1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến

86 539 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực sự, nhiề u công nghệ dù là giản đơn được đưa về nông thôn cũng mang lại biến đổi xã hội hết sức lớn lao, chẳng hạn công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến liệu này sẽ làm cho cuộ

Trang 1

đại học quốc gia Hà Nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

(Nghiên cứu tr-ờng hợp công nghệ Khí sinh học

và Bếp đun cải tiến)

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI CẢM ƠN 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu 8

3 Mục tiêu nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Mẫu khảo sát 10

6 Vấn đề nghiên cứu 10

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 10

9 Kết cấu luận văn 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong luận văn 12

1.1.1 Khái niệm biến đổi xã hội 12

1.1.2 Khái niệm công nghệ 15

1.1.3 Khái niệm công nghệ thích hợp 24

1.1.4 Công nghệ Khí sinh học 25

1.1.5 Công nghệ Bếp đun cải tiến 28

1.2 Lý thuyết về xã hội học Khoa học và Công nghệ 29

CHƯƠNG 2 TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI XÃ HỘI CỦA CÔNG NGHỆ KHÍ SINH HỌC VÀ BẾP CẢI TIẾN VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 32

2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu về công nghệ Khí sinh học 32

2.1.1 Tỉnh Bắc Giang 32

2.1.2 Tỉnh Sơn La 34

2.1.3 Tỉnh Đồng Nai 35

Trang 3

2.2 Thông tin về hộ điều tra sử dụng công nghệ Khí sinh học 37

2.2.1 Tổng số hộ điều tra 37

2.2.2 Một số thông tin chung về hộ điều tra 37

2.2.3 Thu nhập bình quân của hộ điều tra 38

2.2.4 Phân loại hộ điều tra theo thu nhập 39

2.3 Tác động biến đổi xã hội của công nghệ Khí sinh học 39

2.3.1 Công trình Khí sinh học làm giảm gánh nặng nội trợ cho phụ nữ 39

2.3.2 Công nghệ Khí sinh học cải thiện môi trường và sức khỏe 41

2.3.3 Công nghệ Khí sinh học thay đổi tập quán sinh hoạt và sản xuất của người dân 44

2.3.4 Những khó khăn khi ứng dụng công nghệ Khí sinh học 47

* Kết luận 50

2.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu về Bếp đun cải tiến 51

2.4.1 Huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 51

2.4.2 Huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ 52

2.5 Thông tin về hộ điều tra sử dụng Bếp đun cải tiến 53

2.5.1 Thông tin về nhóm đối tượng 53

2.5.2 Tình hình sử dụng Bếp đun cải tiến 53

2.6 Tác động biến đổi xã hội của Bếp đun cải tiến 54

2.6.1 Bếp đun cải tiến làm giảm gánh nặng cho phụ nữ 54

2.6.2 Bếp đun cải tiến cải thiện môi trường và sức khỏe 59

2.6.3 Bếp đun cải tiến cải thiện vấn đề bình đẳng giới 61

2.6.4 Một số vấn đề khó khăn khi ứng dụng công nghệ Bếp đun cải tiến 65

* Kết luận 69

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÍCH HỢP Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM 69

Trang 4

3.1 Giải pháp tăng cường và đa dạng hoá công tác truyền thông

nhằm nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của công nghệ

thích hợp 69 3.2 Giải pháp mở rộng thị trường công nghệ 70 3.3 Giải pháp thúc đẩy các hoạt động hỗ trợ 71 3.4 Giải pháp tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách 72 3.5 Giải pháp tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật cho đội ngũ

nhân lực triển khai công nghệ 72 3.6 Giải pháp thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá 73 KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC 80

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam hiện có hơn 80% dân số sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp chiếm khoảng 75% tổng số lao động xã hội Nói như vậy để thấy rằng, nước ta là một nước nông nghiệp và nơi khởi đầu công cuộc đổi mới đất nước cũng bắt đầu từ nông thôn Trước đây, ở nông thôn Việt Nam về mặt bằng dân trí, điều kiện để tiếp cận với công nghệ mới là rất khó Tuy vậy, những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều chính sách ưu tiên cho phát triển công nghệ cho vùng nông thôn được ban hành, người dân ở vùng nông thôn có nhiều cơ hội tiếp cận với công nghệ Thực sự, nhiề u công nghệ dù là giản đơn được đưa về nông thôn cũng mang lại biến đổi xã hội hết sức lớn lao, chẳng hạn công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến

liệu này sẽ làm cho cuộc sống của người dân ở nông thôn ngày càng trở nên khó khăn trong những năm tới vì các nguồn nhiêu liệu thay thế hoặc là có giá thành quá cao hoặc là khó có thể phổ biến ở khu vực nông thôn

Theo báo cáo của ngành Năng lượng và Lâm nghiệp, bên cạnh việc chế biến thành các bán thành phẩm nông nghiệp, trên 50% sản lượng gỗ khai thác

từ rừng tự nhiên được sử dụng cho những mục đích trên Rừng tự nhiên ngày càng bị khai thác cạn kiệt để phục vụ cho nhu cầu đun nấu Diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp dẫn đến những hậu quả không thể lường trước như hạn hán, lụt lội, suy thoái môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và cuộc sống của cộng đồng dân cư Ở một số vùng nông thôn, đặc biệt ở khu vực

Trang 6

miền Trung, sự cạn kiệt của nguyên liệu đun nấu đang ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết

Trong khi đó, hầu như mọi gia đình ở nông thôn hiện nay đang sử dụng các loại bếp đun truyền thống để đun nấu như bếp kiềng 3 chân, kiềng 4

chân…"Các loại bếp này khi đun nấu có nhiều nhược điểm như tốn nhiên

liệu, tốn thời gian, không an toàn Đặc biệt, tạo ra nhiều khói bụi khi đun nấu nên các loại bếp này gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người sử dụng và làm cho nhà bếp không đảm bảo điều kiện vệ sinh” [21; 2]

Bên cạnh đó, hiện nay ngành chăn nuôi cũng đặt ra một thách thức Chăn nuôi càng phát triển càng gây ô nhiễm môi trường, nhưng nếu có giải pháp xử lý thích hợp thì không những môi trường không bị ô nhiễm mà còn được cải thiện, nhất là môi trường đất và cây xanh…Với quy mô chăn nuôi ngày càng mở rộng, ngành chăn nuôi đặt mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi Theo đó, số hộ chăn nuôi gia trại, trang trại có hệ thống xử lý chất thải chiếm 12% năm 2006 sẽ tăng lên 45% năm 2010, 65% năm 2015 và 80% vào năm 2020

“Theo tính toán, một năm đàn gia súc, gia cầm của Việt Nam sẽ thải ra trên 73 triệu tấn chất thải rắn, 25-30 triệu khối chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước từ sân chơi, bãi vận động, bãi chăn) Chất thải này phần lớn được sử dụng làm phân bón hữu cơ Trong số đó, khoảng 50% số lượng chất thải rắn, 20% chất thải lỏng được xử lý qua công trình khí sinh học, hoặc các phương pháp ủ khác Phần còn lại sử dụng không qua xử lý hoặc cho thải trực tiếp ra môi trường đã làm tăng độ ô nhiễm và hủy hoại môi trường”1

Mặc dù chất thải chăn nuôi là mối nguy hiểm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, song không thể không phát triển chăn nuôi Vì chăn nuôi cung cấp năng lượng và chất bổ dưỡng cho con người, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống cho hầu hết người lao động Vấn đề đặt ra là phải hạn

1 Nguyễn Thiện (2007), Bảo vệ môi trường và phát triển chăn nuôi bền vững ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

Trang 7

chế mức độ gây ô nhiễm trong quá trình chăn nuôi Hoạt động chăn nuôi, cũng như bất cứ hoạt động nào diễn ra trong xã hội, dù nhỏ hay lớn đều phải thân thiện với môi trường nhằm phát triển bền vững

Mô hình xử lý chất thải động vật bằng công nghệ tạo Khí sinh học (biogas) là một giải pháp thân thiện với môi trường, đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi ở nước ta

Vì thế, việc ứng dụng công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến là cần thiết Nếu ứng dụng rộng rãi công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến thì hiệu quả mà nó sẽ mang lại là rất lớn không những về kinh tế, về xã hội mà còn giải quyết tốt các vấn đề về môi trường

Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến ở nông thôn vẫn chưa được phổ biến Nguyên nhân chủ yếu là do công tác tuyên truyền, cũng như chính sách phát triển công nghệ nói chung, cũng như về công nghệ thích hợp nói riêng chưa thực sự được đầu tư, quan

tâm nhiều Vì vậy, lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phân tích tác động biến đổi

xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam” (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến) là

cần thiết, có ý nghĩa quan trọng để phần nào tác giả đưa ra bức tranh tổng quát về tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam

tưởng như có liên quan đến đề tài này như đề tài “Một số biến đổi xã hội ở

nông thôn vùng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới” của PGS.TS Lê Tiêu

La, Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài tập trung trình bày một

số khía cạnh lý luận và thực tiễn của biến đổi xã hội; phân tích thực trạng và

Trang 8

các nhân tố tác động đến sự biến đổi của một số vấn đề xã hội ở vùng nông thôn ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới; dự báo một số xu hướng biến đổi

về xã hội và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển bền vững xã hội nông

thôn vùng ven đô Hà Nội hoặc như đề tài “Biến đổi xã hội ở Việt Nam trong

thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá, qua nghiên cứu nhóm doanh nhân” của tác giả Trịnh Duy Luân, Viện xã hội học; Đề tài “Lựa chọn công nghệ thích hợp trong quá trình chuyển giao công nghệ” năm 1991 của

