1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác

130 606 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự gia tăng của e-waste trên toàn thế giới nói chung, và mức độ nguy hại của chúng với xã hội ngày càng được khẳng định đã làm nảy sinh các XĐMT liên quan đến loại rác này ở các cấp độ t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ HẢI TRANG

NHẬN DIỆN RÀO CẢN THỰC HIỆN CƠ CHẾ LIÊN KẾT TRÁCH NHIỆM GIỮA NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG DO TÁC ĐỘNG CỦA RÁC THẢI ĐIỆN TỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ

Hà Nội - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ HẢI TRANG

NHẬN DIỆN RÀO CẢN THỰC HIỆN CƠ CHẾ LIÊN KẾT TRÁCH NHIỆM GIỮA NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG DO TÁC ĐỘNG CỦA RÁC THẢI ĐIỆN TỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

Mã số : 60.34.72

\

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Cao Đàm

HÀ NỘI 2012

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN, XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG, E-WASTE VÀ CÁC THIẾT CHẾ NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CỘNG ĐỒNG 11

1.1 Khái niệm rào cản và phân loại 11

1.2 Xung đột môi trường và các khái niệm liên quan 12

1.3 E-waste và các khái niệm liên quan 22

1.4 Cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong xử lý xung đột môi trường 31

1.4.1 Vai trò của nhà nước trong xử lý xung đột môi trường 31

1.4.2 Vai trò của doanh nghiệp trong xử lý xung đột môi trường 31

1.4.3 Vai trò của cộng đồng trong xử lý xung đột môi trường 32

1.4.4 Cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong xử lý xung đột môi trường 33

1.5 Trách nhiệm xử lý xung đột môi trường từ lý thuyết quản lý tài sản dùng chung của Elinor Ostrom 34

1.6 Đạo đức sinh thái và đạo đức bền vững 37

1.7 Lệch chuẩn đạo đức bền vững 40

CHƯƠNG 2: TRÁCH NHIỆM XỬ LÝ XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG DO E-WASTE CỦA NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CỘNG ĐỒNG TẠI VN 43

2.1.Trách nhiệm giải quyết xung đột môi trường do e-waste của cơ quan quản lý nhà nước 43

2.1.1 Hệ thống pháp luật quốc tế về xử lý e-waste 43

2.1.2 Hệ thống luật pháp Việt Nam về quản lý e-waste 44

2.1.3 Cơ chế thực thi và giám sát luật pháp về quản lý e-waste 47

2.2 Trách nhiệm giải quyết xung đột môi trường do e-waste của doanh nghiệp 49

2.2.1 Trách nhiệm của doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện tử 49

2.2.2 Trách nhiệm của các cơ sở thu gom e-waste 53

2.2.3 Trách nhiệm của cơ sở tái chế e-waste 55

2.2.4 Trách nhiệm của cơ sở xử lý e-waste 58

2.3 Trách nhiệm giải quyết XĐMT do e-waste của cộng đồng 60

2.4 Thực trạng xung đột môi trường do e-waste tại Việt Nam 62

Trang 4

2.5 Thực trạng liên kết trách nhiệm giữa ba bên trong giải quyết xung đột môi trường do e-waste 79 CHƯƠNG 3: RÀO CẢN THỰC HIỆN CƠ CHẾ LIÊN KẾT TRÁCH NHIỆM GIỮA NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG DO E-WASTE TẠI VIỆT NAM 83 3.1 Giới hạn của các nguồn lực xã hội trong giải quyết xung đột môi trường do rác thải điện tử 83 3.2 Xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội trong giải quyết xung đột môi trường

do e-waste 87 3.3 Lệch chuẩn đạo đức bền vững trong trách nhiệm giải quyết xung đột môi trường do e-waste của thiết chế nhà nước 88 3.4 Lệch chuẩn đạo đức bền vững trong trách nhiệm giải quyết xung đột môi trường do e-waste của thiết chế thị trường 90 3.5 Lệch chuẩn đạo đức bền vững trong trách nhiệm giải quyết xung đột môi trường do e-waste của thiết chế cộng đồng 94 3.6 Hệ thống hoạch định và thực thi chính sách thiếu tính đồng bộ, tính minh bạch 98 PHẦN KẾT LUẬN 108

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BVMT: bảo vệ môi trường

CTR: chất thải rắn

CTNH: chất thải nguy hại

CTSH: chất thải sinh hoạt

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

CKBVMT: Cam kết bảo vệ môi trường

E-waste: Rác thải điện tử

ĐTM: Đánh giá tác động môi trường

KH&CN: Khoa học và Công nghệ

KT-XH: kinh tế - xã hội

LCA: Đánh giá vòng đời sản phẩm

NGO: Tổ chức phi chính phủ

PTBV: phát triển bền vững

TNTN: tài nguyên thiên nhiên

UNEP: United Nations environment program (Chương trình môi trường của Liên hiệp Quốc)

VN: Việt Nam

XĐMT: xung đột môi trường

Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

có các sáng chế điện tử xuất hiện Song nền công nghiệp này cũng đưa tới một loại hình rác thải mới: e-waste, một trong những nguồn chất thải đáng lo ngại cho sự phát triển của nhân loại trong hiện và tương lai

Theo báo cáo về thực trạng xử lý rác điện tử "Recycling from E-Waste to Resources" của Chương trình môi trường - Liên Hợp Quốc vừa công bố ngày 22/2/2010, ngay trước cuộc họp của Hội đồng điều hành Chương trình Môi trường

Liên Hợp Quốc đã ước tính: Tại Liên minh Châu Âu các thiết bị điện tử được đưa vào

thị trường năm 2005 đã lên tới hơn 9.3 triệu tấn với tốc độ đáng lưu tâm, đặc biệt ở khu vực Đông Âu bao gồm: 44 triệu thiết bị gia dụng cỡ lớn, 48 triệu máy tính bàn và laptop, 32 triệu chiếc Tivi, 776 triệu bóng đèn Tại Mỹ theo ước tính trong năm 2006

có hơn 34 triệu chiếc Tivi được đưa vào thị trường, 24 triệu máy tính cá nhân và gần

139 triệu các thiết bị nghe nhìn xách tay gồm điện thoại di động, máy nhắn tin, điện thoại thông minh đã được chế tạo Điều đáng lưu ý ở đây là chỉ cách đó hơn 2 năm,

các thiết bị nghe nhìn xách tay với tốc độ tăng trưởng cao nhất chỉ mới đạt mức 90 triệu sản phẩm trong năm 2003, các chuyên gia lúc đó dự tính đến năm 2008 sẽ sản xuất được 152 triệu sản phẩm Báo cáo cũng công bố những dự tính “khổng lồ” về e-

waste: năm 2020 lượng máy tính bị vứt bỏ tại Nam Phi và Trung Quốc sẽ tăng

200-400% so với mức của năm 2007 Tại Ấn Độ mức tăng trong khoảng thời gian tương tự

là 500% 1 Theo ước tính của Hiệp hội Hệ thống thông tin di động toàn cầu (GSM) có

tới 896 triệu điện thoại di động đã được bán ra trong năm 2006 trên toàn thế giới

Theo ước tính của Hiệp hội Viễn thông quốc tế (ITU) hiện có khoảng 5 tỉ điện thoại di

động lưu hành trên khắp thế giới, 1/3 dân số sử dụng internet và mỗi năm có 310 triệu máy tính được đưa ra bán

Theo ước tính của UNEP, có trên 50 triệu tấn rác thải từ các sản phẩm điện tử hư hỏng được thải ra hàng năm Rác điện tử đang phát triển nhanh nhất dưới dạng chất thải rắn của đô thị, chiếm từ 3 - 5% nguồn nguyên vật liệu, đồng thời tăng trung bình

3 – 5% mỗi năm Ước tính có trên 60 triệu tấn rác điện tử cần phải được tái sử dụng, tái chế hoặc tiêu hủy vào năm 2013 ITU đã thống kê năm 2010 thế giới đã thải ra hơn

40 triệu tấn rác thải, riêng Châu Âu chiếm 10 triệu tấn, Mỹ chiếm 3,2 triệu tấn, và Trung Quốc chiếm 2,5 triệu tấn Theo tính toán của nhóm nghiên cứu tại Đại học Liên

hiệp quốc tốc mức tăng của rác thải điện tử tại 27 quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu

lên tới 8.3 – 9.1 triệu tấn/năm Chỉ tính riêng tại Mỹ có hơn 400 triệu thiết

1

http://www.khoahoc.com.vn/doisong/moi-truong/27102_Rac-dien-tu-hiem-hoa-voi-con-nguoi.aspx

Trang 7

2

bị điện tử xếp loại "rác điện tử" có nhu cầu được thải bỏ hằng năm, theo thống kê của

Tổ chức hoàn trả đồ điện tử của San Francisco, nhưng chỉ 12% số đó được tái chế

E-waste xuất sang các quốc gia châu Á được gắn mác "để tái chế", trong khi đó khả năng kiểm soát dạng rác thải này ở VN còn nhiều hạn chế, do vậy một lượng không nhỏ rác thải đã được đưa vào nội địa Đến nay lượng e-waste về các quốc gia đang phát triển tại châu Á vẫn không ngừng gia tăng bởi giá nhân công rẻ, các qui định

về nghề nghiệp và môi trường còn lỏng lẻo, và cuối cùng chính do tính hợp pháp trong việc xuất khẩu rác thải điện tử của một số quốc gia phát triển Là một quốc gia đang phát triển trong giai đoạn toàn cầu hóa, bên cạnh những cơ hội, lợi thế trong việc đón đầu công nghệ tiên tiến và hiện đại của các nước phát triển, VN cũng đồng thời đối diện với nguy cơ là điểm đến của rác thải công nghệ từ các quốc gia khác dưới nhiều

hình thức khác nhau Như vậy lượng rác thải mà VN phải hứng chịu không chỉ là kết quả của việc tiêu thụ thiết bị điện tử trong nước mà còn xuất phát từ nguồn nhập khẩu không được kiểm soát một cách chặt chẽ

Theo UNEP, các nước phát triển là những nước thải rác điện tử nhiều nhất Riêng tại Mỹ hàng năm có đến 14-20 triệu máy tính cá nhân bị loại bỏ Theo tổ chức BVMT

Mỹ, trong năm 2005, người tiêu dùng Mỹ đã thải ra gần 2 triệu tấn rác điện tử Tại nước Anh mỗi năm có khoảng 1,5 triệu chiếc máy tính bị thải ra bãi rác tương đương 125.000 tấn thiết bị tin học Canada năm 2005 thải ra 67.000 tấn máy tính, máy in, điện thoại di động là những thứ rác điện tử chứa nhiều hóa chất độc Tại các nước đang phát triển lượng rác điện tử sẽ tăng gấp 3 lần vào năm 2011 Còn số điện thoại

di động thì sẽ vượt ngưỡng 2 tỷ chiếc vào năm 2012 trên thế giới, trong khi tuổi đời sử

dụng của chúng chỉ khoảng 2 năm Bất chấp các quy định ngặt nghèo của các quốc

gia phát triển, các công ước quốc tế về xử lý rác thải điện tử, hiện nay các bãi rác tập trung đồ phế thải điện tử tại các nước đang phát triển vẫn trở thành một trong những nhân tố gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Sự gia tăng của e-waste trên toàn thế giới nói chung, và mức độ nguy hại của chúng với xã hội ngày càng được khẳng định đã làm nảy sinh các XĐMT liên quan đến loại rác này ở các cấp độ từ địa phương, quốc gia đến vùng và liên vùng… Thực tế cho thấy, các biểu hiện của xung đột này là vô cùng đa dạng, dù rằng chưa có nhiều chứng cứ rõ ràng chỉ ra mức độ cao điểm nhất của xung đột có thể xảy đến (như chiến tranh) nhưng tầm quan trọng của việc nhận diện và xử lý các xung đột này đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý doanh nghiệp hay các chính khách theo đuổi chiến lược phát triển bền vững là thực tế không thể phủ nhận Thông qua quá trình nhận diện được XĐMT do e-waste gây ra, đánh giá được cấp độ xung đột, phạm

vi của xung đột, .từ đó lý giải được nguyên nhân của việc xử lý xung đột, đặt nền tảng cho việc đề xuất các giải pháp xử lý xung đột một cách thỏa đáng, đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển bền vững

Việc thiết lập một hệ thống quản lý chất thải điện tử hiệu quả ở quy mô quốc gia

và quốc tế là yêu cầu tất yếu đối với các xã hội công nghiệp hiện đại nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi của sự phát triển đến môi trường sống Trên thế giới, nhiều quốc gia đã bày tỏ sự quan tâm sâu sắc và nhất quán đến vấn nạn e-waste, đồng thời đã có những hành động cấp thiết nhằm giảm thiểu, và quản lý loại hình rác thải này một cách

có hệ thống trên toàn quốc Các tổ chức quốc tế cũng nỗ lực thúc đẩy các quốc gia đang phát triển mau chóng có những phản ứng và biện pháp quản lý rác thải công nghệ nhằm thay đổi thực trạng đáng lo ngại mang tính chất toàn cầu như hiện nay Trên thực

tế, để đối phó với cuộc khủng hoảng rác điện tử trên thế giới, các tổ chức quốc tế và

Trang 8

3

từng quốc gia đă đề ra những quy định bắt buộc về quản lý và xử lý rác thải công nghệ độc hại

Tuy nhiên theo UNEP, hiện có khoảng 75 - 85% rác điện tử được chôn trực tiếp

xuống đất hoặc thiêu cháy ra tro Việc xử lý lượng rác thải này không đúng cách có thể giải phóng nhiều hóa chất và kim loại nặng nguy hiểm vào môi trường Tỷ lệ tái chế có thể tăng tới 50% hoặc cao hơn trong năm 2013 hay không còn tùy thuộc vào sự can thiệp của Chính phủ hoặc những hỗ trợ về kinh tế cho người dùng Theo

Greenpeace, trong 8,7 triệu tấn e-waste thải ra hằng năm tại EU, có đến 6,6 triệu tấn

không được tái chế theo đúng quy trình Đối chứng giữa biểu hiện và mức độ

XĐMT do e-waste gây ra cùng với kết quả can thiệp của các ba thiết chế xã hội: nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng thực tế cho thấy bài toán môi trường chưa

thực có lời giải đáp Theo tổ chức Greenpeace, chỉ có khoảng 10% lượng máy tính cũ

hỏng được tái chế; tỷ lệ điện thoại di động cũ hỏng được tái chế còn thấp hơn, chỉ khoảng từ 2%-3% Nói cách khác, tỷ lệ rác thải điện tử không được tái chế lên tới 91%… Khi những loại rác này bị đốt cháy - phương pháp xử lý thường thấy nhất - chúng có thể giải phóng khói độc, còn các hóa chất như bari và thủy ngân sẽ ngấm vào đất.Vừa qua, tại Bờ Biển Ngà, đă có ít nhất 10 người chết và hơn 70.000 người phải điều trị vì hơi độc phát ra từ bãi rác chôn quanh vùng Abidjan

Không là một ngoại lệ, VN cũng cho thấy nhiều nỗ lực dù chưa thực sự hiệu quả

từ phía các thiết chế nhà nước, thiết chế doanh nghiệp và thiết chế cộng đồng trong việc giải quyết các XĐMT do rác thải công nghệ gây ra Các nhà hoạch định chính sách vẫn nỗ lực đưa ra các chính sách nhằm quản lý hoạt động BVMT nói chung, quản

lý e-waste nói riêng một cách có hiệu quả hơn, các doanh nghiệp vẫn mong muốn thu được lợi nhuận tốt nhất từ các sản phẩm của mình mà vẫn đảm bảo được các tiêu chuẩn của nhà nước, cộng đồng mong muốn muốn được hưởng thụ các sản phẩm công nghệ cao song lại không hài lòng về chất lượng môi trường sống … Rõ ràng các thiết chế này vẫn chưa tìm thấy một cách thức liên kết trách nhiệm nhằm phát huy sức mạnh của tổng thể hệ thống xã hội cho quá trình phát triển bền vững Vì vậy, thực tế XĐMT do rác thải điện tử vẫn chưa được nhìn nhận dưới dạng các cơ hội cho phát

triển theo quan điểm của nhà kinh tế học Steiner (Đức) “Bằng cách hành động ngay từ

bây giờ và lập kế hoạch cho tương lai, nhiều quốc gia có thể biển những thách thức từ rác điện tử thành cơ hội kinh tế”

Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa

nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác thải công nghệ” là để nhìn nhận được các rào cản trong

quá trình liên kết trách nhiệm giữa các thiết chế xã hội thông qua việc mô tả các kiến tạo xã hội đặc thù từ XĐMT do rác thải công nghệ tại VN Qua đó góp phần đem lại một tiếp cận dung hòa cho việc hình thành các cầu nối chính sách từ hoạch định đến thực thi trong đời sống xã hội một cách hiệu quả hơn

3 Lịch sử nghiên cứu

Các nghiên cứu về rào cản tập trung tìm hiểu những khó khăn, trở ngại, vướng mắc của các hoạt động xã hội, quan hệ xã hội trong mọi lĩnh vực của đời sống Tiếp cận nghiên cứu ở lĩnh vực nông lâm nghiệp, Hiệp hội quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên

và tài nguyên thiên nhiên (International Union for Conservation of Nature and Natural

Resources) tiến hành module “Đánh giá các rào cản ảnh hưởng tới quản lý rừng bền

vững và công bằng” trong khuôn khổ của Dự án “Tăng cường tiếng nói để có sự lựa

Trang 9

4

chọn tốt hơn” do Ủy ban châu Âu tài trợ, 2008 Nghiên cứu mô tả thực trạng ngành lâm nghiệp VN, thực tiễn luật pháp và quản trị rừng, luật tục và quản trị rừng, từ đó đưa ra so sánh về quản trị rừng theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo luật tục, đồng thời chỉ ra những tác động kinh tế xã hội ở mức độ rộng hơn đối với rừng và sinh kế

