số người làm không vượt quá 200 nhân viên

Trang 33

Phạm vi hỗ trợ: Nói chung mức hỗ trợ không vượt quá 70% chi phí thuê

chuyên gia bên ngoài để thực thi dự án Mục tiêu của dự án phải nhằm vào việc nâng cao công nghệ/tay nghề của doanh nghiệp thông qua cá nhiệm vụ: Xác định và giải quyết các vấn đề kỹ thuật; hoàn thiện (cải tiến) các thao tác

và quy trình công nghệ hiện có; cơ giới hóa; tự động hóa hoặc máy tính hóa các thao tác hoặc quy trình công nghệ, hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng, phát triển kinh doanh, thị trường; quản lý nhân sự; phát triển sản phẩm mới; nghiên cứu khả thi

Quy định về chuyên gia bên ngoài: Thuật ngữ “chuyên gia bên ngoài”

được hiểu là những chuyên gia có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn không thuộc biên chế của doanh nghiệp Chuyên gia này cũng không thuộc biên chế của các đối tác liên doanh hoặc các cơ sở chi nhánh của công ty Các chuyên gia bên ngoài có thể là chuyên gia trong nước hoặc chuyên gia nước ngoài được thêu ngắn hạn để giải quyết những vấn đề trực tiếp liên quan đến dự án

Mức độ tài trợ: Tùy thuộc vào phạm vi, nội dung và hiệu quả của nhiệm

vụ đặt ra phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế của Singapore, mức tài trợ có thể từ 30-70% chi phí cho phép (phí tư vấn trả cho các chuyên gia bên ngoài, bao gồm cả tiền vé máy bay khứ hồi và chi phí lưu trú)

Báo cáo hoàn thành nhiệm vụ được giao: Trong vòng 3 tháng sau khi hoàn

thành nhiệm vụ, doanh nghiệp được nhận tài trợ phải gửi đến Cục Năng suất

và Tiêu chuẩn báo cáo chi tiết và những nhiệm vụ đã thực hiện của chuyên gia tư vấn (bao gồm cả các kết quả và khuyến nghị đã đề xuất với doanh nghiệp)

Thời hạn ký hợp đồng với các chuyên gia tư vấn bên ngoài: Doanh nghiệp

không được phép tự động kéo dài thời hạn tư vấn của chuyên gia nếu không được sự đồng ý của Cục Năng suất và Tiêu chuẩn Trong trường hơp tự ý kéo dài thì doanh nghiệp không được quyết toán phần chi phí bổ sung

Trang 34

Thời gian xét chọn: Cung cấp tài trợ không quá 4 tuần kể từ khi nhận đơn

xin tài trợ không quá 4 tuần kể từ khi nhận đơn xin tài trợ

Cơ chế cho vay với lãi suất ưu đãi để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cấp và hiện đại hóa công nghệ

Đây là một loại chương trình hỗ trợ vốn vay với lãi suất thấp nhằm giúp các doanh nghiệp bản địa nâng cấp và hiện đại hóa công nghệ sản xuất

Các tiêu chuẩn xem xét bao gồm: Doanh nghiệp phải có tỷ lệ góp vốn không dưới 30% (nếu liên doanh với đối tác nước ngoài); vốn cố định không vượt quá 15 triệu đô la singapore, nếu thuộc ngành công nghiệp dịch vụ thì số người làm việc không vượt quá 200 nhân viên

Với loại hình hỗ trợ này, mức cho vay tối đa không vượt quá 15 triệu

đô la Singapore Thời hạn cho vay: ngắn hạn (dưới 12 tháng, lãi suất từ 3,5 đến 6,25%/năm), trung hạn (dưới 4 năm, lãi suất 6,25% năm); dài hạn (4-10 năm, lãi suất 6,75%/năm)

Vốn vay của loại hình hỗ trợ này có thể được sử dụng cho các mục tiêu sau: Mở một lĩnh vực kinh doanh mới; hiện đại hóa phân xưởng, nhà máy hiện có, mở rộng năng lực sản xuất hiện có, đa dạng hóa sản phẩm Đối với các dự án áp dụng tự động hóa cho phép áp dụng mức lãi suất đặc biệt là 3,5%/năm