TS Trần Ngọc Ca tại đại học Lund, Thuỵ Điển; Đề tài “Một số vấn đề về biến

đổi xã hội ở Việt Nam trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước” của

Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; Bài viết của GS.TS Hoàng Chí Bảo, Hội

đồng lý luận TW về “Biến đổi xã hội ở Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới”

.v.v .Các đề tài, bài viết mới chỉ đề cập đến tác động biến đổi xã hội một cách

chung chung do nhiều nhân tố tác động Như vậy, chúng tôi cho rằng đây là

đề tài nghiên cứu hoàn toàn mới

3 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển

nông thôn Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn vấn đề nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích tác động biến đổi xã

hội của công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến với phát triển nông thôn Việt

Nam tại một số địa bàn của tỉnh Bắc Giang, Sơn La, Đồng Nai và Phú Thọ

Thời gian nghiên cứu: Tháng 8-12, năm 2009

Khách thể nghiên cứu: Hộ gia đình đang sử dụng công nghệ Khí sinh

học và hộ gia đình đang sử dụng Bếp đun cải tiến

Đối tượng khảo sát:

- Trường hợp nghiên cứu công nghệ Khí sinh học: Hộ gia đình đang sử dụng công nghệ Khí sinh học tại Bắc Giang, Sơn La và Đồng Nai

Trang 9

- Trường hợp nghiên cứu Bếp đun cải tiến: Hộ gia đình đang sử dụng Bếp đun cải tiến tại 2 huyện của tỉnh Phú Thọ: huyện Yên Lập và Cẩm Khê

7 Giả thuyết nghiên cứu

Trong điều kiện xuất phát điểm về trình độ dân trí, khả năng áp dụng công nghệ còn hạn chế, thì công nghệ thích hợp với điều kiện phát triển của khu vực nông thôn có thể mang lại biến đổi xã hội hết sức lớn lao chẳng hạn như tác động về môi trường, tác động về xã hội, tác động về tập quán.v.v., trong đó công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến cũng không phải là trường hợp ngoại lệ

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: Được chúng tôi sử dụng để

phỏng vấn đối tượng khảo sát nhằm tìm hiểu tác động biến đổi xã hội của công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến với phát triển nông thôn

Trường hợp nghiên cứu công nghệ Khí sinh học đó là các hộ gia đình đang sử dụng công nghệ Khí sinh học tại Bắc Giang, Sơn La và Đồng Nai, được chọn theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên Tổng số phiếu phát ra là

180 phiếu, số phiếu thu về và xử lý là 180 phiếu, cụ thể mỗi tỉnh là 60 phiếu

Trang 10

Trường hợp nghiên cứu Bếp đun cải tiến là các hộ gia đình đang sử dụng Bếp đun cải tiến tại địa bàn thuộc 2 huyện của tỉnh Phú Thọ: huyện Cẩm Khê

và Yên Lập, được chọn theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên Tổng số phiếu phát ra là 100 phiếu, số phiếu thu về và xử lý là 100 phiếu

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được thực hiện nhằm thu thập thêm

thông tin sâu sắc và cụ thể hơn về tác động biến đổi xã hội của hai công nghệ đối với sự phát triển phát triển nông thôn

Trường hợp nghiên cứu công nghệ Khí sinh học: 4 trường hợp phỏng vấn sâu được thực hiện đối với hộ gia đình đang sử dụng công nghệ Khí sinh học (3); cán bộ phòng Nông nghiệp (1)

Trường hợp nghiên cứu Bếp đun cải tiến: 3 trường hợp phỏng vấn sâu được thực hiện đối với hộ gia đình đang sử dụng công nghệ Bếp đun cải tiến

- Phương pháp phân tích tài liệu: Tác giả đã tiến hành thu nhập các tài

liệu có liên quan, trong đó chú trọng khai thác sử dụng một số kết quả nghiên cứu đã công bố: luận văn; các bài viết; sách, tạp chí Đây là cũng là nguồn dữ liệu thông tin quan trọng trong quá trình nghiên cứu

9 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc gồm ba chương Chương 1 trình bày những khái niệm chủ chốt, những vấn đề lý luận

có liên quan mật thiết đến nội dung nghiên cứu của luận văn Chương 2 được

sử dụng để phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến với phát triển nông thôn Việt Nam Trong chương này, thông qua nghiên cứu thực tế, tác giả phân tích tác động tích cực về nhiều mặt của công nghệ thích hợp mà cụ thể là công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến đang được ứng dụng triển khai tại nông thôn Việt Nam Trên cơ sở phân tích của chương 2, từ đó tác giả đề xuất các giải pháp phát triển và ứng dụng công nghệ thích hợp ở nông thôn Việt Nam trong chương 3

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong luận văn

Một khái niệm có cấu trúc gồm hai phần, nội hàm và ngoại diên, nội hàm

là những thuộc tính, bản chất tạo thành khái niệm, còn ngoại diên là tất cả những các thể có chứa những thuộc tính mà khái niệm chứa đựng Nếu xét ở góc độ phân tích khái niệm, định nghĩa một khái niệm chỉ mới cho biết nội hàm của khái niệm đó, còn phân loại sẽ cho biết ngoại diên khái niệm

Trước khi tiến hành trình bày những nội dung cơ sở lý thuyết của luận văn này, tác giả xin đề nghị một cách hiểu thống nhất đối với một số khái niệm công cụ quan trọng được sử dụng trong nghiên cứu, đó là các khái niệm: Biến đổi xã hội, công nghệ, công nghệ thích hợp, công nghệ Khí sinh học, công nghệ Bếp đun cải tiến Việc thống nhất một cách hiểu chung đối với những khái niệm công cụ vừa nêu là rất cần thiết để tạo cơ sở vững chắc trong việc hiểu rõ những nội dung sẽ đưa ra phân tích trong luận văn này

1.1.1 Khái niệm biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội (tiếng Anh: Social change) “Là một quá trình qua đó

những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian” 2

Cũng giống như tự nhiên, mọi xã hội không ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho

dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi; sự biến đổi trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này cho thấy

rõ hơn là sự biến đổi đó không còn là điều mới mẻ, nó đã trở thành chuyện thường ngày Mọi cái đều biến đổi và xã hội cũng giống như các hiện thực khác, không ngừng vận động và thay đổi Tất cả các xã hội đều ở trong một

Trang 12

thực trạng đứng yên trong sự vận động liên tục Có nhiều cách quan niệm về

sự biến đổi xã hội, như:

Phạm vi rộng: biến đổi xã hội là một sự thay đổi so sánh với một tình

trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước;

Phạm vi hẹp: biến đổi xã hội là sự biến đổi về cấu trúc xã hội hay tổ

chức xã hội của xã hội đó, mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên của một xã hội;

Riêng những biến đổi chỉ tác động đến một số ít cá nhân, thì ít được các nhà xã hội học quan tâm và chú ý

Auguste Comte đưa ra thuật ngữ xã hội học đã tin tưởng rằng khi các nhà

xã hội học xác định những nguồn gốc của sự biến đổi xã hội, thì họ có thể giúp chương trình cho một tương lai tốt hơn Auguste Comte cho rằng, biến đổi xã hội là:

- Chắc chắn xảy ra;

- Sẽ theo một con đường phát triển;

- Những tiến bộ đương nhiên hướng tới một xã hội tốt hơn

Auguste Comte tin tưởng rằng, thông qua biến đổi xã hội, nhân loại chuyển từ người nguyên thủy dốt nát đến con người được giáo dục, và những cái mà chúng ta được học hoặc được phát triển tiến về con đường tách khỏi sự sắp đặt của thuợng đế vì sự tiến bộ của nhân loại

Đặc điểm của biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội là hiện tượng phổ biến, nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội;

Biến đổi xã hội khác biệt về thời gian và hậu quả;

Biến đổi xã hội vừa có tính kế hoạch, vừa có tính phi kế hoạch

Trang 13

Các khái niệm liên quan

Có nhiều cách hiểu biết khác nhau về sự biến đổi xã hội; một phần do quan điểm học thuật, cách tiếp cận vấn đề khác nhau, một phần bởi khái niệm biến đổi xã hội có liên quan gần gũi với một vài khái niệm gần kề nó Cho nên, cần phải hiểu rõ hơn một số khái niệm liên quan đến biến đổi xã hội

- Biến cố xã hội: các nhà xã hội học thường phân biệt khái niệm biến cố

xã hội với biến đổi xã hội Một biến cố xã hội hay một sự kiện xã hội như một cuộc bầu cử, biểu tình, đình công, có thể đem lại sự thay đổi và cũng có thể không đem lại một sự thay đổi nào Chính vì vậy, một số nhà xã hội học đưa

ra sự phân biệt giữa sự thay đổi về sự bình quân và sự thay đổi có tính kết cấu Thay đổi về sự bình quân là việc đi đến một sự bình quân mới sau những xáo trộn, những biến cố; nhưng các đặc trưng của hệ thống xã hội vẫn không thay đổi, chính xác hơn chỉ một bộ phận của tổng thể xã hội biến đổi, nhưng

cơ cấu của xã hội vẫn không bị ảnh hưởng - Thực chất, sự thay đổi bình quân không liên quan đến sự biến đổi xã hội;

