TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN SINH THÀNH NHẬN DIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN SINH THÀNH
NHẬN DIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT CHỨC NĂNG TƯ VẤN, PHẢN BIỆN VÀ GIÁM ĐỊNH XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN, CÔNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM VỀ
Trang 2Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Tư vấn 9
1.1.2 Phản biện 15
1.1.3 Giám định xã hội 21
1.1.4 Khái niệm điều kiện cần và điều kiện đủ: 26
1.1.5 Khái niệm dự án, công trình trọng điểm: 26
1.2 Cơ sở chính sách, pháp luật: 28
1.2.1 Khái niệm: 29
1.2.2 Phạm vi: 29
1.2.3 Đối tượng: 29
1.2.4 Hình thức TVPB&GĐXH : 30
1.2.5 Quyết định 22/2002/QĐ-TTg: Những vấn đề thực tiễn 30
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, PHẢN BIỆN VÀ GIÁM ĐỊNH XÃ HỘI CỦA LIÊN HIỆP HỘI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN 2010 38
2.1 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Liên hiệp hội Việt Nam 38
2.1.1.Chức năng của Liên hiệp hội Việt Nam: 38
2.1.2 Nhiệm vụ của Liên hiệp hội Việt Nam: 40
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Liên hiệp hội Việt Nam: 40
2.2.Khái quát nhiệm vụ TVPB&GĐXH của Liên hiệp hội Việt Nam: 40
2.3 Thực trạng hoạt động TVPB&GĐXH của Liên hiệp hội Việt Nam và việc thực hiện Quyết định 22/2002 của Thủ tướng Chính phủ: 41
2.3.1 Những kết quả đạt được 41
2.3.2 Những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm: 53
2.3.3 Đánh giá việc thực hiện Quyết định 22/2002 của Thủ tướng Chính phủ: 56
CHƯƠNG 3: CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ LIÊN HIỆP HỘI VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT CHỨC NĂNG TƯ VẤN, PHẢN BIỆN VÀ GIÁM ĐỊNH XÃ HỘI 61
3.1 Điều kiện cần: 61
3.1.1 Cải cách, hoàn thiện và thể chế hoá hoạt động TVPB&GĐXH: 61
3.1.2.Tạo dựng môi trường dân chủ bằng pháp luật: 64
3.1.3.Sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ thể TVPB&GĐXH và cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách: 65
3.2 Điều kiện đủ: 71
3.2.1.Tính chủ động trong hoạt động TVPB&GĐXH của các nhà khoa học 71
3.2.2.Tính độc lập, khách quan trong hoạt động TVPB&GĐXH của các nhà khoa học 71
3.2.3.Minh bạch hóa thông tin 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 78
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
mổ xẻ vấn đề từ nhiều góc độ nhằm hoàn thiện các chủ trương, chính sách, dự
án phát triển kinh tế-xã hội trước khi ban hành góp phần giảm thất thoát, lãng phí, phòng chống tham nhũng Là một tổ chức chính trị-xã hội tập hợp rộng rãi của tầng lớp trí thức, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam có khả năng tập hợp các nhà khoa học đầu đàn thuộc nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ được đào tạo chuyên sâu ở nhiều nước, có quá trình công tác lâu năm và tầm nhìn rộng để nghiên cứu, đóng góp ý kiến đánh giá, phản biện và giám định xã hội về những khía cạnh khác nhau của các dự án và công trình trọng điểm của Nhà nước Nhờ đó, ý kiến phát biểu của họ có chất lượng cao
và được tôn trọng Do không bị ràng buộc bởi cơ chế hành chính, họ có thể phát biểu một cách cởi mở và thẳng thắn những ý kiến của mình trên cơ sở khách quan, khoa học và thiện chí để cùng nhau tìm ra chân lý
Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy nhiều nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý các cấp thường thích nghe các ý kiến thuận chiều, không muốn nghe các ý kiến khác chiều, thích tư vấn nội bộ, chưa quen sử dụng tư vấn độc lập Do đó, hoạt động TVPB&GĐXH chưa phát huy được hiệu quả xuất phát từ nhận thức của nhiều cấp, nhiều ngành chưa thấy được tầm quan trọng của hoạt động này Bên cạnh đó năng lực, kỹ năng thực tiễn của các chuyên gia còn hạn chế, thiếu chủ động, chưa tạo được niềm tin đối với các cơ quan sử dụng tư vấn
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Nhận diện các điều kiện để Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam thực hiện tốt chức năng
tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với các dự án khoa học và công nghệ”
Trang 4làm luận văn tốt nghiệp Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy đã dạy lớp cao học Quản lý Khoa học và Công nghệ Khoá 10, Ban chủ nhiệm Khoa Khoa học quản lý và đặc biệt là PGS.TS Phạm Xuân Hằng người đã giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
TVPB&GĐXH là một hoạt động đặc thù của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên Hoạt động này được thể chế hoá bằng Quyết định 22-2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Cụm từ TVPB&GĐXH được hiểu là
tư vấn xã hội, phản biện xã hội và giám định xã hội Điều đó có nghĩa là hoạt động này đều do các tổ chức xã hội thực hiện Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ TVPB&GĐXH cũng có nhiều khó khăn do nhận thức chưa đầy
đủ của cơ quan Nhà nước và xã hội Việc tiến hành các nghiên cứu về vấn đề này đã được một số tác giả đề cập đến với những phạm vi và phương pháp khác nhau Trong đó cần phải kể đến những công trình như:
Đối với vấn đề tư vấn xã hội:
Tại Việt Nam, khái niệm tư vấn mới chỉ xuất hiện trong khoảng những năm 90 của thế kỷ XX Tuy nhiên, việc nghiên cứu hoạt động tư vấn, đặc biệt
là tư vấn xã hội vẫn còn hạn chế
- Trong cuốn Giáo trình tham vấn tâm lí, của PGS.TS Trần Thị Minh Đức [7]
xem xét nghiên cứu khái niệm tư vấn với những cách hiểu khác nhau và đặt khái niệm này trong lĩnh vực tư vấn tâm lý
- Tương tự như vậy, trong bài Công nghiệp tư vấn và chuyên ngành tư vấn đầu
tư – xây dựng, tác giả Lê Quang Huy đặt khái niệm tư vấn trong phạm vi
nghiên cứu của lĩnh vực tư vấn xây dựng trong đó nêu lên các loại hình tư vấn, mối quan hệ của các loại hình tư vấn, đặc thù và yêu cầu của hoạt động tư vấn
Về lĩnh vực phản biện xã hội:
- Phản biện xã hội - Câu hỏi đặt ra từ cuộc sống của TS Trần Đăng Tuấn [18]
Đây là cuốn sách tập hợp nhiều bài viết về các chủ đề khác nhau Phản biện xã hội
Trang 5chỉ là một bài trong tập sách Tuy nhiên, trong bài này, tác giả đã nêu lên khái niệm phản biện, tự phản biện là cách đặt câu hỏi đặt ra vấn đề cho cuộc sống, cho chính mình để thúc đẩy cuộc sống vận chuyển đi lên "Đó là lẽ tự nhiên"
- Một số bài viết của TS Trần Đăng Tuấn như: Phản biện xã hội (Tạp chí Cộng
sản điện tử, số 114-2006) Bài viết nói về phản biện xã hội như là vấn đề tự nhiên của cuộc sống Nếu coi trọng phản biện sẽ giúp ích cho sự ổn định và phát triển, ngược lại nếu né tránh phản biện xã hội sẽ hình thành phản biện xã hội tự phát dễ dẫn đến phản kháng xã hội
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuyến cũng có một số bài báo đề cập đến hoạt động
Phản biện xã hội như: Phản biện xã hội - Một số vấn đề chung (Báo Người cao tuổi), Phản biện xã hội: nội dung, ý nghĩa và giá trị (Tạp chí Khoa học Công nghệ
An Giang, số 5, 2007) Trong bài Phản biện xã hội - Một số vấn đề chung tác giả
đưa ra định nghĩa và cách hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp của phản biện xã hội nhằm phân biệt phản biện xã hội với phản bác, phản kháng xã hội, phân biệt phản biện xã hội với phản biện khoa học, ý nghĩa và gia trị của phản biện xã hội
- Phản biện xã hội về bảo vệ thiên nhiên và môi trường do PGS.TS Nguyễn
Đình Hoè (Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam) biên soạn (NXB Khoa học kỹ thuật, 2009) Cuốn sách đề cập đến những vấn đề chung về phản biện xã hội, phương pháp tiến hành phản biện xã hội về bảo vệ thiên nhiên và môi trường Bên cạnh đó cuốn sách cũng nêu lên thực trạng công tác phản biện
xã hội về bảo vệ thiên nhiên và môi trường
- Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền do TS Hồ Bá Thâm và CN
Nguyễn Tôn Thị Tường Vân đồng chủ biên [14] Trong công trình nghiên cứu này hai tác giả đã đề cập đến vấn đề phản biện xã hội một cách chi tiết trong đó phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và vai trò của phản biện xã hội trong việc tăng cường và phát huy dân chủ pháp quyền ở nước ta hiện nay
- Sách hướng dẫn về tư vấn, phản biện và giám định xã hội các dự án phát
triển, 2007 do Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý thuộc Liên hiệp hội Việt
Nam biên soạn trong đó nhấn mạnh đến hoạt động tư vấn và các khía cạnh liên quan đến việc chuẩn bị, thẩm định, theo dõi và đánh giá dự án
Trang 6Về vấn đề giám định xã hội:
- Một số vấn đề về giám sát xã hội và phản biện xã hội của TS Hoàng Thị
Ngân đề cập đến khái niệm chung về giám sát và phản biện xã hội trong đó có phân tích những đặc trưng, thuận lợi và khó khăn trong thực tiễn giám sát và phản biện xã hội Khái niệm giám sát của TS Hoàng Thị Ngân có điểm tương đồng với giám định xã hội
