Với xu thế gia tăng về số lượng các làng nghề ở các vùng nói chung, nếu các làng nghề tiếp tục duy trì công nghệ sản xuất lạc hậu như hiện nay thì không chỉ tạo ra hiệu quả thấp về mặt k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN QUỲNH TRANG
NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN TRONG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC LÀNG NGHỀ Ở TỈNH NAM ĐỊNH
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LÀNG NGHỀ CƠ KHÍ XUÂN TIẾN, HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KH&CN
Mã số: 603472 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Ngọc Ca
Hà Nội, 2011
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do nghiên cứu: 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
3 Mục tiêu nghiên cứu: 6
4 Phạm vi nghiên cứu: 7
5 Mẫu khảo sát: 7
6 Câu hỏi nghiên cứu: 7
7 Giả thuyết nghiên cứu: 7
8 Phương pháp nghiên cứu: 8
9 Kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ LÀNG NGHỀ 10
1.1 Khái niệm về rào cản, công nghệ và đổi mới công nghệ 10
1.1.1 Khái niệm về rào cản 10
1.1.2 Khái niệm về công nghệ 10
1.1.3 Khái niệm đổi mới công nghệ 11
1.2 Khái niệm về làng và làng nghề 15
1.2.1 Khái niệm làng 15
1.2.2 Khái niệm làng nghề 16
1.3 Tổng quan về hoạt động sản xuất và hoạt động đổi mới công nghệ của các làng nghề Việt Nam 19
CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN TRONG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC LÀNG NGHỀ TỈNH NAM ĐỊNH 28
2.1 Hoạt động sản xuất và thực trạng công nghệ của các làng nghề ở tỉnh Nam Định 28
2.1.2 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Nam Định 28
2.1.2 Tổng quan về các làng nghề tỉnh Nam Định 29
2.1.3 Tổng quan về làng nghề cơ khí Xuân Tiến 36
2.2 Những rào cản trong thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định 42
Trang 32.2.1 Rào cản về mặt nhận thức 42
2.2.2 Rào cản về quy mô sản xuất và trình độ nhân lực 46
2.2.3 Rào cản về nguồn vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ 56
2.2.4 Rào cản trong tiếp cận thông tin về công nghệ, thị trường 60
2.2.5 Rào cản từ việc thiếu các chính sách đủ mạnh để thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các làng nghề 64
2.2.6 Rảo càn từ sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong công tác quản lý nhà nước đối với các làng nghề 67
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC LÀNG NGHỀ Ở TỈNH NAM ĐỊNH 70
3.1 Giải pháp nâng cao công tác tuyên truyền, vận động các cơ sở sản xuất tại các làng nghề chú trọng đến đổi mới công nghệ 70
3.2 Giải pháp về đào tạo nhân lực cho các làng nghề 71
3.3 Giải pháp hỗ trợ về tài chính và đầu tư cho phát triển công nghệ theo nhu cầu thực tế của các làng nghề 74
3.4 Giải pháp hỗ trợ thông tin, và tư vấn tìm kiếm, lựa chọn công nghệ 77
3.5 Giải pháp tăng cường các chính sách hỗ trợ của nhà nước 79
3.6 Giải pháp quản lý nhà nước các làng nghề 81
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHIẾU HỎI 89
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN Khoa học & Công nghệ
CN – TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp R&D Research & Development
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu:
Phát triển kinh tế nông thôn là một ưu tiên chú trọng của Việt Nam, trong những năm gần đây khi mà mức độ chênh lệch thu nhập và điều kiện sống của thành phố và nông thôn ngày càng tăng thì vấn đề này lại càng được chú tâm hơn nữa Cụ thể đã có Nghị quyết 24/2008/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ
7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn , Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
Làng nghề là một nét riêng, đặc thù của nông thôn Việt Nam, hiện cả nước có khoảng 2.790 làng nghề, thu hút 1,42 triệu hộ gia đình tham gia, với khoảng 1,35 triệu lao động chính và hàng triệu lao động phụ trong lúc nông nhàn, góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống của cư dân nông thôn
Sự phát triển của làng nghề góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40% Kim ngạch xuất khẩu của khu vực làng nghề không ngừng tăng, từ 273,7 triệu USD (Năm 2000) lên 900 triệu USD (năm 2009)
Tỉnh Nam Định có 94 làng nghề, mỗi năm các làng nghề đóng góp từ 13-15 triệu USD vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động trong tỉnh Đến năm 2004, công nghiệp dân doanh làng nghề của Nam Định đã chiếm 50% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thu nhập của làng nghề năm sau cao hơn năm trước, giải quyết hàng trăm ngàn lao động, có nhiều nghề đã trở thành ngu n thu nhập chính
Trên cả nước nói chung và tại tỉnh Nam Định nói riêng, hầu hết các làng nghề đều phổ biến tình trạng công nghệ và thiết bị sản xuất ở trình độ lạc hậu, chắp vá, mẫu mã cũ, kiến thức tay nghề không toàn diện, kết quả là dẫn tới tiêu hao nhiều nguyên liệu, tăng phát thải nhiều chất gây ô nhiễm ra môi trường, sức cạnh tranh kém Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề chủ yếu là thủ công, bán cơ khí, cho tới nay chưa có một làng nghề nào có áp dụng tự động hóa
Trang 6Với xu thế gia tăng về số lượng các làng nghề ở các vùng nói chung, nếu các làng nghề tiếp tục duy trì công nghệ sản xuất lạc hậu như hiện nay thì không chỉ tạo ra hiệu quả thấp về mặt kinh tế, lãng phí nguyên vật liệu khiến cho làng nghề có nguy cơ bị mai một mà làng nghề còn góp phần làm gia tăng
ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của cả nền kinh tế đất nước Tuy nhiên vấn đề đổi mới công nghệ sản xuất của các làng nghề hiện nay vấp phải không ít những khó khăn, cần được nhận diện để từ
đó có được các giải pháp phù hợp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đổi mới công nghệ là nhằm đạt được hiệu quả cao trong sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh, do đó đây là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm và nghiên cứu trong thời gian gần đây Đã có những nghiên cứu chỉ ra những rào cản đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nói chung, và trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng Các nghiên cứu này đã chỉ ra được những khó khăn về vốn, thông tin, nhận thức, nhân lực… trong việc tiếp cận với những công nghệ mới của các doanh nghiệp
Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đối tượng là các doanh nghiệp nhỏ
và vừa nói chung ví dụ như: Thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời kỳ hội nhập quốc tế
- Bùi Trọng Tín, Điều kiện khả thi của quỹ đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương – Nguyễn Duy Hưng, Xây dựng chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa - Phan Thu Trang, … Bên cạnh đó các nghiên cứu cũng chủ yếu tập trung vào một số công cụ để thúc đẩy việc đổi mới công nghệ như công cụ tài chính, thông tin, chính sách Điển hình có các nghiên cứu:
Sử dụng công cụ thuế để kích thích đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong hội nhập – Nguyễn Văn Đoàn,
Sử dụng công cụ tài chính khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương) – Nguyễn Quang Hải, Sử dụng công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước nhằm thúc đẩy đổi mới công
Trang 7nghệ (Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp chế biến dừa tỉnh Bến Tre) – Trương Minh Nhựt…
Trong nghiên cứu về các làng nghề thì với tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đang diễn ra tại các làng nghề, đã có nhiều đề tài liên quan đến vấn đề này như Quản lý xung đột môi trường trong phát triển làng nghề bằng xây dựng khu sản xuất tách biệt và lập quỹ phòng chống ô nhiễm môi trường (Nghiên cứu trường hợp Làng nghề sơn mài Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội) – Thân Trung Dũng, tập trung vào việc tìm hiểu cách thức quản lý xung đột môi trường trong quá trình phát triển làng nghề để từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm phát triển làng nghề; Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề chế biến thực phẩm Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội - Phạm H ng Nhung Đối với hướng nghiên cứu về đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ tại làng nghề có các đề tài như Chính sách hỗ trợ để đổi mới công nghệ trong các làng nghề (nghiên cứu trường hợp tại làng nghề ở tỉnh Hải Dương) – Nguyễn Ngọc Thụy; Những rào cản trong chuyển gia công nghệ vào các doanh nghiệp của làng nghề - Nguyễn H ng Anh
Tuy nhiên vẫn chưa có những nghiên cứu sâu tập trung vào việc nhận diện những rào cản thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các làng nghề, để có thể đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các làng nghề nhằm nâng cao năng suất và tính cạnh tranh của các làng nghề Riêng đối với các làng nghề tại tỉnh Nam Định cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nhận diện các rào cản trong thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các làng nghề của tỉnh
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Nhận diện những rào cản trong đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục các rào cản để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các làng nghề ở tỉnh Nam Định
Trang 8- Hình thức khảo sát: Phỏng vấn sâu chủ hoặc người quản lý các doanh nghiệp/cơ sở sản xuất trên thông qua phiếu hỏi
6 Câu hỏi nghiên cứu:
- Yếu tố nào là rào cản trong đổi mới công nghệ tại các làng nghề của tỉnh Nam Định?
- Làm thế nào để hạn chế các rào cản đó để thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định?
