ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÝ THỊ HƯƠNG NHẬN DIỆN RÀO CẢN ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÝ THỊ HƯƠNG
NHẬN DIỆN RÀO CẢN ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ
XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
(Nghiên cứu trường hợp bệnh viện Đa khoa huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60 34 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Hà Nội - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập chương trình Cao học chuyên ngành Quản
lý Khoa học và Công nghệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội, đến nay luận văn tốt nghiệp "Nhận diện rào cản áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Ninh bình - Nghiên cứu trường hợp bệnh viện Đa khoa huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình" của tôi đã hoàn thành
Đạt được kết quả này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Khoa học quản lý - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã truyền thụ những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa - Trưởng khoa Xã hội học - trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ, y bác sĩ bệnh viện Đa khoa huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, cơ quan, bạn bè, những người đã quan tâm giúp đỡ và động viên, khuyến khích và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2013
Học viên
Lý Thị Hương
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế BTNMT Bộ Tài nguyên môi trường
BV Bệnh viện BVĐK Bệnh viện đa khoa BVMT Bảo vệ môi trường
CDM Clean Development Mechanism (Cơ chế
phát triển sạch) CĐDC Cộng đồng dân cư CRES Corporate Real Estate Services (Trung tâm
nghiên cứu Tài nguyên & môi trường) CTNH Chất thải nguy hại
CTLYT Chất thải lỏng y tế
CTR Chất thải rắn CTYT Chất thải y tế GDSK Giáo dục sức khoẻ HBV Hepatitis B virut (virút viêm gan B) HCV Hepatitis C virut (virút viêm gan C) HIV Human Immuno-deficiency Virus
(Virusgây suy giảm miễn dịch ở người JICA The Japan International Coooperation (Cơ
quan hợp tác quốc tế Nhật Bản) KHCN Khoa học công nghệ
KHCN-MT Khoa học công nghệ-môi trường
NXB Nhà xuất bản ODA Official Development Assistance ( Hỗ trợ
phát triển chính thức)
OECD
Organisation for Economic Co-operation and Development (Tổ chức hợp tác và phát triển quốc tế)
PHCN Phục hồi chức năng QCVN Quy chuẩn Việt Nam QĐ-BYT Quyết định Bộ y tế
Trang 4QLXĐ Quản lý xung đột
SP-RCC
Support programs respond climate change (Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu)
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam TNTN Tài nguyên thiên nhiên
XĐMT Xung đột môi trường
XHHMT Xã hội hoá môi trường
XLNT Xử lý nước thải
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Sơ đồ quản lý chất thải rắn 29
Hình 2.1: Sơ đồ công nghệ thiết bị xử lý hợp khối V -69 36
Hình 2.2 Sơ đồ công nghệ thiết bị xử lý chất thải Y tế CN-2000 37
Hình 2.3 Sơ đồ Công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt Biofillter 39
Hình 2.4 Sơ đồ Công nghệ XLNT Bệnh viện trên cơ sở sử dụng 40
công nghệ AAO trong thiết bị hợp khối 40
Hình 2.5 Sơ đồ Thiết bị xử lý hợp khối áp dụng công nghệ AAO 2 bậc 41
Bảng 2.6 So sánh các công nghệ xử lý nước thải y tế 41
Bảng 2.7 So sánh tiêu chí của các công nghệ xử lý rác thải y tế 46
Bảng 2.8 So sánh ưu, nhược điểm của các công nghệ xử lý rác thải y tế 47
Bảng 2.9 Tổng hợp dân số Ninh Bình năm 2012 52
Bảng 2.10.Hệ thống xử lý rác thải Y tế Bệnh viện Đa khoa Ninh Bình 2012 56 Bảng 2.11 Thống kê lượng chất thải được xử lý của các bệnh viện 57
Bảng 2.12 Thành phần chất rắn y tế trước khi đốt 59
Bảng 2.13.Tính chất hoá của CTYT 60
Bảng 2.14 Hệ thống xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 60
Bảng 2.15 nguồn chất thải rắn phát sinh tại các bệnh viện 61
Bảng 2.16 Tình hình thiêu huỷ chất thải rắn tại các bệnh viện 63
Hình 2.17 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải bệnh viện đa khoa Gia Viễn 65
Bảng 2.18 Khối lượng rác thải giai đoạn 2010-2012 66
Bảng 2.19 Cán bộ nhân viên y tế tại BV được hướng dẫn về Quy chế quản lý chất thải của Bộ y tế 70
Bảng 2.20 Điều kiện nhân lực và vật chất của bệnh viện về thực hiện quản lý chất thải rắn y tế 70
Bảng 2.21 Điều kiện nhân lực và vật chất của bệnh viện về thực hiện quản lý chất thải rắn y tế 71
Bảng 2.22 Mô hình tổ chức quản lý chất thải BV Gia viễn 2012 72
Bảng 2.23 Sơ đồ phân loại chất thải tại nguồn 74
Trang 6Bảng 2.24 Phân loại và đặc điểm vật dụng chứa rác tại nguồn 75Bảng 2.25 Sơ đồ thu gom và vận chuyển rác của bệnh viện Gia Viễn 2012 77Bảng 2.26 Rác thải tái chế được phân loại và quản lý trong kho 78Bệnh viện Gia Viễn 8/2013 78Bảng 2.27 Lò đốt rác của bệnh viện đa khoa huyện Gia Viễn 8/2013 79Bảng 2.28 Mô tả chu trình xử lý chất thải lỏng bệnh viện đa khoa Gia viễn 80Bảng 2.29 Công trình xử lý chất thải lỏng bệnh viện đa khoa Gia viễn 81
Trang 7MỤC LỤC
PHẨN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 4
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Kết cấu luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CÁC QUY ĐỊNH, TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 13
1.1 Khái niệm rào cản công nghê ̣ và đổi mới công nghê ̣ 13
1.1.1 Khái niệm về rào cản 13
1.1.2 Khái niệm về công nghệ và đổi mới công nghệ 15
1.2 Khái niệm chất thải và các khái niệm liên quan 18
1.2.1 Khái niệm về chất thải 18
1.2.2 Phân loại chất thải 19
1.3 Khái niệm về quản lý môi trường và xung đột môi trường 20
1.3.1 Khái nhiệm về quản lý môi trường 20
1.3.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường 21
1.3.3 Khái niệm xung đột môi trường 22
1.4 Khái niệm về chất thải y tế và quản lý chất thải y tế 23
1.4.1 Chất thải y tế nguy hại 24
1.4.2 Chất thải y tế không nguy hại 24
1.4.3 Quản lý chất thải y tế 24
1.4.4 Giảm thiểu chất thải y tế 24
Trang 81.4.6 Tái chế 24
1.4.7 Thu gom chất thải tại nơi phát sinh 24
1.4.8 Vận chuyển chất thải 25
1.4.9 Xử lý ban đầu 25
1.4.10 Xử lý và tiêu hủy chất thải 25
1.4.11 Vận chuyển CTNH 25
1.4.12 Xử lý CTNH 25
1.4.13 Sơ chế CTNH 25
1.4.14 Đồng xử lý CTNH 25
1.4.15 Tái sử dụng trực tiếp CTNH 26
1.4.16 Chất thải rắn y tế 26
1.4.17 Chất thải lỏng y tế (Nước thải y tế) 26
1.4.18 Chất thải khí 26
1.4.19 Thành phần và phân loại chất thải y tế 27
1.5 Nguy cơ của chất thải y tế 30
1.5.1 Nguy cơ đối với sức khỏe 30
1.5.2 Nguy cơ đối với môi trường 31
1.5.3 Sự nhạy cảm của cộng đồng 33
1.6 Các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến quản lý chất thải y tế 33 Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y T Ế VÀ ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TỈNH NINH BÌNH 35
2.1 Áp dụng công nghệ xử lý chất thải Y tế hiện nay 35
2.1.1 Công nghệ xử lý nước thải y tế (chất thải lỏng y tế) 35
2.1.2 Một số công nghệ xử lý rác thải y tế đang áp dụng 45
2.1.3 Xử lý khí thải 49
2.2 Thực trạng xử lý chất thải y tế tỉnh Ninh Bình 49
2.2.1 Khái quát về tỉnh Ninh Bình 49
2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 51