Ngoài ra, có rất nhiều bài báo đăng tải trên các tạp chí, internet đề cập đến những khía cạnh khác nhau của hoạt động tư vấn, phản biện và giám định
xã hội Tuy nhiên, các nghiên cứu này có khi đề cập một cách độc lập ba hoạt động riêng rẽ nhưng có khi đề cập, nhấn mạnh hoạt động này mà chưa chú trọng đến hoạt động khác Hoặc có khi các tác giả đề cập đến cả ba hoạt động này nhưng với những chủ thể và đối tượng khác nhau PGS.TS Phạm Bích San
trong bài Tư vấn, phản biện và giám định xã hội: Một đòi hỏi của quá trình
phát triển – Tin hoạt động các hội khoa học và kỹ thuật - số 1/2006 đề cập đến
hoạt động TVPB&GĐXH như là một nhu cầu cấp thiết của quá trình phát triển
ở Việt Nam Trong phạm vi bài viết này, tác giả đã làm rõ những đặc tính, các nhóm lợi ích, quy trình, phương pháp, quy tắc tiến hành TVPB&GĐXH Hoặc
trong bài Lợi ích và các nhóm lợi ích: Những vấn đề cần tính tới trong tư vấn,
phản biện và giám định xã hội – Khoa học, Công nghệ, Phát triển - số 7/2007,
PGS.TS Phạm Bích San đề cập tới việc xem xét lợi ích và các nhóm lợi ích trong quá trình thực hiện TVPB&GĐXH, các thước đo và các yếu tố đảm bảo lợi ích thực của xã hội khi tiến hành hoạt động này
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chủ thể được nghiên cứu và
đề cập đến ở đây là cả ba hoạt động tư vấn xã hội, phản biện xã hội và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam được thực hiện trong khoảng 10 năm trở lại đây
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Trang 7- Trên cơ sở khảo cứu lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng, nhận dạng các điều kiện cần và đủ để Liên hiệp hội Việt Nam thực hiện tốt chức năng TVPB&GĐXH
4 Phạm vi nghiên cứu:
- Hoạt động TVPB&GĐXH nổi bật mà Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên đã thực hiện trong thời gian từ 2000 đến 2010
5 Mẫu khảo sát
- Tổng hội Xây dựng Việt Nam
- Tổng hội Địa chất Việt Nam
- 01 đơn vị 81
6 Vấn đề nghiên cứu:
- Những điều kiện nào để Liên hiệp hội Việt Nam thực hiện tốt chức năng TVPB&GĐXH ?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Để Liên hiệp hội Việt Nam thực hiện đúng chức năng TVPB&GĐXH cần hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo dựng môi trường dân chủ, sự phối hợp giữa các cơ quan ban hành văn bản dự án và tự nâng cao năng lực
- Để Liên hiệp hội Việt Nam thực hiện tốt chức năng TVPB&GĐXH tính chủ động, độc lập, khách quan và minh bạch hóa thông tin là những điều kiện đủ
8 Phương pháp nghiên cứu, chứng minh giả thuyết
- Nghiên cứu, tổng hợp tài liệu: tìm hiểu lịch sử nghiên cứu để nắm bắt những nội dung của các tác giả đi trước đã tiến hành nghiên cứu
- Phỏng vấn sâu các chuyên gia: đây là phương pháp thực hiện theo hướng phỏng vấn không có cấu trúc vì các câu trả lời có khả năng chưa biết được trước Một số người trả lời có thể trình bày các quan điểm mới mà người
Trang 8nghiên cứu chưa biết tới Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 4 chuyên gia tại các hội nghị, hội thảo, các cuộc trao đổi riêng Trong một số trường hợp, do tính chất nhạy cảm của vấn đề, các chuyên gia đề nghị không nêu đích danh, các ý kiến nêu ra chỉ là ý kiến cá nhân, không phải
là ý kiến chính thức của VUSTA
9 Kết cấu Luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 phần:
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam từ năm 2000 đến 2010
Chương 3: Các điều kiện để Liên hiệp hội Việt Nam thực hiện tốt chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Kết luận
Khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tư vấn
1.1.1.1 Khái niệm
Tư vấn (consultants) được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
“Tư vấn là một động từ chỉ hoạt động có chức năng góp ý cho người
hay cấp có thẩm quyền” [22, tr.1757]
Sách hướng dẫn sử dụng tư vấn trong nước do Dự án VIE/95/038 do Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam biên soạn định nghĩa tư vấn một cách tổng quát:
“tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động chất xám cung cấp cho khách
hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó, kể cả tiến hành những nghiên cứu soạn thảo dự án và giám sát quá trình thực thi dự
án đạt hiệu quả yêu cầu (dự án hiểu theo nghĩa rộng)”
Cũng theo sách hướng dẫn này, tư vấn được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa
truyền thống, thì “tư vấn là hoạt động cung cấp lời khuyên độc lập và vô tư do
một bên thứ ba thực hiện trên cơ sở hợp đồng dưới hình thức nào đó”
Điều này có nghĩa là tư vấn là cung cấp lời khuyên nhưng phải độc lập
và vô tư
“Độc lập ngụ ý rằng lời khuyên đưa ra, cho dù là dành cho một tổ chức thuộc khối công cộng hay một công ty tư nhân, phải xuất phát từ một người nào đó (nhà tư vấn) không phải là cán bộ của tổ chức/công ty đó và người này được tuyển dụng thường là trên cơ sở hợp đồng ngắn hạn hoặc tạm thời Vô tư ngụ ý rằng lời khuyên đưa ra phải là quan điểm của nhà tư vấn và không bị tác động bởi các thành viên của tổ chức đang tìm kiếm lời khuyên theo bất cứ cách nào không được mong muốn” [19, tr.34]
Định nghĩa hẹp về tư vấn như là “cung cấp lời khuyên” đã được mở
rộng đáng kể thành tham gia vào việc thực hiện các hệ thống quản lý thông
Trang 10qua “hợp đồng phụ” hay là thông qua hình thức “nhập nguồn lực từ bên ngoài”.[19, tr.35]
Hoạt động tư vấn có thể được tiếp cận theo hai hướng khác nhau: theo
nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp
Cách tiếp cận thứ nhất nhìn nhận Tư vấn theo nghĩa rộng xem xét Tư vấn là một hoạt động hay một chức năng Nếu xem xét Tư vấn là một hoạt
động hoặc chức năng thì nó “bao gồm bất cứ hình thức hỗ trợ nào về nội dung,
quá trình hay cấu trúc của một hoặc một loạt công việc” có nghĩa là Tư vấn
chỉ cung cấp những hỗ trợ hoặc trợ giúp cho quá trình ra quyết định hoặc điều hành, triển khai công việc mà không trực tiếp ra quyết định
Cách tiếp cận thứ hai, nhìn nhận Tư vấn theo nghĩa hẹp “coi Tư vấn là
một dịch vụ chuyên môn” Nếu hiểu theo cách tiếp cận này, thì tư vấn được coi
là một loại hình dịch vụ mà sản phẩm của nó là sản phẩm đặc biệt - chất xám Sản phẩm đó có thể được hình thành qua quá trình cập nhật thông tin, kiến thức, xử lý thông tin, lựa chọn những giải pháp thích hợp cho từng trường hợp
cụ thể nhằm trợ giúp cho khách hàng ra quyết định hoặc triển khai những hoạt
động cụ thể Việc cung cấp những giải pháp, kiến thức không phụ thuộc bởi bất
cứ sự tác động bên ngoài nào mà nó được cung cấp một cách độc lập, khách quan
Theo cách hiểu này, Nghị định 87/2002/NĐ-CP ngày 5/11/2002 định
nghĩa: “Hoạt động tư vấn là hoạt động thu thập, xử lý thông tin, vận dụng tri
thức chuyên môn, phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, phương án, lập dự án và giám sát, đánh giá do các tổ chức chuyên môn và cá nhân Việt Nam thực hiện độc lập, khách quan theo yêu cầu của người sử dụng tư vấn”
Ở Việt Nam, tư vấn được hiểu như trong Quyết định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ, khái niệm “tư vấn” được
hiểu như sau: “Là hoạt động trợ giúp về tri thức, kinh nghiệm, cung cấp các
thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá và kiến nghị trong việc đề xuất, xây dựng hoặc thẩm định và phê duyệt dự án”
Từ những định nghĩa nêu trên, xuất phát từ tình hình thực tiễn triển khai hoạt động tư vấn tại Liên hiệp hội Việt Nam, nghiên cứu này quan niệm khái niệm tư
Trang 11vấn được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất là khái niệm được nêu trong Quyết định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ
1.1.1.2 Mục đích
Trong quá trình đề xuất, xây dựng, thẩm định hoặc thực hiện đề án, thường bắt buộc phải có đánh giá từ giai đoạn triển khai cho đến giai đoạn kết thúc dự án Những đánh giá đó phải có cơ sở, luận cứ khoa học để minh chứng cho tính khả thi và thực tiễn của dự án Hoạt động tư vấn chính là quá trình cung cấp, trợ giúp cơ sở, luận cứ khoa học cho dự án đó
1.1.1.3 Hình thức thực hiện:
Hoạt động tư vấn diễn ra dưới các hình thức sau:
- Các tổ chức thuộc các ngành, các cấp, các địa phương (các tổ chức hữu quan) đặt yêu cầu cho đơn vị thực hiện tư vấn (các tổ chức hữu quan đóng vai trò chủ động)
- Đơn vị thực hiện tư vấn chủ động gặp gỡ, đề xuất hoạt động tư vấn đối với các tổ chức hữu quan (đơn vị tư vấn đóng vai trò chủ động)
- Ngoài ra, có thể thông qua hình thức đấu thầu để thực hiện nhiệm vụ tư vấn theo quy định chung của pháp luật (cả đơn vị tư vấn và các tổ chức hữu quan đều đóng vai trò chủ động)
1.1.1.4 Đặc điểm:
Với tính chất là một dịch vụ, hoạt động tư vấn có đặc điểm:
- Qúa trình thực hiện tư vấn diễn ra liên tục trong đó có sự trao đổi thông
tin qua lại giữa nhà tư vấn và bên sử dụng tư vấn Qúa trình này chỉ có thể đem lại hiệu quả cao nếu có sự hợp tác tích cực giữa hai bên
- Sản phẩm của hoạt động tư vấn luôn là sản phẩm cụ thể và có tính hiệu
quả cao, trong đó thông tin hay cụ thể hơn là các tri thức, biện pháp, giải pháp
xử lý các vấn đề được chú trọng
Trang 12- Kết quả của hoạt động tư vấn vừa góp phần giải quyết trực tiếp vấn đề cần
tư vấn nhưng thông qua việc sử dụng những tri thức, kiến thức của nhà tư vấn, hoạt động tư vấn vừa góp phần nâng cao trình độ, năng lực của người sử dụng tư vấn
- Ngày nay, các nhà tư vấn vừa cung cấp dịch vụ tư vấn nhưng cũng có thể tham gia vào việc thực hiện, hỗ trợ thực hiện một số giai đoạn hay cả chu trình tư vấn nhằm làm cho quá trình thực hiện từ giai đoạn tư vấn đến giai đoạn thực hiện xuyên suốt, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan
Bên cạnh những đặc điểm nêu trên, hoạt động tư vấn có những đặc thù riêng để phân biệt với các hoạt động khác:
Hoạt động tư vấn đích thực không thể tách rời bốn loại hình có quan hệ hữu cơ: nghiên cứu, xử lý thông tin, đào tạo, giúp đỡ kỹ thuật Chỉ có trên nền tảng nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề kinh tế và công nghệ, hình thành một cơ sở thông tin dữ liệu phong phú, hướng đích, các đơn vị tư vấn mới nâng cao được chất lượng và tính hiệu quả của dịch vụ tư vấn Đồng thời,
tổ chức việc đào tạo nội bộ dưới mọi hình thức linh hoạt để nâng cao trình độ, kiến thức và nghề nghiệp cũng như tổ chức những lớp học chuyên đề cho các
cơ quan, đơn vị, khách hàng có yêu cầu, được xem như biện pháp tốt để tạo dựng hình ảnh tích cực cho đơn vị tư vấn.[12]
Đối với bất cứ hoạt động nào thì việc nâng cao trình độ, năng lực là yếu
tố quyết định nhằm nâng cao hiệu quả của bản thân hoạt động đó Hoạt động tư vấn lại càng đặt ra yêu cầu khắt khe đối với nhà tư vấn Hoạt động tư vấn đòi hỏi nhà tư vấn phải có kiến thức vừa rộng vừa chuyên sâu Muốn có được điều
đó, hơn ai hết nhà tư vấn phải thường xuyên tự nâng cao trình độ chuyên môn của mình thông qua quá trình đào tạo, qua sách vở, qua kinh nghiệm thực tiễn trong suốt một thời gian dài, có khi là kết quả hoạt động của cả một đời người, không thể một sớm một chiều mà có được Những nhà tư vấn phải đồng thời là chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó
“Trong suốt quá trình công nghệ và tác nghiệp của nhà tư vấn thì dữ liệu là các yếu tố để phân tích, thông tin là dữ liệu có bối cảnh, kiến thức là
Trang 13thông tin mang ý nghĩa, trí khôn là kiến thức cộng uyên thâm, còn tư vấn là chuyển giao trí khôn.”.[12]
Cũng như các hoạt động khác, kiến thức chuyên môn là cần thiết nhưng chưa đủ Bất cứ nhà tư vấn hay đơn vị tư vấn nào cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp Đây chính là yếu tố để phân biệt hoạt động tư vấn chuyên nghiệp với những loại hình tư vấn khác
1.1.1.5 Tính chất:
Với vị trí độc lập (không phụ thuộc về hành chính và tài chính đối với
người sử dụng tư vấn) và trên cơ sở kiến thức, kinh nghiệm phong phú của
mình, nhà tư vấn đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn, xúc tác, đạo diễn và thực hiện chức năng “tham mưu, đốc chiến” cho các loại khách hàng theo từng lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn
Nhà tư vấn không trực tiếp chỉ đạo, điều hành công việc của khách hàng, chỉ chịu trách nhiệm về chất lượng của dịch vụ tư vấn mà không phải chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng của công việc do khách hàng và bộ máy tổ chức của khách hàng chủ động thực hiện (ngoại trừ trường hợp tư vấn được chủ dự án giao cho quản lý, giám sát toàn bộ quá trình thực hiện dự án) Chính
vì vậy, hoạt động tư vấn mang tính khách quan, độc lập, không bị lệ thuộc vào một áp đặt chủ quan nào Hoạt động này xuất phát từ điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp một cách khoa học, bảo đảm được tính chính xác, tính chủ động, sáng tạo, tính hiệu quả tối đa với cách tiếp cận đúng đắn và phương pháp làm việc nhà nghề của chuyên gia tư vấn
Việc chuyển giao kiến thức, kỹ xảo, kỹ thuật và kinh nghiệm tác nghiệp của nhà tư vấn hoặc nhóm tư vấn cho các cán bộ, chuyên gia của khách hàng trong quá trình thực hiện hợp đồng tư vấn, kể cả những cuộc thuyết trình, lên lớp hoặc hướng dẫn, là những sản phẩm trí tuệ vô giá của dịch vụ tư vấn
Cơ hội cộng tác với nhà tư vấn giúp cho cán bộ, chuyên gia của khách hàng học tập, rút kinh nghiệm được nhiều điều bổ ích có thể khiến cho họ đạt
Trang 14trình độ tự lực thực hiện những dự án trong tương lai mà không phải thuê tư vấn hoặc chỉ cần thuê tư vấn vào một số khâu then chốt
Nhìn chung, quá trình sử dụng tư vấn cho một công việc nhất định của khách hàng chính là một quá trình chuyển giao công nghệ rất điển hình, đem lại hiệu quả cao Kết quả đạt được do nhiều yếu tố tổng hợp, nhưng yếu tố quan trọng và quyết định nhất là vai trò điều độ hợp lý, giám sát chặt chẽ của kỹ sư tư vấn trong quá trình thi công để thực hiện ba yêu cầu: thời gian đúng như quy định, chất lượng đúng như thiết kế, chi phí đúng như dự toán ban đầu
Tính chất, hay nói cách khác, loại hình dịch vụ tư vấn là điều khách hàng phải xác định cụ thể, nhằm chọn đúng nhà tư vấn hay đơn vị tư vấn thích hợp cho công việc
- Nếu như công việc đó liên quan tới ban hành hay thay đổi một chủ trương, chính sách ở tầm vĩ mô mà đã được giao cho các cơ quan hữu quan nghiên cứu để soạn thảo đề án, đã qua bước lấy ý kiến chuyên gia rộng rãi, thì phạm vi nhiệm vụ của nhà tư vấn quản lý chỉ còn giới hạn trong phần bình luận, phản biện và chỉnh sửa Trường hợp công việc chỉ mới trong giai đoạn khách hàng có ý đồ, thì trách nhiệm của nhà tư vấn quản lý là phải tổ chức soạn thảo ra đề án, tranh thủ ý kiến nhận xét, đóng góp của đông đảo chuyên gia rồi hoàn thiện
- Ở tầm vi mô, khi thấy có nhu cầu chấn chỉnh bộ máy, cơ cấu tổ chức, chuyển hướng sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ hoặc thay đổi công nghệ, mở rộng quy mô kinh doanh .khách hàng cũng cần hướng vào nhà tư vấn quản lý để nhận được các khuyến nghị chính xác và thích hợp về chủ trương chiến lược, về chính sách và biện pháp cụ thể
- Nếu khách hàng có dự kiến triển khai một sự án đầu tư vào sản xuất hay kinh doanh dịch vụ thì phải tìm đến các nhà tư vấn thị trường và tư vấn đầu
tư giúp khẳng định được cơ hội đầu tư, lập các báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, văn kiện nghiên cứu khả thi cho dự án, cơ sở để ra quyết định đầu tư
- Sau khi nhận được giấy phép đầu tư từ các cấp có thẩm quyền, khách hàng - chủ dự án phải tìm đến nhà tư vấn để được giúp đỡ về việc tổ chức khảo
Trang 15sát, thiết kế, tổ chức đấu thầu mua sắm trang thiết bị, vật tư và tổ chức đấu thầu, giám sát thi công và nghiệm thu Xu hướng chung là có nhiều nhà tư vấn tổng hợp giúp khách hàng trong suốt chu trình của dự án, từ việc xác định cơ hội đầu tư, lập văn kiện dự án đầu tư cho đến quản lý xây dựng hoàn tất công trình
- Nếu như công việc của khách hàng có những khoản rắc rối liên quan đến pháp luật, cần xử lý một vấn đề phát sinh trong các hợp đồng, trong mọi quan hệ nghĩa vụ và quyền lợi có tranh chấp .thì các luật sư, các hãng tư vấn pháp luật
là những địa chỉ cần tìm đến, Thông thường, những đơn vị lớn thường có luật sư nội bộ của đơn vị mình hoặc thuê luật sư hoặc công ty tư vấn pháp luật bên ngoài chỉ thực hiện đối với các vụ việc quan trọng và phức tạp
1.1.2 Phản biện
1.1.2.1 Khái niệm
Trong thời gian gần đây, khái niệm phản biện xã hội được nhiều người nhắc đến với những cách hiểu khác nhau
Theo Đại từ điển tiếng Việt [22, tr.1316] thì phản biện được định nghĩa
là một động từ chỉ “hoạt động đánh giá chất lượng của luận văn tốt nghiệp đại
học, luận án trên đại học trước hội đồng chấm”
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa [11, t2, tr.407]: “Phản biện là
nhận xét và đánh giá về một công trình khoa học ((khoá luận, luận văn, luận án, hoặc kết quả nghiên cứu khoa học của một đề tài, một chương trình nghiên cứu .) Người (hay cơ quan) phản biện nhận định về tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài, nội dung và hình thức thể hiện của công trình khoa học, phương pháp nghiên cứu, kết luận, đóng góp, hạn chế .Cuối cùng đánh giá chung là đạt hay không đạt những yêu cầu đề ra, xếp loại .Phản biện cũng có thể được hiểu là việc cung cấp thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi
và kiến nghị về sự phù hợp .”