7 Giả thuyết nghiên cứu:
Việc chậm đổi mới công nghệ tại các làng nghề tỉnh ở Nam Định xuất phát từ các rào cản:
- Rào cản từ chính bên trong các làng nghề: Nhận thức không đầy đủ, trình độ nhân lực thấp, quy mô sản xuất nhỏ, thiếu vốn, thiếu thông tin…
- Rào cản từ việc thiếu các chính sách đủ mạnh và từ trong công tác quản lý nhà nước đối với các làng nghề
Một số giải pháp khắc phục rào cản đổi mới công nghệ tại các làng nghề:
- Cần có một cơ quan quản lý chính thức các làng nghề
- Chú trọng công tác đào tạo, nâng cao tay nghề dài hạn và ngắn hạn
- Tăng cường tuyên truyền về lợi ích và hiệu quả của đổi mới công nghệ
- Hoàn thiện hệ thống thông tin công nghệ tại địa phương; hỗ trợ tư vấn các cơ sở sản xuất lựa chọn công nghệ phù hợp;
Trang 9- Hỗ trợ các cơ sở sản xuất của các làng nghề tiếp cận được với các ngu n vốn trung và dài hạn của Nhà nước;
- Đầu tư cho công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ vào các làng nghề
- Xây dựng các chính sách ưu đãi tập trung riêng cho ưu tiên phát triển làng nghề nói chung và hỗ trợ đổi mới công nghệ tại làng nghề nói riêng
8 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu: Thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu, số liệu về các làng nghề, thực trạng công nghệ tại các làng nghề tại tỉnh Nam Định nói chung và của làng nghề cơ khí Xuân Tiến nói riêng để từ đó có được một bức tranh tổng thể về đổi mới công nghệ tại các làng nghề của tỉnh Nam Định, cũng như thấy được các rào cản trong đổi mới công nghệ
- Phương pháp quan sát thực tế: quan sát hoạt động sản xuất và quy mô công nghệ, loại công nghệ đang được áp dụng tại làng nghề
- Phương pháp phỏng vấn sâu: thu thập những thông tin thông qua việc phỏng vấn chủ các cơ sở sản xuất của làng nghề cơ khí Xuân Tiến Cụ thể là:
05 cơ sở sản xuất sau: Công ty cổ phần Thanh Bằng, Công ty TNHH Nhật Việt, Doanh nghiệp tư nhân Tân Việt, Xí nghiệp cơ khí Quang Tuyến, Xưởng
cơ khí Thế Sự Đ ng thời phỏng vấn sâu lãnh đạo UBND xã Xuân Tiến để có thêm các thông tin cụ thể, chi tiết
9 Kết cấu của luận văn
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ LÀNG NGHỀ
1.1 Khái niệm về công nghệ và đổi mới công nghệ
Trang 102.2 Những rào cản trong đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC LÀNG NGHỀ Ở TỈNH NAM ĐỊNH
3.1 Giải pháp nâng cao công tác tuyên truyền, vận động các cơ sở sản xuất tại các làng nghề chú trọng đến đổi mới công nghệ
3.2 Giải pháp về hỗ trợ đào tạo nhân lực cho làng nghề
3.3 Giải pháp hỗ trợ về tài chính và đầu tư cho phát triển công nghệ theo nhu cầu thực tế của các làng nghề
3.4 Giải pháp hỗ trợ thông tin, và tư vấn tìm kiếm, lựa chọn công nghệ 3.5 Giải pháp tằng cường các chính sách hỗ trợ của nhà nước
3.6 Giải pháp quản lý nhà nước các làng nghề
KẾT LUẬN
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ LÀNG NGHỀ 1.1 Khái niệm về rào cản, công nghệ và đổi mới công nghệ
1.1.1 Khái niệm về rào cản
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì “rào” ngoài nghĩa đen là hàng cây, cọc, giậu, sản phẩm xây dựng có chức năng ngăn cách không gian, địa giới thì hiểu theo nghĩa bóng có nghĩa là ngăn, chắn vì dụ như rào trước đón sau; còn “cản” có nghĩa là ngăn lại Như vậy “rào cản” ở đây có thể hiểu
là việc ngăn, không cho vượt qua, là sự trở ngại, ngăn cách [http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn]
1.1.2 Khái niệm về công nghệ
Khái niệm “công nghệ” vốn dĩ là một khái niệm phức tạp với nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào từng bối cảnh hay lĩnh vực cụ thể mà có những định nghĩa tương ứng
Thuật ngữ “công nghệ” được xuất hiện lần đầu trong tiếng Hy Lạp, được ghép bởi hai thuật ngữ: “techne” và “logos” – “Technology” có thể hiểu
là kiến thức về cái gì đó được làm như thế nào
Các định nghĩa về công nghệ hiện nay thường ở hai xu hướng chung phổ biến nhất, ở xu hướng thứ nhất công nghệ được hiểu thuần túy chỉ là phần mềm không bao g m máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất được thể hiện dưới các dạng khác nhau như: dạng kiến thức, cách thức, tập hợp các kiến thức, ngu n lực bao
g m các kiến thức, sự áp dụng khoa học (các kiến thức khoa học) Chẳng hạn như tác giả F.R Root định nghĩa “công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới”
Ở xu hướng thứ hai, ngoài phần kiến thức (phần mềm) thì công nghệ còn được thể hiện dưới dạng phần cứng như là: thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất, vật thể (thiết bị máy móc)… Theo xu hướng này thì công nghệ được định nghĩa rộng hơn Định nghĩa về công nghệ của Tổ chức PRODEC (1982) là một điển hình trong số đó “công nghệ là mọi loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”
OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) đã đưa ra một định nghĩa trung nhất “công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản
Trang 12thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong hoàn cảnh cụ thể nhất định.”
Luật KH&CN năm 2000 có định nghĩa Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các ngu n lực thành sản phẩm
Còn theo Luật chuyển giao công nghệ 2006 thì Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi ngu n lực thành sản phẩm
Với cách định nghĩa của Luật Chuyển gia công nghệ (2006) công nghệ được hiểu linh hoạt hơn là sự tổng hợp của cả xu hướng thứ nhất coi công nghệ chỉ g m phần mềm và xu hướng thứ hai coi công nghệ không chỉ bao
g m phần mềm mà còn cả phần cứng Ở đây bản chất của công nghệ là các giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm (tức là có tính đến phần cứng) hoặc không kèm (tức là không bao g m phần cứng) công cụ, phương tiên và mục tiêu là để biến đổi ngu n lực thành sản phẩm
Bên cạnh việc định nghĩa công nghệ theo tiêu chí phần cứng và phần mềm thì công nghệ còn được định nghĩa theo những tiêu chí khác Ví dụ theo Hall&Johnson (1970), công nghệ là thông tin và kiến thức, có thể được chia
ra theo công nghệ chung, công nghệ đặc thù cho một hệ thống nào đó hoặc cho một công ty nào đó
1.1.3 Khái niệm đổi mới công nghệ
Đổi mới ngày nay được coi là ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển KH&CN của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển, nơi mà nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào trình độ tri thức
Hiện nay có không ít những định nghĩa khác nhau về đổi mới công nghệ Theo OECD: Đổi mới KH&CN có thể được xem như là biến đổi một ý tưởng thành sản phẩm mới có thể bán được hoặc thành quá trình vận hành trong công nghiệp, trong thương mại hoặc thành phương pháp mới về dịch vụ xã hội
Trang 13Theo hội đ ng tư vẫn KH&CN Anh: Đổi mới công nghệ là quá trình kỹ thuật, công nghiệp, thương mại nhằm marketing sản phẩm mới, nhằm sử dụng các quá trình kỹ thuật và thiết bị mới
Đổi mới được hiểu là một hệ thống và là một cách tiếp cận có nhiều tính chất nhất thể hóa nhiều yếu tố đối với việc tạo ra, phổ biến công nghệ và của những chính sách liên quan đến đổi mới Cụ thể các kiểu đổi mới như sau:
- Du nhập một sản phẩm mới hoặc nâng cao chất luợng sản phẩm đang có
- Đưa một quá trình mới vào một ngành công nghiệp
- Mở ra một thị truờng mới
- Phát triển ngu n cung cấp mới nguyên liệu hoặc các đầu vào khác;
- Thay đổi trong các tổ chức, sản xuất công nghiệp
Đổi mới công nghệ là động lực tăng trưởng kinh tế dài hạn, động lực của năng suất lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống Đổi mới công nghệ diễn ra theo một quá trình nhất định bắt đầu từ nghiên cứu, triển khai, chuyển giao, phổ biến những tư tưởng, sản phẩm, công nghệ mới trong nền kinh tế Quá trình này diễn ra theo kiểu lan tỏa “tạo mới – phá cũ”
Ở thời đại mà KH&CN ngày càng đóng vai trò qua trọng trong sự phát triển của mỗi nền kinh tế, chúng ta thấy rằng việc áp dụng các công nghệ mới
đã chuyển hóa cấu trúc kinh tế của nhiều nước và nâng tỷ lệ tăng truởng qua
đó tạo ra sự giàu có, thịnh vuợng cho các quốc gia Tại các nước phát triển việc tiến hành đổi mới công nghệ liên tục đã giúp cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển và liên tục lớn mạnh từ đó góp phần tạo ra một nền kinh tế hùng mạnh
Hiện nay các nuớc đều tiến hành xây dựng và thực thi các chính sách đổi mới và phổ biến công nghệ nhằm mục tiêu tạo ra các điều kiện trong đó các ý tuởng, sản phẩm, công nghệ mới có thể chuyển hóa nhanh thành lợi ích lớn nhất về kinh tế và xã hội Trong nền kinh tế thị truờng đó là điều kiện của quá trình thuơng mại hóa các hoạt động và sản phẩm KH&CN Tuy nhiên để quá trình này có thể xảy ra thì các doanh nghiệp ngòai việc củng cố để có các
cơ sở trí tuệ thì cần phải có đuợc các điều kiện phổ biến, tiếp nhận thực hiện
Trang 14công nghệ trong tòan nền kinh tế Và để làm được điều này thì ngoài sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp ra còn cần phải có sự hỗ trợ từ phía chính phủ
mà cụ thể là các chính sách về đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ có thể chỉ nhằm giải quyết các bài toán tối ưu các thông số sản xuất như năng suất, chất lượng, hiệu quả (Đổi mới quá trình) hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường (Đổi mới sản phẩm) Đổi mới công nghệ có thể là đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới (ví dụ sáng chế công nghệ mới) chưa có trên thị trường công nghệ hoặc là mới ở nơi sử dụng nó lần đầu và trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới (ví dụ đổi mới công nghệ nhờ chuyển giao công nghệ theo chiều ngang)
