Ngoài ra cũng có một số công trình nghiên cứu của tác giả hoặc tập thể tác giả nước ngoài, tuy không trực tiếp đề cập đến di sản kinh điển về nhà nước và nhà nước XHCN, nhưng có nhiều nộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG QUỐC CHÍNH
QUAN ĐIỂM CỦA MÁC, ĂNGGHEN, LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ VIỆC VẬN DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN,VÌ DÂN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2008
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA MÁC, ĂNGGHEN, LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ NHÀ NƯỚC XHCN 14
1.1 Quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nhà nước 14
1.1.1 Về nguồn gốc nhà nước 14
1.1.2 Về bản chất và chức năng của nhà nước 24
1.2 Quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nhà nước XHCN 29
1.2.1 Về bản chất của nhà nước XHCN 29
1.2.2 Về chức năng của nhà nước XHCN 40
Chương 2: SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA MÁC, ĂNGGHEN, LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC XHCN TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN Ở VIỆT NAM 52
2.1 Vận dụng quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nhà nước XHCN trong xây dựng nhà nước Việt Nam thời kỳ trước đổi mới 52
2.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân - sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin trong điều kiện đặc thù của Việt Nam 52
2.1.2 Thực tiễn xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới 62
2.2 Tiến trình nhận thức và triển khai xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam theo hướng nhà nước pháp quyền XHCN 75
2.2.1 Nhận thức về nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam 75
2.2.2 Thành tựu và một số hạn chế của tiến trình xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam theo hướng nhà nước pháp quyền XHCN 92
Chương 3: MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP CÓ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG
TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN
Trang 33.1 Những quan điểm có tính nguyên tắc trong xây dựng nhà nước Việt
Nam hiện nay 115
3.1.1 Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt
Nam phải trên cơ sở giữ vững bản chất giai cấp công nhân 115 3.1.2 Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt
Nam phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ cho sự
phát triển kinh tế - xã hội 120 3.1.3 Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt
Nam phải dựa trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những ưu điểm của các nhà
nước đã có trong lịch sử 124
3.2 Một số giải pháp xây dựng Nhà nước Việt Nam hiện nay theo hướng
nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân 126
3.2.1 Thực hành dân chủ XHCN, đa dạng hoá các hình thức dân chủ trong
tổ chức, xây dựng và hoạt động của nhà nước 126 3.2.2 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam 130 3.2.3 Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước 135 3.2.4 Kế thừa có chọn lọc những phương thức tổ chức và hoạt động có
hiệu quả của các nhà nước trong lịch sử Việt Nam và trên thế giới hiện nay 151
KẾT LUẬN 161
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 165
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng Song, đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa, việc giành chính quyền nhà nước không
có mục tiêu tự nó, mà nhằm giải phóng sức sản xuất, phát triển toàn diện con người Muốn vậy, trong khi xem phát huy cao độ vai trò nhân tố con người - động lực thường xuyên của lịch sử - là vấn đề mang tính quyết định, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không xem nhẹ tác động mạnh mẽ của nhà nước tới giải phóng sức sản xuất, giải phóng con người Bởi lẽ, nhà nước tuy do con người lập ra, nhưng sau khi ra đời, nó có tác động mạnh mẽ tới bản thân con người, tới việc kìm hãm hoặc phát huy sức mạnh của con người Một nhà nước được tổ chức và vận hành hợp lý, phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu giải phóng con người, sẽ nâng sức mạnh sáng tạo của con người lên một trình độ cao về chất Ngược lại, nó sẽ là lực cản rất lớn tới việc phát huy vai trò của nhân tố con người, từ đó, có tác động kìm hãm ghê gớm đối với sự phát triển xã hội nói chung
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã dẫn tới sự ra đời ở nước ta một nhà nước mới về bản chất - nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Sau Tổng tuyển cử năm 1946, đó là một thiết chế chính trị do chính nhân dân lập ra thông qua tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, mang đầy đủ tính hợp hiến và hợp pháp Nhà nước đó đã cùng toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam làm nên thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và
đế quốc Mỹ, mang lại hoà bình, thống nhất, độc lập cho đất nước và đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta theo mô hình
cũ, do cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, tuy nhà nước có nhiều biến dạng, nhưng nó cũng có những đóng góp quan trọng vào tiến trình khôi phục
Trang 5đất nước sau chiến tranh, tạo ra những tiền đề kinh tế - văn hoá - xã hội để từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất
và văn hoá của nhân dân
Tuy nhiên, cuộc chiến càng lùi vào quá khứ bao nhiêu, khi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới càng được triển khai về chiều rộng và chiều sâu bao nhiêu, thì những khuyết tật của mô hình tổ chức, hoạt động của nhà nước cũ càng bộc lộ rõ bấy nhiêu Do chậm được khắc phục, những yếu kém của bộ máy nhà nước dần dần trở thành vật cản đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội, hạn chế đáng kể tiềm năng sáng tạo của con người Những yếu tố trì trệ xuất hiện ngày một nhiều Đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX
Để thoát khỏi khủng hoảng, chúng ta đi vào đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá Trên nền tảng đó, những nhận thức mới về nhà nước của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từng bước ra đời và đi vào cuộc sống Một hình thức tổ chức quyền lực nhà nước kiểu mới so với trước đây đã được khẳng định về mặt lý luận và đang từng bước hiện thực hoá trong thực tiễn: Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân Trên một ý nghĩa nhất định, đây là một cuộc cách mạng trên cả lĩnh vực nhận thức lý luận lẫn trên lĩnh vực tổ chức xây dựng một cách thực tiễn một kiểu nhà nước mới trong lịch sử - nhà nước xã hội chủ nghĩa Bước tiến đạt được trong xây dựng nhà nước có tác động tích cực đến phát huy dân chủ Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đang từng bước được hình thành, sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội ngày càng tăng lên Những tiềm năng sáng tạo của con người không ngừng được khai thác vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đó là cội nguồn thắng lợi của hơn 20 năm đổi mới vừa qua
Trang 6Mặt khác, như Đại hội X Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ ra, tuy việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân,
vì dân có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng so với nhu cầu thực tiễn đổi mới, nhà nước ta còn tỏ ra chưa ngang tầm Tổ chức
và hoạt động của nhà nước còn có một số khâu chậm đổi mới Quốc hội còn lúng túng trong việc thực hiện chức năng của mình Bộ máy quản lý nhà nước các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém Tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm… chậm được khắc phục Mô hình tổ chức chính quyền địa phương còn những điểm chưa hợp lý Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu Dân chủ trong xã hội còn bị vi phạm Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không nghiêm
Để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và phấn đấu đến năm 2020, về cơ bản, nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chúng ta không thể không tiếp tục đổi mới nhà nước, làm cho nhà nước có thể góp phần phát huy cao hơn nữa tác động tích cực của mình trong phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội
và hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ Tổ quốc Bởi vậy, Đại hội X của Đảng xem tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với mục tiêu “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân… Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” [18, tr 126] là một nhiệm vụ trọng điểm trong đổi mới trên lĩnh vực chính trị, làm cho đổi mới chính trị đồng bộ hơn đối với đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay
Trang 7Thực hiện nhiệm vụ này, đòi hỏi phải xuất phát từ thực tiễn xây dựng nhà nước ở Việt Nam nói riêng, kinh nghiệm xây dựng nhà nước trên thế giới nói chung Nhưng, bất kỳ hoạt động nào của con ngư ời cũng bị chi phối bởi nhận thức nhất định Tính đúng sai của nhận thức
có vai trò to lớn tới hiệu quả hoạt động thực tiễn của họ Do vậy, trong khi xem trọng việc xuất phát từ thực tiễn, cũng không thể xem nhẹ vai trò chỉ đạo của nhận thức lý luận Trực tiếp liên quan tới chủ đề luận án này, phải hết sức coi trọng vai trò chỉ đạo của quan điểm về nhà nước nói chung, nhà nước