Trong lĩnh vực BVMT và phát triển bền vững, chính phủ Nhật Bản đã hỗ trợ chính phủ VN thông qua Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cho Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC) SP-RCC được xây dựng để đưa ra các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu ở VN sau khi đánh giá tình hình thực hiện các hành động chính sách đặc thù của chính phủ VN trong 15 ngành dễ bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Trong khuôn khổ Dự án “Nghiên cứu quản lý môi trường đô thị tại VN”

của chuỗi hành động nhằm ứng phó với biến đổi khía hậu tài trợ bởi JICA, “Báo cáo

nghiên cứu về giải pháp tháo gỡ cho các dự án theo cơ chế phát triển sạch” được

công bố vào 3/2011đề cập tới rào cản như các nút thắt cổ chai của việc triển khai dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM) Nghiên cứu cho hay, việc triển khai CDM ở VN không chỉ thực hiện các hành động thân thiện môi trường, mà còn ảnh hưởng đến cả các hoạt động phát triển bền vững thông qua việc phát trển và sử dụng các năng lượng tái tạo, tạo điều kiện bảo tồn năng lượng, kiểm soát thiệt hại về diện tích rừng …CDM hiện vẫn là một cơ chế mới được xây dựng và còn tồn tại nhiều rào cản khiến cho việc tiến hành CDM trên thực tế không thuận lợi Các rào cản được đề cập và phân tích trong nghiên cứu bao gồm: Rào cản về hành chính và pháp lý; Rào cản về kinh doanh; Rào cản về nguồn nhân lực; Rào cản công nghệ; Rào cản thực tế về các thông lệ Cho đến nay nghiên cứu về rào cản trong các lĩnh vực BVMT, an ninh môi trường hiện còn khá ít ỏi Những nghiên cứu về rào cản trong quản lý XĐMT còn hiếm hoi hơn Nghiên cứu về XĐMT ở VN từ một thập niên trở lại đây trở thành một chủ đề thu

hút được sự quan tâm của nhiều học giả Theo Vũ Cao Đàm “XĐMT đáng được xem là

một chủ đề quan trọng hàng đầu trong xã hội học mội trường và thực tiễn hoạch định chính sách và quản lý môi trường Cũng chính vì vậy, XĐMT ngày càng trở nên một phạm trù khoa học có ý nghĩa then chốt trong các nghiên cứu lý thuyết của bộ môn khoa học về xã hội học môi trường [18, tr.37]

Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như: “Giải quyết XĐMT trong các làng

nghề - nội dung tất yếu của quản lý môi trường”, Vũ Cao Đàm, 2000; “Vai trò của cộng đồng dân cư và tổ chức xã hội trong việc thực hiện chính sách môi trường tại VN”, Bạch Tân Sinh; “XĐMT nguyên nhân và giải pháp”, Nguyễn Quang Tuấn, 2000

Bài viết đặc biệt nhấn mạnh “Cơ chế chính sách yếu kém cũng là nguyên nhân làm gia

tăng các XĐMT Trong đó quyền sử dụng các tài sản môi trường không được xác định

rõ là một nguyên nhân trọng yếu Sự phát triển của khoa học - công nghệ cũng như sự gia tăng dân số đã làm gia tăng tốc độ khai thác tài nguyên dẫn đến gia tăng tính khan hiếm của tài nguyên Kết quả là sự gia tăng khả năng XĐMT, đặc biệt đối với những tài nguyên mà ở đó quyền sử dụng không được xác định rõ”; “Chính sách quản lý môi trường đối với việc giải quyết XĐMT”, Lê Thanh Bình, 2000 Bài nghiên cứu nhằm

tìm kiếm cơ sở thực tiễn và lý luận cho việc giải quyết XĐMT dựa trên các đề xuất trong chính sách quản lý môi trường tại VN

Trong nghiên cứu “Quản lý chất thải rắn tại VN”, Nguyễn Thảo, Đại học

Colombia phân tích: Trong thập kỉ trước, tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cùng với quá trình đô thi hóa không được kiểm soát chặt chẽ đã đưa đến một loạt các vấn đề cho

hệ thống quản lý chất thải rắn của VN, quản lý chất thải đang đứng trước những thách

Trang 10

5

thức về môi trường nghiêm trọng Không chỉ là sự tăng lên của lượng chất thải, mà các thành phần chất thải cũng đã có những biến đổi rất khác so với trước đây Hệ thống quản lý hiện tại đã bị quá tải do thiếu năng lực thể chế, nhân lực, nguồn lực tài chính thể hiện ở tỉ lệ thu gom chất thải còn ở mức thấp, các thiết bị xử lý đã không còn phù hợp Nghiên cứu này phần nào mô tả được cách tiếp cận trong quản lý XĐMT do chất thải rắn nói chung tại VN, làm rõ được vai trò của các bên liên quan trong quản lý chất thải rắn Nghiên cứu trọng tâm vào việc mô tả hiện trạng nhiều hơn là nỗ lực làm rõ lý

do của thất bại trong bài toán quản lý CTR

Ủy ban điều phối giải quyết tranh chấp môi trường (The Environmental dispute coordination commission) là cơ quan hành chính được thành lập 1/7/1972 là bộ phận

mở rộng của văn phòng Thủ tướng (theo quy định tại Điều 3 của Luật Tổ chức chính phủ) từ việc sát nhập Hiệp hội liên kết về đất đai và Hiệp hội đánh giá ô nhiễm môi trường Chức năng của cơ quan này bao gồm: Giải quyết nhanh chóng và kịp thời các tranh chấp môi trường: Cung cấp các dịch vụ hòa giải, dàn xếp, phân xử, điều đình nhằm giải quyết các tranh chấp môi trường, Phối hợp việc sử dụng đất với công nghiệp khai khoáng : cân bằng giữa việc sử dụng đất đai cho công nghiệp khai khoáng, khai thác đã, thu nhặt sỏi với lợi ích công cộng và việc sử dụng đất đai hiệu quả và phù hợp

Thực hiện điều 14 Công ước Basel của Liên hiệp Quốc (Basel convention) về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại và việc loại bỏ chúng (13/5/1995) các trung tâm khu vực được thành lập phục vụ hoạt động đào tạo và chuyển giao công nghệ Tại Châu Á Thái Bình Dương Indonesia được lựa chọn là địa điểm đặt cơ quan đầu não của Trung tâm cấp vùng theo Nghị quyết III/19 tại Hội nghị các bên tham gia lần thứ III năm 1995 Đến nay các quốc gia ký thỏa thuận khung tham gia Trung tâm cấp vùng công ước Basel gồm: Brunei Darussalam, Cambodia, Lao PDR, Malaysia, Myanmar, Indonesia, Singapore, Philippines, Thailand and Vietnam Trung tâm cấp vùng thực hiện mục tiêu xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo, hội thảo, seminar và các dự án hợp tác trong lĩnh vực quản lý về môi trường đối với chất thải độc hại, chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường và tối thiểu hóa chất thải độc hại thông qua hình thức “training the trainer” và thúc đẩy việc phê chuẩn công ước Basel trên toàn thế giới Sự ra đời của các trung tâm này góp phần đưa mục tiêu của công ước Basel sớm được thực hiện, đồng thời góp phần thiết lập một cơ chế tòan cầu trong giải quyết XĐMT do việc vận chuyển rác thải nguy hại nói chung gây ra

Diễn đàn Thiết bị điện và điện tử (The WEEE Forum) là hiệp hội lớn nhất tại Châu Âu với hệ thống thu gom và tái chế e-waste thông qua nguyên tắc tối ưu về quy định trách nhiệm của người sản xuất Diễn đàn được thành lập vào tháng 4 năm 2002 đúng vào thời điểm Hướng dẫn số 2002/96/EC về thiết bị điện và điện tử đầu tiên được đưa ra thảo luận trước Nghị viện Châu Âu và Hội đồng liên minh Châu Âu Với

40 thành viên, tổ chức này đã thu gom được 1,5 tấn hệ mét e-waste trong năm 2008 chiếm một nửa số lượng e-waste thu gom được thống kê báo cáo một cách chính thức trên toàn Châu Âu Mục tiêu hoạt động của tổ chức này là tiếp tục hoàn thiện các hoạt động có yếu tố môi trường trong các quy định và khung pháp lý hiện có nhằm giảm thiểu chi phí cho người sản xuất, chia sẻ các kinh nghiệm đạt được cho toàn bộ thành viên trong hệ thống, nâng cao hơn nữa năng lực thu gom và tái chế cho các thành viên

Sự ra đời của một hệ thống quốc tế chuyên biệt về e-waste cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này trong giai đoạn hiện nay, cũng như việc thúc đẩy những nỗ lực của các

Trang 11

6

bêen trong việc giảm thiểu những sức ép môi trường do ngành công nghiệp điện tử gây

ra Các thành viên của diễn đàn về e-waste đã đóng góp tích cực vào quá trình giảm thiểu các XĐMT do e-waste tạo ra giữa các đương sự: nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng thông qua việc hoàn bị các nguyên tắc định hướng chính sách có liên quan Nghiên cứu về xung đột môi tường do e-waste được đặc biệt quan tâm trong thế kỉ XXI với sự tiến bộ vượt bậc của các thành tựu về KH&CN Các nghiên cứu gần đây cho thấy phần lớn mối nguy hại do rác thải điện tử gây ra đối với đời sống con người đều được nhận thức ít nhiều ở đại bộ phận xã hội Nghiên cứu cũng cho hay đến nay e-waste không chỉ là một mối đe dọa của tương lai như những ước đoán trước đây của nhiều chuyên gia.2 Nó đã trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, hoạt động xã hội của các tổ chức dân sự

Trong bài báo “E-waste: Các vấn đề môi trường và Phương thức quản lý hiện tại” của nhóm tác giả đến từ Trường ĐH Thrace, Hy Lạp các vấn đề môi trường do e-waste gây ra được xem xét một cách khá toàn diện Từ việc thống nhất cách hiểu về e-waste, tác động gây ô nhiễm môi trường do việc chôn và xử lý e-waste, sự gia tăng e-waste trên toàn cầu cho đến các cách thức quản lý e-waste ở một số quốc gia tiêu biểu được

đề cập một cách chi tiết và khúc triết Các kết quả được công bố trong bài báo cho thấy

để ứng phó với vấn đề e-waste hiện nay nhóm tác giả tìm kiếm thông qua một số mô hình kiểu mẫu về thúc đẩy vai trò của người sử dụng sản phẩm điện tử, các tổ chức NGO, và cơ quan quản lý nhà nước3

Phần lớn các nghiên cứu về e-waste được thực hiện độc lập ở các quốc gia với những đặc trưng riêng biệt về lao động, về công nghiệp điện tử, về mức sống của người dân Nghiên cứu của Hiệp hội Viễn thông quốc tế về điện thoại di động và máy tính cá nhân tại Philipine cho thấy từ 1991 đến năm 2007 các sản phẩm này đã tăng từ 34.000 đơn vị lên 52 triệu đơn vị, trung bình cứ 2 trong 3 người dân Philipine sẽ sở hữu 1chiếc điện thoại di động; từ năm 1991 đến năm 2006 số lượng máy tính cá nhân tăng từ 6300 đơn vị lên đến 6.3 triệu đơn vị; từ năm 1995-2005 khối lượng rác thải này

đã xấp xỉ 25 triệu đơn vị cho năm loại thiết bị điện tử chính: tivi, điều hòa, máy giặt, tủ lạnh và radio, trong 5 năm tiếp theo sẽ tiếp tục tăng thêm 14 triệu đơn vị Số lượng e-waste tại quốc gia này vẫn đang tăng lên với một tốc độ khó đoán định, do vậy tác động môi trường do sự tích lũy rác thải này ở Philipines được đánh giá là một vấn đề

vô cùng phức tạp của xã hội hiện đại Trước thực trạng trên, nghiên cứu của Brian

Crisma “Thuận lợi và Thách thức trong quản lý e-waste ở Philipine”4 dựa trên việc phân tích sự khác biệt giữa các nhóm lợi ích liên quan trong xã hội để chỉ ra các tác

2

Electronics waste: a threat in the future: Sharon M Mañalac

3

“E-waste: Environmental Problems and Current Management “G Gaidajis*, K Angelakoglou and D Aktsoglou

Department of Production Engineering and Management, School of Engineering, Democritus University of Thrace, 67100, Xanthi, Greece (Journal of Engineering Science and Technology Review 3 (1) (2010) 193-199)

4

Brian Crisma công tác tại Khoa Kĩ thuật môi trường tại Đại học Philippine Trong nghiên cứu này, các tác nhân ảnh hưởng

đến hoạt động quản lý e-waste được nhìn nhận ở hai chiều cạnh Tác nhân tích cực đối với các biện pháp quản lý e-waste bao gồm: quy định của các nước nhập khẩu, sức ép bên trong và bên ngoài đối với công nghiệp điện tử, sáng kiến e-waste tại địa phương, và các điều kiện thị trường, các điều kiện địa lý, công nghiệp khai khoáng đô thị, mức giá của kim loại, nguồn cung nhân công dư thừa, giá rẻ và nhu cầu về công nghiệp điện tử nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; Tác nhân tiêu cực đến các biện pháp quản lý e-waste gồm: thiếu vắng các quy định của pháp luật, sự không đồng thuận đối với các quy định bổ sung của công ước Basel, sự tồn tại các quan ddierm song phương và đa phương giữa các nước có giao dịch thương mại, nhận thức về các vấn đề môi trường còn yếu, thiếu nhận thức đầy đủ trong thi hành pháp luật, chuỗi cung cấp e-waste nội địa không đầy đủ, sự cạnh tranh giữa khu vực chính thức và phi chính thức trong thị trường thiết bị điện tử

Trang 12

về nỗ lực thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và năng lượng giá trị, cũng như giảm thiểu lượng rác thải nguy hại thông qua hoạt động tái chế5 Ước tính 80% e-waste là thiết bị gia dụng đã được tái chế tại Nhật, rất nhiều các kim loại quý đã được tháo gỡ và đưa vào quy trình tái sử dụng

Nghiên cứu của Clara Lingren đến từ Học viện Môi trường toàn cầu, Đại học Nagoya, Nhật Bản cung cấp một bối cảnh cụ thể về thể chế quản lý e-waste qua nghiên cứu trường hợp máy tính đã qua sử dụng tại Nhật Bản và Thụy Điển Tác giả mô tả một cách chi tiết các điều luật liên quan đến hoạt động tái sử dụng máy tính cũ nói riêng, đồ điện tử nói chung ở cấp độ quốc gia và quốc tế, song song với quá trình chỉ

ra thái độ và hành động của người dân với vấn đề này Qua việc phân tích các điều luật trong hoàn cảnh cụ thể về kinh tế - xã hội, sự phát triển của KH&CN, tác giả đi đến nhận định về giải pháp hợp tác giữa người tiêu dùng, nhà sản xuất và các chính trị gia Tuy nhiên giải pháp hợp tác như thế nào vẫn còn là một nội dung còn để mở trong nghiên cứu này

Trong các nghiên cứu về giải quyết XĐMT do e-waste gây ra có thể nhắc đến

Nghiên cứu so sánh về hệ thống tái chế e-waste tại Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan

từ tiếp cận trách nhiệm mở rộng của người sản xuất: Ngụ ý cho các nước phát triển

6

của nhóm tác giả Sung-Woo Chung và Rie Murakami-Suzuki Nghiên cứu đã chỉ ra lý

do cốt yếu dẫn đến việc các quốc gia này hình thành thành hệ thống luật pháp về tái chế e-waste như là những quốc gia tiên phong của Châu Á, phân tích hệ thống tái chế e-waste của từng quốc gia, và cung cấp những phân tích về mức độ trách nhiệm của nhà sản xuất được quy định Những thành công trong hệ thống tái chế của Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan được đưa ra không phải để cung cấp những mô hình hiệu quả trong xử lý e-waste, mà hơn cả là hướng đến những gợi ý chính sách cho các quốc gia Châu Á trong việc kiểm soát và quản lý hiệu quả e-waste trong giai đoạn toàn cầu hóa thông qua xác định trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất

Nghiên cứu về e –waste tại VN được bắt đầu quan tâm trong hơn một thập kỉ trở lại đây như một trong những điểm đến tiềm năng của e-waste trên thế giới TS Sunil Herat đến từ Trường Kĩ thuật, Đại học Griffith, Australia công bố kết quả nghiên cứu

về Quản lý Chất thải nguy hại và e-waste ở các nước phát triển¸ trong đó tác giả có đề

cập đến tốc độ tăng nhanh chóng của e-waste tại VN, cũng như thách thức của quản lý e-waste tại VN nói riêng và các quốc gia ở khu vực Mekong Vấn đề về e-waste tại

VN cũng được đề cập đến trong Báo cáo của Dự án về Quản lý xuất nhập khẩu rác thải

Trang 13

8

điện tử và thiết bị điện và điện tử đã qua sử dụng” của Trung tâm phối hợp thực hiện công ước Basel tại Châu Á Thái Bình Dương Nghiên cứu này đưa ra những tiêu chí phân biệt giữa e-waste với các thiết bị điện và điện tử đã qua sử dụng, từ đó đề xuất việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu loại

hình rác thải đặc biệt này Năm 2005 đề tài cấp “Phân loại chất thải rắn ngành công

nghiệp điện tử trên địa bàn Hà Nội, đề xuất giải pháp quản lý và công nghiệp nhằm tận thu, tái sử dụng” của Huỳnh Trung Hải đã đặt thêm một dấu mốc cho thấy sự e-

waste đã và đang trở thành một đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Nghiên cứu này đi đến những nỗ lực về giải pháp công nghệ nhằm giải quyết việc tận thu và tái sử dụng e-waste hơn là tìm ra phương thức xử lý e-waste một cách toàn diện Năm 2009 đề tài “Phát triển công nghệ tái chế chất thải điện tử và thiết bị điện tử” tài trợ bởi Dự án hợp tác với Viện Tài nguyên và Khoáng sản Hàn Quốc (KIGAM) cũng cho thấy cách tiếp cận tương tự trong quản lý e-waste tại VN