- Tiến bộ xã hội: là một sự vận động có ý thức trong một chiều hướng được tán thành và đáng mong đợi Như vậy, tiến bộ liên quan đến giá trị - đây

là sự khác biệt giữa sự tiến bộ và sự biến đổi xã hội Thuật ngữ "tiến bộ” là

một phán quyết giá trị chứ không phải là một lời tường thuật về một sự

kiện Ngược lại thuật ngữ "biến đổi” là một thuật ngữ không chỉ định

hướng giá trị mà thể hiện một sự mô phỏng của một nền văn hóa hay cấu trúc xã hội hiện hữu;

- Tiến hóa: thuyết tiến hóa ban đầu do Charles Darwin (1809 – 1882) đưa ra trong lĩnh vực sinh học, như một học thuyết về sự phát triển của tự nhiên - học thuyết này ảnh hưởng rất lớn đến nhiều nhà xã hội học nổi tiếng: Lewis Henry Morgan (1818-1881), Herbert Spencer (1820-1903) Morgan cho rằng, con người tiến hóa qua ba trạng thái: hoang dã, man dã và văn minh Spencer xây dựng lý thuyết thống nhất về sự tiến hóa: chuyển từ cái thuần nhất đơn giản sang cái không thuần nhất phức tạp, thông qua phân hóa

Trang 14

để đạt tới sự thống nhất Trong xã hội học, phân biệt hai hình thức biến đổi lớn - tiến hóa và cách mạng; hai hình thức này phụ thuộc vào những yếu tố bên trong và bên ngoài Thoạt nhìn, chúng tự phân biệt với nhau bằng tính chất chậm chạp hay nhanh chóng của sự biến đổi diễn ra trong xã hội ở những thời điểm nhất định Những biến đổi bên trong, ở bất kỳ lĩnh vực nào, cũng kéo theo một sự tiến hóa và sự tiến hóa này đôi khi diễn ra nhanh chóng trên phương diện vật chất, nhưng chậm hơn ở phương diện tinh thần Sự tiến hóa gần đây nhất và gần gũi với cách mạng là sự tiến hóa được biết đến với cái tên

"phát triển” - đây là khái niệm được nhiều nhà xã hội học quan tâm và trở

thành một khái niệm thịnh hành nhất vào nửa sau của thế kỷ 20 Các nhà xã

hội học cho rằng, phát triển là một quá trình trong đó toàn thể loài người áp

dụng những công cụ hiện đại của khoa học và công nghệ vào những mục tiêu của mình, qua những thời kỳ khác nhau và có tính không thể đảo ngược của quá trình đó

1.1.2 Khái niệm công nghệ

Ngày nay, cụm từ "công nghệ” đã trở nên phổ biến như công nghệ chế biến, công nghệ nano, công nghệ vũ trụ.v.v nó rất gần gũi với hoạt động của con người Nhưng để hiểu được nó cần một quá trình tư duy về nó Thuật ngữ công nghệ xuất phát từ tiếng Hy Lạp "techne” có nghĩa là một nghệ thuật hay

kỹ năng, và "logia” có nghĩa là một khoa học hay sự nghiên cứu

Khi xem xét công nghệ với tư cách là sản phẩm có thể trao đổi, mua bán, một thành tố quyết định của thị trường công nghệ Trong báo cáo của Ban Chính sách Công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ tại Hội nghị Khoa học năm 2002 đã nêu ra một khái niệm về công nghệ như sau:

Định nghĩa 1: Theo tác giả F.Root, “công nghệ là dạng kiến thức có thể

áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới” Trong định nghĩa này, bản chất của công nghệ là dạng kiến thức và mục tiêu sử dụng công nghệ là áp dụng vào sản xuất và tạo ra các sản phẩm mới

Trang 15

Định nghĩa 2: do tác giả R.Jones (1970) đưa ra, cho rằng “công nghệ là

cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa” Như vậy, với định nghĩa này có thể hiểu là: Về bản chất, công nghệ là cách thức (cũng

là kiến thức) và về mục tiêu, công nghệ dùng để chuyển hóa nguồn lực thành hàng hóa

Định nghĩa 3: “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình

hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh” Đây là định nghĩa của tác giả J Baranson (1976), theo đó, bản chất của công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm

Định nghĩa 4: “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng

để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường (marketing) cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới” theo J R Dunning (1982) Như vậy, theo định nghĩa này, xét về bản chất, công nghệ được hiểu là kiến thức và xét về mục tiêu, công nghệ được hiểu là nâng cao hiệu quả sản xuất và marketing

Định nghĩa 5: Theo E.M Graham (1988) “Công nghệ là kiến thức không

cầm nắm được và không phân chia được, có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ Như vậy, theo định nghĩa này, xét về bản chất, công nghệ được hiểu là kiến thức và về mục tiêu, công nghệ được hiểu

là để sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ

Định nghĩa 6: Tác giả P.Strunk (1986) cho rằng “công nghệ là sự áp

dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách

xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp” Công nghệ là kiến thức (có sẵn trong óc con người, không phải hàng hóa) Như vậy, theo định nghĩa này, xét về bản chất, công nghệ được hiểu là kiến thức khoa học và về mục tiêu, công nghệ được hiểu là để áp dụng vào công nghiệp

Định nghĩa 7: nhằm mục đích tiêu chuẩn hoá công tác thống kê về cán

cân thanh toán công nghệ (TBP), OECD (1990) định nghĩa "công nghệ được

Trang 16

hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong hoàn cảnh cụ thể nhất định” Công nghệ trong định nghĩa này được hiểu là tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn và có mục đích là đạt được một kết quả mong muốn

Định nghĩa 8: Tổ chức PRODEC (1982), theo đó “công nghệ là mọi loại

kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ” Như vậy, theo định nghĩa này, xét về bản chất, công nghệ được hiểu là kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp và xét về mục tiêu, công nghệ được hiểu là để sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ

Định nghĩa 9: Ngân hàng Thế giới (1985) đưa ra định nghĩa như sau:

“công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: (1) Thông tin về phương pháp; (2) phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa và (3) sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao? Như vậy, xét về bản chất, công nghệ là thông tin, công

cụ và sự hiểu biết và xét về mục tiêu, công nghệ để chuyển hóa nguồn vào thành sản phẩm

Định nghĩa 10: Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như

vậy, nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện ở một trong những dạng sau:

(1) Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư

(2) Nhân lực, thông thường là có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình

độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin

Trang 17

(3) Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền”

Định nghĩa này của UNCTAD (1972) cho thấy, về bản chất công nghệ là

tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin; và có mục tiêu là làm đầu vào cần thiết cho sản xuất

Định nghĩa 11: Tác giả Sharif (1986) cho rằng “công nghệ bao gồm khả

năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa” Tác giả này còn coi công nghệ là một tập hợp của phần cứng

và phần mềm, bao gồm 4 dạng cơ bản: dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh,…); dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm); dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp….được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu v.v…); ở dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ

sở luật pháp…)

Theo tổ chức ESCAP (Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á- Thái Bình Dương) thì Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu thông tin Tuy nhiên, khái niệm này chưa thật đầy đủ và nó không phản ánh hết những thuộc tính của công nghệ Vì lý do này mà ESCAP

có mở rộng thêm "Công nghệ gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý, thông tin ” Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể, mà mở rộng khái niệm công nghệ ra các lĩnh vực dịch vụ và quản lý Do vậy, định nghĩa này được coi là một bước ngoặt trong lịch sử quan niệm về công nghệ

Ở nước ta, trong những năm gần đây khái niệm công nghệ đã được Luật

"Khoa học và Công nghệ” năm 2000 định nghĩa một cách cô đọng như sau:

Trang 18

“Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công

cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”[24; điều 2]

Theo Luật Chuyển giao công nghệ (2006), công nghệ là “giải pháp, quy

trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”[25; điều 3]

Với định nghĩa về công nghệ như trên có thể hiểu công nghệ một cách đơn giản là sự hiểu biết cách làm một việc gì đó Công nghệ tồn tại trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế- xã hội Mỗi người dưới một góc độ khác nhau, ở một vị trí khác nhau có thể nhìn nhận công nghệ dưới những khía cạnh khác nhau

Về nội dung công nghệ: Theo quan điểm của Trung tâm Chuyển giao công nghệ châu Á- Thái bình Dương (APCTT) thì bất cứ một công nghệ nào,

dù đơn giản đến đâu cũng bao gồm 4 thành tố có tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra biến đổi mong muốn

- Công nghệ hàm chứa trong các vật thể (Technoware- T) bao gồm mọi phương tiện vật chất như các công cụ, trang bị, máy móc, vật liệu, phương tiện vận chuyển, nhà xưởng Có thể gọi dạng hàm chứa này là phương tiện kỹ thuật

- Công nghệ hàm chứa trong con người (Humanware-H) bao gồm mọi năng lực của con người về công nghệ như kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức, tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng lãnh đạo, đạo đức lao động Dạng hàm chứa này gọi là phần con người của công nghệ

- Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức (Inforware-I) có tổ chức đã được tư liệu hoá như lý thuyết, các khái niệm, các phương pháp, thông số, công thức, bí quyết Dạng hàm chứa này gọi là phần thông tin của công nghệ

- Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế (Orgaware-H) tạo nên khung tổ chức của công nghệ, như phần thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết Dạng hàm chứa này gọi là phần tổ chức của công nghệ