Theo J.Schumpeter có 5 trường hợp đổi mới :
- Đưa ra sản phẩm mới;
- Đưa ra phương pháp sản xuất và thương mại hóa mới;
- Chinh phục thị trường mới;
- Sử dụng ngu n nguyên liệu mới;
- Tổ chức mới đơn vị sản xuất;
Các hình thức đổi mới công nghệ
- Đổi mới công nghệ theo tính sáng tạo: g m đổi mới gián đoạn (Discontinuous Innovation) và đổi mới liên tục (Continuous Innovation)
+ Đổi mới gián đoạn còn gọi là đổi mới căn bản (Radical Innovation), thể hiện sự đột phá về sản phẩm và quá trình, tạo ra những ngành mới, quá trình mới và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường mới
+ Đổi mới liên tục còn gọi là đổi mới dần dần (Incremental Innovation), nhằm cải tiến sản phẩm và quá trình để duy trì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện có
- Đổi mới công nghệ theo sự áp dụng: Nếu xem công nghệ g m công nghệ sản phẩm (product technology) và công nghệ quá trình (process technology) thì đổi mới công nghệ bao g m đổi mới sản phẩm (sản phẩn g m hàng hoá và dịch vụ) và đổi mới quá trình
Trang 15+ Đổi mới sản phẩm: Đưa ra thị trường một loại sản phẩm mới (mới về mặt công nghệ)
+ Đổi mới quá trình: Đưa vào doanh nghiệp hoặc đưa ra thị trường một quá trình sản xuất mới (mới về mặt công nghệ)
Đổi mới sản phẩm và quá trình có thể là đổi mới gián đoạn hay liên tục Đặc điểm của đổi mới công nghệ:
- Đổi mới tác động đến năng suất, chất lượng sản phẩm, chu kỳ sống của sản phẩm, chiến lược cạnh tranh, việc làm…
- Cơ sở của đổi mới là các thành tựu của khoa học bao g m phát minh
và sáng chế
- Đổi mới công nghệ là quá trình thay thế theo quy luật phủ định
- Đổi mới công nghệ có tính xã hội chỉ thành công khi được thương mại hóa và đáp ứng nhu cầu xã hội
Đổi mới công nghệ là tất yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần duy trì, củng cố và mở rộng thị truờng Đổi mới giúp giảm chi phí sản xuất, tạo ra tính linh hoạt cao và khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu của thị truờng cho doanh nghiệp Đổi mới nâng cao chất luợng của sản phẩm nhưng đ ng thời lại rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm Trong chiến luợc kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, đổi mới làm thay đổi thiết kế về sản phẩm, hệ thống sản xuất, thiết bị, kiến thức và kỹ năng lao động
Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ
- Thị trường : Những nền kinh tế thị trường có thể có lợi thế trong quá trình đổi mới Nếu thị trường của một loại sản phẩm nào đó được mở rộng thì điều này sẽ thúc đẩy đổi mới Đổi mới chỉ thực sự hoàn thành sau khi sản phẩm hay quá trình được người tiêu dùng chấp nhận, do vậy một khía cạnh rất quan trọng của đổi mới là marketing
- Nhu cầu: Phần lớn các trường hợp đổi mới công nghệ xuất phát từ nhu cầu Có thể là do áp lực của môi trường kinh doanh (các yếu tố vĩ mô như chính trị, xã hội, kinh tế, công nghệ ) làm xuất hiện nhu cầu, thí dụ: do áp lực của xã hội về vấn đề ô nhiễm môi trường, các nhà sản xuất ô tô nghiên
Trang 16cứu để chế tạo thiết bị giảm ô nhiễm trang bị cho ô tô Nhu cầu của người tiêu dùng cũng thúc đẩy đổi mới thí dụ như cuộc sống hiện đại bận rộn thúc ép các nhà sản xuất nghiên cứu ra nhiều thiết bị thay thế cho con người tiến hành các công việc gia đình (máy giặt, máy rửa bát, máy hút bụi,…)
- Hoạt động R&D : R&D là khâu quan trọng trong quá trình đổi mới Báo cáo về năng lực cạnh tranh của châu Âu nêu rõ: "Nếu không có cơ sở nghiên cứu khoa học mạnh và đa dạng thì sẽ không hề có bất kỳ một sự cất cánh công nghệ nào cả" Các doanh nghiệp có ngân sách R&D lớn và ngu n nhân lực R&D có kỹ năng nghiên cứu sẽ thuận lợi trong đổi mới công nghệ
- Cạnh tranh: Nói chung, cạnh tranh thúc đẩy đổi mới
- Các chính sách quốc gia hỗ trợ đổi mới: Để khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chính phủ thường có những chính sách thích hợp
để hỗ trợ và tạo điều kiện cho đổi mới công nghệ
1.2 Khái niệm về làng và làng nghề
Với đặc thù là một đất nước nông nghiệp với hơn 80% dân số sống tại nông thôn, thì làng nghề hiện nay nhận được sự quan tâm và chú trọng phát triển không nhỏ từ phía các cơ quan chính quyền Mặc dù hai chữ làng nghề
đã xuất hiện, t n tại từ rất lâu và được sử dụng phổ biến trên nhiều văn bản, sách báo, phương tiện thông tin đại chúng… nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm làng nghề
1.2.1 Khái niệm làng
Làng vốn là một đơn vị hành chính trong hệ thống hành chính của các triều đại phong kiến nước ta trước đây Theo đó nhà nghiên cứu Đào Duy Anh thì cơ cấu của xã hội Việt Nam thời kỳ phong kiến về cơ bản được phân chia theo thứ tự như sau:
- Chính quyền phong kiến trung ương, gọi là triều đình, đứng đầu là Vua (chúa) và dưới vua chúa có triều đại có tể tướng, có triều đại không và lục bộ (bộ binh, bộ lĩnh, bộ hình, bộ hộ, bộ công và bộ lễ)
- Chính quyền địa phương có tỉnh (hoặc châu) Đứng đầu tỉnh là quan tuần phủ
Trang 17- Dưới tỉnh có phủ và huyện Đứng đầu phủ có quan tri phủ và đứng đầu huyện có quan tri huyện Sở dĩ dưới tỉnh có đặt ra các phủ vì do điều kiện giao thông vận tải khó khăn, nên trong một tỉnh chia ra một số phủ, người đứng đầu huyện (tri huyện) ở địa phương được chọn gọi là tri phủ có trách nhiệm giúp tuần phủ, theo dõi và giám sát một số phủ, cũng như chuyển công văn giấy tờ từ tỉnh về huyện và ngược lại
- Dưới huyện có các làng, đứng đầu làng có chức lý trưởng làm chức năng quản lý nhà nước trong làng (quản lý đinh, điền, thu thuế, trật tự an ninh) Đặc trưng cho mỗi làng đều có đình làng, với mấy chức năng sau:
+ Thờ cúng thần hoàng làng là người có công xây dựng làng hoặc người có nhiều công với nước;
+ Trụ sở hành chính của làng - Đây là nơi hội họp xem xét những vấn đề trọng đại của làng Đặc biệt đây là nơi làng xem xét luận tội những người vi phạm lệ làng (nhiều nơi gọi là hương ước hoặc hiện nay gọi chung là luật ước) Tổ chức hội hè đình đám,… Tuỳ thuộc vào quy mô của làng, dưới làng có thể chia ra một số thôn, xóm
Từ năm 1945, sau khi nước ta giành độc lập, theo hiến pháp 1946, 1959, 1980
và đặc biệt là Hiến pháp 1992 đã quy định rõ hệ thống chính quyền 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện, xã Dưới xã tổ chức thành các thôn/ xóm/ bản và “khái niệm” làng
để chỉ địa danh của một cụm dân cư g m nhiều thôn/ xóm/ bản hợp thành
Từ những điều phân tích trên đây có thể rút ra một kết luận khái niệm
“làng” là một phạm trù lịch sử và văn hoá có sự thay đổi từ thời đại này sang thời đại khác
1.2.2 Khái niệm làng nghề
Khái niệm làng nghề hiện vẫn được hiểu và đưa ra dưới nhiều hình thức khác nhau Nhà nghiên cứu Trần Minh Yến cho rằng “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, t n tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao g m nhiều
hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên hệ về kinh tế, xã hội và văn hóa” Nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng lại cho rằng
Trang 18“Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đ ng thời làm nghề nông Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình”
Trải qua thời gian dài phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước thì hiện nay làng nghề không còn bó hẹp trong công nghệ thủ công, nhiều công đoạn đã được cơ khí hóa, và trong làng nghề không chỉ có các cơ
sở sản xuất hàng hóa mà đã có thêm các cơ sở dịch vụ và ngành nghề phục vụ cho sản xuất, như các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân phối hàng hóa, cung ứng đầu vào và đầu ra cho sản phẩm làng nghề
Như trên đã trình bày thì làng là một đơn vị hành chính trong quá khứ
và hiện tại không được thừa nhận trong các văn bản hành chính ngày nay, do
đó không thể lấy khái niệm làng như trước đây đây mà phải gắn với đơn vị hành chính hiện tại để định nghĩa làng nghề Hiện t n tại 2 loại ý kiến về khái niệm làng nghề
Ý kiến thứ nhất cho rằng nên lấy đơn vị xã làm đơn vị cơ bản để tính làng nghề, xuất phát từ thực tế xã là đơn vị hành chính hoàn chỉnh quản lý toàn dân, toàn diện mọi mặt hoạt động kinh tế xã hội Bộ máy hành chính của
xã sẽ chịu trách nhiệm theo dõi ghi chép và quản lý số liệu thông qua đăng ký sản xuất kinh doanh về ngành nghề Tuy nhiên việc xem một xã như một làng cũng có phần chưa hợp lý vì trong một xã có thể có nhiều nghề, mà theo các tiêu chí nhận dạng hiện hành thì rất ít xã đạt được Điều đó dẫn đến bỏ sót các hoạt động sản xuất làng nghề
Ý kiến thứ hai, lấy làng trước đây để làm đơn vị làng nghề Nhược điểm lớn nhất của ý kiến này là ở chỗ không thống kê được chính xác số lượng làng trong một đơn vị hành chính Do vậy không thể tính toán các chỉ tiêu như tỷ lệ huyện, xã có làng nghề chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng
số làng của huyện, xã Hơn nữa, khái niệm “làng” chỉ là tên gọi theo lệ cũ chứ
Trang 19không phải một đơn vị cấp dưới của xã do đó khó thu thập thông tin về hoạt động nghề
Trong luận văn này sẽ thống kê làng nghề theo thôn/xóm/bản
Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông
tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống Theo
đó “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,
phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.”