Trong bài báo “Vấn đề rác thải điện tử (Ewaste) – XĐMT giữa các nước công

nghiệp và các nước đang phát triển” của Trương Việt Trường đăng tải trên Tạp chí

Môi trường Số 8/2011, Hà Nội nêu bật vấn đề về XĐMT do rác thải điện tử gây ra giữa hai bên đối kháng: các nước phát triển và các nước đang phát triển Qua các phân tích về thực trạng e-waste ngày càng gia tăng và có xu hướng nhập khẩu vào các nước đang phát triển như VN, tác giả nhận diện các tác động về kinh tế, về xã hội, môi trường và sức khỏe do e-waste đưa lại, đồng thời nhấn mạnh giải pháp gắn trách nhiệm

xử lý e-waste cho nhà sản xuất như cách thức tối ưu nhằm giải quyêt xung đột Tuy nhiên, bài báo mới chỉ dừng ở mức đề xuất vấn đề XĐMT do rác thải điện tử gây ra tại

VN, nêu một vài khuyến nghị về chính sách quản lý xung đột mà chưa xác định được giới hạn trách nhiệm của các bên liên quan trong việc xử lý xung đột

Kết quả tổng hợp các nghiên cứu về XĐMT nói chung, XĐMT do e-waste gây ra nói riêng cho thấy chưa có nghiên cứu nào xác định rõ ràng trách nhiệm của các bên trong xử lý loại hình xung đột này, qua đó nhận diện được rào cản trong liên kết trách nhiệm giữa doanh nghiệp, cộng đồng và nhà nước nhằm đi đến một phương thức quản

lý môi trường hướng đến phát triển bền vững Do vậy nghiên cứu này sẽ tập trung vào

việc làm sáng tỏ: Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác thải điện tử

4 Mục tiêu nghiên cứu

Chỉ ra được yếu tố, tác nhân ngăn cản sự liên kết trách nhiệm của các thiết chế nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc xử lý XĐMT do e-waste gây ra tại VN

- Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

o Chỉ ra được các hình thức tồn tại của XĐMT do e-waste gây ra tại VN: XĐMT do e-waste được nhìn nhận dựa trên việc nhận diện kiến tạo xã hội của xung đột, trong đó, nội dung quan trọng nhất là nhận diện những tác động của XĐMT dẫn đến những biến đổi về chất lượng sống, lối sống, cách

tổ chức hoạt động xã hội và bản thân cấu trúc xã hội Từ đó chỉ ra các dạng

XĐMT do e-waste

o Nhận diện được vai trò, trách nhiệm xử lý XĐMT do e-waste gây ra của các

đương sự

Trang 14

5 Phạm vi nghiên cứu và mẫu khảo sát

- Phạm vi về thời gian: Chuỗi sự kiện được đề cập trong nghiên cứu nằm trong khoảng thời gian từ năm 2000 – 2011

- Phạm vi không gian: Các sự kiện về XĐMT do e-waste gây ra tại VN

- Mẫu khảo sát: Các số liệu và biểu đồ được phân tích và tổng hợp từ số liệu cung cấp bởi Tổng cục Thống kê VN, các nghiên cứu về thực trạng e-waste tại các nước Châu Á, các báo cáo của các tổ chức quốc tế về quản lý và tái chế chất thải điện tử tại VN và trên thế giới Mẫu khảo sát gồm các cơ quan quản lý môi trường tại VN, các doanh nghiệp sản xuất, thu gom và tái chế e-waste và những người dân chịu tác động của việc xử lý e-waste không đúng cách tại VN

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu chỉ tập trung làm rõ các dạng XĐMT do tác động của e-waste, đây là một bộ phận của rác thải công nghệ nói chung Nghiên cứu cũng giới hạn phạm vi về rào cản liên kết trách nhiệm trong hoạt động xử lý XĐMT bởi tác động của e-waste

6 Câu hỏi nghiên cứu

Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc xử lý XĐMT do e-waste gây ra tại VN là gì?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Vấn đề cốt lõi của sự bất hợp tác trong xử lý XĐMT do e-waste gây ra tại VN giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng cốt yếu được nhìn nhận trong nghiên cứu này là các lệch chuẩn đạo đức bền vững của các bên liên quan trong quá trình giải quyết xung đột

Sự bất hợp tác trong xử lý xung đột hay rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong xử lý XĐMT do e-waste tại

VN gồm:

- Hạn chế về nguồn lực xã hội trong nỗ lực giải quyết XĐMT do e-waste

- Xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội trong giải quyết vấn đề rác thải và điện tử

- Các dạng lệch chuẩn đạo đức bền vững

- Sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong các chế tài pháp luật về quản lý chất thải điện tử

- Hạn chế về năng lực quản lý và thực thi pháp luật về e-waste

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tiến hành thu thập và phân tích các tài liệu, số liệu trong lĩnh vực e-waste tại VN và trên thế giới Các bảng số liệu thứ cấp được tổng hợp từ số liệu sơ cấp cung cấp bởi Tổng cục thống kê VN, và các nghiên cứu điều tra về sản lượng sản phẩm điện tử tại VN, công nghiệp phụ trợ thúc đẩy sự phát triển của ngành điện tử tại VN

Trang 15

18 chuyên gia trong lĩnh vực liên ngành về xã hội học Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 25 cán bộ quản lý trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường, doanh nghiệp và đại diện tổ chức dân sự trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường

- Phương pháp tiếp cận của đề tài: Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận logic và hệ thống trong quá trình thu thập luận cứ và chứng minh giả thuyết nghiên cứu về vấn

đề liên kết trách nhiệm trong xử lý XĐMT do e-waste Cách tiếp cận này đảm bảo việc xem xét các sự kiện nghiên cứu trong hệ thống các mối liên hệ tương tác thực tiễn với vai trò của các bên liên quan, trong hệ thống luật pháp về quản lý môi trường nói chung, quản lý chất thải điện và điện

9 Kết cấu của đề tài

Chương 3: Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp

và cộng đồng trong giải quyết XĐMT do e-waste tại VN

PHẦN KẾT LUẬN

Phụ lục

Trang 16

11

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN, XĐMT, E-WASTE VÀ CÁC THIẾT CHẾ NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CỘNG ĐỒNG

1.1 Khái niệm rào cản và phân loại

Định nghĩa rào cản được đề cập đến trong một số từ điển với nội hàm chỉ những đối tượng vật chất, hoặc những vật thể được sử dụng để tách biệt, phân định ranh giới, hoặc là các chướng ngại vật nói chung7 (Theo từ điển bách khoa toàn thư Merriam Webster) Theo từ điển Ngôn ngữ tiếng Anh8, rào cản có thể giải thích theo 7 ý nghĩa, như một dạng cấu trúc vật chất được xây dựng để ngăn trở việc vượt qua; là yếu tố phi vật chất với vai trò ngăn cản, gây trở ngại; trong lĩnh vực sinh lý học rào cản là một lớp màng, lớp mô, hoặc một cơ chế có khả năng ngăn cản quá trình chuyển đổi của một số chất; trong lĩnh vực sinh thái học rào cản là yếu tố vật lý hoặc sinh học giới hạn

sự di cư, sự giao phối hoặc những hành động tự do của các cá nhân hoặc cộng đồng; rào cản có thể là một làn ranh giới hoặc giới hạn, hoặc là thứ có khả năng tách biệt hoặc giữ khoảng cách; rào cản có thể dùng để chỉ các dạng thanh chắn (cầu đường) Theo từ điển đa ngôn ngữ Kernerman, rào cản được định nghĩa là những gì được thiết lập để bảo vệ hoặc ngăn trở, hoặc gây khó khăn9 Cách diễn giải trên đều nhận diện đặc trưng của rào cản là bất cứ thứ gì (vật chất hoặc phi vật chất) có khả năng ngăn chặn, cản trở, gây trở ngại cho sự vượt qua một giới hạn hoặc duy trì sự tách biệt hoặc ngưỡng ranh giới nhất định

Cách phân loại thông dụng về rào cản được khá nhiều người chấp nhận gồm: rào cản nhận thức, rào cản cảm xúc, rào cản trí tuệ, rào cản diễn ngôn, rào cản môi trường,

rào cản văn hóa Luận văn này tập trung bàn về rào cản liên kết trách nhiệm đối với BVMT và phát triển bền vững

Rào cản nhận thức tồn tại khi con người không thể nhận thức đầy đủ được vấn đề hoặc các thông tin để có cách giải quyết phù hợp Rào cản nhận thức xuất hiện trong quá trình học hỏi để tiếp nhận thông tin về thế giới khách quan của con người Rào cản

về cảm xúc xuất hiện khi những cảm xúc, tình cảm của con người xung đột với bối cảnh, hoàn cảnh cụ thể, do đó hạn chế khả năng phản ứng, và ra quyết định của con người Rào cản này tồn tại khi chúng ta nhận biết có sự tổn hại đến nhu cầu cảm xúc (loại nhu cầu khác biệt nhau về loại hình và cường độ ở mỗi cá nhân có thể là: nhu cầu

về thành công, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được ra mệnh lệnh, nhu cầu phụ thuộc và nhu cầu về lòng tự trọng Rào cản trí tuệ xuất hiện khi con người không đủ khả năng để hấp thụ thông tin, kiến thức cần thiết nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh) Rào cản trí tuệ tồn tại khi con người không có những kĩ năng tư duy cần thiết để tìm ra giải pháp phù hợp cho các vấn đề nảy sinh, hoặc không thể sử dụng chúng một cách tối ưu Rào cản về diễn ngôn là sự khó khăn khi cá nhân hoặc nhóm người không thể giao tiếp, hay diễn đạt ý muốn nói theo ngôn ngữ được sự thông hiểu của những người

Trang 17

12

khác Rào cản môi trường xuất hiện do những trở ngại, chướng ngại trong môi trường

tự nhiên hoặc xã hội cản trở việc con người đạt được hoặc giải quyết được những vấn

đề trong đời sống

Rào cản văn hóa xuất hiện khi những đặc trưng văn hóa biểu hiện qua hành vi được cho là khác thường, nằm ngoài những dự liệu về cách ứng xử văn hóa thông thường (theo tập tục, tập quán, theo nghi lễ, theo chuẩn mực xã hội ) Rào cản văn hóa tồn tại khi việc giải quyết vấn đề gặp trở ngại bởi sự khác biệt giữa một bên cho rằng giải pháp đó là phù hợp với thông lệ, trong khi bên còn lại có ý kiến hoàn toàn trái ngược Đứng trước một tình huống nan giải con người thường có thói quen tạo lập các giải pháp hơn là tìm hiểu nguyên nhân cốt lõi của vấn đề (nếu một việc không hoàn thành thì ngay lập tức người ta sẽ đặt câu hỏi tại vì sao việc đó lại không được hoàn thành hơn là đặt câu hỏi vì sao việc đó cần phải hoàn thành) Con người là chủ thể sáng tạo song cũng là những cá nhân không thích sự thay đổi bởi thay đổi thường liên quan đến những yếu tố bất định, khó biết trước được kết quả có thể xảy ra Bên cạnh những rào cản mang tính văn hóa cá nhân, thì tồn tại những rào cản văn hóa mang tính đại chúng như rào cản do niềm tin, rào cản do định kiến, rào cản giữa hợp tác và bất hợp tác, rào cản do những điều cấm kỵ, rào cản do khác biệt về giá trị

Lý thuyết về rào cản bên cạnh sự đa dạng và phong phú trong cách phân tích và diễn giải khái niệm, thì việc phân loại rào cản và tìm hiểu về nguyên nhân của các rào cản còn khá ít ỏi Do vậy hiện nay rào cản được nhận diện là những trở ngại, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thiết kế và thực thi các giải pháp nhằm ngăn trở sự vượt qua các giới hạn, chuẩn mực cho phép ở cả khía cạnh lý luận và thực tiễn Các phân loại rào cản dù đã được đưa ra song vẫn có những phần còn trùng lặp về nội dung, do

đó vẫn cần những nghiên cứu sâu hơn, hệ thống hơn về khái niệm này Một nhận thức sâu chuỗi trong đề tài này là rào cản và xung đột được đặt trong mối nguyên nhân và

hệ quả, trong đó rào cản càng thúc đẩy những hoạt động bất hợp tác trong quản lý thì khả năng xảy ra và tính phức tạp của những xung đột ngày càng tăng cao là không thể tránh khỏi Bởi tương tác này mà rào cản cũng được nhìn nhận như môi trường thuận lợi cho xung đột, và xung đột là hệ lụy tất yếu của sự phát triển các rào cản

Nghiên cứu này nhằm nhận diện rào cản liên kết trách nhiệm trong BVMT là các nhân tố, hành vi gây khó khăn, vướng mắc, cản trở sự hình thành “tính trội” trong hệ thống quản lý XĐMT của xã hội Rào rản này xuất hiện khi nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng không tìm được cách thức xử lý XĐMT xuất phát những khác biệt về nhận thức, văn hóa và lợi ích trong hoạt động BVMT và phát triển bền vững

1.2 XĐMT và các khái niệm liên quan

Bản chất của XĐMT

Theo cách hiểu thông thường xung đột là trạng thái bất đồng, xích mích do sự đối lập, đối kháng về nhu cầu, giá trị và lợi ích thực tế hoặc trong nhận thức Xung đột biểu hiện cho sự khác biệt trong quan điểm, cách thức hành động giữa các chủ thể về một đối tượng nhất định trong định hướng mục tiêu của mỗi bên, nó có thể là những đối kháng trực tiếp hoặc gián tiếp với những cấp độ khác nhau do nhiều tác nhân chi phối Điều cần nhấn mạnh ở đây là xung đột là một hiện tượng xã hội có tính tất yếu bao hàm cả các tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển chung của vũ trụ

Trang 18

13

Cơ sở chung của lý thuyết xung đột xã hội là tính chất không tương hợp giữa quyền lợi, địa vị xã hội chi phối các hành vi mỗi chủ thể tham gia xung đột Sự khác biệt giữa các nhu cầu, lợi ích, quyền thế làm cơ sở cho những đối kháng xảy ra, làm phân hóa xã hội tạo nên các tầng bậc quan hệ khác nhau Xung đột xã hội có thể được đặt trong tầm kiểm soát nếu các bên liên quan nhận diện được các đường biên của sự mặc cả và nhân nhượng trong khuôn khổ cam kết về lợi ích được đảm bảo giữa các

bên Do đó có thể nhận định xung đột xã hội là các quan hệ và các quá trình xã hội

mà ở đó có thể phân biệt hai hay nhiều cá nhân, hay nhóm có sự đối lập nhau trong những cách giải quyết vấn đề nhất định phát sinh từ sự không nhất trí về nhận thức, mục tiêu, lợi ích và quyền lực Trong bình diện chung về các dạng xung

đột xã hội, XĐMT nổi lên như một sự kiện gây nhiều chú ý của các học giả bởi tầm quan trọng và tính cấp thiết của các vấn đề môi trường sau một giai đoạn phát triển không kiểm soát của nền kinh tế thế giới

Khoảng giữa những năm 1980 nhà nghiên cứu Arthur Westing10 đã khơi dậy những ý tưởng đầu tiên mở rộng khái niệm an ninh cổ điển sang bao hàm các vấn đề mới như thay đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên Nghiên cứu của Westing mở đầu bằng trường hợp các cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, sau đó là cuộc chiến Algeria, các cuộc chiến chinh phục thuộc địa, các vùng lãnh thổ, theo sau

là cuộc nội chiến, chiến tranh ly khai thập kỉ 90 của thế kỷ XX Ông cho rằng, điểm chung nổi bật của những cuộc chiến này là việc tranh giành tài nguyên thiên nhiên như nước, khí đốt, ngư trường, sản phẩm từ đất và bản thân đất đai Những cuộc tranh luận

có tính liên ngành trên diện rộng về khái niệm này gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong giới chuyên môn cũng như trong giới chính trị gia cho tới cuối thời kỳ chiến tranh lạnh.Vấn

đề hàng đầu lôi kéo sự quan tâm của giới nghiên lúc đó là tìm câu trả lời cho câu hỏi:

Có hay không và trong trường hợp nào môi trường sinh thái có thể đe doạ đến an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu?