xã hội chủ nghĩa nói riêng do các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin khởi xướng Thực tiễn xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ở thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Liên xô trước đây cũng như trong thời kỳ đổi mới (với hệ quan niệm từng bước phát triển về chủ nghĩa xã hội, về nhà nước xã hội chủ nghĩa) hiện nay, cho thấy việc trở lại để nhận thức đúng đắn hơn, chính xác hơn di sản kinh điển về nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay vẫn là một vấn đề thời sự, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn Chính vì vậy, tôi
chọn vấn đề: “Quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nhà nước xã hội chủ nghĩa và việc vận dụng để xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt
Nam hiện nay” làm đề tài luận án của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nhà nước XHCN hay nhà nước vô sản là một trong những nội dung cơ bản và đặc biệt quan trọng của triết học Mác - Lênin nói riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung Vì thế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này Chẳng hạn như: các công trình nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những nội dung chính của quan điểm mácxít về nhà nước vô sản (phần lớn được thực hiện ở các nước XHCN trước đây); những công trình bàn về việc tìm tòi những hình thức mới của CCVS, ngoài những mô hình mà C Mác, Ph
Trang 8Ăngghen, V.I Lênin đã chỉ ra, như công trình nghiên cứu về mô hình "CNXH
tự quản" của Nam Tư; những công trình xét lại quan điểm về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin, đánh giá lại nhà nước tư bản hiện đại cũng như phương thức xây dựng một nhà nước mới của "chủ nghĩa cộng sản châu Âu"
Ví dụ như tác phẩm "Chủ nghĩa cộng sản châu Âu" và nhà nước của S
Carilô - Tổng bí thư Đảng cộng sản Tây Ban Nha, xuất bản tháng 4 năm
1977; hay tác phẩm "Hãy để chúng tôi nói thật" của G Mácxe - Tổng bí thư
Đảng cộng sản Pháp, xuất bản tháng 11 năm 1977 Hai tác phẩm đã trình bầy một cách có hệ thống lý luận và sách lược của "chủ nghĩa cộng sản châu Âu"
và có ảnh hưởng to lớn trong các đảng cộng sản ở các nước Tây Âu Trong đó đặt vấn đề: căn cứ lý luận chủ yếu của "chủ nghĩa cộng sản châu Âu" nhằm kiên trì thông qua con đường dân chủ độc đáo để thực hiện cuộc cải cách XHCN là "nhận thức lại" quan điểm Mác - Lênin về nhà nước, thậm chí là việc từ bỏ khái niệm CCVS
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu nhằm phân tích, bổ sung lý luận về nhà nước XHCN và tìm ra những hình thức xây dựng nhà nước XHCN thích hợp trong điều kiện lịch sử mới Nghiên cứu lịch sử chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói chung, trong đó
có vấn đề nhà nước và nhà nước XHCN, ở nước ngoài gần đây, đáng kể nhất
là công trình đồ sộ - bộ “Lịch sử chủ nghĩa Mác” gồm 4 tập của tập thể các
nhà nghiên cứu Trung Quốc do Viện nghiên cứu lịch sử phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin thuộc Trường đại học Nhân dân Trung Quốc tổ chức biên soạn
Bộ sách được Nhà xuất bản Nhân dân Bắc Kinh, Trung Quốc xuất bản lần thứ nhất năm 1995, tái bản năm 1997 Đây là một công trình khoa học có giá trị thuộc chuyên ngành lịch sử chủ nghĩa Mác - Lênin, bao quát nhiều chuyên đề nghiên cứu; trong đó có phần đáng kể những phân tích, đánh giá quan điểm mácxít cũng như các quan điểm phi mác xít về nhà nước, nhà nước XHCN
Trang 9Ngoài ra cũng có một số công trình nghiên cứu của tác giả hoặc tập thể tác giả nước ngoài, tuy không trực tiếp đề cập đến di sản kinh điển về nhà nước và nhà nước XHCN, nhưng có nhiều nội dung liên quan đến các vấn đề nhà
nước, nhà nước pháp quyền nói chung như: “Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi” - Báo cáo về tình hình phát triển thế giới năm 1997 của Ngân hàng thế giới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 1998; “ Nhà nước pháp quyền” do tập thể các nhà nghiên cứu pháp luật của Cộng hoà
liên bang Đức biên soạn dưới sự biên tập lại của Josepf Thesing, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2003, cuốn sách đề cập nhiều nội dung liên quan đến lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền tại Đức và một số quốc gia có liên quan
Những năm gần đây, ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu về nhà nước, nhà nước XHCN, nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Những nghiên cứu của các tác giả trong nước gồm:
Một là, những nghiên cứu cơ bản các quan điểm của Mác, Ăngghen,
Lênin về nhà nước, nhà nước XHCN Các công trình đề cập đến một số nội dung quan trọng trong di sản của các nhà kinh điển về vấn đề nhà nước như: quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa chủ nghĩa xã hội và dân chủ với tư cách một hình thức nhà nước; vấn đề bản chất nhà nước XHCN được đề cập trong tác phẩm "Nhà nước và cách mạng"; vấn đề mối quan hệ giữa quan niệm
về dân chủ vô sản với tư cách cơ sở triết học - chính trị với sự hình thành và phát triển tư tưởng về nhà nước kiểu mới cũng như bản thân nhà nước kiểu mới
ở Việt Nam Có thể đề cập một số cuốn sách và các bài báo sau đây:
- "Về nhà nước xã hội chủ nghĩa" Trích tác phẩm của C.Mác, Ph
ĂNgghen, V.I Lênin, I.V Xtalin Nxb Sự thật, Hà Nội năm 1978 Tập hợp
Trang 10các đoạn trích tiêu biểu của các Nhà kinh điển về vấn đề nhà nước, nhà nước XHCN
- “Tìm hiểu tác phẩm Nhà nước và cách mạng” của GS TS Nguyễn
Hữu Vui, do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản năm 1986
- “Quan điểm của V.I Lênin về sự kết hợp tất yếu, hữu cơ giữa dân chủ
và chủ nghĩa xã hội” của Đặng Hữu Toàn (Triết học, số 2, 2000)
- “Mấy suy nghĩ về bản chất nhà nước kiểu mới qua nghiên cứu "Nhà nước và cách mạng" của Lê nin”, của Vũ Trọng Dung (Triết học số 3, 1999)
- “Dân chủ vô sản - cơ sở triết học - chính trị cho sự hình thành và phát triển nhà nước kiểu mới ở Việt Nam” của Trần Kỳ Đồng (Triết học, số 2,
1999)
Hai là, các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
Các công trình đề cập và đi sâu phân tích một số nội dung như vị trí vấn đề nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh; nguồn gốc và quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam; bản chất và việc xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà nước của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
“Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật” của Bộ Tư
pháp - Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước KX 02, Đề tài KX 02-13, năm 1993
- “Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo Nhà nước” của
Học viện Hành chính quốc gia, năm 1997
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam” do
tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn chủ biên, Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003
Trang 11- “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” của tập
thể tác giả là các nhà nghiên cứu quân đội, do nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm 2003
Ba là, các công trình nghiên cứu về công cuộc xây dựng nhà nước XHCN
Việt Nam Đó là các công trình đã phân tích tính tất yếu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, tầm quan trọng của việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân, các nguyên tắc tổ chức, xây dựng và hoạt động của nhà nước này
- Đề tài KX 05-04 “Đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn quá độ lên CNXH” (1992 -1994), do GS TS Nguyễn Ngọc Long làm
chủ nhiệm, đề cập và phân tích một số đặc điểm của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
- “Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về nhà nước và pháp luật” của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân
văn quốc gia - Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật do GS.TS Đào Trí Úc chủ biên năm 1997
- “Về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” của Bộ Tư pháp - Viện
Nghiên cứu Khoa học Pháp lý năm 1997
- “Xây dựng nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Lê Minh Quân,
Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2003
- “Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay”
(2004) của Đỗ Trung Hiếu
- “Thống nhất, phân công và phối hợp quyền lực nhà nước ở Việt Nam” (2004) của Lê Quốc Hùng
Trang 12- Chương trình KX-04 “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” (2001 – 2005) gồm 10 đề tài nhánh, đã nghiệm thu, do
GS VS Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm đề tài
- “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” năm
2005 do GS TS Đào Trí Úc chủ biên, tham gia đề tài khoa học mã số KHXH.05.05: “Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng” (thuộc chương trình KHXH 05)
- “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, (2006) do GS TS Lê Hữu Nghĩa và đồng chí Nguyễn Văn Yểu đồng
chủ biên
- "Tư tưởng pháp trị của Pháp gia với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam", (2007) của PGS TS Doãn Chính và TS Nguyễn Văn
Trịnh
Ngoài ra còn có nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
và một số luận án, luận văn về vấn đề nhà nước, nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam :
Các bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học: “Đảm bảo sự thống
nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân của nhà nước - Vấn
đề cấp bách trong việc củng cố nhà nước ta hiện nay” của Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Triết học, số 2/2000; “Về một số nét đặc thù của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của Phạm Văn Đức, Tạp chí Triết học, số 9/2005;
“Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội trong sự nghiệp đổi mới
- một số vấn đề đặt ra” của Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Cộng sản, số 17/2006; “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện nước ta hiện nay” của Nguyễn Duy Quý, Tạp chí Triết học, số 10/2002; “Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” của Nguyễn Trọng
Trang 13Thóc, Tạp chí Triết học, số 6/2005; “Tính tất yếu kinh tế và chính trị trong sự hình thành và phát triển của nhà nước pháp quyền” và“Hoàn thiện chức năng và nhiệm vụ nhà nước pháp quyền - cơ sở thiết yếu của sinh hoạt dân sự” của Nguyễn Hữu Khiển, Tạp chí Triết học, số 6/1997; Tạp chí Cộng sản, số 20/2006;
“Tính tất yếu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” của Trần Hữu Tiến, Tạp chí Triết học, số 5/2002); “Vấn đề dân chủ và các đặc trưng của
mô hình tổng thể nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của Hoàng Văn Hảo, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2003
Các luận văn, luận án: “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp
theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” của Lê Văn Hoè, Luận văn thạc sĩ; “Tư tưởng nhà nước pháp quyền với vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Xuân Tuệ, Luận văn Thạc sĩ, (1999); “Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay” của Lê Văn Hởi, Luận văn Thạc sĩ (2000); “Bệnh quan liêu của bộ máy nhà nước trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam - nguyên nhân và phương hướng khắc phục”, của Nguyễn Trần Thành, Luận án tiến sĩ (2000); “Tính phổ biến và tính đặc thù trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” của Đào Ngọc Tuấn, Luận án tiến sĩ (2002); “Vận dụng quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Mai Đình Chiến, Luận án tiến sĩ (2003); “Nhà nước XHCN với việc xây dựng nền dân
chủ ở Việt Nam hiện nay” của Đỗ Trung Hiếu, Luận án tiến sĩ (2003)…
Các công trình trên đã tập trung đề cập những vấn đề căn bản về nhà nước như: tư tưởng của các nhà kinh điển về nguồn gốc, bản chất, chức năng
và tính tất yếu của nhà nước; vấn đề bản chất, chức năng nhà nước xã hội chủ nghĩa; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước; một số đặc thù của quá trình xây
Trang 14dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; một số “căn bệnh” của bộ máy nhà nước cũng như một số đặc điểm của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam mà chúng ta đang xây dựng; mối quan hệ giữa dân chủ XHCN và việc thực hiện dân chủ với xây dựng và thực hiện nhà nước pháp quyền trong điều kiện Việt Nam Tuy nhiên, các công trình này phần nhiều chỉ là những nghiên cứu về nhà nước, nhà nước XHCN chủ yếu từ góc độ khoa học pháp
lý Nếu có tiếp cận từ góc độ triết học thì cũng chủ yếu là những nghiên cứu riêng biệt các vấn đề lý luận về nhà nước XHCN hoặc thực tiễn xây dựng nhà nước XHCN Việt Nam Nhìn chung còn ít những công trình chuyên biệt nghiên cứu về sự vận dụng quan điểm kinh điển trong thực tiễn xây dựng nhà nước XHCN Việt Nam Chính vì vậy, vấn đề nhận thức, nhận thức lại một cách thấu đáo và đúng đắn hơn những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về nhà nước XHCN và đặc bịêt là việc vận dụng quan điểm của các nhà kinh điển cũng như những sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tổ chức xây dựng nhà nước XHCN Việt Nam để làm rõ thực trạng cũng như phương hướng tiếp tục xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay còn nhiều điểm cần được làm sáng tỏ thêm Mặt khác, tiến trình xây dựng nhà nước XHCN Việt Nam mặc dù luôn được định hướng và dẫn dắt bởi học thuyết Mác - Lênin về nhà nước, nhưng được thực hiện trong những điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Nghiên cứu tiến trình xây dựng nhà nước Việt Nam kiểu mới sau cách mạng Tháng Tám 1945 cho đến nay như là sự vận dụng lý luận mácxít về nhà nước XHCN đồng thời là sự hiện thực hoá những tư tưởng độc lập sáng tạo của Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ nhân dân, nhà nước XHCN là một hướng nghiên cứu nhằm bổ sung những điểm cần được làm sáng tỏ thêm đó Sự ra đời của luận án này là một cố gắng theo hướng nghiên cứu trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 15Mục đích: nghiên cứu quan điểm của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin
về nhà nước XHCN và thực tiễn vận dụng quan điểm đó trong tiến trình xây dựng và phát triển của nhà nước XHCN Việt Nam Từ đó góp phần nêu ra và luận giải một số quan điểm có tính nguyên tắc cũng như giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nhà nước Việt Nam thực sự là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân
Nhiệm vụ: để đạt mục đích, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước, nhà nước XHCN và quá trình xây dựng nhà nước XHCN
- Phân tích sự vận dụng quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong tiến trình xây dựng, tổ chức và hoạt động của nhà nước Việt Nam gắn liền với vai trò chỉ đạo, định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh; chỉ ra những hạn chế của tiến trình đó và nguyên nhân cơ bản của hạn chế
- Làm rõ các quan điểm có tính nguyên tắc và phân tích một số giải pháp mang tính định hướng nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay
4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn ở việc phân tích một số quan điểm cơ bản của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về nhà nước và nhà nước XHCN; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ nhân dân tiến lên nhà nước XHCN; tiến trình xây dựng, hoạt động của nhà nước Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 16- Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước
và Nhà nước XHCN
- Luận án sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật là cơ bản, trong đó đặc biệt quán triệt nguyên tắc thống nhất lý luận với thực tiễn Ngoài
ra cũng sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích,
so sánh, tổng hợp, kết hợp lôgíc và lịch sử, quy nạp và diễn dịch
6 Cái mới của luận án
- Góp phần chứng minh việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là sự vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước XHCN trong điều kiện cụ thể của Việt Nam; bước chuyển từ nhà nước dân chủ nhân dân lên nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là nét đặc thù của Việt Nam
- Làm rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những hạn chế về cơ cấu tổ chức cũng như phương thức hoạt động của nhà nước XHCN Việt Nam trước đổi mới và hiện nay Phân tích được một số quan điểm có tính nguyên tắc và giải pháp cơ bản để để vận dụng tốt hơn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân
Trang 177 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm rõ sự vận dụng lý luận mácxít về nhà nước vào quá trình xây dựng và hoạt động của nhà nước XHCN Việt Nam
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 3 chương với 6 tiết
Trang 18Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA MÁC, ĂNGGHEN, LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC
VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1.1 Quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nhà nước
1.1.1 Về nguồn gốc nhà nước
Trong các xã hội có giai cấp, nhà nước luôn là một nhân tố cơ bản của
xã hội Các tư tưởng triết học, các học thuyết triết học xã hội ở các thời kỳ lịch
sử khác nhau đều không thể không bàn tới vấn đề nhà nước, tuy nhiên, do nhà nước là một hiện tượng hết sức phức tạp, lại luôn gắn chặt với lợi ích của các giai cấp thống trị nên nó thường không được nhìn nhận một cách hoàn toàn khách quan và khoa học Chính vì vậy, triết học Mác - Lênin với tư cách là
“vũ khí tinh thần” của giai cấp vô sản càng không thể không đi sâu nghiên cứu vấn đề này Có thể thấy, lý luận về nhà nước của của chủ nghĩa Mác - Lênin
có hai mục tiêu chính
Một là, chỉ rõ bản chất của các kiểu nhà nước cũ, đặc biệt là nhà nước tư
sản, qua đó, bác bỏ các quan điểm sai lầm về nguồn gốc nhà nước, những mưu
đồ thần thánh hoá sự ra đời và tồn tại của nhà nước, cũng như mọi sự lý tưởng hoá nhà nước, đồng thời chỉ ra tính diệt vong tất yếu của các kiểu nhà nước ấy
Hai là, hình thành lý luận về nhà nước mới - nhà nước vô sản, nhà nước
XHCN Đó là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng cũng đồng thời là nhà nước có tính dân chủ cao nhất
Để thực hiện mục tiêu thứ nhất, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin đã nghiên cứu một cách thấu đáo các vấn đề về nguồn gốc, bản chất, đặc trưng, chức năng, các kiểu và các hình thức nhà nước Đó là toàn bộ cơ sở lý luận để chỉ rõ bản chất của nhà nước là gì, và cái bản chất ấy được thể hiện ra trong hiện thực như thế nào?
