1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy vai trò Hội Phụ nữ tỉnh đối với công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ở tỉnh Hải Dương hiện nay

109 737 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có Hội phụ nữ đối với việc thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình ở nước ta là yêu cầu cần thiết hiện nay .... B

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



VŨ THỊ HÀ

PHÁT HUY VAI TRÒ HỘI PHỤ NỮ TỈNH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



VŨ THỊ HÀ

PHÁT HUY VAI TRÒ HỘI PHỤ NỮ TỈNH ĐỐI VỚI

CÔNG TÁC DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 60 22 85

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS NGÔ NGỌC THẮNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 VAI TRÒ CỦA HỘI PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN

SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH Ở NƯỚC TA 8 1.1 Vài nét về Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thực hiện các nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc 8 1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Hội Liên hiệp phu ̣ nữ Việt

Nam 8 1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Hội Liên hiệp phu ̣ nữ Việt Nam 10 1.2 Vài nét về tình hình thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia

đình ở nước ta trong thời gian qua và những vấn đề đặt ra 14 1.2.1 Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình và những ảnh hưởng đến

công tác này ở nước ta trong thời gian qua 14 1.2.2 Tình hình thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình ở

nước ta thời gian qua và những vấn đề đặt ra 26 1.3 Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có Hội

phụ nữ đối với việc thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình ở nước ta là yêu cầu cần thiết hiện nay 29 1.3.1 Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội 29 1.3.2 Phát huy vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ 30

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ HỘI PHỤ NỮ TỈNH HẢI

DƯƠNG HIỆN NAY ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 37 2.1 Vài nét về tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp phu ̣ nữ tỉnh Hải

Dương 37 2.2 Vài nét về công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình tỉnh Hải Dương

thời gian qua 39 2.3 Tình hình phát huy vai trò của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương trong việc

thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình hiện nay 40

Trang 4

2.3.1 Chủ trương của Tỉnh uỷ về việc huy động sức mạnh của hệ thống

chính trị, phát huy vai trò của các đoàn thể, trong đó có Hội phụ nữ

nhằm thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình 42

2.3.2 Những giải pháp của Hội Phụ nữ tỉnh trong việc thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình 43

2.3.3 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 49

2.3.4 Những hạn chế và nguyên nhân 70

2.3.5 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn 71

Chương 3 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI PHỤ NỮ TỈNH HẢI DƯƠNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 73

3.1 Phương hướng 73

3.2 Những giải pháp chủ yếu 73

3.2.1 Giải pháp về nhận thức 73

3.2.2 Giải pháp về tổ chức, phương thức hoạt động, chỉ đạo của các cấp Hội khi thực hiện nhiệm vụ dân số và kế hoạch hoá gia đình 74

3.2.3 Giải pháp liên quan đến bản thân Hội 75

3.2.4 Giải pháp về cơ chế, chính sách 79

3.2.5 Giải pháp về sự phối kết hợp giữa Hội với các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan chức năng ở địa phương và Trung ương 80

3.3 Một số kiến nghị 82

3.3.1 Đối với Đảng và Nhà nước 82

3.3.2 Đối với Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam 83

3.3.3 Đối với Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương 84

3.3.4 Đối với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh 84

3.3.5 Đối với Chi cục Dân số và kế hoa ̣ch hóa gia đình 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 94

Trang 5

BẢNG QUY ƯỚC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 6

đề dân số

Vấn đề dân số không chỉ là nỗi lo, mối quan tâm của từng người, từng quốc gia mà là nỗi lo, mối quan tâm của cả nhân loại Do vậy, vấn đề điều chỉnh dân số, đảm bảo cơ cấu và chất lượng dân số cho phù hợp, đặc biệt giảm bớt tỉ lệ gia tăng dân số, cân bằng giới tính đang là một cuộc chiến quyết liệt của toàn nhân loại, trong đó có Việt Nam

Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, bên cạnh những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực, cũng phải kể đến những hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển KT-XH, nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển, gây khó khăn lớn cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống, ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ, văn hoá và thể lực của nòi giống đó là sự gia tăng dân

số quá nhanh và trong tương lai sự mất cân đối dân số nam, nữ còn diễn ra và

sẽ là thách thức khó giải quyết đối với nước ta

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề dân số, Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác DS & KHHGĐ là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề KT - XH hàng đầu của nước

ta Đảng và Nhà nước đã đề ra những chủ trương, chính sách liên quan đến công tác DS & KHHGĐ, đồng thời đã dành nhiều kinh phí cho việc triển khai

Trang 7

các chương trình hành động liên quan đến công tác này Nhưng trên thực tế cho thấy hoạt động này chưa đạt hiệu quả cao Nguyên nhân của thực tế đó là gì? Đó là, công tác DS & KHHGĐ ở các địa phương trong cả nước thực hiện chưa đồng bộ, nhất quán, đôi khi còn nhận thức và triển khai không đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước (như năm 2004 - 2005, do chủ quan, buông lỏng công tác tuyên truyền vận động sinh đẻ có kế hoạch, mặt khác không nhận thức được một số khía cạnh về chính sách hôn nhân, về nghĩa vụ, quyền lợi sinh sản mà tỷ lệ dân số đã tăng nhanh đột biến) Ngoài

ra, phải kể đến việc chưa phát huy được vai trò của các lực lượng, các tổ chức

xã hội đối với công tác DS & KHHGĐ

Các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò to lớn đối với công tác DS & KHHGĐ, trong đó có Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam Hội Phụ nữ là tổ chức chính trị - xã hội có vai trò hết sức to lớn trong xã hội, đặc biệt trong công tác DS

& KHHGĐ Vì vậy, việc phát huy vai trò của Hội phụ nữ trong công tác DS & KHHGĐ là yếu tố quan trọng góp phần giảm sự gia tăng dân số và cân bằng dân

số và cũng là một yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

Hải Dương là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, diện tích là 1.651,8km2với 1.732.814 người, trong đó nữ chiếm 51,76% dân số Khu vực nông thôn chiếm 86,2%, miền núi chiếm 12,5% Số phụ nữ có thai hàng năm khoảng 30.000 người Trẻ em dưới 5 tuổi 120.000 trẻ, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 21,3%, số phụ nữ từ 15 - 49 tuổi có 443.159 người, trong đó có chồng là 330.328 người, tỷ lệ các cặp vợ chồng thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại là 80,56%, tỷ suất sinh thô 14,36‰, tỷ lệ sinh con thứ 3 là 8,23%, tỷ suất chết 5,07%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 9,29‰, số hộ nghèo trong toàn tỉnh chiếm 13,41%, trong đó số hộ phụ nữ nghèo chiếm khoảng 30% [17]

Công tác dân số, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, dinh dưỡng vẫn còn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Nhận thức của một số bộ phận phụ nữ, đặc biệt phụ nữ nông thôn, vùng sâu, vùng xa về xã hội, dân số, chăm sóc sức khoẻ

Trang 8

sinh sản, dinh dưỡng còn nhiều hạn chế, nhiều chỉ báo về sức khoẻ phụ nữ còn thấp, tỷ lệ phụ nữ nạo phá thai cao, sự tham gia của nam giới vào chương trình dân số, chăm sóc SKSS, dinh dưỡng; sự tiếp cận của các cặp vợ chồng với dịch

vụ KHHGĐ, CSSKSS còn nhiều hạn chế… Tất cả các vấn đề trên đang là mối quan tâm chung của toàn xã hội cũng như các cấp Hội phụ nữ

Bên cạnh đó, trình độ cán bộ Hội phụ nữ các cấp trong tỉnh không đồng đều, cán bộ hội cơ sở phần lớn trình độ văn hoá chưa cao Tất cả những nhân

tố trên đã và đang hạn chế vai trò của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương trong công tác DS & KHHGĐ Do vậy, việc tập trung phân tích nguyên nhân hạn chế của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương trong công tác DS & KHHGĐ, từ đó đặt ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương đối với công tác DS & KHHGĐ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Chính vì lý do trên, tác giả

mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Phát huy vai trò Hội phụ nữ tỉnh đối với công

tác dân số và kế hoạch hoá gia đình ở tỉnh Hải Dương hiện nay” làm luận

văn thạc sĩ triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hô ̣i khoa ho ̣c

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Hiện nay, những vấn đề liên quan đến phụ nữ trên thế giới nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng là vấn đề đang hết sức được quan tâm Đã có nhiều công trình, Hội thảo quốc tế nghiên cứu, bàn tới vấn đề phụ nữ, đặc biệt vai trò của phụ nữ và Hội phụ nữ đối với công tác dân số trong gia đình và xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc Trong đó, đáng chú ý là những công trình sau đây:

- "Nâng cao vị thế phụ nữ Việt Nam trong công tác DS & KHHGĐ và

phát triển xã hội" của Trung tâm Dân số - lao động Cuốn sách trình bày rõ

vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công tác DS & KHHGĐ và phát triển KT -

XH của đất nước

Trang 9

- "Dân số và phát triển - Một số vấn đề cơ bản", Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2004, Lê Hữu Nghĩa chủ biên Cuốn sách đã đề cập đến vấn đề dân số và ảnh hưởng của dân số đối với sự phát triển KT - XH