1.3.2 Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính để đổi mới công nghệ đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Canada

Là một trong những nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới, Canada rất coi trọng việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa Khu vực này đã thu hút tới 60% lao động và tạo ra 1/3 tổng số lợi nhuận của tất cả các doanh nghiệp; hàng năm, tạo thêm nhiều việc làm mới hơn so với các doanh nghiệp lớn Đạt được thành tích trên là do 50 năm qua, Chính phủ Canada đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng và áp dụng các cơ chế, chính sách và

Trang 35

biện pháp hỗ trợ các DNNVV thông qua Chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ

Theo một số công trình khảo sát mới đây của Hiệp hội các doanh nghiệp độc lập Canada, hiện nước này có gần 1 triệu DNNVV, trong đó 99%

có số lao động dưới 100 người, 1% có số lao động dưới 20 người Số người làm việc trong các DNNVV chiếm 60% tổng số người đang làm việc trong các doanh nghiệp Hàng năm, các DNNVV tạo thêm nhiều việc làm mới hơn

so với các doanh nghiệp lớn Đặc biệt khu vực này đã tạo ra 1/3 tổng số lợi nhuận của tất cả các doanh nghiệp Có được thành tích này chính là nhờ Chính phủ Canada đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng và áp dụng các cơ chế, chính sách và biện pháp để hỗ trợ các DNNVV, coi đây là nhiệm vụ có tầm quan trọng chiến lược

Qua tổng kết các doanh nghiệp thành công trong kinh doanh, người ta khẳng định rằng, điều kiện cạnh tranh kinh tế ngày càng khốc liệt, đổi mới công nghệ đã thực sự trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa quyết định sự thành bại và tương lai của các DNNVV Nhà nghiên cứu về quản lý nổi tiếng của Bắc Mỹ - Peter Drucker đã nhấn mạnh: “Đổi mới công nghệ đã trở thành một công cụ quan trọng của kinh doanh hiện đại” Tuy nhiên, đối với các DNNVV, người ta cũng chỉ ra hàng loạt thách thức trong quá trình đổi mới công nghệ như: 1) Chi phí cho việc tiếp nhận công nghệ mới thường quá lớn so với khả năng tài chính hạn hẹp của DNNVV; 2) Khả năng tiếp cận các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm hoặc vốn “mồi” từ nhà nước hoặc các tổ chức tài chính thường rất hạn chế; 3) kinh nghiệm quản lý và tiếp thị còn yếu; 4) Khó tìm được các chuyên gia có trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ cao từ bên ngoài; 5) Không có đủ nguồn lực để theo dõi các đối thủ cạnh tranh, các thông tin về công nghệ mới, các tiêu chuẩn chất lượng và quy phạm

kỹ thuật mới; 6) Không có đủ thời gian và nguồn lực để có thể tìm kiếm, mở

Trang 36

Để giúp các DNNVV giải quyết những khó khăn nêu trên, theo sáng kiến của Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Canada, người ta đã thực hiện Chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ với các DNNVV Chức năng nhiệm

vụ chủ yếu của Chương trình này là thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNNVV ở Canada Tham gia chương trình này gồm trên 100 tổ chức công nghệ (cả của nhà nước và tư nhân) và 260 chuyên gia cố vấn công nghệ công nghiệp, được phân bổ trên 90 tỉnh và thành phố của Canada Xét về mặt nội dung, tùy theo nhu cầu thực tế của từng doanh nghiệp, Chương trình có thể hỗ trợ bằng nhiều hình thức

Một số mô hình hỗ trợ chính

Hỗ trợ đồng bộ, bao gồm: Tư vấn, tài trợ và các hình thức hỗ trợ khác

để giúp doanh nghiệp giải quyết một khó khăn nào đó, kể từ khâu nghiên cứu đến đưa sản phẩm ra thị trường