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng “phản biện” có nghĩa là “bàn luận
theo hướng (theo cách) ngược lại”, hoặc là sự tranh luận, tranh cãi Do đó, có
Trang 16thể hiểu phản biện là dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ chứng cứ, lập luận đã được đưa ra trước đó Theo đó, phản biện là sự tranh luận, tức là đưa ra lập luận để làm rõ đúng - sai; trong phản biện phải hội đủ các luận cứ (thực tiễn, khoa học) để làm rõ cái đúng, cái sai của vấn đề đang tranh luận.[8]
Theo Quyết định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2002 của Thủ
tướng Chính phủ, khái niệm “phản biện” được hiểu như sau: “Là hoạt động
cung cấp thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với mục tiêu và các điều kiện ban đầu hoặc thực trạng”
PGS.TS Vũ Văn Nhiêm đưa ra định nghĩa: “Phản biện là hoạt động đưa
ra các lập luận, chứng cứ, phân tích, đánh giá về một vấn đề nào đó (như các
đề án kinh tế, các dự án xã hội, các dự án luật…) nhằm đánh giá, chứng minh tính hợp lý hay không hợp lý, từ đó có thể khẳng định, góp ý, bổ sung hoặc phản bác một phần hoặc cả phương án, dự án, kế hoạch”.[13]
Tuy nhiên, khái niệm “phản biện” được đề cập đến trong phạm vi nghiên cứu này phải hiểu là phản biện xã hội Định nghĩa về phản biện biện xã hội
ThS Vũ Thị Như Hoa cho rằng: “phản biện xã hội là sự phản biện của xã hội
(hay là sự phản biện mang tính xã hội), tức là sự biện luận, thẩm định, đánh giá của các lực lượng xã hội đối với những chủ trương, chính sách, đề án, dự
án xã hội liên quan đến quyền lợi và đời sống của thành viên trong xã hội.[8,
tr.30-32]
Khái niệm phản biện xã hội trong cuốn "Tìm hiểu một số thuật ngữ
trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia , Hà Nội 2006, trang 183 giải thích:
“Phản biện xã hội: là sự phản biện nói chung, nhưng có qui mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, khoa học-công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan”
Cùng cách hiểu như vậy, PGS.TS Nguyễn Đình Hoè định nghĩa:
Trang 17“Phản biện xã hội (Social criticism) được hiểu là sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự, gồm các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và nhân dân (tức là không phải chính quyền, doanh nghiệp và gia đình) vào một chủ trương, chính sách nào đó của Nhà nước (Chính phủ, bộ/ngành hay tỉnh/thành phố), một chương trình hay dự án phát triển nhằm làm cho chủ trương, chính sách, chương trình hay dự án phát triển đó ngày càng hoàn thiện trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận nhằm phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh Đây cũng chính là mục tiêu của PBXH” [9, tr.10,11]
TS Trần Đăng Tuấn lại cho rằng:“Phản biện xã hội là sự nhận xét đối
với các phương án xã hội lớn do lực lượng đang nắm quyền lãnh đạo xã hội đưa ra (đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, các quyết định kinh tế-xã hội lớn .) Khi giới hạn như vậy, một nội hàm hẹp hơn của phản biện xã hội là: những ý kiến, lập luận, quan điểm được đưa ra khác với phương án “chính thống”, nhằm mục đích vạch ra những điểm thiếu sót, bổ sung, làm rõ những khía cạnh chưa hợp lý, hoặc khẳng định, hoặc bác bỏ phương án “chính thống” .phản biện có thể dẫn đến kiểm tra, rà soát, bổ khuyết và có thể cả phê phán và bác bỏ phương án đưa ra để trưng cầu phản biện”.[16]
Từ những định nghĩa nêu trên có thể hiểu phản biện xã hội đó là việc các lực lượng xã hội đưa ra những nhận xét, ý kiến, lập luận, quan điểm nhằm đóng góp, bổ sung những thiếu sót của các chủ trương, chính sách, pháp luật, dự án
xã hội liên quan đến lợi ích của mọi người trong xã hội
Trong phạm vi nghiên cứu hoạt động TVPB&GĐXH của Liên hiệp hội Việt Nam và các Hội thành viên, định nghĩa nêu trong Quyết định 22 tương đối phù hợp với tình hình thực tiễn triển khai hoạt động này
1.1.2.2 Mục đích
Trong Quyết định 22/2002/QĐ-TTg tuy không nêu rõ mục đích của hoạt
động PBXH nhưng nêu lên mục đích của hoạt động TVPB&GĐXH: “Mục đích
Trang 18của tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội và các Hội thành viên là cung cấp cho các cơ quan đặt yêu cầu tư vấn, phản biện và giám định
xã hội có thêm các cơ sở, luận cứ khoa học độc lập, khách quan trong việc đề xuất, xây dựng, thẩm định, phê duyệt hoặc thực hiện đề án”
Tuy nhiên, bên cạnh việc “cung cấp các cơ sở, luận cứ khoa học độc
lập, khách quan”, phản biện còn có những mục đích sau:
Phát huy dân chủ, xây dựng một xã hội mà ở đó người dân, các thành phần khác trong xã hội có thể góp tiếng nói của mình trong việc đưa ra các quyết sách liên quan đến chính mình
Tạo sự đồng thuận: Trong xã hội luôn tồn tại các nhóm có lợi ích khác nhau Mỗi nhóm đại diện cho những thành phần trong xã hội Vì lợi ích của nhóm, họ thường đưa ra những ý kiến có lợi nhất cho nhóm Việc tổ chức hoạt động phản biện là việc tự do tranh luận, đàm phán lợi ích giữa các nhóm để đạt được sự đồng thuận, đạt được lợi ích chung đó là lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, tạo sự đồng thuận cao của toàn xã hội
Làm cho các quyết định bớt độc đoán, duy ý chí: thông thường việc ra các quyết định nếu không có đầy đủ thông tin, không có sự trao đổi, thảo luận
và tham khảo ý kiến từ các nhóm lợi ích trong xã hội, dễ dẫn đến tình trạng độc đoán, chuyên quyền Từ đó dẫn đến những sai sót trong việc ban hành chính sách Nói cách khác, phản biện là công cụ để giảm thiểu những quyết định sai sót trong hoạt động quản lý xã hội
Tạo kênh trao đổi thông tin: Phản biện là một kênh thu thập thông tin của cơ quan được phản biện nhưng qua đó người phản biện cũng cần được cung cấp thông tin đầy đủ từ phía các cơ quan đặt hàng Thông qua sự trao đổi thông tin giữa hai bên có thể tiệm cận và đạt được chân lý
Trang 19và giám định xã hội của Liên hiệp hội và các Hội thành viên được thực hiện theo các hình thức sau:
- Các cơ quan đặt yêu cầu tư vấn, phản biện và giám định xã hội cho Liên hiệp hội hoặc các Hội thành viên đối với các đề án thuộc thẩm quyền phê duyệt của mình hoặc các đề án cấp trên phê duyệt
- Liên hiệp hội và các Hội thành viên tự đề xuất nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với các cơ quan có liên quan và các cấp có thẩm quyền xem xét”
Từ những quy định về hình thức trong Quyết định 22 cho thấy, cả tƣ vấn, phản biện và giám định xã hội đều có hình thức thực hiện giống nhau đó
là xuất phát từ hai phía: Các cơ quan đƣợc phản biện đặt yêu cầu và cơ quan phản biện chủ động đề xuất Bên cạnh đó, có thể cả hai bên cùng đóng vai trò chủ động thực hiện nhiệm vụ phản biện
Chính vì vậy, PBXH “là sự tập hợp sức sáng tạo và trí tuệ của cộng
đồng, tạo nên sức mạnh nội lực để giải quyết các vấn đề xã hội; PBXH là sự thể hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, là thước đo trình độ phát triển của một
PBXH là hoạt động của xã hội do đó thu hút đƣợc sự quan tâm, theo dõi của xã hội đối với những vấn đề đƣợc phản biện
Trang 20hành vi xác định tính khoa học của hành động của con người, xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động Phản biện làm cho mỗi một hành vi được tiến hành trên
cơ sở có một sự xác nhận có chất lượng khoa học đối với nó Nếu không có phản biện có nghĩa là con người mặc nhiên hành động mà không thèm đếm xỉa đến sự xác nhận của xã hội về tính phù hợp, tính đúng đắn của hành động đó” [9]
Nhưng để có ý kiến phản biện đúng thì sự nhiệt tình là chưa đủ, cần phải
có kiến thức trong những vấn đề được phản biện Kiến thức ở đây trước tiên phải dựa trên cơ sở khoa học vững chắc, có hiệu quả cao, không trái với mục
tiêu đề ra “Phản biện xã hội có cốt lõi và đặt trên cơ sở của phản biện khoa
học nhưng rộng hơn phản biện khoa học Về bản chất phản biện khoa học là
“khách quan” hay chính xác hơn là trung lập, vì dựa hoàn toàn vào phương pháp luận khoa học mà không phụ thuộc vào bất cứ nhóm lợi ích nào của xã hội”; “Chỉ những kiến nghị dựa trên nền tảng khoa học chắc chắn mới được đưa vào văn kiện PBXH”.[9, tr.12,13]
PBXH dựa trên cốt lõi là phản biện khoa học, dựa trên sự đúng đắn của các lý thuyết, phát minh trong khoa học Do đó, trong quá trình tiến hành phản
biện, không thể đồng nhất PBXH với trưng cầu dân ý “Trưng cầu dân ý là hỏi
dân Phản biện không phải là hỏi dân Phản biện không phải là nhân dân trả lời mà là nhân dân nói tiếng nói của mình Và tiếng nói ấy được chuẩn bị một cách chuyên nghiệp bằng trí tuệ, bằng sự thông hiểu lẫn cả dự đoán về sự xung đột lợi ích khi tiến hành một hành động xã hội; Nếu trưng cầu dân ý là đi tìm
sự đồng thuận đơn giản thì phản biện là đi tìm sự đồng thuận có chất lượng khoa học” [6]