Đầu những năm 1990 đánh dấu sự tham gia tích cực của các nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa môi trường và xung đột, mà chủ yếu là về mối liên hệ nhân quả giữa khan hiếm, suy kiệt môi trường với các cuộc xung đột tại các quốc gia đang phát triển hoặc các quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi Dựa trên các trường hợp nghiên cứu về mối liên hệ giữa tài nguyên có thể tái tạo với sự suy giảm môi trường và các cuộc xung đột (kèm hành động bạo lực), phần lớn các giả thuyết cho rằng môi trường đóng vai trò quyết định hành vi con người, và xung đột do sự khan hiếm nguồn lực sẽ càng tăng cao khi tốc độ tăng dân số toàn cầu cũng tăng lên nhanh chóng Hai nhóm nghiên cứu nổi bật trong thời kỳ này là các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Toronto (đại biểu là Thomas Homer-Dixon)11; và các chuyên gia trong Dự án “Môi trường và Xung đột” (ENCOP)12 của Viện Công nghệ tại Zurich và Quỹ Hòa bình Thụy sĩ tại Bern Các nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích hậu nghiệm đối với trường hợp khan hiếm môi trường dẫn đến xung đột thông qua các quá trình xã hội – chính trị Vấn đề về XĐMT không chỉ dừng ở các nghiên cứu trường hợp, ở việc lý luận hóa các quan điểm về xung đột có chứa đựng các yếu tố môi trường mà đã được xem xét như một nỗ lực giải quyết cho tiến trình phát triển bền vững của con người

10

Arthur Westing, ed Global Resources and International Conflict: Environmental Factors in Strategic Policy and Action

(Oxford: Oxford University Press, 1986)

11

Val Percival and Thomas Homer-Dixon, “Environmental Scarcity and Violent Conflict: The Case of South Africa”, Journal of Peace Research, 35 (1998), tr 279-98; Daniel M Schwartz, Tom Deligiannis, and Thomas Homer-Dixon, “The Environment and Violent Conflict”, In: Environmental Conflict, op cit., tr 273-94

12

Günther Baechler, “Why Environmental Transformation Causes Violence: A Synthesis”, Environmental Change and Security Report, 4 (1998), tr 24-44

Trang 19

14

Như vậy, nghiên cứu về XĐMT được đề cập tới trước tiên liên quan đến giả định

về liên kết giữa các vấn đề nhân chủng học, tài nguyên dự trữ với hành vi bạo lực của con người Giữa những năm 90 của thế kỉ XX những tranh luận sôi nổi về chủ đề XĐMT bùng phát Các nghiên cứu trước thường tập trung vào khái niệm XĐMT trên hai khía cạnh là hình thức và các mối liên hệ nhân quả Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ giới hạn ở những ví dụ thực chứng như đấu tranh vì nguồn nước, xung đột liên quan đến tị nạn môi trường, hoặc những tranh cãi về vấn đề trách nhiệm trước sự biến đổi

khí hậu toàn cầu Các giả định đều nhằm minh hoạ cho mối liên hệ nhân quả giữa

môi trường và xung đột, đồng thời họ tìm kiếm những bằng chứng thực tế để chứng minh những giả định đó

Stephan Libiszewski13 đưa ra một tiếp cận mới nhằm làm rõ tính chất các nguyên nhân môi trường dẫn đến xung đột cũng như mối liên hệ nhân quả giữa các tiến trình sinh hoá trong tự nhiên và sự tăng lên của các xung đột giữa các nhóm xã hội Stephan

nhận định “sự thay đổi môi trường do con người phải được hiểu là sự can thiệp làm

mất ổn định trạng thái cân bằng của hệ sinh thái”14 Sự can thiệp của con người buộc

hệ sinh thái chuyển dịch sang vị trí cân bằng mới, tuy nhiên trạng thái này là sự tự điều chỉnh của tự nhiên đối với các nhân tố đã bị thay đổi, đó không hoàn toàn là sự chuyển biến có lợi cho chất lượng sống của con người mà hệ quả của nó có thể là sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên Điều cần lưu ý ở đây là thiên nhiên hay hệ sinh thái không tự

nó đánh giá được giá trị của mình, sự thay đổi môi trường do đó dẫn đến sự giảm sút giá trị hay sự suy giảm tài nguyên là dựa trên quan điểm nhận thức của mỗi người Do

vậy, khái niệm suy giảm môi trường là sự thay đổi môi trường do sự tác động của con người tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội loài người là cách thể hiện đúng đắn nhất những tư tưởng về nguyên nhân môi trường dẫn đến xung đột

Theo Stephan Libiszewski XĐMT cần phải được phân biệt với các dạng xung đột lợi ích khác trong xã hội15 Quan điểm về XĐMT của ông xuất phát từ việc phân biệt

sự khan hiếm trên bốn góc độ:

o Khan hiếm tự nhiên là dạng tài nguyên chỉ tồn tại với một lượng tài nguyên nhất định trên địa cầu

o Khan hiếm do yếu tố địa chính trị là do các nguồn lực thường phân bổ không đồng đều trên bề mặt trái đất khiến một số quốc gia buộc phải phụ thuộc vào sự phân phát của các quốc gia khác

o Khan hiếm do yếu tố KT-XH đề cập đến sự phân phối bất bình đẳng về các nguồn tài nguyên giữa các nhóm xã hội dựa trên quyền thừa kế và các quyền tài sản

o Khan hiếm do suy thoái môi trường: các tài nguyên thiên nhiên vốn đa dạng và trù phú bị trở nên khan hiếm do sự thất bại của con người trong việc áp dụng các biện pháp quản lý, nói cách khác đó là sự suy giảm môi trường dẫn đến tình trạng khan hiếm

13

Nhà nghiên cứu tại Center for Security Studies and Conflict Research, Swiss Federal Institute of Technology, Thụy Sĩ

14

Ví dụ nhận định trong nghiên cứu: Hiện tượng sa mạc hoá là một ví dụ điển hình: đó là hệ quả của việc làm biến mất thảm

thực vật và việc lạm dụng tài nguyên đất làm mất trạng thái cân bằng giữa thảm thực vật và vi khí hậu dẫn đến sự suy giảm lượng mưa và sói mòn đất Như vậy, hệ sinh thái sau đó sẽ tìm tới một trạng thái cân bằng mới, sự thay đổi môi trường là quá trình thích nghi và biến đổi

15

Ông đưa ra một ví dụ minh họa để phân biệt như sau: Đất đai nông nghiệp là một nguồn tài nguyên có thể tái tạo, sự tranh

chấp loại đất này chỉ được nhìn nhận là XĐMT khi đất trở thành đối tượng của sự tranh chấp do sự sói mòn đất, sự thay đổi khí hậu, sự thay đổi hướng chảy của dòng sông hoặc bất kì biểu hiện nào của sự suy giảm môi trường XĐMT không phải là các cuộc chiến tranh giành lại chủ quyền như chiến tranh Thế giới, chiến tranh phi thực dân hóa…hay với mục đích phân phối lại đất đai một cách công bằng hơn như cuộc nổi dậy chống chế độ cai trị

Trang 20

15

Theo đó, ông đưa ra định nghĩa: XĐMT là dạng xung đột có nguyên nhân từ sự khan hiếm nguồn tài nguyên môi trường, diễn giải cụ thể hơn thì đó là những đối kháng xuất phát từ việc con người làm “rối loạn” mức độ tái sinh/phục hồi thông thường của các yếu tố môi trường Sự giới hạn về phía môi trường đề cập đến các

nguồn lực có thể tái tạo song chúng trở nên khan hiếm do sự thất bại của con người trong việc áp dụng các phương pháp duy trì bền vững trong hoạt động quản lý của mình

Trong quan điểm đánh giá của Carius và Imbusch về XĐMT thì những sự thay đổi

môi trường và sự tăng lên của các nguồn tài nguyên khan hiếm đóng vai trò quyết định trong việc làm nảy sinh các xung đột Tuy nhiên chỉ ngay sau đó, họ lại bổ sung: sức

ép của môi trường có thể che dấu xung đột hoặc cũng có thể dẫn đến hành vi bạo lực

sẽ phụ thuộc vào chuỗi các biến tình huống/điều kiện KT-XH bao gồm : yếu tố/khung

cảnh văn hóa và truyền thống, các nhân tố chủng tộc-chính trị, cơ chế xã hội dân sự trong việc giải quyết các xung đột một cách hòa bình, sự ổn định của hệ thống chính sách trong nước, nói chung đó là năng lực xã hội, thể chế, kinh tế và công nghệ

Các cuộc tranh luận diễn ra trong suốt một thập kỉ giữa trường phái XĐMT và những người chống đối những phát kiến của họ16 Tựu trung, các nghiên cứu nhằm định nghĩa về XĐMT đều nhấn mạnh đến sự khan hiếm hoặc suy giảm tài nguyên là nguyên nhân cốt lõi cho hiện tượng biến đổi môi trường dẫn đến các xung đột trong xã hội loài người (cũng có một số người nhấn mạnh khía cạnh xã hội của XĐMT) Điều này cũng đồng nghĩa là các nghiên cứu về khái niệm và sự phân loại XĐMT đều thể

hiện thông qua các thực thể nằm ngoài con người Trong khi đó các nguồn lực dù

khan hiếm hay dồi dào chúng ta đều phải nhìn nhận đó là mối quan hệ giữa các nhóm người và hệ sinh thái của họ, và do đó không thể phủ nhận sự khan hiếm cũng sẽ bị quy định bởi sự phát triển của xã hội qua các thời kì17

Như vậy có thể xác định XĐMT là hiện tượng xảy ra ở điểm giao thoa của các nhân tố tự nhiên và xã hội, nó không hoàn toàn do nguồn lực tự nhiên chi phối hay yếu tố chính trị, xã hội chỉ định

Viện Khoa học Công nghệ châu Á (AIT) định nghĩa XĐMT là:

- Xung đột quyền lợi cộng đồng, vị trí nghề nghiệp và ưu tiên chính trị; là mâu

thuẫn giữa hiện tại và tương lai Kết quả của XĐMT có thể là xây dựng hoặc phá hủy phụ thuộc vào quản lý xung đột

- XĐMT là kết quả của việc sử dụng tài nguyên không công bằng do một nhóm

người gây ra cho nhóm khác

- XĐMT là kết quả của việc khai thác tài nguyên quá mức hoặc làm dụng tài

nguyên thiên nhiên

16

Nhiều bài viết cho rằng những tranh cãi về vấn đề xung đột gây ra bởi môi trường đã bị bế tắc và không hữu ích cho các

nhà làm luật cũng thực hiện sự hỗ trợ ngăn chặn các xung đột Gleditsch cũng đồng thuận rằng những nghiên cứu về XĐMT chỉ là những “đánh giá bi quan về những nguyên nhân xuất phát từ môi trường dẫn đến xung đột” Thậm chí, Tobias Hagmann còn không thừa nhận sự tồn tại của khái niệm XĐMT Tranh luận của ông bao gồm ba khía cạnh:

- Những nghiên cứu về các nguồn gốc ‘sinh thái của xung đột” bị ấn định bởi thuyết nhân quả phiến diện

- Lĩnh vực nghiên cứu về XĐMT đã trộn lẫn giữa các khái niệm lấy con người làm trung tâm và lấy sinh thái làm trung tâm

Trang 21

16

XĐMT xuất phát từ hiện tượng khan hiếm tài nguyên, xung đột tranh chấp về môi trường, sự xâm lược sinh thái của các nhóm, các tập đoàn xã hội và giữa các quốc gia

hay do chính sự mất khả năng phối hợp giữa các chức năng môi trường Đó cũng là

những xung đột (mâu thuẫn) về quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên môi trường Nhóm này muốn tước đoạt

lợi thế của nhóm khác trong việc sử dụng tài nguyên do đó dẫn đến những hành động đấu tranh giữa các nhóm để phân phối lại lợi thế về tài nguyên Một cách phát biểu

khác thì XĐMT là quá trình hình thành và phát triển những mâu thuẫn có tính đối

kháng giữa các nhóm xã hội trong khai thác và sử dụng các tài sản môi trường

Ngoài ra, XĐMT còn liên quan đến những cuộc đấu tranh giữa các nhóm xã hội trong

việc phân phối lại các nguồn tài nguyên, phong trào đấu tranh BVMT sống, chống lại

những tác nhân gây ô nhiễm môi trường, chống lại những nhóm xã hội đã tước đoạt

lợi thế về môi trường trước các nhóm xã hội khác

Từ các nghiên cứu về bản chất của XĐMT có thể nhận diện khái niệm này trên bốn phương diện sau18:

- Xung đột do môi trường: môi trường sống của con người gồm các dạng tài

nguyên không thể tái tạo và tái tạo qua vòng quay sinh thái Nhìn chung các dạng tài nguyên luôn có mức giới hạn về lượng và chất, nó không thể đáp ứng/thỏa mãn mọi nhu cầu sống ngày một đa dạng và tăng cao của con người Xung đột nảy sinh giữa loài người với giới tự nhiên vì sự khan hiếm tài nguyên nói chung, và do sự phân bổ tự nhiên của các nguồn tài nguyên này

- Xung đột vì môi trường: là dạng xung đột nảy sinh khi con người ý thức được các

quyền và lợi ích của họ gắn kết với các yếu tố môi trường bị đe dọa hoặc xâm phạm bởi chủ thể khác Các đương sự đấu tranh, hay tranh đoạt các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên nhằm đạt được lợi ích về kinh tế, hoặc nhu cầu về quyền lực của mình Có thể thấy sự hiện diện của dạng xung đột này qua tình huống một nhà máy trong quá trình sản xuất xả chất thải xuống khu vực trồng trọt của người nông dân khiến đất mất khả năng cung cấp các điều kiện sinh trưởng cho cây cối Dạng xung đột này cũng được nhìn nhận thông qua sự phân phối và tiếp cận các nguồn lợi tài nguyên trong xã hội không bình đẳng giữa các nhóm người

- Xung đột với môi trường: Trong hoạt động sống của mình loài người đã gây ra

những tác động phá hoại sự cân bằng sinh thái, ảnh hưởng tiêu cực đến các chức năng môi trường, dẫn đến các biến đổi bất lợi cho sự sinh tồn và phát triển qua các thế hệ Môi trường và con người tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ, điều này cũng

có nghĩa nếu những hoạt động của con người không đi ngược lại các quy luật của

tự nhiên, môi trường sẽ phát triển bền vững Song thực tế cùng với sự tiến bộ về KH&CN, con người ngày càng lún sâu vào hành động phá hoại các chức năng phục vụ sự sống của môi trường Sự cố thủng tầng Ozon là một bằng chứng cho thấy sự hành vi của con người thải ra các loại khí vượt quá ngưỡng chịu đựng của sinh quyển, và kết quả là sự nóng lên của trái đất hiện nay mà giới khoa học kết luận là hệ quả của hiệu ứng nhà kính Được đánh giá ở góc độ quản lý, xung đột với môi trường nằm trong phạm vi các nghiên cứu về phát triển bền vững từ việc

sử dụng một cách hợp lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên

- Xung đột của môi trường: Các chức năng của môi trường nếu được đảm bảo sẽ

đem lại điều kiện sống tốt nhất cho con người cũng như các loài sinh vật khác Tuy

18

Vũ Cao Đàm, Giáo trình Xã hội học Khoa học, Công nghệ và Môi trường,2006

Trang 22

17

nhiên trong vòng quay sinh hóa biến đổi liên tục không ngừng, bản thân các chức năng, các yếu tố trong môi trường cũng xảy ra các tranh chấp, hoặc có những đối kháng trong quá trình hoạt động của mình Sự vận động của hệ sinh thái khi đó sẽ bắt đầu chuyển dịch từ trạng thái cũ sang trạng thái cân bằng mới, do vậy xung đột của môi trường cần phải được nhìn nhận ở hai khía cạnh tiêu cực và tích cực đối với xã hội loài người trên cơ sở của sự thích nghi cũng như sự chuyển biến về chất được tạo thành qua xung đột

Các quan điểm về XĐMT hiện nay thường xem xét các dạng xung đột vì môi trường và với môi trường Với mỗi trường hợp nghiên cứu cụ thể, các XĐMT được quy về các dạng đặc thù nêu trên căn cứ vào đặc thù của các yếu tố môi trường tham gia vào xung đột, mức độ không tương đồng về lợi ích của các bên liên quan, mức độ tổn hại được các bên nhận thức

Điều cần nhấn mạnh ở đây là cách nhìn nhận, đánh giá về XĐMT trong quan hệ với sự biến đổi và phát triển của giới tự nhiên, xã hội và tư duy Với vai trò là một bộ phận của xung đột xã hội, XĐMT xuất hiện khi hai hoặc nhiều nhóm tin rằng lợi ích của họ là không tương xứng trong quyền sở hữu và tiếp cận tài nguyên, và bản chất của XĐMT không phải là một hiện tượng tiêu cực hoàn toàn Xung đột không bao hàm vũ lực là một bộ phận thiết yếu cho sự phát triển và biến đổi xã hội, việc giải quyết xung đột phi bạo lực góp phần tạo dựng sự tin tưởng của các cá nhân, các nhóm

xã hội đối với thiết chế nhà nước, cộng đồng và các tổ chức xã hội nhằm hài hòa hóa các quan hệ lợi ích

Mặc dù khái niệm XĐMT được mô tả theo những cách khác nhau song hầu hết đều thống nhất với nhau đó là sự xung đột về lợi ích giữa các nhóm xã hội trong khai thác

và sử dụng tài nguyên môi trường cụ thể là giữa các cộng đồng trong xã hội, giữa các quốc gia, và giữa bảo tồn và phát triển Trong nghiên cứu này khái niệm về XĐMT

được sử dụng làm nền tảng là: “XĐMT là xung đột về quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên môi trường Nhóm này muốn tước đoạt lợi thế của nhóm khác trong việc đấu tranh giữa các nhóm để phân phối lại lợi thế về tài nguyên 19

Mức độ XĐMT

XĐMT tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau từ giai đoạn tiềm ẩn như sự khác nhau trong mục đích, không tương hợp trong hành động dẫn đến sự hình thành của các nhóm đối lập Đến giai đoạn cao hơn là những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong khai thác sử dụng tài nguyên môi trường và chia sẻ nguồn lợi xuất hiện qua các sự công khai cách thức hoạt động của các nhóm trên Những mâu thuẫn này nếu không được giải quyết, nó sẽ phát triển lên mức cao hơn, gay gắt hơn, dẫn đến việc các nhóm tiến hành đấu tranh như mít tinh, biểu tình, khiếu kiện, và mức độ cao nhất là sự xuất hiện của các cuộc xung đột có vũ trang làm mất ổn định chính trị và xã hội Diễn trình của XĐMT được phản ánh qua sự tương tác giữa các yếu tố môi tường và các tác nhân kinh tế, chính trị, xã hội khác, trong đó mỗi hình thức kết hợp có thể biểu hiện cho mọi cấp độ xung đột

19

Vũ Cao Đàm, Giáo trình Xã hội học Khoa học, Công nghệ và Môi trường,2006

Trang 23

18

Biểu đồ 1: Minh họa về nguồn gốc và hệ quả của sự khan hiếm tài nguyên 20

XĐMT do đó có thể nhìn nhận ở các mức độ21:

Không nghiêm trọng: dạng xung đột không đưa tới những chênh lệch quá lớn về

mặt lợi ích, việc xử lý hay không xử lý cũng không lôi kéo sự quan tâm nhiều của các bên tham gia do hậu quả của xung đột là không lớn