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn;
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
Nhà nghiên cứu Vũ Quốc Tuấn trong cuốn “Làng nghề, phố nghề Thăng Long – Hà Nội trên đường phát triển” (2010) đã phân chia làng nghề thành 14 nhóm như sau:
- Mây tre đan, kể cả sản phẩm đan lát, bện thủ công (kể cả bàn, ghế, nón lá);
Trang 20- Tranh nghệ thuật (bằng hoa khô, tre hun khói, lá khô, ốc… ); hoa các loại bằng vải, lụa, giấy;
- Trò chơi dân gian (sản xuất và biểu diễn rối cạn, rối nước, tò he)
- Sản phẩm kim khí (đ đ ng, sắt, nhôm … sản xuất và tái chế);
- Chế biến nông sản, thực phẩm (các loại nước chấm, bún bánh, miến dong, đường, mật, mạch nha, rượu, trà, kể cả đóng giày da);
- Cây cảnh (gây tr ng và kinh doanh sinh vật cảnh)
Việc phân nhóm trên đây chỉ mang tính quy ước; vì cho đến nay, chúng
ta chưa có nghiên cứu đầy đủ về phân nhóm làng nghề Năm 2004, Dự án của
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ phân 11 nhóm ngành nghề thủ công nghiệp, không đề cập các làng như chế biến nông sản thực phẩm, cây cảnh… Có thể thấy là do nhu cầu của thị trường, đã có thêm những ngành nghề mới xuất hiện và làm phong phú thêm danh mục các làng nghề
1.3 Tổng quan về hoạt động sản xuất và hoạt động đổi mới công nghệ của các làng nghề Việt Nam
Theo nhà nghiên cứu Trần Minh Yến, trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của N.H.Noace (1928) Năm 1964, tổ chức WCCI (World crafts council International – Hội đ ng Quốc tế về nghề thủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống
Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống
là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn Thực tế nhiều quốc gia trong khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan Trung Quốc sau thời kỳ cải cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì
Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 – 30 % đã giải quyết được
12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn Hay ở Nhật Bản, “Hiệp hội khôi phục
Trang 21và phát triển làng nghề truyền thống” được thành lập đã trở thành yếu tố quan trọng, đóng vai trò then chốt trong việc khôi phục và phát triển ngành nghề có tính truyền thống dựa theo “Luật phát triển làng nghề truyền thống” Cho đến nay ở Nhật Bản có gần 900 nghề thủ công truyền thống được duy trì và phát triển Người Nhật coi đây là một kho tàng quý báu của dân tộc [27, tr.22]
Tương tự, Thái Lan một đất nước có nhiều nét tương đ ng với Việt Nam học tập Nhật Bản, từ năm 2001 đã phát động thực hiện chuơng trình
“One tampon, one product” tạm dịch là “Mỗi làng, một sản phẩm”; nhờ chương trình này mà chỉ trong 4 tháng đầu năm 2002, lợi nhuận đạt được là 3,66 tỷ Baht (84,2 triệu USD) Sang năm 2003, các làng tham gia chương trình này đã thu được 30,8 tỷ Baht, tăng 13% so với năm 2002 [27, tr 26]
Dù chưa có các con số thống kê chính xác, và cũng có những sự khác nhau về số liệu các làng nghề truyền thống của Việt Nam, nhưng theo thống
kê của Hiệp hội làng nghề có thể xác định là hiện Việt Nam đang có khoảng 2.790 làng nghề, thu hút 1,42 triệu hộ gia đình tham gia, với khoảng 1,35 triệu lao động chính và hàng triệu lao động phụ trong lúc nông nhàn, góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống của cư dân nông thôn Sự phát triển của làng nghề góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40%, tập trung tại Đ ng bằng Sông H ng, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ Kim ngạch xuất khẩu của khu vực làng nghề không ngừng tăng, từ 273,7 triệu USD (Năm 2000) lên 900 triệu USD (năm 2009)
Các làng nghề truyền thống đã và đang đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn
Kể từ khi bắt đầu xuất hiện và phát triển cho đến nay, làng nghề của Việt Nam đã trải qua nhiều sự biến đổi thăng trầm của lịch sử Ngoài việc phục vụ cho các nhu cầu tại chỗ của người dân các làng nghề, thì ngày nay
Trang 22các sản phẩm của các làng nghề không chỉ phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày của nhân dân tại các địa phương khác mà còn phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cho cả xuất khẩu…
Tính từ giai đoạn Cách mạng tháng 8, sau khi nước ta giành được độc lập đến nay, theo GS.TS Đặng Thị Kim Chi - nguyên Phó Viện trưởng Viện KH&CN, Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội có thể chia lịch sử phát triển của các làng nghề như sau:
- Giai đoạn 1954 – 1978: Do chính sách Công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, khuyến khích các thợ thủ công tham gia vào các Hợp tác xã Tại một số làng nghề đã xuất hiện những HTX tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu sản xuất các mặt hàng xuất khẩu sang các nước XHCN, với các hàng hóa chính là hàng thủ công mỹ nghệ Chủng loại, số lượng và giá trị hàng hóa của các sản phẩm này đều được quyết định bởi đường lối, chính sách của Nhà nước Cũng chính trong giai đoạn này, nhiều làng nghề đã bị mai một [7, tr.12]
- Giai đoạn 1978 – 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động, cùng với sức ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ kinh tế Việt Nam đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn
Đ ng thời hệ thống bao cấp đã ngày càng bộc lộ các điểm hạn chế khiến cho các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp buộc phải tìm đường cải thiện cuộc sống theo con đường tự phát Nhiều làng nghề đã được khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của nhân dân [7, tr.12 – tr.13]
- Giai đoạn 1986 – 1992: Đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề, nó được đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường Các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách đổi mới quản lý trong nông nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung
và với làng nghề nói riêng Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống
đã được khôi phục và phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vốn, kỹ thuật, hình thành nhiều cơ sở kinh doanh mới, thu hút ngày càng nhiều lao
Trang 23động, tăng dần sản lượng và kim ngạch xuất khẩu… Điển hình như làng gốm Bát Tràng, gốm Đ ng Nai, chạm khắc Hà Tây, thêu ren Thái Bình… [7, tr.13]
Các sản phẩm truyền thống của làng nghề Việt Nam đã được tiêu thụ khá ổn định ở các thị trường Đông Âu và Liên Xô, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt trên 246 triệu rúp Tuy vậy, do biến động của nền kinh
tế thế giới, mà xuất phát từ sự sụp đổ của mô hình Chủ nghĩa xã hội của Liên
Xô và Đông Âu, sản xuất của các làng nghề bị đình trệ do thị trường tiêu thụ không còn như trước nữa, số lao động trong các làng nghề giảm nhanh chóng [7, tr 13]
- Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: Do tìm được hướng đi mới cho các sản phẩm của làng nghề và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung mà nền kinh
tế Việt Nam bước sang một giai đoạn mới Sự hội nhập nền kinh tế thế giới, cùng với sự dỡ bỏ cấm vận của Mỹ, sự hợp tác kinh tế mà điển hình là việc Việt Nam gia nhập WTO đã giúp cho các thị trường của Việt Nam không ngừng được mở rộng Nhiều làng nghề đã khôi phục nhanh chóng, trong đó nhiều làng vẫn duy trì được cả nghề nghiệp và mặt hàng truyền thống (như làng Chạm bạc Đ ng Xâm, làng nghề thêu Quất Động, làng gốm Bát Tràng…) Hơn nữa nhiều làng nghề mới đã được hình thành (Làng gỗ Đ ng
Kỵ, gạch ngói Hương Canh…) [7, tr.13 – tr.14]
Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát triển, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005), đã có nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo t n, thúc đẩy sự phát triển làng nghề
Tuy nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau (do bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn để cải tiến sản xuất, gây ô nhiễm môi trường…) Để giải quyết những khó khăn này, cần có cái nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng kinh tế xã hội trong nước và thế giới nói chung
Theo kết quả điều tra năm 2009 của Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối - Bộ NN&PTNT và JICA thực hiện, số làng nghề truyền thống chỉ chiếm khoảng 15% tổng số làng nghề của cả nước, còn lại là