- "Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại" - Lê Thị Nhâm Tuyết, Nxb Khoa

học Xã hội , Hà Nội, 1973 Cuốn sách trình bày khái quát vai trò của phụ nữ Việt Nam qua các thời đại lịch sử khác nhau

- "Nữ Giới chung" - Tờ báo đầu tiên của Phụ nữ Việt Nam

(01/02/1981) của nữ Tổng biên tập đầu tiên của Việt Nam đã thức tỉnh phụ nữ Việt Nam quan tâm đến vận mệnh của đất nước ta

- Chủ nghĩa Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1977

- Hồ Chí Minh và vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1970

- Hai cuốn: Lịch sử truyền thống cách mạng phụ nữ Hải Dương, giai

đoạn 1930 - 1975, Ban Thường vụ Hội liên hiệp phụ nữ Hải Dương, tháng

10/2000 và cuốn Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương, giai đoạn 1976 -

2000, Ban Thường vụ Hội LHPN Hải Dương, tháng 10/2003 Cả hai cuốn đều

đề cập đến vai trò của phụ nữ Hải Dương nói chung và sự hình thành, phát triển to lớn của Hội LHPN Hải Dương nói riêng

- Đã có nhiều báo chí, mạng Internet của Trung ương, địa phương cũng đăng tải nhiều bài viết nói về vai trò của người phụ nữ và Hội phụ nữ đối với công tác DS & KHHGĐ

Tuy nhiên, chưa có công trình nào trực tiếp đề cập sâu về vai trò của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương đối với công tác DS & KHHGĐ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

- Đặc biệt làm rõ vai trò của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương trong công tác

DS & KHHGĐ, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của Tỉnh Hội đối với công tác này

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích đặt ra, đề tài cần phải thực hiện những nhiệm vụ:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận, những căn cứ khoa học về vai trò của phụ

nữ và của Hội phụ nữ trong công tác DS & KHHGĐ

- Nghiên cứu thực trạng phát huy vai trò của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương trong phát triển KT-XH nói chung, đặc biệt là trong thực hiện công tác

DS & KHHGĐ nói riêng

- Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương đối với công tác DS & KHHGĐ trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Vai trò của HPN trong công tác DS

& KHHGĐ

* Phạm vi nghiên cứu:

Vai trò của HLHPN là vấn đề rất rộng và bao quát toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu vai trò của Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương trong công tác DS & KHHGĐ thời gian từ năm 2000 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên những cơ sở lý luận sau:

- Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về phát huy vai trò của phụ nữ trong tiến trình cách mạng XHCN, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay

Trang 11

- Những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân số & KHHGĐ

- Các tài liệu, văn bản, nghị quyết và báo cáo của Tỉnh hội phụ nữ đối với công tác dân số và công tác phụ nữ

- Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước

có liên quan trực tiếp đến đề tài

* Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện mục tiêu đặt ra, luận văn dựa trên phương pháp luận CNDVBC và CNDVLS, các quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về DS & KHHGĐ, về phát huy vai trò của hệ thống chính trị, trong

đó có Hội Phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới…

Ngoài ra, luận văn sử dụng kết hợp giữa phương pháp phân tích, so sánh, hệ thống hóa , khái quát hoá , phương pháp thống kê , điều tra xã hô ̣i học và các phương pháp mang tính chuyên ngành khác

6 Đóng góp của đề tài

- Góp phần làm sáng tỏ lý luận của chủ nghĩa xã hô ̣i khoa ho ̣c về phát huy vai trò của phụ nữ và của các đoàn thể chính tri ̣ - xã hội trong sự nghiệp cách mạng XHCN và xây dựng đất nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn lực con người và thúc đẩy KT - XH của địa phương,

- Làm tài liệu tham khảo cho Hội LHPN tỉnh

- Để phục vụ học tập và giảng dạy chuyên đề về gia đình, môn CNXHKH

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu , kết luận, danh mục tài liệu tham khảo , luâ ̣n văn kết cấu thành 3 chương, 9 tiết:

Chương 1 Vai trò của Hội Liên hiê ̣p phu ̣ nữ Việt Nam đối với công

tác dân số và kế hoa ̣ch hóa gia đình ở nước ta

Trang 12

Chương 2 Thực trạng phát huy vai trò Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương

hiện nay đối với công tác dân số và kế hoa ̣ch hóa gia đình

Chương 3 Giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò Hội phụ nữ tỉnh

Hải Dương đối với công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình

Trang 13

Chương 1 VAI TRÒ CỦA HỘI PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH Ở NƯỚC TA

1.1 Vài nét về Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Hội Liên hiê ̣p phụ nữ Việt Nam

Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ra đời ngày 20/10/1930 Từ những tổ chức tiền thân cho đến Hội LHPN Việt Nam ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội đã đoàn kết các tầng lớp phụ nữ, phát huy

truyền thống yêu nước "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang", đem tài

năng, trí tuệ góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì

mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh"

Hội LHPN Việt Nam là một trong những bộ phận quan trọng của Hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội đã cùng với các đoàn thể chính trị - xã hội khác có trách nhiệm đại diện cho quyền bình đẳng dân chủ của quần chúng tham gia vào quản lý Nhà nước Đồng thời Hội có trách nhiệm chuẩn bị các kế hoạch, làm công tác tham mưu cho Đảng

về công tác vận động phụ nữ như Quyết định số 41 của Ban Bí thư TW Đảng ngày 5/4/1984

Kể từ ngày thành lập đến nay, trải qua biết bao thăng trầm, biến đổi của lịch sử dân tộc, phong trào phụ nữ Việt Nam không ngừng trưởng thành và lớn mạnh cùng với chặng đường phát triển của đất nước

Từ đó đến nay, sau gần 80 năm cùng với sự phát triển của đất nước, của nhân dân, và dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội LHPN Việt Nam đã trưởng thành và không ngừng phát triển Hội đã trở thành một tổ chức chính trị xã

Trang 14

hội vững mạnh với hệ thống tổ chức gồm 4 cấp từ trung ương đến cơ sở, với lực lượng đông đảo là 14.730.425 hội viên (tính đến tháng 6/2010), đội ngũ cán bộ Hội nhiệt tình, năng động, đã lãnh đạo phong trào phụ nữ từng bước phát triển, lớn mạnh, như: Chương trình xoá đói giảm nghèo; DS & KHHGĐ;

vệ sinh môi trường; phòng chống các tệ nạn xã hội Đặc biệt là: Phong trào thi đua và 6 nhiệm vụ trọng tâm của Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ X (nhiệm

2) Tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới

3) Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập

4) Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc 5) Xây dựng và phát triển tổ chức Hội vững mạnh

6) Mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế vì bình đẳng, phát triển và hoà bình Những đóng góp của phong trào phụ nữ và các hoạt động của các cấp Hội đã góp phần to lớn vào việc thực hiện mục tiêu phát triển KT - XH của đất nước

Hội LHPN Việt Nam là một thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Liên đoàn phụ nữ Dân chủ Quốc tế và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN, Hội còn tham gia tích cực vào các hoạt động vì hoà bình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên thế giới

Trang 15

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Hội Liên hiê ̣p phụ nữ Việt Nam

Mục đích hoạt động của Hội là: "Vì sự bình đẳng, phát triển của phụ

nữ, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ" Vì

sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Hội đã tích cực tham gia trong các hoạt động vì hoà bình, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội

Với mục đích trên, tổ chức Hội có các chức năng cơ bản sau:

- Một là, Hội LHPN VN đại diện cho quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích

hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, tham gia quản lí Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng Hội đoàn kết, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đây là chức năng đại diện cho quyền bình đẳng của phụ nữ trong giai đoạn hiện nay, điều này hết sức quan trọng và có ý nghĩa thiết thực đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Phụ nữ cần có đại diện tham gia vào việc xây dựng các kế hoạch chiến lược, tham gia quản lí, kiểm tra, giám sát, phát hiện, đề xuất xây dựng các chính sách, tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

- Hai là, Đoàn kết, vận động, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ nâng cao trình

độ về mọi mặt để góp phần thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, chăm

lo quyền lợi cho phụ nữ, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Có thể nói, hai chức năng trên có mối quan hệ biện chứng Hội phải làm tốt vai trò đại diện cho quyền bình đẳng, dân chủ, tham gia bàn bạc quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ thì mới tạo được lòng tin, gắn bó với đông đảo chị em phụ nữ Từ đó mới tập hợp, đoàn kết được các tầng lớp phụ nữ và tổ chức hướng dẫn chị em cùng chăm lo và bảo vệ quyền lợi, đời sống mọi mặt, đồng thời góp phần thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Để thực hiện tốt các chức năng trên, Hội cần thực hiện những nhiệm vụ:

Trang 16

- Trước hết là, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ, tham mưu đề xuất chính sách với Đảng, Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng và phát triển

- Động viên và tạo điều kiện để phụ nữ tích cực học tập, nâng cao kiến thức, trình độ, năng lực về mọi mặt Tham gia tích cực vào các chương trình phát triển KT - XH của đất nước

- Xây dựng và củng cố tổ chức Hội, xây dựng đội ngũ cán bộ Hội và cán bộ nữ; giới thiệu phụ nữ có đủ đức và tài tham gia vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền, cơ quan dân cử và đoàn thể các cấp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