- Tính phi lợi nhuận: tính phi lợi nhuận phản ánh mục tiêu vì lợi ích xã
hội và trách nhiệm công dân Phản biện xã hội là tìm kiếm sự đồng thuận trong việc giải quyết các lợi ích giữa các nhóm xã hội Các lợi ích đó có thể thể hiện bằng những quyền lợi về chính trị, kinh tế, nhưng hoạt động phản biện phải đảm bảo sự không chệch hướng nghĩa là phải đặt lợi ích của xã hội lên trên lợi ích nhóm Muốn vậy, khi tiến hành phản biện phải xác định tính độc lập về lợi nhuận, hoạt động không vì lợi nhuận
Trang 21- Tính xã hội: PBXH là ý kiến phản ánh của một hoặc một số nhóm người, của cộng đồng xã hội, là hoạt động của xã hội nên bên cạnh thuộc tính khoa học, dựa trên cơ sở khoa học như là một nền tảng còn có thuộc tính xã hội Tính xã hội thể hiện ở sự phản ánh các quan điểm, quyền lợi của các tầng lớp khác nhau trong xã hội Mỗi nhóm xã hội có quan điểm, lợi ích riêng Thông qua phản biện, các quan điểm, lợi ích của các nhóm khác nhau trong xã hội được phản ánh bằng các ý kiến phản biện Chính vì vậy, thông qua PBXH, người dân thực hiện quyền lực chính trị, quyền làm chủ và ý thức trách nhiệm công dân của mình PBXH là một đòi hỏi tất yếu của một xã hội phát triển trong đó mỗi công dân đều có cơ hội bộc lộ ý kiến cá nhân của mình thông qua những nhóm người có cùng lợi ích hoặc thậm chí mâu thuẫn nhau Vì vậy, để hoạt động phản biện đi đúng hướng cần xuất phát từ mục đích và đối tượng để tìm kiếm sự đồng thuận giữa những nhóm lợi ích khác nhau
- Tính khách quan, độc lập: Thể hiện ở sự độc lập trong mối quan hệ với người có thẩm quyền thông qua chính sách, pháp luật “Phản biện khoa học về
bản chất là khách quan, không có tính giai cấp” [19]
1.1.3 Giám định xã hội
1.1.3.1 Khái niệm
Giám định là công việc kiểm tra, đánh giá chung đối với hầu hết đối tượng Giám định liên quan đến sự đo lường, kiểm tra, và các tiêu chuẩn đánh giá áp dụng để xác nhận chắc chắn các thông số kỹ thuật đặc trưng liên quan đến đối tượng giám định Kết quả giám định thông thường được so sánh với các yêu cầu và các tiêu chuẩn đã đưa ra nhằm xây dựng mục tiêu đã định đối với đối tượng giám định
Ví dụ như giám định không phá hủy kết cấu của vật chất
Trong thương mại quốc tế, những quốc gia, người mua hàng hóa thường yêu cầu giám định hàng hóa trước khi xếp hàng lên tàu (PSI)
Trang 22Người giám định còn gọi là giám định viên khi thực hiện vụ giám định cần phải chụp hình, báo cáo chi tiết kết quả bằng văn bản để chứng minh số lượng, chất lượng thực tế của hàng hóa
Đối với chính phủ, việc cần giám định nhằm mục đích an toàn thực phẩm và qui các chất lượng và phẩm chất hàng hóa tuân thủ theo những qui định đã đưa ra
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “giám định là hoạt động kiểm tra bằng
phương pháp nghiệp vụ để có kết luận cụ thể”.[22, tr.728]
Từ điển Bách khoa Việt Nam [11, t2, tr.110] đưa ra khái niệm giám định được dùng trong một số lĩnh vực như:
- Lĩnh vực luật: giám định là kiểm tra và kết luận về một hiện tượng hoặc một vấn đề mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định Các loại giám định thường có là giám định y khoa, giám định kỹ thuật, giám định tài vụ, giám định hàng hoá, giám định pháp lý Công việc giám định có thể do một người (giám định viên) hoặc do một nhóm người (Hội đồng giám định) tiến hành Giám định viên là chuyên gia hoặc người có kiến thức, trình độ về lĩnh vực cần giám định và được cơ quan chuyên môn chỉ định Kết quả giám định được ghi nhận trong văn bản gọi là biên bản giám định hay giấy chứng nhận giám định Giám định pháp lý là giám định do luật tố tụng điều chỉnh nhằm làm sáng tỏ những vấn đề hoặc tình tiết liên quan đến vụ án
- Lĩnh vực kinh tế: giám định là nhận xét, xác định và kết luận một vấn đề hoặc một hiện tượng nào đó, do những chuyên gia hoặc những người có thẩm quyền được chỉ định Kết quả giám định ghi trong văn bản được gọi là biên bản giám định hay giấy chứng nhận giám định Giám định kinh tế là nhận xét, xác định một vụ việc kinh tế (VD: giám định một vụ vi phạm hợp đồng kinh tế, giám định một luận chứng đầu tư .) để từ đó có quyết định xử lý
- Lĩnh vực xây dựng, kiến trúc: giám định là sự theo dõi và kiểm tra của
cơ quan có thẩm quyền của nhà nước về việc thực hiện xây dựng nhằm phát hiện, ngăn chặn và đánh giá những vi phạm quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, những sai hỏng và sự cố trong thiết kế và thi công
Trang 23Theo Quyết định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2002 của Thủ
tướng Chính phủ, khái niệm “giám định xã hội” được hiểu như sau: “Là hoạt
động theo dõi việc thực hiện đề án, đưa ra các ý kiến phân tích đánh giá và kiến nghị kịp thời về việc tổ chức thực hiện, mục tiêu, nội dung hoặc chất lượng đề ra”
Tuy nhiên, để hiểu tinh thần của Quyết định 22/2002 dựa trên thực tế triển khai hoạt động giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm giám định xã hội ở đây là cấu thành của hai thuật ngữ: giám sát và thẩm định
Giám sát được hiểu là: “Theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ [22, tr.728] hoặc cũng có thể được hiểu “là một hình thức hoạt động của cơ quan
Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó” [11, t2, tr.112]
Luật Giám sát của Quốc hội năm 2003, Khoản 1 Điều 2 Luật này quy
định: "Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân
tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội"
Theo Luật này thì chủ thể giám sát là Quốc hội, các Uỷ ban Quốc hội và các đoàn đại biểu Quốc hội Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhân dân, nói tiếng nói của nhân dân Do vậy, hiểu rộng ra chủ thể giám sát là nhân dân Đối tượng chịu giám sát là các cơ quan, tổ chức, cá nhân
Đối với khái niệm thẩm định: “Xem xét để xác định về chất lượng” [22,
tr.1540]
Như vậy, xét về tổng thể hoạt động giám định xã hội có thể hiểu là hoạt động giám sát theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện đề án trong đó có nêu lên các phân tích, đánh giá và kiến nghị nhằm thực hiện đúng mục tiêu, nội dung hoặc chất lượng đề ra
Trang 241.1.3.2 Mục đích
Mục đích của hoạt động giám định xã hội:
- Theo dõi thực hiện dự án, giám sát, đánh giá quá trình thực hiện để phát hiện những hạn chế trong hoạt động của chủ thể bị giám định nhằm đưa ra những kiến nghị và giải pháp khắc phục những hạn chế, hậu quả khi liên quan đến quyền và lợi ích của các nhóm người trong xã hội
án làm căn cứ để giám định đối với quá trình thực thi của dự án
Như vậy, Tư vấn - Phản biện – Giám định xã hội về bản chất đều là hoạt động cung cấp thông tin, tư liệu, đưa ra các ý kiến phân tích, đánh giá của chuyên gia và kiến nghị chỉnh sửa trong đề xuất, xây dựng, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện đề án Nếu có khác, chỉ khác ở khâu tác động:
Trang 25Trong quá trình giám định, những thông tin thu thập được trong giai đoạn này là cơ sở để phản hồi đối với giai đoạn trước, để bổ sung, hoàn thiện những ý kiến tư vấn
1.1.3.5 Tính chất
Tính hợp pháp: hoạt động giám định xã hội luôn xem xét, đánh giá đối với các đề án hoặc chính sách kèm theo các kiến nghị do đó phải dựa trên khuôn khổ tính hợp pháp Giám định xã hội là hoạt động luôn phải giám sát thường xuyên đối với toàn bộ quá trình thực hiện dự án từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc dự án và đưa vào sử dụng nhằm phát hiện và khắc phục những hạn chế của dự án Việc phát hiện và khắc phục những hạn chế phải dựa trên cơ sở pháp lý của các bước thực hiện dự án khi nó liên quan tới các cơ quan, tổ chức hoặc hệ thống chính trị, pháp luật của Nhà nước
Tính độc lập: Tính độc lập thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể giám định Chủ thể thực hiện giám định xã hội là đối tượng chịu sự quản lý của các thiết chế chính trị, xã hội, có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp và có tính độc lập về tổ chức, hoạt động với các đối tượng đang được giám định Các chủ thể giám định có thể là cá nhân hoặc tổ chức Khách thể giám định là các thiết chế mang tính quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước Với tính chất là sự theo dõi, quan sát thường xuyên, giám định xã hội là sự theo dõi, quan sát thường xuyên, giám định là nhằm vào toàn bộ các hoạt động của các thiết chế chính trị nhằm phát hiện và khắc phục những hạn chế của hoạt động đó, bao gồm các vấn
đề về cơ sở pháp lý, quy trình, phương thức thực hiện, tính hiệu quả
Tính xã hội: Giám định xã hội là hoạt động của nhân dân với tư cách là những chủ thể của quyền lực nhà nước Giám định xã hội nhằm phát huy quyền lực của nhân dân, làm cho quyền lực không bị lạm dụng và không bị sử dụng sai mục đích