Trang 24các làng nghề mới hình thành Hầu hết đều làng nghề có quy mô nhỏ và vừa Các làng nghề có quy mô nhỏ chiếm trên 60% và số làng nghề quy mô vừa vào khoảng 36%, còn số làng nghề có quy mô lớn chỉ chiếm không quá 4%
Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, hiện trong cả nước có 13% số hộ nông dân chuyên sản xuất nghề, 27% số hộ nông dân tham gia sản xuất nghề, thu hút hơn 29% lực lượng lao động ở nông thôn Các làng nghề hoạt động với các hình thức khá đa dạng: Trong tổng số 40.500 cơ sở sản xuất
ở các làng nghề có 80,1% là các hộ cá thể, 5,8% theo hình thức Hợp tác xã và 14,1% thuộc các dạng sở hữu khác
Các làng nghề tại Việt Nam với 14 nhóm ngành, phân bố chủ yếu ở
Đ ng bằng Sông H ng, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ, trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng đ ng bằng sông H ng Miền Trung có khoảng 111 làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn 300 làng nghề Các làng nghề
ở miền Bắc phát triển hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm gần 70% số lượng các làng nghề trong cả nước
Hiện nay các làng nghề chủ yếu sử dụng các nguyên liệu cho sản xuất khai thác được từ các địa phương trong cả nước Hầu hết các nguyên liệu được lấy trực tiếp từ tự nhiên, việc sơ chế chủ yếu do các hộ, các cơ sở sản xuất tự làm với kỹ thuật thủ công, hoặc các máy móc thiết bị tự chế lạc hậu nên chưa khai thác được hết hiệu quả của các nguyên liệu, gây nên sự lãng phí nguyên liệu sản xuất
Hơn nữa, do tình trạng khai thác triệt để và không có quy hoạch dẫn đến việc cạn kiệt các ngu n tài nguyên thiên nhiên thì ở thời điểm hiện tại các làng nghề phải bổ sung nguyên liệu sản xuất từ ngu n cung nhập khẩu nước ngoài Đặc điểm chung của thị trường nguyên liệu đầu vào cho các làng nghề đó là tính
tự phát và riêng lẻ, không ổn định, giá nguyên liệu thường xuyên biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất và các đơn đặt hàng
Phần lớn các cơ sở sản xuất tại các làng nghề hiện nay đều sử dụng các công nghệ lạc hậu, chắp vá, các máy móc thiết bị phần lớn đều rất cũ kỹ không đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, an toàn, vệ sinh môi trường
Trang 25Do nhu cầu của thị trường cũng như do vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt, nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tại các làng nghề đã bắt đầu áp dụng các cộng nghệ hiện đại, thay thế các máy móc cũ, tuy nhiên trình độ công nghệ thủ công và bán cơ khí vẫn chiếm một tỷ lệ cao Vì thế, chất lượng sản phẩm không cao, chưa đáp ứng được các yêu cầu, đòi hỏi ngày càng gắt gao của thị trường, bên cạnh đó là năng suất thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao
Bên cạnh đó, tình trạng nhà xưởng, kho bãi của các doanh nghiệp, cơ
sở sản xuất tại các làng nghề cũng là điều đáng lưu tâm Các doanh nghiệp, cơ
sở sản xuất do gặp khó khăn về vốn sản xuất nên không chú trọng đến việc xây dựng, kiên cố hóa các cơ sở sản xuất, kho bãi cho nên dẫn đến tình trạng phần lớn các nhà xuởng kho bãi đều là tạm bợ hoặc bán kiên cố Hơn nữa do các làng nghề tập trung ở khu vực nông thôn, nơi mà điều kiện cơ sở hạ tầng còn yếu kém, hạ tầng giao thông chưa phát triển nên càng gặp nhiều khó khăn
Trong những năm qua với sự khôi phục, phát triển và không ngừng lớn mạnh của các làng nghề, một luợng lớn việc làm đã được tạo ra không chỉ góp phần giải quyết việc làm tại chỗ cho người nông dân mà còn cung cấp thêm việc làm cho những người ở xa, các vùng khác đến, hay các công việc thời vụ lúc nông nhàn
Tuy nhiên do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật sản xuất, nên tại các làng nghề hầu hết chỉ sử dụng lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, làm các công việc thủ công ở hầu hết các giai đoạn, kể cả ở những công đoạn nặng nhọc và độc hại nhất Nhìn chung chất lượng và trình độ chuyên môn của lực lượng lao động của các làng nghề còn rất thấp, số lượng lao động có nghề chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể
Với người lao động trực tiếp, thành phần đã tốt nghiệp phổ thông ở các
cơ sở sản xuất và các hộ chuyên chiếm hơn 70%; còn đối với các hộ kiêm và các hộ thuần nông, lao động nghề chiếm từ 40 đến 70% mới tốt nghiệp cấp I
và II, tỷ lệ hết cấp III chưa đến 20%
Đối với các chủ hộ và chủ doanh nghiệp, nhìn chung trình độ học vấn, chuyên môn còn rất hạn chế Có tới 1,3 – 1,6% trong số họ không biết chữ,
Trang 26trình độ học vấn bình quân mới đạt lớp 7 – 8/12 Tỷ lệ chưa qua đào tạo kiến thức quản lý chuyên môn ở các chủ hộ chiếm 51,5 – 69,89%, đối với các chủ doanh nghiệp chiếm hơn 43% [27, tr 132]
Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đều năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất tại các làng nghề
Trải qua các giai đoạn phát triển, từ hình thức sản xuất, kinh doanh phổ biến nhất là hộ gia đình, ngày nay tại các làng nghề các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đã rất phát triển, phong phú và đa dạng Các hình thức chủ yếu là hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần; trong đó hộ gia đình là hình thức phổ biến và chủ yếu nhất
Theo báo cáo của Hiệp hội làng nghề Việt Nam (5/2009): Giá trị sản xuất CN-TTCN của làng nghề trong vòng chục năm nay tăng từ 21-25% /năm Giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong những năm qua liên tục tăng: từ 235 triệu USD năm 2001, lên 600 triệu USD năm 2006 và hơn 800 triệu USD năm 2008 và mục tiêu đề ra sẽ đạt 1,5 tỷ USD năm 2010 Các thị trường chủ yếu mà chúng ta hướng tới hiện nay như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Xingapo, H ng Kông, Trung Quốc… Thực tế cho thấy các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU là các thị trường có nhiều tiềm năng cho các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
Các thách thức hiện nay tại các làng nghề
Cho đến nay để thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia thì ưu tiên và chú trọng cho phát triển kinh tế nông thôn vẫn luôn được coi là nhiệm vụ hàng đầu
Thực tế, từ khi có quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Chính phủ về khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, cho đến Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn và gần đây là Nghị quyết 24/2008/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông
Trang 27thôn (NNNDNT), các địa phương trên cả nước đã tích cực quan tâm và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm phát triển khu vực kinh tế nông thôn Các làng nghề không chỉ giữ vai trò lưu giữ các giá trị văn hóa, truyền thống, lịch sử của dân tộc mà còn đóng góp rất tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên hiện nay, các làng nghề đang phải đối mặt với không ít các thách thức, đặc biệt là khi nền kinh tế thế giới, và kinh tế trong nước đang có những diễn biến hết sức phức tạp
Thách thức mà các làng nghề phải đối mặt chính là hiện nay các làng nghề còn phát triểu theo kiểu tự phát, mang tính phong trào, thiếu quy hoạch, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ sản xuất lạc hậu, trang thiết bị máy móc cũ kỹ, chắp vá không đảm bảo an tòan và các tiêu chuẩn về kỹ thuật, trình độ lao động còn yếu kém Sức cạnh tranh kém do không có sự đầu tư
và chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu cho mình, đ ng thời do khâu sản xuất không đảm bảo các quy định về an toàn, vệ sinh dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp
Đ ng thời, tình trạng thiếu vốn, thiếu thông tin về thị trường cũng là các vấn đề phổ biến tại hầu hết các làng nghề Bên cạnh đó, cơ sợ hạ tầng phục vụ cho phát triển làng nghề còn rất yếu và thiếu nên chưa phục vụ tốt được cho các khâu vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm
Vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề cũng đang diễn ra rất nhức nhối tại các khắp các địa phương trên cả nước Hầu hết các làng nghề Việt Nam hiện nay đã và đang bị ô nhiễm ở cả ba dạng: ô nhiễm nước, ô nhiễm rác thải và khí thải