- Tuyên truyền, vận động, giáo dục phụ nữ giữ gìn, phát huy những giá trị đạo đức, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc và của người phụ nữ Việt Nam Hướng dẫn, giúp đỡ tổ chức cuộc sống gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc

- Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu vực và trên toàn thế giới, phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng, phát triển

và hoà bình

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội LHPN Việt Nam

đã và đang giữ vững vai trò nòng cốt trong phong trào phụ nữ Bám sát chức năng của Hội, nhiệm vụ chính trị của đất nước, các cấp Hội đã không ngừng đổi mới cả nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt hơn vai trò đại diện cho quyền làm chủ của phụ nữ, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành một số chính sách, luật pháp có ý nghĩa chiến lược về công tác phụ

nữ, cán bộ phụ nữ và bình đẳng giới Đặc biệt, Hội LHPN Việt Nam có vai trò

to lớn trong công tác DS - KHHGĐ Cụ thể:

Trang 17

- Giáo dục nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ mọi mặt cho phụ nữ

Nghị quyết 04 của Bộ chính trị khẳng định: „„Phụ nữ là người lao

động, người công dân, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người’’ Do đó,

khả năng lao động, trình độ văn hoá, vị thế xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thế hệ tương lai Vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về chính trị, tư tưởng luôn được các cấp Hội đặc biệt quan tâm và coi đó là yếu tố cơ bản giúp cho chị em phụ nữ đạt tới sự bình đẳng và tiến bộ

Hội tích cực vận động phụ nữ học tập để không ngừng nâng cao trình

độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp Phối hợp cùng nhiều ngành chức năng thực hiện xoá mù chữ cho phụ nữ và phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở cho cán bộ Hội cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa

Ngoài ra, Hội đặc biệt chú trọng đến công tác phát hiện, bồi dưỡng, nhân điển hình phụ nữ tiên tiến, duy trì phát triển quỹ giải thưởng phụ nữ Việt Nam…

- Bồi dưỡng kiến thức cho chị em phụ nữ về sức khoẻ sinh sản, chăm sóc nuôi dạy con cái và KHHGĐ

Chăm sóc sức khoẻ sinh sản của mỗi người có quan hệ mật thiết với gia đình, cộng đồng và xã hội Nó không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là duy trì nòi giống mà vấn đề quan trọng hơn là ở chỗ SKSS có vai trò quyết định cơ bản, là điều kiện tiền đề đối với mỗi bản thân của mỗi người trong suốt quá trình từ khi sinh ra, lớn lên, trưởng thành và tham gia vào sự vận động, phát triển chung của xã hội

- Tích cực hỗ trợ việc làm, xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế địa phương

Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã trở thành chỗ dựa vững chắc trong

hỗ trợ vốn vay cho phụ nữ, là đối tác tin cậy của nhiều tổ chức tín dụng trong

và ngoài nước Bên cạnh đó, các cấp Hội còn tích cực phối hợp với các ngành chuyên môn duy trì và đẩy mạnh hoạt động chuyển giao khoa học kĩ thuật

Trang 18

khuyến nông, lâm ngư… Ngoài ra, để giúp phụ nữ có việc làm ổn định, thoát nghèo bền vững, các cấp Hội đã đẩy mạnh hoạt động dạy nghề, giới thiệu việc làm và tham gia xuất khẩu lao động

- Bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của phụ nữ và trẻ em, giám sát việc thực hiện quyền bình đẳng giới

Hiện nay, Việt Nam là nước thực hiện khá tốt và là tấm gương sáng về vấn đề thực hiện quyền bình đẳng giới trong khu vực Châu á Thái Bình Dương (đứng thứ 2, sau Thuỵ Điển) Đạt được thành tích trên không thể không nói đến vai trò hết sức to lớn của Hội LHPN Việt Nam Đáng chú ý là

sự ra đời của Nghị định 19/2003/NĐ-CP (ngày 7/3/2003): “Quy định trách

nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc đảm bảo cho các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia quản lí Nhà nước”, Luật Bình đẳng

giới và Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ chính trị về: “Công tác phụ nữ thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”

- Đấu tranh chống tệ nạn xã hội, phòng tránh dịch bệnh ở địa phương

Hội LHPN Việt Nam đã và đang kết hợp chặt chẽ với các ngành, chỉ đạo các cấp Hội thực hiện tốt các công tác tuyên truyền chống các tệ nạn xã hội, giúp các cộng tác viên và nhân dân trong cộng đồng hiểu rõ tác hại và hậu quả của tệ nạn xã hội

Hội đã mở nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ hội các cấp làm báo cáo viên về phòng chống các tệ nạn xã hội Nhằm giúp cho các hội viên

có những hiểu biết sâu sắc về tác hại của nạn ma tuý và cách phòng ngừa ma tuý Hội cấp phát nhiều tài liệu, tập san, băng hình, ấn phẩm về phòng chống

ma tuý… Rồi từ những hội viên là phụ nữ, với tư cách là người mẹ, người vợ trong các gia đình để mở rộng công tác phòng chống ma tuý từ gia đình, đến nhà trường và toàn xã hội

- Tuyên truyền, vận động các gia đình thực hiện tốt chức năng, vai trò của gia đình đối với xã hội, thực hiện tốt pháp lệnh dân số và KHHGĐ

Trang 19

Gia đình là một tế bào của xã hội, có vị trí và vai trò rất quan trọng trong xã hội, gia đình có tốt thì xã hội mới tốt Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng vấn đề gia đình Trong Nghị quyết 04 của Bộ chính trị (khoá VII) đã đề ra mô hình gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới là xây dựng

gia đình: “ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc” Đặc biệt, ngày 4/5/2001

Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 28/6 hàng năm là Ngày gia đình Việt Nam

1.2 Vài nét về tình hình thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình ở nước ta trong thời gian qua và những vấn đề đặt ra

1.2.1 Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình và những ảnh hưởng đến công tác này ở nước ta trong thời gian qua

* Công tác dân số

Muốn tìm hiểu công tác dân số, trước hết phải hiểu những khái niệm liên quan đến dân số, như: Dân số là gì, quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số, sự phân bố dân cư

Dân số là một cộng đồng dân cư hay cộng đồng người sống chung trên

một lãnh thổ được xác lập tại thời điểm cụ thể

Quy mô dân số là tổng số dân của một địa phương, một quốc gia, một

vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất định

Cơ cấu dân số là sự phân loại dân số dựa trên các đặc trưng về giới

tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, dân tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp…

Chất lượng dân số là tập hợp các thuộc tính về bản chất liên quan đến

tình trạng sức khoẻ, trình độ giáo dục, văn hoá, trình độ khoa học kĩ thuật, cơ cấu và kĩ năng nghề nghiệp, xã hội và tính năng động của dân số

Sự phân bố dân cư: là việc phân chia tổng số dân theo khu vực, vùng địa lí, kinh tế hoặc một đơn vị hành chính

Chính vì vậy, chúng ta có thể hiểu công tác dân số là: việc quản lí và tổ chức thực hiện các hoạt động tác động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số,

Trang 20

phân bố dân cư và kiểm soát sinh sản, chăm sóc sức khoẻ nhằm nâng cao chất lượng dân số, giải quyết hài hoà lợi ích cá nhân - gia đình - xã hội, góp phần xây dựng xã hội ổn định và phát triển bền vững

Ba nguyên tắc cơ bản khi thực hiện công tác dân số:

- Phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực dân số phù hợp với sự phát triển KT - XH, chất lượng cuộc sống của cá nhân, gia đình và toàn xã hội

- Phải bảo đảm việc chủ động, tự nguyện, bình đẳng của mỗi cá nhân, gia đình trong việc kiểm soát sinh sản, chăm sóc sinh sản, lựa chọn nơi cư trú

và thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số

- Kết hợp giữa quyền và lợi ích của cá nhân, gia đình với lợi ích của cộng đồng và toàn xã hội Thực hiện quy mô gia đình ít con, ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững

Có thể nói, công tác dân số là một bộ phận rất quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, vì để tăng nhu cầu và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi thành viên trong xã hội thì đồng thời với việc phát triển KT - XH, cần phải điều chỉnh các xu hướng phát triển dân số cho phù hợp với sự phát triển

KT - XH

Khi dân số phát triển theo tỷ lệ thuận với sự phát triển KT - XH, nó là

cơ sở để xoá đói, giảm nghèo, giảm tình trạng thất nghiệp, sử dụng ngày công lao động thấp, giảm dần tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng, giảm tỉ lệ mù chữ, nâng cao trình độ văn hoá, giảm rủi ro về môi trường, mở rộng dịch vụ y tế và

xã hội, huy động các nguồn lực để đầu tư cho sản xuất và tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội, đảm bảo công bằng xã hội

Trang 21

* Kế hoạch hoá gia đình

Dưới nhiều góc độ tiếp cận, nên có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm kế hoạch hoá gia đình