Cung cấp tư vấn theo yêu cầu của doanh nghiệp: Với mạng lưới các

chuyên gia cố vấn kỹ thuật (260 người), Chương trình có thể thuê đội ngũ này

đi tới cơ sở, tiến hành khảo sát, phân tích và đưa ra những đề xuất cụ thể về phương án giải quyết những khó khăn, cả về mặt công nghệ và kinh doanh theo yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp

Tư vấn về các giải pháp thân thiện môi trường: Trong thời gian gần

đây, để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường trong nước và nâng cao khả năng cạnh tranh ở nước ngoài về các sản phẩm “thân môi trường”, Chương trình còn quan tâm hỗ trợ các DNNVV về các giải pháp công nghệ để đáp ứng các yêu cầu trên

Hỗ trợ tài chính cho các dự án nghiên cứu ở giai đoạn đầu (còn độ rủi

ro về mặt công nghệ) Có thể nói, đây là hình thức hỗ trợ có tầm quan trọng

đặc biệt đối với DNNVV và là nội dung hoạt động chủ yếu của Chương trình

Lý do cơ bản để áp dụng hình thức hỗ trợ này là vì thông thường các DNNVV không đủ tiền để tiến hành các dự án ứng dụng công nghệ còn độ rủi ro nhất

Trang 37

định Trong trường hợp này, Chương trình có thể xem xét và hỗ trợ với mức tài trợ từ 5.000 đến 350.000 tiền Canada, trong trường hợp xét thấy có hiệu quả, có thể hỗ trợ tới 50% tổng chi phí của dự án được chọn

Điều cần nhấn mạnh là, nhờ sự hỗ trợ tài chính này của Chương trình, trong nhiều trường hợp, đã giúp cho các DNNVV có thể thu hút thêm được các nguồn tài trợ khác để thực thi dự án Đặc biệt, nhờ kết hợp đồng thời 2 hình thức: Dịch vụ tư vấn kỹ thuật với trình độ chuyên môn cao và hỗ trợ tài chính đi kèm, đã giúp cho nhiều DNNVV giải quyết được những khó khăn lớn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả hỗ trợ của chính Chương trình

Hỗ trợ tài chính cho các dự án tiền thương mại hóa: Hình thức hỗ trợ

này thường áp dụng đối với các doanh nghiệp có các dự án định đưa ra thị trường các sản phẩm ứng dụng các công nghệ tiên tiến như: Công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu tiên tiến Theo nguyên tắc “chia

sẻ rủi ro”, Chương trình cũng có thể xem xét và hỗ trợ (có thu hồi) cho các dự

án với mức tối đa không quá 500.000 đôla Canada cho một dự án thuộc diện này

Hỗ trợ tham quan, khảo sát công nghệ mới và các kinh nghiệm hay về tiến hành đổi mới công nghệ Để giúp các DNNVV cập nhật được những

thông tin về công nghệ mới và các kinh nghiệm hay về tiến hành đổi mới công nghệ, Chương trình đã phối hợp với Liên đoàn các nhà chế tạo và xuất khẩu Canada tổ chức nhiều hình thức hỗ trợ khá đa dạng như: Tổ chức các cuộc tham quan, khảo sát trong và ngoài nước để tìm hiểu về các công nghệ mới, công nghệ tiên tiến và các kinh nghiệm hay về đổi mới công nghệ, tổ chức các cuộc hội thảo, báo cáo chuyên đề về công nghệ để giúp các DNNVV cập nhật thông tin và lựa chọn công nghệ phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp Từ cuối năm 1998, Chương trình đã đưa ra 2 dự án mới nhằm thử