Cuối cùng, do tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt, không chỉ nền kinh tế đất nước lao đao
mà các làng nghề lại càng phải chịu những ảnh hưởng nặng nề hơn do tình hình lạm phát tăng cao, giá cả leo thang, sản xuất đình trệ, thị trường tiêu thụ
bị bó hẹp lại, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn…
Trước những khó khăn và thách thức này, đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực
tự thân của các làng nghề mà còn phải có sự hỗ trợ từ nhà nước mà cụ thể là
Trang 28các chính sách phát triển làng nghề để giúp quy hoạch lại các làng nghề, nâng cao sức cạnh tranh và đảm bảo sự phát triển bền vững cho các làng nghề Trong tình hình hiện nay, quan tâm và đầu tư cho đổi mới công nghệ chính là một giải pháp tối ưu nhằm tăng lực cạnh tranh cho các làng nghề
Trang 29CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN TRONG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC LÀNG NGHỀ TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Hoạt động sản xuất và thực trạng công nghệ của các làng nghề ở tỉnh Nam Định
2.1.2 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Nam Định
Nam Định nằm ở cực Nam châu thổ sông H ng Phía Tây Bắc giáp tỉnh
Hà Nam, phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông Nam giáp với biển Đông Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 1.652,29 km2, được chia thành 10 đơn vị hành chính g m 9 huyện và một
thành phố loại 2 trực thuộc tỉnh
Nam Định nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của Tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và tuyến hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hành lang Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng và Vành đai kinh tế ven vịnh Bắc Bộ, có mạng lưới giao thông thuận lợi tạo điều kiện cho Nam Định phát triển sản xuất hàng hoá quy
mô lớn và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong vùng, cả nước
và quốc tế Song mặt khác cũng là một thách thức lớn đối với Nam Định trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nưóc ngoài
Nam Định có diện tích là 1.669 km² Địa hình Nam Định có thể chia thành 3 vùng:
Vùng đ ng bằng thấp trũng: g m các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường Đây là vùng có nhiều khả năng thâm canh phát triển nông nghiệp, công nghiệp dệt, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí và các ngành nghề truyền thống
Vùng đ ng bằng ven biển: g m các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng; có bờ biển dài 72 km, đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển
Vùng trung tâm công nghiệp – dịch vụ thành phố Nam Định: có các ngành công nghiệp dệt may, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến, các ngành nghề truyền thống, các phố nghề… cùng với các ngành dịch vụ tổng
Trang 30hợp, dịch vụ chuyên ngành hình thành và phát triển từ lâu Thành phố Nam Định từng là một trong những trung tâm công nghiệp dệt của cả nước và trung tâm thương mại - dịch vụ, cửa ngõ phía Nam của đ ng bằng sông H ng
Theo điều tra dân dố 01/04/2009 Nam Định có 1.825.771 người với mật độ dân số 1.196 người/km²
Năm 2010 GDP tỉnh đạt 26.500 tỷ đ ng Năm 2005, Cơ cấu kinh tế là: Nông-lâm-thuỷ sản: 29.5%, Công nghiệp-xây dựng: 36.5%, Dịch vụ: 34%
2.1.2 Tổng quan về các làng nghề tỉnh Nam Định
Lịch sử hình thành và đặc điểm của làng nghề tỉnh Nam Định
Nam Định là một địa phương có truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời Trên mảnh đất này đã hình thành và phát triển nhiều làng nghề truyền thống, trải qua sự phát triển của lịch sử, có làng nghề bị mai một, mất đi, có làng nghề được phục dựng, có làng nghề ngày càng phát triển và cũng có thêm những làng nghề mới hình thành xuất phát từ nhu cầu của đời sống
Các làng nghề phong phú về số lượng, đa dạng về nhóm ngành không chỉ là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa, lịch sử của địa phương mà còn đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của tỉnh Theo sách Kinh Bắc Phong Thổ Ký
có ghi: “Nam Định có các làng nghề phát triển khá đa dạng, một số ngành nghề đã hình thành và nổi tiếng từ nhiều thế kỷ như nghề: đúc đ ng, nghề nuôi tằm tơ, chạm khắc gỗ… tập trung ở các vùng Ý Yên, Vụ Bản, Nam Trực
và dọc sông Ninh Cơ và sông Đáy…
Làng nghề tỉnh Nam Định được hình thành và phát triển chủ yếu ban đầu phục vụ cho nhu cầu sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng và phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội đặc biệt là phát triển sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tỉnh Nam Định đã phát triển, đổi mới với các sản phẩm mang ngày càng đa dạng, phong phú phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sản xuất và cho xuất khẩu
Hiện nay theo thống kê của Sở Công thương tỉnh Nam Định có 94 làng nghề đang hoạt động, mỗi năm các làng nghề đóng góp từ 13 – 15 triệu USD vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, giải quyết việc làm cho một luợng lớn lao
Trang 31động trong tỉnh Năm 2004, công nghiệp dân doanh làng nghề của Nam Định
đã chiếm 50% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thu nhập của làng nghề năm sau cao hơn năm trước, nhiều tỷ phú đã xuất hiện từ các làng nghề Chính quyền tỉnh Nam Định luôn coi việc phát triển kinh tế làng nghề
là nhiệm vụ quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Nam Định
Mô hình hình thành và phát triển làng nghề tỉnh Nam Định
Tương ứng với các giai đoạn lịch sử có thể tạm chia các mô hình hình thành và phát triển của các làng nghề tỉnh Nam Định như sau:
- Giai đoạn trước năm 1960: làng nghề được hình thành do yêu cầu của sản xuất và tiêu dùng của người dân, trước hết là địa bàn khu vực Mở đầu các ông tổ nghề dạy nghề cho những người trong gia đình, sau đó do yêu cầu phát triển và bảo vệ sản xuất trước sự tác động của xã hội và các cơ sở sản xuất khác đòi hỏi nghề phải lớn mạnh Vì vậy, nghề đã được truyền dạy cho cả dòng họ, tiếp theo là cả làng Để có vị trí nhất định trong xã hội và bảo vệ vững chắc nghề nghiệp của mình, các hộ sản xuất trong làng đã tập hợp nhau lại trong một tổ chức phường hội, mà ông chủ hội chính là ông tổ nghề Làng nghề rèn Vân Chàng - huyện Nam Trực hiện vẫn còn lưu giữ ngôi đình thờ 3 ông tổ nghề rèn Trên cơ sở các hộ sản xuất trong làng và phường hội nghề, làng nghề được hình thành và phát triển Tuy nhiên, phường hội nghề chỉ là tổ chức xã hội nghề nghiệp, chưa phải là một tổ chức kinh tế
Mô hình tổ chức sản xuất của các cơ sở trong làng nghề giai đoạn này chỉ là mô hình hộ sản xuất Sản xuất dựa vào sức người là chính, số lượng và chủng loại sản phẩm ít, thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu ở địa bàn khu vực hoặc trong nước Chưa xuất hiện sự hợp tác, liên kết sản xuất giữa các hộ trong làng nghề với cơ sở ngoài làng nghề Trong giai đoạn này, mô hình hình thành và phát triển làng nghề được xác định như sau: Ông tổ nghề + Phường hội nghề Làng nghề [http://quangba.namdinh.gov.vn/]
- Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1990: quan hệ sản xuất trong làng nghề đã có những bước phát triển cao hơn trước Dưới tác động của các chính
Trang 32sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, nhiều hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đã được thành lập Vì vậy, trong làng nghề, bên cạnh mô hình hộ sản xuất còn có các hợp tác xã và tổ hợp tác
Trong giai đoạn này, Nam Định có nhiều làng nghề với các hợp tác xã hạt nhân nổi tiếng trong cả nước Điển hình là những làng nghề dệt và những hợp tác xã dệt Dịch Diệp, Phương Thành (Trực Ninh), Trung Tiến (Nam Trực); làng nghề cơ khí và các hợp tác xã cơ khí Tiền Tiến, Tân Tiến (Nam Trực), Trình độ sản xuất của các làng nghề cũng được nâng lên một bước Các cơ sở sản xuất trong các làng nghề đã sử dụng điện trong sản xuất, các hợp tác xã đã đầu tư mua sắm thiết bị, máy móc, một số công đoạn sản xuất