Theo Quyết định số 315/CP, ngày 24/8/1992 của Hội đồng Chính phủ

về Chiến lược truyền thông DS & KHHGĐ 1992 - 2000, trong phần 3

Chương V viết: “Kế hoạch hoá gia đình có nghĩa là chủ động quyết định số

con của mình và khoảng cách giữa các lần sinh thông qua việc áp dụng các biện pháp tránh thai để có một gia đình ít con, khoẻ mạnh, hạnh phúc, giàu

có Kế hoạch hoá gia đình là quyền và cũng là trách nhiệm của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng Họ được quyền tự do quyết định nhưng với ý thức trách nhiệm đầy đủ về số con của mình trên cơ sở những thông tin và những hiểu biết cần thiết để thực hiện những quyết định ấy” “Kế hoạch hoá gia đình là

sự nỗ lực có ý thức nhằm xác định số con và khoảng cách sinh con, quyền của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng được tự do lựa chọn và hoàn toàn có trách nhiệm về số con và khoảng cách sinh con, được có những thông tin, được giáo dục và được cung cấp những phương tiện mong muốn”

Theo Khoản 9 Điều 3, Pháp lệnh dân số nêu: “Kế hoạch hoá gia đình là

nỗ lực của gia đình, Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh con, nhằm bảo vệ sức khoẻ, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình”

Trong cuốn “Giáo dục dân số” của cố Giáo sư Nguyễn Đức Minh, Ông

đưa ra khái niệm: Kế hoạch hoá gia đình theo nghĩa hẹp là “điều chỉnh số con

sinh ra trong nội bộ gia đình Đó là việc thông qua những quyết định tự nguyện của cặp vợ chồng về quy mô gia đình nhất là số con và khả năng thực hiện những quyết định ấy”

Trang 22

Còn ở nhiều quốc gia trên thế giới và các tổ chức quốc tế thì quan niệm, Kế hoạch hoá gia đình còn được hiểu là chương trình (nghĩa là tổng hợp các biện pháp nhằm hạn chế việc sinh đẻ)

Tiểu ban các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho: Kế hoạch hoá gia đình bao gồm các vấn đề thực hiện giúp cho các cá nhân hay các cặp vợ chồng đạt được những mục tiêu sau: Tránh những trường hợp sinh không theo mong muốn, điều hoà khoảng cách giữa các lần sinh, chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố mẹ Đồng thời, kế hoạch hoá gia đình còn đồng nghĩa với kiểm sát sinh sản, nó có ý nghĩa rộng hơn kiểm soát sinh sản, bao gồm: hạn chế vô sinh và khoảng cách giữa các lần sinh, tư vấn về vô sinh, phát hiện những bệnh về cơ quan sinh sản, tư vấn hôn nhân, tư cách làm cha, làm mẹ

Tuy có những quan điểm khác nhau, song có thể thấy các tác giả đều thống nhất khái niệm kế hoạch hoá gia đình ở một số điểm sau:

+ Nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH hiện nay ở nước ta, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trên lĩnh vực kinh tế, cũng phải kể đến những hạn chế còn tồn tại, đặc biệt về sự bùng nổ dân số Việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình đem lại lợi ích cho các gia đình và toàn xã hội Ngược lại, nếu như cứ để tốc độ gia tăng nhanh như vậy thì rất khó khăn cho thời kỳ quá độ và còn khó khăn cho cả thế hệ mai sau

Ở nước ta hiện nay, có rất nhiều hệ thống tổ chức, bao gồm các cơ quan, đoàn thể, trong đó mỗi người dân dù sống ở đâu, lứa tuổi nào cũng đều

Trang 23

sinh hoạt trong một cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhất định, nên công tác DS & KHHGĐ đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, đoàn thể để các thành viên, hội viên của mình thực hiện mục tiêu chính sách dân số nhằm bảo

vệ lợi ích của mình, đồng thời thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Do đó, công tác DS & KHHGĐ không chỉ do một cơ quan chuyên môn đảm nhiệm, mà đòi hỏi sự tham gia của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội, đồng thời các hoạt động của công tác DS & KHHGĐ phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh hoạt của các dân tộc và các nhóm dân cư ở từng khu vực, từng vùng địa lý Việc thực hiện thường xuyên và nhiều cơ quan, tổ chức, đoàn thể cùng tham gia sẽ tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu dân số

Công tác DS & KHHGĐ thể hiện ở một số tính chất sau:

- Tính nhạy cảm của công tác DS & KHHGĐ

Khi đề cập đến công tác này thường gặp phải những vấn đề như: Vấn

đề sinh sản, bộ phận sinh sản, quan hệ tình dục, những biện pháp tránh thai nhằm cung cấp kiến thức để đối tượng hiểu và lựa chọn hành vi của mình một cách đúng đắn trong kiểm soát sinh sản, nhưng cũng có cách hiểu khác nếu không nắm bắt, hiểu tâm lý, văn hoá sẽ không ít khó khăn Hay vấn đề, sinh

đẻ có kế hoạch nhằm có cơ hội nuôi dạy con cái, bồi dưỡng và phát triển toàn diện bản thân và gia đình, nhưng cũng có quan niệm cho rằng xung khắc với văn hoá, tôn giáo

- Tính xã hội của công tác DS & KHHGĐ

Theo phân tích nhân khẩu học, các yếu tố dân số vừa chịu ảnh hưởng của quá trình dân số và phát triển thể lực của con người, vừa chịu ảnh hưởng của quá trình phát triển KT - XH Tuy nhiên sự tác động của các yếu tố KT -

XH lại thông qua nhận thức, sự hiểu biết và môi trường xã hội, nên ảnh hưởng đó lại trở thành sự tác động chủ quan của con người Vì vậy, công tác

Trang 24

DS & KHHGĐ không phải là công tác nghiệp vụ kĩ thuật đơn thuần, mà là công tác mang tính chất xã hội sâu sắc và là chủ yếu

Chúng ta biết rằng, sự thay đổi hành vi sinh sản, nhằm bảo vệ sức khoẻ, tham gia học tập, vui chơi, giải trí và phát triển toàn diện của mỗi con người phụ thuộc vào sự nhận thức, sự hiểu biết và khả năng, hoàn cảnh cụ thể của mỗi người, nên công tác DS & KHHGĐ thực hiện nhằm làm chuyển biến từ nhận thức để chấp nhận thực hiện mục tiêu của chính sách dân số trên cơ sở

tự nguyện của mỗi công dân Đây là quá trình thực hiện đầy gay go, phức tạp bởi quá trình này diễn ra ở mỗi gia đình, từng cá nhân sống trong cộng đồng làng xã và chịu ảnh hưởng trực tiếp của cộng đồng ấy về mọi mặt kinh tế, truyền thống văn hoá, tâm lý xã hội

- Tính phức tạp của công tác DS & KHHGĐ

Công tác DS & KHHGĐ có tính phức tạp, bởi lẽ có sự nhận thức, cách hiểu và cách ứng xử khác nhau đối với cùng một vấn đề Đồng thời, nó cũng làm cho người thực hiện phải hết sức cẩn trọng trong xử lí và tổ chức hành động

Công tác DS & KHHGĐ là một vấn đề xã hội phức tạp, liên quan đến kiến thức của nhiều lĩnh vực Cho nên, muốn người dân tự nguyện tham gia

có hành vi sinh đẻ đúng với mục tiêu mà chính sách dân số đề ra là một vấn

đề rất khó

Công tác này thực chất là một cuộc cách mạng tư tưởng, văn hoá sâu sắc và toàn diện Khi tiến hành cuộc vận động dân số và kế hoạch hoá gia đình, tức là phải đương đầu với những quan niệm, phong tục tập quán, lối sống phong kiến đã ăn sâu bám rễ trong tư tưởng của các cá nhân, gia đình, mọi tầng lớp dân cư và đặc biệt là người phụ nữ Nó đã tạo thành những dư luận xã hội có sức mạnh to lớn cản trở đến quá trình nhận thức và hành động của mọi thành viên trong xã hội

Trang 25

* Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác DS & KHHGĐ

Công tác DS & KHHGĐ là một vấn đề mang tính xã hội sâu sắc, khi thực hiện nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Cụ thể:

- Yếu tố kinh tế

Trong quan hệ với công tác DS & KHHGĐ, yếu tố kinh tế đóng vai trò

là nguyên nhân trực tiếp của các qúa trình biến động dân cư nói chung và quá trình sinh đẻ nói riêng, nó còn đóng vai trò như là phương tiện vật chất cần thiết cho việc thực hiện các nhu cầu sinh đẻ, nuôi dạy và chăm sóc

Ngoài ra, yếu tố kinh tế còn tác động gián tiếp lên quá trình dân số như: Thay đổi điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần, biến đổi định hướng giá trị, lối sống và ý thức của mỗi cá nhân Cùng với sự tăng trưởng kinh tế thì việc chấp nhận cơ cấu quy mô gia đình nhỏ độc lập cũng có chiều hướng tăng rõ rệt

C Mác nói: Sinh đẻ tỷ lệ nghịch với quy mô của cải mà người công nhân có Một số nhà kinh tế học thì khẳng định: Nghèo đói thì tạo ra khả năng sinh đẻ Như vậy, có thể thấy rằng: yếu tố kinh tế đã tác động không nhỏ đến dân số nói chung và công tác DS & KHHGĐ nói riêng