Trang 19Mác-Để thực hiện mục tiêu thứ hai, các ông đã từng bước kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Vì vậy, nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước trước hết phải nghiên cứu các quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nguồn gốc nhà nước
Vấn đề nguồn gốc nhà nước đã được đề cập trong lịch sử triết học từ thời cổ đại Các học thuyết triết học chính trị và các nhà tư tưởng đã cắt nghĩa vấn đề này dưới nhiều hình thức khác nhau Hai loại quan điểm cơ bản của thời cổ đại về nguồn gốc nhà nước là quan điểm của các nhà thần học và quan điểm của những người theo thuyết gia trưởng
Quan điểm đầu tiên về nguồn gốc nhà nước là những quan điểm của các nhà thần học - thường là thần bí hoá nhà nước Họ cho rằng, nhà nước là sản phẩm của thượng đế dùng để bảo vệ trật tự chung của xã hội Nhà nước thuộc về những lực lượng siêu nhiên, bắt nguồn từ một lực lượng siêu nhiên, tức “Chúa”, “Trời” Quyền lực của những lực lượng siêu nhiên đó được trao cho vua thay Trời trị vì dân chúng Quyền lực nhà nước là vĩnh viễn, con người phải phục tùng quyền lực đó một cách tuyệt đối Người đứng đầu nhà nước trong xã hội là các bậc vua chúa, chỉ tuân theo “mệnh trời” để cai trị dân chúng Theo đó, nhà nước là hiện thân của một sức mạnh siêu nhiên, nằm ngoài xã hội và chi phối, quyết định xã hội
Trong khi đó, quan điểm của những người theo thuyết gia trưởng lại
cho rằng: nhà nước là kết quả của sự phát triển gia đình, là hình thức tổ chức
tự nhiên của đời sống con người Nhà nước là một hiện tượng vĩnh viễn trong
xã hội Cũng như gia đình, nhà nước tồn tại trong mọi xã hội Quyền lực nhà nước, về thực chất, cũng giống như và là sự kế tiếp (tiếp nối) quyền lực của người đứng đầu gia đình Arixtốt (384 - 322), một trong những đại diện của thuyết gia trưởng đã cho rằng nhà nước, quyền lực nhà nước xuất hiện một cách tự nhiên, được hình thành do lịch sử Nhà nước được phát triển từ gia
Trang 20đình, công xã và là một hình thức tổng thể, hoàn thiện nhất trong quan hệ giữa mọi người với mục đích tối cao là nhằm liên kết mọi người để đạt tới một cuộc sống tốt đẹp nhất
Xã hội càng phát triển thì vấn đề nguồn gốc nhà nước càng được quan tâm nghiên cứu Đặc biệt từ khi CNTB ra đời, các nhà tư tưởng tư sản tiến bộ
đã hướng việc tìm nguồn gốc nhà nước từ trong xã hội Quan điểm triết học tư sản về nhà nước được xem là một bước tiến lớn trong triết học cũng như trong các học thuyết chính trị - xã hội Giôn Lốccơ (1632-1704) trong tác phẩm
“Two Treatsies of Government” (Hai chuyên luận về chính quyền) đã nêu luận
điểm: trong trạng thái tự nhiên, con người luôn có các quyền tự do, bình đẳng,
tư hữu Mặc dù có sự hữu ái và hoà bình trong trạng thái tự nhiên, các quyền của con người vẫn luôn không được đảm bảo chắc chắn Vì vậy, con người luôn phải thực hiện việc phán xử và trừng trị những kẻ vi phạm quyền hạn của người khác Nhà nước đã được thiết lập để bảo vệ quyền tự nhiên của con người, để tạo lập và bảo vệ sở hữu, cũng như sử dụng các lực lượng xã hội để thực hiện các đạo luật và bảo vệ sự tấn công từ bên ngoài
Môngtexkiơ (1689-1775) coi sự xuất hiện của nhà nước là có tính lịch
sử Kế thừa Arixtốt, ông đưa ra quan điểm phải xác định bản chất chính quyền tuỳ thuộc vào số lượng người cầm quyền Theo ông, có ba hình thức nhà nước chính là: cộng hoà, quân chủ, chuyên chế Các hình thức nhà nước còn phụ thuộc quy mô lãnh thổ - quy mô nhỏ phù hợp với hình thức cộng hoà; quy mô vừa phù hợp với hình thức quân chủ; quy mô lớn phù hợp với hình thức chuyên chế Ông ủng hộ kiểu nhà nước quân chủ, lý tưởng của ông là nền quân chủ lập hiến của nước Anh
Một trong những lý thuyết tiến bộ của các nhà tư tưởng tư sản là thuyết
“khế ước xã hội” Nếu Môngtexkiơ dựa vào tư tưởng đại diện nhân dân thì Rutxô (1712-1778) dựa vào tư tưởng chủ quyền nhân dân Ông cho rằng, xã
Trang 21hội công dân nảy sinh cùng chế độ tư hữu và nhà nước được thiết lập sau đó
Theo ông, con người sinh ra tự do, song ở khắp nơi họ lại bị xiềng xích
Những thoả thuận giữa con người với nhau là cơ sở cho mọi chính quyền hợp pháp, được thể hiện thông qua “khế ước xã hội” - mỗi người trao nhân cách của mình cho lãnh đạo tối cao mang ý chí chung và do đó trở thành thành viên của nó Toàn bộ học thuyết của Rútxô về nguồn gốc nhà nước cho thấy ông đã nhận ra mâu thuẫn cơ bản nhất trong xã hội phong kiến là mâu thuẫn giàu nghèo, trong chính trị là mâu thuẫn giữa kẻ áp bức và người bị áp bức,
kẻ giàu có sẽ nắm quyền lực Vì thế, ông ủng hộ thể chế cộng hoà, coi đó là hình thức cầm quyền tốt nhất, trong đó, các quan chức là do nhân dân bầu ra
“Khế ước xã hội” là học thuyết có tính cách mạng Một khi nhà nước được thiết lập theo khế ước thì chế độ dân chủ được đảm bảo, mọi người được tự
do, khi nhà nước lạm quyền thì nhân dân có quyền bãi bỏ nhà nước
Cũng theo thuyết này, con người vốn dĩ có các quyền tự nhiên là quyền sống, quyền có tư liệu sản xuất, quyền được sản xuất và các quyền chính trị khác Nhưng các quyền đó của con người thường xuyên bị vi phạm,
vì thế, con người buộc phải tranh chấp, phải đấu tranh với nhau để bảo vệ các quyền của mình Điều đó tất yếu làm xuất hiện cái gọi là quyền lực xã hội Quyền lực xã hội là kết quả của việc mỗi cá nhân tự giác đem một phần quyền của mình giao cho các cơ quan quyền lực xã hội nhằm mục đích điều chỉnh hoạt động chung của con người và xã hội Theo đó, nhà nước là một hiện tượng vĩnh viễn đi cùng với xã hội loài người và sẽ không bao giờ mất
đi Quan điểm trên đã phần nào khắc phục sự giải thích thần bí và siêu tự nhiên về nguồn gốc của nhà nước, nhưng vẫn bế tắc khi lý giải nhà nước chỉ như là kết quả ý chí chung của con người, là một hiện tượng vĩnh cửu, và điều đó đã làm sai lạc bản chất của nhà nước
Trang 22Xuất phát từ quan điểm duy vật về lịch sử, khi nghiên cứu vấn đề nhà nước, Mác và Ăngghen đã phân tích toàn bộ sự tiến triển của lịch sử loài người trong mối quan hệ hữu cơ của con người, xã hội và tự nhiên ở từng giai đoạn lịch sử để làm rõ quá trình hình thành và phát triển của nhà nước cũng như chỉ rõ bản chất và ý nghĩa của nhà nước ở mỗi chế độ xã hội Trong quá trình đó, các ông cũng đồng thời bác bỏ những luận điểm sai lầm của quan điểm triết học tư sản về nhà nước và chứng minh rằng nhà nước là một hiện tượng lịch sử, là thiết chế trung tâm của kiến trúc thượng tầng được hình thành trên một cơ sở hạ tầng tương ứng Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một trình độ nhất định, trước hết là
sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giữa các giai cấp ấy đã phát triển đến mức không thể điều hoà được
Vấn đề nguồn gốc nhà nước chỉ thực sự được làm sáng tỏ, khi cắt nghĩa nó theo quan điểm duy vật về lịch sử Mác đã lấy việc phê phán quan điểm duy tâm và tư biện của Hêghen về nhà nước làm điểm bắt đầu khi tiến hành nghiên cứu vấn đề nhà nước Theo đó, nhà nước không phải được đưa vào từ bên ngoài xã hội mà có nguồn gốc ở bên trong xã hội Chính xã hội công dân là tiền đề, là cơ sở để hình thành nhà nước Ông viết:
Trên thực tế, gia đình và xã hội công dân là những tiền đề của nhà nước, chính chúng mới là những yếu tố thực sự tích cực; nhưng trong tư duy tư biện thì tất cả điều đó đều bị đặt lộn ngược… Gia đình và xã hội công dân là những bộ phận hiện thực của nhà nước, là những tồn tại tinh thần hiện thực của ý chí, là những phương thức tồn tại của nhà nước Gia đình và xã hội công dân tự chúng cấu thành nhà nước Chúng chính là động lực [61, tr 313-314]
Trang 23Nhận định về sự phê phán của Mác đối với quan điểm duy tâm của Hê ghen về nhà nước, Ăngghen viết: “xuất phát từ triết học pháp quyền của Hêghen, Mác đã đi tới kiến giải rằng không phải nhà nước,… mà ngược lại,
“xã hội công dân”… mới là lĩnh vực người ta phải đi vào để tìm ra chiếc chìa khóa để hiểu được qúa trình phát triển lịch sử của loài người” [65, tr 491]
Không dừng lại ở đó, Mác và Ăngghen còn xác định rõ cơ sở kinh tế của
nhà nước Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, thông qua việc bàn về mối liên hệ
giữa cơ cấu xã hội và chính trị với sản xuất, trên cơ sở nắm được mối quan hệ giữa thực chất của nhà nước và tính chất của những mối liên hệ xã hội, các ông
đã nêu tư tưởng về vai trò quyết định của chế độ tư hữu trong kinh tế đối với chế