2.2.3 Thực trạng ngành y tế Ninh Bình 53
2.2.4 Thực trạng về người khám chữa bệnh tỉnh Ninh Bình 54
Trang 92.2.5 Hiện trạng xử lý chất thải y tế tỉnh Ninh Bình 57
2.3 Tình hình hoạt động và xử lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Gia Viễn 63
2.3.1 Lịch sử ra đời của bệnh viện 63
2.3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý bệnh viện 64
2.3.3 Hiện trạng rác thải y tế tại bệnh viện 64
2.3.4 Ảnh hưởng của rác thải y tế đến môi trường và sức khỏe con người 66
2.3.5 Hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Gia Viễn 72
Chương 3 NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 85
3.1 Nhâ ̣n diê ̣n những cản trở trong quá trình áp du ̣ng công nghê ̣ xử lý chất thải 87
3.1.1 Rào cản về nhận thức 87
3.1.2 Rào cản về cơ chế, chính sách 89
3.1.3 Rào cản về sự thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ trong công tác quản lý và xử lý chất thải 91
3.1.4 Rào cản từ tiếp nhận công nghệ xử lý chất thải 95
3.1.5 Rào cản từ nguồn kinh phí 98
3.1.6 Xung đột môi trường giữa cộng đồng dân cư xung quanh bê ̣nh viê ̣n 105
3.1.7 Công tác thanh tra, kiểm tra 106
3.2 Một số giải pháp khắc phục các rào cản 108
3.2.1 Giải pháp về thông tin, giáo dục, truyền thông 108
3.2.2 Giải pháp về cơ chế về tổ chức, quản lý và hệ thống chính sách 109
3.2.3 Giải pháp về đầu tư tài chính 109
3.2.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát 110
3.2.5 Giải pháp tiếp nhận thông tin, khoa học và công nghệ, 111
3.2.6 Giải pháp về hợp tác quốc tế 115
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122 PHỤ LỤC
Trang 10PHẨN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho khu dân
cư xung quanh gây xung đột cho cộng đồng Các chất thải y tế có chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm là chất độc hại, các loại hoá chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất phóng xạ, các vật sắc nhọn những người tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại đều có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người bên ngoài làm việc thu gom chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do
sự sai sót trong khâu quản lý và xử lý chất thải
Theo báo cáo của "Dự án đầu tư xây dựng hê ̣ thống xử lý chất thải y tế cho các cơ sở y tế công lâ ̣p giai đoạn 2010- 2015 định hướng đến năm 2020" của Bô ̣ Y tế, tính ngày 31/12/2012 toàn quốc có 1.263 bệnh viện, với hơn 140 nghìn giường bệnh và hơn 10 nghìn trạm y tế xã, trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 350- 400 tấn chất thải y tế (CTYT) trong đó, 42 tấn chất thải y tế độc hại cần được xử lý Theo dự báo, đến năm 2015, mỗi ngày sẽ có khoảng 300 nghìn m3 nước thải y tế, trên 70 tấn chất thải nguy hại được thải ra môi trường; đến năm 2020 con số này sẽ lên tới trên 93 tấn/ngày Trong khi đó, hầu hết các bệnh viện, cơ sở y tế chưa quan tâm đúng mức đến việc xử lý loại chất thải này Trong số 1.263 bệnh viện, có khoảng 53,4% bệnh viện có công trình xử lý nước thải, 46,6% không có hệ thống xử lý nước thải Đối với chất thải rắn, 90% bệnh viện thu gom hàng ngày, 67% bệnh viện xử lý bằng lò đốt, than bùn hoặc công nghệ đốt khác và 32,2% xử lý bằng lò thủ công hoặc chôn lấp trong bệnh viện và tại bãi chôn lấp chung của quận, huyện Việc sử dụng
lò đốt thủ công để xử lý chất thải "nhả khói" hoặc chôn lấp qua loa cũng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Các trạm y tế xã hầu như chưa có hệ thống
Trang 11xử lý rác thải, phải chôn lấp Một số bệnh viện, phòng khám tư nhân đều không xử lý, hoặc xử lý không đúng quy trình rồi xả thẳng ra môi trường Chất thải này có thể rò rỉ trực tiếp vào trong môi trường do hệ thống ống thoát nước bị hư hỏng
Hầu hết công nghệ xử lý chất thải ở các bệnh viện tuyến huyện hiện nay
đã cũ, lạc hậu, không đồng bộ Một số bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y
tế hiện đại nhưng không hoạt động thường xuyên, không có nhân lực có trình
độ để vận hành, có bệnh viện thiếu kinh phí cho hoạt động xử lý chất thải y tế
do đó việc xử lý chất thải ở các bệnh viện đã ảnh hưởng đến mức báo động tới môi trường đất, nước, không khí chất thải bệnh viện sẽ chính là nguồn gây bệnh lớn, đe doạ sự an toàn đến sức khoẻ của nhân viên y tế và cộng đồng dân
cư sống xung quanh ngày càng nảy sinh những xung đột (XĐ) về ô nhiễm môi trường (MT) đặc biệt là ở các Bệnh viện được xây dựng lâu năm và nằm lẫn trong khu dân cư Vấn đề xung đột môi trường giữa cộng đồng dân cư xung quanh và các bệnh viện nếu không được giải quyết sớm sẽ gây hậu quả ngày càng nghiêm trọng Hiện nay vấn đề áp dụng công nghệ trong việc xử lý chất thải y tế còn gặp nhiều khó khăn nguyên nhân của tình trạng trên một phần do không có đủ ngân sách hoặc cơ sở vật chất để xử lý loại rác thải này Bên cạnh đó, một số quy định về vấn đề xử lý rác thải còn chung chung, thiếu thực tế dẫn đến việc tổ chức, phân công trách nhiệm và quản lý chất thải nguy hại còn sai phạm, việc xử lý vi phạm lại chưa nghiêm túc Nhận thức của một
số đơn vị và cá nhân còn yếu, thậm chí, lợi dụng công việc quản lý chất thải y
tế để mưu lợi cho tập thể và cá nhân Một số cơ sở khám chữa bệnh vì lợi nhuận đã cố tình lờ đi việc đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường làm ảnh hưởng tới sức khoẻ và đời sống người dân do đó cần được nhận diện những khó khăn, những rào cản và có những giải pháp phù hợp nhằm quản lý xung đột môi trường giữa các bệnh viện với cộng đồng dân cư
Trang 12Tỉnh Ninh Bình là tỉnh nằm khu vực Đồng bằng Sông Hồng, được tách
ra từ tỉnh Hà Nam Ninh năm 1992, điều kiện cơ sở vật chất của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, phần lớn các bệnh viện trong tỉnh được xây dựng từ lâu, cơ
sở hạ tầng, trang thiết bị y tế còn thiếu và xuống cấp, hệ thống xử lý chất thải một số bệnh viện chưa đảm bảo, kinh phí cho việc xử lý chất thải còn hạn hẹp, nhân lực làm công tác bảo vệ môi trường, vận hành công nghệ xử lý chất thải của các bệnh viện chưa đáp ứng yêu cầu, hầu hết là kiêm nhiệm Mặt khác phương tiện, trang thiết bị thu gom chất thải như thùng đựng rác chuyên dụng, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu, chưa đủ tiêu chuẩn, chưa đồng bộ,
hệ thống xử lý rác thải y tế lạc hậu, một số bệnh viện mới xây dựng hệ thống
xử lý rác tương đối tốt đạt tiêu chuẩn nhưng cán bộ chưa đủ trình độ đề xử lý, vận hành không đúng quy trình, chưa hết công suất… tất cả các lý do trên đặt
ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu đề tài: “Nhận diện rào cản áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế của các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”
(Nghiên cứu trường hợp bệnh viện Đa khoa huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình)
1.2 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm bổ sung lý thuyết công nghệ xử lý chất thải y tế, các rào cản áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế, các điểm yếu cần khắc phục trong công tác quản lý chất thải y tế