Trang 38

doanh cho các; chuyên gia cố vấn công nghệ công nghiệp của chương trình để

có điều kiện hỗ trợ có hiệu quả hơn cho các DNNVV

Tổ chức mạng lưới công nghệ Canada Mục tiêu chính của việc tổ chức

mạng lưới này là giúp các DNNVV có thể tiếp cận dễ dàng với các nguồn thông tin liên quan tới công nghệ, kinh doanh và các chuyên gia am hiểu trong lĩnh vực này Tham gia mạng lưới này có 360 chuyên gia cố vấn và trên 1.000 tổ chức, bao gồm cả các phòng thí nghiệm, các trường đại học, các hiệp hội công nghiệp và các cơ quan phát triển kinh tế của Trung ương và địa phương Thông qua mạng lưới này, các DNNVV có thể nhận được sự trợ giúp

và tư vấn về các vấn đề quan trọng như: Chiến lược phát triển doanh nghiệp; quản lý nhân lực; đào tạo; tiếp thị và xuất khẩu; lập kế hoạch tài chính và kinh doanh; đổi mới công nghệ; các thông tin về tiêu chuẩn và quy phạm Mới đây mạng lưới này đã được tin học hóa Nhờ vậy các DNNVV có thể tiếp cận nhanh chóng với các cơ sở dữ liệu có liên quan để tìm được các tin cần thiết cho mình, cả về thị trường; công nghệ và chuyên gia Có thể nói rằng, nhờ sự giúp đỡ của Chương trình và mạng lưới công nghệ được tin học hóa, các DNNVV đã có thể nâng cao năng lực công nghệ của mình một cách đáng kể, đồng thời tiết kiệm được nguồn lực và thời gian để triển khai các dự án đổi mới công nghệ phù hợp với nhu cầu và khả năng của từng doanh nghiệp

Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế: Nhìn chung, Canada rất coi trọng việc

mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các DNNVV Các chuyên gia cho rằng, 60-70% tri thức cần du nhập từ bên ngoài Chính vì vậy họ đặc biệt chú ý tới lĩnh vực này Đáng lưu ý là trong những năm gần đây, Canada đang mở rộng quan hệ hợp tác với các nước thành viên thuộc ASEAN, chẳng hạn đã giúp Thái Lan và Indonesia xây dựng mạng lưới công nghệ theo mô hình của Canada để hỗ trợ DNNVV Bên cạnh đó, Canada cũng mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, với pháp họ đã thúc đẩy các hình thức liên doanh để phát triển các dự án dựa trên công nghệ

Trang 39

1.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc về khuyến khích tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp

Hàn Quốc đã đạt được vị thế cao trong phát triển công nghệ Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, Hàn Quốc tập trung phát triển các doanh nghiệp lớn, nhưng sau những khủng hoảng kinh tế, đã có sự chuyển dịch hỗ trợ sang cho các DNNVV và các DNNVV của Hàn Quốc nhận được hàng loạt các ưu đãi để phát triển công nghệ

Tác giả Mani (2002) đã đưa ra mô hình về sự phát triển của hệ thống khuyến khích về tài chính nhằm phát triển công nghệ của Hàn Quốc có thể chia thành 3 nhóm như sau:

Hệ thống khuyến khích về tài chính cho phát triển công nghệ của Hàn Quốc

Thúc đẩy đầu tư cho

R&D thông qua các

khuyến khích về thuế

Thúc đẩy chuyển giao công nghệ

Thúc đẩy thương mại hóa công nghệ

Trang 40

được các khuyến khích thông qua yêu cầu các doanh nghiệp này duy trì tỷ lệ thu nhập đầu tư cho hoạt động R&D;

- Các ưu đãi về thuế đối với chi tiêu cho công nghệ và phát triển nguồn nhân lực;

- Các chương trình khuyến khích về thuế khác: Bao gồm việc giảm thuế và miễn giảm đặc biệt cho các hoạt động đầu tư vào R&D của các doanh nghiệp tư nhân

Trợ cấp của Chính phủ cho hoạt động R&D:

Chính phủ Hàn Quốc cung cấp lên tới 50% tổng chi tiêu của các viện công nghiệp của tư nhân liên quan đến các dự án R&D cấp quốc gia nhằm phát triển các công nghệ nền tảng và nòng cốt, phát triển công nghệ công nghiệp, phát triển năng lượng thay thế Các doanh nghiệp nhỏ hoặc các cá nhân có thể nhận được từ 80-90% tổng chi phí nếu thương mại hóa được các công nghệ mới