độ chính trị Khi khẳng định tính quyết định xét đến cùng của cơ sở kinh tế, đồng thời chỉ ra rằng cơ sở hạ tầng của đời sống xã hội không phải được xem xét như trong tư tưởng hay suy nghĩ thuần tuý của con người, Mác, Ăngghen cho rằng:
Cơ cấu xã hội và nhà nước luôn nảy sinh từ quá trình sinh sống của những cá nhân nhất định, không phải của những cá nhân đúng như bản thân những cá nhân ấy có thể tự hình dung hay đúng như người khác có thể hình dung, mà là của những cá nhân đúng như trong hiện thực, nghĩa là đúng như họ đang hành động, sản xuất một cách vật chất, tức là đúng như họ hành động trong những giới hạn, tiền
đề và điều kiện vật chất nhất định, không phụ thuộc vào ý chí của
họ [62, tr 36]
Các ông tiếp tục nêu lên một cách chi tiết và cụ thể khía cạnh nền tảng của
xã hội công dân với tư cách tổ chức xã hội - kết quả trực tiếp của sản xuất và giao tiếp của các cá nhân trong xã hội; vai trò cơ sở của nó đối với sự hình thành
nhà nước (mà như Ph Ăngghen đánh giá, là chìa khoá để hiểu quá trình phát triển của lịch sử nhân loại) Theo Mác, Ăngghen:
Trang 24Thuật ngữ “xã hội công dân” xuất hiện trong thế kỷ XVIII khi những quan hệ sở hữu thoát khỏi thể cộng đồng [Gemeinwesen] cổ đại và trung cổ Xã hội tư sản [burgerliche Gesellschaf] với tính cách là xã hội tư sản chỉ phát triển cùng với giai cấp tư sản; tuy nhiên, tổ chức xã hội trực tiếp sinh ra từ sản xuất và giao tiếp và trong mọi thời đại đều cấu thành cơ sở của nhà nước và của kiến trúc thượng tầng tư tưởng, vẫn luôn được gọi bằng danh từ đó (thuật ngữ “burgerliche Gesellschaft” có nghĩa là “xã hội tư sản”, đồng thời cũng có nghĩa là “xã hội công dân”) [62, tr.52]
Chính vì vậy, các ông cho rằng, xã hội công dân bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất định của những lực lượng sản xuất Nó bao trùm toàn bộ đời sống thương nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đó và do đó, vượt ra ngoài phạm vi quốc gia và dân tộc, mặc dù, mặt khác, về đối ngoại nó vẫn phải hiện ra như là một dân tộc và về đối nội nó vẫn tự tổ chức thành một nhà nước
Điều này còn được giải thích rõ thêm trong các tác phẩm Bản thảo kinh tế 1857- 1859 và Góp phần phê phán khoa kinh tế - chính trị năm
1859 Mác đã phân tích vai trò của xã hội công dân và cho rằng, xã hội
công dân là lĩnh vực sinh hoạt và hoạt động vật chất, kinh tế của con người Chính xã hội công dân là cơ sở đầu tiên của toà nhà đời sống chung của loài người, hoạt động sống của xã hội công dân là động lực chính của sự phát triển lịch sử:
Không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người để giải thích những quan hệ và hình thái đó, mà trái lại phải thấy những quan hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất, mà toàn bộ đã được
Trang 25Hêghen, theo cách của người Anh và người Pháp thế kỷ XVIII, gọi gộp chung lại là “xã hội công dân” [64, tr 14]
Như vậy, quan điểm duy vật về lịch sử, quan điểm xuất phát để nghiên cứu về nhà nước của Mác, Ăngghen đã chỉ ra rằng, nghiên cứu về nhà nước không thể xuất phát từ chính bản thân nó mà phải từ những “cơ sở tự nhiên”
và “cơ sở xã hội” mà - xét đến cùng chính là những “cơ sở kinh tế” của nó Nội dung khách quan của cấu trúc và những mối liên hệ của nhà nước chính
là sự phản ánh của cấu trúc và những mối liên hệ của đời sống xã hội
Mác, Ăngghen cũng chứng minh rằng, ở một giai đoạn xác định của sự phát triển xã hội, đã xuất hiện nhu cầu phải tập hợp dưới một quy tắc chung, những hành vi sản xuất, phân phối và trao đổi sản phẩm được lặp đi lặp lại nhiều lần, do vậy phải làm thế nào để mọi người phục tùng những điều kiện chung của sản xuất, phân phối và trao đổi Quy tắc chung đó lúc đầu chỉ là thói quen, nhưng sau đó đã trở thành pháp luật và “…có pháp luật thì những
cơ quan có nhiệm vụ duy trì pháp luật đó tất yếu phải xuất hiện: quyền lực công cộng, tức là nhà nước” [67, tr 378] Theo các ông, thực chất của mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội là ở chỗ, toàn bộ sự vận động của đời sống
xã hội mà yếu tố quyết định là đời sống kinh tế, đã làm cho nhà nước - vốn xuất phát từ xã hội, do nhu cầu xã hội lại tách ra, trở thành như là cái độc lập, thậm chí đối lập với xã hội Trong quan hệ này, xã hội luôn là cái quyết định Mác viết: “nói chung, không phải nhà nước chế định và quyết định xã hội công dân mà xã hội công dân chế định và quyết định nhà nước, rằng do đó phải lấy những quan hệ kinh tế và sự tiến triển của những quan hệ ấy để giải thích chính trị và lịch sử chính trị chứ không phải ngược lại” [70, tr 321]
Sau khi Mác qua đời, Ăngghen đã viết tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" vừa để trình bày những quan điểm
của hai ông, vừa bổ sung thêm những tư liệu mới, nhất là những kiến thức về
Trang 26kinh tế nhằm mục đích trình bày một cách có hệ thống và giải thích một cách khoa học sự phát sinh nhà nước đầu tiên của xã hội loài người và vấn đề nhà nước tiêu vong Trong tác phẩm trên, Ăngghen cho rằng, chính sự chênh lệch
về tài sản (xuất phát từ chỗ: trong sản xuất đã bắt đầu có một sự dư thừa tương đối các sản phẩm và một số cá nhân trong các thị tộc đã biết cách chiếm lấy những của cải dư thừa đó làm của riêng) cộng với việc con người ta
có thể để lại tài sản cho con cháu mình đã tạo ra những mầm mống đầu tiên của giới quý tộc thế tập và vương quyền thế tập Chế độ nô lệ từ chỗ chỉ áp dụng đối với các tù binh trong chiến tranh giữa các thị tộc, bộ lạc thì nay ngày càng mở rộng phạm vi đối với mọi đối tượng trong xã hội Và hệ quả tất yếu
là những người có ruộng đất, có tiền trong xã hội đã biết cách sử dụng chúng làm phương tiện để nô dịch những người không có các thứ đó bằng cách cho vay nặng lãi với điều kiện nếu không trả được nợ thì con nợ phải lấy thân mình làm “vật” trả nợ, tức là biến thành nô lệ
Tất cả những tình hình trên cho thấy một thực tế là các điều kiện cho sự xuất hiện một thiết chế xã hội mới thay thế cho những quy định lỏng lẻo có tính chất tự giác (hoặc bắt buộc nhưng chỉ dựa vào những luật lệ không thành văn hay dựa vào uy tín cá nhân của những tù trưởng, thủ lĩnh trong chế độ xã hội thị tộc) đã chín muồi Điều đó đã dẫn tới yêu cầu hình thành một thiết chế không những bảo vệ những của cải mà các cá nhân vừa mới có được, chống lại những truyền thống cộng sản của chế độ thị tộc, một thiết chế không những thần thánh hoá sở hữu tư nhân rất bị khinh rẻ trước đây… mà còn in dấu ấn của sự công nhận của xã hội nói chung lên những hình thức mới, phát triển nối tiếp nhau, của việc kiếm được tài sản, nói một cách khác là của việc
tích luỹ của cải ngày càng nhanh Và thiết chế đó đã xuất hiện Nhà nước đã
được phát minh ra [70, tr 163-164]
Trang 27Từ những nghiên cứu về sự ra đời của các nhà nước Aten, Lamã, Giécmanh, Ăngghen đã bước đầu rút ra một số kết luận về tính tất yếu ra đời nhà nước Ông khẳng định, nhà nước không phải là một thứ quyền lực xa lạ, thần thánh, siêu nhiên từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, mà là sản phẩm của một
xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định, phản ánh tình trạng mâu thuẫn không thể giải quyết được của xã hội đó trong chính bản thân nó - tình trạng xã hội bị phân hoá thành những mặt đối lập không thể điều hoà được và cũng không thể loại bỏ đi được, do vậy cần có một lực lượng đứng trên xã hội với nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột nằm trong vòng
"trật tự" Lực lượng đó nảy sinh từ xã hội, đáp ứng nhu cầu của xã hội, nhưng lại dường như đứng trên xã hội - đó chính là nhà nước Từ đó, Ăngghen
khẳng định, nhà nước không phải một hiện tượng đã tồn tại mãi mãi từ trước,
mà ngược lại, đã từng tồn tại những xã hội không có nhà nước Chỉ đến một giai đoạn phát triển nhất định về kinh tế - giai đoạn đã có sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng - thì nhà nước mới trở thành một nhu cầu tất yếu
và cũng là bắt đầu một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển xã hội loài người
- giai đoạn xã hội có nhà nước
Những tư tưởng này được Lênin tiếp tục làm rõ, bổ sung, và phát triển Theo Lênin, cơ sở để hình thành nhà nước là: “Xã hội đã chia thành các giai cấp, tức chia thành các nhóm người mà những nhóm này luôn luôn có thể chiếm đoạt lao động của những nhóm khác, người này bóc lột người khác” [51, tr.81] Đồng thời nhà nước chỉ hình thành khi mâu thuẫn giai cấp phát triển cao Lênin chỉ ra rằng: “Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về
mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được thì nhà