Ít nghiêm trọng: dạng xung đột có thể dễ dàng được giàn xếp trên cơ sở thương

lượng tìm được phương án hài hòa được lợi ích các bên, hoặc nêu có thiệt hại cho một bên song thì đó là không lớn trong tương quan so sánh về mặt lợi ích lâu dài trong tương lai có thể đạt được

Nghiêm trọng: dạng xung đột xuất hiện có thể dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ

của các đương sự tham gia xung đột, nó gắn bó chặt chẽ với các vấn đề về lợi ích, quyền lực về tài nguyên của các nhóm trong xã hội bị xâm hại, hoặc bị đe dọa

Rất nghiêm trọng: là dạng xung đột bắt nguồn sự bất bình đẳng giữa các nhóm

trong sự phân phối và hưởng thụ các lợi ích tài nguyên dẫn đến các chênh lệch khác như quyền lực, địa vị,… khiến các đương sự buộc phải có hành động đối kháng mạnh

mẽ, thậm chí là đấu tranh vũ trang để cân bằng lại lợi ích trong xã hội

Các dạng XĐMT

Theo phân loại của Thomas Homer Dixon22 xuất phát từ tiếp cận XĐMT do cạn kiệt tài nguyên, ông đặt giả định rằng suy thoái môi trường nghiêm trọng sẽ dẫn đến ba loại hình xung đột đặc thù (Cũng cần nhấn mạnh rằng, sự tồn tại tách biệt thuần túy của mỗi loại hình xung đột này trong thực tế là khá hiếm hoi)

Các xung đột thuần túy do khan hiếm tài nguyên: XĐMT dạng này được giải

thích và dự báo bởi các lý thuyết cấu trúc chung (general structural theories) Xung đột xảy ra khi các quốc gia tính toán lợi ích của mình tại tổng bằng 0 hoặc tại tổng lợi ích giảm sút ngày càng tăng cao bởi sự khan hiếm tài nguyên XĐ này đặc biệt được lưu ý đối với ba loại tài nguyên cụ thể là nước sông, cá và đất sản xuất nông nghiệp Những tài nguyên có thể tái tạo này dường như có khả năng thổi bùng các cuộc xung đột bởi tính chất khan hiếm của nó ngày càng tăng cao nhanh chóng ở một số khu vực,

20

E Franklin Dukes, What We Know About Environmental Conflict Resolution: An Analysis Based on Research, Conflict resolution quarterly, vol 22, no 1–2, Fall–Winter 2004 © Wiley Periodicals, Inc., and the Association for Conflict Resolution

Trang 24

Các xung đột từ nhóm đồng nhất: Từ các nghiên cứu thực nghiệm về XĐMT

Thomas cho rằng tồn tại những luận cứ thực tế mạnh ủng hộ giả thuyết về XĐMT bởi

sự di dân (di cư) dẫn đến những mâu thuẫn, đối kháng với nhóm đồng nhất Sự di cư tạo nên những tác nhân đặc trưng đối với hệ sinh thái-xã hội Các chức năng giới tự nhiên, của nền kinh tế, chính trị, văn hóa lúc này sẽ tác động đến mối liên hệ giữa khan hiếm, di dân và xung đột Những người di cư thường là những đối tượng yếu thế và bị đẩy ra ngoài lề xã hội, điều này làm hạn chế các nhu cầu của họ Nhà nước lúc này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường tiếp nhận trước khi xung đột có khả năng nảy sinh, điều này phần lớn phụ thuộc vào chính sách của quốc gia đó Thiếu sự hỗ trợ này di cư sẽ tạo ra tình trạng nghèo đói, chết chóc hơn

là các xung đột vũ trang, và chính điều này cũng tạo nên sự bất ổn trong các quốc gia đó Những tranh chấp giữa các nhóm sắc tộc và văn hóa tiếp tục xuất hiện bởi các thực trạng thiếu hụt và căng thẳng XĐMT lúc này diễn ra giữa các nhóm đa sắc tộc, đa văn hóa hoặc giữa các quốc gia là kết quả tất yếu của sự di cư môi trường

Xung đột do sự thiếu hụt tương đối: Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy sự khan hiếm từ môi trường thúc đẩy sự suy giảm kinh tế và phá hủy các thiết chế xã hội, điều này lại tiếp tục tạo ra các xung đột như tình trạng nội chiến hay nổi loạn Sự suy giảm và cạn kiệt tài nguyên ảnh hưởng đến sức sản xuất của các quốc gia kém phát triển, theo đó sự thiếu hụt càng lúc càng lớn Như vậy XĐMT dạng này xuất hiện do ảnh hưởng về khía cạnh kinh tế của các sự thiếu hụt môi trường xoáy sâu vào sự phân hóa xã hội và sự bất mãn nói chung trong xã hội Nó thường xảy ra ở các xã hội bị phân tách với hệ thống pháp luật nhà nước còn nhiều hạn chế

Nghiên cứu về mối liên hệ giữa tài nguyên có thể tái tạo với xung đột được phân định về 4 dạng sau (dù rằng ranh giới giữa những dạng thức xung đột này còn nhiều điều chưa rõ ràng):

• Xung đột quốc tế trực tiếp: Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên ngày càng tăng cao bởi sức ép dân số cùng với sự thu hẹp lại khả năng đáp ứng của các nguồn lực này tạo nên

sự suy thoái hệ sinh thái, do vậy xuất hiện cuộc tranh giành giữa các quốc gia về nguồn cung hiện có Cuộc chiến tài nguyên khiến căng thẳng leo thang, tiếp tục thúc đẩy các giai đoạn đấu tranh giữa các quốc gia Nước hay dầu, hoặc bất kỳ tài nguyên nào có thể tái tạo và sinh ra lợi nhuận đều có thể trở thành nguồn lực quan trọng của nền kinh tế, biểu trưng cho sức mạnh quân sự của một quốc gia Khi nhu cầu về nước nằm ngoài khả năng cung cấp, quốc gia đó có khả năng tiến hành các hoạt động quân

sự (bảo vệ hoặc tấn công) dưới hình thức duy trì sự phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc gia

• Xung đột trong nước trực tiếp: Chưa có nhiều nghiên cứu chỉ ra khả năng về xung đột trực tiếp do tiếp cận tài nguyên trong phạm vi một quốc gia Điều này cũng dễ hiểu khi thiết chế pháp luật quốc gia tham gia vào việc xử lý các xung đột trực tiếp ngay khi vừa nảy sinh Trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng kênh đào ở sông Cauvery tại

Trang 25

• Xung đột trong nước gián tiếp: Khi XĐMT trong một quốc gia tăng lên do khan hiếm môi trường tương tác với các bối cảnh xã hội nhất định sẽ tạo ra những điều kiện chín muồi cho sự xuất hiện của xung đột Tương tự như cách lý giải về XĐMT quốc tế gián tiếp, XĐMT trong nước gián tiếp diễn ra khi cá tác nhân môi trường như suy thoái đất đai, ô nhiễm đất nông nghiệp, và ô nhiễm nguồn nước làm trầm trọng thêm các vấn đề

xã hội khác như đói nghèo, phân hóa chủng tộc, di cư, và phân phối không đồng đều

về các nguồn lợi kinh tế và chính trị Các nhà nghiên cứu đã làm rõ được mối liên hệ giữa sự lan rộng của các vi sinh vật và các bệnh tryền nhiễm (khởi phát do các điều kiện môi trường bị xuống cấp) với tình trạng sức khỏe về thể chất cũng như về kinh tế

- xã hội của cộng đồng Kết quả của sự kết hợp những bất ổn trên là xung đột trong phạm vi một quốc gia, nó có thể biểu hiện qua các cuộc bạo động có tính cách mạng, xung đột sắc tộc, tội phạm đô thị hoặc các cuộc đàn áp của chính phủ đối với công dân

Cách phân loại này cho thấy mối liên hệ giữa môi trường và xung đột không phải lúc nào cũng thẳng tắp, đa số các tác nhân môi trường đan xen vào mạng lưới phức tạp các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội để tạo ra xung đột Như vậy hoàn toàn khả năng các giải pháp cho xung đột được đề xuất từ việc nhận diện bản chất và nguyên nhân của xung đột như trên, các điều kiện môi trường và các nguồn tài nguyên

sẽ được xem là tâm điểm của các giải pháp giải quyết và ngăn ngừa xung đột từ cấp quốc gia đến cấp quốc tế

Căn cứ nguyên nhân xung đột, trong nghiên cứu môi trường người ta phân biệt những dạng xung đột sau:

1 Xung đột nhận thức là dạng xung đột có căn nguyên từ sự khác biệt nhau trong

hiểu biết của các nhóm, sự trái ngược nhau về quan niệm do văn hóa hoặc do khả năng lĩnh hội vấn đề có thể dẫn tới các hành vi khác nhau trong ứng xử với môi trường

2 Xung đột mục tiêu do sự khác biệt trong mục tiêu của các bên đương sự khi khai

thác hoặc phân phối các nguồn tài nguyên Sự xung khắc về mục tiêu hướng tới này thúc đẩy các nhóm xã hội có hành vi đối kháng nhau hoặc kết quả đạt được có

xu hướng “phủ định” lẫn nhau

Trang 26

21

3 Xung đột lợi ích xuất hiện khi các nhóm tranh giành lợi thế sử dụng tài nguyên,

muốn chiếm được các quyền ưu tiên đối với việc sở hữu hoặc phân phối tài nguyên trong xã hội Khi đó nhóm này muốn bảo vệ lợi ích của mình sẽ dẫn tới sự kháng

cự của bên bị xâm hại về mặt lợi ích Các nhóm có thể cùng mục đích song vẫn có thể tồn tại những lợi ích không tương đồng như hiện tượng nhà máy sản xuất xả thải gây ảnh hưởng đến nuôi trồng của người nông dân trong cùng khu vực

4 Xung đột quyền lực là trường hợp nhóm có quyền lực mạnh hơn, lấn át nhóm

khác để chiếm dụng lợi thế của nhóm khác Dùng sức mạnh của quyền lực có tính khác biệt để cạnh tranh hoặc tranh giành tài nguyên với nhóm khác trong xã hội là đặc trưng của dạng xung đột này

Các bên liên quan trong XĐMT

Từ việc phân tích các nguyên nhân dẫn đến XĐMT, việc chỉ ra các bên liên quan dựa trên việc xác định phạm vi quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi chủ thể đối với tài nguyên thiên nhiên XĐMT có thể xuất hiện dưới hai hình thức:

- Xung đột không phân chia chiến tuyến: trong nội bộ nhóm xã hội nảy sinh các tranh chấp về sử dụng và khai thác tài nguyên môi trường

- Xung đột có phân chia chiến tuyến: là xung đột giữa các nhóm xã hội khác nhau nhằm bảo vệ lợi ích của mình về các nguồn tài nguyên

Nghiên cứu này nhằm nhận diện xung đột tồn tại dưới hình thức có phân chia chiến tuyến giữa một bên là trách nhiệm xử lý XĐMT của nhà nước, một bên là trách nhiệm của doanh nghiệp và một bên là trách nhiệm của cộng đồng đối vối e-waste

Quan hệ giữa các đương sự của XĐMT23 bao gồm:

 XĐMT trong nội bộ cộng đồng dân cư (giữa dân với dân)

 XĐMT giữa dân cư và doanh nghiệp, hoặc các cơ sở sản xuất, thu gom, chế biến hoặc xử lý

 XĐMT giữa dân cư và cơ quản quản lý nhà nước

 XĐMT giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước

 XĐMT giữa các cơ quan quản lý nhà nước

Quản lý XĐMT

Ngay khi xuất hiện các nghiên cứu về XĐMT, thì việc xử lý và quản lý xung đột này như thế nào đã làm tốn không ít giấy mực của giới học thuật Nhà nghiên cứu E Franklin Dukes24 đã mô tả một cách khá chi tiết những nghiên cứu ban đầu về đề tài

này như sau: “Việc xây dựng các lý thuyết ban đầu về quản lý XĐMT tập trung vào

phương pháp hòa giải (nghiên cứu của Bacow and Wheeler, 1984; Bingham, 1986) Những khái niệm liên quan đến giải pháp hòa giải bao gồm: nâng cao nhận thức (nghiên cứu của Susskind, McKearnan, and Thomas-Larmer, 1999), hợp tác (nghiên cứu của Dukes and Firehock, 2001), quá trình học hỏi hợp tác (nghiên cứu của Daniels and Walker, 2001), kế hoạch hợp tác (nghiên cứu của Innes and Booher, 1999), quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách hợp tác ( nghiên cứu của Conley and Moote, 2001), hợp tác dựa trên cộng đồng (xem trong www cbcrc.org”)

Trang 27

22

Giới nghiên cứu đặc biệt giành sự quan tâm cho đề tài xử lý XĐMT xuất phát từ quan điểm xung đột không phải lúc nào cũng tạo ra những hiệu ứng tiêu cực, mà ngược lại nếu biết cách khai thác xung đột có thể tạo ra những biến chuyển xã hội tích cực Từ nhận thức này, việc xử lý xung đột được xác định dựa trên ba tiền đề căn bản:

 Xung đột là tất yếu

 Xung đột có thể đem lại lợi ích

 Xung xột có thể tạo xung đột lớn hơn

Xử lý XĐMT đòi hỏi sự tham gia tích cực và chủ động của các bên liên quan nhằm thiết lập một sự phân bổ hợp lý và quyền sở hữu tương xứng đối với tài nguyên thiên nhiên nói riêng, đối với môi trường sống của con người nói chung Quá trình xử lý XĐMT phải hướng đến giải pháp win-win trong đó quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự được thiết lập trên quan điểm cởi mở và thông hiểu, chia sẻ và hợp tác vì sự phát triển bền vững của cộng đồng, của nhân loại Trong đó có thể có sự tham gia của bên thứ ba với tư cách là nhà cố vấn hoặc bên hòa giải bởi thực tế XĐMT luôn chứa đựng những quan hệ phức hợp giữa các yếu tố môi trường kết hợp với các hệ thống sinh thái, kinh tế, chính trị, và xã hội

Xử lý XĐMT là điều kiện cần cho quá trình quản lý XĐMT nói chung – là mục tiêu

hướng đến của quản lý môi trường vì sự phát triển bền vững Cơ sở để quản lý

XĐMT là các giải pháp điều hoà quyền lợi trên cơ sở tôn trọng các chuẩn mực môi trường, đảm bảo các nguyên tắc về mặt kĩ thuật và các nhân tố đạo đức xã hội không bị xâm phạm Tiêu chuẩn này không là bất biến mà luôn đi cùng sự tiến bộ

của xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực KH-CN, hay sự cấp tiến trong nhận thức của xã hội Trong những trường hợp không thể tìm kiếm được những giải pháp thoả hiệp để chia

sẻ lợi ích, thì nhà nước sẽ tham gia và cân bằng bằng áp chế theo luật định Khi đó quản lý XĐMT ở đây chính là việc sử dụng các thiết chế xã hội, hệ thống pháp luật và chính sách để thiết chế lập lại trật tự mới trong việc khai thác và sử dụng các tài sản môi trường Qua đó làm giảm đi sự bất bình đẳng xã hội trong phân bố các tài sản môi trường trên cơ sở quản lý theo quá trình các xung đột ngay từ giai đoạn tiềm ẩn chứ không phải để đến mức độ gay gắt, nghiêm trọng mới giải quyết

Nghiên cứu này hướng đến cách tiếp cận tổng hợp sau: Quản lý XĐMT là sự điều khiển hành vi của những con người khác hoặc nhóm người trong cộng đồng (yếu

tố trực tiếp), nhằm định hướng cho họ tác động lên các yếu tố của môi trường (yếu

tố gián tiếp), sao cho có thể duy trì được một chuẩn mực chất lượng môi trường phù hợp với chuẩn mực được một cộng đồng chấp nhận.” (Vũ Cao Đàm, 2002)

1.3 E-waste và các khái niệm liên quan

Rác thải là những vật hoặc chất liệu không còn đáp ứng được nhu cầu và mong muốn sử dụng, hoặc sinh ra những chất độc hại và thường được đề cập đến dưới tên gọi như: đồ thải bỏ, rác, chất thải rắn, chất thải nguy hại tùy thuộc vào tính chất của vật chất và thuật ngữ vùng miền Theo quan điểm của Liên minh Châu Âu rác là đối tượng được loại bỏ bởi chủ sở hữu, hoặc bắt buộc bị yêu cầu loại bỏ theo Chỉ thị khung về rác thải (European Directive 75/442/EC) Một vật hay chất được coi là rác cho đến khi nó được tái chế hoàn toàn và không tạo ra bất kỳ một đe dọa tiềm năng nào đối với môi trường và sức khỏe con người Điểm a Khoảng I trong Chỉ thị hội đồng số 75/442/EEC quy định về chất thải ban hành ngày 15/7/1975, rác thải là bất cứ vật hoặc chất bị loại bỏ hoặc bị yêu cầu loại bỏ để phù hợp quy định của pháp luật” Là

Trang 28

23

một bộ phận của rác thải nói chung, E-waste mang đầy đủ các đặc trưng của rác thải thông thường, ngoài ra còn chứa đựng những nét đặc thù riêng của loại hình rác “rất quý” song cũng “rất độc”

Khái niệm e-waste được chính thức ghi nhận trong Chỉ thị số 2002/96/EC về thiết

bị điện và điện tử bị thải bỏ (WEEE) được áp dụng vào 27/1/2003 và có hiệu lực vào 13/2/2003 Khái niệm e-waste trong chỉ thị được xác định là các bộ phận, các phần tháo rời, các vật tư, phụ kiện cấu thành sản phẩm bị thải hồi Các sản phẩm hay thiết bị này phụ thuộc vào dòng điện hoặc điện trường để có thể vận hành được bình thường, hoặc các thiết bị có thể sinh ra, truyền tải và đo lường dòng điện hoặc điện trường…

và được thiết kế để sử dụng với hiệu điện thế không quá 1000 Volt cho dòng điện xoay chiều và 1500 Volt cho dòng điện 1 chiều (European Union 2003)