Thực tế cho thấy rằng: Những nơi kinh tế phát triển thì tỷ lệ gia tăng dân số lại thấp hơn so với những nơi kinh tế chậm phát triển và công tác DS

& KHHGĐ ở những nơi kinh tế phát triển cũng thường thuận lợi và đạt kết quả cao hơn Hay nói cách khác, kinh tế phát triển kéo theo nó là trình độ dân trí được nâng cao, chất lượng cuộc sống cũng không ngừng được cải thiện, do

đó mà con người cũng ý thức cao hơn về tầm quan trọng của công tác DS & KHHGĐ (Thực hiện sinh đẻ có kế hoạch để nuôi dạy con tốt, quan tâm và biết cách chăm sóc sức khoẻ bản thân và gia đình ) Ngược lại, ở những nơi kinh tế kém phát triển, điều kiện sinh sống khó khăn, thu nhập kinh tế thấp thì

tỷ lệ gia tăng dân số lại nhanh, khó kiểm soát, gây khó khăn cho công tác DS

& KHHGĐ

Trang 26

- Yếu tố nhận thức

Khi nói đến công tác DS & KHHGĐ không thể không đề cập đến yếu

tố nhận thức Nó thể hiện sự hiểu biết của mọi thành viên trong gia đình và toàn xã hội đối với công tác, cụ thể là sự hiểu biết về sức khỏe sinh sản, chăm sóc nuôi dạy con cái, phòng và tránh mang thai ngoài ý muốn, hiểu biết và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về vấn đề DS & KHHGĐ

Yếu tố nhận thức tác động lớn đến quá trình nhận thức và đi đến tự nguyện thực hiện áp dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình và lựa chọn

mô hình gia đình ít con để có cơ hội chăm sóc tốt cho con cái và bảo đảm gia đình hạnh phúc

Yếu tố nhận thức tác động đến công tác DS & KHHGĐ thể hiện ở chỗ: Trình độ học vấn có quan hệ tỷ lệ nghịch với tỷ suất sinh, tức nơi nào có trình

độ học vấn cao thì nơi đó có tỷ suất sinh thường thấp, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cũng thấp, còn nơi nào có trình độ học vấn thấp thì tỷ suất sinh lại thường cao, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cũng cao hơn Thực tế chứng minh, những phụ nữ có trình độ học vấn cao thường có ít con, ngược lại, những phụ

nữ không biết đọc, không biết viết thì số con lại đông hơn Bởi lẽ, một mặt công việc học tập và nghiên cứu đã làm mất một khoảng thời gian nhất định trong mỗi đời người, tuổi kết hôn nâng lên thì thời gian đẻ cũng bị rút ngắn đi Đồng thời, giúp họ tránh xa những tư tưởng phong kiến cổ hủ lạc hậu, biết nhìn nhận thực tế cuộc sống để lựa chọn, tính toán phương án sinh đẻ cho phù hợp và khoa học, hơn thế, bằng kiến thức đã có, những bậc làm cha, làm mẹ

có trình độ học vấn cao, họ làm chủ tri thức, hiểu biết rộng, nên việc chăm sóc con cái cũng tốt và có điều kiện hơn, giảm thiểu mức tử vong ở trẻ sơ sinh, xoá tâm lý sinh bù, sinh dự phòng

Có thể nói, yếu tố nhận thức có ảnh hưởng rất lớn đến công tác DS & KHHGĐ Nếu trình độ nhận thức của con người cao thì việc thực hiện công

Trang 27

tác DS & KHHGĐ sẽ gặp được những thuận lợi, đạt kết quả cao hơn và ngược lại, nó sẽ cản trở việc phân bố dân cư, cải thiện chất lượng cuộc sống, tình trạng chăm sóc sức khoẻ của người dân, sự điều chỉnh sinh sản trong gia đình và toàn xã hội

- Yếu tố văn hoá

Mặc dù nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, các yếu tố văn hoá tốt đẹp ngày càng được phát huy, nhưng không ít yếu tố văn hoá cũ, những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu vẫn tồn tại, cản trở công tác DS & KHHGĐ

Việt Nam đặc trưng là nền văn hoá lúa nước, nông nghiệp chưa thoát khỏi lạc hậu, mọi công việc trên đồng ruộng vẫn phải dựa vào sức mạnh cơ bắp của người đàn ông, đây là một trong những lý do khiến phần lớn các gia đình quá đề cao vai trò của người đàn ông trong gia đình, gây ra tâm lý phải sinh bằng được con trai để gánh vác trọng trách gia đình Điều này đã tác động đến quy mô, tỷ lệ nam, nữ trong gia đình, từ đó ảnh hưởng tới công tác

DS & KHHGĐ

Hiện nay ở nước ta, có những dân tộc còn những tư tưởng cổ hủ, lạc hậu chưa xoá bỏ được như: Tình trạng tảo hôn còn cao, việc dựng vợ gả chồng cho con do hẹn ước của các bậc làm cha, làm mẹ, ép gả khi con cái chưa đến tuổi trưởng thành nhằm có thêm nhân lực về giúp gia đình, để sinh con đẻ cái, hay tác động của nền kinh tế thị trường thời kỳ mở cửa, việc ép con cái chấp hành theo sự xếp đặt của cha mẹ, đi đến kết hôn không có tình yêu, gây hậu quả xấu đến hạnh phúc gia đình, để lại cho xã hội những gánh nặng là những đứa trẻ không biết đi đâu về đâu

Những phong tục tập quán của chế độ phong kiến còn ăn sâu, bám rễ

cho đến nay như quan niệm “Trời sinh voi, trời sinh cỏ‟‟ vẫn phổ biến, hay tư tưởng “có nếp, có tẻ‟‟ đã đè nặng lên tâm lý của nhiều gia đình, đặc biệt là đè

nặng lên người phụ nữ Ngược lại, những gia đình sinh toàn con trai lại có suy

Trang 28

nghĩ có gắng sinh mụn con gái để khi ốm đau, về già có người chăm sóc, hay

do thành kiến “mẹ chồng, nàng dâu"

Có thể nói, Nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn hoá người Việt là

chỉ có con trai mới được ghi tên vào trong gia phả “Nhất nam viết hữu, thập

nữ viết vô‟‟, gia đình nào có nhiều con trai được coi là lắm phúc, lắm của

Quan niệm này đã trở thành cái chuẩn nghiệt ngã khiến cho nhiều chị em phụ

nữ vì không đẻ hoặc chỉ đẻ được con gái đã không có quyền ngăn cản chồng

đi lấy vợ 2, vợ 3, dẫn đến ly hôn, con cái phân ly Do vậy, cuộc vận động

thực hiện chính sách DS & KHHGĐ với mục tiêu chính : “Mỗi cặp vợ chồng

chỉ có từ 1 đến 2 con" là nhằm giảm mức sinh và thực chất để thay đổi tư duy,

nhận thức cũ, lạc hậu trong mỗi gia đình

Ở nước ta, tín ngưỡng là một biểu hiện tâm lý xã hội, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Tín ngưỡng tôn giáo chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tâm lý xã hội của cộng đồng, nó có khả năng chi phối hành vi, hoạt động và tình cảm của con người Tại một số vùng dân cư theo đạo Thiên chúa việc thực hiện công tác DS & KHHGĐ gặp không ít khó khăn, luân lý cổ truyền lên án phụ nữ phá thai, những cuộc vận động sinh đẻ

có kế hoạch, khuyến khích áp dụng các biện pháp tránh thai như: đặt vòng tránh thai, uống thuốc tránh thai, mổ và triệt sản đều không có kết quả, do

quan niệm của những người Công giáo cho rằng đây là những biện pháp “bất

bình thường", hay là “giết người" và không thể chấp nhận

- Yếu tố chính trị

Đối với dân số, chính sách DS & KHHGĐ mà hợp lí sẽ là nhân tố quan trọng trong việc kiểm soát, điều tiết những thay đổi tỉ lệ phát triển dân số Chính vì vậy, vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định ra những chủ trương, đường lối chính sách liên quan đến công tác DS & KHHGĐ là hết sức quan trọng Hay nói cách khác, muốn đẩy mạnh bất cứ một lĩnh vực nào của cuộc sống: kinh tế, chính trị hay xã hội, các nhà quản lí đất nước đều phải

Trang 29

hoạch định được một hệ thống chính sách phù hợp với khả năng và điều kiện của lĩnh vực đó và nhất thiết phải gắn với vấn đề về dân số

Đúng vào thời điểm dân số thế giới đạt con số trên 3 tỷ người và Việt Nam vượt quá con số là 30 triệu người thì Chính phủ Việt Nam đã ban hành ngay Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 về việc sinh đẻ có hướng dẫn

với mục đích “Vì sức khoẻ của bà mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuận trong gia

đình và để nuôi dạy con cái được chu đáo" Từ đó, ngày 26/12 trở thành một

mốc lịch sử quan trọng của chương trình dân số Việt Nam, ngày Việt Nam chính thức tuyên bố tham gia chương trình dân số toàn cầu, ngày đánh dấu sự khởi đầu về nhận thức được ý nghĩa của mối quan hệ mật thiết giữa dân số và phát triển đất nước trong hồi chuông báo động về tình hình bùng nổ dân số trên thế giới