nước xuất hiện Và ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được” [48, tr.9] Theo quan điểm của Lênin, nhà nước vừa là sản phẩm vừa là biểu hiện của những mâu thuẫn
Trang 28giai cấp không thể điều hòa được Hơn nữa, chỉ khi nào xã hội đã phát triển đến mức, trong đó xuất hiện một nhóm người đặc biệt chỉ có nhiệm vụ cai trị, cái nhóm người mà để thực hiện sự thống trị của họ, thì cần có một bộ máy cưỡng bức đặc biệt như nhà tù, quân đội… để bắt buộc người khác phải phục tùng bằng bạo lực, thì lúc đó xuất hiện nhà nước
Như vậy, việc xuất hiện nhà nước là một tất yếu khách quan, xuất phát
từ sự phát triển của xã hội loài người, từ nhu cầu của sản xuất và mối quan hệ giữa người với người trong sản xuất Nghiên cứu nhà nước với tư cách một hiện tượng xã hội không thể xuất phát từ bản thân nhà nước Bí mật của nhà nước chỉ có thể được soi sáng, khi nghiên cứu từ cơ sở kinh tế của xã hội Nói cách khác, nhà nước không phải là một hiện tượng tự nó, mang tính thực thể,
mà chỉ là một hiện tượng phái sinh, có cơ sở khách quan bên ngoài nó Chính đời sống xã hội là nội dung khách quan của nhà nước, và chìa khoá để khám phá những bí mật của nhà nước chính là phải xuất phát từ những con người hiện thực, từ quá trình đời sống hiện thực của họ, quá trình họ sản xuất và tái sản xuất ra bản thân mình và xã hội, và đồng thời cũng sản xuất ra các yếu tố phái sinh khác bổ sung vào xã hội, trong đó có nhà nước Đây chính là quan điểm duy vật về lịch sử, là quan điểm xuất phát khi nghiên cứu vấn đề nhà nước và các vấn đề khác trong đời sống xã hội
1.1.2 Về bản chất và chức năng của nhà nước
Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện quan niệm của các nhà tư tưởng với những cách thức tiếp cận khác nhau về vấn đề bản chất của nhà nước Những cách tiếp cận này tuỳ thuộc vào thế giới quan của họ Chẳng hạn, cả ở phương Đông và phương Tây, khi quy nguồn gốc nhà nước về nguồn gốc siêu nhiên, thì bản chất nhà nước tất nhiên cũng được hiểu là bản chất siêu nhiên nằm bên ngoài xã hội loài người Tất cả là do “ý Chúa”, "ý Trời" chứ không phải xuất phát từ con người và lợi ích của họ Còn theo quan điểm của những người
Trang 29theo thuyết “khế ước xã hội”, thì nhà nước là đại diện cho lợi ích chung, nhà nước mang bản chất xã hội và tính nhân dân; chức năng của nó là bảo vệ và phục vụ lợi ích của tất cả các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội
Trong điều kiện CNTB, bản chất xã hội, chức năng phục vụ và bảo vệ
xã hội của nhà nước ngày càng được nhận thức đầy đủ và rõ ràng hơn Tuy vậy, theo quan điểm này, bản chất xã hội của nhà nước chỉ được hiểu là bản chất nhân dân, còn nhà nước thì được hiểu là hiện tượng phi giai cấp
Xã hội tư bản càng phát triển, quan niệm về nhà nước càng đa dạng Trong xã hội tư sản hiện đại, hình thành những quan điểm mới về nhà nước như “nhà nước phúc lợi chung”, “nhà nước dân chủ đa nguyên”…
Theo quan điểm của lý thuyết “Nhà nước phúc lợi chung”, nhà nước có khả năng điều chỉnh, can thiệp vào các quan hệ kinh tế - xã hội, nhờ đó có thể giải quyết được các vấn đề xã hội, chịu trách nhiệm và quan tâm chung đến sự phát triển xã hội, phục vụ cho sự hưng thịnh chung của xã hội và từng cá nhân - thành viên của xã hội Nhà nước ấy không phân biệt đối xử với mọi giai cấp, tầng lớp, chỉ chăm lo đến lợi ích chung của tất cả Như vậy, nhà nước dường như không có tính giai cấp, nhà nước không phải là công cụ thống trị giai cấp mà là tổ chức “phúc lợi chung” phục vụ cho các giá trị nhân đạo của xã hội và cá nhân
Quan điểm của lý thuyết “dân chủ đa nguyên” lại xuất phát từ chỗ cho rằng, trong xã hội tư sản hiện đại đang diễn ra sự “khuếch tán” quyền lực - tức
là quyền lực không chỉ được thực hiện bởi nhà nước, mà còn bằng các tổ chức của xã hội Nhà nước không còn là trung tâm của quyền lực chính trị mà chỉ có vai trò như một trong những tổ chức bình đẳng với các hình thức tổ chức khác nhằm thể hiện chủ quyền nhân dân Đây là cơ sở lý luận cho việc cải cách nhà nước nhằm thay đổi quan hệ đối kháng giữa tư sản với người lao động
Trang 30Tất cả các quan điểm trên đều bị hạn chế về mặt lịch sử và thế giới quan nên không giải thích được đúng đắn và khoa học nhiều vấn đề liên quan đến hiện tượng nhà nước Các quan điểm đó hoặc lảng tránh việc đề cập bản chất giai cấp hoặc giải thích sai lầm về bản chất của nhà nước
Trong rất nhiều tác phẩm của mình, Mác và Ăngghen đã chỉ rõ bản chất của nhà nước là một bộ máy để duy trì sự thống trị của một giai cấp này đối với một giai cấp khác, là công cụ mà giai cấp thống trị dùng để bảo vệ lợi ích của mình và áp bức bóc lột các giai cấp bị áp bức Ăngghen viết:
Vì nhà nước nảy sinh ra từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp; vì nhà nước đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên theo lệ thường, nhà nước là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức[70, tr 255]
Nghiên cứu về các kiểu nhà nước trong lịch sử, về mối quan hệ giữa quyền mà công dân được hưởng với tài sản mà họ có cũng góp phần khẳng định bản chất giai cấp của nhà nước Về vấn đề này, Ăngghen cho rằng:
“Trong đa số những nhà nước đã từng tồn tại trong lịch sử, những quyền ban cho công dân còn tỉ lệ với tài sản của họ, và điều đó trực tiếp nói lên rằng nhà nước là tổ chức của giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này chống lại giai cấp không có của” [70, tr 256] Kết luận về bản chất giai cấp của nhà nước, Ăngghen viết: “Cái lực lượng cố kết xã hội văn minh là nhà nước, nhà nước này, trong tất cả những thời kỳ điển hình, vẫn chỉ là nhà nước của giai cấp thống trị, và trong mọi trường hợp về thực chất, vẫn là bộ máy dùng để đàn áp giai cấp bị áp bức, bị bóc lột” [70, tr 261]
Trang 31V.I Lênin đã nghiên cứu, phát triển tư tưởng của Mác, Ăngghen về bản chất nhà nước và khẳng định, về bản chất, “Nhà nước không phải là cái gì khác hơn là một bộ máy đàn áp của một giai cấp này đối với một giai cấp khác” [49, tr 328] Người cũng nhấn mạnh, nhà nước luôn mang tính giai cấp, đồng thời phê phán quan điểm của các nhà tư tưởng tư sản cho rằng nhà nước là một cơ quan điều hoà đối kháng giai cấp Lênin chỉ ra rằng, nhà nước
ra đời từ nhu cầu kiềm chế xung đột giai cấp và cũng đồng thời từ chính xung đột giai cấp ấy, nên tất nhiên đó là nhà nước của giai cấp chiếm địa vị thống trị về kinh tế, giai cấp này nhờ có nhà nước mà trở thành giai cấp chiếm địa vị thống trị về chính trị, cũng do đó mà có phương tiện mới để áp bức và bóc lột giai cấp bị áp bức
Như vậy, công lao của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin chính là
đã phát hiện ra bản chất giai cấp của nhà nước Bản chất này đã bị các nhà tư tưởng trước Mác vô tình hoặc cố ý xuyên tạc nhằm biện hộ cho sự tồn tại của nhà nước của giai cấp bóc lột, làm cho vấn đề nhà nước trở nên phức tạp và không thể tìm ra con đường khắc phục một cách căn bản những khuyết tật vốn có của nhà nước Tuy nhiên, một điều cũng cần làm rõ là tại sao vấn đề bản chất nhà nước lại khó nhận thức đến như vậy, khiến người ta có thể giải thích về nó một cách sai lầm do vô tình hoặc cố ý Ngoài những thủ đoạn của các giai cấp bóc lột thống trị, có thể tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đó khi xác
định được chức năng của nhà nước Mặc dù nhà nước là của một giai cấp,
nhưng với tư cách là nhà nước nó đồng thời phải là người đại diện cho xã hội Thành thử nhà nước nào cũng đều phải có hai chức năng cơ bản: Chức năng thống trị chính trị của giai cấp (chức năng giai cấp) và chức năng xã hội
Chức năng thống trị chính trị là chức năng chuyên chính của một giai
cấp nhất định - nhà nước sử dụng mọi công cụ, mọi biện pháp có thể có để bảo vệ lợi ích và vai trò thống trị của giai cấp đó Để thực hiện chức năng này,
Trang 32nhà nước phải xác lập và củng cố cơ sở kinh tế của giai cấp cầm quyền, làm cho hệ thống quan hệ sản xuất mà giai cấp đó là người đại diện nắm vai trò chi phối; phải xác lập và củng cố hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, làm cho
hệ tư tưởng này chi phối đời sống tinh thần của xã hội; sẵn sàng trấn áp mọi
sự phản kháng ở trong nước lẫn ngoài nước để bảo vệ sự tồn tại của nhà nứơc
đó Thực hiện chức năng này, các nhà nước Chủ nô, Phong kiến, Tư sản đều
ra sức củng cố bộ máy cưỡng bức, sẵn sàng trấn áp dã man các cuộc đấu tranh của quần chúng lao động
Chức năng xã hội của nhà nước là thực hiện việc quản lý và đảm