Trang 19

Theo cách hiểu phổ thông hiện nay thì công nghệ bao gồm 2 phần là

"phần cứng” và "phần mềm”

Công nghệ phần cứng là phần công nghệ có liên quan đến cơ sở hạ tầng (nhà xưởng, điện- nước, giao thông.v.v.) và các phương tiện kỹ thuật (máy móc, thiết bị, vật tư, dụng cụ ) cần thiết và có vai trò nối dài khí quan của con người trong quá trình thực hiện các quy trình công nghệ

Công nghệ phần mềm là phần công nghệ có liên quan đến việc sử dụng, khai thác có hiệu quả phần cứng của công nghệ (bao gồm các phương pháp, quy trình, kinh nghiệm, bí quyết, thông tin, tài liệu hướng dẫn, chương trình điều khiển, biểu mẫu, sơ đồ, bản vẽ, tổ chức sản xuất )

Các thuộc tính (đặc điểm) của công nghệ

Công nghệ là một loại hàng hoá trên thị trường với tư cách là một hệ thống công cụ chế biến vật chất và chế biến thông tin, hàng hoá công nghệ có thuộc tính riêng Những thuộc tính này do 4 yếu tố cơ bản của công nghệ tạo nên, nó quyết định và những hưởng trực tiếp tới việc mua, bán, đánh giá, định giá, trao đổi, sử dụng công nghệ

và được con người sử dụng để quyết định và vận hành trang thiết bị

Thiết chế tiếp nhận và kiểm soát phần thông tin, phần con người và phần trang thiết bị để tiến hành quá trình chuyển đổi

Bốn yếu tố này liên kết trực tiếp với nhau Trong đó yếu tố con người là phần tối quan trọng của công nghệ Tính hệ thống thể hiện trình tự, bước thực hiện theo

một chu trình nghiêm ngặt, theo quy trình, thời gian, địa điểm trong từng yếu tố

Sự tương tác giữa các yếu tố của công nghệ được thể hiện trong sơ đồ sau

Trang 20

Biểu 1.1 Sự tương tác giữa các thành phần của công nghệ

Nguồn: Đoàn Châu Thanh (2002), Chuyển giao công nghệ nước ngoài

vào Việt Nam trong công cuộc CNH, HĐH nền kinh tế, Luận văn thạc sỹ kinh

tế, Trường Đại học ngoại thương, tr.4

Qua biểu 1 cho ta thấy chỉnh thể thống nhất của công nghệ Công nghệ

đó là tổng hoà mọi yếu tố từ yếu tố công nghệ hiện thân trong con người, đến công nghệ hiện thân trong vật thể biểu hiện ở phần kĩ thuật, công nghệ hiện thân trong tài liệu kĩ thuật biểu hiện ở phần thông tin, cho đến công nghệ hiện thân trong thể chế biểu hiện ở phần tổ chức Như vậy khi đề cập đến công nghệ, chúng ta phi đồng thời phần tích các yếu tố cấu thành nên công nghệ trong một chỉnh thể thống nhất không tách rời, nếu không chúng ta sẽ phạm phi sai lầm khó tránh khỏi khi đưa ra quyết định lựa chọn công nghệ

- Tính sinh thể và tiến hoá

Đây là thuộc tính của cơ thể sống, tức là bảo đảm cung cấp các yếu tố đầu vào, có môi trường tốt, được thích nghi hoá, có bảo dưỡng, duy trì và hoàn thiện Công nghệ chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu được nuôi dưỡng

phÇn th«ng tin

phÇn th«ng tin

phÇn con ng-êi

phÇn kü thuËt phÇn tæ chøc

Trang 21

Nếu xem công nghệ như một đối tượng tĩnh, một sản phẩm “chết" thì trước sau công nghệ sẽ trở thành gánh nặng cho người sử dụng nó

Công nghệ nào cũng có riêng vòng đời của mình cho dù công nghệ nhập

từ nước ngoài hay công nghệ phát sinh trong nước đều tri qua những giai đoạn có quan hệ mật thiết lẫn nhau mà người ta gọi nó là vòng đời công nghệ.Vòng đời của công nghệ gồm 4 giai đoạn: nghiên cứu (Research), triển khai (Development), sản xuất (Production) và thị trường (Marketing)

- Công nghệ mang bản chất thông tin

Bắt nguồn từ khoa học, công nghệ cũng mang bản chất thông tin Thông tin công nghệ không dừng ở việc mô tả bản chất của các giải pháp công nghệ, mối quan hệ giữa các yếu tố hàm chứa trong công nghệ, mà còn tổng hợp về giá cả, điều kiện áp dụng, khả năng đạt hiệu qủa khi sử dụng công nghệ Do

đó, việc xác định sở hữu, bảo vệ, đánh giá, xử lý, cập nhật trong việc mua bán công nghệ là hết sức phức tạp Nó đòi hỏi có sự can thiệp và bảo hộ của hệ thống luật pháp không chỉ ở phạm vi quốc gia mà cả quốc tế Đồng thời nó cũng đòi hỏi các kỹ năng linh hoạt và các kinh nghiệm trong quá trình thăm

dò, tình báo, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ

Để đảm bảo thông tin công nghệ khỏi bị đánh cắp và công nghệ không bị bắt chước, có một thông tin trung gian là thông tin Patent (về các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ của hàng hoá) Thông tin Patent thể hiện được điểm cốt lõi của công nghệ, nhưng còn thiếu mức độ chi tiết và thiếu yếu tố kỹ thuật, thương mại đồng bộ kèm theo để có thể nắm được công nghệ Patent là một văn bằng mà nội dung của nó được Nhà nước bảo hộ độc quyền, là bộ phận của hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ thế giới thông qua các hiệp định quốc tế Việc sử dụng thông tin Patent điều phi được phép của chủ sở hữu và đăng ký với cơ quan quản lý có thẩm quyền (Cục quản lý phát minh sáng chế)

Giữa thông tin công nghệ và thông tin khoa học có sự khác nhau Sự nhầm lẫn về bản chất này có thể dẫn đến những thiếu sót khi xử lý thông tin

Trang 22

và thất bại khi sử dụng công nghệ Thông tin công nghệ là thông tin có thể đem lại lợi nhuận ngay hôm nay hoặc ngày mai, còn thông tin khoa học có thể đem lại lợi nhuận sau một thời gian dài 5 năm chẳng hạn Thông tin khoa học thường đề cập sâu hơn về một đối tượng, ngược lại thông tin công nghệ lại thường tổng hợp nhiều khía cạnh Thông tin công nghệ thường rất rộng, không chỉ dừng ở khía cạnh kĩ thuật, mà còn bao quát cả khía cạnh thưng mại hoá, sở hữu công nghiệp và những vấn đề xung quanh hoạt động chuyển giao công nghệ Như vậy, công nghệ không chỉ đem lại thông tin về chi tiết kỹ thuật mà còn cung cấp cả các chi tiết khác về mặt công nghệ như đào tạo, huấn luyện, chuyên gia Để sử dụng công nghệ cần có đầy đủ thông tin để đưa

ra các quyết định đầu tư đúng đắn

- Tính đặc thù

Đặc thù theo mục tiêu (Objective Specific)

Mặc dù khái niệm công nghệ rất rộng nhưng rất cụ thể, công nghệ luôn gắn liền với việc giải quyết một mục tiêu cụ thể Mỗi một công nghệ cho ra một sản phẩm nhất định với số lượng và chất lượng nhất định, tương ứng với một lượng hao phí nhất định về nhân vật lực để tạo ra sản phẩm đó

Xuất phát từ thuộc tính đặc thù của công nghệ hoạt động (R&D) được định hướng cụ thể tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia khác nhau

Đặc thù về địa điểm (Location specific)

Khi một công nghệ được chuyển giao từ nơi này sang nơi khác thì nó trở nên khác trước Khi trở nên lạc hậu ở một nước không còn đáp ứng việc tạo sản phẩm mới thì ở nước nước khác nó có thể vẫn được coi là mới và thích hợp Điều đó có nghĩa là lúc sản phẩm đang ở giai đoạn thoái trào tại nước phát triển công nghệ thì nó lại ở trong giai đoạn cao trào ở nước tiếp nhận công nghệ có nền công nghệ kém phát triển hơn Sự khác nhau này là do yếu

tố của con người, môi trường, thị trường, các yếu tố đầu vào, văn hoá của một nước quyết định Điều này cho thấy rằng, chuyển giao công nghệ không đơn

Trang 23

thuần là chuyển dịch công nghệ từ vị trí địa lý này sang vị trí khác mà là cả quá trình cải tiến sửa đổi thích nghi hoá, "địa phương hoá" cho phù hợp với điều kiện của môi trường mới

1.1.3 Khái niệm công nghệ thích hợp

Các đặc điểm của công nghệ thể hiện qua bản chất của sản phẩm mà nhờ áp dụng công nghệ đó sản xuất ra cũng như việc sử dụng các nguồn lực

cho việc áp dụng công nghệ đó "Công nghệ thích hợp có thể được hiểu là

công nghệ mà nguồn nhân, vật lực sử dụng cho công nghệ đó phù hợp với nơi sử dụng” [14; 63]