Bảng 1 Phân loại e-waste theo Chỉ thị số 2002/96/EC của Liên minh Châu Âu STT Chủng loại Nhãn

3 Thiết bị công nghệ thông tin và viễn thông ICT

6 Dụng cụ điện và điện tử (với ngoại lệ là

thiết bị văn phòng cỡ lớn)

E&E tools

7 Đồ chơi, thiết bị giải trí và đồ thể thao Toys

9 Dụng cụ kiểm soát và giám sát M&C

Theo quan điểm của OECD (www.oecd.org) e-waste là mọi thiết bị gia dụng tiêu thụ điện năng và đã đạt đến cuối vòng đời sử dụng

E-waste là khối lượng thiết bị điện tử từ các thiết bị gia dụng cỡ lớn như tủ lạnh, điều hóa, điện thoại di động, thiết bị âm thanh cá nhân, các thiết bị điện tử tiêu dùng cho đến máy tính cá nhân (Puckett et al 2002, p 5)

E-waste là thiết bị điện và điện tử không còn nhu cầu sử dụng như dự định ban đầu, nhưng có thể được tái sử dụng hoặc tái chế thành sản phẩm mới (County of San Bernardino 2004)

E-waste là cách gọi phổ biến nhưng không chính tắc cho các sản phẩm điện tử đã hoạt động đến cuối vòng đời của chúng như: máy tính cá nhân, ti vi, VCRs, máy thu phát, máy photo, máy fax và sản phẩm điện tử nói chung… Chưa có cách hiểu rõ ràng

về E-waste, như việc quyết định danh sách liệu một vật như lò vi sóng, và các thiết bị tương tự khác có nên được đưa vào phân loại rác thải này hay không (California Integrated Waste Management Board 2005)

E-waste là thiết bị điện tử với phạm vi bao phủ từ các thiết bị gia dụng cỡ lớn nhu

tủ lạnh, điều hòa, máy điện thoại di động, thiết bị âm than hcas nhân, sản phẩm điện tử tiêu dùng đến máy tính cá nhân E-waste là loại rác thải độc hại, nó duy trì tố độ tăng lên nhanh chóng phụ thuộc vào tốc độ mau lỗi thời của các sản phẩm trên E-waste có thể chứa đựng tới hơn 1000 hoạt chất khác nhau, rất nhiều trong số đó là các chất độc

Trang 29

bị viễn thông hoặc giải trí trong các gia đình hoặc doanh nghiệp (Từ điển trực tuyến Wikipedia 2006)

Theo định nghĩa của Mạng lưới hành động công ước Basel (www.ban.org), e-waste bao gồm một khối lượng lớn các thiết bị điện tử từ thiết bị điện gia dụng như tủ lạnh, điều hòa, máy điện thoại cố định, hệ thống âm thành và các thiết bị tiêu hao điện năng cho tới các máy tính cá nhân bị thải bỏ bởi người sử dụng

Các nỗ lực làm rõ nội hàm của khái niệm E-waste cho thấy cách giải thích có xu hướng đi từ cách tiếp cận khái quát đến cụ thể, từ chưa rõ ràng đến rõ ràng hơn, từ việc chỉ ra một số đặc trưng của loại hình rác thải này đến việc chi tiết hóa tên gọi của một

số thiết bị cụ thể bị thải bỏ E-waste ở một số quy định hay một số quốc gia chỉ được quan niệm là rác thải điện tử, trong khi phần lớn các quốc gia phát triển, các tổ chức quốc tế quan niệm đây là e-waste Các định nghĩa nêu trên dù đã được thừa nhận sự tồn tại trong danh mục từ vựng cũng như thể hiện ý nghĩa trong đời sống thực, nhưng chưa hoàn toàn đạt được sự đồng thuận chung của giới nghiên cứu

Về bản chất E-waste mang những đặc tính lý học và hóa học tương đối khác so với rác thải đô thị hay rác thải công nghiệp Đặc biệt e-waste không chỉ đơn thuần là những chất liệu có thể gây độc hại cho đời sống của con người nói riêng, của trái đất nói chung mà còn chứa đựng những kim loại quý hiếm, có giá trị nhất định đối với sự phát triển xã hội Vì vậy e-waste đòi hỏi phải được xử lý và tái chế theo phương thức đặc thù để giảm bớt các tác động bất lợi đến môi trường và sức khỏe con người, tận thu được những kim loại quý và kim loại thông thường

Phần lớn các định nghĩa đề cập đến khía cạnh thiết bị cần được loại bỏ, và chỉ đưa

ra mô tả chung chung hoặc mang tính biểu thị đối với nội dung thứ 2, có lẽ bởi tính chất thay đổi, biến đổi liên tục của loại hình chất thải này qua thời gian

Ngoại trừ vấn đề chi phí cao cho nhân công lao động, hệ thống luật pháp về môi trường hà khắc thì đây là lĩnh vực được sự tham gia tích cực của các quốc gia Châu Á, đặc biệt là hai nước Trung Quốc và Ấn độ với các phương pháp xử lý lỗi thời, không phù hợp để bảo vệ được người lao động Đến nay loại bỏ e-waste đã trở thành sự kiện thu hút sự quan tâm của các nhà chính khách, cac tổ chức phi chính phủ như Greenpeace (www.greenpeace.org), Basel Action Network (www.an.org), Silicon Valley Toxics Coalition (www.svtc.org) và cộng đồng nghiên cứu

Trong các nghiên cứu cũng như quy định pháp luật của VN cho thấy rác thải điện

tử chưa được đặt ra như một khái niệm cần làm rõ nội hàm Bởi chưa được phân lập, tách biệt ra khỏi những loại hình rác thải nói chung (rác thải đô thị, rác thải công nghiệp,…) do đó E-waste tại VN hiện nay có thể được xem là dạng chất thải nguy hại Đánh giá này dựa trên sự so sánh các đặc trưng của chất thải nguy hại và các đặc điểm

Trang 30

155/1999/QĐ-đã được nêu tại Khoản 2, Điều 3 như sau: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các

chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người”

- Theo Luật BVMT số 52/2005/QH11 của Quốc hội nước CHXHCN VN: “Chất thải

nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phúng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”

Tuy có sự khác nhau về từ ngữ nhưng cả hai định nghĩa đều có nội dung tương tự nhau, giống với định nghĩa của các nước và các tổ chức trên thế giới, đó là nêu lên đặc tính gây huy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng của chất thải nguy hại Luật BVMT ban hành sau này nêu định nghĩa ngắn gọn hơn, rõ ràng hơn và gần như là sự khái quát của định nghĩa trong Quy chế quản lý chất thải nguy hại Theo định nghĩa, là một dạng của chất thải nguy hại với các đặc tính lý hoá hoặc sinh học, E-waste đòi hỏi phải có một quy trình đặc biệt để xử lý hoặc chôn lấp nhằm tránh những rủi ro đối với sức khoẻ con người và những ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường Đến nay, tại VN rác thải điện tử được chính thức nhắc đến trong Danh mục chất thải nguy hại ban hành theo Quyết định số: 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên Môi trường

Các đặc điểm lý hóa của e-waste

E-waste chứa đựng những hợp chất, kim loại độc hại có thể gây nguy hiểm cho con người và môi trường sống Hơn 1000 chất có trong E-waste bao gồm dung môi clo, hợp chất chống cháy gốc brom, nhựa PVC, kim loại nặng, chất dẻo và khí ga… được sử dụng để chế tạo sản phẩm điện tử và các bộ phận của chúng như chip bán dẫn, bảng mạch và ổ đĩa Màn hình CRT và màn hình TV chứa từ 1,8 – 3,6kg chì, khi chúng được phá vỡ vá chôn xuống đất, những hóa chất độc hại sẽ ngấm vào mạch nước ngầm Mặc dù các màn hình LCD hiện nay đã chiếm ưu thế trong thị trường thay thế cho dòng CRT nhưng con người vẫn phải tiếp tục đối diện với các vấn đề ô nhiễm thủy ngân do các màn hình LCD đều sử dụng đèn thủy ngân Chỉ với vài milligram thủy ngân sử dụng trong mỗi màn hình LCD cũng đủ gây các tác động nguy hại (với 1 gram thủy ngân trong không khí kết tủa hàng năm tại mặt hồ rộng 20 mẫu đủ làm ô nhiễm nguồn nước ở mức cá ở đó không thể sử dụng để làm lương thực) Dù còn nhiều tranh luận về giả định “40% kim loại nặng bao gồm chì, thủy ngân, cadmium được tìm thấy ở các khu chôn lấp có nguồn gốc từ việc hủy bỏ các thiết bị điện và điện tử” thì đây vẫn được xem là một vấn đề đáng lo ngại trong giai đoạn hậu công nghiệp Đối với các máy tính cá nhân được chế tạo vào khoảng những năm 1990, tính trung bình mỗi chiếc chứa từ 0,25 – 1 gram vàng, bạch kim và bạc (Biddle 2000, p 22) Trong năm 1996 có tới 55% linh kiện của mỗi một PC không được tái chế, đồng nghĩa với việc lãng phí 34$ cho một sản phẩm (Microelectronics and Computer Technology Corporation 1996 cited in Biddle 2000, p.26) Do sức ép về nguyên liệu hiện này, các nhà máy sản xuất có xu hướng sử dụng nhựa thay thế cho một số phụ kiện bằng kim loại, điều này càng làm trầm trọng các tác động độc hại và gây khó khăn cho việc tái chế Cho đến năm 2000 những chiếc PC đã giảm tới 90% các nguyên liệu quý vốn được sử dụng vào thời điểm năm 1996 (Biddle 2000, p 22) Về tác động sinh lý và

Trang 31

26

ảnh hưởng về sức khỏe do nồng độ các chất ô nhiễm độc hại của e-waste đối với con người và động vật, kết quả Dự án phát triển danh mục e-waste, pha I về nghiên cứu và phát triển nổi dung – tổng quan tình hình nghiên cứu được thực hiện bởi Nhóm The Natural Edge cho thấy:

- Khả năng gây rối loạn hệ thống nội tiết bao gồm estrogen, androgen, nội tiết tố tuyến giáp, hệ thống corticosteroid (loại học môn do vỏ thượng thận tổng hợp) và retinoid, ức chế khả năng tiếp nhận nội tiết tố androgen, và khả năng bắt chước estrogen tự nhiên dẫn đến sự phát triển giới tính lệch lạc ở một số loài

- Gây tổn hại đến hệ sinh sản của con người, bao gồm hạn chế sự phát triển của tinh hoàn, giảm khả năng sản xuất và chất lượng tinh dịch, gây dị dạng tinh trùng, khả năng đậu trứng thấp, và tỉ lệ sinh giảm sút

- Gây tổn hại DNA trong tế bào bạch huyết, gây độc tính đối với thai nhi, chậm phát triển, não phát triển bất thường, suy giảm trí tuệ và tác động lâu dài đến trí nhớ, khả năng học tập và hành vi

- Gây tổn hại đến hệ thần kinh trung ương, hệ thống tuần hoàn máu, bao gồm suy giảm CNS và nhiễm độc thần kinh, suy giảm hệ miễn dịch như ngăn cản các enzim

tế bào máu quan trọng

- Gây tổn thương đến não bộ như sưng não; tổn thương gan như hoại tử gan; ảnh hưởng đến thận như nhiễm độc thận; tổn hại đến tuyến giáp, tuyến tụy, hạch bạch huyết, lá lách, và xương như nhiễm độc xương

- Làm tăng huyết áp (áp suất trong máu cao); tổn hại đến tim mạch và gây ra bệnh tim, dị ứng đường hô hấp

- Gây nôn mửa, đau đầu, chóng mặt và buồn nôn

- Liên quan đến các nguyên nhân gây viêm da, tổn thương da; gây ung thư thông qua việc phát triển các khối u, gây ung thư phổi, thiếu máu, CBD (Chronic Beryllium Disease - căn bệnh hiện nay vẫn chưa có cách cứu chữa, nếu bệnh trở nên trầm trọng thì người bệnh có nguy cơ tử vong cao), và tử vong

Những biểu hiện bệnh tật do tác động của các chất độc hại trong e-waste đến thực

tế sức khỏe của con người là bởi các vật liệu chế tạo thiết bị điện và điện tử chứa những hợp chất, kim loại nếu tách rời, và chỉ với một hàm lượng nhỏ cũng có khả năng gây độc tính cao Một số hợp chất và kim loại nặng có trong các sản phẩm, thiết

bị điện và điện tử hiện nay gây độc hại đối với sức khỏe và môi trường sống của con người gồm:

- Chì: Phơi nhiễm chì có thể dẫn đến các rối loạn nhận thức ở trẻ em, làm hủy hoại

hệ thần kinh, tuần hoàn và hệ sinh sản ở người lớn Theo nghiên cứu của các chuyên gia Cơ quan BVMT Hoa Kỳ (EPA), cực ca-tốt (CRT) trong các monitor đời cũ có chứa xấp xỉ 10.000 tấn chì

- Thủy ngân: dùng trong các thiết bị chiếu sáng và màn hình phẳng có nguy cơ hủy

hoại não bộ và hệ thần kinh trung ương, đặc biệt trong giai đoạn phát triển sớm ở trẻ Thủy ngân là chất độc dù là với liều lượng thấp, có thể xâm nhậm vào cơ thể trẻ em thong qua đường sữa mẹ Trong báo cáo 2000 trang của Viện Khoa học quốc gia Hoa Kỳ cho biết có hơn 60.000 trẻ em được sinh ra hàng năm bị hạn chế

sự phát triển của hệ thần kinh do bị nhiễm hợp chất của thủy ngân từ trong bào thai

Trang 32

27

- Cadmium: sử dụng trong pin sạc máy tính, các công tắc, các CRT đời cũ, có thể

tích tụ trong môi trường, với hàm lượng độc tính cao sẽ gây ảnh hưởng đến thận và

hệ xương Cadmium được biết đến là chất gây bệnh ung thư, khi tích lũy trong cơ thể người có thể trở thành tác nhân phá hủy chức năng của thận

- Hợp chất crôm hóa trị sáu: sử dụng trong các sản phẩm đồ gia dụng bằng kim

loại, là những chất sinh ung thư, cực kỳ độc hại với con người

- Nhựa: (bao gồm cả PVC- một dạng nhựa khử clo) có thể lên tới 6.25 kg cho mỗi

chiếc máy tính Nhựa được sử dụng trong chế tạo bảng mạch in, trong các thiết bị kết nối, vỏ nhựa và dây cáp Dioxin và furan được giải phóng trong quá trình sản xuất và đốt hủy PVC Những hóa chất này cực bền trong môi trường và rất độc dù với lượng tập trung thấp Các phụ liệu hóa chất nguy hại (như phthalate) có thể khi chôn lấp các sản phẩm điện tử được chôn lấp, nếu đốt cháy PVC có thể sinh ra dioxin (nhóm hóa chất tổng hợp đã được kiểm chứng có thể gây tổn hại cho hệ thống miễn dịch và hệ sinh sản) Cục BVMT của Hoa Kỳ ước tính hàm lượng chất độc dioxin trong môi trường hiện nay đã gần tới mức có thể quan sát được những

hệ quả về sức khỏe ở cả con người và động vật

- Một số chất chống cháy có gốc brôm (BFRs): được sử dụng trong các bảng mạch

và các vỏ nhựa của đồ điện - điện tử, có kết cấu bền, rất khó phá vỡ, sẽ tích tụ lại trong môi trường Phơi nhiễm lâu dài với độc chất này có thể dẫn đến chức năng học hỏi, nhận thức và ghi nhớ kém Chất chống cháy gốc brom có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh sản, đến sự phát triển bình thường của con người Các nghiên cứu gần đây về bụi trên máy tính tại công xưởng và các hộ gia đình đã phát hiện ra chất chống cháy dạng này có trong hầu hết các mẫu xét nghiệm Một loại hoạt chất của BRFs được tìm thấy trong sữa của phụ nữ tại Thụy Điển và Hoa Kỳ Việc thiêu hủy nhựa có chứa BFRs sẽ sinh ra các hoạt chất dioxin có gốc brom và furan

Hợp chất hữu cơ bền vững (POPs) có khả năng tồn tại lâu trong môi trường, có khả năng tích lũy sinh học cao thông qua chuỗi thức ăn dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng

về sự phát triển của giới tự nhiên, loài người và chất lượng môi trường sống PCBs thuộc trong nhóm 21 chất hữu cơ khó phân hủy (POPs) quy định trong Công ước Stockholm yêu cầu phải quản lý an toàn, tiêu hủy an toàn, nghiêm cấm các hoạt động kinh doanh có thể dẫn đến việc tái chế hoặc tái sử dụng POPs Polychlorinated biphenyls (PCBs) là một nhóm các hợp chất nhân tạo được sử dụng rộng rãi trước đây, chủ yếu trong các thiết bị điện nhưng đã bị cấm vào cuối những năm 1970 ở nhiều nước bởi những nguy cơ gây hại cho môi trường và sức khỏe Tuy nhiên, PCBs là những hợp chất rất bền vững, hiện nay chúng vẫn còn tồn tại trong môi trường Đến nay Cục BVMT Hoa Kỳ cho rằng những bằng chứng rõ ràng trong các nghiên cứu trên con người là không hợp lý để xác định PCBs có thể gây ra bệnh ung thư, tuy nhiên các nghiên cứu trên động vật cho thấy sự hình thành của các congener có hoạt động tương

tự dioxin và thúc đẩy sự phá triển của các khối u thông qua các hình thức khác nhau,

hệ quả của PCBs đối với sức khỏe rõ ràng là lâu dài Công bố của Tạp chí The Greenfact của WHO về tác động của PCBs đã chỉ ra PCBs có khả năng phá huỷ phổi,

dạ dày và tuyến tuỵ Phơi nhiễm với liều lượng thấp PCBs trong một thời gian ngắn có thể gây trở ngại cho chức năng của gan và tuyến giáp, còn trong thời gian dài có thể dẫn đến ung thư gan Quá trình tích lũy sinh học và khuếch tán sinh học có thể làm đọng lại trong các động vật ăn thịt dưới nước, đặc biệt là động vật có vú, cũng như các loài chim biển, và sau cùng là con người (qua quá trình tiêu thụ các loại động vật)

Trang 33

28

Tại VN, waste là được quy định trong Danh mục các chất thải nguy hại bởi waste, hay các phế liệu từ sản phẩm điện và điện tử có nguy cơ cao đối với sức khỏe con người, khi tương tác với các điều kiện trong môi trường chúng biểu hiện một hoặc một số tính chất sau25:

e Dễ nổ (N): Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng mà bản thân chúng có thể nổ do kết quả của phản ứng hoá học (tiếp xúc với ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát), tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường xung quanh

- Dễ cháy (C): Bao gồm:

+ Chất thải lỏng dễ cháy: là các chất lỏng, hỗn hợp chất lỏng hoặc chất lỏng chứa chất rắn hoà tan hoặc lơ lửng có nhiệt độ chớp cháy không quá 550C

+ Chất thải rắn dễ cháy: là các chất rắn có khả năng sẵn sàng bốc cháy hoặc phát lửa

do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển

+ Chất thải có khả năng tự bốc cháy: là chất rắn hoặc lỏng có thể tự nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có khả năng bắt lửa

- Ăn mòn (AM): Các chất thải, thông qua phản ứng hoá học, sẽ gây tổn thương nghiêm trọng các mô sống khi tiếp xúc, hoặc trong trường hợp rò rỉ sẽ phá huỷ các loại vật liệu, hàng hoá và phương tiện vận chuyển Thông thường đó là các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axit mạnh (pH nhỏ hơn hoặc bằng 2), hoặc kiềm mạnh (pH lớn hơn hoặc bằng 12,5)

- Oxi hoá (OH): Các chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng oxy hoá toả nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất đó

- Gây nhiễm trùng (NT): Các chất thải chứa các vi sinh vật hoặc độc tố được cho là gây bệnh cho con người và động vật

- Có độc tính sinh thái (ĐS): Các chất thải có thể gây ra các tác hại ngay lập tức hoặc

từ từ đối với môi trường, thông qua tích luỹ sinh học và/ hoặc tác hại đến các hệ sinh vật

Phân tích trên cho thấy các tác động của e-waste bởi các độc tính trong các hoạt chất, vật liệu cấu thành sản phẩm điện và điện tử đối với sức khỏe con người hiện nay vẫn còn nhiều nghi ngại, dù rằng các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng bản chất của nguyên liệu đó đã đủ để gây hại cho sự tồn tại và phát triển giống nòi con người nói riêng và thế giới sinh vật nói chung

Nguồn gốc của e-waste và sự gia tăng e-waste

25

Các tính chất của chất thải nguy hại được quy định trong Danh mục chất thải nguy hại ban hành theo Quyết định số: 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên Môi trường

Trang 34

- Các công ty, hiệp hội và chính phủ

Các cơ quan của chính phủ, các tập đoàn, các công ty, các hiệp hội và các thể chế tài chính khác là những tổ chức góp phần sinh ra khối lượng e-waste khổng lồ Sự thay thế các thiết bị điện và điện tử ở các cơ quan nhà nước, hiệp hội thường thấp hơn tốc

độ thay thế ở các thiết chế còn lại Đó là bởi các công ty, các tập đoàn phải luôn phải chịu sức ép cạnh tranh, giành thị phần, họ phải thường xuyên đổi mới công nghệ, thay thế chúng chỉ trong vòng từ 2-3 năm

- Nhập khẩu từ các quốc gia, khu vực khác: Bên cạnh e-waste có nguồn gốc do các sản

phẩm điện và điện tử bị thải bỏ trong nước, còn là sự xuất hiện và ngày càng tăng cao

số lượng e-waste được nhập khẩu từ các quốc gia khác Đặc biệt ở các nước đang phát triển và quốc gia ở thế giới thứ 3, khi tiềm lực tài chính còn nhiều hạn chế, nhu cầu về thông tin và đổi mới công nghệ phục vụ đời sống tăng cao, khi chi phí tái chế và tái sử dụng e-waste tại các quốc gia phát triển cao hơn so với việc xuất khẩu sang các quốc gia khác, thì bằng con đường như “hỗ trợ”, “tài trợ”, hoặc những hình thức thiếu minh bạch khác e-waste được nhập khẩu vào như các sản phẩm secondhand để được tiếp tục

- Sản phẩm đã quá thời gian sử dụng

- Chất bẩn là kết quả của các chương trình hành động (ví dụ: chất cặn/chất dư thừa

từ hoạt động làm sạch, đóng gói nguyên liệu, chuyên chở )

- Hóa chất hoặc vật chất bẩn sinh ra trong quá trình sản xuất xuất

- Các chất hoặc sản phẩm sinh ra từ hoạt động y tế đối với nhiễm bẩn đất đai

- Các sản phẩm bị mất chức năng ban đầu

- Các hoạt chất không thỏa mãn được nhu cầu sử dụng

- Phế thải sinh ra từ quá trình làm giảm ô nhiễm

- Phế thải sinh ra từ quá trình lắp ráp và hoàn thiện

- Phế thải sinh ra từ quá trình xử lý nguyên liệu thô

Trang 35

30

Xác định nguồn gốc phát thải e-waste dù theo phương thức chủ thể phát thải hay cách thức tạo ra e-waste thì có một thực tế không thể phủ nhận là với mỗi nguồn gốc khối lượng e-waste được xác định ngày càng tăng cao cùng với các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của con người

Bảng 2 Khối lượng e-waste và ước tính vòng đời sử dụng 26

STT Sản phẩm Khối lượng

(kg)

Ước tính vòng đời (năm)

về KH&CN sẽ thúc đẩy các sáng kiến trong sản xuất và tiêu dùng, điều này càng góp phần khiến vòng quay thải bỏ sản phẩm điện và điện tử ngày càng ngắn dần Theo Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), vòng đời của một chiếc máy tính đã giảm từ 6 năm xuống còn 2 năm; còn vòng đời của một chiếc ĐTDĐ là dưới 2 năm Do vậy một thực tế không thể phủ nhận số lượng e-waste giữ xu hướng tăng nhanh với tốc độ tăng cũng gấp nhiều lần so với trước đây

26

G Gaidajis*, K Angelakoglou and D Aktsoglou, E-waste: Environmental Problems and Current Management, Journal of Engineering Science and Technology Review 3 (1) (2010) 193-199

Trang 36

31

1.4 Vai trò của nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong xử lý XĐMT

1.4.1 Vai trò của nhà nước trong xử lý XĐMT

Xã hội loài người tổ chức nên nhà nước chính bởi cần có cơ chế để bảo vệ và thực hiện các quyền tự nhiên và thiết yếu của con người Thông qua các luật lệ, và các biện

pháp giám sát thực hiện, nhà nước thực hiện vai trò đảm bảo những nhu cầu cơ bản

nhất của sự sinh tồn và lẽ sống của con người nên được nhân dân thể hiện thành pháp luật căn bản của loài người và sau mới là các pháp luật thứ phát do nhà nước sáng tạo nên 27

Nhà nước bên cạnh khả năng đảm bảo sự hiện diện về quyền lực của lực lượng chiếm ưu thế trong xã hội, còn là vai trò duy trì các quyền lợi hợp lý của các thành viên, các nhóm trong xã hội, cung cấp dịch vụ công, thu hẹp, xóa bỏ khoảng cách chênh lệch thu nhập, đảm bảo an ninh, an sinh và phúc lợi xã hội BVMT và phát triển bền vững là yêu cầu thiết thân của các quốc gia trong quá trình phát triển, đòi hỏi vai trò nhà nước được thể hiện quá các hệ thống chính sách ràng buộc hành vi cá nhân, tổ chức trong xã hội vào mục tiêu này Như vậy, xử lý XĐMT có thể được nhìn nhận với

tư cách là một hoạt động quản lý của nhà nước thúc đẩy những can thiệp chính sách giải quyết xung đột giữa các bên liên quan trong vấn đề môi trường

Tuy nhiên nhà nước trong quá trình thực hiện vai trò này của mình cũng có những giới hạn mang tính phổ quát: mâu thuẫn giữa mong muốn giải quyết mục tiêu tăng trưởng, quản lý môi trường toàn diện với năng lực điều hành, hạn chế của con người

cụ thể; ra quyết định theo đa số trong hệ thống quản lý nhà nước thiếu dân chủ, cơ chế thanh lọc có xu hướng đẩy người giỏi ra khỏi bộ máy quản lý nhà nước và giữ lại những nhân tố “an phận”

1.4.2 Vai trò của doanh nghiệp trong xử lý XĐMT

Động lực của thị trường là tối đa hóa lợi nhuận, ở đó mục tiêu về lợi nhuận là mục tiêu thiết thân của mỗi cá nhân, tổ chức nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình từ thấp đến cao Trong hệ thống này, “mỗi người đều tự làm lợi cho mình” tạo nên tác động tổng hợp là cả xã hội cùng có lợi Thiết chế thị trường tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong điều kiện môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ thanh lọc các doanh nghiệp có khả năng học tập, đổi mới, thích ứng với bối cảnh cụ thể của nền kinh

tế Tuy nhiên “mặt trái của thị trường” cũng được nhắc tới như một khiếm khuyết bẩm sinh, như mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả về sự công bằng, tính ngắn hạn của các quan hệ giao dịch mua bán tạo nên những hạn chế tong việc tham gia điều chỉnh quyền lợi của các thế hệ tương lai Do vậy có thể do quá đề cao lợi ích kinh tế

mà khả năng tham gia xử lý XĐMT của doanh nghiệp là hạn chế

Khi doanh nghiệp luôn đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu mà thiếu trách nhiệm xã hội thì nghịch lý “người đi ké xe” sẽ xuất hiện Bản chất của hiện tượng này là doanh nghiệp lợi dụng các dịch vụ, lợi ích do người khác phải trả chi phí để tư lợi cho mình, qua đó tạo nên sự bất bình đẳng trong xã hội (trách nhiệm BVMT khỏi ô nhiễm có thể

là một ví dụ cho thấy nhu cầu khai thác tài nguyên của doanh nghiệp trong sản xuất gây ô nhiễm nhưng không muốn trả chi phí để đền bù thiệt hại môi trường) Vậy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được coi là nền tảng cho các giải pháp phát huy vai trò của doanh nghiệp trong BVMT

27

“Thần linh pháp quyền”, Nguyễn Sĩ Dũng, Tia Sáng, Xuân Quý Mùi, 2003

Trang 37

32

1.4.3 Vai trò của cộng đồng trong xử lý XĐMT

Cộng đồng được nhìn nhận như một tập thể gồm các thành viên cùng chung các giá trị sống, cùng thiết lập các chuẩn mực xã hội giữa các cá nhân trong đó, tuân thủ và chia sẻ các nguyên tắc đó là cơ sở cho sự tồn tại của cộng đồng Cộng đồng phát triển cùng với những tiến bộ xã hội, và tồn tại với các hình thức ngày một đa dạng hơn trong sự phức hợp của các mối quan hệ xã hội

Cộng đồng bao gồm các quy tắc rằng buộc quan hệ con người mang tính phi chính thức như các giá trị, chuẩn mực, cung cách ứng xử của con người trong tập thể (nội bộ cộng đồng), giữa các cộng đồng với nhau Trong mỗi cộng đồng các cá nhân luôn có xu hướng hoàn thiện bản thân để tạo dựng vị thế, uy tín xã hội Những cố gắng này giúp xã hội trở nên hiệu quả, cá nhân có động lực gắn kết trách nhiệm, giúp tạo lập cân bằng quyền lợi tập thể Nếu mệnh lệnh của quản lý nhà nước là loại mệnh lệnh cứng trong thì mệnh lệnh của cộng đồng là mệnh lệnh được hình thành và thực hiện trong khuôn khổ mềm dẻo của quá trình thương lượng Cộng đồng vận hành dựa trên nền tảng trách nhiệm và uy tín cá nhân trước cộng đồng thông qua hoạt động thông tin, đàm phán, thỏa thuận để xây dựng được sự tin cậy và ràng buộc giữa các thành viên, qua đó hình thành và duy trì các trật tự, sự ổn định của cộng đồng đó Thêm vào đó, khả năng liên kết hành động của con người người hiện tại với kết quả tương lai trung hạn, hoặc dài hạn là một khả năng đặc biệt của cộng đồng giúp các giá trị quan trọng của công jđồng được tích lũy và chuyển tiếp qua thời gian Điều này giúp đảm bảo cho việc giải quyết XĐMT mang tính bền vững

Tiếp cận cộng đồng trong giải quyết XĐMT là quá trình hài hòa hóa mối quan

hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa một nhóm đơn lẻ và toàn bộ cộng đồng trong quá trình xử lý xung đột thông qua các quy tắc, chuẩn mực, giá trị về quyền tiếp cận, sở hữu và phân phối tài nguyên được cộng đồng công khai thừa nhận và tự nguyện thực hiện

Đôi khi do thiếu giám sát minh bạch, không có thông tin đầy đủ về cử xử của nhóm khác, không có cơ chế trọng tài phù hợp trong đóng góp công ích, hay những tác động của tâm lý, tư tưởng đạo đức, danh dự, uy tín được dùng để ràng buộc con người có thể tạo nên nguy cơ buôn lỏng trách nhiệm, sự thiếu tách bạch về quyền lợi, hiện tượng cào bằng, sùng bái cá nhân, đóng cửa thông tin Điều này có thể dẫn đến những hạn chế trong khả năng giải quyết XĐMT của cộng đồng

Tiếp cận từ góc độ kinh tế, Hilton Root28 đã nêu ra “ba cơ cấu chuẩn tắc của sự trao đổi kinh tế” là cộng đồng, tôn ti trật tự và thị trường:

- Nguyên tắc của quan hệ cộng đồng dựa trên trách nhiệm đối với cộng đồng và uy tín cá nhân

- Tôn ti trật tự dựa trên kế hoạch, mệnh lệnh, phát triển mạnh trong những tổ chức quản lý theo chiều dọc, trong những xã hội thay thế giao dịch tài chính bằng dịch

vụ (biểu hiện cho quản lý nhà nước)

- Thị trường định đoạt bởi thương lượng giữa người mua và người bán, tính toán dựa trên thông tin tổng hợp của giá cả

Ba cơ cấu này tạo thành ba trục (vật chất, phúc lợi và đạo đức) của một không gian

ba chiều mà ở mỗi thời điểm các cộng đồng, các quốc gia lại lựa chọn cho mình một

28

Chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và phát triển tại Trường Chính sách Công, Đại học Geoge Mason

Trang 38

33

ưu tiên Sự phối hợp hài hòa giữa vai trò của nhà nước, cộng đồng và thị trường (mà đại diện là các doanh nghiệp) ở mỗi thời điểm được dẫn dắt bởi các thiết chế mang tính chủ đạo Khi trở thành chủ đạo, mỗi thiết chế có thế mạnh riêng: nhà nước hướng tới ổn định bằng quy phạm pháp luật, thị trường hướng tới sự phát triển thông qua cạnh tranh, cộng đồng hướng đến sự công bằng, bình đẳng, dân chủ thông qua đấu tranh và hành xử có trách nhiệm

1.4.4 Cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng

trong xử lý xung đột môi trường

Vai trò của mỗi thiết chế nhà nước, thị trường và cộng đồng trong mỗi quá trình phát triển được lựa chọn thay thế, bổ sung, hoặc biến đổi phù hợp với mục tiêu của xã hội trong mỗi thời kỳ nhất định Khó có một phương án thỏa đáng cho việc phát huy vai trò đồng đều của cả ba thiết chế trong hoạt động thực tiễn của quản lý xã hội Quá trình liên tục đổi mới đòi hỏi mỗi thiết chế luôn trong xu thế tự hoàn thiện với những chi phí và nỗ lực xã hội nhất định, ở đó sự liên kết trách nhiệm được hành thành ở các điểm cân bằng khác nhau Ở mỗi điểm cân bằng – nơi mà các hoạt động xã hội được quản lý tốt nhất – các thiết chế tham gia với mức độ can thiệp khác nhau, với tầm phát huy ảnh hưởng khác nhau, trong đó luôn có một thiết chế vươn lên nắm giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động xã hội, điều phối tính liên kết của ba trục trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng

Thực tế cho thấy sự gắn bó về trách nhiệm giữa ba thiết chế này là tự thân Thiết chế cộng đồng ra đời sớm nhất làm nền tảng cho các hoạt động xã hội ban đầu của loài người, khi nhu cầu quản lý còn ở mức giản đơn Khi những yếu kém của thiết chế cộng đồng bộc lộ (như tâm lý đám đông, sùng bái cá nhân, xử lý nội bộ ) cơ chế thị trường xuất hiện điều phối các quan hệ quyền lợi kinh tế, vật chất, tạo động lực cho các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử phát triển của loài người Tuy nhiên bàn tay vô hình của thị trường không tạo ra được phúc lợi và công bằng xã hội nếu thiếu sự can thiệp của thiết chế nhà nước nhằm dẫn dắt sự phát triển một cách nhân bản hơn Tuy nhiên quyền lực của thiết chế nhà nước cần được hạn chế lạm dụng bởi sự giám sát, phân quyền có trong thiết chế cộng đồng Ba trục nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng tạo quỹ đạo phát triển cho xã hội loài người bởi cả khuynh hướng thúc đẩy nhau, cản trở nhau, ràng buộc lẫn nhau trong phạm vi nỗ lực điều tiết của con người nhằm làm chủ tự nhiên, xã hội và tư duy

Liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng là tất yếu cho sự phát triển lành mạnh nói chung của xã hội, của hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững nói riêng Trong đó, mỗi thiết chế được đòi hỏi xác định và hành động đúng với vai trò của mình, tránh sự chồng chéo, can thiệp nằm ngoài phạm vi như một

số hiện tượng thực tế trong công tác bảo vệ môi trường gần đây đã cho thấy Theo Đặng Kim Sơn sự liên kết trách nhiệm giữa các thiết chế sẽ thất bại khi:

- Các thiết chế không có đủ điều kiện vận hành

o Thiết chế thị trường thất bại khi thị trường vận hành không thông thoáng, chi phí giao dịch quá cao, luật chơi không rõ ràng, cạnh tranh không công bằng, quan hệ sở hữu không rõ ràng

o Thiết chế nhà nước thất bại khi hoạt động của các cơ quan nhà nước không minh bạch, không hiệu quả; cán bộ nhà nước kém năng lực, quyền lực chồng chéo, bộ máy không đại diện cho quyền lực cử tri

Trang 39

34

o Thiết chế cộng đồng thất bại khi các quan hệ diễn ra ngắn hạn, không gắn bó lâu dài về quyền lợi, thiếu thông tin về hành vi, không có điều kiện tiếp xúc, giao lưu, thỏa thuận giữa các thành viên, các thành viên không tìm thấy mối quan tâm chung

- Các thiết chế vượt khỏi khả năng phạm vi hoạt động

o Thiết chế thị trường: hoạt động ít lợi nhuận, rủi ro cao, hiệu ứng “tràn ra ngoài” về môi trường, phúc lợi xã hội, giao dịch không thông qua thị trường chính tắc

o Thiết chế nhà nước: hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, hoạt động cần phát huy dân chủ, sáng tạo, độc lập, khách quan, hoạt động cần sự phản ứng linh hoạt, uyển chuyển, hoạt động theo động lực và sức mạh tinh thần

o Thiết chế cộng đồng: hoạt động theo quy định cứng nhắc, hoạt động theo tiêu chuẩn kỹ thuật, hoạt động có tổ chức cao, có giám sát và trọng tài khách quan, giữa các nhóm không có quan hệ chung

- Hoàn cảnh và kết cấu lực lượng xã hội thay đổi quá lớn

Như vậy, mối liên kết giữa các thiết chế không tồn tại ở một điểm cố định trên trục tọa độ xã hội, mà khi các thiết chế đang được sử dụng trở nên lỗi thời và bất lực, thì sự thay đổi trong nội tại của một thiết chế, cũng như vị trí của mỗi thiết chế trên trục là điều không tránh khỏi Khi xã hội trở nên trì trệ, các cơ chế không thể làm tròn được bổn phận điều chỉnh quan hệ xã hội, con người se tìm cách thay thế hoặc dịch chuyển giữa các thiết chế để giao nhiệm vụ chính cho một thiết chế mới phfu hợp hơn nhằm tái lập khả năng quản lý xã hội bàng trạng thái cân bằng thị trường, quyền lực, và quyền lợi mới Lịch sử cũng đã chứng minh nếu con người tìm cách lấy thiết chế này

để thay thế hoàn toàn cho thiết chế khác, do thiết chế mới không thể đảm đương được vai trò thay thế hoàn toàn thiết chế chế cũ, qua đó tạo nên những “khoảng trống” trong quản lý xã hội Như vậy sự tồn tại đồng thời của các thiết chế trong quản lý xã hội là điều khó tránh khỏi, có thiết chế chiếm ưu thế song các thiết chế khác vẫn tiếp tục tồn tại, đồng hành Quản lý xung đột môi trường do vậy đòi hỏi vai trò chủ đạo chuyển đổi một cách linh hoạt từ thiết chế này sang thiết chế khác, nhưng sự phối hợp và phát triển đồng thời của ba thiết chế là tất yếu, dù quá trình chuyển đổi thường diễn ra không mấy dễ dàng Sự chuyển đổi này xảy ra bởi con người luôn phải tìm kiếm giải pháp để đương đầu với các vấn đề ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững trong thực tiễn khách quan, từ đó tạo nền tảng cho xã hội phát triển và tiến hóa không ngừng

1.5 Trách nhiệm xử lý XĐMT từ lý thuyết quản lý tài sản dùng chung của Elinor

Ostrom

Nhìn nhận ô nhiễm môi trường như một tác động ngoại lai tiêu cực của hoạt động kinh tế, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng để giải quyết vấn đề “bi kịch của cái chung”29 phải dựa trên hai phương thức: tư nhân hóa và đánh thuế môi trường Cách thức thứ nhất là tư hữu hóa cá nhân các nguồn lực chung giúp tăng cường hiệu lực thực thi quyền sở hữu, có thể tạo ra thị trường hiệu quả cho tài nguyên chung với mức giá phản ánh đúng giá trị của chúng với người sử dụng Cách thức thứ hai là đánh thuế trên tài nguyên này, thường được gọi là thuế Pigou do được đề xuất bởi nhà kinh tế

29

Năm 1968, nhà sinh vật học Garrett Hardin nhận thấy hiện tượng khai thác quá mức tài nguyên chung đang tăng lên trên toàn cầu và đặt tên sự kiện này là "Bi kịch của cái chung" (The Tragedy of the Commons).

Trang 40

35

Pigou Thuế này được đánh trực tiếp vào người gây ra ô nhiễm, làm tăng chi phí sản xuất (chi phí tạo ra ảnh hưởng ngoại lai), từ đó làm giảm lượng cung ảnh hưởng nhằm cân bằng giữa lợi ích cá nhân (doanh nghiệp) và lợi ích chung của xã hội, làm giảm tổn thất của xã hội do ô nhiễm gây ra

Biểu đồ 2: Hình mô tả một tổn thất xã hội do ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực gây ra

Điểm chung của cả hai phương án này là áp dụng các quy định từ bên ngoài cộng đồng, thường do chính quyền trung ương tiến hành: hoặc dưới hình thức thuế hay hạn ngạch, hoặc bằng cách tư nhân hóa Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp, cả hai phương án này đều thất bại30 Để khắc phục hạn chế trong giải quyết các thất bại của thị trường trong vấn đề BVMT bao gồm XĐMT, giáo sư Elinor Ostrom đã

đề xuất giải pháp thứ ba: đó là giữ nguyên tính chất "của chung" của tài nguyên và để

người sử dụng tự tạo ra hình thức quản lý phù hợp cho mình

Tài nguyên dùng chung (common-pool resources) là những tài nguyên mà mọi người đều có cơ hội sử dụng nhưng việc tiêu dùng của người này sẽ làm giảm khả năng tiêu dùng của người kia Quyền hạn và trách nhiệm giữa các cá nhân liên quan hoặc khó phân định rõ ràng hoặc nếu phân định được rõ ràng thì sẽ dẫn đến suy giảm năng suất lao động Từ đặc điểm này của tài nguyên chung, xuất phát từ giả định con người kinh tế31 Ostrom đã đề ra các phương pháp khác nhau tiến hành nghiên cứu các định chế xã hội được hình thành và phát triển một cách tự phát từ các quyết định của các cá nhân như thế nào và những định chế này ảnh hưởng đến lợi ích của từng cá nhân ra sao

Trong tác phẩm “Quản lý tài nguyên công cộng: Diễn biến của các định chế dành cho hành động tập thể”32 (1990) Elinor Ostrom đã khẳng định: “Chính những người sử dụng tài nguyên sẽ định ra cơ chế sử dụng sao cho tài nguyên ấy đem lại lợi ích khả dĩ chấp nhận được cho mọi người; ngược lại, các quy định quản lý của nhà nước thường trở nên phản tác dụng do lẽ nhà nước trung ương xa xôi với thực tế địa phương và cũng chẳng còn mấy uy lực ở cơ sở” Lý thuyết mới cho thấy, tài sản công, tài

cơ hội (opportunism), tức luôn lợi dụng lẫn nhau vì lợi ích của mình.

32Governing the commons: The evolution of institutions for collective action

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Minh Ánh (2005), Thực hiện quyền tự chủ của cộng đồng trong quản lý môi trường cấp cơ sở ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện quyền tự chủ của cộng đồng trong quản lý môi trường cấp cơ sở ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Minh Ánh
Năm: 2005
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2009), QCVN 4: 2009/BKHCN Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia an toàn đối với thiết bị điện và điện tử ban hành theo Thông tư số 21/2009/TT-BKHCN ngày 30 tháng 9 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: QCVN 4: 2009/BKHCN Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia an toàn đối với thiết bị điện và điện tử
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2009
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009: Môi trường khu công nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009: Môi trường khu công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
7. Chính phủ (2003), Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2 tháng 12 năm 2003, Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020Chính phủ (2011), Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4năm 2011 Quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2 tháng 12 năm 2003, Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020"Chính phủ (2011)
Tác giả: Chính phủ (2003), Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2 tháng 12 năm 2003, Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020Chính phủ
Năm: 2011
14. Công ty Cổ phần xây dựng công nghiệp và thương mại Thành Quang (2011), Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án: “Khu xử lý rác thải huyện Đông Anh”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án: “Khu xử lý rác thải huyện Đông Anh”
Tác giả: Công ty Cổ phần xây dựng công nghiệp và thương mại Thành Quang
Năm: 2011
15. Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Ngọc Tân Kiên (2011), Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án: “Đầu tư mở rộng nhà máy xử lý chất thải công nghiệp Ngọc Tân Kiên”, Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án: “Đầu tư mở rộng nhà máy xử lý chất thải công nghiệp Ngọc Tân Kiên”
Tác giả: Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Ngọc Tân Kiên
Năm: 2011
16. Công ty TNHH Thương mại, Dịch vụ và Vận chuyển Việt Khải (2011), Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án: “Nhà máy thu gom xử lý chất thải công nghiệp Việt Khải”, Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án: “Nhà máy thu gom xử lý chất thải công nghiệp Việt Khải”
Tác giả: Công ty TNHH Thương mại, Dịch vụ và Vận chuyển Việt Khải
Năm: 2011
18. Vũ Cao Đàm (1999), Giáo trình Xã hội học về Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học về Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 1999
19. Vũ Cao Đàm, Trần Ngọc Ca, Nguyễn Võ Hưng (2011), Phân tích và thiết kế chính sách cho phát triển, NXB Dân Trí, 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và thiết kế chính sách cho phát triển
Tác giả: Vũ Cao Đàm, Trần Ngọc Ca, Nguyễn Võ Hưng
Nhà XB: NXB Dân Trí
Năm: 2011
20. Vũ Cao Đàm (2011), Giải quyết xung đột mội trường trong các làng nghề, nội dung tất yếu của quản lý môi trường, tạp chí bảo vệ môi trường số 9/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết xung đột mội trường trong các làng nghề, nội dung tất yếu của quản lý môi trường
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 2011
21. Dự án Cộng đồng Châu Âu hợp tác vì hợp tác quản trị dân chủ địa phương tại Đông Nam Á (2011), Mô hình thực tiễn tốt từ thành phố Marikina – Philipines: Dự án tiết kiệm sinh thái, 4/2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình thực tiễn tốt từ thành phố Marikina – Philipines: Dự án tiết kiệm sinh thái
Tác giả: Dự án Cộng đồng Châu Âu hợp tác vì hợp tác quản trị dân chủ địa phương tại Đông Nam Á
Năm: 2011
22. Lê Văn Khoa (2010), Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, tái chế và tái sử dụng là giải pháp có ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường ở các đô thị, 12/2010, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, tái chế và tái sử dụng là giải pháp có ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường ở các đô thị
Tác giả: Lê Văn Khoa
Năm: 2010
23. Liên minh Châu Âu (2002), Quy định chất thải thiết bị điện và điện tử (WEEE) 2002/96/EC 24. Liên minh Châu Âu (2006), Quy định hạn chế chất thải điện tử RoHS (Restriction ofHazardous Substances Directive) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chất thải thiết bị điện và điện tử (WEEE)" 2002/96/EC 24. Liên minh Châu Âu (2006"), Quy định hạn chế chất thải điện tử RoHS (Restriction of
Tác giả: Liên minh Châu Âu (2002), Quy định chất thải thiết bị điện và điện tử (WEEE) 2002/96/EC 24. Liên minh Châu Âu
Năm: 2006
26. Dương Thị Tơ và các cộng sự, Phân loại rác tại nguồn – Sự khởi đầu của công nghệ tái chế chất thải, Trung tâm Tư vấn, Đào tạo & chuyển giao Công nghệ môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại rác tại nguồn – Sự khởi đầu của công nghệ tái chế chất thải
28. Trung tâm Kĩ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp (1994), Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp tổng hợp để giảm nhẹ ô nhiễm môi trường ở Hà Nội, Đề tài KT 02.03, Chương trình Khoa học Nhà nước KT.02, 1994, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp tổng hợp để giảm nhẹ ô nhiễm môi trường ở Hà Nội
Tác giả: Trung tâm Kĩ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp
Năm: 1994
31. Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường (2006), Đánh giá kết quả ảnh hưởng của bãi rác tập trung đến sức khỏe khu dân cư xung quanh, xây dựng hướng dẫn tiêu chuẩn vệ sinh bãi rác, Báo cáo đề tài cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả ảnh hưởng của bãi rác tập trung đến sức khỏe khu dân cư xung quanh, xây dựng hướng dẫn tiêu chuẩn vệ sinh bãi rác
Tác giả: Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường
Năm: 2006
32. Lê Hoàng Việt, Nguyễn Võ Châu Ngân, Nguyễn Xuân Hoàng và Nguyễn Phúc Thanh (2011), Quản lý tổng hợp chất thải rắn, cách tiếp cận mới cho công tác bảo vệ môi trường, Tạp chí Khoa học 2011, tr39-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tổng hợp chất thải rắn, cách tiếp cận mới cho công tác bảo vệ môi trường
Tác giả: Lê Hoàng Việt, Nguyễn Võ Châu Ngân, Nguyễn Xuân Hoàng và Nguyễn Phúc Thanh
Năm: 2011
33. Định hướng phát triển công nghiệp môi trường Việt Nam, Thông tin chiến lược, Chính sách công nghiệp, số 5/2010, tr.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển công nghiệp môi trường Việt Nam
6. Bộ công thương, Tám tháng đầu năm 2011, ngành điện tử đã xuất khẩu 2,388 tỉ USD, 9/2011 http://vinanet.vn/tin-thi-truong-hang-hoa-viet-nam.gplist.288.gpopen.194289.gpside.1.gpnewtitle.tam-tha%CC%81ng-da%CC%80u-nam-2011-nga%CC%80nh-di%C3%AA%CC%A3n-t%C6%B0%CC%89-da%CC%83-xua%CC%81t-khau-2-388-ti-usd.asmx Link
9. Đặng Thị Chuyên dịch theo BBC 06/3/2007, Sáng kiến xử lý chất thải trên toàn cầu, Thiennhien.net, Trung tâm Con người và Thiên nhiênhttp://www.thiennhien.net/2007/05/29/sang-kien-xu-ly-chat-thai-dien-tu-tren-toan-cau/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Phân loại e-waste theo Chỉ thị số 2002/96/EC của Liên minh Châu Âu - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 1. Phân loại e-waste theo Chỉ thị số 2002/96/EC của Liên minh Châu Âu (Trang 28)
Bảng 2. Khối lượng e-waste và ước tính vòng đời sử dụng 26 - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 2. Khối lượng e-waste và ước tính vòng đời sử dụng 26 (Trang 35)
Biểu đồ 2: Hình mô tả một tổn thất xã hội do ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực gây ra - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
i ểu đồ 2: Hình mô tả một tổn thất xã hội do ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực gây ra (Trang 40)
Bảng 3: Phế thải gia dụng từ 2001 - 2006 - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 3 Phế thải gia dụng từ 2001 - 2006 (Trang 54)
Sơ đồ 1: Quy định về trách nhiệm của các bên liên quan trong xử lý e-waste - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Sơ đồ 1 Quy định về trách nhiệm của các bên liên quan trong xử lý e-waste (Trang 64)
Bảng 4: Kim ngạch nhập khẩu linh kiện và sản phẩm điện tử của các thị trường lớn - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 4 Kim ngạch nhập khẩu linh kiện và sản phẩm điện tử của các thị trường lớn (Trang 68)
Sơ đồ 2: Lộ trình của e-waste - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Sơ đồ 2 Lộ trình của e-waste (Trang 79)
Bảng 7: % số người mắc bệnh trên số người được khám tại các nhà máy trong - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 7 % số người mắc bệnh trên số người được khám tại các nhà máy trong (Trang 82)
Bảng 1: Các doanh nghiệp thu gom, xử lý chất thải tại VN - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 1 Các doanh nghiệp thu gom, xử lý chất thải tại VN (Trang 120)
Bảng 2. Một số công nghệ xử lý CTNH phổ biến ở VN 72 - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 2. Một số công nghệ xử lý CTNH phổ biến ở VN 72 (Trang 123)
Bảng 3: Tóm lược chính sách tái chế sản phẩm điện tử của các hãng sản xuất - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 3 Tóm lược chính sách tái chế sản phẩm điện tử của các hãng sản xuất (Trang 125)
Bảng 4: Quy hoạch khu xử lý chất thải rắn cấp vùng cho các vùng Kinh tế trọng điểm - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 4 Quy hoạch khu xử lý chất thải rắn cấp vùng cho các vùng Kinh tế trọng điểm (Trang 126)
Bảng 6: Doanh thu thuần của doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 6 Doanh thu thuần của doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế (Trang 127)
Bảng 7: Tốc độ gia tăng e-waste từ năm 2007 – 2020 - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 7 Tốc độ gia tăng e-waste từ năm 2007 – 2020 (Trang 128)
Bảng 14 : Danh mục chất thải nguy hại liên quan đến thiết bị điện và điện tử theo Danh mục chất thải nguy hại ban hành theo - Nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác
Bảng 14 Danh mục chất thải nguy hại liên quan đến thiết bị điện và điện tử theo Danh mục chất thải nguy hại ban hành theo (Trang 129)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w