nhiệm một số công việc chung của toàn xã hội, những hoạt động chung vì sự tồn tại và phát triển của cả cộng đồng; nó phải đóng vai trò là cơ quan công quyền giải quyết những vấn đề về an sinh xã hội để làm dịu sự xung đột giai cấp, nhằm làm cho xã hội tồn tại trong vòng trật tự xác định Trong các xã hội
có giai cấp đối kháng, để giữ được vai trò thống trị, giai cấp thống trị nào cũng buộc phải nhân danh xã hội mà quản lý những công việc chung Việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề chung của xã hội sẽ giúp giai cấp thống trị giữ vững được địa vị cầm quyền Như vậy, việc thực hiện chức năng xã hội của giai cấp cầm quyền là điều kiện để nhà nước đó thực hiện được vai trò thống trị giai cấp của nó Nói về mối quan hệ biện chứng giữa hai chức năng này, Ph Ăngghen viết: “ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó” [69, tr 253] Chính chức năng xã hội của nhà nước làm cho nó trở thành tổ chức công quyền, là bệ đỡ cho sự thống trị của nhà nước đối với xã hội, điều này đã làm cho người ta lầm tưởng rằng nhà nước, xét về bản chất, là lực lượng phi giai cấp; các giai cấp cầm quyền cũng dựa vào chức năng này để biện hộ cho các hoạt động có tính nhà nước vì lợi ích của giai cấp mình, và vấn đề bản chất của nhà nước luôn trở thành một nội
Trang 33dung quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng giữa những người mácxít và không mácxít Xã hội càng phát triển thì chức năng xã hội của nhà nước càng được mở rộng Chức năng xã hội nổi bật của nhà nước Chủ nô, nhà nước Phong kiến là bảo vệ biên giới quốc gia; đưa ra một số chính sách xã hội khi các mâu thuẫn xã hội trở nên quá gay gắt như: "hạn điền", "hạn nô"…Trong những thời kỳ thịnh trị, nhà nước cũng có ban bố một số chính sách để khuyến khích phát triển kinh tế, thương mại Song từ khi nhà nước Tư sản ra đời, chức năng xã hội của nhà nước ngày càng được mở rộng trên các lĩnh vực của đời sống - xã hội, đặc biệt là kinh tế - xã hội
Về mặt kinh tế, nhà nước Tư sản đã có sự điều chỉnh quan trọng về quan hệ sản xuất Từ việc bỏ mặc nền kinh tế cho sự điều tiết hoàn toàn của thị trường theo cơ chế "bàn tay vô hình", nhà nước này đã trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý hoặc chi phối sự phát triển của kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục…Việc xã hội hoá sản xuất trong các nước TBCN dưới các hình thức quốc doanh, hợp tác xã, công ty cổ phần…có sự can thiệp đáng kể của nhà nước
Do những tất yếu kinh tế quy định mà tính dân chủ của nhà nước TBCN cũng được mở rộng hơn Mác, Ăngghen, Lênin đều thấy rõ tính chất tiến bộ của xã hội tư bản so với các xã hội trước Xã hội tư bản chẳng những
đã tạo ra những tiền đề vật chất cho CNXH mà còn tạo cả những tiền đề dân chủ cho nhà nước vô sản sau này Chính vì vậy, Lênin đã yêu cầu trong điều kiện giai cấp vô sản chưa nắm được chính quyền thì cần tham gia đấu tranh để thúc đẩy sự phát triển của dân chủ tư sản Dân chủ tư sản phát triển càng cao thì điều kiện ra đời của dân chủ vô sản càng thuận lợi Đây là những tư tưởng hết sức sáng suốt của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước vô sản - nhà nước XHCN, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của các ông
1.2 Quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nhà nước XHCN
1.2.1 Về bản chất của nhà nước XHCN
Trang 34Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác luôn khẳng định bản chất giai cấp của nhà nước vô sản thể hiện ở chỗ, nhà nước đó do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, thực hiện dân chủ thực sự với nhân dân, bảo vệ quyền lợi, lợi ích của nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân Bản chất này do cơ sở kinh tế và chế độ chính trị xã hội của CNXH quy định
Từ bài học công xã Pari, Mác cho rằng để thiết lập xã hội mới, giai cấp công nhân phải đập tan bộ máy nhà nước cũ và thay thế nó bằng bộ máy nhà
nước của bản thân họ Trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, Mác đã chỉ ra rằng
Công xã Pari về thực chất là “Chính phủ của giai cấp công nhân” Việc thành lập Công xã có nghĩa là quần chúng nhân dân, tức là xã hội đoạt lại quyền lực nhà nước, biến nó từ chỗ là lực lượng thống trị xã hội, áp bức xã hội thành sức sống của bản thân xã hội Đó chính là hình thức chính trị mà quần chúng nhân dân đã giành được để giải phóng cho xã hội Mác viết: “Bí quyết thật sự của công xã là ở chỗ: về thực chất nó là một Chính phủ của giai cấp công nhân, là kết quả của cuộc đấu tranh của giai cấp những người sản xuất chống lại giai cấp chiếm đoạt, là hình thức chính trị rốt cuộc đã tìm ra được khiến cho có thể thực hiện được việc giải phóng lao động về mặt kinh tế” [66, tr 454]
Nhà nước là công cụ chuyên chính của một giai cấp, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với nhà nước vô sản, nhưng như thế không có nghĩa nhà nước vô sản là tổ chức riêng của giai cấp công nhân mà thực chất nó
là tổ chức để toàn thể nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ của mình Nhân dân là người bầu ra và giám sát những người trong bộ máy nhà nước để thay thế quan lại của chế độ cũ, và những người đó có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào, căn cứ vào quyết nghị của những cử tri đã bầu ra
họ Và "Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, thì một thể liên hợp xuất hiện, trong đó sự phát triển tự do của
Trang 35mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người" [63,
tr.628] Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, nói về sự khác
biệt bản chất của nhà nước vô sản với nhà nước tư sản, Mác, Ăngghen viết: "Giai cấp vô sản sẽ dùng ưu thế chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản
đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng số lượng những lực lượng sản xuất lên hết sức nhanh" [63, tr 626]
Đây là những tư tưởng rất sớm của Mác, đã thể hiện khá rõ quan điểm
về một nhà nước khác hẳn về bản chất với các kiểu nhà nước trước đây Đó là kiểu nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng đại diện cho lợi ích của đại đa số những người lao động Đặc điểm này của nhà nước vô sản là một tất yếu, sự tất yếu đó bắt nguồn từ bản chất của phong trào vô sản Mác viết: “Tất cả những phong trào lịch sử, từ trước đến nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều mưu lợi ích cho thiểu số Phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số” [63, tr.611]
Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã trở thành chủ nghĩa đế quốc, cuộc cách mạng vô sản đã trở thành trực tiếp, và đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng nhà nước vô sản sau cách mạng Tháng Mười, Lênin là người đã phát triển lý luận của Mác, Ăng ghen về vấn đề nhà nước và nhà nước vô sản, vận dụng sáng tạo lý luận đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước Nga, tìm kiếm
mô hình nhà nước phù hợp với nước Nga Tư tưởng về nhà nước của Lênin được thể hiện tập trung nhất trong các tác phẩm: “Nhà nước và cách mạng”, “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, “Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản” Theo Lênin, trong thời kỳ quá
độ từ CNTB lên CNXH có thể có nhiều hình thức nhà nước, nhưng tất cả các hình thức đó đều mang một bản chất duy nhất - bản chất giai cấp công nhân, là
Trang 36chuyên chính vô sản: "Bước chuyển từ CNTB lên CNCS, cố nhiên không thể không đem lại rất nhiều hình thức chính trị khác nhau, nhưng thực chất của
những hình thức ấy tất nhiên sẽ chỉ là một, tức là: chuyên chính vô sản" [48, tr
44]
Lênin đánh giá rất cao tư tưởng của Mác về hình thức của CCVS khi tổng kết kinh nghiệm Công xã Pari Từ đó, trong lãnh đạo cách mạng vô sản Nga, Lênin lại phát hiện thêm rằng hình thức tổ chức cụ thể của CCVS đó là
Xô viết Đây là một đóng góp quan trọng vào học thuyết về CCVS Xô viết là một loại cơ quan lãnh đạo khởi nghĩa do quần chúng công nhân sáng lập ra trong quá trình cách mạng Nga 1905 Ngay lúc đó, Lênin đã gọi Xô viết là nền móng của chính quyền cách mạng Tháng 4/1917, trong “Luận cương
tháng tư” nổi tiếng, Lênin đã xác định: không cần nước cộng hoà theo chế độ đại nghị, mà phải thiết lập nước cộng hoà do các Xô viết đại biểu công nhân, binh sĩ và nông dân toàn quốc được tổ chức từ dưới lên Ông viết:
Nhân dân cần có chế độ cộng hoà để cho quần chúng được giáo dục về dân chủ Điều cần thiết không phải chỉ là cơ quan đại biểu theo kiểu chế độ dân chủ, mà là toàn bộ việc quản lý nhà nước từ dưới lên phải do bản thân quần chúng tổ chức, quần chúng thực sự tham gia vào từng bước của cuộc sống và đóng vai trò tích cực trong việc quản lý Thay thế các cơ quan áp bức cũ: cảnh sát, bọn quan lại, quân đội thường trực bằng vũ trang toàn dân, bằng một đội dân cảnh thực sự toàn dân, - đó là biện pháp duy nhất để đảm bảo một cách tốt nhất cho nhà nước tránh khỏi sự phục hồi chế độ quân chủ và làm cho nước nhà có khả năng đi lên CNXH một cách có kế hoạch, vững chắc và kiên quyết chứ không “đưa” CNXH từ trên xuống, mà bồi dưỡng cho đông đảo quần chúng vô sản và nửa vô sản biết nghệ thuật quản
Trang 37lý nhà nước và điều khiển toàn bộ chính quyền nhà nước [47, tr 356]
Đây là sự bổ sung, phát triển quan trọng thứ nhất của Lênin đối với
quan điểm của Mác về hình thức và bản chất của CCVS Ở nước Nga lúc
đó, giai cấp vô sản chỉ là thiểu số, nông dân chiếm đại đa số dân cư Do tình hình như vậy, việc xây dựng, duy trì liên minh công nông là nhiệm vụ
có ý nghĩa chiến lược của CCVS, liên minh vững chắc là yếu tố quyết định
sự sống còn của nhà nước cộng hoà xô viết Lênin khẳng định: “Chừng nào cách mạng chưa nổ ra ở các nước khác, thì chỉ có thoả thuận với nông dân mới có thể cứu vãn được cuộc cách mạng XHCN ở Nga” [53, tr 70] Liên minh này là lực lượng chính, là trụ cột của chính quyền Xô viết, là cái sẽ bảo đảm cho chính quyền Xô viết hoàn thành được nhiệm vụ cải tạo xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới Chính vì vậy, theo kết luận của Lênin, ở nước Nga lúc này: “CCVS là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiên phong của những người lao động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức,v.v…), hoặc với phần lớn những tầng lớp đó, liên minh nhằm chống lại tư bản…” [50, tr 452] Như vậy, CCVS không phải chỉ là chuyên chính thuần tuý của một giai cấp mà là chuyên chính của cả một lực lượng
xã hội rộng lớn, của quần chúng lao động nhằm chống lại sự chống đối của một giai cấp duy nhất - giai cấp tư sản Đó là một sự phát triển đặc biệt quan trọng của Lênin về vấn đề nhà nước vô sản, nhà nước XHCN
Thắng lợi của cách mạng Tháng Mười và việc thiết lập chính quyền
Xô viết đã chứng minh trên thực tế quan điểm của Lênin: Xô viết là hình thức tốt nhất của CCVS Từ đó, Lênin khẳng định rằng: mỗi dân tộc, khi
quá độ lên CNXH, phải sáng tạo ra những hình thức tổ chức nhà nước vô sản thích hợp với đặc điểm của dân tộc mình Bởi vì, theo ông, mọi dân tộc
Trang 38đều sẽ đi lên CNXH, đó là điều mang tính quy luật, nhưng cách đi cụ thể của mỗi dân tộc thì không hoàn toàn giống nhau do chỗ mỗi dân tộc, quốc gia đều có những đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử cụ thể hết sức phong phú và
đa dạng Cho nên, Lênin luôn khẳng định Xô viết là hình thức tốt nhất của CCVS ở nước Nga Người luôn nhắc nhở những người cộng sản ở các nước phương Đông không nên sao chép một cách máy móc kinh nghiệm của nước Nga mà phải nắm vững đặc điểm của dân tộc mình để xác định đúng hình thức cụ thể của cách mạng và chính quyền của nước mình Đây là
điểm bổ sung, phát triển lớn thứ hai của Lênin đối với chủ nghĩa Mác về
hình thức của CCVS và việc vận dụng nó như thế nào ở các dân tộc khác nhau, nhất là các dân tộc phương Đông - một sự bổ sung và là một chỉ dẫn
có tính chất phương pháp luận quan trọng trong lý luận và thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản
Lênin cho rằng nhà nước Xô viết là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng là nhà nước có tính nhân dân cao nhất bởi vì:
Thứ nhất, Nhà nước Xô viết là nhà nước duy nhất trong lịch sử có thể
đảm bảo dân chủ thực sự cho toàn thể nhân dân lao động Lênin chỉ rõ rằng, chỉ có trong nhà nước Xô viết, đại đa số quần chúng nhân dân lao động - những người không được tham gia công việc quản lý nhà nước trong các xã hội có đối kháng giai cấp trước đây mới có quyền và có thể thực sự tham gia công việc nhà nước Chỉ khi nào nhà nước của giai cấp công nhân được thiết lập, thay thế hoàn toàn nhà nước của các giai cấp bóc lột thì quần chúng lao động mới thực sự có thể tham gia quản lý nhà nước đồng thời chỉ trong qúa trình tham gia hoạt động của nhà nước XHCN, quần chúng lao động mới học tập được phương thức xây dựng xã hội mới, xã hội XHCN Nhấn mạnh mặt dân chủ khi nói về thực chất của CCVS, Lênin cho rằng dân chủ tư sản tuy là một bước tiến bộ lớn trong lịch sử so với chế độ phong kiến, nhưng dưới chế
Trang 39độ TBCN, nó vẫn chỉ là dân chủ cho thiểu số, là “thiên đường” đối với người giầu nhưng không đem lại dân chủ thực chất cho nhân dân, bởi vì nhân dân chưa được làm chủ về kinh tế Chính quyền Xô viết là một hình thức của dân chủ vô sản, thông qua việc đem lại và tạo dựng cho đại bộ phận nhân dân quyền làm chủ trong sản xuất đã xây dựng cơ sở cho một chế độ dân chủ thực
sự Ông viết: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào cũng dân chủ hơn gấp triệu lần; chính quyền Xô viết so với nước cộng hoà tư sản dân chủ nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần” [49, tr 312, 313]
Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, Nhà nước XHCN thực chất là chính quyền của nhân dân, vì thế trong nhà nước ấy, nền dân chủ phải là nền dân chủ đầy đủ nhất, rộng rãi nhất và thực chất nhất - đó là nền dân chủ bao quát toàn diện mọi lĩnh vực đời sống xã hội và lấy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế làm nền tảng CNXH sẽ không thể tồn tại và phát triển được, nếu thiếu dân chủ, thiếu sự thực hiện một cách đầy đủ và mở rộng không ngừng dân chủ: “Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn ” [34, tr 97], được V.I Lênin coi là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cách mạng XHCN, là một vấn đề có tính quy luật của sự phát triển và hoàn thiện nhà nước vô sản
Thứ hai, Nhà nước Xô viết có cơ chế hợp lý bảo đảm cho nhân dân
thực sự tham gia quản lý nhà nước, thực sự có quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng của mình bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước; có quyền, có khả năng và có điều kiện thực tế để kiểm tra, giám sát các cán bộ và cơ quan nhà nước, bãi miễn các đại biểu do mình bầu ra khi họ không còn xứng đáng nữa
Các luận điểm trên đây của Mác, Ăngghen, Lênin về bản chất nhà nước
vô sản là lý luận bước đầu được khái quát từ thực tiễn Công xã Pari trước đây
Trang 40và thực tiễn nước Nga những năm 20 của thế kỷ XX Cho đến nay thực tiễn thế giới nói chung, thực tiễn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói riêng đã có rất nhiều biến đổi Thực tế đã chỉ ra rằng không phải khi nhà nước vô sản được thiết lập là nền dân chủ tự nhiên sẽ được xây dựng, duy trì
và phát triển ngày càng cao, điều này cũng đã được Mác, Ăngghen, Lênin tính tới Ngay trong khi đánh giá cao tính ưu việt của mô hình nhà nước Công xã Pari và nhà nước Xô viết, các nhà kinh điển cũng chỉ ra những hạn chế của chúng Đơn giản là vì, các nhà nước này không thể ngay lập tức hoàn toàn đoạn tuyệt với tất cả những “thói hư, tật xấu” trong nhà nước cũ Mặt khác, khi tổng kết về “Công xã Pari”, Mác và Ăngghen đã nhận thấy nhà nước vô sản mặc dù khác về bản chất với nhà nước của các giai cấp bóc lột, song với
tư cách là một nhà nước, trong bản thân nó vẫn có thể nảy sinh các tư tưởng quan liêu hoá, đặc quyền, đặc lợi Do đó, cần phải có những cơ chế cần thiết
để hạn chế hoặc loại bỏ những hiện tượng này, ngăn ngừa tình trạng nhà nước
từ chỗ là công bộc của nhân dân lại trở thành các ông chủ “đứng trên” đầu nhân dân, tình trạng biến các chức vụ trong bộ máy nhà nước thành phương tiện để thăng quan phát tài, kiếm chác bổng lộc…
Từ đó, các ông đã nêu lên phương pháp ngăn ngừa sự tha hoá quyền lực của bộ máy nhà nước: có thể bầu cử và bãi miễn các viên chức, công chức nhà nước bất cứ lúc nào; không cho phép biến các chức vụ của bộ máy hành chính nhà nước thành đặc quyền, đặc lợi của một số cá nhân Mác thấy cần phải trả lương cho các viên chức, công chức nhà nước từ cấp cao nhất của
Công xã đến các nhân viên cấp thấp nhất ngang bằng lương công nhân bậc
cao nhằm đề phòng tình trạng chạy chọt chức tước, địa vị, ngăn chặn chủ nghĩa thăng quan phát tài - quyền lực Đồng thời dẹp bỏ đặc quyền, đặc lợi, phụ cấp do chức vụ đem lại [63, tr 449] Các biện pháp này được nêu ra xuất phát từ thực tiễn của công xã Pari - thực tiễn diễn ra trong một phạm vi hẹp và