Đóng góp mới khoa học của luận văn nhận diện các rào cản áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế và quản lý chất thải y tế của các bệnh viện; đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học cho các nhà quản lý, các nhà thực hiện quy hoạch, các bệnh viện và cộng đồng dân cư nhằm bảo vệ môi trường
và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững Đề xuất các phương pháp
xử lý chất thải phù hợp đối với các bệnh viện không những trên địa bàn huyện Gia Viễn mà cho các bệnh viện ở tỉnh Ninh Bình
1.3 Ý nghĩa thực tế
Đánh giá thực trạng việc áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế, công tác quản lý chất thải y tế trong các bệnh viện, kết quả nghiên cứu đã đề xuất
Trang 13các phương thức để khắc phục các rào cản, các điểm yếu trong công tác quản
lý chất thải y tế tại các bệnh viện nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với môi trường trong các bệnh viện Giảm đến mức thấp nhất vấn đề xung đột môi trường giữa các bệnh viện với cộng đồng dân cư
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu về rào cản tập trung tìm hiểu những khó khăn, trở ngại, vướng mắc của các hoạt động xã hội , quan hệ xã hội trong mọi lĩnh vực của đời sống Tiếp cận nghiên cứu ở lĩnh vực nông lâm nghiệp, Hiệp hội quốc tế
về Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) tiến hành module “ Đánh giá các rào cản ảnh hưởng tới quản lý rừng bền vững và công bằng” trong khuôn khổ của Dự án “Tăng cường tiếng nói để có sự lựa chọn tốt hơn” do Ủy ban
châu Âu tài trợ , 2008 Nghiên cứu mô tả thực trạng ngành lâm nghi ệp Việt Nam (VN), thực tiễn luật pháp và quản trị rừng , luật tục và quản trị rừng , từ
đó đưa ra so sánh về quản trị rừng theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo luật tục, đồng thời chỉ ra những tác động kinh tế xã hội
ở mức độ rộng hơn đối với rừng và sinh kế
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT) và phát triển bền vững , chính phủ Nhật Bản đã hỗ trợ chính phủ VN thông qua Cơ quan hợp tác quốc
tế Nhật Bản (JICA) cho Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC) SP-RCC được xây dựng để đưa ra các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu ở VN sau khi đánh giá tình hình thực hiện các hành động chính sách đặc thù của chính phủ VN trong 15 ngành dễ bị ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu Trong khuôn khổ Dự án “Nghiên cứu quản lý môi trường đô thị tại VN” của chuỗi hành động nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu tài trợ bởi JICA, “Báo cáo nghiên cứu về giải pháp tháo gỡ cho các dự án theo cơ chế phát triển sạch” được công bố vào 3/2011 đề cập tới rào cản như các nút thắt
Trang 14cổ chai của việc triển khai dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM) Nghiên cứu cho hay, việc triển khai CDM ở VN không chỉ thực hiện các hành động thân thiện môi trường, mà còn ảnh hưởng đến cả các hoạt động phát triển bền vững thông qua việc phát trển và sử dụng các năng lượng tái tạo, tạo điều kiện bảo tồn năng lượng, kiểm soát thiệt hại về diện tích rừng …CDM hiện vẫn là một cơ chế mới được xây dựng và còn tồn tại nhiều rào cản các rào cản được
đề cập và phân tích tr ong nghiên cứu bao gồm: Rào cản về hành chính và pháp lý; Rào cản về kinh doanh; Rào cản về nguồn nhân lực; Rào cản công nghệ; Rào cản thực tế về các thông lệ Cho đến nay nghiên cứu về rào cản trong các lĩnh vực BVMT , an ninh môi trường hiện còn khá ít ỏi Những nghiên cứu về rào cản trong quản lý XĐMT còn hiếm hoi hơn khiến cho việc tiến hành CDM trên thực tế không thuận lợi
Năm 1991 trong tạp chí “International security” Thomas F.Homer Dixon đã cho xuất bản bài báo “Biến đổi môi trường là nguyên nhân của xung đột gay gắt” Sau đó trong năm 1993 tạp chí Scientific American đã đăng tải bài báo: “Biến đổi môi trường và xung đột vũ trang – sự can kiệt tài nguyên tái tạo có thể góp phần làm mất ổn định xã hội và xung đột cộng đồng”
Năm 1993, Trung tâm đào tạo thường xuyên của Học viện Công nghệ Châu Á (AIT) đã đưa nội dung xung đột môi trường vào chương trình đào tạo
chính thức trong khóa học “Môi trường và phát triển Tài nguyên môi trường
và sử dụng” Trong khóa đào tạo họ đã đề cập đến khái niệm, nguyên nhân và
đồng thời đưa ra những lý thuyết và các giải pháp giải quyết xung đột môi trường
Năm 1995, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi Trường (CRES) thuộc Đại học Quốc Gia Ôxtrâylia đã xuất bản cuốn sách: Những rủi ro và
cơ hội Quản lý tổng hợp xung đột môi trường Đây là tài liệu hướng dẫn cho quản lý (QL) biến đổi môi trưòng và giải quyết thành công các xung đột môi trường Năm 1998, quốc hội Mỹ đã thành lập Viện nghiên cứu giải quyết XĐMT nhằm hỗ trợ các đối tác trong việc giải quyết các XĐ và các tranh cãi
Trang 15về MT, tài nguyên thiên nhiên (TNTN), sử dụng đất thông qua các cuộc hòa giải, thương lượng và hợp tác giải quyết khó khăn Từ khi thành lập, Viện này
đã tổ chức nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng tập huấn về XĐMT cho nhiều nước khác nhau như: Thái Lan, Úc, Mỹ, Canada…
Năm 1996, Chris Master đã cho ra đời cuốn sách với nhan đề: “Giải quyết xung đột môi trường: hướng tới phát triển cộng đồng bền vững”
Năm 1998, Quốc hội Mỹ đã thành lập Viện nghiên cứu giải quyết xung
đột môi trường (Institute for Environmrntal Conflict Resolution - IECR) nhằm
hỗ trợ các đối tác trong việc giải quyết những xung đột và các tranh cãi về môi trường, tài nguyên thiên nhiên, sử dụng đất thông qua các cuộc hoà giải, thương lượng và hợp tác giải quyết khó khăn
RESOLVE là trung tâm giải quyết tranh chấp chính sách cộng đồng và môi trường được thành lập tại Washington D.C đây là tổ chức phi lợi nhuận chuyên giải quyết tranh chấp môi trường, hòa giải môi trường, xung đột và chính sách đối thoại Tại Nhật Bản có Hiệp hội liên kết giải quyết tranh chấp môi trường
Ủy ban điều phối giải quyết tranh chấp môi trường (The Environmental dispute coordination commission) là cơ quan hành chính được thành lập 01/7/1972 là bộ phận mở rộng của văn phong Thủ tướng (theo quy định tại Điều 3 của Luật tổ chức chính phủ) từ việc sát nhập Hiệp hội liên kết về đất
đai và Hiệp hội đánh giá ô nhiễm môi trường Chức năng của cơ quan này bao gồm: giải quyết nhanh chóng và kịp thời các tranh chấp môi trường: cung cấp các dịch vụ hòa giải, dàn xếp, phân xử, điều đình nhằm giải quyết các tranh chấp môi trường, phối hợp việc sử dụng đất với công nghiệp khai khoáng… cân bằng giữa việc sử dụng đất đai cho công nghiệp khai khoáng, khai thác
đá, thu nhặt sỏi với lợi ích công cộng và việc sử dụng đất đai hiệu quả và phù hợp
Trang 16Thực hiện Điều 14 Công ước Basel của Liên hiệp Quốc(Basel convention) về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy
hại và việc loại bỏ chúng (13/5/1995) các trung tâm khi vực được thành lập phục vụ hoạt động đào tạo và chuyển giao công nghệ Tại Châu Á Thái Bình Dương Indonesia được lựa chọn là địa điểm đặt cơ quan đầu não của Trung tâm cấp vùng theo Nghị quyết III/19 tại Hội nghị các bên tham gia lần thứ III năm 1995 Đến nay các quốc gia ký thỏa thuận khung tham gia Trung tâm cấp vùng công ước Basel gồm: Brunei Darussalam, Cambodia, Malaysia, Myanmar, Indonesia, Singapore, Philippines,Thailand and Vietnam Trung tâm cấp vùng thực hiện mục tiêu xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo, hội thảo, Siminar và các dự án hợp tác trong các lĩnh vực quản lý về môi trường đối với chất thải độc hại, chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường
và tối thiểu hóa chất thải độc hại qua hình thức “ training the trainer” và thúc
đẩy việc hệ chuẩn công ước Basel trên toàn thế giới… Sự ra đời của các trung tâm này góp phần đưa mục tiêu của công ước Basel sớm được thực hiện, đồng thời góp phần thiết lập một cơ chế toàn cầu trong giải quyết XĐMT do việc vận chuyển rác thải nguy hại nói chung gây ra
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở Việt Nam vấn đề XĐMT những năm gần đây cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu: Nguyên nhân và giải pháp quản lý XĐMT của Nguyễn Quang Tuấn (2000) - kỷ yếu hội thảo XHH MT, Bộ KHCN MT –
số11/2000 Bài viết đặc biệt nhấn mạnh “Cơ chế chính sách yếu kém cũng là nguyên nhân làm gia tăng các XĐMT Trong đó quyền sử dụng các tài sản môi trường không được xác định rõ là một nguyên nhân trọng yếu Sự phát triển của khoa học - công nghệ cũng như sự gia tăng dân số đã làm gia tăng tốc độ khai thác tài nguyên dẫn đến gia tăng tính khan hiếm của tài nguyên Kết quả là sự gia tăng khả năng XĐMT, đặc biệt đối với những tài nguyên mà
ở đó quyền sử dụng không được xác định rõ”; “Chính sách quản lý môi
Trang 17trường đối với việc giải quyết XĐMT”; Nghiên cứu XĐMT tại Việt Nam qua
một điểm khảo sát của Nguyễn Thị Hiền và Đặng Đình Long (2000); Khoa học MT của Lê Văn Khoa (NXB Giáo dục); Lê Thanh Bình, 2000 Bài nghiên cứu nhằm tìm kiếm cơ sở thực tiễn và lý luận cho việc giải quyết XĐMT dựa trên các đề xuất trong chính sách quản lý môi trường tại VN Giải pháp chính sách giảm thiểu XĐMT trong sử dụng tài nguyên của CĐDC vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (Nghệ An) của Chu Thị Thu Hà (2002); QLXĐ trong các Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng của Đặng Thị Ánh Nguyệt (2004); Tổng quan các mô hình giải quyết XĐ có sự tham gia của các tổ chức XH dân sự trong QL bãi rác ở một số nước của Trần Chí Đức (2005)…Theo Vũ
Cao Đàm “ XĐMT đáng được xem là một chủ đề quan trọng hàng đầu trong
xã hội học mội trường và thực tiễn hoạch định chính sách và quản lý môi trường Cũng chính vì vậy, XĐMT ngày càng trở nên một phạm trù khoa học
có ý nghĩa then chốt trong các nghiên cứu lý thuyết của bộ môn khoa học về
xã hội học môi trường Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như: “Giải quyết XĐMT trong các làng nghề - nội dung tất yếu của quản lý môi trường”,
Vũ Cao Đàm , 2000; “Vai trò của cộng đồng dân cư và tổ chức xã hội trong việc thực hiện chính sách môi trường tại VN”, Bạch Tân Sinh; “XĐMT nguyên nhân và giải pháp”, Nguyễn Thảo, Đại học Colombia phân tích:
Trong thập kỉ trước, tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cùng với quá trình
đô thi hóa không được kiểm soát chặt chẽ đã đưa đến một loạt các vấn đề cho
hệ thống quản lý chất thải rắn của VN, quản lý chất thải đang đứng trước những thách th ức về môi trường nghiêm trọng Không chỉ là sự tăng lên của lượng chất thải, mà các thành ph ần chất thải cũng đã có những bi ến đổi rất khác so với trước đây Hệ thống quản lý hiện tại đã bị quá tải do thiếu năng lực thể chế, nhân lực, nguồn lực tài chính th ể hiện ở tỉ lệ thu gom chất thải còn ở mức thấp, các thi ết bị xử lý đã không còn phù hợp Nghiên cứu này phần nào mô t ả được cách tiếp cận trong quản lý XĐMT do chất thải rắn nói
Trang 18chung tại VN, làm rõ đư ợc vai trò của các bên liên quan trong qu ản lý chất
thải rắn Cuốn sách Nghiên cứu Xã hội về môi trường của tập thể tác giả do
Vũ Cao Đàm làm chủ biên đã tập hợp các nghiên cứu xã hội về môi trường
như bài viết “Tranh chấp môi trường” của TS Đào Thanh Trường; Nghiên cứu của Nguyễn Nguyệt Phương “Xung đột môi trường giữa các bệnh viện và cộng đồng dân cư ở Hà Nội” đã nhận dạng xung đột môi trường về hình thức
và mức độ xung đột giữa các bệnh viện và cộng đồng dân cư sống xung quanh, thông qua đó tìm hiểu bản chất của xung đột môi trường và vai trò của
các bên trong xung đột Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Huyền “Quy hoạch bãi rác đô thị nhìn từ giác độ xung đột môi trường”; nghiên cứu của Nguyễn Văn Chức “Nhận dạng xung đột môi trường ở tinh Quảng Nam”; nghiên cứu của Đinh Minh Tung “Quản lý xung đột môi trưởng ở tỉnh Hà Giang” đã nhận dạng xung đột môi trường về hình thức và mức độ xung đột
giữa các bệnh viện và cộng đồng dân cư sống xung quanh, thông qua đó tìm hiểu bản chất của xung đột môi trường và vai trò của các bên trong xung đột XĐMT được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau qua nhiều bước: Trước hết là những mục đích tiềm ẩn khác nhau, tiến đến những hành động không tương hợp, đến giai đoạn cao hơn là những mâu thuẫn, bất đồng trong quan điểm khai thác sử dụng tài nguyên môi trường và chia sẻ các nguồn lợi, nếu những mâu thuẩn này không được giải quyết sẽ phát triển lên mức cao hơn, gay gắt hơn, dẫn đến các hành động đấu tranh của những nhóm người đông làm mất ổn định xã hội, mất ổn định chính trị” Ở Ninh Bình hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về nhận diện rào cản áp dụng công nghệ trong xử lý
chất thải y tế của các bệnh viện Vì vậy tôi chọn đề tài “Nhận diện rào cản
áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình” (Nghiên cứu các trường hợp cụ thể bệnh viện Đa khoa huyện Gia
Viễn, tỉnh Ninh Bình) làm đề tài Luận văn cao học của mình
Trang 193 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nhận diện những rào cản trong việc áp dụng công nghệ xử lý chất thải
y tế tại các bệnh viện của tỉnh Ninh Bình, đưa ra những giải pháp khắc phục những rào cản đó nhằm quản lý chất thải y tế và hạn chế xung đột môi trường giữa các bệnh viện với cộng đồng dân cư
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ các khái niệm, các lý thuyết áp dụng
Đánh giá thực trạng việc xử lý chất thải y tế và áp dụng công nghệ xử
lý chất thải y tế trong các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Nhận diện các rào cản áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế hiện nay
Đề xuất một số giải pháp khắc phục rào cản đồng thời đưa ra các phương pháp xử lý chất thải y tế phù hợp cho các bệnh viện
Điều tra, khảo sát, phân tích và xử lý thông tin định lượng và định tính
- Hình thức: Quan sát, phỏng vấn bằng phiếu hỏi
60 phiếu phỏng vấn cộng đồng dân cư sống xung quanh bệnh viện
40 phiếu phỏng vấn lãnh đạo, cán bộ, nhân viên y tế
Trang 206 Câu hỏi nghiên cứu
- Yếu tố nào là rào cản trong việc áp dụng công nghệ xử lý chất thải y
tế trong các bệnh viện thuộc tỉnh Ninh Bình hiện nay?