Các hỗ trợ tài chính khác:

Chính phủ thành lập một hệ thống tài chính nhằm hỗ trợ phát triển công nghệ bằng cách trợ giúp về mặt tài chính để phát triển công nghệ trong nước thông qua các khoản vay với lãi suất ưu đãi Một số quỹ chính thức được thành lập cùng với các ngân hàng cung cấp các khoản vay dài hạn, lãi suất thấp cho các doanh nghiệp tư nhân thực hiện hoạt động R&D nhằm phát triển các sản phẩm hay quy trình mới và thương mại hóa các công nghệ mới (Mani, 2002)

Các khuyến khích về đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ:

Chính phủ Hàn Quốc sử dụng hàng loạt các biện pháp nhằm hỗ trợ cho các DNNVV nhằm giúp họ thích ứng một cách nhanh nhất với các thay đổi về môi trường công nghệ công nghệ trong và ngoài nước Nhờ vậy, công

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Kokko, Ari and Sjoholm, Fredrik (2004): The internationalization of Vietnamese SMEs, Working Paper, no. 193, Stockholm School of Economics, http://www.hhs.se/eijs/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: The internationalization of Vietnamese SMEs
Tác giả: Ari Kokko, Fredrik Sjoholm
Nhà XB: Stockholm School of Economics
Năm: 2004
13. Kumar, Nagesh and Siddharthan, N.S (1997): Technology, Market Structure and Internationalization: Issues and Policies for Developing Countries, Routledge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kumar, Nagesh and Siddharthan, N.S (1997):" Technology, Market Structure and Internationalization
Tác giả: Kumar, Nagesh and Siddharthan, N.S
Năm: 1997
14. Link, Albert (1996): “Fiscal measures to promote R&D and innovation - trends and issue” in OECD (1996): Fiscal measures to promote R&D and innovation, Organisation for Economic Cooperation Development, pp. 23-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Link, Albert (1996): “"Fiscal measures to promote R&D and innovation - trends and issue”" in OECD (1996): "Fiscal measures to promote R&D and innovation
Tác giả: Link, Albert (1996): “Fiscal measures to promote R&D and innovation - trends and issue” in OECD
Năm: 1996
15. Mani, Sunil (1999): “Public Innovation Policies and Developing Countries In a Phase of Economic Liberalisation”, Discussion Paper Series, no. 9902, INTECH (Institute for New Technologies) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mani, Sunil (1999): "“Public Innovation Policies and Developing Countries In a Phase of Economic Liberalisation”
Tác giả: Mani, Sunil
Năm: 1999
16. Mani, S. (2004) "Government, innovation and technology policy: an international comparative analysis", Int. J. Technology and Globalisation, Vol. 1, No. 1, 2004, pp.29–44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Government, innovation and technology policy: an international comparative analysis
17. OECD (2005), Governance of Innovation System, Volume 1: Systhesis Report, Organisation for Economic Cooperation Development Sách, tạp chí
Tiêu đề: OECD (2005), "Governance of Innovation System, Volume 1: "Systhesis Report
Tác giả: OECD
Năm: 2005
18. OECD (1996), Oslo Manual, 2nd edition, Organisation for Economic Cooperation Development Sách, tạp chí
Tiêu đề: OECD (1996), "Oslo Manual
Tác giả: OECD
Năm: 1996
19. Porter, Michael E. (1990): The Competitive Advantage of Nations, the MacMillan Press Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Porter, Michael E. (1990): "The Competitive Advantage of Nations
Tác giả: Porter, Michael E
Năm: 1990
20. Porter, Michael E.; Sachs, Jeffrey D. and Schwab, Klaus (2002): The Global Competitiveness Report 2001-2002, Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Porter, Michael E.; Sachs, Jeffrey D. and Schwab, Klaus (2002): "The Global Competitiveness Report 2001-2002
Tác giả: Porter, Michael E.; Sachs, Jeffrey D. and Schwab, Klaus
Năm: 2002
21. Rothwell, Roy (1986): “Reindustrialization, innovation and public policy” in Hall, Peter (1986): Technology, Innovation and Economic Policy, Philip Allan Publisher, pp. 65-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rothwell, Roy (1986): “"Reindustrialization, innovation and public policy"” in Hall, Peter (1986): "Technology, Innovation and Economic Policy