Điều đáng quan tâm, từ sau Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 về

việc sinh đẻ có hướng dẫn với mục đích “Vì sức khoẻ của bà mẹ, vì hạnh phúc

và hoà thuận trong gia đình và để nuôi dạy con cái được chu đáo" thì tỉ lệ

sinh đẻ ở các tỉnh miền Bắc đã giảm đáng kể: từ 43,9% (năm 1960) xuống

còn 33,2% (năm 1975), mức giảm sinh trong 15 năm là 10,7‰, bình quân mỗi năm giảm được 0,71‰, tỷ suất sinh giảm từ 6,93 con (năm 1961) xuống

còn 5,25 con (năm 1975) Điều này chứng tỏ sự nhận thức của người dân về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác DS & KHHGĐ

Tiếp đến, ngày 09/01/2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Dân số và ngày 22/01/2003 Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Dân số Pháp lệnh Dân số là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực dân số, nó mang ý nghĩa to lớn trong việc định hướng đồng bộ, thống nhất, toàn diện về dân số, bao gồm quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số và phân bố dân cư Pháp lệnh dân số được ban hành đã đảm bảo hành lang pháp lý cho việc tổ chức thực hiện công tác dân

Trang 30

số của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và cho việc thực hiện chính sách dân số của toàn dân, nhằm góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trải qua gần 50 năm thực hiện Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961

và 7 năm triển khai thực hiện Pháp lệnh Dân số, chính sách DS & KHHGĐ đã không ngừng được bổ sung và hoàn thiện, nhằm giảm tốc độ gia tăng quy mô dân số và nâng cao chất lượng dân số Nhà nước ta đã có nhiều chính sách trực tiếp ảnh hưởng đến việc giảm sinh như: Tuyên truyền sâu rộng đến toàn thể nhân dân, nhằm giúp họ thấy được hậu quả to lớn của việc sinh đẻ quá nhiều, không có kế hoạch, giảm chất lượng cuộc sống của chính mình và thế

hệ tương lai Cung cấp các dịch vụ tránh thai, phát triển mạng lưới y tế, có chính sách khuyến khích cá nhân thay đổi hành vi sinh đẻ bằng nhiều hình thức như: thưởng, ưu đãi gia đình ít con hoặc sử dụng chính sách phạt hành chính đối với gia đình đông con, không đúng kế hoạch Tuy nhiên, do sự nhận thức không cao, do những phong tục tập quán lạc hậu ở một số địa phương, cộng với công tác tuyên truyền không thường xuyên liên tục, đôi chỗ còn buông lỏng, dẫn đến tình trạng dân số bùng nổ Đặc biệt năm 2005, dân

số Việt Nam đã tăng đột biến, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế, mất ổn định xã hội

- Yếu tố văn hóa ngoại lai

Một trong những xu thế hiện nay là sự giao lưu giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới trong thời đại bùng nổ thông tin, nó đã mở ra nhiều cơ hội lớn cho các nước, những cũng có không ít những thách thức đặt ra Đặc biệt, thế hệ trẻ - chủ nhân của đất nước, làm thế nào để lĩnh hội được những tri thức và những giá trị đạo đức nhằm phát triển toàn diện cá nhân lành mạnh cả

về thể chất lẫn tâm hồn

Ngày nay, do ảnh hưởng của lối sống phương Tây, xu hướng quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên và thanh niên ở nước ta ngày càng tăng cao, gây

Trang 31

ra nhiều vấn đề xã hội trầm trọng như: mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả nhiễm HIV/AIDS

Ở nước ta hiện nay, có trên 1,5 triệu trường hợp nạo phá thai, trong số

đó chiếm 53% là nữ thanh niên trẻ chưa lập gia đình, việc quan hệ tình dục và

có thai trước hôn nhân đã gây ra không ít những khó khăn, phức tạp cho bản thân chính họ, mà còn gây ảnh hưởng đến gia đình và cả cộng đồng xã hội Ngoài ra, việc quan hệ tình dục và có thai, nạo phá thai trước hôn nhân còn gây ra những ảnh hưởng to lớn về mặt tâm sinh lý, tình trạng sức khoẻ và chất lượng cuộc sống trong tương lai, mang lại những nguy hiểm cho chính họ và con cái họ sau này Đây chính là một trong những nhân tố ảnh hưởng to lớn đến công tác DS & KHHGĐ ở nước ta hiện nay

1.2.2 Tình hình thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình

ở nước ta thời gian qua và những vấn đề đặt ra

Công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước Nó không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa về văn hoá, xã hội, góp phần quyết định sự phát triển bền vững

Nhờ cố gắng của Đảng, Nhà nước và sự tham gia tích cực của nhân dân, công tác DS & KHHGĐ ở nước ta đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận Tỷ lệ tăng dân số liên tục giảm, nhịp độ gia tăng dân số được khống chế Từ năm 1979 - 1989 tỷ lệ tăng dân số là 2,1% Đây là một cố gắng lớn

Tỷ suất sinh có xu hướng giảm dần, đang tiệm cận mức sinh thay thế Số con bình quân của mỗi cặp vợ chồng từ 3,8 con năm 1989 xuống còn 2,09 con trong năm 2006; 2,07 trong năm 2007 Chất lượng dân số đã được nâng lên, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhất là chỉ số phát triển con người (HDI) Nếu như năm 1995, Việt Nam đứng thứ 120/171 nước, thì đến năm 1999 đứng thứ 110, vượt lên 10 bậc và cũng năm đó chúng ta nhận được giải thưởng của Liên Hiệp Quốc về Dân số

Trang 32

Đến năm 2007, Việt Nam vượt lên được 5 bậc nữ (105/177 nước) Bạn

bè quốc tế đánh giá cao Việt Nam trong điều kiện sau chiến tranh, kinh tế khó khăn, thu nhập bình quân đầu người còn thấp nhưng đã đạt được chỉ số này Đồng thời, với kết quả của công tác DS & KHHGĐ như trên đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển KT - XH, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao hơn mức sống của người dân Đây là nỗ lực lớn mà toàn Đảng, toàn dân đã có hướng đi đúng, cần phải tiếp tục phấn đấu

Tuy nhiên, mức sinh của chúng ta giảm chưa vững chắc, mỗi năm tăng hơn 1 triệu người Các nhà kinh tế đã tính, nếu để tăng 1% dân số thì phải tăng 4% GDP mới giữ được mức sống như hiện tại Hay như Liên Hiệp Quốc tính, nếu đầu tư 1 USD cho dân số thì chúng ta sẽ tiết kiệm được 34 USD cho các dịch vụ xã hội cơ bản

Dân số tăng, việc phấn đấu tăng GDP là rất khó khăn, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân, chất lượng nhân lực, chất lượng giống nòi, đặc biệt những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa Bên cạnh đó, những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân số chưa thống nhất, đôi lúc còn buông lỏng, hai năm 2003 và 2004 tỷ lệ phát triển dân số, tỷ lệ sinh con thứ 3 tăng mạnh trở lại Đặc biệt tình trạng cán bộ Đảng viên sinh con thứ 3 tăng nhiều ở hầu khắp các địa phương, gây tác động tiêu cực đến phong trào toàn dân thực hiện công tác DS & KHHGĐ

Với số dân trên 86 triệu người tính đến thời điểm 1/4/2009 Việt Nam

là quốc gia có quy mô dân số lớn thứ 2 Đông Nam Á và thứ 13 trên thế giới Tiềm năng dân số còn lớn do cơ cấu dân số trẻ và số phụ nữ 15 - 49 tuổi vẫn tăng ở mức cao, từ 21,1 triệu năm 2000 lên 25,5 triệu năm 2010 Mặc dù tỷ lệ sinh đã giảm, nhưng trong 10 năm tới, dân số nước ta vẫn tăng thêm trung bình mỗi năm khoảng từ 1 triệu đến 1,1 triệu Kết quả giảm sinh từ nay đến

2015 có ý nghĩa quyết định đến việc ổn định quy mô dân số ở mức cao hay thấp Dân số Việt Nam sẽ ổn định vào giữa thế kỷ XXI ở mức cao, qui mô

Trang 33

dân số ổn định có thể trên 122 triệu; còn ở mức thấp, dân số sẽ dưới 113 triệu Điều đó có thể ảnh hưởng lớn đến tính bền vững và tốc độ phát triển KT -

- Mục tiêu tổng quát: Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến tới ổn

định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Mục tiêu cụ thể:

+ Mục tiêu 1: Duy trì xu thế giảm sinh một cách vững chắc để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc chậm nhất vào năm 2005, ở vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010 để quy mô, cơ cấu dân số và phân bổ dân cư phù hợp với sự phát triển KT - XH vào năm 2010

+ Mục tiêu 2: Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, phấn đấu đạt chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình tiên tiến thế giới vào năm 2010

+ Mục tiêu 3: Các chỉ tiêu cơ bản cần đạt được vào năm 2010: Tổng tỷ suất sinh đạt mức sinh thay thế; giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống 0,1%; dân số cả nước không quá 88 triệu người; tăng tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại lên khoảng 70%; hạ tỷ suất chết sơ sinh xuống còn 25‰;

hạ tỷ suất chết mẹ xuống còn 70/100.000 ca đẻ sống; giảm tỷ lệ nạo phá thai xuống bằng 50% hiện nay