Tính dân chủ: Giám định xã hội phản ánh mức độ dân chủ trong việc thực hiện quyền lực Tính dân chủ thể hiện ở mức độ tham gia của các tầng lớp
xã hội vào quá trình giám sát, theo dõi, quản lý dự án
Trang 261.1.4 Khái niệm điều kiện cần và điều kiện đủ:
Đây là khái niệm dựa trên cơ sở toán học Điều kiện cần là điều kiện để chứng minh có tính chất A phải có điều kiện mà thiếu nó thì tính chất A không thể xẩy ra và có nó thì tính chất A chắc chắn xẩy ra Điều kiện đủ là điều kiện
để có tính chất A phải có điều kiện mà có nó thì tính chất A chắc chắn xảy ra
“Khi mệnh đề A suy ra B là đúng thì người ta nói rằng B là điều kiện cần của A
và A là điều kiện đủ của B Điều kiện cần còn được gọi là điều kiện ắt có theo nghĩa có A ắt có B VD: một số chia hết cho 6 thì chẵn Vậy tính chẵn của một điều kiện cần để chia hết cho 6 và chia hết cho 6 là điều kiện đủ của tính chẵn Khi mệnh đề đảo B suy ra A cũng đúng thì A và B vừa là điều kiện cần vừa là điều kiện biên của nhau Trong trường hợp này người ta nói A là điều kiện cần
và đủ của B Thuật ngữ “cần và đủ” còn được thay thế bằng các thuật ngữ
“khi” và “chỉ khi”, “nếu và chỉ nếu” hoặc “tương đương” [10, t1, tr.806]
1.1.5 Khái niệm dự án, công trình trọng điểm:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về dự án, Đại Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Dự án là dự thảo một văn kiện quan trong về luật pháp hay kế hoạch
[21, tr.558]
Theo Ngân hàng thế giới “Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt
động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định”
“Dự án là tập hợp những hoạt động khác nhau có liên quan với nhau theo một logic nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực và trong một khoảng thời gian đã được định trước” [13]
Theo các định nghĩa trên, dự án đƣợc hiểu là những hoạt động có mục tiêu nhất định đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian với những nguồn lực nhất định
Trên thực tế, có nhiều loại hình dự án hay còn đƣợc gọi là công trình Theo Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 7 tháng 12 năm 2005 (về Quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình) đã phân loại dự án, công trình nhƣ sau:
Trang 27- Theo quy mô và tính chất: dự án quan trọng quốc gia (hay còn gọi là công trình trọng điểm quốc gia) do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân thành Dự án nhóm A,B,C (phân loại theo dự án
và tổng mức đầu tư)
- Theo nguồn vốn đầu tư: dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước;
Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn
Theo Nghị quyết số 05/NQ-1997-QH công trình quan trọng quốc gia là
"các công trình quan trọng" nêu tại Điều 19 của Luật tổ chức Chính phủ, "các chương trình, dự án quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng" nêu tại khoản 5, Điều 15 của Luật ngân sách Nhà nước, "dự án có ảnh hưởng lớn đến môi trường" nêu tại Điều 18 của Luật bảo vệ môi trường và dự án đầu tư quan trọng, dự án lớn và quan trọng, công trình quan trọng, dự án xây dựng cơ bản quan trọng '' nêu trong Nghị quyết số 02/1997/QH9 của Quốc hội khoá IX tại kỳ họp thứ 11 Công trình quan trọng quốc gia trong Nghị quyết này được hiểu là một công trình độc lập hoặc một cụm công trình có mối liên kết với nhau, theo quy định nêu tại Điều 2 Cũng theo Điều 2 của Nghị quyết, công trình
có một trong các tiêu chuẩn sau đây là công trình quan trọng quốc gia:
1 Công trình có quy mô vốn đầu tư từ 10.000 tỷ đồng Việt Nam trở lên (theo thời giá năm 1997)
2 Công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường hay tiềm ẩn ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường
3 Công trình phải di dân tái định cư từ 50.000 người trở lên ở vùng đông dân
cư, từ 20.000 người trở lên ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số
4 Công trình bố trí trên các địa bàn đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh hoặc có di tích lịch sử, văn hoá quan trọng, tài nguyên đặc biệt
5 Công trình đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội xem xét, quyết định
Trang 28và nguyện vọng của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ mong muốn đóng góp tâm trí và sức lực cho sự nghiệp phát triển của đất nước
Thực hiện ChØ thÞ 45-CT/TW ngµy 11/11/1998 cña Bé ChÝnh trÞ (kho¸ VIII) về “Đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 14/2000/CT-TTg về việc triển khai thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 22/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về hoạt động tư vấn phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam Từ khi Quyết định được ban hành, Liên hiệp các hội
khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã nỗ lực triển khai thực hiện nhiệm vụ này và
bước đầu đạt một số kết quả tốt, giúp cho các cơ quan Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và triển khai đường lối, chủ trương, chính sách và các dự án đầu tư phát triển
Trang 291.2.1 Khái niệm:
Để làm rõ các khái niệm, trong Quyết định này đã định nghĩa hoạt động TVPB&GĐXH tuy không nêu rõ nhƣng hoạt động này đƣợc hiểu trên cơ sở gộp 3 khái niệm: tƣ vấn xã hội, phản biện xã hội và giám định xã hội:
“Tư vấn là hoạt động trợ giúp về tri thức, kinh nghiệm, cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá và kiến nghị trong việc đề xuất, xây dựng hoặc thẩm định, phê duyệt đề án
Phản biện là hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề
án đối với mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra
Giám định xã hội là hoạt động theo dõi việc thực hiện đề án, đưa ra các
ý kiến phân tích, đánh giá và kiến nghị kịp thời về việc tổ chức thực hiện, mục tiêu, nội dung hoặc chất lượng đề án”
1.2.2 Phạm vi:
Phạm vi đƣợc đề cập đến trong Quyết định này là: “các đề án phát triển
kinh tế - xã hội của nhà nước thuộc các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của Liên hiệp hội”
1.2.3 Đối tƣợng:
Trong Quyết định này, đã làm rõ các đối tƣợng khác nhau liên quan đến hoạt động TVPB&GĐXH, cụ thể: Đối tƣợng thực hiện nhiệm vụ tƣ vấn, phản biện và giám định xã hội theo quyết định này là Liên hiệp hội và các Hội thành viên của Liên hiệp hội (là các Hội khoa học và kỹ thuật ngành Trung ƣơng và Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng)
Nhƣ vậy, đối tƣợng đƣợc Chính phủ giao thực hiện nhiệm vụ TVPB&GĐXH là Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên (bao gồm các hội ngành trung ƣơng và liên hiệp hội các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ƣơng) Trong điều kiện thực tiễn tại Việt Nam, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với
Trang 30hệ thống chính trị đó là cần phải phát huy vai trò phản biện từ các tầng lớp nhân dân nói chung và phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên khác của Mặt trận, các đoàn thể chính trị-xã hội trong đó có Liên hiệp hội Việt Nam
Đối tượng đặt yêu cầu TVPB&GĐXH cho Liên hiệp hội và các Hội thành viên trong văn bản này là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là các cơ quan)
Đối tượng TVPB&GĐXH quy định trong văn bản này là các chính sách, các chương trình, dự án, đề án về phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ và môi trường (gọi chung là đề án) có tính chất phức tạp,
ưu tiên, trọng điểm hoặc đa ngành, do các cơ quan xây dựng, thực hiện hoặc trình cấp trên phê duyệt
- Liên hiệp Hội và các Hội thành viên tự đề xuất nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với các đề án quan tâm, tổ chức thực hiện và đề xuất kiến nghị gửi tới các cơ quan có liên quan và các cấp có thẩm quyền xem xét
1.2.5 Quyết định 22/2002/QĐ-TTg: Những vấn đề thực tiễn
Từ khi ra đời, Quyết định 22 đã góp phần thay đổi cách nhìn nhận của xã hội về hoạt động TVPB&GĐXH ở nước ta Tuy nhiên, trong Quyết định này còn nhiều điểm bất cập làm hạn chế kết quả của hoạt động TVPB&GĐXH Cụ thể trong Quyết định này cần làm rõ những vấn đề sau:
Trang 31Cụm từ “TVPB&GĐXH” xuất hiện lần đầu tiên tại Điều lệ của Liên hiệp
hội Việt Nam (khoá II) sau khi Chỉ thị 35 - CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá V) được ban hành và là một trong những nội dung chủ yếu của văn kiện quan trọng đó Vừa qua đã có những sự hiểu lầm cụm từ này
Cách hiểu lầm thứ nhất, về thực chất TVPB &GĐXH đều là tư vấn, chỉ
khác nhau ở khâu tác động
Cách hiểu lầm thứ hai cho rằng hoạt động TVPB &GĐXH của Liên hiệp
hội Việt Nam và các hội thành viên chỉ liên quan đến khía cạnh khoa học xã
hội của các dự án Các hiểu như vậy là chưa chính xác, cụm từ “xã hội” ở đây
là chỉ hoạt động TVPB&GĐ của các lực lượng xã hội, mang tính chất xã hội chứ không phải nhà nước