- Làm thế nào để khắc phục các rào cản đó?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Các yếu tố rào cản đó là: Nhận thức của một số lãnh đạo trong công tác quản lý và đầu tư công nghệ xử lý chất thải y tế chưa được chú trọng; Hệ thống
cơ sở vật chất trang thiết bị cũ, thiếu, lạc hậu và không đồng bộ; Nhân lực thiếu, yếu, không đủ trình độ để tiếp nhận công nghệ hiện đại; Kinh phí Chi phí cho việc xử lý chất thải y tế lớn; Có sự chồng chéo trong công tác quản lý điều hành; thiếu sự quan tâm của Lãnh đạo chính quyền địa phương trong việc quy hoạch địa điểm xây dựng bệnh viện; Phối hợp giữa các cơ quan trong việc thu gom, xử lý chất thải chưa tốt
- Các giải pháp khắc phục: Tuyên tuyền vận động nâng cao nhận thức; Quản lý chặt chẽ vấn đề thu gom và xử lý chất thải y tế; Đầu tư kinh phí, trang thiết bị, lựa công nghệ tiên tiến hiện đại phù hợp, đào tạo nhân lực
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát và khảo sát thực tế vấn đề đầu tư, trang thiết bị cơ sở vật chất của các bệnh viện việc áp dụng công nghệ
xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện, quan sát vấn đề XĐ cũng như tình trạng
ô nhiễm môi trường, công tác quản lý chất thải y tế tại các nơi nghiên cứu 8.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi:
- Phỏng vấn bằng bảng hỏi với 60 phiếu cho CĐDC xung quanh các bệnh viện
- 40 phiếu phỏng vấn cán bộ, nhân viên y tế, lãnh đạo địa phương, lãnh đạo các phòng chức năng
- Phương pháp xử lý thông tin: Tập hợp các kết quả đo các chỉ tiêu môi trường nơi các bệnh viện do Chi cục BVMT cung cấp Thống kê xử lý
Trang 21toán học để theo dõi diễn biến các thành phần MT, các chỉ số phát triển kinh
tế, đầu tư và thu nhập
- Phân tích số liệu dựa trên báo cáo của các cơ quan Quản lý Nhà nước như Cục thống kê, Sở tài nguyên môi trường, Sở khoa học và công nghệ, Sở Y tế…
9 Kết cấu luận văn
Chương 3 Nhận diện những rào cản áp dụng công nghệ xử lý chất thải y
tế hiện nay và những giải pháp khắc phục
PHẦN KẾT LUẬN
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Trang 22
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CÁC QUY ĐỊNH, TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
1.1 Khái niệm rào cản công nghê ̣ và đổi mới công nghê ̣
1.1.1 Khái niệm về rào cản
Định nghĩa rào cản được đề cập đến trong một số từ điển với nội hàm chỉ những đối tượng vật chất, hoặc những vật thể được sử dụng để tách biệt,
phân định ranh giới hoặc là các chướng ngại vật nói chung (theo từ điển bách khoa toàn thư Merriam Webster) Theo từ điển Ngôn ngữ tiếng Anh rào cản
có thể giải thích theo 7 ý nghĩa, như một dạng cấu trúc vật chất được xây dựng để ngăn trở việc vượt qua; là yếu tố phi vật chất với vai trò ngăn cản, gây trở ngại; trong lĩnh vực sinh học rào cản rào cản là một lớp màng, lớp mô hoặc một cơ chế có khả năng ngăn cản quá trình chuyển đổi của một số chất ; trong lĩnh vực sinh thái học rào cản là yếu tố vật chất vật lý hoặc sinh học giới hạn sự di cư; rào cản có thể là một làn ranh giới hoặc giới hạn , hoă ̣c là thứ có khả năng tách biệt hoặc giữ khoảng cách ; hoặc rào cản có thể dùng để chỉ các dạng thanh chắn( cầu đường)…Theo từ điển đa ngôn ngữ Kernerman rào cản được đi ̣nh nghĩa là những gì thiết lâ ̣p để bảo vê ̣ hoă ̣c ngăn trở , hoă ̣c gây khó khăn Cách diến đạt trên đều nhận diện đặc trưng của rào cản là bất cứ thứ gì (vâ ̣t chất hoă ̣c phi vâ ̣t chất ) có khả năng ngăn chặn , cản trở, gây trở nga ̣i cho sự vượt qua mô ̣t giới ha ̣n hoă ̣c duy trì sự tách biê ̣t hoă ̣ c ngưỡng danh giới nhất đi ̣nh Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì “rào cản” có thể hiểu là việc ngăn, không cho vượt qua, là sự trở ngại, ngăn cách
Hiện nay rào cản được đề cập và phân tích trong nghiên cứu bao gồm : Rào cản về hành chính và pháp lý; Rào cản về kinh doanh; Rào cản về nguồn nhân lực; Rào cản công nghệ; Rào cản thực tế về các thông lệ ; Rào cản nhận
Trang 23thức; Rào cản cảm xúc; Rào cản trí tuệ
Lý thuyết về rào cản bên cạnh sự đa dạng và phong phú trong cách phân tích và diễn giải khái niệm thì việc phân loại : Rào cản nhận thức tồn tại khi con người không thể nhâ ̣n thức đầy đủ được vấn đề hoă ̣c các thông tin để
có cách giải quyết phù hợp
Rào cản nhận thức xuất hiện trong quá trình học hỏi để tiếp nhận thông tin về thế giới khách quan của con người
Rào cản cảm xúc xuất hiện khi những cảm xúc , tình cảm của con người xung đô ̣t với bối cảnh, hoàn cảnh cụ thể, do đó ha ̣n chế khả năng phản ứng và quyết đi ̣nh của con người Rào cản này tồn tại khi chúng ta nhận biết có sự tổn ha ̣i đến nhu cầu cảm xúc (loại nhu cầu khác biệt nhau về loại hình và cường đô ̣ ở mỗi cá nhân có thể là : nhu cầu về thành công , nhu cầu được thừa nhâ ̣n, nhu cầu được ra mê ̣nh lê ̣nh , nhu cầu phu ̣ thuô ̣c và nhu cầu về lòng tự trọng Rào cản trí tuệ xuất hiện khi con người không đủ khả năng để hấp thụ thông tin, kiến thức cần thiết nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh)
Rào cản trí tuệ tồn tại khi con người không có những kĩ năng tư duy cần thiết để tìm ra giải pháp phù hợp cho các vấn đề nảy sinh , hoă ̣c không thể sử du ̣ng chúng mô ̣t cách tối ưu
Rào cản về ngôn ngữ là sự khó khăn khi cá nhân hoặc nhóm người không thể giao tiếp hay diễn đa ̣t ý muốn nói theo ngôn ngữ được sự thông hiểu của những người khác
Rào cản môi trường xuất hiện do những trở ngại , chướng nga ̣i trong môi trường tự nhiên hoă ̣c xã hô ̣i cản trở việc con người đạt được hoặc giải quyết những vấn đề trong đời sống
Rào cản văn hóa xuất hiện khi những đặc trưng văn hóa biểu hiện qua hành vi được cho là khác thường , nằm ngoài những dự liê ̣u về cách ứng xử văn hóa thông thường (theo tâ ̣p tu ̣c, tâ ̣p quán, theo nghi lễ, theo chuẩn mực xã
hô ̣i ) Rào cản văn hóa tồn tại khi việc giải quyết vấn đề gặp trợ ngại bởi sự
Trang 24khác biệt giữa một bên cho rằng giải pháp đó là phù hợp với thông lê ̣, trong khi bên còn la ̣i ý kiến hoàn toàn trái ngược Đứng trước một tình huống nan giải con người thường có thói quen tạo lập các giải pháp hơn là tìm hiểu
nguyên nhân cốt lõi của vấn đề (nếu mô ̣t viê ̣c không hoàn thành thì ngay lập tức người ta sẽ đă ̣t câu hỏi ta ̣i vì sao viê ̣c đó la ̣i không được hoàn thành hơn là
đă ̣t câu hỏi vì sao viê ̣c đó cần phải hoàn thành) Con người là chủ thể sáng ta ̣o song cũng là những cá nhân không thích sự thay đổi bởi thay đổi thường liên quan đến những yếu tố bất đi ̣nh , khó biết trước được kết quả có thể xảy ra Bên ca ̣nh những rào cản mang tính văn hóa cá nhân , thì tồn tại những rào cản mang tính đa ̣i chúng như rào cản do niềm tin , rào cản do định kiến , rào cản giữa hợp tác và bất hợp tác , rào cản do những điều cấm kỵ , rào cản do khác biê ̣t về giá tri ̣
Khái niệm rào cản về áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế : Rào cản
về hành chính và pháp lý; Rào cản về kinh doanh; Rào cản về nguồn lực; Rào cản công nghệ; Rào cản nhận thức; Rào cản trí tuệ
Có thể hiểu rào cản áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế đó là sự cản trở về nhận thức, quản lý, đầu tư, vận hành và chuyển giao công nghệ trong quá trình áp dụng công nghệ xử lý chất thải y tế
Lý thuyết về rào cản bên cạnh sự đa dạng và phong phú trong phong cách phân tích và diễn giải khái niệm thì việc phân loại rào cản và tìm hiểu nguyên nhân của các rào cản còn khá ít ỏi Do vậy hiện nay rào cản được nhận diện là những trở ngại, khó khăn vướng mắc trong quá trình thiết kế và thực thi các giải pháp nhằm ngăn trở sự vượt qua giới hạn, chuẩn mực cho phép ở cả hai khía cạnh lý luận và thực tiễn
1.1.2 Khái niệm về công nghệ và đổi mới công nghệ
Khái niệm về công nghệ
Khái niệm “công nghệ” vốn dĩ là một khái niệm phức tạp với nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau
Trang 25Định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ” Định nghĩa công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dụng công nghệ mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội Những lĩnh vực công nghệ mới mẻ dần trở thành quen thuộc: Công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng… Tóm lại công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác ( tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ
Luật KH &CN năm 2000 có định nghĩa Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm
Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 có định nghĩa: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công
cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Theo quan điểm của tác giả, tại luận văn này sử dụng luật Khoa học và công nghệ năm 2013 sẽ hợp lý
Khái niệm đổi mới công nghệ
Lịch sử phát triển xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của một loại hình kỹ thuật đặc trưng quyết định sự phát triển của xã hội loài người ở giai đoạn đó Thời
Trang 26kỳ đồ đá phát triển cao hơn thời kỳ trước đó là nhờ sự xuất hiện và phát triển của các công cụ lao động bằng đá Thời kỳ đó lại được thay thế bởi thời kỳ đồ đồng có mức độ phát triển cao hơn với sự xuất hiện và phát triển của việc sản xuất và sử dụng các công cụ sản xuất bằng đồng Chính khả năng dễ chế tạo thành các công cụ lao động khác nhau của đồng và tính hiệu quả cao hơn của các công cụ này đã làm cho chất lượng sống của con người được nâng cao hơn … Đến thế kỷ XVIII tất cả các hệ thống kỹ thuật mà loài người đã sử dụng lúc đó dần được thay đổi đó là ở nguồn động lực, với sự ra đời của máy hơi nước - nguồn động lực mới thay thế nguồn động lực truyền thống là sức lực cơ bắp của con người và gia súc và một phần nhỏ sức mạnh tự nhiên như sức gió, sức nước Đó là một trong các yếu tố tạo nên cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, làm thay đổi bộ mặt của thế giới
Ngày nay việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin là một
xu thế tất yếu của hệ thống công nghệ toàn cầu đã và đang mang lại những hiệu quả to lớn đối với sự phát triển của từng doanh nghiệp, mỗi quốc gia và toàn thế giới, nhờ liên tục đổi mới công nghệ
Vậy đổi mới công nghệ là gì ? Đó chính là cấp cao nhất của thay đổi công nghệ và là qúa trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các
hệ thống công nghệ Có quan điểm cho rằng đổi mới công nghệ là sự hoàn thiện và phát triển không ngừng các thành phần cấu thành công nghệ dựa trên các thành tựu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế, xã hội Với quan điểm này một sự thay đổi trong các thành phần công nghệ dù nhỏ cũng được coi là đổi mới công nghệ, thực ra các hoạt động này nên coi là cải tiến công nghệ thì chính xác hơn Mặt khác,
hệ thống công nghệ mà con người đang sử dụng có tính phức tạp và đang dạng cao, chỉ một loại sản phẩm đã có thể dùng rất nhiều loại công nghệ khác nhau, do đó nếu xếp tất cả các thay đổi nhỏ về công nghệ thuộc về đổi mới công nghệ thì việc quản lý đổi mới công nghệ là việc làm không có tính khả
Trang 27thi Để có thể quản lý được các hoạt động đổi mới thì cần tập trung vào những hoạt động cơ bản Do đó ta có thể đưa ra khái niệm đổi mới công nghệ như
sau: “Đổi mới công nghệ là việc chủ động thay thế tầm quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn, hiệu quả hơn.”
Đổi mới công nghệ có thể chỉ nhằm giải quyết các bài toán tối ưu các thông số sản xuất như năng suất, chất lượng, hiệu quả… (Đổi mới quá trình) hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường (đổi mới sản phẩm) Đổi mới công nghệ có thể là đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới (ví dự, sáng chế công nghệ mới) chưa có trên thị trường công nghệ hoặc là nơi sử dụng nó lần đầu và trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới (ví dụ, đổi mới công nghệ nhờ chuyển giao công nghệ theo chiều ngang)
Theo hội đồng tư vấn KH &CN Anh: Đổi mới công nghệ là quá trình
kỹ thuật, công nghiệp, thương mại nhằm marketing sản phẩm mới, nhằm sử dụng các quá trình kỹ thuật và thiết bị mới [2;46]
Theo OECD: Đổi mới KH&CN có thể được xem như là biến đổi một ý tưởng thành sản phẩm mới có thể bán được hoặc thành quá trình vận hành trong công nghiệp, trong thương mại hoặc thành phương pháp mới về dịch vụ
xã hội[2;46]
Theo tác giả trong nội dung luận văn này việc đổi mới công nghệ có
nghĩa là các bệnh viện chủ động thay thế công nghệ xử lý chất thải y tế cũ, lạc hậu bằng công nghệ mới tiên tiến,, phù hợp, hiệu quả làm giảm đến mức thấp nhất vấn đề ô nhiễm môi trường trong các bệnh viện và cộng đồng dân cư
1.2 Khái niệm chất thải và các khái niê ̣m liên quan
1.2.1 Khái niệm về chất thải
Chất thải là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế- xã hội, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt động sống
Trang 28và duy trì sự tồn tại của cộng đồng Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn
Lượng chất thải phát sinh thay đổi do tác động của nhiều yếu tố như tăng trưởng và phát triển sản xuất, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và sự phát triển điều kiện sống và trình độ dân trí
1.2.2 Phân loại chất thải
1.2.2.1 Phân loại theo nguồn phát sinh
- Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân cư, các trung tâm dịch vụ, công viên
- Chất thải công nghiệp: phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí)
- Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra
- Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch
1.2.2.2 Phân loại theo mức độ nguy hại
- Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng Các chất thải này tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe doạ sức khoẻ con người và sự phát triển của động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí
- Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất có các tính chất nguy hại Thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, đô thị…
1.2.2.3 Phân loại theo thành phần
Trang 29- Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vật liệu xây dựng như gạch, vữa, thuỷ tinh, gốm sứ, một số loại phân bón, đồ dùng thải bỏ gia đình
- Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ như thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ
và các loại thuốc bảo vệ thực vật
1.2.2.4 Phân loại theo trạng thái chất thải
- Chất thải trạng thái rắn: bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải từ các
cơ sở chế tạo máy, xây dựng (kim loại, da, hoá chất sơn, nhựa, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng…)
- Chất thải ở trạng thái lỏng: phân bùn từ cống rãnh, bể phốt, nước thải
từ nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước từ nhà máy sản xuất giấy, dệt, nhuộm và
vệ sinh công nghiệp…
- Chất thải ở trạng thái khí: bao gồm các khí thải các động cơ đốt trong các máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hoả, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu…
1.3 Khái niệm về quản lý môi trường và xung đột môi trường
1.3.1 Khái nhiệm về quản lý môi trường
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống
và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm:
Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người
Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên
Trang 30thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội
Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư
1.3.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WTO) thì: “Ô nhiễm môi trường là việc chuyển các chất thải hoặc các nguyên liệu vào môi trường đến mức có thể gây hại cho sức khoẻ của con người và sự phát triển của sinh vật hoặc làm giảm chất lượng môi trường sống”
Còn theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì “Ô nhiễm môi trường là
sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn của môi trường”
Ô nhiễm, suy thoái môi trường hiện nay bức xúc và nghiêm trọng nhất
là trên các lĩnh vực thành phần cơ bản của môi trường như:
Ô nhiễm môi trường đất: là hậu quả các hoạt động của con người làm
thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần
xã sống trong đất Có nhiều nguyên nhân, trước hết là do rừng bị tàn phá nặng
nề, làm cho độ che phủ ngày càng bị giảm sút, dẫn đến mưa và lũ bất thường làm cho đất bị sạt lở, xói mòn, bạc mù Mặt khác đất còn bị ô nhiễm do các chất thải công nghiệp và do việc lạm dụng các loại hoá chất, phân bón hoá học
Ô nhiễm môi trường nước: Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu
đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền
và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại chất thải và nước thải công nghiệp được thải ra lưu vực các con sông mà chưa qua xử lí đúng mức; các loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước
Trang 31ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông gây ô nhiễm trầm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân trong khu vực
Ô nhiễm môi trường không khí: Ô nhiễm môi trường không khí là sự có
mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi…
1.3.3 Khái niệm xung đột môi trường
Thuật ngữ xung đột môi trường được hiểu và định nghĩa khác nhau trên thế giới, tác giả Lê Thanh Bình trong nghiên cứu của mình đã dẫn ra ba cách hiểu xung đột môi trường của viện Khoa học Công nghệ Châu Á – AIT như sau:
- Xung đột môi trường là xung đột quyền lợi của cộng đồng, vị trí nghề nghiệp và ưu tiên chính trị; là mâu thuẫn giữa hiện tại và tương lai; giữa bảo tồn và phát triển, kết quả của xung đột môi trường có thể là xây dựng hoặc phá huỷ phụ thuộc vào quản lý xung đột
- Xung đột môi trường là kết quả của việc sử dụng tài nguyên do một nhóm người bất lợi cho nhóm khác
- Xung đột môi trường là kết quả của việc triển khai quá mức hoặc lạm dụng tài nguyên thiên nhiên [3;95]
Dưới góc độ tiếp cận xã hội học, nguyên nhân sâu xa của tranh chấp xung đột môi trường bắt nguồn từ việc tranh giành lợi thế trong khai thác và
sử dụng các nguồn lực tự nhiên, trong đó nổi lên vai trò của các nhóm xã hội trong những tác động bảo vệ hoặc phá hoại môi trường sống Khai thác và bảo vệ môi trường tự nhiên là một vấn đề liên quan đến nhiều nhóm xã hội,
có thể là nhóm trực tiếp khai thác môi trường như các công ty, các doanh nghiệp; nhóm bảo vệ môi trường cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội hay chính những nhóm đại diện cho các cơ quan quản lý môi trường … Trong quá trình khai thác và bảo vệ môi trường các vấn đề môi trường như tranh chấp môi trường, xung đột môi trường … giữa các nhóm xã hội này thường xuyên xảy ra và có xu hướng ngày càng gia tăng Cùng với việc gia tăng dân số, sự
Trang 32tiến bộ của khoa học và công nghệ là sức ép ngày càng lớn đối với môi trường
tự nhiên Sự tranh giành lợi thế này dẫn đến hậu quả là khoét sâu bất bình đẳng xã hội, đối chọi lợi ích giữa các nhóm xã hội và cuối cùng là tranh chấp, xung đột giữa các cá nhân, các nhóm xã hội về quyền lợi Những vấn đề này ngày càng trở nên bức thiết đối với con người trong việc bảo vệ môi trường sống của mình cũng như của thế hệ tương lai
Các dạng xung đột môi trường
Căn cứ vào nguyên nhân xung đột, những nghiên cứu xã hội học môi trường cho thấy có thể tồn tại những dạng xung đột sau:
Thứ nhất là xung đột nhận thức: dạng xung đột đơn giản nhất, có căn
nguyên từ sự hiểu biết khác nhau trong hành động của các nhóm, dẫn tới phá hoại môi trường
Thứ hai là xung đột mục tiêu: mục tiêu hoạt động của các nhóm dẫn
đến xung đột Ví dụ: Người trồng rau phun thuốc trừ sâu để đạt mục tiêu bảo
vệ cây trồng, dẫn đến xung đột với mục tiêu bảo vệ sức khoẻ của người tiêu dùng
Thứ ba là xung đột lợi ích: xuất hiện khi các nhóm tranh giành lợi thế
sử dụng tài nguyên Ví dụ: cơ sở sản xuất xả chất thải xuống sông, vào ruộng của nông dân, xâm phạm lợi ích của nông dân, phá hại môi trường
Thứ tư là xung đột quyền lực: nhóm có quyền lực mạnh hơn lấn át
nhóm khác, chiếm dụng lợi thế của các nhóm khác, dẫn đến ô nhiễm môi trường
Trên thực tế, mỗi sự kiện xung đột môi trường có thể chỉ xuất phát từ một loại xung đột, song thường tồn tại một loại và cuối cùng cái đọng lại lớn nhất là xung đột lợi ích: vì lợi ích vị kỷ của một nhóm hoặc vì sự thỏa hiệp lợi ích giữa các nhóm làm cho môi trường bị huỷ hoại; nhờ sự cam kết chuẩn mực môi trường hoặc sự đấu tranh giữa các nhóm mà môi trường được bảo vệ
1.4 Khái niệm về chất thải y tế và quản lý chất thải y tế
Chất thải y tế là vật chất ở thế rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở
y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Trang 33Như vậy, chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng, khí và thường có đặc tính và tác động xấu đối với môi trường và sức khoẻ con người Người ta thường phân biệt hai loại chất thải y tế: chất thải nguy hại và không nguy hại
1.4.1 Chất thải y tế nguy hại
Là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn
1.4.2 Chất thải y tế không nguy hại
Là những loại không có khả năng gây độc, như giấy, nhựa, thực phẩm
dư thừa… Đối với loại chất thải này không cần lưu giữ và xử lý đặc biệt, nhưng để bảo vệ môi trường và cộng đồng, chúng cần được thu gom và xử lý phù hợp
1.4.3 Quản lý chất thải y tế
Là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận
chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế
và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
1.4.4 Giảm thiểu chất thải y tế
Là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế bao gồm: giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng các sản phẩm có thể tái chế, tái
sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành và phân loại chất thải chính xác
1.4.5 Tái sử dụng
Là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới
1.4.6 Tái chế
Là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới
1.4.7 Thu gom chất thải tại nơi phát sinh
Là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải
Trang 341.4.10 Xử lý và tiêu hủy chất thải
Là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường
1.4.13 Sơ chế CTNH
Là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật cơ-lý đơn thuần nhằm thay đổi tính chất vật lý như kích thước, độ ẩm, nhiệt độ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, xử lý hoặc nhằm phối trộn hoặc tách riêng các thành phần của CTNH cho phù hợp với các phương pháp xử lý khác nhau
1.4.14 Đồng xử lý CTNH
Là việc kết hợp một quá trình sản xuất sẵn có để xử lý CTNH, trong đó CTNH được sử dụng làm nhiên liệu, nguyên vật liệu bổ sung cho quá trình sản xuất này
Trang 351.4.15 Tái sử dụng trực tiếp CTNH
Là việc trực tiếp sử dụng lại các CTNH có nguồn gốc là các phương tiện, thiết bị, sản phẩm hoặc vật liệu, hoá chất đã qua sử dụng thuộc danh mục quy định tại Phụ lục 8 kèm theo Thông tư này theo đúng mục đích sử dụng ban đầu của phương tiện, thiết bị, sản phẩm hoặc vật liệu, hoá chất đó mà không qua bất kỳ khâu xử lý hay sơ chế nào
1.4.16 Chất thải rắn y tế
Chất thải rắn y tế được định nghĩa trong Quyết định 43/2007/QĐ-BYT bao gồm tất cả chất thải rắn đựợc thải ra từ các cơ sở y tế Định nghĩa chất thải rắn y tế của Tổ chức Y tế Thế giới – WHO thêm vào đó là bao gồm cả những chất thải có nguồn gốc từ các nguồn nhỏ hơn nhưng được tạo ra trong quá trình chăm sóc sức khỏe tại nhà (lọc máu, tiêm…)
Chất thải rắn y tế: Giấy các loại; kim loại, vỏ hộp; thuỷ tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa; bông băng, bột bó gãy xương; chai, túi nhựa các loại; bệnh phẩm; rác hữu cơ; đất đá và các vật rắn khác
1.4.17 Chất thải lỏng y tế (Nước thải y tế)
Nước thải từ các cơ sở y tế bao gồm nước thải phát sinh từ các hoạt động chăm sóc và sinh hoạt trong bệnh viện Nước thải này có thể chứa vi sinh vật, kim loại nặng, hóa chất độc, đồng vị phóng xạ, bên cạnh đó còn có nước mưa không chứa chất gây ô nhiễm