đã được cơ khí hoá Việc liên kết, hợp tác sản xuất - kinh doanh giữa các hộ sản xuất, các hợp tác xã trong làng nghề với các doanh nghiệp nhà nước đã được hình thành và trở thành nhân tố tích cực, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của làng nghề phát triển Sản xuất phát triển nên số lượng và chủng loại sản phẩm ngày một phong phú hơn, đáp ứng đáng kể nhu cầu của thị trường trong nước và thị trường khu vực, tích cực tham gia xuất khẩu, nhất là sản phẩm khăn bông xuất khẩu của các làng nghề dệt Nam Định
Trong những năm 1984 - 1990, mỗi năm, các làng nghề dệt Nam Định sản xuất 3 - 5 triệu chiếc khăn tắm xuất sang thị trường các nước Đông Âu và Liên Xô thông qua hợp đ ng sản xuất gia công với Xí nghiệp dệt nhuộm Sơn Nam (nay là Công ty dệt may Sơn Nam), Công ty dệt Nam Định và một số doanh nghiệp nhà nước khác Giai đoạn này, các làng nghề truyền thống, làng nghề mới với hạt nhân là các hợp tác xã đã được hình thành và phát triển mạnh Các ban quản trị hợp tác xã mà trước hết là chủ nhiệm đã thay thế vai trò của các ông tổ nghề Mô hình hình thành và phát triển làng nghề trong giai đoạn này được xác định là: Chủ nhiệm + Hợp tác xã + Sự hỗ trợ của nhà nước Làng nghề [http://quangba.namdinh.gov.vn/]
- Giai đoạn từ năm 1990 đến nay sau khi Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty (sau này là Luật doanh nghiệp) ra đời, nhiều làng nghề đã hình thành và phát triển dựa trên các nghề truyền thống và các nghề mới Các
Trang 33doanh nhân là các cá nhân có nghề, có vốn, có điều kiện, có năng lực kinh doanh (phần lớn là những xã viên hợp tác xã, công nhân các doanh nghiệp nhà nước đã nghỉ chế độ, có ý chí làm giàu) đã đứng ra thành lập các cơ sở sản xuất, mô hình hộ hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp càng phát triển càng cần nhiều lao động và sự lựa chọn trước nhất là tìm kiếm người lao động ở trong làng để truyền, dạy nghề Vì thế, số lượng lao động biết nghề, làm nghề ngày càng tăng Để gia tăng khả năng sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh, một số cơ sở sản xuất nhỏ đã liên kết với nhau thành các doanh nghiệp lớn hơn theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Đ ng thời, sau một thời gian, một số lao động có nghề trong các doanh nghiệp có đủ điều kiện đã tách ra thành lập các cơ sở sản xuất mới
ở trong làng nghề làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn Như vậy, sản xuất phát triển ra khắp cả làng
Điển hình trong giai đoạn này là các làng nghề cơ khí truyền thống như làng nghề cơ khí Xuân Tiến (Xuân Trường); Yên Xá (Ý Yên); Vân Chàng (Nam Trực) và các làng nghề mới được hình thành từ các nghề mới như nghề kéo sợi, dệt lưới PE ở Hải Thịnh (Hải Hậu); Trực Hùng (Trực Ninh); làng nghề may Vĩnh Trị (Ý Yên),
Với sự năng động của thành phần doanh nghiệp dân doanh, trình độ sản xuất ở giai đoạn này đã có bước phát triển cao hơn giai đoạn trước Các doanh nghiệp, nhất là các cơ sở sản xuất sản phẩm cơ khí, đã quan tâm và chú trọng đầu tư thiết bị, máy móc, áp dụng công nghệ mới để nâng cao trình độ sản xuất và tăng hiệu quả trong hoạt động sản xuất - kinh doanh Đ ng thời, các doanh nghiệp trong làng nghề còn tăng cường hợp tác với các cơ sở sản xuất lớn khác ở bên ngoài làng nghề để cùng nhau giải quyết các vấn đề trong sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là vấn đề thị trường tiêu thụ
Giai đoạn này chứng kiến sự lớn mạnh cả về quy mô, sản lượng, chủng loại
và chất lượng của sản phẩm làng nghề Một số doanh nghiệp đã thực hiện xuất khẩu trực tiếp như Công ty trách nhiệm hữu hạn Vĩnh Oanh (Ý Yên), Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí Việt Nhật (Xuân Trường), Mô hình làng nghề trong
Trang 34giai đoạn này được xác định như sau: Doanh nhân + Doanh nghiệp + Sự giúp đỡ của Nhà nước Làng nghề [http://quangba.namdinh.gov.vn/]
Trong thời gian vừa qua các làng nghề của tỉnh Nam Định đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và quy mô Các làng nghề được phân
bố theo các huyện, thành phố như sau:
Bảng 1: Các làng nghề phân bố theo địa bàn hành chính huyện và thành phố năm 2010
TT Tên huyện,
thành phố
Số làng nghề
Tỷ lệ % so với tổng số làng nghề
Số làng nghề truyền thống
Tỷ lệ % so với tổng làng nghề truyền thống
H ng, Dịch Diệp, Cự Trữ,…
Trang 35Các sản phẩm chính của các làng nghề sản xuất đ gỗ, dệt may, cơ khí đúc và thủ công mỹ nghệ g m: Đ gỗ gia dụng các loại, sản phẩm khăn ăn các loại, các chi tiết máy, hàng hóa phục vụ sản xuất công nghiệp, các sản phẩm mây tre cuốn, sơm mài xuất khẩu và tiêu dùng nội địa…
Các sản phẩm truyền thống như sơn mài, đúc đ ng, đ gỗ gai dụng các loại,… vẫn được duy trì sản xuất Với việc áp dụng các kỹ thuật, công nghệ mới vào hoạt động sản xuất đã giúp cải thiện điều kiện lao động, nâng cao năng suất lao động và tạo ra được các sản phẩm bền đẹp, mẫu mã đa dạng, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng
Bảng 2: Phân loại các làng nghề tỉnh Nam Định theo ngành nghề năm 2010
TT Tên ngành nghề
Số làng nghề
Tỷ lệ % so với tổng số làng nghề
Số làng nghề truyền thống
Tỷ lệ % so với làng
nghề truyền thống
Nguồn: Tổng hợp số liệu về làng nghề CN-TTCN tỉnh Nam Định năm 2010
Theo Báo cáo tình hình phát triển làng nghề CN – TTCN tỉnh Nam Định: Tính đến cuối năm 2006, số lao động sản xuất CN – TTCN của các làng nghề tỉnh Nam Định là 47.837 lao động trên tổng số 88.695 lao động của toàn bộ các làng nghề Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề chủ yếu là hộ cá thể Vì vậy lao động sử dụng trong các làng nghề chủ yếu là
Trang 36lao động gia đình ở các làng nghề, số lao động thuê ngoài chỉ chiếm 5% Thu nhập bình quân của người lao động từ trên 350.000 đ ng tại các làng nghề sản xuất chiếu cói, nón lá đến 1.200.000 đ ng tại các làng nghề cơ khí đúc
Năm 2006 giá trị sản xuất CN – TTCN tại các làng nghề tỉnh Nam Định đạt khoảng 732.162.000.000 đ ng, giá trị xuất khẩu ước đạt 506.000 USD Trong những năm qua, các làng nghề đã đóng vai trò hết sức to lớn trong việc giải quyết việc làm thường xuyên cho hàng vạn lao động và hàng nghìn lao động có tính chất thời vụ, tạo thu nhập ổn định, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng cao của sản xuất công nghiệp và dịch chuyển cơ cấu theo hướng công nghiệp, dịch vụ
Vốn sản xuất kinh doanh của các làng nghề năm 2005 ước đạt 540 tỷ
đ ng, nhưng phân bố không đ ng đều, chủ yếu tập trung ở các làng nghề cơ khí: 32,3%; dệt may, tơ tằm: 14,2%; đ gỗ: 6,3%; thủ công mỹ nghệ: 12,2%
và chế biến lương thực thực phẩm: 3,1% Giá trị sản xuất của các làng nghề ước đạt 650 tỷ đ ng, thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là ở trong nước
Làng nghề phát triển đi đôi với cơ sở hạ tầng ở khu vực được đầu tư phát triển Điều này được thể hiện rõ nét ở các huyện Xuân Trường, Ý Yên, Nam Trực, nơi có nhiều các làng nghề phát triển Làng nghề đã góp phần tăng ngu n thu ngân sách của tỉnh, trong đó năm sau lại cao hơn năm trước Cụ thể năm 2003 các làng nghề đã đóng góp vào ngân sách của tỉnh 41.298.000.000
đ ng, năm 2004 là 56.351.000.000 đ ng và năm 2005 là 67.000.000 đ ng
Vai trò của các làng nghề trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh là điều không thể phủ nhận, tuy nhiện hiện tại các làng nghề của tỉnh vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn cả từ bên trong lẫn bên ngoài trong quá trình phát triển của mình Thiết bị, máy móc ở các làng nghề nhìn chung đều
cũ, lạc hậu và chắp vá Một số làng nghề cơ khí đã có trang bị mới một số thiết bị chuyên dùng trong và ngoài nước, song đa số thiết bị này đều là thiết
bị đã qua sử dụng của Nhật Bản, Hàn Quốc
Do vậy, Tỉnh Nam Định xác định khoa học & công nghệ, môi trường, thông tin tư vấn là một trong các yếu tố quyết định sự t n tại và phát triển của
Trang 37các làng nghề nên đã có những chính sách nhằm hỗ trợ cho các làng nghề, mặc dù vậy hiện nay đổi mới công nghệ tại các làng nghề vẫn đang vấp phải rất nhiều những rào cản đến từ nhiều phía
2.1.3 Tổng quan về làng nghề cơ khí Xuân Tiến
Xã Xuân Tiến thuộc huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Nam Định, là một trong 20 đơn vị hành chính của huyện Xuân Trường Xã Xuân Tiến nằm cách không xa thị trấn Xuân Trường (huyện lị của huyện Xuân Trường)