Trong điều kiện ở vùng nông thôn Việt Nam hiện nay công nghệ thích hợp là công nghệ tạo ra sản phẩm mà sử dụng nhiều nhân công với trình độ

kỹ năng ở mức trung bình phù hợp với mức thu nhập, thanh toán của người sử dụng (sản phẩm) và khai thác (công nghệ); tận dụng được các nguồn tài nguyên phong phú giá rẻ; phù hợp quy mô sản xuất nhỏ và trung bình ở nông thôn Việt Nam; từng bước nâng cao năng lực công nghệ nội sinh và không tách rời vấn đề bảo vệ môi trường

Thật khó mà có thể đưa ra một mối quan hệ có tính chất hàm số giữa công nghệ thích hợp với các yếu tố quyết định nó bởi vì có những yếu tố không thể lượng hoá được cũng như rất khó khăn trong việc gán cho chúng những trọng số thích hợp Vì vậy chỉ có thể lựa chọn được công nghệ thích hợp trên cơ sở căn cứ vào những tiêu chuẩn cụ thể sau đó đánh giá công nghệ theo chỉ tiêu đó dựa trên các quan điểm và mục đích khác nhau

Một số chỉ tiêu cụ thể của một công nghệ thích hợp với vùng nông

thôn ở Việt Nam 3

Trang 24

- Tính thích nghi hoá

- Góp phần tăng năng suất lao động và giải quyết tốt việc làm

- Tiết kiệm nguồn tài nguyên

- Bảo vệ môi trường sinh thái

Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, tác giả lựa chọn hai công nghệ thích hợp đang được triển khai ở vùng nông thôn Việt Nam, đó là công nghệ Khí sinh học và công nghệ Bếp đun cải tiến

1.1.4 Công nghệ Khí sinh học

"Khí sinh học là một hỗn hợp khí được sinh ra trong quá trình phân giải kỵ khí của các hợp chất hữu cơ như: Phân động vật, xác động thực vật và các hợp chất hữu cơ khác Thành phần chủ yếu của khí sinh học là khí mêtan (CH4), điôxit các bon (CO2) và một số khí khác Mêtan lại là khí cháy được nên khí sinh học cũng là khí cháy được” [7; 9]

Công nghệ Khí sinh học là công nghệ đa mục tiêu, được ứng dụng với

ba mục đích chính: xử lý chất thải hữu cơ; sản xuất khí sinh học để cung cấp năng lượng; sản xuất bã thải để làm phân bón cho cây trồng, nuôi thuỷ sản và làm thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm

Công trình Khí sinh học: bao gồm thiết bị khí sinh học, đường ống và dụng cụ sử dụng khí, bể lưu giữ và chế biến phân hữu cơ Trong đó, trung tâm của hệ thống khí sinh học là thiết bị khí sinh học Nó là thiết bị dùng để phân huỷ các hợp chất hữu cơ, sản xuất ra hai sản phẩm là khí sinh học và bã thải Hiện có rất nhiều loại thiết bị khí sinh học nhưng có thể chia thành hai loại chính như sau:

Thiết bị chảy qua và khuấy trộn đều: Đây là loại đơn giản đã được dùng

từ lâu để sản xuất khí sinh học từ nguồn nguyên liệu đặc biệt như phân động vật, cây xanh, rác hữu cơ

Thiết bị năng suất cao: Đây là loại mới phát triển vài chục năm gần đây

để xử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt Mục tiêu chủ yếu của các công

Trang 25

trình thuộc loại này là xử lý nước thải để bảo vệ môi trường Đối với khu vực nông thôn, loại thiết bị chảy qua và khuấy trộn đều là loại thích hợp nhất và được phát triển rộng rãi

Trên thế giới và ở Việt Nam hiện có rất nhiều kiểu thiết bị khí sinh học Qua quá trình kiểm nghiệm và sàng lọc, có một số kiểu thiết bị đang sử dụng phổ biến như sau:

1 Thiết bị khí sinh học nắp nổi

Thiết bị được Viện Năng lượng nghiên cứu thử nghiệm thành công và được ứng dụng rộng rãi trên toàn quốc Bể phân huỷ được xây bằng gạch, cổ

có gioăng nước để giữ nắp, có dạng hình trụ, gần đây được Viện cải tiến sang dạng đới cầu Nắp thường chế tạo bằng tôn Hiện đây là kiểu được ứng dụng phổ biến nhất ở các tỉnh vì dễ bảo đảm kín khí Nhược điểm lớn nhất của nó

là giá thành chế tạo và vận chuyển nắp khá cao, chiếm khoảng 30% giá thành toàn bộ công trình (kể cả phần đường ống và dụng cụ sử dụng) Ngoài ra ở loại nắp nổi, áp suất khí thường thấp nên việc sử dụng khí để thắp sáng kém hiệu quả Hiện nay loại này đang được tiếp tục phát triển ở miền nam nhưng

có cải tiến

2 Thiết bị vòm cầu xây bằng gạch

Thiết bị này do Viện Năng lượng nghiên cứu và thử nghiệm thành công

từ năm 1987 và các mẫu đã được cải tiến qua nhiều lần

3 Thiết bị vòm cầu bằng composist

Thiết bị do Trung tâm hỗ trợ Phát triển Nông thôn triển khai trong khuôn khổ chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường Phần vòm được chế tạo tại xưởng bằng composist hoặc bằng xi măng lưới thép, được đặt lên trên phần trụ xây gạch ở dưới

4 Thiết bị khí sinh học bằng túi dẻo

Túi được chế tạo từ chất dẻo có độ dày 3mm, có đường kính 1,2m Một thiết bị khí sinh học cần chiều dài túi khoảng 10 m Như vậy

Trang 26

0,8-dung tích thiết bị vào khoảng dưới 1 triệu đồng, tương đối phù hợp với túi tiền của nông dân

Việc lựa chọn kiểu thiết bị khí sinh học cho mỗi gia đình hay mỗi địa phương phụ thuộc vào loại nguyên liệu đầu vào, nhu cầu sử dụng năng lượng, diện tích đất ở và đặc biệt là điều kiện kinh tế của người dân Tuy nhiên dù áp dụng bất cứ kiểu thiết bị nào thì cũng cần tuân thủ đầy đủ kỹ thuật xây dựng, lắp đặt và sử dụng của thiết bị Người sử dụng nên tiếp cận với các cơ quan,

tổ chức tư vấn kỹ thuật có chuyên môn và kỹ thuật để có được thiết bị đảm bảo chất lượng khi sử dụng

Trang 27

Bảng 1.2 Tóm tắt ƣu nhƣợc điểm của các loại khí sinh học

- Giữ áp xuất không đổi

- Trực tiếp thấy lượng khí theo độ nổi của nắp

-Nắp phải chế tạo riêng

- Giá thành cao

- Kém ổn định nhiệt

- Tuổi thọ nắp không dài

- Giá thành cao

- Áp suất thay đổi

- Thiết kế chưa hợp lý Nắp cố định xây gạch - Vật liệu sẵn có

- Kỹ thuật xây đơn giản

- Kích cỡ tuỳ theo yều cầu

- Kỹ thuật xây mới lạ

- Đòi hỏi cần thận khi xây

- Áp suất thay đổi

Túi chất dẻo - Lắp đặt nhanh chóng

Các loại Khí sinh học để xử lý chất thải ứng dụng cho nông thôn, Số tháng

9/2002

1.1.5 Công nghệ Bếp đun cải tiến

- “Là loại bếp có thể đun được các loại chất đốt thông dụng ở nông thôn như củi, hoặc các loại phế thải nông nghiệp với hiệu quả sử dụng cao, giảm khói bụi” [12; 12]

- Đầu tư ban đầu không cao, phù hợp với điều kiện kinh tế ở nông thôn;

Trang 28

- Kỹ thuật làm bếp không phức tạp và có thể sử dụng vật liệu sẵn có ở địa phương

Bếp đun cải tiến xây dựng cố định có ống khói: Là loại Bếp đun cải tiến

đang được sử dụng rộng rãi cho các hộ gia đình nông thôn

Một số điểm cần lưu ý khi xây bếp:

- Bếp được xây bằng gạch nung và vữa tam hợp gồm xi măng, cát vàng

1.2 Lý thuyết về xã hội học Khoa học và Công nghệ

Những nghiên cứu xã hội, trong đó có xã hội học công nghệ có những bước phát triển rất mạnh mẽ trong vài ba thập niên lại đây Trong các nghiên cứu đó, chúng ta có thể quan sát thấy hai cách tiếp cận nghiên cứu xã hội về công nghệ4

:

4

Vũ Cao Đàm (2009), Bài giảng chuyên đề Xã hội học Khoa học và Công nghệ, Hà Nội

Trang 29

Hướng quan tâm thứ nhất, một số nhà khoa học xã hội quan tâm đến

những tác động của công nghệ đến xã hội Vấn đề được đặt ra ở đây là những biến đổi xã hội nào xuất hiện do tác động của công nghệ: từ những biến đổi xã hội ở tầm rất nhỏ: sự biến đổi cơ cấu sản phẩm, đến cơ cấu công nghiệp, cơ cấu kinh tế,.v.v.; đến những biến đổi xã hội ở tầm lớn hơn: từ những biến đổi

cơ cấu nhân lực đến những biến đổi trong toàn bộ cơ cấu lực lượng sản xuất, dẫn đến những biến đổi từng bộ phận của quan hệ sản xuất và biến đổi một cách căn bản cơ cấu xã hội và truyền thống văn hoá