Cách hiểu lầm thứ ba thì từ xã hội chỉ gắn với khái niệm giám định Văn
bản mới có thể khắc phục những sự hiểu lầm này bằng cách trình bày rõ ràng, chính xác các khái niệm tư vấn, phản biện và giám định, giúp người đọc phân biệt được các khái niệm đó, đồng thời cũng thấy được mối quan hệ qua lại giữa chúng Văn bản mới cũng cần khẳng định rằng TVPB&GĐXH là cách viết gọn
của tư vấn xã hội, phản biện xã hội và giám định xã hội, được thực hiện từ phía
xã hội, bởi những lực lượng xã hội và mang tính chất xã hội Bên cạnh đó,
cũng cần làm rõ khái niệm TVPB&GĐXH có những điểm tương đồng với tư vấn chuyên nghiệp về mặt đảm bảo luận chứng khoa học, kinh tế - kỹ thuật, nhưng có sự khác nhau: một đằng là hoạt động tư vấn của các nhà kinh doanh
vì lợi nhuận, một đằng là hoạt động phi lợi nhuận, vì mục tiêu lợi ích xã hội và trách nhiệm của công dân Hơn nữa, tư vấn chuyên nghiệp thường thực hiện những đề tài chuyên môn hẹp trong đầu tư các dự án kinh tế - kỹ thuật, còn TVPB&GĐXH nhằm vào các lĩnh vực rộng lớn, liên ngành
Về hình thức thực hiện, khi được hỏi ý kiến, các chuyên gia đã nêu lên những hạn chế của Quyết định 22 và đề nghị trong văn bản mới cần đề ra
những quy định cụ thể về các loại đề án, phải có sự TVPB &GĐXH của Liên
hiệp hội Việt Nam, các hội thành viên hoặc các tổ chức xã hội khác Đó là:
Trang 32- Các dự án luật; các dự án đầu tư đặc biệt quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội;
- Các dự thảo nghị định; các chính sách, chiến lược, chương trình, quy hoạch và dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, chủ yếu là trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, bảo vệ môi trường thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ;
- Các dự án đầu tư nhóm A và các chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ trưởng, của Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan trung ương khác;
- Các chính sách, chiến lược, chương trình, quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Các dự án đầu tư quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Đối với các đề án nằm trong loại này, thuộc thẩm quyền phê duyệt của
mình hoặc trình cấp trên phê duyệt, các cơ quan có trách nhiệm đặt yêu cầu
TV, PB &GĐXH cho Liên hiệp hội Việt Nam và/hoặc các hội thành viên Đối với các đề án không thuộc loại này thì, tuỳ theo tính chất phức tạp, ưu tiên,
trọng điểm hoặc đa ngành, các cơ quan có thể đặt yêu cầu TV, PB &GĐXH
cho Liên hiệp hội Việt Nam và/hoặc các hội thành viên – Ngoài ra, Liên hiệp
hội Việt Nam và các hội thành viên còn có thể tự đề xuất nhiệm vụ TV, PB
&GĐXH đối với các đề án quan tâm, tổ chức thực hiện và đề xuất kiến nghị gửi tới các cơ quan có liên quan và các cấp có thẩm quyền xem xét, kể cả đối với các đề án mà các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc trình cấp trên, nhưng không thực hiện trách nhiệm đặt yêu cầu TV, PB &GĐXH cho Liên hiệp hội Việt Nam và/hoặc các hội thành viên
Trong thời gian qua, Thông tư 27/2003TT-BTC của Bộ Tài chính hướng
dẫn cơ chế tài chính cho hoạt động TV, PB &GĐXH của Liên hiệp hội Việt Nam đã bước đầu phát huy tác dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho Liên hiệp hội
Trang 33Việt Nam và các hội thành viên Đây là văn bản đầu tiên cụ thể hoá Quyết định
22 trong đó xác định rõ kinh phí cho hoạt động TVPB&GĐXH đối với các chương trình, dự án, đề án về phát triển kinh tế-xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp chi phí phục vụ trực tiếp cho các hoạt động này Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nhất là ở các địa phương, những quy định về nguồn kinh phí và cơ chế tài chính phục vụ cho hoạt động này chưa thật rõ ràng và do đó tính khả thi chưa cao Sắp tới, về cơ bản vấn đề tài chính có thể được giải quyết bằng các biện pháp sau đây:
Đối với các đề án do các cơ quan đặt yêu cầu hoặc do Liên hiệp hội Việt
Nam tự đề xuất và được chấp thuận Bộ Tài chính (hoặc Sở Tài chính các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương) thực hiện việc cấp kinh phí từ nguồn sự
nghiệp khoa học và công nghệ trên cơ sở dự toán hàng năm của Liên hiệp hội
Việt Nam và/hoặc các hội thành viên Để tạo điều kiện cho Liên hiệp hội Việt
Nam và/hoặc các hội thành viên thực hiện các nhiệm vụ TVPB&GĐXH đột
xuất, ngoài khả năng kế hoạch hoá, hàng năm các cơ quan tài chính tạm ứng
một khoản kinh phí dành riêng cho hoạt động này Riêng đối với các dự án đầu
tư phát triển, cơ quan đặt yêu cầu TVPB&GĐXH cho Liên hiệp hội Việt Nam
và/hoặc các hội thành viên có trách nhiệm cung cấp tài chính để thực hiện nhiệm
vụ trên cơ sở hợp đồng theo các quy định hiện hành của pháp luật
Hình thức thực hiện TV,PB&GĐXH:
Trong Quyết định 22 nêu lên 2 hình thức thực hiện đó là:
- Do các cơ quan đặt yêu cầu;
- Do Liên hiệp hội Việt Nam tự đề xuất
Trong thực tế, điều này dẫn đến các cơ quan không đặt yêu cầu thì cũng không thực hiện được nhiệm vụ TVPB&GĐXH Ở trường hợp thứ hai, Liên hiệp hội Việt Nam tự đề xuất nhưng chủ đầu tư không chấp thuận thì cũng không tiến hành TVPB&GĐXH được Chính vì vậy, trong văn bản mới cần quy định thêm hình thức thứ ba nữa đó là Liên hiệp hội Việt Nam được quyền chủ động thực
Trang 34hiện các nhiệm vụ TVPB&GĐXH Điều này làm tăng sự chủ động và hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ TVPB&GĐXH của Liên hiệp hội Việt Nam
Trang 35Cơ chế, chính sách:
Hiểu rõ vai trò, vị trí của Liên hiệp hội Việt Nam trong hệ thống chính trị của đất nước, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành các văn bản nhằm chỉ đạo, định hướng hoạt động trong đó Chỉ thị 45-CT/TW ngày 11/11/1998 của
Bộ Chính trị (Khoá VIII) khẳng định lại yêu cầu Liên hiệp hội Việt Nam cần đẩy mạnh “Tư vấn, phản biến và giám định xã hội trong hoạt động khoa học, công nghệ nhằm góp phần thiết thực của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Sau Chỉ thị 14/2000/CT-TTg ngày 1/8/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/1/2002 về hoạt động TVPB&GĐXH của Liên hiệp hội Việt Nam Tiếp theo đó, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 27/2003/TT-BTC ngày 1/4/2003 hướng dẫn cơ chế tài chính cho hoạt động TVPB&GĐXH của Liên hiệp hội Việt Nam Quyết định 22 là
sự cụ thể hoá điểm 2 trong Chỉ thị 14/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về việc triển khai các biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam Nó có ý nghĩa hết sức quan trọng và mở ra một bước phát triển mới, một khả năng thuận lợi mới cho hoạt động của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên trong việc tập hợp đông đảo lực lượng cán bộ khoa học-công nghệ đa ngành và liên ngành góp phần nhằm giải quyết những vấn đề trọng tâm của đất nước, đồng thời cũng đề ra những yêu cầu cao đối với chất lượng và hiệu quả của hoạt động đó
Theo tinh thần Quyết định 22, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 27/2003/TT-BTC ngày 01-4-2003 hướng dẫn cơ chế tài chính cho hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam Liên hiệp hội Việt Nam ban hành văn bản 733/LHH ngày 06/9/2000 hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội Đa số các Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố đã cụ thể hoá Quyết định 22 thành các chỉ thị, quyết định của địa phương mình
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai hoạt động TVPB&GĐXH, Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên đã gặp không ít các khó khăn, thách
Trang 36thức đặc biệt trong đó có vấn đề thuộc về cơ chế, chính sách Việt Nam hiện vẫn trong quá trình chuyển đổi nên quan niệm nhà nước làm tất và chỉ có các
cơ quan nhà nước mới có thể làm tốt đựơc vẫn đang ngự trị, điều khiến cho khái niệm đánh giá độc lập bị hạn chế rất nhiều, đặc biệt là ở các cấp địa phương và các vùng sâu, vùng xa
Việc tiếp cận thông tin hiện đang rất bị hạn chế cũng như chất lượng thông tin không cao và trong nhiều trường hợp bị điều chỉnh khá nhiều khiến cho việc thu thập thông tin và đánh giá chính xác là rất khó khăn
Các cơ quan nhà nước bị ảnh hưởng của bệnh thành tích nhiều, điều khiến cho hoạt động TVPB&GĐXH dễ bị coi là hoạt đông soi mói vào nội tình
cơ quan đựơc đánh giá nên các cơ quan này thưòng không mặn mà với hoạt động TVPB&GĐXH và không phải lúc nào cũng có thái độ cởi mở với các kết quả TVPB&GĐXH
Hoạt động TVPB&GĐXH của Liên hiệp hội Việt Nam, đặc biệt là tại các liên hiệp hội địa phương còn gặp nhiều khó khăn về cơ chế, chính sách để Liên hiệp hội Việt Nam và các tổ chức thành viên chủ động thực hiện nhiệm vụ này Nguyên nhân do nhận thức của một số cơ quan Đảng, Nhà nước về hoạt động TVPB&GĐXH chưa đúng với đường lối, quan điểm của Đảng Vì vậy,