Trên đây là những mục tiêu trước mắt của Chiến lược dân số ở Việt Nam Xuất phát từ điều kiện KT - XH của nước ta trong giai đoạn hiện nay,

Trang 34

cộng với cấu trúc dân số trẻ, mục tiêu phấn đấu cho những năm tới như đã nêu trên là thích hợp và có khả năng thực hiện

1.3 Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có Hội phụ nữ đối với việc thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình ở nước ta là yêu cầu cần thiết hiện nay

1.3.1 Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội

Nhận thức rõ vai trò của dân số đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, với mục tiêu phát triển KT - XH gắn liền với công tác DS & KHHGĐ, các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương đã đưa ra các chiến lược phát triển, trong đó có những nội dung liên quan đến con người, đến vấn đề DS & KHHGĐ Tuy nhiên việc chưa đạt được hiệu quả cao trong công tác DS & KHHGĐ thời gian qua có mấy nguyên nhân:

Trước hết là do các cấp lãnh đạo địa phương chưa thực sự quan tâm, nhận thức tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược của công tác DS & KHHGĐ chưa đầy đủ Từ đó nhận thức chưa đúng đắn, dẫn tới sự quan tâm không đúng mức, buông lỏng công tác này, chỉ đạo thiếu tập trung, thiếu quyết liệt, thiếu giải pháp thiết thực, hoạt động kém hiệu quả Có những giai đoạn chúng

ta đã làm tốt, đã thực sự quan tâm, chỉ đạo, phối hợp tốt, đồng bộ, quyết liệt nhưng do chúng ta chưa nhận thức đầy đủ tính chất khó khăn phức tạp và lâu dài của chiến lược quan trọng này, dẫn đến chủ quan, thoả mãn với những kết quả ban đầu Tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác DS & KHHGĐ thiếu ổn định, hoạt động kém hiệu quả Việc ban hành Pháp lệnh Dân số và một số chính sách thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ Trong đó có vai trò của cấp uỷ, vai trò của chính quyền, vai trò của các cơ quan tham mưu nòng cốt

Thứ hai là, có bộ máy chưa ổn định, chưa tương xứng để đáp ứng được với yêu cầu, với vai trò của công tác này

Thứ ba là người dân chưa tự giác; còn một bộ phận cán bộ, đảng viên không gương mẫu, không quan tâm đến việc kế hoạch hoá gia đình

Trang 35

Để làm tốt công tác DS & KHHGĐ, giữ vững ổn định KT - XH, đòi hỏi các cấp, ban ngành, tổ chức CT - XH từ trung ương đến địa phương phải luôn

sát sao, quan tâm hơn nữa Đặc biệt là Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp

1.3.2 Phát huy vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ

Với vai trò là đoàn kết, tập hợp, vận động và tổ chức hướng dẫn phụ nữ thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, các địa phương và đơn

vị, Hội LHPN Việt Nam đã bám sát chỉ đạo triển khai thực hiện phong trào

thi đua: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh

phúc” và 6 nhiệm vụ trọng tâm, không ngừng đổi mới cả về nội dung lẫn hình

thức hoạt động, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, hiệu quả, chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ, xây dựng tổ chức các cấp Hội

cơ sở vững mạnh; tiếp tục đạt được những thành tích đáng kể về nhiều mặt, góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện nhiệm vụ chiến lược phát triển KT

- XH chung của đất nước

- Trước hết, các cấp Hội phụ nữ đã vận động chị em tích cực hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội LHPN Việt Nam

phát động Từ phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo,

xây dựng gia đình hạnh phúc” do Đoàn Chủ tịch Hội phát động, thu hút hàng

triệu phụ nữ tham gia, đến cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương

đạo đức Hồ Chí Minh” được đông đảo chị em hưởng ứng thông qua tiến hành

nhiều mô hình thiết thực khác như: “Hũ gạo tình thương”, “ống tiền tiết

kiệm”… Các hoạt động này đã tiết kiệm được hàng trăm triệu đồng, hàng

chục tấn gạo, giúp được nhiều phụ nữ nghèo, khó khăn đã khắc phục được trong cuộc sống

Gần đây nhất, cuộc vận động ủng hộ xây dựng, sửa chữa “Mái ấm tình

thương” được triển khai sâu rộng đến 100% cơ sở Hội với những nội dung,

hình thức phong phú, đa dạng, thu hút hàng triệu phụ nữ và hàng trăm doanh

Trang 36

nghiệp, các nhà hảo tâm tham gia Tính đến cuối năm 2009, số tiền ủng hộ đã lên tới trên 45 tỷ đồng, bước đầu đã được phân bổ tới 29 tỉnh khó khăn nhất

Các cuộc vận động trên đã thiết thực góp phần thực hiện phong trào “Vì người

nghèo, xoá nhà tạm, tranh tre, dột nát và xây nhà đại đoàn kết” do Uỷ ban

Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động

- Hội LHPN Việt Nam đặc biệt chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ mọi mặt cho phụ nữ: Hội luôn coi đây là cơ sở nền tảng quan trọng giúp chị em có nhận thức đúng đắn, từ đó thêm hăng hái thi đua lao động, sản xuất, học tập, cống hiến sức lực và trí tuệ của mình vì sự phát triển chung của đất nước Hội chú trọng trước tiên đến hoạt động giáo dục truyền thống, phẩm chất đạo đức cho phụ nữ Thông qua hoạt động nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện lớn của đất nước, của Hội, nhất là vào các dịp kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ (8-3) và ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam (20-10) hàng năm, những truyền thống vẻ vang và những phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ dân tộc đã được khơi dậy, tạo thêm sức mạnh và niềm tin của các thế hệ phụ nữ Việt Nam vào đường lối, chính sách, sự lãnh đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước Từ

đó càng thúc đẩy chị em tích cực góp phần gìn giữ, phát huy truyền thống, phẩm chất đạo đức tốt đẹp của dân tộc và của phụ nữ Việt Nam ta

Kết hợp cùng với các tổ chức, đoàn thể CT - XH, Hội đã góp phần tạo điều kiện cho chị em tham gia học tập dưới nhiều hình thức đa dạng: tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ; khuyến khích chị em không ngừng học tập, nâng cao trình độ không những thông qua từ trường, lớp, mà còn học qua bạn bè, đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, sách báo, nghe đài, xem ti vi… Đặc biệt, Hội khuyến khích đông đảo cán bộ, hội viên và mọi phụ nữ có điều kiện học tập, tìm hiểu thông tin thông qua mạng internet, để cập nhật thêm thông tin và kiến thức cả trong và ngoài nước liên quan đến mọi lĩnh vực, đặc biệt là liên quan đến phụ nữ và trẻ em

Trang 37

- Hội hỗ trợ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập:

Có thể nói, các cấp Hội đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, hiệu quả

hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, vươn lên làm giàu chính đáng, như: Lồng ghép các hoạt động phát triển kinh tế gia đình với giúp vốn, kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, tổ chức dạy nghề, giới thiệu việc làm… Riêng năm 2008, Hội đã phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội dạy nghề cho 56.657 phụ nữ, giúp 60.470 phụ nữ có việc làn ổn định Hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập đã góp phần thực hiện hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo của Chính phủ và giảm đáng kể tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước; tạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội được lao động, học tập, từng bước phát triển kinh tế gia đình bền vững, xây dựng đời sống mới, nhất là ở vùng nông thôn

- Hoạt động hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ

và hạnh phúc, góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội đã được các cấp Hội

lồng ghép chặt chẽ với việc thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học

tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, với cuộc vận động

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” do Uỷ ban TW

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động và thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW

của Ban Chấp hành TW Hội LHPN Việt Nam về “Một số vấn đề xã hội liên

quan đến phụ nữ và trẻ em gái” Các mô hình truyền thông giáo dục về gia

đình như: “Gia đình hạnh phúc”, “Hôn nhân gia đình”, “Gia đình trẻ hạnh

phúc”, “Gia đình không sinh con thứ ba”, “Gia đình không có người thân phạm tội và mắc TNXH”, “Gia đình không có bạo lực”… được thực hiện ở

hầu hết các tỉnh, thành phố Giúp hàng triệu chị em phụ nữ nâng cao nhận thức, hiểu biết về trách nhiệm của người vợ, người mẹ trong gia đình, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, tổ chức tốt cuộc sống gia đình, góp phần hạn chế các TNXH, gìn giữ trật tự an ninh xã hội

Trang 38

Xác định rõ hoạt động của Hội cũng như của chị em phụ nữ chỉ có thể nâng cao cả về chất và lượng trên cơ sở nền tảng quan trọng là củng cố và phát triển tổ chức Hội vững mạnh từ gốc Các cấp Hội đều hướng về cơ sở, tập trung vào các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, phụ nữ dân tộc thiểu

số, tôn giáo, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn Với việc không ngừng đổi mới

và đa dạng hoá các loại hình hoạt động, chú trọng phát triển về cả chiều sâu lẫn chiều rộng (chất lượng hoạt động và số lượng chị em tham gia)