Hướng quan tâm thứ hai, một số nhà khoa học xã hội khác quan tâm đến

những tác động từ phía xã hội đến quá trình xuất hiện và áp dụng công nghệ Đâu là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của công nghệ? Phải chăng đó chỉ đơn giản là sự nỗ lực của các nhà công nghệ hay là có những thiết chế xã hội nào đó đã thúc đẩy và kìm hãm sự phát triển công nghệ? Có một thời, chính bản thân những nhà nghiên cứu khoa học xã hội Xô viết cũng đặt câu hỏi: Vì sao trong kho đăng ký sáng chế của Liên Xô đầy ắp các patent của những nhà khoa học Xô viết, thế mà công nghệ của Liên Xô lại bị thụt lùi tương đối so với trình độ phát triển công nghệ của thế giới? Trong số những người có những đóng góp hết sức lớn lao về những nghiên cứu xã hội cho câu trả lời này phải kể đến N.N.Moiseev Trong một cuốn sách đã được dịch sang Tiếng Việt “Chủ nghĩa xã hội và Tin học”, ông đã có những cách lý giải tuyệt vời về các nguyên nhân kìm hãm phát triển công nghệ từ phía các thiết chế xã hội Ông đưa ra sự nhận thức của chính ông với tư cách là giám đốc Trung tâm Tính toán của Viện Hàm lâm Khoa học Liên Xô Ông viết rằng, trong suốt mười lăm năm đầu tiên từ sau khi xuất hiện máy tính điện tử, trình độ phát triển công nghệ thông tin ở Liên Xô và các nước Phương Tây là ngang nhau Bước vào đầu những năm 1950-1960, sự phát triển của Liên Xô đã vượt trội lên nhờ những cố gắng phục vụ công nghiệp vũ trụ Ông đã so sánh sự mạnh dạn hơn hẳn của đội ngũ chuyên gia Xô viết so với tất cả các chuyên gia các nước khác trong vô số các hội thảo, hội nghị mà ông đã tham dự Ông viết:

“Tôi có thể mạnh dạn nói rằng trình độ trung bình của các nhà toán học làm

Trang 30

công nghệ thông tin của Liên Xô có lẽ là cao nhất thế giới” Nhưng ngay trang sau đó, ông đã nhận định: “Sự lạc hậu của chúng ta bắt đầu từ những năm 1960, khi công nghệ thông tin được đưa vào sử dụng trong quản lý kinh tế” Moiseev đã có hàng loạt ví dụ từ thực tiễn của Liên Xô để chứng minh luận điểm của ông về vai trò của các thiết chế xã hội trong việc thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình phát triển và áp dụng công nghệ vào các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội

Trong hai hướng tiếp cận đề cập trên, trong khuôn khổ thời gian và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ nghiên cứu theo hướng tiếp cận thứ nhất, nghĩa là quan tâm đến những tác động của công nghệ đến xã hội

Trang 31

CHƯƠNG 2

TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI XÃ HỘI CỦA CÔNG NGHỆ KHÍ SINH HỌC

VÀ BẾP CẢI TIẾN VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu về công nghệ Khí sinh học

2.1.1 Tỉnh Bắc Giang

Điều kiện kinh tế - xã hội

Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc bộ, được tái lập năm 1977, nằm liền kề với khu Tam giác kinh tế phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 50 km Năm 2005, dân số của Bắc Giang là 1.580.718 người (362.913 hộ), với 27 dân tộc anh em (trong đó dân tộc Kinh chiếm 87,1%) cư trú ở 229

xã, phường, thị trấn thuộc 9 huyện và thành phố Bắc Giang Trong đó số xã thuộc diện chương trình 135 là 35 xã (chiếm 15,3%) và tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới là 30,67%

Trong 5 năm (2000 - 2005) nền kinh tế Bắc Giang đã có sự chuyển biến đáng kể, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,35%/năm; GDP trên đầu người từ 2,32 triệu đồng/người/năm lên 4,78 triệu đồng/người/năm; thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn năm 2005 tăng 398 tỷ đồng so với năm 2000

Từ khi tái lập tỉnh đến nay, để khai thác lợi thế về sản xuất nông nghiệp hàng hoá, Bắc Giang đã có nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp phát triển các sản phẩm hàng hoá chính trong nông nghiệp như vải thiều, thuốc lá, rau các loại, cá, thịt gia súc, gia cầm, lâm sản Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp, thủy sản năm 2005 đạt 4.435,92 triệu đồng (theo giá hiện hành), cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản: 93,92% - 3,65% - 2,44% GDP nông - lâm nghiệp, thủy sản năm 2005 đạt 1.829.941 triệu đồng (giá cố định), tăng 401.635 triệu đồng so với năm

2000, tốc độ tăng trưởng đạt 5,1%/năm

Tổng vốn đầu tư cho phát triển nông - lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh trong 5 năm (2001 - 2005) là 481,2 tỷ đồng, riêng năm 2005 là 81,3 tỷ

Trang 32

đồng, trong đó vốn do địa phương quản lý 42,3 tỷ đồng, vốn do Trung ương đầu tư trên địa bàn 39,0 tỷ đồng

Tình hình chăn nuôi

Chăn nuôi ở Bắc Giang đã có sự chuyển biến tích cực từ đưa giống chất lượng, năng suất cao vào nuôi đến phương thức chăn nuôi, nên giá trị sản xuất chăn nuôi ở Bắc Giang trong 6 năm qua (2001 - 2006) đã có mức tăng trưởng đạt 7,32%/năm

Năm 2007, đàn trâu, bò có 239,6 nghìn con, đàn lợn 1.002,3 nghìn con, đàn gia cầm gần 11 triệu con Chăn nuôi bò, lợn trong những năm qua phát triển khá nhanh, tốc độ tăng đàn thời kỳ 2000 - 2007, đàn bò đạt 11,8%/năm, đàn lợn đạt 4,9%/năm Đã xuất hiện nhiều hộ chăn nuôi quy

mô lớn theo phương pháp nuôi công nghiệp và bán công nghiệp Năm 2007 tỉnh đã có 146 trang trại chăn nuôi, bước đầu hình thành các vùng chăn nuôi hàng hoá ở các huyện Lạng Giang, Yên Dũng, Hiệp Hoà, Việt Yên, Lục Nam Khó khăn trong chăn nuôi là những năm gần đây xuất hiện dịch lở mồm long móng ở gia súc và dịch cúm gia cầm trên diện rộng Song do tỉnh đã chỉ đạo khoanh vùng dịch và có biện pháp xử lý ngăn chặn kịp thời (huỷ gia súc

bị bệnh, tiêm phòng vacxin), nên chỉ sau khoảng 2 tháng đã khống chế được dịch và sau khoảng 3 - 4 tháng đã công bố hết dịch trên địa bàn toàn tỉnh

Định hướng phát triển chăn nuôi đến năm 2020

Phát triền chăn nuôi bán công nghiệp, công nghiệp với qui mô phù hợp Giành diện tích đất trồng cỏ và sử dụng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi để mở rộng qui mô và chất lượng đàn vật nuôi Đầu tư xây dựng vùng chăn nuôi lợn hướng nạc tập trung (qui mô 1,5 triệu con), vùng chăn nuôi bò thịt tập trung (qui mô 150 - 155 nghìn con), để tạo ra vùng sản xuất hàng hoá chất lượng cao, sạch bệnh trên cơ sở ứng dụng các công nghệ mới vào chăn nuôi

- Đàn trâu đến năm 2010 là 95 nghìn con, năm 2020 là 103 nghìn con

- Đàn bò tăng nhanh, đạt 153 nghìn con (2010) và 242 nghìn con (2020)

- Đàn lợn đạt 1,3 triệu con (năm 2010) và 2,58 triệu con (2020)

Trang 33

- Đàn gia cầm đạt 15 triệu con (năm 2010) và 29 triệu con (2020)

Xây dựng được 1.044 công trình tại 10 huyện, thị trong toàn tỉnh

2.1.2 Tỉnh Sơn La

Điều kiện kinh tế -xã hội

Sơn La là một tỉnh miền núi cao thuộc phía Tây Bắc Việt Nam, giáp các tỉnh Yên Bái, Lào Cai về phía Bắc, Phú Thọ, Hòa Bình về phía Đông, Lai Châu, Điện Biên về phía Tây, tỉnh Thanh Hóa về phía Nam, và có 250 km đường biên giới chung với nước CHDCND Lào

Sơn La là tỉnh có mật độ dân số tương đối thưa (70 người/km2) Tỉnh có

11 đơn vị hành chính cấp huyện (10 huyện và 1 thị xã) với 201 xã, phường, thị trấn Số xã thuộc chương trình 135 là 86 xã (chiếm 42,79 % ) Trên địa bàn tỉnh có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trong đó: đông nhất dân tộc Thái: 55,2%, dân tộc Kinh 18%, dân tộc Hmông 12%, dân tộc Mường 8,2%, dân tộc Dao 2,76%, dân tộc Xinh Mun 1,45% Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới năm 2005 là 43,92%, cao nhất là huyện vùng cao Bắc Yên (66,54%) tiếp đến là các huyện Sốp Cộp (58,92%), huyện Mường La (55,8%)

Tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh có tốc độ tăng trưởng bình quân thời

kỳ 2000 -2005 là 11,59%/năm GDP năm 2005 gấp 1,73 lần so với năm 2000

và đạt giá trị 2.121,5 tỉ đồng Trong đó tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp-xây dựng 27,2%, ngành dịch vụ 16,5% và ngành nông lâm nghiệp 4,96% Sơn La có nhiều lọai nông sản mũi nhọn như: chè, cà phê, ngô, sắn, nhãn, mận và các sản phẩm chăn nuôi trâu, bò, lợn, sữa