Nhìn chung nước thải bệnh viện có thể chia làm 3 nguồn chính như sau: Nước thải từ các phòng điều trị, từ các labo xét nghiệm (giải phẫu bệnh, huyết học, truyền máu nhà đại thể, lau rửa các ca mổ, khoa lây) đây là nguồn chất thải nguy hại; Chất thải do hóa chất sinh ra (độc hại) từ các phòng dược như các loại thuốc, vacxin, huyết thanh quá hạn Từ các quá trình hóa học như dung môi hữu cơ, hóa chất xét nghiệm, các hoạt chất vô cơ và Nước thải sinh hoạt của các phòng cán bộ công nhân viên, nhà bếp, nhà ăn
1.4.18 Chất thải khí: là khí thải từ các công trình, thiết bị xử lý, tiêu
Trang 36Về khí thải y tế nguy hại, số lượng phát sinh không nhiều, chủ yếu phát sinh từ các cơ sở y tế có các phòng thí nghiệm phục vụ công tác nghiên cứu
và đào tạo y dược
Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được thiêu đốt điều kiện không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và môi trường Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ trong khi rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen Nhiều lò đốt rác bệnh viện hiện nay đều có nguy cơ gây ô nhiễm do thiết kế không phù hợp, vận hành và bảo dưỡng kém ở nhiều lò đốt rác có thể dẫn tới phát thải nhiều chất ô nhiễm bên cạnh dioxin và furan, trong
đó có các kim loại nặng ( như chì, thủy ngân và cadimi) các thành phần hạt, bụi, hydrogen chloride (HCI), sulphur dioxide(SO2), carbon monoxide(CO),
và nitrogen oxides (NOx)
1.4.19 Thành phần và phân loại chất thải y tế
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa hoc, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm:
*Nhóm chất thải lâm sàng (clinical waste): bao gồm 5 phân nhóm khác
nhau là:
- Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn (infectious waste): vật liệu thấm máu, dịch, băng gạc, bông băng, túi đựng dịch, dẫn lưu v.v
- Nhóm B: các vật sắc nhọn (sharps): như các loại kim tiêm, lưỡi dao
mổ, dao lam dùng trong y tế, ống thuốc tiêm vỡ v.v
- Nhóm C: chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm như găng tay, lam kính, bệnh phẩm v.v
- Nhóm D: chất thải dược phẩm bao gồm dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, thuốc gây độc tế bào kể cảc các lọ thuốc đã được sử dụng nhưng còn tồn lưu dư lượng, và hoá chất có tính gây độc đối với tế bào
- Nhóm E: bệnh phẩm (pathological waste): nhóm này bao gồm các mô
và cơ quan người, động vật, một phần chi thể bị cắt bỏ do các can thiệp phẫu
Trang 37thuật (cần lưu ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi chúng không chứa nguồn lây nhiễm nhưng cũng vẫn có khả năng gây ra tác động tâm lý rất mạnh)
* Nhóm chất phóng xạ: Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt
động chuẩn đoán, hoá trị liệu và nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy
thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ
* Nhóm chất thải hoá học: Chất thải hoá học bao gồm các hoá chất có
thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axít amin, một số loại muối v.v
và hoá chất nguy hại như phóc-man-đê-hít, hoá chất quang học, các dung môi, hoá chất dùng để diệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa
chất dùng trong khử trùng, tẩy uế, thanh trùng v.v
* Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất: Nhóm này bao gồm các bình
chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy, CO2 bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần, v.v đa số các bình chứa khí nén này thường
dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng qui cách
* Nhóm chất thải sinh hoạt: Nhóm chất thải này có đặc điểm chung
như chất thải sinh hoạt thông thường từ các hộ gia đình gồm giấy loại, vải loại, vật liệu đóng gói bao gói, thức ăn còn thừa, thực phẩm thải bỏ và chất thải ngoại cảnh như các loại lá cây, hoa quả rụng v.v
* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm,
hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
Trang 38- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
- Tại nguồn, chất thải rắn y tế sẽ được phân loại vào các túi nilon và thùng đựng rác được mã màu Hộ lý hoặc công nhân vệ sinh môi trường sẽ thu gom và vận chuyển rác thải tới nơi lưu giữ tạm thời để lưu giữ tối đa trong
48 giờ Nếu cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại có sẵn trong tỉnh/thị trấn, chất thải nguy hại sẽ được vận chuyển tới đó để xử lý tập trung Chỉ khi nào bệnh viện không thể tiếp cận được với cơ sở xử lý và tiêu hủy tập trung hoặc theo cụm, chất thải nguy hại mới được xử lý và tiêu hủy tại chỗ Chất thải thông thường sẽ được công ty môi trường đô thị vận chuyển tới bãi rác để tiêu hủy Chất thải có thể tái chế sẽ được bán cho cơ sở tái chế có giấy phép hành nghề Phương án quản lý an toàn chất thải rắn y tế được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Sơ đồ quản lý chất thải rắn
Trang 391.5 Nguy cơ của chất thải y tế
1.5.1 Nguy cơ đối với sức khỏe
Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn Những nhóm có
nguy cơ bao gồm:
- Nhân viên y tế: bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên
- Bệnh nhân
- Người nhà và khách thăm nuôi bệnh nhân
- Công nhân làm việc trong khối hỗ trợ như thu gom, vận chuyển rác, giặt là;
- Công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải (như bãi rác hoặc lò
đốt), bao gồm cả những người nhặt rác
*Nguy cơ của chất thải lây nhiễm
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niệm mạc; qua đường hô hấp; qua đường tiêu hóa Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng kháng sinh và kháng hóa chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế không an toàn Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị nhiễm bẩn Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp nhất trong cơ sở y tế Một khảo sát của Viện Y học lao động và môi trường năm 2006 cho thấy 35% số nhân viên y tế bị thương tích do vật sắc nhọn trong vòng 6 tháng và 70% trong số họ bị thương tích do vật sắc nhọn trong sự nghiệp Tổn thương do vật sắc nhọn có khả năng lây truyền các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như HIV,
HBV và HCV Khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV nghề nghiệp là do
thương tích do vật sắc nhọn và kim tiêm Việc tái chế hoặc xử lý không an toàn chất thải lây nhiễm, bao gồm cả nhựa và vật sắc nhọn có thể có tác động lâu dài tới sức khỏe cộng đồng
Trang 40*Nguy cơ của chất thải hóa học và dược phẩm
Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại (ví dụ chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc) nhưng thường ở khối lượng thấp Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất qua đường da, niêm mạc, qua đường hô hấp, tiêu hóa Tổn thương da, mắt và niêm mạc đường hô hấp có thể gặp khi tiếp xúc với hóa chất gây cháy, gây ăn mòn, gây phản ứng (ví dụ formaldehyde và các chất dễ bay hơi khác) Tổn thương thường gặp nhất là bỏng Các hóa chất khử khuẩn được sử dụng phổ biến trong bệnh viện thường có tính ăn mòn Trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu giữ, chất thải nguy hại có thể bị rò thoát, đổ tràn Việc rơi vãi chất thải lây nhiễm, đặc biệt là chất thải lây nhiễm có nguy cơ cao có thể lan truyền bệnh trong bệnh viện, như có thể gây ra đợt bùng phát nhiễm trùng
bệnh viện trong nhân viên và bệnh nhân, hoặc gây ô nhiễm đất và nước
*Nguy cơ của chất thải gây độc tế bào
Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào Chúng có thể gây kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung thư qua hít thở hoặc hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu
qua da, tiêu hóa qua thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào
*Nguy cơ của chất thải phóng xạ
Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến
các vấn đề đột biến gen trong dài hạn
1.5.2 Nguy cơ đối với môi trường
Đối với môi trường, khi chất thải y tế không được xử lý đúng cách (chôn lấp, thiêu đốt không đúng quy định, tiêu chuẩn) sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người, hệ
sinh thái