có những chỉ thị, quyết định của Đảng, Nhà nước chưa được các cấp uỷ đảng, chính quyền triển khai thực hiện kịp thời và đầy đủ Hành lang pháp lý vẫn chưa thuận lợi cho Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên thực hiện nhiệm vụ Một số bộ, ngành, địa phương chưa tạo nhiều điều kiện, giúp đỡ cho hội hoạt động
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, đòi hỏi sự tham gia ngày càng sâu rộng của các tầng lớp nhân dân vào hoạt động quản lý của Nhà nước Nhân dân đóng vai trò người chủ, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước Tiếng nói của nhân dân phải được đa dạng hoá thông qua nhiều kênh khác nhau trong đó có kênh từ phía các nhà khoa học thuộc Liên hiệp hội Việt Nam Để hoạt động TVPB&GĐXH có hiệu quả, đòi hỏi cần có sự thay đổi về
cơ chế, chính sách của Nhà nước nhằm nâng cao vai trò, hiệu quả của nhiệm vụ
Trang 37này đối với quá trình hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao chất lượng các công trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế và chăm sóc sức khoẻ Muốn vậy, trước mắt cần sửa đổi, thay thế Quyết định 22 tạo tiền đề cho việc tăng cường
sự chủ động tham gia ý kiến của các tổ chức xã hội đối với quá trình hoạch định chính sách cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội của các dự án, chương trình của Nhà nước và các bộ, ngành, địa phương
Kết luận Chương I:
TVPB&GĐXH là một nhiệm vụ quan trọng nhưng còn mới mẻ và chưa
có tiền lệ ở Việt Nam Sự phổ biến của những thuật ngữ này trong những năm gần đây cho thấy xu hướng và nhu cầu bức thiết của xã hội Việt Nam trong quá trình hội nhập Hoạt động TVPB&GĐXH thực chất là nhằm cung cấp các cơ
sở, luận cứ khoa học độc lập, khách quan trong việc đề xuất, xây dựng, thẩm định hoặc thực hiện đề án Do vậy, TVPB&GĐXH là những kênh cung cấp thông tin rõ ràng, trung thực cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách trước nguy cơ khủng hoảng thừa và nhiễu thông tin Tuy nhiên, TVPB&GĐXH chỉ có thể tiến hành được trong những điều kiện nhất định nếu không muốn rơi vào tình trạng hình thức, tốn kém tiền của, thời gian và công sức Trước đòi hỏi của quá trình phát triển, Chính phủ đã ban hành Quyết định 22/2002/QĐ-TTg tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động TVPB&GĐXH từng bước đi vào cuộc sống, đáp ứng nguyện vọng và sự mong đợi của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ nước nhà Tuy nhiên, để đánh giá hiệu quả của Quyết định này đối với hoạt động TVPB&GĐXH của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên, cần có cách tiếp cận khách quan, khoa học đối với những dự án, công trình cụ thể có sự tham gia của tổ chức này
Trang 38CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, PHẢN BIỆN VÀ GIÁM ĐỊNH XÃ HỘI CỦA LIÊN HIỆP HỘI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN 2010
2.1 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Liên hiệp hội Việt Nam
Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp hội Việt Nam) được thành lập theo Quyết định số 121/HĐBT ngày 29/7/1983 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là tổ chức chính trị-xã hội đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam Liên hiệp hội Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức như sau:
2.1.1.Chức năng của Liên hiệp hội Việt Nam:
- Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội thành viên, của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam
- Tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong nước, trí thức khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài, điều hoà, phối hợp hoạt động của các hội thành viên Liên hiệp hội Việt Nam được thành lập ngày 26/3/1983 tại Hà Nội với số lượng ban đầu gồm 14 hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và Liên hiệp khoa học kỹ thuật Hà Nội Trải qua một phần gần
30 năm hoạt động, công tác tập hợp đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong nước phát triển ngày càng mạnh mẽ Tính đến 6 tháng đầu năm
2011, tổ chức của Liên hiệp hội Việt Nam đã có 57 Liên hiệp hội tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (trong đó có 35 tỉnh, thành phố có Đảng đoàn Liên hiệp hội địa phương), 72 hội ngành toàn quốc và trên 300 tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc Trong 6 tháng đầu năm 2011, nhiều Hội thành viên, đặc biệt là các Liên hiệp hội địa phương đã chú trọng công tác củng cố và thành lập thêm các hội thành viên mới; đề xuất với UBND các tỉnh xây dựng trụ sở làm việc, bổ sung nhân sự và kiện toàn tổ chức bộ máy của Liên hiệp hội địa phương Xuất phát từ nhận thức rằng các cộng đồng người Việt Nam định cư ở
Trang 39nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc, Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên luôn chú trọng phát triển quan hệ với trí thức khoa học – công nghệ người Việt Nam định cư ở nước ngoài Các mối quan hệ này ngày càng đi vào thực chất và có hiệu quả Thường xuyên có các cuộc trao đổi, sinh hoạt học thuật giữa Liên hiệp hội Việt Nam với trí thức Việt Nam ở nước ngoài
- Làm đầu mối giữa các hội thành viên và các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức khác nhằm giải quyết những vấn đề chung trong hoạt động hội Ngay từ những ngày đầu thành lập, Liên hiệp hội Việt Nam đã được sự quan tâm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 11/4/1988 của Ban
Bí thư chỉ rõ: “Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam được tổ chức
và hoạt động theo cơ cấu và quy chế của một đoàn thể quần chúng cấp trung ương” Chỉ thị 45-CT/TW ngày 11/11/1998 của Bộ Chính trị xác định: “Liên hiệp hội Việt Nam là một tổ chức chính trị-xã hội của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam, cùng với các đoàn thể chính trị-xã hội khác tạo thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp hội Việt Nam luôn luôn tích cực và chủ động hưởng ứng các hoạt động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động Trong số các nhà khoa học do Liên hiệp hội Việt Nam giới thiệu theo sự hiệp y và hướng dẫn của Mặt trận đã có trên 40 người trúng cử đại biểu Quốc hội các khoa IX, X, XI, XII, XIII Nhiều đại biểu các các liên hiệp hội tỉnh/thành phố cũng được bầu vào Hội đồng Nhân dân địa phương
- TVPB&GĐXH về khoa học và công nghệ, kinh tế và xã hội cho các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác Đây là thế mạnh của Liên hiệp hội Việt Nam được Đảng và Nhà nước rất khuyến khích thông qua các văn kiện như Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị năm 1998 hay Quyết định 22/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 2002 và được Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên thực hiện, trước hết thông qua việc động viên và tổ chức cho đông đảo các nhà khoa học nghiên cứu và phát biểu ý kiến đóng góp vào các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước như Báo cáo chính trị trình Đại hội
Trang 40Đảng, Hiến pháp sửa đổi, Chiến thượng phát triển kinh tế-xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, các chương trình, dự án đầu tư lớn, phức tạp, liên ngành Có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác này là 16 dự án đầu
tư trọng điểm, trong đó nổi bật là dự án Thuỷ điện Sơn La, đường Hồ Chí Minh (đoạn qua Vườn quốc gia Cúc Phương); Thay nước Hồ Tây; Khai quật khảo cổ Hoàng thành Thăng Long; Phòng chống dịch cúm gia cầm; Quy hoạch phát triển Hà Nội hai bên bờ sông Hồng
2.1.2 Nhiệm vụ của Liên hiệp hội Việt Nam:
- Củng cố, phát triển tổ chức, đẩy mạnh hoạt động của các hội thành viên
- Góp phần xã hội hoá các hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân
- Phát triển công tác vận động trí thức khoa học và công nghệ
- Thực hiện vai trò thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội của Nhà nước
- Tăng cường hợp tác với các hội, các tổ chức phi chính phủ các nước, tham gia các tổ chức khoa học và công nghệ của khu vực và quốc tế
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Liên hiệp hội Việt Nam:
Tổ chức của Liên hiệp hội Việt Nam (xem Phụ lục 3)
2.2.Khái quát nhiệm vụ TVPB&GĐXH của Liên hiệp hội Việt Nam:
TVPB&GĐXH là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Liên hiệp hội Việt Nam Nhiệm vụ này đã được xác định rõ trong Điều lệ của Liên hiệp hội Việt Nam, đặc biệt trong Chỉ thị 45/CT-TƯ ngày 11 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chỉ thị 14-2000/CT-TTg ngày 1 tháng 8 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ và gần đây nhất là Chỉ thị 42-CT/TW của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương