1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang

134 565 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu Nghiên cứu để nâng cao chất lượng các đề tài/dự án khoa học và công nghệ là một vấn đề không mới đối với nhiều nước trên thế giới, bởi vì mỗi một quốc gia đều có nhữn

Trang 1

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS Phạm Huy Tiến

Hà Nội, 2008

Trang 2

Mục lục……….……….… 2

Các ký hiệu viết tắt trong luận văn……… 4

Lời cảm ơn……… 5

Mở đầu……… 6

1 Lý do chọn đề tài……… 6

2 Lịch sử nghiên cứu………

9 3 Mục tiêu nghiên cứu……… 11

4 Khách thể, phạm vi nghiên cứu………

11 5 Mẫu khảo sát ……… 12

6 Vấn đề nghiên cứu ……… 12

7 Giả thuyết nghiên cứu ……… 13

8 Phương pháp nghiên cứu ………

13 9 Cấu trúc luận văn ……… 15

Chương I: cơ sở lý luận……… 16

1.1 Một số khái niệm có liên quan ……… ………… 16

1.1.1 Hoạt động khoa học và công nghệ ……… ……… ……

16 1.1.2 Nghiên cứu khoa học ……….…….……… 16

1.1.3 Khái niệm đề tài/dự án ……… ………

19 1.1.4 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ……… ……… 22

1.1.5 Một số chủ trương, định hướng của tỉnh ……… …….…

26 1.2 Mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất ………

27 1.2.1 Công tác nhận diện mối quan hệ ….……… 27

1.2.2 Những khó khăn trong quá trình nhận diện ……….…

28 1.2.3 Một số đặc điểm của nghiên cứu khoa học .……….…

29 1.3 Một số mô hình có liên quan……… ……… 31

1.3.1 Mô hình công nghệ đẩy ……… 31

1.3.2 Mô hình thị trường kéo ……… …… 31

1.3.3 Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Giang ……… 32

Trang 3

13.4 Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ một số tỉnh ………

33 Kết luận chương I ………

33 Chương II: Cơ sở thực tiễn của quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN tỉnh Bắc Giang ……… 35

2.1 Những vấn đề tác động đến hoạt động nghiên cứu- ứng dụng KH&CN của tỉnh Bắc Giang ……… …… 35

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN ……… …

35 2.1.2 Hệ thống tổ chức quản lý và hệ thống cơ quan nghiên cứu triển khai của tỉnh ……….… 37

2.1.3 Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh ……… … 39

2.1.4 Thực trạng công nghệ thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu ứng dụng KH&CN của tỉnh ……….… 41

2.1.5 Quy trình quản lý hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN của tỉnh giai đoạn 2001-2006 ……….… 42

2.2 Khái quát về nghiên cứu ứng dụng KH&CN ở Bắc Giang giai đoạn 2001-2006 ……… 43

2.2.1 Kết quả đạt được trên một số lĩnh vực ……….… 44

2.2.2 Những tồn tại ……….… 49

2.3 Kết quả nghiên cứu ……… 50

2.3.1 Phân bố các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng KH&CN … ………… … 51

2.3.2 Mức độ ứng dụng của các kết quả nghiên cứu ứng dụng KH&CN … …

52 2.3.3 Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của các ĐTDA …… …………

52 2.3.4 Về kết quả xét duyệt, nghiệm thu các ĐTDA ……… … 55

2.3.5 Chủ nhiệm ĐTDA ……… … 56

2.3.6 Hội đồng đánh giá … ……… 61

2.3.7 Đối với cơ quan quản lý ….………

65 2.3.8 Đối với tổ chức, cá nhân sử dụng kết quả nghiên cứu ………

67 2.3.9 Về các văn bản quy định hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN …

68 Kết luận chương II ……… 71

Chương III Một số giải pháp cho việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh ……….… 72

3.1 Cơ sở cho việc xác định giải pháp ……….……….… 72

Trang 4

3.2 Một số giải pháp ….……… ……… … 74

3.2.1 Đề xuất các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh theo hình thức chủ động thay vì thụ động như hiện nay ……… ………

74 3.2.2 Lựa chọn nhiệm vụ KH&CN phải phù hợp với điều kiện thực tiễn và được gắn với những đơn vị cụ thể ……….………

78 3.2.3 Cải thiện chất lượng của Hội đồng lựa chọn nhiệm vụ KH&CN …….…

83 Kết luận chương III ……… ……… 84

Kết luận ……….……… 86

1 Kết luận ……….……… 86

2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu ……….……… 86

3 Những khuyến nghị ……….……… 87

Tài liệu tham khảo ….………… ……… 88

Phần phụ lục ……… … 91

Trang 5

Các ký hiệu viết tắt trong luận văn

Ký hiệu Chữ được viết tắt

KHCN&MT Khoa học Công nghệ và Môi trường CNH-HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa

Trang 6

Lời cảm ơn

Từ khi thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được sự động viên, ủng hộ, giúp đỡ

và cung cấp thông tin rất nhiệt tình của bạn bè đồng nghiệp, của các đồng chí lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ, lãnh đạo một số Sở, ngành, huyện, thành phố của tỉnh Bắc Giang Đặc biệt các nội dung nghiên cứu đã được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Huy Tiến cùng các thầy, cô trong Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, trường Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung để Luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2008

Nguyễn Văn Chức

Trang 7

Với việc xác định khoa học và công nghệ là nền tảng, động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước; Đảng và Nhà nước ta đã sớm xác định vai trò then chốt của cách mạng khoa học kỹ thuật Trong thời gian qua, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, nhiều văn bản quan trọng

về định hướng chiến lược và cơ chế chính sách phát triển KH&CN đã được ban hành: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII; Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khóa IX; Chỉ thị số 63-CT/TW ngày 28 tháng 2 năm 2001; Luật Khoa học và Công nghệ; Chiến lược phát triển KH&CN và nhiều chính sách cụ thể về xây dựng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN

Đối với tỉnh Bắc Giang, kể từ ngày tái lập tỉnh (1997), hoạt động KH&CN

đã được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh quan tâm chỉ đạo Nhiều văn bản của tỉnh về KH&CN đã được ban hành và triển khai thực hiện như: Chiến lược phát triển KH&CN của tỉnh đến 2010; Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII; Kế hoạch số 04-KH/TU của Tỉnh

uỷ Bắc Giang về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 63-CT/TW ngày 28/02/2001 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KHCN phục vụ CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn; Kế hoạch triển khai chương trình ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất và đời sống và nhiều văn bản đổi mới cơ

Trang 8

chế quản lý hoạt động nghiên cứu-ứng dụng KH&CN Do vậy, kinh phí đầu tư cho hoạt động KH&CN đã tăng đều hàng năm

Hoạt động nghiên cứu-ứng dụng KH&CN giai đoạn 2001-2006 với hàng trăm đề tài/dự án khoa học công nghệ được thực hiện đã góp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Kết quả nghiên cứu-ứng dụng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; phát triển giáo dục và đào tạo; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc cũng như góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng; cải cách hành chính; bảo vệ môi trường, phát triển bền vững

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động nghiên cứu khoa học của các địa phương nói chung và ở tỉnh Bắc Giang nói riêng, chưa thực sự phát huy hết hiệu quả của mình Thực tế cho thấy là có nhiều đề tài/dự án khoa học được nghiên cứu xong, được Hội đồng đánh giá nghiệm thu đạt yêu cầu,

thậm chí đạt loại khá và xuất sắc nhưng kết quả nghiên cứu lại rơi vào các tình

trạng sau:

- Không áp dụng được trong thực tiễn,

- Được áp dụng nhưng trong một thời gian rất ngắn,

- Không nhân rộng được

Hậu quả của vấn đề này sẽ dẫn tới:

- Lãng phí tiền của và những đầu tư hỗ trợ khác của nhà nước (thời gian, nhân lực,…),

- Tổn thất về uy tín, cách nhìn nhận, đánh giá của các cấp, các ngành trong

xã hội đối với khoa học bị sai lệch,

- Lãng phí chất xám, không phát huy những năng lực của đội ngũ khoa học

và công nghệ,

- Không đáp ứng được các nhu cầu bức xúc của xã hội và

- Không thúc đẩy, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển khoa học công nghệ trong thời kỳ hội nhập

Đây không phải là vấn đề riêng của tỉnh Bắc Giang, mà là vấn đề chung của cả nước Gần đây, trên Tạp chí Hoạt động Khoa học, GS.TS Võ Tòng Xuân

đã viết: “Số công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam tương đối nhiều,

Trang 9

nhưng chúng ta thường nghe phàn nàn rằng: “Kết quả đề tài được nghiệm thu rồi để đó, ít ai sử dụng…” Việc đăng các kết quả trên các tạp chí khoa học quốc tế cũng rất ít khi được chấp nhận mà chỉ có thể đăng trên một số tạp chí trong nước Vì thế, nhìn chung hiệu quả sử dụng kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học của chúng ta chưa cao Lý do chính dẫn đến tình trạng trầm kha này

có lẽ là vì chúng ta chưa có đầu ra ổn định cho các sản phẩm khoa học của mình, tương tự như nông dân cứ cặm cụi sản xuất những gì mình có thể nuôi trồng mà không sản xuất những gì thị trường cần Có nhiều vấn đề dẫn đến tình

trạng này, nhưng trong đó có yếu tố quan trọng hàng đầu đó là “chọn vấn đề

nghiên cứu”

Đây là vấn đề cốt lõi, quyết định đầu ra của sản phẩm Những kết quả nghiên cứu đã công bố nhưng không được sử dụng cho thấy, tác giả chưa chọn đúng vấn đề nghiên cứu, không có người đặt hàng, hoặc nếu có thì kết quả không đúng như giả thuyết đã đặt ra”1

Từ những vấn đề nêu trên, cần thiết phải “Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang” đó là yếu tố “chọn

vấn đề nghiên cứu” sát thực, phù hợp với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu tại địa phương Vấn đề này thực hiện không tốt sẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng “đề tài được nghiệm thu rồi để đó, ít ai sử dụng” như đã đề cập Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các nhà quản lý về khoa học

và công nghệ cũng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý, tuyển chọn, nghiệm thu các đề tài/dự án khoa học và công nghệ, các thiết chế quản lý… còn đang là một thách thức, một rào cản cần phải tháo gỡ để hoạt động khoa học và công nghệ phát triển nhanh, mạnh và có hiệu quả

ý nghĩa lý luận: bổ sung các luận cứ khoa học giúp cho việc xây dựng chính sách về KH&CN, đổi mới công tác quản lý nhà nước về KH&CN ở cấp địa phương

1 GS.TS Võ Tòng Xuân, Đầu ra cho các sản phẩm nghiên cứu khoa học trong

thời hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 3.2007,

tr.8

Trang 10

ý nghĩa thực tiễn: nhận diện được những mối quan hệ của quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu của địa phương để đề ra những giải pháp gắn kết những quá trình này sao cho đề tài/dự

án KH&CN cấp tỉnh sau khi hoàn thành sẽ là một sản phẩm hữu ích đối với sản xuất và đời sống của địa phương

Giúp cơ quan quản lý, chủ nhiệm đề tài/dự án có những giải pháp cần thiết

để hoạt động nghiên cứu-triển khai có chất lượng ngày một tốt hơn, đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

2 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu để nâng cao chất lượng các đề tài/dự án khoa học và công nghệ

là một vấn đề không mới đối với nhiều nước trên thế giới, bởi vì mỗi một quốc gia đều có những chính sách khác nhau về hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ với một mục tiêu chung là làm sao đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác nghiên cứu ứng dụng KH&CN vào sản xuất và đời sống

ở nước ta, hàng năm ngân sách nhà nước cấp một khoản kinh phí khá lớn cho hoạt động nghiên cứu KH&CN, từ các bộ, ngành ở trung ương tới các địa phương trong cả nước, điều này cho thấy một lực lượng đông đảo nhân lực khoa học và công nghệ đã dành nhiều thời gian, công sức, chất xám để thực hiện những đề tài/dự án khoa học và công nghệ phục vụ cho sự phát triển của đất nước; nhưng theo đánh giá chung của nhiều tỉnh thì nhiều năm qua chúng ta có thể nhận thấy một lượng không nhỏ những đề tài/dự án sau khi đã được nghiệm thu thì không được áp dụng, hay được áp dụng nhưng không nhân rộng ra được hoặc chỉ áp dụng trong một thời gian rất ngắn Vấn đề này những năm gần đây

đã được nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử nói đến rất nhiều Gần đây Bộ Khoa học và Công nghệ có đưa ra một số chủ trương đổi mới quản lý khoa học và công nghệ, đặc biệt là Đề án chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ, giai đoạn 2006-2010 Bày tỏ vấn đề này,

GS Hoàng Tụy có bài đăng trên Vietnamnet về những suy nghĩ xung quanh các chính sách khoa học hiện hành Trong đó, GS cũng gọi hiện tượng này là hiện

tượng “đút vào ngăn kéo” GS cho rằng: “Phát triển khoa học, công nghệ cùng

Trang 11

với giáo dục đã từng được trịnh trọng nêu lên là quốc sách hàng đầu, song cho đến nay khoa học, công nghệ vẫn chưa thật sự khởi sắc Phải chăng vì đầu tư chưa đủ mức, vì đội ngũ khoa học, công nghệ của ta quá yếu kém, hay vì nguyên nhân gì khác? Câu hỏi này đã từng đặt ra nhiều lần Và cũng đã nhiều lần các

cơ quan quản lý nhận định đúng đắn rằng nguyên nhân quan trọng nhất, nếu không nói chủ yếu, là thiếu chính sách thích hợp để động viên và phát huy tiềm năng của đội ngũ khoa học Tiếc thay, chúng ta thường chỉ nhận định xong rồi

để đó, vài năm sau lại lặp lại y như trước, làm mất hết lòng tin của những người thiết tha với sự nghiệp Lần gần đây nhất là năm 2001, hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ Tướng, nhiều người đã góp những ý kiến rất chân thành, tha thiết, mà rồi, cũng như các lần khác, mọi ý kiến tiếp tục chìm trong im lặng, ngoại trừ Nhà nước tốn thêm mấy trăm triệu chi cho các cơ quan nghiên cứu cơ chế chính sách để sản xuất thêm một số kiến nghị đút vào ngăn kéo vốn đã đầy ắp những văn kiện tương tự Mong rằng lần này, với áp lực hội nhập, chúng ta sẽ làm việc nghiêm túc hơn, trung thực, thẳng thắn và kỹ càng hơn, để có những hành động thiết thực, tạo được chuyển biến thật sự, gây lòng tin đã được chờ đợi từ quá lâu rồi”2

Trong một bài viết khác đăng trên Tạp chí Thời đại mới, GS Hoàng Tụy

cũng cho rằng: “Một trong các biểu hiện sa sút tệ hại nhất của đại học và khoa

học là sự cẩu thả và gian dối trong việc đào tạo… và lựa chọn, phân bổ kinh phí cũng như nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học ” 3

Tuy nhiên, những bài viết này chỉ mới đưa ra được vấn đề, thực trạng của công tác nghiên cứu khoa học nước ta hiện nay, mà chưa đưa ra được nguyên nhân hay các giải pháp giải quyết vấn đề để nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay

Việc các đề tài/dự án làm xong rồi lại “cất ngăn kéo” trong hoạt động nghiên cứu ứng dụng tại các địa phương bắt nguồn từ nhiều lý do khác nhau

2 GS Hoàng Tụy, Thưa Bộ trưởng, khoa học đang đi về đâu?, Vietnamnet,

10:02’ 22/03/2006 (GMT+7)

3 Hoàng Tụy- Viện Toán (Hà Nội), Một số vấn đề về khoa học và giáo dục: Góc

nhìn trong cuộc sống, Thời đại mới (Tạp chí nghiên cứu & thảo luận), số 6,

tháng 11/2005

Trang 12

Đây là một vấn đề thực tế của tất các tỉnh, thành trong cả nước rất cần có những giải pháp khắc phục Theo một nghiên cứu gần đây của tác giả Phạm Văn Bình, tỉnh Hải Dương về “giải pháp giảm thiểu rủi ro trong việc áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học” Báo cáo có đánh giá là 34% các đề tài/dự án của Hải Dương áp dụng có rủi ro Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một công trình nghiên cứu việc áp dụng kết quả nghiên cứu, tức là nghiên cứu “đầu ra” của quá trình nghiên cứu

Hiện tại, bản thân tác giả đang công tác tại cơ quan quản lý khoa học và công nghệ địa phương, qua hoạt động thực tiễn cũng như qua thông tin trong và ngoài ngành thì có thể khẳng định rằng:

+ Chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu “đầu vào” của quá trình nghiên cứu ứng dụng KH&CN trên cơ sở nhu cầu thực tiễn ứng dụng các kết quả đó vào sản xuất và đời sống của nơi thực hiện cũng như áp dụng rộng rãi kết quả nghiên cứu đó

+ Có một số tác giả đã có những bài viết, những nhận định về việc “ra đầu bài không chuẩn” trong nghiên cứu khoa học, xong những đánh giá đó chỉ mang tính chủ quan, chưa có cơ sở khoa học Vấn đề là cần nghiên cứu theo hướng tiếp cận của hoạt động quản lý khoa học và công nghệ trong bối cảnh hiện tại của mỗi địa phương, để có thể đề xuất một số những giải pháp mang tính chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN

Như vậy, vấn đề nghiên cứu này là một vấn đề mới để tìm ra nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu ứng dụng KH&CN không đi vào cuộc sống của tỉnh Bắc Giang nói riêng cũng như các tỉnh, thành trong cả nước nói chung

3 Mục tiêu nghiên cứu

Với đề tài nghiên cứu này, mục tiêu mà chúng tôi muốn thực hiện là:

- Nhận diện mối liên hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang,

Trang 13

- Đề xuất một số giải pháp cho việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ của tỉnh

4 Khách thể, phạm vi nghiên cứu

* Khách thể của nghiên cứu:

- Các đề tài/dự án khoa học sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2001-2006

- Các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu, đơn vị chuyển giao và sử dụng kết quả nghiên cứu, các thành viên hội đồng tuyển chọn các đề tài/dự án khoa học, các nhà quản lý

* Phạm vi nghiên cứu:

Xem xét, nhận dạng mối liên hệ đầu vào của một quá trình (xác định nhiệm

vụ nghiên cứu khoa học) với đầu ra của nó (việc ứng dụng kết quả nghiên cứu) Trong đề tài này, việc “xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học” được hiểu là: quá trình lựa chọn các đề tài/dự án khoa học để đi vào thực hiện (gồm quá trình đề xuất, hội đồng xác định nhiệm vụ, hội đồng xét duyệt đề cương)

“Nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu” là thực tiễn việc ứng dụng, nhân rộng kết quả nghiên cứu thời gian qua của tỉnh

5 Mẫu khảo sát

Các đề tài/dự án khoa học và công nghệ, sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ của tỉnh giai đoạn 2001-2006 (132 đề tài/dự án khoa học

và công nghệ)

- Địa điểm tiến hành nghiên cứu: tỉnh Bắc Giang

- Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ tháng 5/2005 đến tháng 10/2008

6 Vấn đề nghiên cứu

ở cấp địa phương không có nghiên cứu khoa học cơ bản hoặc nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận Theo phân cấp hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp tỉnh chỉ hướng vào nghiên cứu áp dụng các kết quả tiến bộ kỹ thuật mới để giải quyết những vấn đề thực tiễn phát triển kinh tế xã hội đặt ra,

do vậy các kết quả nghiên cứu khoa học cần phải được đưa nhanh và nhân rộng vào thực tiễn, nhưng:

Trang 14

Tại sao một số đề tài/dự án khoa học sau khi nghiên cứu xong, kết quả không được áp dụng, hoặc có triển khai áp dụng nhưng chỉ duy trì được trong thời gian ngắn, hoặc không nhân rộng được?

Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đa phần là xuất phát từ nhu cầu thực tế,

từ những bức xúc của đời sống, của quá trình sản xuất… như vậy là sau khi nghiên cứu nó phải được đi vào cuộc sống, phải được thực tế sản xuất và đời sống chấp nhận, nhưng thời gian qua nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học sau khi kết thúc thì lại bị lãng quên ngay hoặc có được áp dụng thì cũng chỉ là miễn cưỡng, hiệu quả không cao Vậy, làm cách nào để nhận diện và gắn kết được quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống của địa phương?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đề xuất tự phát, không theo định hướng nghiên cứu; chất lượng chưa cao:

+ Nhiều đề tài/dự án khoa học còn chưa xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất và đời sống, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương

+ Nhiều Hội đồng xét duyệt đề tài/dự án còn có chất lượng chuyên môn thấp, trách nhiệm chưa cao

+ Định hướng, kế hoạch nghiên cứu khoa học còn chưa cụ thể, chưa rõ ràng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu; tiêu chí đánh giá các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học còn nhiều điểm chưa phù hợp…

- Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học chỉ giải quyết vấn đề trong phạm vi hẹp của đơn vị cũng như của địa phương

8 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, tác giả ứng dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

* Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Để nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống của tỉnh Bắc Giang, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu

Trang 15

Nguồn tài liệu dùng để phân tích chủ yếu là thông tin thu được từ 157 phiếu trưng cầu; các thông tin thu được từ các phiếu phỏng vấn sâu các cán

bộ quản lý, thành viên Hội đồng khoa học của một số sở, ngành của tỉnh

- Phân tích các tài liệu về quản lý dự án, quản lý khoa học công nghệ, các chính sách trong lĩnh vực khoa học công nghệ,… trong và ngoài nước; qua sách báo, mạng internet

- Phân tích các tài liệu về hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ ở tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2001-2006 qua nguồn tài liệu lưu trữ của Sở Khoa học

và Công nghệ tỉnh Bắc Giang

* Phương pháp định tính:

- Phỏng vấn sâu: để thu thập thông tin định tính, tác giả đã thực hiện một số cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng là cán bộ quản lý, chủ nhiệm đề tài/dự án, các chuyên gia thường xuyên tham gia thẩm định, tuyển chọn các đề tài/dự án khoa học của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2001-2006

- Yêu cầu của phỏng vấn sâu: mỗi cuộc phỏng vấn sâu đều có bảng hướng dẫn riêng dành cho từng đối tượng với những câu hỏi đã được định sẵn, một số câu hỏi phát sinh có tác dụng làm rõ thêm vấn đề Tác giả luận văn trực tiếp là người phỏng vấn

* Phương pháp định lượng: chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu trưng

cầu ý kiến với các nhóm đối tượng:

- Các chủ nhiệm/cộng sự thực hiện đề tài/dự án khoa học ở tỉnh giai đoạn 2001-2006,

- Các cơ quan chủ trì, phối hợp thực hiện đề tài/dự án khoa học ở tỉnh giai đoạn 2001-2006,

- Các thành viên hội đồng tuyển chọn đề tài/dự án khoa học ở tỉnh giai đoạn 2001-2006

Phương pháp chọn mẫu trong điều tra bằng bảng hỏi:

- Số lượng đối tượng nghiên cứu 85/132 đề tài/dự án khoa học,

- Số lượng mẫu: tổng số 157 phiếu, bao gồm:

Trang 16

+ Đối tượng là chủ nhiệm/cộng sự: 85

+ Đối tượng thuộc đơn vị chủ trì, phối hợp thực hiện đề tài/dự án: 32

+ Đối tượng là thành viên hội đồng xét duyệt đề tài/dự án: 40

Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp:

- Sau khi số liệu đã thu thập bằng các phương pháp định lượng và định tính (số liệu định lượng được xử lý qua chương trình SPSS 11.5) chúng tôi tiếp tục phân tích các tài liệu đó

- Dùng phương pháp so sánh cùng hạng

- Dùng phương pháp so sánh khác nhóm với cùng một tiêu chí so sánh Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát (tham dự và không tham dự, trong bối cảnh tự nhiên) được vận dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu

9 Cấu trúc luận văn

Mở đầu

ở phần này, chúng tôi muốn trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu bao gồm: Lý do chọn đề tài; Lịch sử nghiên cứu; Mục tiêu nghiên cứu; Khách thể, phạm vi nghiên cứu; Mẫu khảo sát; Vấn đề nghiên cứu; Giả thuyết nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý luận

Bao gồm hệ thống các khái niệm, các quá trình và các mô hình liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của quá trình xác định nhiệm vụ khoa học và

Trang 17

Chương I

Cơ sở lý luận

1.1 một số khái niệm có liên quan

1.1.1 Hoạt động khoa học và công nghệ

Luật khoa học và công nghệ (2000) có định nghĩa, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ4

Hoạt động KH&CN gồm:

- Nghiên cứu và Triển khai (R&D)

- Chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ

1.1.2 Nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là một mảng quan trọng của hoạt động KH&CN, được định nghĩa: là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào

4 Mục 3, điều 2, Luật khoa học và công nghệ, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 07 thông qua ngày 09 tháng 06 năm

2000

Trang 18

thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng5

Có thể nói, nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá trong một thế giới hoàn toàn chưa được biết đến, và kết quả tìm kiếm ra sao cũng không thể dự kiến trước một cách chi tiết Chính vì vậy, mà trong nghiên cứu khoa học, mỗi người nghiên cứu cần đưa ra một hoặc một số nhận định sơ bộ về kết quả cuối cùng của nghiên cứu, gọi đó là giả thuyết nghiên cứu, hoặc giả thuyết khoa học Giả thuyết nghiên cứu, hoặc giả thuyết khoa học là một phán đoán về bản chất đối tượng nghiên cứu Theo phán đoán này, người nghiên cứu tiếp tục đi tìm kiếm các luận cứ để chứng minh Rất có thể kết quả nghiên cứu sẽ xác nhận giả thuyết khoa học đặt ra ban đầu là đúng Khi đó, người nghiên cứu khẳng định được một luận điểm khoa học của mình Nhưng rất có thể kết quả nghiên cứu sẽ phủ định hoàn toàn phán đoán ban đầu, tức giả thuyết khoa học; khi đó, người ta nói, giả thuyết khoa học bị bác bỏ Rốt cuộc, toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa học chẳng qua là quá trình tìm kiếm các luận cứ để chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết khoa học, tức luận điểm khoa học của tác giả

Đặc điểm của nghiên cứu khoa học:

Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự vật

mà khoa học chưa hề biết đến Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt các đặc điểm khác của nghiên cứu khoa học mà người nghiên cứu cũng như người quản lý nghiên cứu cần phải quan tâm khi xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu Những đặc điểm sau đây là những căn cứ quan trọng được sử dụng để xây dựng các chỉ tiêu đánh giá xét duyệt cũng như nghiệm thu các đề tài/dự án khoa học và công nghệ

- Tính mới: Vì nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập thế giới của những sự vật mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong

Trang 19

nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo

Vì vậy tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học

- Tính tin cậy: một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào

đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng

Đặc điểm này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận rất quan trọng của nghiên cứu khoa học Đó là khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, các nhân tố và phương tiện thực hiện Nguyên tắc này mang tính chung cho cả khoa học tự nhiên, khoa học

kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn

- Tính thông tin: Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng như một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm, giải pháp mới,… Tuy nhiên trong tất

cả các dạng thể hiện trên sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin Đó

là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ, tính năng của sản phẩm mới…

- Tính khách quan: Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học Trong xã hội khoa học người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị

- Tính rủi ro: khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới là một quá trình có thể gặp thất bại, đó là tính rủi ro của nghiên cứu khoa học Nguyên nhân dẫn đến rủi ro có nhiều dạng như do thiếu thông tin, trình độ, năng lực thiết bị, người nghiên cứu còn hạn chế… Tuy nhiên trong nghiên cứu khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả

- Tính kế thừa: mỗi nghiên cứu thường phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, thậm chí trong những lĩnh vực khoa học khác xa nhau Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu

Trang 20

- Tính cá nhân: dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân

- Tính trễ trong áp dụng: một kết quả nghiên cứu thường không thể áp dụng ngay vào sản xuất và đời sống được Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đặc điểm trên như điều kiện kinh tế, tâm lý xã hội, văn hoá… Độ trễ ở mỗi lĩnh vực nghiên cứu thường khác nhau

- Tính phi kinh tế: lao động nghiên cứu khoa học rất khó định mức một cách chính xác Những thiết bị chuyên dụng cho nghiên cứu khoa học hầu như không thể khấu hao (tần suất sử dụng không ổn định và hầu như rất thấp, tốc độ hao mòn vô hình luôn vượt trước rất xa so với tốc độ hao mòn hữu hình, hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác định)

Phân loại nghiên cứu khoa học

- Theo chức năng nghiên cứu có:

Nghiên cứu mô tả, là nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận dạng sự vật, giúp phân biệt được sự khác nhau về bản chất giữa sự vật này với sự vật khác

Nghiên cứu giải thích, là nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật

Nghiên cứu giải pháp: là nghiên cứu nhằm làm ra một sự vật mới chưa từng tồn tại

Nghiên cứu dự báo, là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật trong tương lai

- Theo các giai đoạn của nghiên cứu có:

Nghiên cứu cơ bản (basic research), là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác

Nghiên cứu ứng dụng (applied research), là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật; tạo ra những nguyên lý mới

về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống

Trang 21

Triển khai (experimental development), còn gọi là triển khai thực nghiệm,

là sự vận dụng các lý thuyết để đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi

Dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh tế

xã hội Dự án có những đòi hỏi khác đề tài như: đáp ứng một nhu cầu đã được nêu ra; chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguồn nhân lực6Nói một cách bao quát hơn, từ “dự án” theo đại bách khoa toàn thư điện tử Wikipedia, được định nghĩa là “Điều người ta có ý định làm từ trước” hay “cái

mà xảy đến trước khi điều gì khác được thực hiện” Ta có thể nhận thấy hai yếu

tố nổi bật gắn liền với thuật ngữ dự án là: tính ý tưởng, ý đồ, ý muốn và tính hành động, sự nỗ lực đưa những ý tưởng, ý muốn vào thực tế7

Một dự án là một chuỗi những hành động nhằm thực hiện được những mục tiêu rõ ràng đã được xác định trước trong một khoảng thời gian xác định và với một nguồn ngân sách xác định

Một dự án phải có:

+ Các bên liên quan được xác định rõ ràng, bao gồm các nhóm mục tiêu cơ bản và những lợi ích tài chính,

+ Có sự điều phối, quản lý và sắp xếp tài chính rõ ràng,

+ Một hệ thống đánh giá và kiểm tra (để hỗ trợ việc quản lý), và

+ Một cấp độ phân tích kinh tế và tài chính thích hợp, để từ đó xác định được lợi nhuận thu được sẽ vượt quá chi phí ban đầu

Trang 22

Trong nghiên cứu khoa học và áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, trên cơ sở nội hàm chung của khái niệm đề tài/dự án, chúng ta cũng phải nhận định rằng: Đề tài/dự án khoa học hướng kết quả của nó vào việc nghiên cứu, triển khai và áp dụng Đề tài khoa học hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, còn dự án thiên về cách hiểu là sự hiện thực hoá trong hoạt động thực tế

Xét về cấu trúc logic, một công trình khoa học có thể xem xét theo các

bộ phận cấu thành như sau:

+ Sự kiện khoa học: là một sự kiện được quan tâm về mặt khoa học, được xem xét trong khoa học, là cơ sở cho việc lựa chọn một chủ đề nghiên cứu Việc xem xét một sự kiện có thực sự mang tính khoa học, thực sự mang một giá trị khoa học hay không là yếu tố rất quan trọng quyết định chất lượng của nghiên cứu Chuẩn mực đánh giá là ở chỗ sự kiện khoa học đó tồn tại khách quan, không bịa đặt chủ quan

+ Vấn đề khoa học: là câu hỏi đặt ra liên quan đến sự kiện khoa học, là yếu

tố quyết định ý nghĩa của toàn bộ công trình nghiên cứu, là cơ sở để đặt ra các giả thuyết khoa học Chuẩn mực đánh giá là ở chỗ đó thực sự là vấn đề khoa học cần phải giải quyết

+ Luận điểm khoa học: là kết quả chứng minh giả thuyết khoa học, là câu trả lời của vấn đề khoa học Luận điểm khoa học là yếu tố cốt lõi nhất đặc trưng cho giá trị tri thức của một công trình nghiên cứu, là phần đóng góp trí tuệ quyết định nhất của người nghiên cứu vào một vị trí riêng biệt trong khoa học Chuẩn mực đánh giá là tính mới về mặt khoa học

+ Luận cứ khoa học: là bằng chứng được đưa ra để chứng minh luận điểm khoa học Gồm có hai loại luận cứ đó là luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn Chuẩn mực đánh giá là khách quan, đúng đắn, có cơ sở, không bịa đặt, nhào nặn

+ Phương pháp nghiên cứu: là cách thức thu thập và tổ chức luận cứ để chứng minh luận điểm khoa học Chuẩn mực là các phương pháp được sử dụng

là đúng đắn, bảo đảm đưa ra được những luận cứ tin cậy

Trên cơ sở cấu trúc logic và các chuẩn mực có thể xây dựng các chỉ báo

đánh giá theo phương pháp Có hoặc Không, hoặc theo thang điểm

Trang 23

Hai khái niệm đề tài/dự án cũng được giải thích rõ trong Điều 1 “Quy định tạm thời về việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh”, ban hành theo Quyết định số 494/QĐ-CT ngày 15 tháng 4 năm 2003 của

Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang như sau:

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh là những vấn đề khoa học và

công nghệ cần được giải quyết đáp ứng các nhu cầu đòi hỏi phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nhiệm vụ đó được thể hiện dưới hình thức các đề tài/dự án khoa học và công nghệ

Đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh có nội dung chủ yếu nghiên cứu

ứng dụng một chủ đề khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống của tỉnh

Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc một dự án khoa học công nghệ, một dự án phát triển kinh tế xã hội khác

Dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh có nội dung chủ yếu tiến hành các

hoạt động ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống, áp dụng, thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh tế xã hội của tỉnh

Một đề tài/dự án khoa học nói chung phải đặc trưng ở những đặc điểm sau:

Cũng theo Quyết định số 494/QĐ-CT thì yêu cầu đối với việc xác định một

đề tài/dự án khoa học cấp tỉnh:

Trang 24

+ Việc xác định đề tài/dự án phải xuất phát từ yêu cầu giải quyết những vấn

đề cấp thiết trong các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội của tỉnh,

+ Kết quả của đề tài/dự án phải có khả năng ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống, có tác động và ảnh hưởng lớn đến phát triển KH&CN và kinh

tế xã hội của tỉnh

1.1.4 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học

Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động KH&CN của các địa phương nói chung và của tỉnh Bắc Giang nói riêng Việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức thông qua việc thực hiện và nhân rộng các kết quả của

đề tài/dự án khoa học vào thực tế đó chính là cầu nối giữa những người nghiên cứu khoa học và công nghệ với thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội

ở các tỉnh, nhiệm vụ quản lý KH&CN được giao cho Sở KH&CN tỉnh “Sở KH&CN là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban Nhân dân tỉnh, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội; tiêu

chuẩn đo lường chất lượng sản phẩm, hàng hoá; sở hữu trí tuệ (không bao gồm

quyền tác giả về văn học, nghệ thuật); an toàn và kiểm soát bức xạ hạt nhân trên

địa bàn tỉnh; quản lý các hoạt động dịch vụ công của các đơn vị sự nghiệp thuộc

Sở theo quy định của pháp luật Sở Khoa học và Công nghệ chịu sự quản lý về

tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Khoa học và Công nghệ”8

+ Tổ chức tuyển chọn và phê duyệt các cá nhân, tổ chức chủ trì thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Theo dõi, kiểm tra thực hiện, tổ chức đánh giá nghiệm thu và công bố kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;

8 Quyết định 105/2004/QĐ-UB ngày 23 tháng 8 năm 2004 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ

Trang 25

+ Hướng dẫn các sở, ban, ngành, các tổ chức KH&CN của địa phương về hoạt động KH&CN Xây dựng, đề xuất các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, cấp nhà nước có tính liên ngành, liên vùng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và tổng hợp trình cơ quan có thẩm quyền xem xét

+ Quản lý các hoạt động đánh giá, thẩm định, giám định tư vấn và chuyển giao công nghệ trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật; thẩm định; giám định công nghệ đối với các dự án đầu tư trong tỉnh theo phân cấp; theo dõi, tổng hợp, hướng dẫn và tổ chức việc đánh giá trình độ công nghệ của các tổ chức kinh tế trong tỉnh;

+ Cấp giấy chứng nhận đăng ký và kiểm tra hoạt động KH&CN cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển, tổ chức dịch vụ KH&CN thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật;

+ Trình UBND tỉnh ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước ứng dụng rộng rãi các thành tựu KH&CN tại địa phương và quyết định hỗ trợ cho các tổ chức kinh tế, cá nhân trong việc ứng dụng công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất và đời sống;

+ Phối hợp với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư xây dựng và trình UBND tỉnh dự toán ngân sách hàng năm cho lĩnh vực KH&CN của địa phương theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của các cơ quan chức năng; quyết định thành lập và ban hành quy định hoạt động của Quỹ phát triển KH&CN của tỉnh theo quy định của pháp luật;

+ Phối hợp với các sở, ban, ngành của tỉnh xây dựng và trình UBND phê duyệt chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển, chính sách, cơ chế quản lý

và sử dụng hiệu quả tiềm lực KH&CN của tỉnh, bao gồm: khuyến khích, thu hút nguồn nhân lực; đào tạo bỗi dưỡng hàng năm cho cán bộ KH&CN; xây dựng, tổ chức hoạt động của các phòng thí nghiệm theo chức năng của Sở; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và xây dựng thông tin tư liệu cho hoạt động KH&CN;

Trang 26

+ Thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực Hội đồng Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh; trình Chủ tịch UBND tỉnh thành lập các hội đồng tư vấn theo quy định của Luật khoa học và công nghệ;

+ Hướng dẫn việc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn quốc tế và các tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng yêu cầu quản lý của Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn cơ sở Tổ chức và quản lý mạng lưới kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo lường đáp ứng yêu cầu của tỉnh Thực hiện việc kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo lường trong các lĩnh vực và phạm vi được công nhận;

+ Tổ chức thực hiện các biện pháp phát triển hoạt động sở hữu trí tuệ, thúc đẩy phong trào lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất Theo dõi, tổng hợp và tuyên truyền phổ biến các tiến bộ kỹ thuật, các sáng kiến của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn tỉnh;

+ Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về sở hữu công nghiệp, chủ trì giải quyết các tranh chấp về sở hữu công nghiệp và tranh chấp thương mại liên quan đến sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật;

+ Tổ chức thẩm định an toàn và kiểm soát bức xạ hạt nhân và cấp giấy phép sử dụng thiết bị phát tia X dùng trong y tế theo quy định của pháp luật;

Một số văn bản quy định quá trình tổ chức xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp tỉnh giai đoạn 2001-2006:

+ Quyết định số 491/QĐ-CT ngày 15 tháng 4 năm 2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc ban hành Quy định tạm thời về phương thức làm việc của Hội đồng xác định nhiệm vụ, Hội đồng xét duyệt đề cương chi tiết, Hội đồng đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện các đề tài, dự án KH&CN cấp tỉnh + Quyết định số 492/QĐ-CT ngày 15 tháng 4 năm 2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc ban hành Quy định tạm thời về tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Trang 27

+ Quyết định số 493/QĐ-CT ngày 15 tháng 4 năm 2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc ban hành Quy định tạm thời về phương thức làm việc của Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện đề tài,

dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh

+ Quyết định số 494/QĐ-CT ngày 15 tháng 4 năm 2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc ban hành Quy định tạm thời về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

+ Quyết định số 16/QĐ-KHCN ngày 12 tháng 4 năm 2004 của Giám đốc

Sở Khoa học và Công nghệ về việc ban hành mẫu các văn bản về quản lý các hoạt động nghiên cứu- ứng dụng khoa học và công nghệ cấp tỉnh

1.1.5 Một số chủ trương, định hướng của tỉnh về hoạt động KH&CN

- Tại Đại hội Đại biểu đảng bộ tỉnh lần thứ XV (tháng 8 năm 2000) đã đưa

ra 6 chương trình mục tiêu và các nhiệm vụ và giải pháp phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh giai đoạn 2001-2005 như sau:

“+ Chương trình phát triển Nông nghiệp theo hướng hàng hóa,

+ Chương trình phát triển công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp,

+ Chương trình phát triển cơ sở hạ tầng,

+ Chương trình nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo,

+ Chương trình phát triển kinh tế xã hội miền núi gắn với xóa đói, giảm nghèo, và

+ Chương trình cải cách hành chính, xây dựng và nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước từ tỉnh đến cơ sở”

Các nhiệm vụ và giải pháp phát triển KH&CN:

“Đẩy mạnh các hoạt động khoa học và công nghệ

Hướng chủ yếu là ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và công tác quản lý Đưa nhanh các tiến bộ khoa học

kỹ thuật, các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất

Trang 28

Khuyến khích cá cơ sở kinh tế đổi mới công nghệ, thiết bị tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tạo sức cạnh tranh trên thị trường, chủ động trong quá trình hội nhập Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách đầu tư cho sự nghiệp khoa học, nghiên cứu khoa học Quan tâm đúng mức đến khoa học xã hội và nhân văn, khoa học quản lý”

- Trong định hướng ưu tiên phát triển KH&CN của Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Giang đến năm 2010 cũng nêu rõ:

“- Định hướng nghiên cứu ưu tiên

Nghiên cứu- ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn

Chú ý lựa chọn công nghệ thích hợp phục vụ cho công nghiệp chế biến

và phát triển công nghiệp nông thôn, làng nghề

Nghiên cứu- ứng dụng KH&CN bảo vệ môi truờng sinh thái

Nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Nghiên cứu ứng dụng KH&CN cho một số lĩnh vực khác như: phát triển cơ

sở hạ tầng và trong y tế, giáo dục

- Định hướng công nghệ ưu tiên gồm: công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ gia công may mặc, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu xây dựng truyền thống và mới, công nghệ năng lượng mới”

Ngoài ra, trên cơ sở định hướng chiến lược phát triển 5 năm, hàng năm HĐND và UBND tỉnh đều xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

có căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương

1.2 mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống

1.2.1 Công tác nhận diện mối quan hệ

Sau khi thiết lập các nội dung của đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tài liệu, phát phiếu trưng cầu ý kiến và tiến hành phỏng vấn một số đối tượng có liên quan, từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống của tỉnh trong giai đoạn 2001-2006 với một số nội dung cơ bản sau:

Trang 29

- Cơ quan quản lý nhà nước đã có định hướng nghiên cứu hàng năm để phục vụ phát triển kinh tế xã hội địa phương hay chưa?

- Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ xuất phát từ những lý do gì?

- Các chủ nhiệm đề tài, dự án có khả năng, năng lực thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu hay không?

- Các thành viên Hội đồng xác định nhiệm vụ nghiên cứu, Hội đồng xét duyệt thuyết minh đề tài, dự án có đảm bảo thành phần, chất lượng chuyên gia cũng như tinh thần trách nhiệm đối với hoạt động nghiên cứu khoa học

- Sự điều chỉnh những văn bản quản lý các nhiệm vụ nghiên cứu có ảnh hưởng đến chất lượng các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học…

- Nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu thực tế có những tác động gì đến việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu hàng năm?

Từ những nội dung trên, nhận thấy việc nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống cần phải nhìn nhận theo quan điểm hệ thống Quá trình này được thể hiện trên hình 01:

Đầu vào của đề tài Tổ chức lựa chọn Đầu ra của đề tài

đề tài, dự án KH&CN

Cơ quan quản lý

KH&CN Hội đồng KH&CN

Các yếu tố tác động đến hoạt động nghiên cứu KH

Hình 01: Mô hình xác định nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN

tỉnh Bắc Giang

Trang 30

Khi đã nhận diện được mối quan hệ thì chúng phải được đánh giá về những mặt tích cực, mặt tiêu cực và những mối quan hệ và khả năng xuất hiện của chúng trên những lĩnh vực nghiên cứu

Có nhiều khó khăn trong quá trình nhận diện mối quan hệ, nhưng tựu chung lại thì thể hiện trên một số mặt chính sau:

+ Thông tin trong phiếu trưng cầu chưa có độ trung thực: nhiều đối tượng được trưng cầu không phản ánh được độ trung thực của thông tin cung cấp bởi một số lý do: do có mối quan hệ thân thiết với cơ quan quản lý các nhiệm vụ nghiên cứu; họ đang và sẽ đăng ký những nhiệm vụ nghiên cứu khoa học mới hoặc có những người không muốn những điều phiền toái đến với mình (mặc dù phiếu trưng cầu ý kiến đảm bảo tính khuyết danh)

+ Khó khăn trong việc trưng cầu ý kiến: bởi các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thực hiện trong nhiều năm trước cho nên các chủ nhiệm đề tài, dự án; thủ trưởng cơ quan chủ trì qua nhiều năm công tác đã có sự biến động, nhiều người chuyển công tác đi đơn vị khác trong cũng như ngoài tỉnh, nhiều người đã nghỉ chế độ Đặc biệt là thời gian qua ở địa phương có sự sáp nhập, giải thể một số cơ quan, ban, ngành (như lĩnh vực Công nghiệp, Văn hóa, Thể thao…)

+ Có những người có trách nhiệm, tâm huyết với công tác nghiên cứu khoa học thì không được trưng cầu ý kiến

+ Trách nhiệm đối với công tác nghiên cứu khoa học chưa cao của một số nhà khoa học chủ trì các đề tài/dự án cũng như chuyên gia trong các hội đồng xác định nhiệm vụ nghiên cứu, do vậy thông tin họ cung cấp sẽ có độ tin cậy không cao

1.2.3 Một số đặc điểm của nghiên cứu khoa học hay gặp phải

- Tính mới

Nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập thế giới của những sự vật mà con người chưa biết Vì vậy mà quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới, cho kết quả không chắc chắn

Trang 31

100%, thường có những yếu tố bất ngờ, nhiều khi cho ra kết quả không như mong muốn và kết quả ấy nhiều khi cũng là một sản phẩm hữu ích

Đây là một khía cạnh quan trọng trong việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong tuyển chọn hoặc “đấu thầu” đề tài nghiên cứu khoa học

- Tính trễ trong áp dụng

“Một kết quả nghiên cứu thường không được áp dụng ngay, mà phải qua một thời gian nhất định Thời gian giãn cách từ khi kết quả nghiên cứu thành

công đến khi áp dụng được gọi là độ trễ” - Vũ Cao Đàm, Đánh giá nghiên cứu

khoa học, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2005

Nhưng đối với những kết quả nghiên cứu của các đề tài/dự án cấp tỉnh vốn xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn đặt

ra, nên vấn đề nghiên cứu được thiết lập những nơi sẽ áp dụng ngay từ đầu, từ khâu đề xuất nhiệm vụ và khâu tuyển chọn, do vậy không thể đầu tư vào nghiên cứu những vấn đề mà kết quả nghiên cứu của nó sau 2-3 năm mới đưa vào áp dụng

- Rủi ro trong nghiên cứu khoa học

Tính mới của nghiên cứu khoa học đồng thời cũng quy định một thuộc tính quan trọng khác của nghiên cứu khoa học, đó là tính rủi ro Một nghiên cứu cũng có thể thành công, có thể thất bại Sự thất bại có thể có nhiều nguyên nhân: + Thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý những vấn đề được đặt ra trong nghiên cứu

+ Trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm không đủ đáp ứng nhu cầu kiểm chứng giả thiết

+ Hạn chế trong việc lựa chọn nhiệm vụ đưa vào nghiên cứu

+ Sự hạn chế về năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu

+ Giả thiết khoa học đặt sai

Trang 32

+ Những tác nhân bất khả kháng…

Ngay cả khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn chịu những rủi ro trong áp dụng (có thể do kỹ thuật chưa được làm chủ, khi triển khai áp dụng trong phạm vi mở rộng không thành công; hoặc khi thử nghiệm thành công vẫn không thể đi đến quyết định áp dụng vì một nguyên nhân xã hội nào đó)

Tuy nhiên, trong khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả Kết

quả này cũng phải được tổng kết, lưu giữ lại, tránh cho các đồng nghiệp đi sau tránh được, khỏi phải lãng phí các nguồn lực cho công tác nghiên cứu

1.3 Một số mô hình có liên quan

1.3.1 Mô hình công nghệ đẩy (theo đề cương chuyên đề Chính sách khoa

học và công nghệ quốc gia, TS Đặng Duy Thịnh, 1998)

Động lực tiến hành cơ bản xuất phát từ các công nghệ sẵn có hoặc sự kết hợp giữa các công nghệ mới Việc thực hiện ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học

và công nghệ vào sản xuất và đời sống dựa trên ý nghĩ chủ quan, không tìm hiểu văn hoá, thói quen, nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng… do đó dễ dẫn đến rủi ro, độ trễ của áp dụng lớn Mô hình thể hiện qua các giai đoạn sau:

1.3.2 Mô hình thị trường kéo (theo đề cương chuyên đề Chính sách khoa

học và công nghệ quốc gia, TS Đặng Duy Thịnh, 1998)

Động lực tiến hành cơ bản xuất phát từ những nhu cầu đòi hỏi của thị trường đã biết rõ hoặc nhu cầu thị trường đã được thiết lập, việc áp dụng kết quả

Nghiên cứu cơ bản

Trang 33

33

nghiên cứu KH&CN được ứng dụng rộng rãi, sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận Tuy nhiên cũng có thể xảy ra rủi ro trong việc khó nhận biết được đối thủ cạnh tranh Thể hiện qua các bước:

Như chúng ta đã biết và đã được khẳng định, KH&CN là một công cụ, có tác động trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội Do đó hoạt động nghiên cứu KH&CN luôn phải đi liền với thực tiễn sản xuất, giải quyết các yêu cầu của thực tiễn

1.3.3 Hoạt động nghiên cứu KH&CN tỉnh Bắc Giang

Yêu cầu kinh tế – xã

hội

Sử dụng công nghệ

Triển khai công nghệ

Nghiên cứu ứng dụng

Nghiên cứu cơ bản

Cá nhân, đơn vị đề xuất nhiệm

vụ KH&CN

Hội đồng xác định nhiệm vụ

KH&CN

Chủ tịch Hội đồng KHCN tỉnh phê duyệt danh mục các nhiệm

vụ KH&CN

HĐKH xét duyệt thuyết minh

ĐT,DA Chủ tịch UBND tỉnh ra Quyết

định thực hiện ĐT,DA

Sở KH&CN ký hợp đồng triển

khai ĐT,DA Đánh giá, nghiệm thu kết quả

ĐT,DA Quyết định công nhận, công bố

Trang 34

Hình 02: Hoạt động nghiên cứu KH&CN tỉnh Bắc Giang

Mô hình này thể hiện tại Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang

về việc ban hành “Quy định tạm thời về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh”, số 494/QĐ-CT, ngày 15 tháng 4 năm 2003 (Phụ lục 2.5) Nhìn vào mô hình này ta có thể nhận thấy, hoạt động nghiên cứu-ứng dụng KH&CN của tỉnh thời gian qua được vận hành theo mô hình công nghệ đẩy, nên các nhiệm vụ KH&CN đều được thực hiện dựa trên ý nghĩ chủ quan, không tính đến nhu cầu của thị trường, điều kiện kinh tế, xã hội… của địa phương

1.3.4 Hoạt động nghiên cứu KH&CN của một số tỉnh

Không riêng tỉnh Bắc Giang, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả có tham khảo kinh nghiệm của một số tỉnh bạn (như Thái Nguyên, Vĩnh Phúc) cũng nhận thấy hoạt động nghiên cứu KH&CN của các tỉnh này cũng cơ bản vận hành theo mô hình công nghệ đẩy, thể hiện qua mô hình sau:

Hình 03: Hoạt động nghiên cứu KH&CN tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc

* Kết luận Chương I:

Cá nhân, đơn vị đề xuất nhiệm

vụ KH&CN UBND tỉnh phê duyệt danh mục

HĐKH xét duyệt thuyết minh

Trang 35

Trên đây chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận của nghiên cứu khoa học, gồm khái niệm: đề tài/dự án, đề tài/dự án khoa học, nghiên cứu khoa học, chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý về KH&CN cấp tỉnh, Quy trình quản lý hoạt động KH&CN của Bắc Giang và một số tỉnh, mô hình công nghệ đẩy, mô hình thị trường kéo, … Những khái niệm này liên quan đến những nội dung sau:

- Mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống cần phải nhìn nhận theo quan điểm hệ thống, không thể có được một sản phẩm đầu ra tốt nếu như đầu vào và các yếu tố tác động từ môi trường ngoài không tốt, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ bản thân nó đã mang tính rủi

ro

- Hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và của các địa phương nói riêng tuy đã được hướng dẫn thống nhất từ Bộ Khoa học và Công nghệ, nhưng qua tham khảo kinh nghiệm của một số tỉnh thì việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN của các tỉnh đều có những đặc thù riêng nhất định Qua trên chúng ta có thể thấy mô hình “công nghệ đẩy” đã thể hiện kém hiệu quả trong thời đại ngày nay, do đó hoạt động khoa học và công nghệ cần phải hướng theo “thị trường kéo”

- Quá trình hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ phải bám sát vào nhu cầu thực tiễn sản xuất và đời sống, phù hợp với nhu cầu thực tiễn phát triển kinh

tế xã hội của địa phương, quan trọng nhất là xác định đầu vào (tức là khâu xác định nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN phải gắn với thực tiễn sản xuất và đời sống)

Trang 36

- Điều kiện tự nhiên

Bắc Giang là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam với diện tích đất tự nhiên 382.200 ha, trong đó đất nông nghiệp 123.733 ha, đất lâm nghiệp 110.000 ha, đất đô thị 66.500 ha, còn lại là các loại đất khác Dân số trên 1,6 triệu người gồm 26 dân tộc cùng sinh sống Bắc Giang nằm trên trục giao thông chính nối liền với nhiều vùng kinh tế trọng điểm Phía Bắc và phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn; phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Hải Dương, tỉnh Bắc Ninh và thủ đô Hà Nội; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh; có 1 thành phố và 9 huyện

Bắc Giang có địa hình đa dạng, nhiều đồi núi thấp và hình thành hai khu vực vùng núi phía Đông và phía Tây Bắc, có nhiều sông ngòi chảy qua như Sông Lục Nam, Sông Thương, Sông Cầu; có hệ thống suối, hồ trữ nước như hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần, suối Mỡ, cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp

Khí hậu Bắc Giang có tính chất đặc thù: phân hoá rõ rệt theo mùa, có biến động thất thường từ năm này qua năm khác Tài nguyên khoáng sản gồm: barit, sắt, fenspat, than, sét, cát, cuội, sỏi, đồng, Tuy nhiên trữ lượng các loại khoáng sản thấp

Hệ thống giao thông thuận tiện, mạng lưới đường bộ phát triển, có Quốc lộ 1A mới và 1A cũ chạy qua, hệ thống đường liên huyện, liên xã mới được đầu tư nâng cấp Giao thông đường thuỷ có tuyến Sông Cầu, Sông Thương, Sông Lục Nam

Trang 37

Bắc Giang có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nhiều tiềm năng phát triển du lịch: hồ Khuôn Thần, hồ Cấm Sơn, Suối Mỡ, khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ,

- Đặc điểm kinh tế xã hội

Bắc Giang là một tỉnh nông nghiệp với khoảng 90,60% dân số sống ở nông thôn và làm nông nghiệp Hiện nay và trong những năm tới nông nghiệp vẫn là mặt trận quan trọng của tỉnh Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2007 đạt 6.093 tỷ đồng (chiếm 35,6% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh)

Hiện tại, Bắc Giang có 4 khu công nghiệp là Đình Trám, Quang Châu, Song Khê-Nội Hoàng và khu công nghiệp Vân Trung với diện tích hơn 1000 ha, bên cạnh đó còn có một số cụm công nghiệp ở xung quanh thành phố Bắc Giang cũng như một số huyện của tỉnh

Bắc Giang là tỉnh có nhiều làng nghề thủ công truyền thống (33 làng nghề) như rượu Làng Vân, bánh đa nem Thổ Hà, bánh đa Kế, mỳ gạo Chũ, bún Đa Mai, mây tre đan Tăng Tiến, sản phẩm được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Kinh tế Bắc Giang nhìn chung là chậm phát triển, giai đoạn 2001-2006, tốc

độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của tỉnh là 8,4% GDP bình quân đầu người năm 2006 đạt 410 USD Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm dần, từ 48,74 năm 2001 xuống còn 35,60 năm 2007; công nghiệp- xây dựng tăng từ 15,16% năm 2001 lên 29,65% năm 2007 Thu ngân sách Nhà nước năm 2007 đạt 700 tỷ đồng Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 110 triệu USD Bắc Giang là một trong 10 tỉnh dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục Trung bình mỗi năm cả tỉnh tạo việc làm mới cho 1,8 vạn người Công tác quốc phòng, an ninh được giữ vững

Bắc Giang có truyền thống văn hoá lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc, đã sản sinh ra nhiều danh nhân lịch sử văn hoá qua các đời như: Thân Nhân Trung, Giáp Hải, Hoàng Hoa Thám, Thân Cảnh Phúc, ngày nay cũng có nhiều nhà khoa học, tiến sĩ đang công tác tại các cơ quan ở Trung ương và địa phương Người dân Bắc Giang có nhiều truyền thống tốt đẹp, cần cù, chịu khó, nhanh nhạy tiếp thu các TBKH Tỉnh uỷ, HĐND, UBND rất quan tâm tới hoạt

Trang 38

động KH&CN, coi KH&CN là động lực quan trọng trong công cuộc HĐH

CNH Những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đối với hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN

+ Thuận lợi:

Nhu cầu cho hoạt động nghiên cứu-ứng dụng phục vụ cho việc khai thác triệt để và phát huy thế mạnh, tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp vùng đồi gò, vùng đất trũng, phát triển một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, phát triển công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển ngành nghề thủ công truyền thống… là rất lớn

Bắc Giang có vị trí thuận lợi, cách thủ đô Hà Nội 50km, tiếp giáp khu tam giác phát triển kinh tế phía Bắc: Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh Đây vừa là thị trường, vừa là nhân tố tác động tích cực đến chuyển đổi cơ cấu kinh tế, là điều kiện thuận lợi để Bắc Giang tiếp thu nhanh thông tin, tiến bộ kỹ thuật để ứng dụng nhanh vào sản xuất và đời sống

Có một số cơ quan nghiên cứu-ứng dụng của Trung ương đóng tại địa phương Đây là những điểm sáng để đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất + Khó khăn:

Chất lượng tăng trưởng chưa cao, cơ cấu kinh tế lạc hậu, nguồn th u hạn hẹp

Năng lực sản xuất, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội chưa đáp ứng nhu cầu của quá trình nghiên cứu-ứng dụng KH&CN

Vùng nguyên liệu tập trung chưa hình thành, nghề thủ công truyền thống nhiều những chưa phát triển mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hoá Những sản phẩm đạt chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế còn ít

Là tỉnh gần thủ đô và một số trung tâm kinh tế lớn nên bị ảnh hưởng nhiều bởi xu hướng dịch chuyển nhân lực KH&CN, nhất là nhân lực có trình độ cao của tỉnh

Trang 39

2.1.2 Hệ thống tổ chức quản lý và hệ thống cơ quan nghiên cứu- triển khai (R&D) của tỉnh

- Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về KH&CN

Trước năm 1997, hệ thống quản lý nhà nước về KH&CN của tỉnh Bắc Giang tập trung tại Sở KHCN&MT, chức năng quản lý nhà nước và dịch vụ KH&CN ở cấp huyện, thành phố có Trung tâm KHCN&MT huyện Hiệp Hoà

và Tân Yên Từ khi tái lập tỉnh Bắc Giang (năm 1997) mới triển khai chức năng quản lý nhà nước về KH&CN tới huyện, thành phố Cán bộ theo dõi hoạt động KH&CN cấp huyện, thành phố chủ yếu hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, hiện nay đã có 01 cán bộ chuyên trách tại 10/10 huyện, thành phố của tỉnh

Hội đồng KH&CN ở các ngành, huyện, thành phố đã được củng cố, kiện toàn và hoạt động có hiệu quả, phát huy được chức năng tham mưu, tư vấn trong hoạt động KH&CN cho cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương

Sở KH&CN có bộ máy và biên chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu công tác của địa phương Sở có 02 phòng chuyên môn, có bộ phận Thanh tra và Văn phòng Sở Ngoài ra còn có các đơn vị trực thuộc là Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN và Trung tâm ứng dụng Tiến bộ KH&CN Hầu hết các cán bộ được đào tạo cơ bản, phần lớn có trình độ từ đại học trở lên, hiện tại Sở có 6 cán bộ có trình độ thạc

sĩ Tuy nhiên, cán bộ có năng lực quản lý giỏi chưa nhiều, cán bộ có trình độ tin học, ngoại ngữ ở mức cao còn ít

Phòng Quản lý Khoa học là bộ phận trực tiếp thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động nghiên cứu triển khai Hiện tại phòng có 05 cán bộ, trong

đó có 01 thạc sĩ và 04 cán bộ đã tốt nghiệp đại học, đa số đều là cán bộ trẻ, có năng lực

Cả 10/10 huyện, thành phố của tỉnh đã thành lập Hội đồng KH&CN Tuy nhiên, hệ thống quản lý nhà nước về hoạt động nghiên cứu-ứng dụng chưa được quan tâm đúng mức; nhiệm vụ này thường do một phòng chuyên môn như: Nông nghiệp hoặc Kinh tế đảm trách, nhưng cán bộ theo dõi hoạt động này chỉ

Trang 40

mang tính kiêm nhiệm ở tỉnh, một số sở, ngành quan tâm tới hoạt động R&D đã

tổ chức Hội đồng KH&CN của ngành như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Y tế, Sở Công thương, Sở Giáo dục đào tạo, Sở Văn hoá Thể thao và

Du lịch,… song hoạt động còn chưa liên tục và hiệu quả chưa cao

- Hệ thống các cơ quan R&D

Hiện nay, tại Bắc Giang tồn tại hai loại hình cơ quan R&D chủ yếu đó

là các cơ quan do trung ương quản lý và các cơ quan thuộc các Sở, ngành ở địa phương, cụ thể:

+ Trung ương quản lý: Trạm nghiên cứu đất và phân Hà Bắc (thuộc Viện Nông hoá Thổ nhưỡng); Trạm Nghiên cứu Thuốc lá Bảo Sơn (thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế kỹ thuật thuốc lá); Trạm Nghiên cứu Đậu đỗ Hà Bắc (thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam)

+ Địa phương quản lý: Trung tâm Khuyến nông khuyến lâm tỉnh; Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN; Trung tâm KHCN&MT các huyện Tân Yên, Hiệp Hoà, Việt Yên; Trung tâm ngoại ngữ tin học; Trung tâm Tin học Văn phòng UBND tỉnh; Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN; Công ty cổ phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp; Công ty cổ phần Giống cây trồng; Công ty cổ phần Giống và thức ăn chăn nuôi; Trung tâm y tế dự phòng; Trung tâm Kiểm nghiệm dược phẩm và mỹ phẩm; Trung tâm phòng chống sốt rét-bướu cổ; các bệnh viện; Trung tâm y tế các huyện, thành phố; các nông, lâm trường, trạm, trại; các trường cao đẳng, trung cấp, dạy nghề trên địa bàn tỉnh

Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật tỉnh được ra đời từ năm 2000, hiện có 14 hội thành viên và một Trung tâm Tư vấn phát triển KHCN và môi trường Nội dung và phương thức hoạt động ngày càng có nề nếp, đã tập hợp được một bộ phận quan trọng đội ngũ trí thức trong tỉnh, thể hiện vai trò nòng cốt phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức trong việc ứng dụng các tiến bộ KH&CN, phát huy vai trò giám định, phản biện xã hội

So với nhiều địa phương khác trong cả nước, Bắc Giang còn thiếu những cơ quan nghiên cứu-ứng dụng phục vụ các ngành và công nghệ mũi

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phan Xuân Dũng và Hồ Thị Mỹ Duệ, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
[2] Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2005 (xuất bản lần thứ 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
[3] Vũ Cao Đàm, Đánh giá nghiên cứu khoa học, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
[4] Đặng Hữu, Khoa học và Công nghệ với sự phát triển kinh tế xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và Công nghệ với sự phát triển kinh tế xã hội
Nhà XB: Nxb Sự thật
[5] Đặng Duy Thịnh, Chuyên đề Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia , Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia
[6] Các Giải pháp đẩy mạnh hoạt động KH&CN của các trường đại học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế các địa phương- Bộ Giáo dục và đào tạo, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Giải pháp đẩy mạnh hoạt động KH&CN của các trường đại học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế các địa phương
[7] Luật Khoa học và Công nghệ, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp lần thứ 7, khóa X, ngày 09/06/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và Công nghệ
[8] Những nhân tố mới về hoạt động khoa học và công nghệ- Ban Khoa giáo trung ương, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân tố mới về hoạt động khoa học và công nghệ-
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
[9] Định hướng chiến lược tiến tới phát triển bền vững ở Việt Nam- Kỷ yếu các Hội thảo tại địa phương, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược tiến tới phát triển bền vững ở Việt Nam
[10] Khoa học và công nghệ thế giới những năm đầu thế kỷ XXI, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ thế giới những năm đầu thế kỷ XXI
[11] Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2001-Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2001
[12] Quản lý Nhà nước về Khoa học, Công nghệ và Môi trường- Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về Khoa học, Công nghệ và Môi trường-
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
[34] Kế hoạch số 27-KH/TU ngày 23/10/2002 của Tỉnh ủy Bắc Giang về thực hiện Kết luận số 14-KL/TW, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương (khóa IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2005 và đến năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 27-KH/TU
Nhà XB: Tỉnh ủy Bắc Giang
Năm: 2002
[13] Chỉ thị số 63/CT-TW ngày 28/02/2001 của Bộ Chính trị khóa VIII về đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng KH&CN phục vụ công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Khác
[14] Công văn số 3185/BKHCN-KHTC ngày 24/11/2006 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc hướng dẫn tổ chức xây dựng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp thực hiện trong kế hoạch năm 2008 Khác
[15] Nghị định số 81/2002/NĐ-CP, Quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật khoa học và công nghệ, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 17/10/2002 Khác
[16] Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành trung ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 Khác
[17] Quyết định số 24/2006/QĐ-BKHCN ngày 30/11/2006 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006-2010 Khác
[18] Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN ngày 7/5/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc quy định xét chọn, tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp nhà nước Khác
[20] Quyết định số 16/2003/QĐ-BKHCN ngày 18/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành Quy định về việc tuyển chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện đề tài khoa học và công nghệ và dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 01: Mô hình xác định nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
Hình 01 Mô hình xác định nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN (Trang 29)
Hình 02: Hoạt động nghiên cứu KH&CN tỉnh Bắc Giang - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
Hình 02 Hoạt động nghiên cứu KH&CN tỉnh Bắc Giang (Trang 34)
Bảng 02: Mức độ ứng dụng của ĐTDA sau khi kết thúc - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
Bảng 02 Mức độ ứng dụng của ĐTDA sau khi kết thúc (Trang 54)
Bảng 04: Trình độ học vấn của các chủ nhiệm ĐTDA - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
Bảng 04 Trình độ học vấn của các chủ nhiệm ĐTDA (Trang 58)
Bảng 05: Lý do thực hiện đề tài/dự án - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
Bảng 05 Lý do thực hiện đề tài/dự án (Trang 59)
Bảng 06: Xác định vấn đề nghiên cứu không sát thực với nhu cầu thực  tiễn sản xuất - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
Bảng 06 Xác định vấn đề nghiên cứu không sát thực với nhu cầu thực tiễn sản xuất (Trang 60)
Bảng 07: Thông tin biết đến chương trình ĐTDA - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
Bảng 07 Thông tin biết đến chương trình ĐTDA (Trang 61)
Bảng  08:  Còn  nghi  ngờ,  chưa  tin  tưởng  vào  kết  quả  nghiên  cứu  khoa  học - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
ng 08: Còn nghi ngờ, chưa tin tưởng vào kết quả nghiên cứu khoa học (Trang 62)
Bảng 09: Năng lực của Hội đồng xác định nhiệm vụ ĐTDA - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
Bảng 09 Năng lực của Hội đồng xác định nhiệm vụ ĐTDA (Trang 63)
Bảng 10: Năng lực của Hội đồng xét duyệt ĐTDA - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
Bảng 10 Năng lực của Hội đồng xét duyệt ĐTDA (Trang 64)
Bảng 11: Tính thời sự của ĐTDA không còn - Nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang
Bảng 11 Tính thời sự của ĐTDA không còn (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w