Tình hình chăn nuôi

Ngành chăn nuôi của Sơn La phát triển mạnh nhất trong các tỉnh vùng Tây Bắc cả về quy mô và chất lượng Đặc biệt chăn nuôi trâu, bò thịt với lợi thế về tiềm năng thế mạnh đồng cỏ tự nhiên để phát triển mở rộng quy mô đàn ở các hộ gia đình và chăn nuôi trang trại tập trung Đàn trâu năm 2007 toàn tỉnh là 162,1 nghìn con tăng 42,9 nghìn con so với năm 2000, tương đương với tốc độ trung bình tăng trưởng đàn 4,5%/năm Tốc độ tăng trưởng

Trang 34

của đàn bò bình quân giai đoạn 2000 -2007 là 8,9%/năm Quy mô đàn bò toàn tỉnh năm 2000 là 87,6 nghìn con và 2007 là 159,9 nghìn con trong đó có 5.000 con bò sữa, 2.500 con bò thịt chất lượng cao Những vùng chăn nuôi bò tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá có tốc độ tăng nhanh trong mấy năm gần đây là các huyện Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu, Sông Mã Trong đó Mai Sơn và Mộc Châu có điều kiện phù hợp để chăn nuôi bò sữa cho hiệu quả kinh tế cao, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến sữa Mộc Châu và Sơn La Chăn nuôi lợn có bước chuyển dịch về cơ cấu, tỉ trọng đàn lợn ngoại, lợn hướng nạc trong cơ cấu đàn tăng dần và liên tục, năm 2007 đàn lợn có 405,1 nghìn con tăng so với năm 2000 là 64,7 nghìn con tương đương với tốc

độ tăng 2,5 %/năm Đàn gia cầm có 4.848 nghìn con tăng so với năm 2000 là 2.832 nghìn con

Định hướng phát triển chăn nuôi đến năm 2020

Phát triển theo hướng sản xuất chăn nuôi hàng hoá có giá trị kinh tế cao (thịt, sữa, ) trên cơ sở tận dụng ưu thế của một tỉnh miền núi có điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh các loại gia súc ăn cỏ như bò sữa, bò thịt chất lượng cao, trâu, dê, lợn hướng nạc Phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng công nghiệp và đảm bảo an toàn theo 3 loại quy mô công nghiệp, trang trại,

hộ gia đình

-Đàn trâu từ 162,1 nghìn con hiện nay lên 210 nghìn con năm 2020 -Đàn bò tăng từ 159,9 nghìn con hiện nay lên 240 nghìn con năm 2020 Trong đó bò sữa 10 nghìn con, 180 nghìn con bò lai Zê bu và bò thịt chất lượng cao

-Đàn lợn từ 405,1 nghìn con hiện nay lên 450 nghìn con (năm 2020)

Xây dựng được 446 công trình tại 10 huyện, thị trên địa bàn tỉnh

2.1.3 Tỉnh Đồng Nai

Điều kiện kinh tế -xã hội

Tỉnh Đồng Nai thuộc vùng Đông Nam Bộ và nằm trong vùng kinh tế

Trang 35

trọng điểm phía Nam phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp TP Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương, phía Nam giáp

TP Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu

Kinh tế -xã hội của tỉnh trong những năm qua có bước chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tăng trưởng GDP của tỉnh giai đoạn 2001 -2005 đạt 12,8%/năm, cao gấp 1,7 lần mức tăng bình quân của

cả nước (7,5%/năm) và tăng mạnh ở cả bakhu vực, trong đó khu vựcI tăng 4,6%/năm, khu vực II tăng 16,0%/năm và khu vực III tăng 12,1%/năm; đặc biệt là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có mức tăng trưởng cao (20,7%/năm)

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy cơ cấu dân sốđô thị tăng từ 29% (1995) lên 30,81% (2005) và cơ cấu lao động lao động phi nông nghiệp tăng

từ 46% (2000) lên 54,3% (2005), trung bình mỗi năm lao động phi nông nghiệp tăng thêm được 1,66% GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 12,7 triệu đồng, tương ứng 806 USD và bằng 57% mức bình quân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (1.424 USD) và cao gấp 1,3 lần mức bình quân chung của cả nước (640 USD) Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh giảm nhanh từ 12,59% (2000) xuống còn 0,89% (2005); năm 2005 tỉ lệ hộ sử dụng điện đạt 97% và tỉ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt trên 90%

Tình hình chăn nuôi

Do là vùng chăn nuôi truyền thống cộng với lợi thế về điều kiện sinh thái, gần thị trường tiêu thụ và đặc biệt là có doanh nghiệp chế biến thức ăn gia súc phát triển mạnh, nên chăn nuôi của tỉnh trong những năm gần đây tiếp tục tăng mạnh và đạt được những kết quả đáng chú ý sau:

Giai đoạn 2000 -2007, tốc độ tăng trưởng đàn heo đạt 9,6%/năm và đàn

bò đạt 10,6%/năm, riêng đàn gia cầm giảm ở mức 2,9%/năm nhưng trước khi dịch cúm xảy ra tăng ở mức 5%/năm Đáng chú ý là phương thức chăn nuôi trên địa bàn tỉnh những năm gần đây chuyển dịch mạnh theo hướng chăn nuôi công nghiệp, nhất là chăn nuôi heo và gà, đã hình thành được các trang trại có

Trang 36

quy mô hàng ngàn con heo và hàng chục ngàn con gà với kỹ thuật nuôi tiên tiến, đảm bảo vệ sinh dịch bệnh và an toàn thực phẩm Số lượng đàn heo và

gà nuôi tập trung ở các trang trại năm 2007 chiếm trên 40% tổng đàn

Định hướng phát triển chăn nuôi đến năm 2020

Tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi tập trung ở quy mô trang trại và doanh nghiệp lớn, quy trình nuôi khép kín, đảm bảo yêu cầu vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm Dự kiến năm 2010, quy mô đàn bò 110 ngàn con, đàn heo 1,4 triệu con, đàn gia cầm 7 triệu con và năm 2020, quy mô đàn

bò 120 -130 ngàn con, đàn heo 1,8 -2,2 triệu con, đàn gia cầm 11 -13 triệu con

Xây dựng được 2.049 công trình trên tất cả các huyện, thị

2.2 Thông tin về hộ điều tra sử dụng công nghệ Khí sinh học

2.2.1 Tổng số hộ điều tra

Tổng số hộ điều tra là 180 hộ Đây là các hộ đang sử dụng công trình Khí sinh học tại 3 tỉnh: Bắc Giang, Sơn La và Đồng Nai Mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiên 60 hộ Trong đó, có 6 hộ xây dựng công trình năm 2003, 16 hộ xây dựng năm 2004, 15 hộ xây dựng năm 2005, 32 hộ xây dựng năm 2006, 58 hộ xây dựng năm 2007, 53 hộ xây dựng năm 2008

2.2.2 Một số thông tin chung về hộ điều tra

Số nhân khẩu bình quân 1 hộ điều tra từ 4 -5 người, trong đó lao động chiếm khoảng 2 -3 người Quy mô nhân khẩu của hộ điều tra là ở mức trung bình Với quy mô này, nếu hộ nuôi 4 con lợn thịt (tổng trọng lượng 150 kg hơi) và xây dựng công trình Khí sinh học có thể tích 4 -5 m3 là đáp ứng được việc xử lý chất thải hàng ngày và năng lượng phục vụ sinh hoạt như nấu ăn và thắp sáng

Nghề nghiệp chính của chủ hộ: trong tổng số 180 hộ điều tra, số hộ làm nông nghiệp thuần chiếm 53,5%, hộ kinh doanh chiếm 13,1%, hộ nông nghiệp và dịch vụ 15,0%, hộ nông nghiệp và kinh doanh 8,5%, hộ làm những ngành nghề khác (làm thuê, đi làm công nhân ở nơi khác ) chiếm 8,5%

Trang 37

Trình độ của chủ hộ điều tra đều ở mức phổ thông trung học (chiếm 96,9% tổng số hộ điều tra), trong đó số chủ hộ chưa qua PTTH chiếm 52,7%,

số chủ hộ tốt nghiệp PTTH chiếm 44,2 Chủ hộ có trình độ trung cấp trở lên chỉ chiếm 3,1% Do trình độ của chủ hộ có những hạn chế, đòi hỏi công tác tuyên truyền về sử dụng khí sinh học phải được tiến hành thường xuyên, chú trọng áp dụng phương tiện truyền thông trực tiếp, với cách diễn đạt dễ hiểu là có hiệu quả nhất

Bảng 2.1 Một số thông tin chung về hộ điều tra

2.2.3 Thu nhập bình quân của hộ điều tra

Thu nhập bình quân của hộ điều tra đạt mức 69,66 triệu đồng/hộ/năm, bình quân đầu người đạt 14,49 triệu đồng/người/năm (tương đương 1,2 triệu

Trang 38

đồng/người/tháng) Nguồn thu chính của hộ có sử dụng khí sinh học là từ chăn nuôi (chiếm 100% số hộ điều tra), trồng trọt (chiếm 70,6% số hộ), lương công nhân (chiếm 19,4% số hộ) và các nguồn thu khác như kinh doanh, dịch

vụ (chiếm 40,6% số hộ)