Tác giả: Rothwell, Roy (1986): “Reindustrialization, innovation and public policy” in Hall, Peter
Năm: 1986
22. Sharp, Eliane B. (1995): “A contingency theory of incentives” in Research in Public Policy Analysis and Management, Volume 7, pp. 19-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sharp, Eliane B. (1995): “"A contingency theory of incentives"” "in Research in Public Policy Analysis and Management
Tác giả: Sharp, Eliane B
Năm: 1995
23. Wade, Robert (1990): Governing the Market: Economic Theory and the Role of Government in East Asia Industrialisation, Princeton University Press.Danh mục tài liệu tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wade, Robert (1990): "Governing the Market: Economic Theory and the Role of Government in East Asia Industrialisation", Princeton University Press
Tác giả: Wade, Robert
Năm: 1990
1. Cao Thu Anh (2006): Nghiên cứu đánh giá chính sách hỗ trợ tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp theo Nghị định 119, Viện Chiến lƣợc và Chính sách Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Thu Anh (2006): "Nghiên cứu đánh giá chính sách hỗ trợ tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp theo Nghị định 119
Tác giả: Cao Thu Anh
Năm: 2006
2. Bộ Khoa học và Công nghệ: Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị định 119/1999/ NĐ-CP ngày 18/9/1999 của chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp nghiêN cứu đổi mới công nghệ (2008 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Khoa học và Công nghệ: "Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị định 119/1999/ NĐ-CP ngày 18/9/1999 của chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp nghiêN cứu đổi mới công nghệ
3. Bộ KH, CN và MT (2001): Khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 1996 - 2000, Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ KH, CN và MT (2001):" Khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 1996 - 2000
Tác giả: Bộ KH, CN và MT
Năm: 2001
4. Trần Ngọc Ca (2000): Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam, Báo cáo đề tài năm 2000, Viện nghiên cứu Chiến lƣợc và Chính sách KH&CN (NISTPASS) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Ngọc Ca (2000):" Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam, Báo cáo đề tài năm 2000
Tác giả: Trần Ngọc Ca
Năm: 2000
6. CIEM (1999) Kinh tế Việt Nam năm 1998, Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CIEM (1999)" Kinh tế Việt Nam năm 1998, Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
7. Vũ Cao Đàm ( 2003), Đổi mới chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN. Báo cáo tổng hợp đề tài cấp bộ, Viện Chiến lƣợc và Chính sách KH&CN, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Cao Đàm ( 2003), "Đổi mới chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN
8. Vũ Cao Đàm (2008), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Cao Đàm (2008), "Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
9. GoV (2002): Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, Chính phủ Việt Nam, Tháng 5 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: GoV (2002):" Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
Tác giả: GoV
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 .  Số nhiệm vụ nghiên cứu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp  được hỗ trợ kinh phí theo NĐ 119/1999/NĐ-CP, - Phân tích tác động của Nghị định 119 1999 của Thủ tướng Chính phủ tới hoạt động đầu tư cho đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bảng 1 Số nhiệm vụ nghiên cứu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp được hỗ trợ kinh phí theo NĐ 119/1999/NĐ-CP, (Trang 46)
Bảng 1. Tổng hợp tình hình hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu đổi mới công  nghệ theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP của Chính phủ, - Phân tích tác động của Nghị định 119 1999 của Thủ tướng Chính phủ tới hoạt động đầu tư cho đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bảng 1. Tổng hợp tình hình hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu đổi mới công nghệ theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP của Chính phủ, (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w