Cho đến nay, Hội đã tập hợp được đông đảo chị em tham gia sinh hoạt với trên 14 triệu hội viên Đội ngũ cán bộ Hội ngày càng trưởng thành, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu công tác Hội đã chủ đông đề xuất, tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến bình đẳng giới

và sự tiến bộ của phụ nữ như: Luật Bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực

gia đình và đặc biệt là Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ Chính trị về “Công

tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” được

ban hành tạo điều kiện cho Hội thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ

- Hoạt động hữu nghị, hợp tác quốc tế của Hội được đẩy mạnh và phát triển Đến cuối năm 2009, Hội đã có quan hệ với trên 300 tổ chức quốc tế và khu vực tại 67 nước Các cấp Hội đã tích cực vận động chị em phụ nữ tham gia các hoạt động đoàn kết quốc tế vì hoà bình, xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị với phụ nữ, nhân dân ở các khu vực có đường biên giới, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới để nâng cao nhận thức, hiểu biết

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, thời gian qua hoạt động của Hội còn một số hạn chế nhất định không thể tránh khỏi, bởi một số nguyên nhân sau:

Trang 39

- Sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể còn hạn chế,

- Tổ chức Hội chưa ổn định, chưa tương xứng để đáp ứng được với yêu cầu, với vai trò của công tác này,

- Người dân chưa tự giác, một bộ phận cán bộ đảng viên không gương mẫu, không quan tâm đến việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình,

- Sự phối kết hợp giữa các cấp, ban, ngành, các tổ chức CT - XH, đặc biệt là Hội LHPN từ trung ương đến địa phương chưa thường xuyên, đồng bộ, thống nhất

Từ thực tiễn trên, đòi hỏi các cấp uỷ Đảng và chính quyền, cũng như các cấp Hội LHPN cần có giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của mình trong sự nghiệp xây dựng xã hội ổn định và phát triển KT - XH bền vững của địa phương, đặc biệt phát huy vai trò của Hội phụ nữ trong công tác DS &

KHHGĐ, nhằm xây dựng gia đình “ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc”,

góp phần đưa đất nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa

Cụ thể, cần phát huy vai trò của tổ chức Hội như sau:

Thứ nhất, tăng cường đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về bình

đẳng giới, nâng cao nhận thức giới không chỉ cho phụ nữ mà còn cho cả nam giới, nhằm tạo sự thay đổi nhận thức từ gốc về vị trí và vai trò của phụ nữ trong xã hội ngày nay, đảm bảo các điều kiện để chị em phụ nữ có cơ hội và điều kiện thuận lợi để thực hiện quyền bình đẳng trong mọi lĩnh vực CT - XH và không ngừng chủ động, sáng tạo cống hiến và phát huy năng lực của mình Khuyến khích và tạo điều kiện cho chị em tham gia học tập để không ngừng nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn, tay nghề

Đặc biệt, tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các chế độ, chính sách thoả đáng cho phụ nữ dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa khi tham gia học tập tại các trường lớp, nhằm nâng cao chất lượng nhân lực nữ trên các địa bàn này, tiến

Trang 40

tới xoá bỏ dần khoảng cách và sự chênh lệch về kiến thức, trình độ giữa phụ

nữ dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa với phụ nữ vùng đồng bằng

Thứ hai, tiếp tục phối hợp với các ban, ngành chức năng triển khai có

hiệu quả các phong trào thi đua, các cuộc vận động nhằm tạo không khí thi đua sôi nổi rộng khắp trong chị em Kịp thời đánh giá, tổng kết nhằm biểu dương và phát huy những tấm gương phụ nữ điển hình tiên tiến, từ đó không ngừng cổ vũ, động viên chị em tham gia, đóng góp tích cực hơn nữa vào sự nghiệp phát triển KT - XH của đất nước

Thứ ba, đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ

phụ nữ phát triển sản xuất; tăng cường khả năng tiếp cận của phụ nữ đối với các nguồn vốn tín dụng, tiết kiệm, hướng dẫn chị em sử dụng vốn vay có hiệu quả; phát triển các trung tâm đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho phụ nữ nhằm giúp chị em tăng thu nhập, ổn định đời sống

Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động truyền thông DS & KHHGĐ, phát động

những phong trào thiết thực về truyền thông dân số, tạo điều kiện cho phụ nữ khám sức khoẻ sinh sản nhằm nâng cao chất lượng sức khoẻ phụ nữ và trẻ em

Thứ năm, vận động phụ nữ tích cực tham gia các hoạt động phòng,

chống các TNXH (HIV/AIDS, buôn bán phụ nữ, trẻ em ); phòng, chống bạo lực gia đình; bảo vệ môi trường; tích cực thực hiện nghiêm chỉnh vệ sinh an toàn thực phẩm Phổ biến, tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng cho phụ nữ

về chăm sóc sức khoẻ, nuôi dạy con, DS & KHHGĐ; kỹ năng sống và tổ chức tốt cuộc sống gia đình Xây dựng và thực hiện chương trình Giáo dục 5 triệu

bà mẹ

Thứ sáu, xây dựng Hội ngày càng vững mạnh, phát huy hơn nữa vai trò

là nơi tập hợp, tổ chức và đoàn kết phụ nữ nước ta trong một khối thống nhất, tích cực thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cùng chính là góp phần đắc lực thúc đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội bền vững của đất nước

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương giai đoạn 1940 - 2000 (2005), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương giai đoạn 1940 - 2000
Tác giả: Các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương giai đoạn 1940 - 2000
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
2. Chi cục Dân số và kế hoạch hoá gia đình tỉnh Hải Dương (2005), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ cơ sở về công tác dân số - gia đình - trẻ em, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng cán bộ cơ sở về công tác dân số - gia đình - trẻ em
Tác giả: Chi cục Dân số và kế hoạch hoá gia đình tỉnh Hải Dương
Năm: 2005
4. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2008), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2007, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2007
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2008
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
8. Điều lệ Hội Liên hiê ̣p phụ nữ Việt Nam (2002), Nxb. Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Hội Liên hiê ̣p phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Điều lệ Hội Liên hiê ̣p phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Phụ nữ
Năm: 2002
9. Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương (11/12/2008), Nghị quyết “Tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình từ nay đến năm 2015”, Quyết định số 108/2008/NQ - HĐND, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết "“"Tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình từ nay đến năm 2015
10. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương (2003), Chương trình hành động thực hiện các chiến lược quốc gia về dân số, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, dinh dưỡng giai đoạn 2003 - 2007, Quyết định số 74/ĐCT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động thực hiện các chiến lược quốc gia về dân số, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, dinh dưỡng giai đoạn 2003 - 2007
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương
Năm: 2003
11. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương (10/2003), Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương giai đoạn 1976 - 2000, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương giai đoạn 1976 - 2000
12. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương (2005), Báo cáo kết quả hoạt động các mô hình “Dân số - Gia đình’’, số 51/ BC -BTV, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động các mô hình “Dân số - Gia đình’’, số 51/ BC -BTV
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương
Năm: 2005
14. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương (2006), Báo cáo của Ban Chấp hành tại Đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2006 - 2011, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban Chấp hành tại Đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh lần thứ XIV
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương
Năm: 2006
16. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương (2006), Chào mừng Đại hội phụ nữ tỉnh Hải Dương lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2006 - 2011, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chào mừng Đại hội phụ nữ tỉnh Hải Dương lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2006 - 2011
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương
Năm: 2006
17. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương (2008), Báo cáo kết quả triển khai “Chương trình hành động thực hiện các chiến lược quốc gia về dân số, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, dinh dưỡng giai đoạn 2003 - 2007”, số 60/BC -BTV, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả triển khai "“Chương trình hành động thực hiện các chiến lược quốc gia về dân số, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, dinh dưỡng giai đoạn 2003 - 2007”
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương
Năm: 2008
19. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương (2010), Báo cáo tổng kết 10 năm phong trào “Tổ phụ nữ không có người sinh con thứ 3’’, năm 2000 - 2010, số 31 - BC/THPN, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 10 năm phong trào “Tổ phụ nữ không có người sinh con thứ 3’’, năm 2000 - 2010, số 31 - BC/THPN
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương
Năm: 2010
20. Hội LHPN Hải Dương (10/2000), Lịch sử truyền thống cách mạng phụ nữ Hải Dương giai đoạn 1930 - 1975, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử truyền thống cách mạng phụ nữ Hải Dương giai đoạn 1930 - 1975
21. V.I.Lênin với vấn đề giải phóng phụ nữ (1970), Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.I.Lênin với vấn đề giải phóng phụ nữ
Tác giả: V.I.Lênin với vấn đề giải phóng phụ nữ
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1970
22. C.Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ (1970), Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ
Tác giả: C.Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1970
23. Mác - Ăngghen (1997), Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước, phần “Chủ nghĩa Mác về vấn đề giải phóng phụ nữ”, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước, "phần “Chủ nghĩa Mác về vấn đề giải phóng phụ nữ
Tác giả: Mác - Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1997
25. Hồ Chí Minh (1970), Vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giải phóng phụ nữ
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1970
26. Hồ Chí Minh (1994), Về vấn đề cán bộ, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề cán bộ
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1994
27. Hồ Chí Minh (1994), Toàn tập, tập 6, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w