2.2.4 Phân loại hộ điều tra theo thu nhập

Theo quy ước về cách xác định hộ nghèo của khảo sát này, hộ nghèo là

hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 540.000 đồng/người/tháng, tương đương 6,5 triệu đồng/người/năm Hộ trung bình có thu nhập bình quân đầu người từ 6,5 - <12 triệu đồng/người/năm Hộ khác có thu nhập từ 12 -<36 triệu đồng/năm; hộ giàu có thu nhập từ 36 triệu đồng trở lên

Trong số 180 hộ có sử dụng khí sinh học được điều tra, hộ nghèo chiếm 23,33% số hộ (có thu nhập bình quân đầu người dưới 6,5 triệu đồng/người/năm); hộ trung bình chiếm 30,56% số hộ (có thu nhập bình quân đầu người từ 6,5 -<12 triệu đồng/người/năm); hộ khá chiếm 40% hộ (có thu nhập bình quân đầu người từ 12 -36 triệu đồng/người/năm); hộ giàu chiếm 6,11% số hộ (có thu nhập bình quân trên 36 triệu đồng/người/năm)

2.3 Tác động biến đổi xã hội của công nghệ Khí sinh học

2.3.1 Công trình Khí sinh học làm giảm gánh nặng nội trợ cho phụ nữ

Việc sử dụng công trình Khí sinh học thực sự đã mang lại nhiều lợi ích

về mặt xã hội như giảm gánh nặng công việc cho phụ nữ trong việc thu lượm củi đun nấu và tiết kiệm được thời gian cho người phụ nữ trong nội trợ, cọ rửa xoong nồi Điều này được thể hiện ở đánh giá của nhiều hộ khi có công trình Khí sinh học họ giảm thời gian thu lượm củi, bếp không khói, đun nấu tiện lợi, tiết kiệm thời gian

Theo đánh giá của các hộ, thời gian tiết kiệm được bình quân mỗi hộ từ khi có công trình Khí sinh học là 1,8 giờ Ở Bắc Giang bình quân mỗi hộ tiết kiệm được 2,2 giờ, cao nhất trong ba tỉnh khảo sát, tiếp theo là Đồng Nai 1,7 giờ và Sơn La tiết kiệm được 1,6 giờ mỗi hộ

Trang 39

Chị Nguyễn Thị Lâm ở Sơn La so sánh: “Trước kia, đi làm về chị nấu một

bữa ăn bằng củi phải mất cả giờ, nay nấu bằng gas chỉ mất nửa giờ, lại nhàn nhã không vất vả như trước, bếp không có bụi và xoong nồi luôn sạch sẽ”

Rất nhiều hoạt động tích cực của hộ được tăng thêm khi có công trình Khí sinh học như các hoạt động xã hội, chăm sóc gia đình, hoạt động thể thao, giải trí , cụ thể:

Bảng 2.2 Các hoạt động đƣợc tăng thêm khi có công trình

số hộ có thêm các hoạt động tăng thu nhập khác, 31,43 % số hộ cho rằng họ

có thêm thời gian giải trí, 18.35 số hộ có thêm thời gian tham gia các hoạt động xã hội

Ông Chu Văn Bá, Bắc Giang cho biết: “Có công trình Khí sinh học gia

đình ông đun nấu thoải mái, hàng ngày chỉ cần nạp phân xuống hầm là có gas đun nấu và thắp sáng, không phải mất thời gian nhóm lò, thổi lửa nữa Bây giờ chỉ cần bật lửa là vừa đun nấu, vừa xem tivi thoải mái”

Theo nghiên cứu đánh giá của Hội LHPN Việt Nam trong khuôn khổ chương trình tuyên truyền, vận động xây dựng mô hình tiết kiệm và hiệu quả

Trang 40

năng lượng trong gia đình, được tiến hành năm 2010 tại một số tỉnh, thành

phố, cho thấy: Tiềm năng về hầm biogas ở các xã nông thôn cũng cao do có

nhiều gia đình chăn nuôi với số lượng lớn có thể đủ nguồn phân cung cấp cho hầm KSH đã đem lại lợi ích nhiều mặt, như trường hợp gia đình chị Phạm Thị

Huệ, tỉnh Thái Bình chia sẻ: “Từ khi có bếp gas, điều đáng kể nhất đối với chị

là không phải băn khoăn việc cơm nước nếu phải đi ra khỏi nhà Là ủy viên BCH Hội LHPN xã, nên chị phải đi hội họp hoặc tham gia các hoạt động của Hội, vì vậy nấu ăn bằng bếp gas đã giúp chị tiết kiệm được nhiều thời gian,

có điều kiện tham gia công việc xã hội nhiều hơn” [11; 4].

2.3.2 Công nghệ Khí sinh học cải thiện môi trường và sức khỏe

Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 80% số dân sống ở vùng nông thôn Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nước ta Những năm qua, ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh về cả số lượng lẫn quy mô Tuy nhiên, việc chăn nuôi thiếu quy hoạch, nhất là các vùng dân

cư đông đúc đã gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm nguồn nước mặt, không khí, đất và ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người

Theo tính toán của các chuyên gia trong nước thì hàng năm, tổng đàn gia súc, gia cầm Việt Nam sẽ thải vào môi trường khoảng 73 triệu tấn chất thải rắn Ước tính một tấn phân chuồng tươi với cách quản lý, sử dụng truyền thống như hiện nay sẽ phát thải vào không khí khoảng 0,24 tấn CO2 quy đổi thì với khối lượng chất thải chăn nuôi nêu trên sẽ phát thải vào không khí 17,52 triệu tấn CO2 nếu không được xử lý

Việc xử lý chất thải chăn nuôi là một yêu cầu cấp thiết nhằm giảm ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước và nguồn dịch bệnh gây ra cho con người và động vật Do vậy, việc áp dụng các biện pháp nhằm xử lý chất thải chăn nuôi là một trong những vấn đề cấp bách của ngành nông nghiệp nước ta hiện nay

Khảo sát cho thấy, trước khi có công trình Khí sinh học, việc xử lý chất thải chăn nuôi của các hộ gia đình đều không vệ sinh, gây ô nhiễm môi

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Tóm tắt ƣu nhƣợc điểm của các loại khí sinh học                    đang đƣợc ứng dụng - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 1.2. Tóm tắt ƣu nhƣợc điểm của các loại khí sinh học đang đƣợc ứng dụng (Trang 27)
Bảng 2.1. Một số thông tin chung về hộ điều tra  T - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 2.1. Một số thông tin chung về hộ điều tra T (Trang 37)
Bảng trên cho thấy, khi chưa có công trình Khí sinh học chất thải chăn  nuôi  ủ  ngoài  trời  (35,80%);  ủ  trong  chuồng  trại  (33.76);  thải  ra  cống  rãnh  chung, mương, máng (11.94%); cho cá ăn trực tiếp (6.56%); bán (18,38%) và  sử lý khác (13,23%) - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng tr ên cho thấy, khi chưa có công trình Khí sinh học chất thải chăn nuôi ủ ngoài trời (35,80%); ủ trong chuồng trại (33.76); thải ra cống rãnh chung, mương, máng (11.94%); cho cá ăn trực tiếp (6.56%); bán (18,38%) và sử lý khác (13,23%) (Trang 41)
Bảng 2.3.  Xử lý chất thải chăn nuôi của hộ                       trước khi có công trình Khí sinh học - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 2.3. Xử lý chất thải chăn nuôi của hộ trước khi có công trình Khí sinh học (Trang 41)
Bảng 2.5. Số hộ tăng quy mô chăn nuôi trước và sau khi có  công trình Khí sinh học - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 2.5. Số hộ tăng quy mô chăn nuôi trước và sau khi có công trình Khí sinh học (Trang 46)
Bảng 2.7. Tương quan người chủ yếu đun bếp và giới tính - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 2.7. Tương quan người chủ yếu đun bếp và giới tính (Trang 54)
Bảng 2.8. Loại chất đốt đƣợc sử dụng nhiều nhất - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 2.8. Loại chất đốt đƣợc sử dụng nhiều nhất (Trang 54)
Bảng 2.9. Điểm tốt hơn của Bếp đun cải tiến so với   bếp đun trước đây - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 2.9. Điểm tốt hơn của Bếp đun cải tiến so với bếp đun trước đây (Trang 56)
Bảng trên cho thấy, đánh giá của người được hỏi về Bếp đun cải tiến là  rất tốt  vì có  thể  giảm  đáng  kể  lượng  chất  đốt  và  thời  gian  đun  nấu - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng tr ên cho thấy, đánh giá của người được hỏi về Bếp đun cải tiến là rất tốt vì có thể giảm đáng kể lượng chất đốt và thời gian đun nấu (Trang 57)
Bảng 2.12. Lợi ích của người phụ nữ trong việc  sử dụng Bếp đun cải tiến - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 2.12. Lợi ích của người phụ nữ trong việc sử dụng Bếp đun cải tiến (Trang 62)
Bảng 2.13. Đánh giá về Bếp đun cải tiến - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 2.13. Đánh giá về Bếp đun cải tiến (Trang 64)
Bảng 2.14. Chi phí xây Bếp đun cải tiến - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 2.14. Chi phí xây Bếp đun cải tiến (Trang 65)
Bảng 2. 15. Xếp loại ƣu tiên các hoạt động cần hỗ trợ - Phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ thích hợp với phát triển nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp công nghệ Khí sinh học và bếp đun cải tiến
Bảng 2. 15. Xếp loại ƣu tiên các hoạt động cần hỗ trợ (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w