Xuân Tiến là một trong những làng nghề cơ khí lớn nhất tại tỉnh Nam Định Làng nghề cơ khí Xuân Tiến được hình thành khởi đầu từ nghề đúc
đ ng truyền thống Trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX các sản phẩm đ ng như n i, mầm, chậu, chuông… được làm từ những đôi bàn tay tài hoa của người dân làng nghề Xuân Tiến đã xuất hiện trong đời sống sinh hoạt của nhiều gia đình Việt Nam
Trải qua thời gian, trước những đòi hỏi của thị trường, sức ép của cạnh tranh, để có thể t n tại và thích ứng được với những yêu cầu ngày càng cao của thị trường, làng nghề Xuân Tiến đã mở rộng sản xuất sang các mặt hàng cơ khí vừa và nhỏ Sản phẩm cơ khi ban đầu của làng chính là những chiếc đèn dầu Hoa Kỳ với những yêu cầu đơn giản về mặt kỹ thuật, trải qua thời gian, với sự đòi hỏi ngày càng đa dạng của thị trường, làng nghề cơ khí Xuân Tiến đã cho
ra đời hàng loạt những sản phẩm cơ khí mới đòi hỏi độ chính xác, tinh xảo cao hơn rất nhiều chiếc đèn dầu Hoa Kỳ ban đầu như phụ tùng xe đạp, đèn măng sông, kèn đ ng… và hiện nay các cơ sở sản xuất của làng nghề đã cho ra đời các sản phẩm đòi hỏi không chỉ bàn tay tài hoa của người thợ mà còn đòi hỏi trình độ cao về kỹ thuật như máy đập lúa, máy bóc lạc, tách ngô, máy trộn bê tông, máy ép gạch…
Vào những năm 1960, khi thực hiện chủ trương tập trung, quy tụ người lao động có tay nghề vào sản xuất tập thể của nhà nước, những người thợ của làng nghề Xuân Tiến đã được tập hợp lại cùng làm việc dưới một mái nhà chung là hợp tác xã Xuân Thanh (năm 1965 đổi tên thành hợp tác xã Thống
Trang 38Nhất) Hợp tác xã Xuân Thanh t n tại và phát triển cho tới đầu những năm
1990 Đây là lần đầu tiên những người thợ cơ khí của làng nghề Xuân Tiến được làm việc trong một môi trường mang tính tập thể, kỷ luật cao, và có tính chất chuyên nghiệp dù chỉ ở mức đơn giản Những người thợ cơ khí lần đầu tiên được hưởng những chế độ như công nhân viên chức, với nhiều mới lạ trong cách thức quản lý cũng như hoạt động Giai đoạn này hợp tác xã cơ khí Xuân Thanh đã hoạt động tích cực, cung cấp cho người dân địa phương cũng như cả nước các sản phẩm cơ khí có chất lượng Thời kỳ này làng nghề cơ khí Xuân Tiến phát triển khá thịnh vượng, những sản phẩm của làng nghề đã đóng góp công sức cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và phục vụ đất nước những năm đầu đổi mới Trong quãng thời gian đó, người thợ Xuân Tiến đã cùng nhau chia sẻ, cùng nhau bắt tay hợp tác sản xuất học hỏi kinh nghiệm làm nghề, kinh nghiệm làm việc tập thể, cách sản xuất, quản lý khoa học và bài bản Chính những kiến thức, những kinh nghiệm mà người thợ làng nghề học hỏi được trong thời gian này đã giúp ích cho họ rất nhiều trong giai đoạn sau này khi mà họ tự mày mò,
mò mẫm những bước kinh doanh, sản xuất trong giai đoạn về sau khi đất nước chuyển từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường
Tuy nhiên càng về sau trước sức ép của cạnh tranh, và do không kịp thời chuyển đổi, nhanh nhạy nắm bắt các cơ hội mà từ chỗ làm ăn phát đạt, hợp tác
xã dần thua lỗ, và không thể tiếp tục hoạt động Thời điểm hợp tác xã Xuân Thanh giải thể, người lao động vô cùng hoang mang, trở về với gia đình, họ phải loay hoay để làm sao có thể nuôi sống được gia đình, bản thân và không làm mai một đi cái nghề truyền thống của cha ông Lúc đó khó có ai tin rằng sẽ
có ngày làng nghề cơ khí Xuân Tiến có thể được khôi phục và phát triển trở lại
Nhưng khó khăn đã không làm cho những người thợ Xuân Tiến phải chùn bước mà ngược lại, 200 lao động của hợp tác xã sau khi trở về gia đình, không chỉ tiếp tục sản xuất để giữ nghề mà còn tiếp tục mày mò để tìm được những hướng đi cho riêng mình Khi HTX giải thể, người thợ cơ khí từ chỗ cố gắng giải quyết việc làm kiếm thu nhập để đảm bảo cuộc sống cho gia đình, với niềm say mê lớn lao dành cho nghề cơ khí người thợ Xuân Tiến đã nhận
Trang 39thấy rằng phải thay đổi cách nghĩ, cách làm, cách sản xuất theo nếp cũ chỉ quanh quẩn với những sản phẩm quen thuộc: con dao, cái cuốc, đ gia dụng,… Họ đi sâu vào nghiên cứu và sản xuất ra những mặt hàng mà thị trường lúc đó đang cần: đột mặt sàng cho máy xát gạo, nhiệt luyện, cán phôi lưỡi cưa Từ những bước chập chững đầu tiên ấy, những người thợ cơ khí Xuân Tiến sau đó đã đi sâu vào nghiên cứu để r i đã chế tạo được những sản phẩm hoàn chỉnh Các sản phẩm của người thợ cơ khí Xuân Tiến được thị trường đón nhận và tiêu thụ mạnh Sau những thành công bước đầu, làng nghề cơ khí Xuân Tiến đã tập trung nghiên cứu và chế tạo thành công máy đập lúa liên hoàn, tạo nên tiếng vang lớn
Thời điểm những năm 90, trên thị trường máy đập lúa liên hoàn bấy giờ, chiếm ưu thế là những chiếc máy đập lúa Cửu Long của miền Nam Những chiếc máy này khi xuất hiện ở thị trường miền bắc có giá thành rất cao nên ít hộ nông dân có thể có điều kiện để mua về Nắm bắt được nhu cầu của thị trường, cũng như khả năng chi trả của người nông dân, một số thợ cơ khí tiên phong của làng nghề Xuân Tiến đã mày mò nghiên cứu chế tạo, sau nhiều
cố gắng đã thu được kết quả thành công Sản phẩm tung ra thị trường với giá thành hạ, chất lượng tốt đã tạo nên tiếng vang lớn, nông dân các nơi đổ xô về Xuân Tiến mua máy đập lúa Nhiều hộ trong xã đã mở xưởng sản xuất máy đập lúa Sản phẩm máy đập lúa liên hoàn đã trở thành thương hiệu của làng nghề cơ khí Xuân Tiến Kể từ ngày đó đến nay làng nghề Xuân Tiến đã có nhiều bước phát triển và được coi là trung tâm sản xuất máy đập lúa liên hoàn lớn trên toàn miền Bắc Máy đập lúa liên hoàn của Xuân Tiến đã thâm nhập được không chỉ thị trường miền Bắc mà còn ở các tỉnh miền Trung và được xuất khẩu sang một số địa phương ở Lào và Trung Quốc
Khi thị trường máy đập lúa bão hòa, các cơ sở sản xuất của làng nghề Xuân Tiến đã nhanh nhạy kịp thời chuyển sang sản xuất thêm nhiều các mặt hàng khác như máy ép gạch, máy trộn bê tông, máy tách hạt, máy trộn thức
ăn gia súc,… Hơn 20 năm qua, làng nghề Xuân Tiến đã không ngừng mở rộng về quy mô, thị trường tiêu thụ, đa dạng về sản phẩm, khẳng định về chất
Trang 40lượng Từ các xưởng sản xuất ban đầu tại các hộ gia đình, để đáp ứng nhu cầu
mở rộng kinh doanh, sản xuất nhiều doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần đã ra đời
Có thể nói trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, có những lúc khó khăn làng nghề tưởng chừng như không thể t n tại nhưng với truyền thống lâu đời của làng nghề, với bàn tay tài hoa, sự nhanh nhạy và quyết tâm trụ vững với nghề của người thợ Xuân Tiến, mới có được một làng nghề Xuân Tiến như ngày hôm nay, đó là một làng nghề luôn đứng vững ở vị thế là một trong những làng nghề điển hình của tỉnh Nam Định
Trải qua thời gian, trước sức ép của cạnh tranh và nhu cầu của thị trường, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất của làng nghề Xuân Tiến đã không ngừng học hỏi, sáng tạo, cải tiến, phát triển các sản phẩm của mình để có thể đáp ứng tối đa các nhu cầu đa dạng của thị trường Nhiều doanh nghiệp đã đi đầu trong việc nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, lắp đặt thành công nhiều loại máy móc, phục vụ các ngành công nông, ngư nghiệp, thủy sản Một số doanh nghiệp đã bước đầu xây dựng, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình để từng bước xây dựng nên các thương hiệu mạnh và có vị trí trên thị trường Các doanh nghiệp cũng đã chú trọng hơn đến các khâu quảng bá sản phẩm cũng như hình ảnh của mình đến với khách hàng
Kinh tế phát triển đã tạo điều kiện cho việc phát triển giáo dục, văn hóa, xã hội của địa phương, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân làng nghề Ông Mai Xuân Thành – Chủ tịch UBND xã Xuân Tiến ông Mai Xuân Thành cho biết: Tính đến năm 2003, Xuân Tiến là xã đứng đầu huyện Xuân Trường về số máy điện thoại trên 100 người dân, 100% người dân được dùng nước sạch, y tế đã được đưa đến từng thôn
Theo báo cáo tổng quan làng nghề Xuân Tiến thì đến năm 2003, cả xã
có hơn 300 hộ làm nghề thu hút trên 2.500 lao động, trong đó có 1 công ty cổ phần, 5 công ty trách nhiệm hữu hạn và 3 doanh nghiệp tư nhân Đến năm
2009 tổng số doanh nghiệp trong xã đã lên tới con số 30 trong đó chủ yếu là