Đề tài đưa ra những giải pháp nhân nhanh kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ trong nuôi thủy sản thông qua việc thành lập các nhóm liên kết sản xuất, tổ hợp tác,...nhằm nâng cao ki
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
LÊ THỊ THANH HƯƠNG
XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỔ LIÊN KẾT SẢN XUẤT ĐỂ CHUYỂN GIAO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NUÔI THUỶ SẢN CHO NÔNG DÂN VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ THANH HƯƠNG
XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỔ LIÊN KẾT SẢN XUẤT ĐỂ CHUYỂN GIAO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NUÔI THUỶ SẢN CHO NÔNG DÂN VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 60.34.72
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Huy Tiến
Hà Nội 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Vấn đề nghiên cứu 4
6 Giả thuyết nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TỒ LIÊN KẾT SẢN XUẤT 8
1.1 Những khái niệm cơ bản : 8
1.1.1 Các khái niệm , thuật ngữ chung : 8
1.1.2 Khái niệm tổ hợp tác 9
1.1.3 Khái niệm về Hợp tác xã 10
1.1.4.Xây dựng mô hình tổ hợp tác 12
1.2 Vai trò của tổ hợp tác trong sản xuất 13
1.3 Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về mô hình tổ hợp tác, Hợp tác xã 15
1.4 Những kinh nghiệm của Quốc tế và trong nước trong việc xây dựng tổ hợp tác và Hợp tác xã 17
1.4.1 Kinh nghiệm của Cộng Hòa Liên bang Đức 17
1.4.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 20
1.4.3 Phát triển trong nước 22
1.4.4 Tình hình phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã ở Long An 23
1.5 Chuyển giao kết quả nghiên cứu nuôi thủy sản cho nông dân: 26
1.6 Một vài vấn đề lý luận về xây dựng mô hình tổ liên kết sản xuất 26
*Kết luận chương 1 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NUÔI THỦY SẢN Ở VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI TỈNH LONG AN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 30
2.1 Thực trạng sản xuất nuôi trồng thuỷ sản ở tỉnh Long An từ năm 2000-đến nay 30
2.1.1 Điều kiện tự nhiên: 30
2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội tỉnh Long An: 33
2.1.3.Thực trạng sản xuất nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Long An từ năm 2000 đến nay 39
2.2 Thực trạng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực nuôi thủy sản ở vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An từ năm 2000 đến nay 40
2.2.1 Nguồn Ngân sách sự nghiệp KH&CN Long An : 40
2.2.2 Nguồn kinh phí từ các phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn của các huyện vùng ĐTM 43
2.2.3 Bàn luận kết quả về thực trạng tình hình ứng dụng các tiến bộ KH&CN trong thời gian qua: 43
Trang 42.3 Định hướng phát triển thuỷ sản vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An
đến năm 2015 44
2.3.1 Định hướng phát triển thuỷ sản của địa phương 44
2.3.2 Giải pháp thực hiện mục tiêu phát triển thuỷ sản của địa phương đến năm 2015 48
2.4 Mô hình xây dựng tổ hợp tác nuôi cá rô đồng ở xã Bình Hiệp, huyện Mộc Hóa 54
* Kết luận chương 2 59
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH TỔ LIÊN KẾT SẢN XUẤT TRONG NUÔI THỦY SẢN 60
3.1 Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ liên kết sản xuất trong nuôi thủy sản 60
3.1.1 Giải pháp về xây dựng mạng lưới cộng tác viên cơ sở 60
3.1.2 Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý KH&CN địa phương 60
3.1.3 Giải pháp về vận động “4 nhà” liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm: 63
3.1.4: Kiện toàn tổ hợp tác, Hợp tác xã theo mô hình tổ liên kết 70
3.2 Điều kiện hoàn thiện mô hình tổ liên kết sản xuất 72
3.2.1: Các chính sách về tài chính, thị trường, KH&CN 72
3.2.2: Trách nhiệm của chính quyền các cấp 73
3.2.3: Trách nhiệm của Liên minh Hợp tác xã 78
* Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN 80
KHUYẾN NGHỊ 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 5CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
UBND : Uỷ ban nhân dân
HTX : Hợp tác xã
THT : Tổ hợp tác
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
KT-XH : Kinh tế-xã hội
KTTT : Kinh tế tập thể
KTTĐPN : Kinh tế trọng điểm phía nam
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An bao gồm các huyện: Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Đức Huệ là những huyện thuộc vùng sâu, vùng xa, hàng năm có một mùa ngập lũ Trong những năm gần đây, sản xuất thủy sản có bước phát triển, có những mô hình sản xuất, khai thác hiệu quả, nuôi thủy sản đạt giá trị và lợi nhuận cao hơn nhiều lần so với sản xuất lúa
và một số cây trồng, vật nuôi khác Tuy nhiên, diện tích thả nuôi còn thấp so với tiềm năng Nhiều mô hình sản xuất cho kết quả có giá trị cao nhưng chưa được tập trung nhân rộng, công nghệ còn phổ biến quãng canh nên năng suất bình quân thấp, ứng dụng khoa học và công nghệ còn hạn chế, tổ chức sản xuất còn nhỏ lẻ, việc quản lý ao nuôi chưa chặt chẽ đưa đến dịch bệnh dễ phát sinh, các dịch vụ hậu cần, thu mua tiêu thụ còn hạn chế Do vậy mà việc phát triển thủy sản trong vùng chưa ổn định, bền vững và hiệu quả chưa cao Mặc khác nông dân ở đây chỉ chú trọng sản xuất nông nghiệp trồng lúa là chính Với lợi thế về tiềm năng diện tích mặt nước hữu ích cho hoạt động của nghề nuôi thủy sản phát triển tại địa phương, việc thúc đẩy và nâng cao hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào trong nuôi thủy sản là rất cần thiết
Xuất phát từ sự cần thiết trên, cùng với những kiến thức đã học được từ
khóa học về Quản lý Khoa học và Công nghệ, tác giả chọn đề tài “Xây dựng
mô hình tổ liên kết sản xuất để chuuyển giao kết quả nghiên cứu nuôi thủy sản cho nông dân vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An” Đề tài đưa ra
những giải pháp nhân nhanh kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ trong nuôi thủy sản thông qua việc thành lập các nhóm liên kết sản xuất, tổ hợp tác, nhằm nâng cao kiến thức cho người dân tiếp cận nhanh với thành quả của khoa học và công nghệ trong nuôi trồng thủy sản, góp phần hình thành vùng chuyên canh nuôi thủy sản có giá trị kinh tế cao
Kết quả đề tài đồng thời sẽ là cơ sở để Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn qui hoạch chương trình phát triền thủy sản, Sở Khoa học và Công nghệ
Trang 7xây dựng kế hoạch chuyển giao ứng dụng tiến bộ KH&CN trong nuôi thủy sản trên địa bàn Tỉnh
Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô hình tổ liên kết sản xuất để tiếp nhận chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong nuôi thủy sản nhằm nhân rộng mô hình là một yêu cầu cấp thiết
3 Mục tiêu nghiên cứu
Hoàn thiện mô hình tổ liên kết sản xuất để chuyển giao kết quả nghiên cứu trong nuôi thủy sản cho nông dân vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung : hệ thống các văn bản pháp luật qui định việc thành lập
tổ liên kết, tổ hợp tác, Hợp tác xã; nghiên cứu những yếu tố tác động đến những hoạt động của các thành phần trên ….; thực trạng và giải pháp phát triển thủy sản ở địa phương
Đối tượng khảo sát: Các huyện vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An (huyện Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Vĩnh Hưng, Mộc hóa, Tân Hưng)
Thời gian khảo sát: Từ năm 2000 đến nay
5 Vấn đề nghiên cứu
Phát triển thủy sản ở vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An hiện nay chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có, mặc dù diện tích mặt nước để nuôi thủy sản rất
Trang 8lớn nhưng năng suất, sản lượng còn thấp Một trong những nguyên nhân là người dân chưa tiếp cận nhiều về KH&CN, chỉ chú trọng đến phát triển trồng lúa nước là chính vì đây là truyền thống lâu đời của người dân địa phương Nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta là phải đưa nhanh tiến bộ KH&CN trong nuôi thủy sàn đến với người dân địa phương vùng nhiễm phèn ĐTM
Vấn đề đặt ra cho chúng ta là :
Vì sao phải thành lập mô hình tổ liên kết sản xuất để chuyển giao kết quả nghiên cứu nuôi thủy sản cho nông dân vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An? Làm thế nào để hoàn thiện mô hình tổ liên kết sản xuất?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Xây dựng mô hình tổ liên kết sản xuất sẽ nhân nhanh được kết quả nghiên cứu nuôi thủy sản cho nông dân vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An
Để hoàn thiện mô hình tổ liên kết sản xuất cần kiện toàn Tổ hợp tác, Hợp tác xã Nông nghiệp hiện có theo tư duy mới, xây dựng mạng lưới cộng tác viên , mạng lưới gắn kết các khâu từ nghiên cứu – sản xuất đến tiêu thu sản phẩm
7 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
a Phương pháp thu thập thông tin :
- Nghiên cứu tài liệu :
+ Thu thập tài liệu tại các cơ quan, trung tâm có liên quan
+ Phân tích tài liệu
+ Tổng hợp tài liệu
- Thực nghiệm:
Trên cơ sở thực hiện dự án: “Xây dựng tổ hợp tác nuôi công nghiệp cá rô
đồng thương phẩm (Anabas testudineus) tại xã Bình Hiệp, huyện Mộc Hóa tỉnh Long An” do chính tác giả làm chủ nhiệm dự án
+ Thành lập tổ kinh tế hợp tác
Trang 9Trên cơ sở phối hợp với phòng Kinh tế huyện Mộc Hoá, Liên minh Hợp tác xã, UBND, Hội nông dân xã Bình Hiệp, tiến hành chọn những hộ dân tự nguyện và đủ điều kiện tham gia vào tổ kinh tế hợp tác Sau đó tiến hành các thủ tục để thành lập tổ kinh tế hợp tác:
- Xác định địa điểm giao dịch tổ hợp tác
- Viết đơn xin thành lập tổ hợp tác
+ Xây dựng phương án sản xuất:
Dựa vào tình hình thực tế của từng hộ về diện tích nuôi, vốn, lao động, trang thiết bị, để có kế hoạch thực hiện tốt
+ Tập huấn kỹ thuật và tổ chức hội thảo đầu bờ cho nông dân trong và ngoài mô hình để họ tiếp cận nhanh các thành tựu khoa học và công nghệ mới
b Phương pháp xử lý thông tin :
Sắp xếp, phân loại, tổng hợp và phân tích theo các đề mục đã định trước bằng cách dùng chương trình Microsoft Excel
c Luận cứ:
* Luận cứ lý thuyết:
Hiện nay, vùng ĐTM Long An cũng có thành lập nhiều mô hình hoạt động
có hiệu quả như: Câu lạc bộ nuôi cá lóc Bình Hòa Tây, tổ hợp tác kinh tế nuôi cá
rô đồng Bình Hiệp, tổ hợp tác nuôi cá Bình Phong Thạnh, … Tuy nhiên các tổ chức nầy chưa tiếp cận nhiều từ chuyển giao kết quả nghiên cứu nuôi thủy sản
để áp dụng vào thực tế, chưa xây dựng được mối liên kết trong sản xuất
Mô hình xây dựng tổ liên kết sản xuất để tiếp nhận kết quả nghiên cứu nuôi thủy sản, người nông dân được học tập nâng cao trình độ, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất và có cơ hội được hổ trợ một phần kinh phí, được tiếp cận
Trang 10các nguồn vốn vay nhờ sự cam kết của chính quyền địa phương, các tổ chức ngân hàng
* Luận cứ thực tế:
- Phân tích, tổng hợp tài liệu có liên quan
-Kết quả thực nghiệm xây dựng mô hình tổ hợp tác kinh tế nuôi cá rô đồng -Thực trạng ứng dụng tiến bộ KH&CN ở vùng ĐTM Long An
8 Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn gồm 3 phần : mở đầu, nội dung và kết luận
Mở đầu
Nội dung
Chương I Cơ sở lý luận về xây dựng mô hình tổ liên kết sản xuất
Chương II Thực trạng tình hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong nuôi thủy sản ở vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An từ năm 2000 - đến nay Chương III Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ liên kết sản xuất trong nuôi thủy sản
Kết luận và khuyến nghị
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TỒ LIÊN KẾT
SẢN XUẤT
1.1 Những khái niệm cơ bản :
1.1.1 Các khái niệm , thuật ngữ chung :
Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật,
về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm nghiên cứu khoa học phải
có kiến thức nhất định về lãnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường
Khái niệm tổ chức :
+ „„ Theo ngôn ngữ thông thường, tổ chức được xem như tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người nhằm thực hiện một mục tiêu chung mà nếu chỉ một người hay một nhóm người không thực hiện được
+ Theo ngôn ngữ khoa học thì tổ chức là một thực thể xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp để thực hiện mục tiêu chung có 3 đặc trưng cơ bản ngang nhau :
1 Tổ chức được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng ;
2 Có cấu trúc phân công lao động nghĩa là mọi người tham gia tổ chức không phải đều được nhận việc như nhau mà được giao những việc phù hợp với yêu cầu của tổ chức, trình độ và năng lực cá nhân Tổ chức càng phát triển thì phân công lao động càng triệt để ;
3 Có một ban quản lý Ban quản lý có bổn phận đại diện cho công đồng với công việc điều phối và thực hiện mục tiêu của tổ chức ‟‟.[4 ;1]
Khái niệm liên kết hay hoà nhập nói lên sự kết hợp thích ứng với nhau giữa các yếu tố cấu thành một hệ thống, cho phép các yếu tố đó tạo thành một chỉnh thể cân đối
Trang 121.1.2 Khái niệm tổ hợp tác
Theo định nghĩa của FAO (1993) thì “nhóm sở thích (có nơi gọi là tổ hợp tác) trong nông nghiệp nông thôn” là tập hợp những người dân, hộ gia đình, hoặc bộ tộc sống chung trong cộng đồng địa phương, có kiến thức, tâm huyết – say mê các hoạt động về kinh tế xã hội ở cơ sở; tình nguyện tham gia thực hiện
vì mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhuận, sẵn sàng làm nòng cốt thúc đẩy các hoạt động đó vì sự tiến bộ an sinh xã hội, hoặc vì nâng cao hiệu quả sản xuất, hoặc vì hợp tác với nhau để tìm phương pháp mưu sinh bền vững bằng cách lồng ghép các hoạt động sản xuất nông nghiệp với các dịch vụ trong nông thôn để, trước mắt đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, sau đó nhằm tạo ra sự phát triển
bền vững trên quê hương mình
Tổ hợp tác là hình thức tổ chức của xã hội dân sự, người dân thành lập tổ giải quyết các nhu cầu sản xuất, đời sống theo hướng thoả thuận dân sự, là đầu mối liên kết với chính quyền cơ sở, đối tác của các chương trình dự án cộng đồng, là khách hàng của các doanh nghiệp, nhà cung cấp hàng hoá, nơi thực hiện công tác vận động xã hội, xây dựng cụm, dân cư, làng bản văn hoá,…
Tổ hợp tác hoạt động theo Điều 111 đến 120 của Bộ Luật Dân sự năm 2005: “Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự”
Nghị định 151/2007/NĐ-CP và Thông tư 04/2008/TT-BKH hướng dẫn tổ chức, hoạt động của tổ hợp tác với những đặc điểm cơ bản: Tổ hợp tác do các cá nhân tự nguyên thành lập, là một loại hình của kinh tế tập thể, của tổ chức xã hội dân sự số lượng thành viên tối thiểu là 3 người, UBND cấp xã chứng thực hợp đồng hợp tác; tổ hợp tác không phải là pháp nhân, hoạt động vì mục đích kinh
tế, xã hội, sở thích nhóm không trái với pháp luật
Tổ hợp tác không phải là pháp nhân kinh doanh, “không là cấp dưới” của
UBND xã, hay tổ trưởng dân phố, trưởng thôn, của Ban quản lý chương trình dự
Trang 13án do vậy mối quan hệ là hợp tác,hýớng dẫn đúng ngýời đúng việc; một số công việc nhiều tổ làm được có thể luân phiên giữa các tổ hoặc bỏ thầu chọn tổ làm tốt nhất
Các tổ hợp tác hoạt động với tinh thần tự nguyện, mỗi thành viên có trách nhiệm theo hợp đồng, theo thoả thuận cùng có lợi, do vậy các tranh chấp cần được ngăn chặn và xử lý kịp thời để giữ tình đoàn kết Hoạt động của tổ hợp tác ngoài các mục tiêu về kinh tế đối với tổ hợp tác làm kinh tế, các loại hình tổ hợp tác đều lấy tôn chỉ mục tiêu phát triển cộng đồng, hoạt động xã hội tương trợ, giúp đỡ đời sống tinh thần đến từng cá nhân và gia đình với ý nghĩa nhân văn
1.1.3 Khái niệm về Hợp tác xã
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ắch chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chắnh trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tắch luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật
HTX là phương thức tất yếu trong lao động sản xuất và các hoạt động kinh
tế, gắn liền với sự phát triển kinh tế và bị ràng buộc và qui định bởi sự tiến triển trong quá trình xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con người và phải thắch ứng với tiến trình phát triển kinh tế đó HTX phải tạo ra xung lực tăng năng suất lao động và đạt hiệu quả kinh tế cao
HTX là hình thức thực hiện các quá trình hợp tác trong hoạt động kinh tế Mục tiêu của HTX là phát triển được sức sản xuất xã hội, tiết kiệm lao động,
Trang 14tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế mới trong điều kiện mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất sớm, có thể là người Việt Nam đầu tiên, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã và truyền bá vào nước
ta, trong tác phẩm "Đường kách mệnh" viết vào năm 1927
"Hợp tác xã" trong "Đường kách mệnh" là tác phẩm lý luận điển hình, mẫu mực về HTX, là biểu hiện sinh động của sự gặp gỡ giữa văn minh phương Đông nói chung và văn hoá Việt Nam nói riêng và phương Tây, từ đó tạo ra Tư tưởng
Hồ Chí Minh về HTX
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút lý luận và kinh nghiệm hợp tác xã của thế giới, điển hình là Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật Quan niệm của Hồ Chí Minh về HTX lúc đó rất đúng với nhận thức của quốc tế, trước hết là Liên minh HTX quốc tế, Tổ chức Lao động thế giới và các nước hiện nay về HTX, về bản chất, giá trị và nguyên tắc, cách thức tổ chức HTX
Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày các quan niệm về HTX một cách hệ thống, với ngôn ngữ dung dị, dễ hiểu, và đặc biệt rất ngắn gọn, ai đọc cũng có thể hiểu được Giải thích về bản chất hợp tác xã, Người viết:
Hạt nhân, trung tâm của HTX là xã viên; xã viên hợp tác với nhau để có lợi ích thiết thực và vẫn duy trì tính độc lập của mình; xã viên là chủ đích thực của hợp tác xã, là mục tiêu mà HTX phải phục vụ; HTX là phương tiện để phục vụ
xã viên, phải đảm bảo đem lại lợi ích cho xã viên- thực là "hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ"
Để trả lời câu hỏi "tại sao người ta cần phải tham gia hợp tác xã", Bác Hồ
đã đưa ra một ví dụ cụ thể chứng minh, theo đó: người sản xuất, nhất là nông dân được chia sẻ lợi ích phát sinh cả trong quá trình trao đổi, tiêu thụ sản phẩm, tạo tiết kiệm cho xã hội thông qua giảm chi phí trung gian, tạo lợi ích cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua giá rẻ
Trang 15Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII đã bước đầu đề ra mô hình HTX tiêu dùng theo chuẩn mực quốc tế (Xã viên vừa là đồng sở hữu vừa đồng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX) Cụ thể: ở nông thôn, trên cơ sở tăng cường vai trò đơn vị kinh tế tự chủ của hộ xã viên, các HTX hướng hoạt động vào những khâu
và lĩnh vực mà hộ xã· viên không có điều kiện tự làm hoặc làm kém hiệu quả hơn kinh doanh tập thể Trong nông nghiệp, trên cơ sở phát huy tính tự chủ của
hộ gia đình, chú trọng phát triển các hình thức hợp tác và HTX cung cấp dịch
vụ, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình và trang trại" Tuy nhiên, chủ trương này chưa được thể chế hoá trong Luật Hợp tác xã năm 1996 và Luật Hợp tác xã năm 2003
Ngày nay, ở một số nước như: Đan Mạch, Hà Lan, Na uy- là những nước
có khu vực HTX mạnh và có phong trào HTX từ lâu và khá sớm trên thế giới, nhưng vẫn chưa có Luật về hợp tác xã Ngay ở nước ta, mặc dù khung pháp luật chưa đầy đủ, tổ hợp tác mà bản chất là HTX, trong những năm gần đây, vẫn phát triển rất mạnh mẽ
Thực tế này cho thấy, khi tư tưởng về HTX thấm sâu vào xã hội, nhân dân
và các tổ chức, khi đó nó trở thành sức mạnh vật chất đẩy phong trào HTX lên, ngay cả khi chưa có đầy đủ khung pháp luật về hợp tác xã
1.1.4.Xây dựng mô hình tổ hợp tác
1.1.4.1.Nội dung của việc xây dựng mô hình tổ hợp tác
Theo Thông tư số 04/2008/TT-BKH ngày 09/07/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính Phủ về tổ chức và hoạt động của Tổ hợp tác thì đối tượng áp dụng là (1) Tổ hợp tác được quy định tại Điều 1 Nghị định 151/2007/NĐ-CP (2) Tổ chức có tên gọi khác nhau như:”nhóm liên kết”, “tổ tương trợ”, “câu lạc bộ”, v.v nhưng có tính chất tổ chức và hoạt động phù hợp với quy định về tồ hợp tác tại Điều 1 Nghị định 151/2007/NĐ-CP thì có chung
Trang 16nội dung và quy định thống nhất mẫu hợp đồng hợp tác, trình tự thủ tục thành lập và hổ trợ tổ hợp tác
1.1.4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã
Đây là mô hình phát triển tự phát Cơ chế quản lý lỏng lẻo Rất khó khăn về giao dịch kinh tế, vay vốn ngân hàng hoặc đầu tư phát triển kinh tế ở quy mô lớn
Nhà nước chưa có chế tài cho việc thành lập các tổ hợp tác Cơ sở pháp lý chưa có nên ít nhận được sự hỗ trợ từ các nguồn tài trợ
Thành viên các tổ hợp tác chỉ hoạt động theo kinh nghiệm dân gian, hầu hết chưa được học qua các lớp đào tạo về quản lý, hoặc kỹ thuật
Tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác còn nhiều bất cập trong quản lý, điều hành và bản thân một số tổ còn theo nguyên tắc “tự thỏa thuận bằng lời nói” giữa các thành viên, nên không có cơ sở pháp lý để ràng buộc trách nhiệm, từ đó hiệu quả hoạt động của các tổ chưa đạt kết quả như mong muốn
Một số cấp ủy Đảng, chính quyền, ban ngành đoàn thể các cấp chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò của KTTT trong nền kinh tế; việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển KTTT và chỉ đạo xây dựng, nhân rộng các mô hình HTX kiểu mới chưa được quan tâm đúng mức
Bản thân nhiều HTX, tổ hợp tác chưa năng động, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh; trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ quản lý HTX còn nhiều bất cập
1.2 Vai trò của tổ hợp tác trong sản xuất
Là tổ chức kinh tế gọn nhẹ, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế hộ ở vùng miền núi, nông thôn
Trang 17Là phương thức mưu sinh bền vững cho người nông dân, ai cũng có thể tham gia và cùng tựa vào nhau tìm kế sinh nhai
Mang lại lợi ích trực tiếp cho tổ viên trong tổ, đặc biệt đối với các thành viên thiếu nguồn lực hoặc thiếu vốn
Thủ tục gọn nhẹ Việc thành lập tổ hợp tác dễ dàng, chỉ cần các hộ thống nhất sau đó thông qua chính quyền cấp xã
Các thành viên trong tổ hầu hết là những người chung ngành nghề, chung
sở thích nên khi sát nhập với nhau sẽ tăng thêm kinh nghiệm, tăng nguồn vốn, tăng mạnh sản phẩm có chất lượng, đồng thời cũng cùng chịu trách nhiệm
Thuận tiện trao đổi thông tin về khoa học kỹ thuật, thị trường, giá cả
Tổ hợp tác đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao mức sống của người nông dân, là phương thức mưu sinh rất bền vững mà hiện nay nông dân ở nhiều vùng đang thực hiện
Tổ hợp tác đáp ứng và khắc phục được một số mặt yếu kém của kinh tế hộ như thiếu vốn, công cụ, kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất; tăng sức cạnh tranh thị trường Do đó, tổ hợp tác đã góp phần nâng cao năng lực của kinh tế hộ; giúp các hộ sử dụng có hiệu quả hơn về đất đai, lao động, vật tư và tiền vốn; tiếp nhận những thông tin, tiến bộ khoa học - kỹ thuật góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh của kinh tế hộ
Tổ hợp tác phát huy tinh thần tương thân, tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất, đời sống, nhiều tổ thực sự đã giúp tăng thu nhập cho các hộ thành viên thông qua hợp tác, góp phần xoá đói, giảm nghèo; đồng thời còn là cầu nối giữa chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội với người nông dân trong công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
Có thể nói kinh tế hợp tác đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần tích cực trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, ổn
Trang 18định đời sống cho bà con xã viên, xóa đói, giảm nghèo, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Mặt khác, mô hình kinh tế hợp tác khơi dậy tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau, phát huy được sức mạnh tập thể cùng nỗ lực vượt qua những khó khăn tiến đến xu thế phát triển bền vững Một yếu tố quan trọng nữa, phát triển kinh tế hợp tác không chỉ là phát triển kinh tế mà còn góp phần quan trọng củng cố an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương
1.3 Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về mô hình tổ hợp tác, Hợp tác xã
Văn kiện Đại hội Đảng viết : „„Phát triển kinh tế hợp tác với nhiều hình thức
đa dạng, từ thấp đến cao, từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã, tuân thủ nguyên tắc
tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi, quản lý dân chủ HTX được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên có quyền như nhau đối với công việc chung Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và có chính sách khuyến khích ưu đãi, giúp đỡ kinh tế hợp tác phát triển có hiệu quả Thực hiện tốt Luật Hợp tác xã‟‟ (VKĐH – trang 95)
Năm mươi năm qua (1958 - 2008) chủ trương, đường lối và chính sách phát triển hợp tác xã (HTX) của Đảng và Nhà nước ta luôn thống nhất Sợi chỉ
đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử là từng bước đổi mới HTX theo hướng phù hợp với điều kiện khách quan HTX được phát triển theo các nấc thang, trình độ khác nhau có thăng, trầm trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá chỉ huy, bao cấp kéo dài dẫn tới quan liêu sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở những chủ trương, đường lối lớn của Đảng, đã khẳng định: kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các HTX hoạt động có hiệu quả Điều đó là kết quả của một thời gian dài vận động thực
Trang 19tiễn và tổng kết lý luận của Đảng và Nhà nước ta về HTX Sự khẳng định của Hiến pháp năm 1992 đã tạo đà cho sự đổi mới không ngừng về cơ chế quản lý phát triển HTX của Nhà nước
Trên cơ sở những điều mà Hiến pháp năm 1992 viết về kinh tế tập thể, ngày 20/3/1996, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá 9, Luật HTX được thông qua,
mở ra một trang sử mới cho công tác tổ chức, quản lý và phát triển kinh tế tập thể nói chung, HTX nói riêng Luật HTX 1996 ban hành là cơ sở pháp lý bước đầu cho việc chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới Theo đó Chính phủ đã ban hành một loạt các văn bản dưới luật như: (1) Nghị định 15/CP ngày 21/1/1997 quy định chính sách khuyến khích phát triển HTX; (2) Nghị định 16CP ngày 21/2/1997 về xử lý công nợ của HTX cũ chuyển đổi sang hoạt động theo luật; và (3) Thông tư số 14 BKH ngày 29/3/1997 của Bộ kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn việc chuyển đổi và đăng ký gia đình HTX Dưới
sự điều chỉnh của hệ thống các luật và văn bản dưới luật trên, quá trình phát triển HTX ở nước ta diễn ra theo hai hình thức sau: chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới và thành lập mới các HTX với chức năng chủ yếu là cung cấp dịch vụ cho hộ xã viên cho cộng đồng và tạo việc làm cho những người lao động dễ bị tổn thương trong cơ chế kinh tế thị trường
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Luật HTX sửa đổi đã được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 4 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2004 Luật đã có nhiều thay đổi tích cực so với Luật của năm 1996, tạo ra nhiều thuận lợi và thông thoáng hơn cho các HTX phát triển Theo Luật, HTX có được khung khổ pháp lý hoàn chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường và các chuẩn mực quốc tế
Phạm vi hoạt động của các HTX đã được mở rộng, không chỉ giới hạn trong ngành nông nghiệp mà đã lan rộng sang các ngành và các lĩnh vực kinh tế khác trong nền kinh tế
Trên thế giới, mọi người đang nỗ lực tạo ra những cơ hội kinh tế và cố gắng kiểm soát số phận thông qua việc trở thành thành viên của các loại hình HTX
Trang 20khác nhau HTX cho phép cá nhân đạt được mục tiêu kinh tế từ cấp địa phương đến toàn cầu mà không thể có được trong hoạt động đơn lẻ Đối với các nước đang phát triển, cơ hội này không chỉ là chìa khóa để xóa đói nghèo mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và an ninh toàn cầu
Ở những nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi, HTX là công cụ hữu hiệu điều chỉnh khiếm khuyết của thị trường tự do, hạn chế sự cản trở đến hầu hết những người hoạt động trong khu vực tư nhân, đặc biệt đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực truyền thống và ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng
xa, miền núi, hải đảo
Ở các quốc gia trải qua những chuyển đổi kinh tế và chính trị, những nỗ lực cải tổ vẫn chưa đủ thời gian hoặc chưa đủ các nguồn lực để điều chỉnh thị trường Bởi vậy, cùng với các loại hình doanh nghiệp khác, HTX có thể khuyến khích sự cạnh tranh bằng cách tạo môi trường kinh doanh cởi mở để tiếp cận thông tin thông qua mạng lưới thị trường tốt hơn, giảm rào cản đối với việc tiếp cận thị trường bằng cách huy động các nguồn lực và nâng cao khả năng đàm phán của cá nhân thông qua họat động tập thể
Đầu tư phát triển HTX là đầu tư vào việc tạo ra và củng cố hoạt động kinh doanh bền vững, có tiềm năng tác động quy mô lớn khi nó giúp những hộ dân thoát nghèo đồng thời cung cấp các dịch vụ đời sống xã viên và bảo vệ tài sản của người nghèo HTX có tác động kinh tế quan trọng ở những nước đang phát triển trong nhiều lĩnh vực khác nhau
1.4 Những kinh nghiệm của Quốc tế và trong nước trong việc xây dựng tổ hợp tác và Hợp tác xã
1.4.1 Kinh nghiệm của Cộng Hòa Liên bang Đức
„„HTX ở Đức được thành lập từ những năm 1890 Khởi điểm là Ngân hàng HTX (ở khu vực đô thị được lấy tên là Ngân hàng Nhân Dân, ở khu vực nông thôn là Ngân hàng Raiffeisen- tên của người được tôn vinh là sáng lập ra mô hình HTX ở CHLB Đức- ông F.W Raiffeisen) Đến cuối năm 2008, Đức có
Trang 21khoảng hơn 7.300 HTX với 21 triệu xã viên và hoạt động ở hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Trong đó, các ngành, lĩnh vực có nhiều HTX như: tài chắnh- tắn dụng có 1.207 ngân hàng HTX với 16,2 triệu thành viên; nhà ở và xây dựng có 1.961 HTX với hơn 3 triệu thành viên; 2.994 HTX nông nghiệp với 1,9 triệu thành viên (hầu hết hộ nông dân đều là xã viên HTX); 1.092 HTX tiểu thủ- công nghiệp và dịch vụ (43 HTX chế biến thức ăn; 77 HTX sản xuất thuốc chữa bệnh, sản xuất giầy dép, hoá chất, vải sợi ; 123 HTX trang trắ nội thất, dệt thảm, 241 HTX của các bác sĩ, nhà kiến trúc, tư vấn thuế , 219 HTX sản xuất tổng hợp, 125 HTX vận tải, 157 HTX xây dựng và 7 HTX dịch vụ thương mại bán lẻ) ; 166 HTX mua Ờ bán; 161 HTX nước sạch; 54 HTX điện; 34 HTX thuỷ sản Đất nước Đức có 82 triệu dân, bình quần 4 người dân Đức có 1 người là
xã viên HTX hoặc hưởng lợi từ HTX‟‟ 1
Các HTX Đức đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội
ẤẤChỉ thống kê năm 2008: Các ngân hàng HTX của CHLB Đức có tới 30 triệu xã viên trên toàn nước Đức, dự nợ đạt 998 tỷ Euro (chiếm 20% thị phần cho vay và 25,5% thị phần tiền gửi trên toàn nước Đức Trong lĩnh vực nông nghiệp: các HTX chiếm 33% thị phần thịt và rượu các loại, 50% thị phần về ngũ cốc và rau quả, 65% thị phần sữa, doanh thu đạt 45,4 tỷ Euro Trong lĩnh vực tiểu - thủ- công nghiệp và thương mại- dịch vụ: doanh thu đạt 100,2 tỷ Euro Tổng doanh thu của các HTX (không tắnh hệ thống ngân hàng HTX), năm
2008, đạt 147 528 tỷ Euro Các HTX Đức đã tạo việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định cho 789.000 lao động, chủ yếu là lao động tại khu vực nông thôn Riêng tại Bang Baravia có 1.061 HTX, với 2.671.469 xã viên, chiếm 25% dân số toàn Bang, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 66.000 lao động, hơn 1 triệu người được hưởng lợi từ HTX Các HTX ở Bang này, hàng năm tổ chức dạy nghề cho khoảng 4.000 thanh niên địa phương và đóng góp kinh phắ tu bổ nhà thờ, trường học đóng thuế đạt 360 triệu Euro/năm Hệ thống ngân hàng HTX bang hàng năm cho vay khoảng 95 tỷ Euro (ngân sách Bang Baravia là 41 tỷ
1 http:/www.vca.org.vn: Liên Minh Hợp Tác Xã Việt Nam, Một số thông tin về phong trào HTX ở CHLB Đức ,
20.04.2010
Trang 22Euro/năm); thị phần về sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của HTX chiếm 60% ‟‟ 2
HTX Đức tôn trọng các nguyên tắc, giá trị HTX và hoạt động kinh tế như doanh nghiệp
Đạt được những kết quả hết sức ấn tượng trên, cơ bản là các HTX ở Cộng Hòa Liên Bang Đức có quá trình lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm nay, trên nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi HTX đều hướng về phục vụ xã viên, vì lợi ích của xã viên HTX nông nghiệp Tirschendorf- thành phố Plauen (HTX được thành lập từ thời kỳ CHDC Đức, sau khi sáp nhập nước Đức, HTX chuyển đổi theo cơ chế mới vào năm 1990); hiện HTX có 54 xã viên, 66 lao động làm việc thường xuyên tại HTX; vừa tổ chức sản xuất tập trung, vừa dịch vụ hỗ trợ cho các xã viên phát triển kinh tế Sản xuất tập trung, gồm: chăn nuôi lơn (400 con lơn thịt và 90 con lơn nái), trăn nuôi bò; trồng lúa mì (2.000 ha) Để tận dụng các phế thải của chăn nuôi, HTX xây dựng hệ thống xử lý phân lấy gas và làm hệ thống phát điện (biogas) bán điện cho Nhà nước Lợn, bò sau khi hết chu trình khai thác (sữa, hoặc làm giống) HTX tổ chức giết mổ, chế biến và tiêu thụ tại cửa hàng của HTX và giao cho các cửa hàng, siêu thị trong khu vực Đối với các hộ xã viên có bất cứ nhu cầu gì, HTX đều tổ chức hỗ trợ, như: thu mua sản phẩm nông nghiệp, xấy khô, dự trữ trong kho của HTX chờ khi nào được giá thì bán Tổ chức và hoạt động kinh tế của HTX không khác mấy so với doanh nghiệp Mọi hoạt động kinh tế đều được xây dựng thành kế hoạch, chiến lược; hoạt động theo một quy trình rõ ràng, quy chế chặt chẽ, khoa học; phân công, phân nhiệm cụ thể Mức nào phải thông qua Đại hội xã viên, mức nào phải thông qua Hội đồng quản trị, mức nào phải thông qua Ban giám đốc điều hành, mức nào cán bộ nghiệp vụ tự quyết định và chịu trách nhiệm trước giám đốc Các HTX còn góp vốn thành lập công ty cổ phần để tăng vốn, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Tổng công ty cổ phần thương mại Baywa (bang Baravia) là một ví dụ; doanh thu năm
2008 đạt 8,8 tỷ Euro, tổ chức sản xuất, kinh doanh tất cả các sản phẩm phục vụ
2 http:/www.vca.org.vn: Liên Minh Hợp Tác Xã Việt Nam, Một số thông tin về phong trào HTX ở CHLB Đức ,
20.04.2010
Trang 23xây dựng, sản xuất nông nghiệp trên toàn nước Đức và cả ở nước ngoài; trong
đó phần lớn (80%) là các HTX cổ đông góp vốn vào tổng công ty này
1.4.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ở Nhật Bản, các hợp tác xã nông nghiệp được tổ chức theo ba cấp: Liên đoàn toàn quốc hợp tác xã nông nghiệp; Liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp tỉnh; Hợp tác xã nông nghiệp cơ sở Các Hợp tác xã nông nghiệp cơ sở gồm hai loại: đơn chức năng và đa chức năng Từ năm 1961 trở về trước các hợp tác xã đơn chức năng khá phổ biến Nhưng từ năm 1961 trở về đây, do chính phủ Nhật Bản khuyến khích hợp nhất các hợp tác xă nông nghiệp nhỏ thành hợp tác xă nông nghiệp lớn, nên mô hình hoạt động chủ yếu của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản hiện nay là đa chức năng Các hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng chịu trách nhiệm đối với nông dân trên tất cả các lĩnh vực dịch vụ như cung cấp nông
cụ, tín dụng, mặt hàng, giúp nông dân chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo hiểm cho hoạt động của nông dân Có thể thấy ưu nhược điểm của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản qua phân tích cơ chế quản lý và chức năng hoạt động của chúng
Các hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng của Nhật bản thường đảm đương các nhiệm vụ sau:
- Cung cấp dịch vụ hướng dẫn nhằm giáo dục, hướng dẫn nông dân trồng trọt, chăn nuôi có năng suất, hiệu quả cao cũng như giúp họ hoàn thiện kỹ năng quản lý hoạt động sản xuất Thông qua các cố vấn của mình, các hợp tác xã nông nghiệp đã giúp nông dân trong việc lựa chọn chương trình phát triển nông nghiệp theo khu vực; lập chương trình sản xuất cho nông dân; thống nhất trong nông dân sử dụng nông cụ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến,… Các tổ chức Liên hiệp tỉnh và Trung ương thường quan tâm đào tạo bồi dưỡng cố vấn cho hợp tác
xã nông nghiệp cơ sở
- Mục tiêu của hợp tác xã là giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất
Do đó, mặc dù các hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị hạch toán lấy thu bù chi nhưng các hợp tác xã không đặt lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu mà chủ yếu là trợ giúp nông dân Các hình thức giao dịch giữa hợp tác xã với nông dân khá
Trang 24linh hoạt Nông dân có thể ký gửi hàng hoá cho hợp tác xã, hợp tác xã sẽ thanh toán cho nông dân theo giá bán thực tế với một mức phí nhỏ; nông dân cũng có thể gửi hợp tác xã bán theo giá họ mong muốn và hợp tác xã lấy hoa hồng; thông thường nông dân ký gửi và thanh toán theo giá cả thống nhất và hợp lý của hợp tác xã
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản do hợp tác xã tiêu thụ, hợp tác xã đã đề nghị nông dân sản xuất theo kế hoạch với chất lượng và tiêu chuẩn thống nhất với nhau và ưu tiên bán cho hợp tác xã Về phần mình, hợp tác xã định tỷ lệ hoa hồng thấp Các hợp tác xã tiêu thụ nông sản theo quy
mô lớn, không chỉ ở chợ địa phương mà thông qua liên đoàn tiêu thụ trên toàn quốc với các khách hàng lớn như xí nghiệp, bệnh viện,… Hợp tác xã đã mở rộng
hệ thống phân phối hàng hoá khá tốt ở Nhật Bản
- Hợp tác xã cung ứng hàng hoá cho xã viên theo đơn đặt hàng và theo giá thống nhất và hợp lý Các hợp tác xã đã đạt đến trình độ cung cấp cho mọi xã viên trên toàn quốc hàng hoá theo giá cả như nhau, nhờ đó giúp cho những người ở các vùng xa xôi có thể có được hàng hoá mà không chịu cước phí quá đắt Hàng tiêu dùng không cần đặt hàng theo kế hoạch trước Thông thường các hợp tác xã nhận đơn đặt hàng của xã viên, tổng hợp và đặt cho liên hiệp hợp tác
xã tỉnh, sau đó tỉnh đặt cho liên hiệp hợp tác xã toàn quốc Đôi khi liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp tỉnh hoặc hợp tác xã nông nghiệp cơ sở đặt hàng trực tiếp cho doanh nghiệp sản xuất Nhìn chung các liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp tỉnh và Trung ương không phải là cấp quản lý thuần tuý mà là các tổ chức kinh
tế, các trung tâm phân phối và tiêu thụ hàng hoá
- Hợp tác xã nông nghiệp cung cấp tín dụng cho các xã viên của mình và nhận tiền gửi của họ với lãi suất thấp Các khoản vay có phân biệt: cho xã viên khó khăn vay với lãi suất thấp (có khi chính phủ trợ cấp cho hợp tác xã để bù vào phần lỗ do lãi suất cho vay thấp) Hợp tác xã nông nghiệp cũng được phép
sử dụng tiền gửi của xã viên để kinh doanh Ở Nhật Bản có tổ chức một trung tâm ngân hàng hợp tác xã nông nghiệp để giúp các hợp tác xã quản lý số tín
Trang 25dụng cho tốt Trung tâm này có thể được quyền cho các tổ chức kinh tế công nghiệp vay nhằm phục vụ phát triển nông nghiệp
- Hợp tác xã nông nghiệp còn sở hữu các phương tiện sản xuất nông nghiệp
và chế biến nông sản để tạo điều kiện giúp nông dân sử dụng các phương tiện này hiệu quả nhất, hạn chế sự chi phối của tư nhân Các loại phương tiện thuộc
sở hữu hợp tác xã thường là: Máy cày cỡ lớn, phân xưởng chế biến, máy bơn nước, máy phân loại, đóng gói nông sản Hợp tác xã trực tiếp quản lý việc sử dụng các tài sản này
- Các hợp tác xã còn là diễn đàn để nông dân kiến nghị Chính phủ các chính sách hợp lý cũng như tương trợ lẫn nhau giữa các hợp tác xã và địa phương
- Ngoài ra, các hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản còn tiến hành các nhiệm
vụ giáo dục xã viên tinh thần hợp tác xã thông qua các tờ báo, phát thanh, hội nghị, đào tạo, tham quan ở cả ba cấp hợp tác xã nông nghiệp cơ sở, tỉnh và Trung ương
Như vậy, có thể thấy rằng hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản đã phát triển từ các đơn vị đơn năng đến ngày nay trở thành các đơn vị đa năng dịch vụ mọi mặt cho cho nhu cầu của nông dân và tổ chức liên kết qui mô lớn toàn quốc Một nước công nghiệp hoá như Nhật Bản, hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hiệu quả vẫn là hộ gia đình, do đó hợp tác xã nông nghiệp, một mặt được thành lập để hỗ trợ nông dân, giúp cho họ vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa cải thiện cuộc sống ở nông thôn, mặt khác vẫn tôn trọng mô hình kinh tế nông hộ và chỉ thay thế hộ nông dân và tư thương ở khâu nào hợp tác xã tỏ ra có ưu thế hơn hẳn trong tương quan với mục tiêu hỗ trợ nông dân
1.4.3 Phát triển trong nước
Tính tới hết năm 2005, cả nước có 17.133 hợp tác xã (HTX), trong đó có 8.511 HTX nông nghiệp, 620 HTX thương mại dịch vụ, 2.151 HTX công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp, 512 HTX xây dựng, 489 HTX thuỷ sản, 1.113 HTX giao thông vận tải, 917 HTX tín dụng, 49 HTX môi trường và 150 các loại hình HTX khác Theo đánh giá phân loại của Liên minh HTX các tỉnh, thành phố, trong
Trang 26tổng số 17.113 HTX có 38,5% HTX hoạt động có hiệu quả, chỉ còn 15,06% hoạt động yếu kém Trong năm 2005 có 917 HTX thành lập mới, ngoài ra nhiều tổ hợp tác, nhóm hợp tác tiếp tục được thành lập ở hầu hết các địa phương trên cả nước, nhất là ở ĐBSCL và một số tỉnh miền núi như: Cần Thơ (1122 tổ hợp tác), Hậu Giang (2.634 tổ hợp tác), Hà Giang (2634 tổ hợp tác), Cao Bằng (2.500 tổ hợp tác) Thực tế trong những năm qua cho thấy tổ hợp tác phát triển mạnh trong lĩnh vực dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và tín dụng nhỏ Tuy mức độ liên kết còn chưa chặt chẽ, chỉ mang tính thời vụ, song tổ hợp tác đã góp phần đáng
kể vào việc thúc đẩy kinh tế hộ phát triển Cơ cấu ngành nghề trong số HTX thành lập mới có xu hướng tăng về lĩnh vực phi nông nghiệp - chiếm 68,2% tổng
số HTX được thành lập mới Các HTX dịch vụ nông nghiệp có chiều hướng phát triển đa ngành nghề, kinh doanh tổng hợp nhằm phục vụ tốt hơn cho nhu cầu xã viên Xu thế hợp tác, liên kết giữa các HTX với cơ quan nghiên cứu khoa học, các thành phần kinh tế khác tiếp tục được mở rộng Hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX đã có nhiều chuyển biến đáng kể, phát triển và dần đi vào ổn định ở nhiều nơi HTX đóng vai trò đầu mối trong việc tham gia các chương trình kinh tế - xã hội của Nhà nước, góp phần không nhỏ vào việc xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, đặc biệt là ở khu vực vùng sâu vùng xa
1.4.4 Tình hình phát triển tổ hợp tác và hợp tác xã ở Long An
A Tổ hợp tác:
Về cơ bản, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác mặc dù được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân sự nhưng phù hợp mô hình hợp tác xã quy định tại Luật Hợp tác xã năm 2003 Sự phát triển mạnh mẽ và hoạt động có hiệu quả của
tổ hợp tác là điểm sáng nổi bật trong phát triển kinh tế hợp tác trong thời gian qua
Số lượng tổ hợp tác tăng nhanh và phổ biến ở nhiều huyện, thành phố Năm
2002, toàn tỉnh có 5.466 tổ hợp tác, đến năm 2008 đã có 6.712 tổ hợp tác, tăng bình quân khoảng 3,2%/năm Có khoảng 20% tổng số tổ hợp tác được Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực
Trang 27Tổ hợp tác hoạt động theo một số nguyên tắc hợp tác xã: thành viên tham gia tự nguyện, có nhu cầu thực sự tham gia tổ hợp tác, có góp vốn, góp sức Phần lớn tổ hợp tác tập hợp những người có cùng một nghề trong các lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ, thủ công nghiệp và có quan hệ thân thiết, cùng góp sức, vốn và tài sản để thực hiện các hoạt động chung mang lại lợi ích cho mọi thành viên mà
hộ thành viên đơn lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả; tác động tích cực thúc đẩy kinh tế hộ phát triển; bước đầu khắc phục được một số yếu kém của kinh tế hộ và tăng sức cạnh tranh trên thị trường, tăng vị thế của kinh tế hộ nông dân; phát huy tinh thần tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất, đời sống, góp phần giảm nghèo
Hoạt động của các tổ hợp tác rất đa dạng; có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ; liên kết linh hoạt, phù hợp với nhu cầu thành viên; nội dung hoạt động tuy đơn giản, nhưng phù hợp với trình độ người dân, thiết thực, có tác dụng tốt trong việc gắn kết thành viên và người lao động trong sản xuất, kinh doanh; góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho thành viên và người lao động, nhất là ở khu vực nông thôn
Lĩnh vực lớn và quan trọng nhất là nông nghiệp với 27 hợp tác xã, trong
đó 77,78% hợp tác xã có quy mô cấp xã, 22,22% hợp tác xã có quy mô liên xã, thu hút 1.126 xã viên, hộ xã viên, tăng 17 hợp tác xã so với năm 2004; bằng 0,46 lần so với số hợp tác xã bình quân/tỉnh vùng Đồng bằng sông Cữu Long năm
2004 (58 hợp tác xã) và bằng 0,2 lần so với số hợp tác xã bình quân/tỉnh của cả nước năm 2004 (129 hợp tác xã) Trong đó có 3 hợp tác xã đã ngưng hoạt động Hiện nay, các hợp tác xã nông nghiệp chủ yếu tập trung làm dịch vụ hỗ trợ cho
hộ xã viên, trong đó các khâu quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp đều
Trang 28do các hợp tác xã đảm nhận Ở các mức độ khác nhau, hợp tác xã nông nghiệp
đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn các hộ thành viên chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao, góp phần tích cực thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Về vận động “4 nhà” liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản phẩm:
Theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng Hợp tác xã phải thực hiện tốt cam kết kinh tế với xã viên, hợp tác xã cung cấp phân bón và tiêu thụ toàn bộ sản phẩm của xã viên với phương châm
“xã viên mua vật tư nông dược của hợp tác xã rẻ nhất và giao sản phẩm cho hợp tác xã với giá cao nhất” Mặt khác, hợp tác xã còn là điểm để Trung tâm khuyến nông, Sở Khoa học và Công nghệ tuyên truyền phổ biến, chuyển giao công nghệ Hợp tác xã còn là đối tác quan trọng trong việc thực hiện hợp đồng cung ứng vật tư nông dược và thu mua nông sản thực phẩm của xã viên giao cho các doanh nghiệp chế biến Hoạt động của hợp tác xã góp phần không nhỏ vào việc tạo công ăn việc làm ổn định cho nông dân trong khu vực, giảm nghèo, góp phần giúp các hộ xã viên tăng thu nhập, ổn định đời sống, làm thay đổi diện mạo cuộc sống ở nông thôn mới Hợp tác xã cần mở rộng liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh thông qua việc ký kết các hợp đồng ứng trước nguyên liệu cho xã viên và người lao động và tiêu thụ sản phẩm cho bà con nông dân, xã viên làm ra với mức giá hợp lý
Việc liên kết giữa nông dân và nhà khoa học, giữa nhà khoa học và nông dân là cơ hội tốt nhất và hết sức cần thiết để giúp cho người nông dân trang bị thêm cho mình những kiến thức trong sản xuất nông nghiệp mang tính hàng hóa trong thời kỳ hội nhập Trái lại các nhà khoa học cũng tìm thấy được những hiệu quả thực tế của công trình nghiên cứu, giá trị thực tiễn qua kết quả phản ánh của nông dân từ thực tiễn chứ không mang tính mơ hồ, lý thuyết
Trang 29Khi nước ta đã gia nhập Tổ chưc Thương mại thế giới thì việc tập hợp, liên kết với nhau để tạo nên sức mạnh, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã là việc làm cần thiết
1.5 Chuyển giao kết quả nghiên cứu nuôi thủy sản cho nông dân:
Chuyển giao kết quả nghiên cứu nuôi thủy sản cho nông dân rất đa dạng
và phong phú Phổ biến nhất là chuyển giao kết quả dưới dạng mô hình trình diễn, thử nghiệm kèm theo đầu tư có thề từ 50 đến 100 % nguyên vật liệu bao gồm con giống, thuốc thủy sản, thuốc xử lý môi tường,…và kỹ thuật hướng dẫn miễn phí
Mô hình là nơi để các hộ nông dân tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm, từ đó nhân rộng để nhiều người cùng tham gia mà không phải mất nhiều thời gian, chi phí,
Thông qua chủ trương của nhà nước khi xây dựng mô hình ở địa phương
có phối hợp với các cấp chính quyền nông dân sẽ dễ dàng tiếp cận quan hệ, giao tiếp với các đối tác như đại lý thức ăn, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng,…
Nông dân khi tiếp nhận công nghệ có điều kiện nâng cao trình độ kỹ thuật nuôi, tận dụng được nguồn lực sẵn có là lao động nông nhàn của địa phương từ
đó nâng cao thu nhập
1.6 Một vài vấn đề lý luận về xây dựng mô hình tổ liên kết sản xuất
Liên kết sản xuất được xem như một hợp tác xã thu nhỏ, trong đó các nông
hộ nhỏ lẻ được liên kết, tổ chức lại với nhau để làm đối tác với các doanh nghiệp Sự liên kết này sẽ tạo ra các lợi ích như sẽ định hướng sản xuất theo những nhu cầu của thị trường, tạo ra sản phẩm hàng hóa đủ sức cạnh tranh và có tính ổn định trên thị trường; hợp tác xã kiểu này sẽ đại diện cho các nông hộ, cá nhân trong tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho người nông dân
Bên cạnh đó, việc liên kết các hộ nông dân theo mô hình hợp tác xã thu nhỏ
sẽ giúp hạn chế số lượng cung hàng hóa trên thị trường nếu tình trạng cung vượt cầu xảy ra; tập hợp được một lượng hàng hóa đủ lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của
Trang 30các hợp đồng xuất khẩu có số lượng hàng hóa lớn, tránh được nạn ép cấp, ép giá đang diễn ra tràn lan hiện nay và một phần sẽ tiết kiệm chi phí lưu thông trong vận chuyển hàng hóa Ngoài ra, mô hình liên kết này còn giúp cho người nông dân xây dựng và bảo vệ thương hiệu, xuất xứ hàng hóa của sản phẩm mà mình làm ra; tạo ra tiềm lực tài chính đủ mạnh để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và chế biến sản phẩm chất lượng cao đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng trong và ngoài nước
Người nông dân với vai trò là chủ thể trong sản xuất nông nghiệp cần phải chủ động trong hội nhập mới có được thành công Trước hết, nông dân phải biết điểm mạnh, điểm yếu của mình trong điều kiện cụ thể ở từng địa phương để từ
đó, phát huy mặt mạnh, khắc phục yếu kém, tạo nên những lợi thế so sánh, sản xuất ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, với khối lượng ngày càng lớn và chất lượng ổn định Người nông dân cần phải biết rõ sản phẩm của mình sẽ bán
ở đâu, với phương thức thế nào, giá cả bao nhiêu, yêu cầu chất lượng sản phẩm
ra sao? Đây là vấn đề rất quan trọng, thiết thực để nông dân chủ động trong hoạch định và tổ chức sản xuất Muốn vậy, đều tất yếu là nông dân cần phải được thông tin về dự báo tình hình thị trường, được trang bị kiến thức về thị trường và những tiến bộ kỹ thuật mới để từ đó áp dụng vào sản xuất Người nông dân thời hội nhập cần phải có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành tốt Có kiến thức sẽ giúp cho việc nắm bắt thông tin thị trường, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chọn giống cây, con phù hợp và áp dụng tốt tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất và bảo quản, chế biến Kết quả của quá trình này sẽ làm cho năng suất tăng cao, chất lượng sản phẩm tốt
Một vấn đề rất quan trọng đối với nông dân thời hội nhập là cần phát huy vai trò, trách nhiệm hơn nữa trong việc liên kết trong sản xuất để khắc phục tình trạng bất cập: nhỏ lẻ, phân tán, chuyển đổi chậm, không đồng bộ, chưa liên kết thành chuỗi đang diễn ra Người nông dân cần tham gia trong tiến trình đổi mới hợp tác xã hiện nay và tiến tới hình thành các doanh nghiệp Nông dân cần chủ động trong hoạt động của hợp tác xã vì muốn sản xuất tốt trong cơ chế thị trường thì phải cùng nhau hợp tác, tăng khả năng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật,
Trang 31tăng năng lực sản xuất, khả năng vốn, tiêu thụ sản phẩm, để tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm của mình Hợp tác xã cũng giúp Người nông dân trong việc nắm bắt thông tin kịp thời về thị trường, kỹ thuật sản xuất… Thông tin sẽ giúp nông dân mở rộng tầm nhìn, tự học và nghiên cứu để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu sản xuất trong cơ chế thị trường Bên cạnh đó, thông qua hợp tác xã và các
mô hình liên kết sản xuất, nông dân có thể được áp dụng chính sách tín dụng vay vốn… với phương thức phù hợp để quyết định quy mô sản xuất của mình một cách có hiệu quả Nông dân cần phát huy khả năng của mình, thích ứng với kinh
tế thị trường, khai thác và phát huy các thế mạnh, vượt qua khó khăn, thách thức, góp phần vào phát triển chung của đất nước
*Kết luận chương 1
Nội dung chương I đã khái quát cho chúng ta các khái niệm cơ bản liên quan đến việc thành lập tổ hợp tác, Hợp tác xã Đồng thời nội dung trong chương cũng xây dựng được những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng mô hình tổ hợp tác, Hợp tác xã như: Cơ chế quản lý lỏng lẻo, chính sách ưu đãi và khả năng điều hành của địa phương, việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất…
Ngoài ra trong chương I cũng đã thể hiện kinh nhiệm của các nước châu Âu, châu Á cho thấy các mô hình tổ hợp tác, Hợp tác xã trong hoạt động đều được xây dựng thành kế hoạch, chiến lược; hoạt động theo một quy trình rõ ràng, quy chế chặt chẽ, khoa học; phân công, phân nhiệm cụ thể Mục tiêu của hợp tác xã
là giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất … Việc liên kết giữa nông dân và nhà khoa học, giữa nhà khoa học và nông dân là cơ hội tốt nhất và hết sức cần thiết để giúp cho người nông dân trang bị thêm cho mình những kiến thức trong sản xuất nông nghiệp mang tính hàng hóa trong thời kỳ hội nhập Trái lại các nhà khoa học cũng tìm thấy được những hiệu quả thực tế của công trình nghiên cứu, giá trị thực tiễn qua kết quả phản ánh của nông dân từ thực tiễn chứ không mang tính mơ hồ, lý thuyết
Trang 32Khi nước ta đã gia nhập Tổ chưc Thương mại thế giới thì việc tập hợp, liên kết với nhau để tạo nên sức mạnh, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã là việc làm cần thiết
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NUÔI THỦY SẢN Ở VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI TỈNH LONG AN TỪ
NĂM 2000 ĐẾN NAY
2.1 Thực trạng sản xuất nuôi trồng thuỷ sản ở tỉnh Long An từ năm đến nay
2.1.1 Điều kiện tự nhiên:
Tỉnh Long An nằm ở ĐBSCL và thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, được xác định là vùng kinh tế động lực đặc biệt quan trọng chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam
Tỉnh Long An ở về phía Đông Bắc ĐBSCL là cửa ngõ nối liền hai vùng Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long Ranh giới phía Đông Bắc giáp thành phố
Hồ Chí Minh (trung tâm kinh tế - công nghiệp - dịch vụ - khoa học công nghệ - đào tạo nhân lực và cũng là thị trường tiêu thụ lớn vào bậc nhất của nước ta) dài 57,5
km, được kết nối bằng hệ thống đường bộ (Quốc lộ 1A, Quốc lộ 50, đường cao tốc, đường N2 và các tuyến đường tỉnh lộ: TL8, TL10,…), đường giao thông thủy quốc gia và liên vùng tạo cho tỉnh Long An có thêm động lực và cơ hội phát triển kinh tế
- xã hội nói chung trong đó có nông - lâm - ngư nghiệp
Phía Bắc tỉnh Long An giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài: 136 km, trên tuyến biên giới có cửa khẩu Bình Hiệp (huyện Mộc Hóa) và Tho Mo (huyện Đức Huệ) tạo ra lợi thế giao thương trong đó có nông - lâm - thủy sản hàng hóa
Tỉnh Long An không chỉ sử dụng nguồn nước mặt của sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây mà còn được bổ sung nguồn nước ngọt rất đáng kể từ hai hệ thống sông Mê Công và Đồng Nai (Từ năm 1987 đến nay Hồ Dầu Tiếng thuộc hệ thống sông Đồng Nai đã bổ sung nước cho sông Vàm Cỏ Đông nên đã ngọt hóa và đẩy mặn, sắp tới có thêm nguồn nước từ Phước Hòa tưới cho 17.800,0 ha của huyện Đức Hòa
Trang 34Vị trí địa lý kinh tế đặc biệt nêu trên đã và đang được tỉnh Long An tận dụng phát huy bước đầu đem lại hiệu quả thu hút vốn đầu tư xây dựng các khu – cụm công nghiệp và mở rộng các khu đô thị tiếp giáp với TP Hồ Chí Minh như thuộc các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, …
Nghiên cứu thực trạng sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp hàng hóa phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường trên cơ sở tận dụng các lợi thế được tạo ra từ
vị trí địa lý của tỉnh Long An còn rất ít so với tiềm năng bởi các dẫn chứng sau đây:
- Tận dụng lợi thế về thị trường: vùng KTTĐPN trong đó có TP.Hồ Chí
Minh là thị trường nông thủy sản được tiêu thụ với số lượng lớn nhất Việt Nam đặc biệt là nông thủy sản tươi sống (rau, quả, tôm, cá, thịt, trứng,…) và gạo, hơn nữa cự ly vận chuyển ngắn nên cước phí vận chuyển thấp, tỷ lệ sản phẩm
bị hao hụt cũng giảm đáng kể nhưng sản xuất rau và dưa hấu từ năm 2005 đến
2008 không tăng mà còn giảm cả diện tích và sản lượng, tương tự thanh long giảm rất mạnh về diện tích (1.470 ha 982 ha, giảm đến 488 ha), v.v…
- Tận dụng lợi thế về khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp:
+ TP Hồ Chí Minh có đàn bò sữa lớn nhất cả nước: 69.531 con (chiếm 64.39%) là nơi sản xuất giống bò sữa cung cấp cho các tỉnh phía Nam, Long An
có một số huyện như Đức Hòa, … điều kiện sinh thái tương tự như Củ Chi, Hóc Môn - nơi nuôi nhiều bò sữa nhất TP Hồ Chí Minh nhưng đàn bò sữa của tỉnh Long An đến năm 2008 lại giảm so với 2007 Những tiến bộ khoa học về giống
bò sữa, kỹ thuật chăn nuôi bò sữa, … còn ít được tiếp cận lan truyền đến với các
hộ và trang trại nuôi bò sữa ở tỉnh Long An
+ TP Hồ Chí Minh đang tập trung phát triển các mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị ứng dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật mới và công nghệ cao như: trồng rau an toàn, trồng hoa cây cảnh, nuôi sinh vật cảnh (năm 2008 cá cảnh xuất khẩu đạt 4,2 triệu USD, dự kiến 2009 xuất khẩu: 10,0 triệu USD, hoa
Trang 35phong lan: 243 ha với giá trị sản lượng bình quân một ha: trồng từ 2,0 - 4,0 tỷ đồng và mới đáp ứng <20% yêu cầu của thị trường) nhưng lại ít lan tỏa đến các vùng sản xuất nông nghiệp của tỉnh Long An
- Tận dụng lợi thế để đào tạo nguồn nhân lực: TP Hồ Chí Minh là trung
tâm đào tạo nguồn nhân lực của cả nước, nhất là cho các tỉnh Nam bộ nhưng số lao động được đào tạo của Long An lại rất thấp (năm 2006 tỷ lệ lao động được đào tạo chỉ chiếm: 10,46%) và thực tế lao động có trình độ chuyên môn về nông lâm ngư nghiệp tỉnh Long An đang rất thiếu về số lượng, thấp về trình độ và chưa đảm bảo được cơ cấu ngành nghề của từng huyện, các cơ quan trực thuộc
Đặc biệt, lượng hàng hóa nông - lâm - thủy sản của Long An tiêu thụ chủ yếu là ở thị trường TP HCM, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai,…nhưng chỉ
do các thương lái nhỏ đảm nhận, thiếu vắng các hợp đồng liên doanh liên kết tiêu thụ đối với các nhà phân phối lớn như Coop Mark, Metro Cash, các doanh nghiệp kinh doanh hàng bán sỉ lớn tại chợ đầu mối Hóc Môn, Bình Điền, …
- Tận dụng lợi thế phát triển kinh tế cửa khẩu biên giới với Vương quốc Campuchia: Lượng hàng hóa nhất là nông - lâm - thủy sản giao thương qua cửa khẩu biên giới trên địa bàn Long An còn rất ít (thua kém các cửa khẩu biên giới Hà Tiên - Kiên Giang, Tịnh Biên - An Giang, Mộc Bài - Tây Ninh, Thường Phước - Đồng Tháp.)
Trang 36Tóm lại, vị trí địa lý kinh tế đã tạo ra nhiều cơ hội và lợi thế để Long An xây dựng nền nông - lâm - ngư nghiệp hàng hóa phát triển mạnh theo cơ chế thị trường trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt Song rất tiếc các cơ hội và lợi thế đã
ít được quan tâm đầu tư khai thác Thời kỳ mới 2011-2020 ngành nông nghiệp tỉnh Long An cần phải tập trung các nguồn lực khắc phục các hạn chế, khơi dậy tiềm năng, nắm bắt cơ hội để tạo bước đột phá trong phát triển nông nghiệp bền vững với các sản phẩm hàng hóa có lợi thế cạnh tranh cao
2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội tỉnh Long An:
Tình hình kinh tế - xã hội 10 năm 2000-2009 đạt được những thành tựu quan trọng, các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm 2001-2005 đều đạt và vượt kế hoạch; nhưng vẫn còn dưới mức tiềm năng phát triển của tỉnh
Giá trị sản xuất của ngành nông- lâm- ngư nghiệp (2000-2009)
Hạng
mục
2000 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Tốc độ tăng BQ
( %/năm,05-09) Giá trị
Trang 37(nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Long An năm 2009)
- Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng khá:
Tài nguyên đất nông nghiệp đã được khai thác và huy động cao qua tăng
vụ, khai hoang mở rộng diện tích, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ vào sản xuất (cơ giới hoá sản xuất, công tác khuyến nông , công tác giống ) Nhiều mô hình sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế cao bước đầu được nhân rộng như luân canh lúa, rau màu, bắp lai, nuôi b ̣ thịt,…
Các vùng chuyên canh đã được hình thành và phát triển, từng bước gắn liền phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu như vùng lúa cao sản ở Đồng Tháp Mười, vùng lúa đặc sản ở các huyện phía nam, vùng mía nguyên liệu, đậu phộng
và bò sữa, vùng rau màu ở các huyện giáp TP.HCM, rừng tập trung ở vùng Đồng Tháp Mười
Phát triển giống, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và kỹ thuật mới vào sản xuất làm tăng năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi Thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp có nhiều tiến bộ ở một số khâu
Một số sản phẩm chính trong trồng trọt và chăn nuôi đều có bước phát triển khá và ổn định như lúa, mía, đậu phộng, bò sữa
- Thuỷ sản phát triển mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rất rõ nét góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và cải thiện đời sống dân cư, tham gia
Trang 38xóa nghèo Bên cạnh hình thức nuôi quảng canh, đã xuất hiện nhiều mô hình thâm canh - bán công nghiệp và công nghiệp đạt hiệu quả cao
Thành công trong nuôi tôm sú vùng hạ và đang từng bước phát triển tôm càng xanh và cá nước ngọt ở vùng Đồng Tháp Mười tạo ra hướng đi mới trong phát triển ngành nông lâm ngư nghiệp Tuy đạt được tốc độ tăng trưởng cao (20,2%/năm) song sản xuất thuỷ sản tiềm năng vẫn còn lớn, khả năng còn phát triển cao nếu áp dụng các kỹ thuật thâm canh, nuôi công nghiệp, bán công nghiệp
- Xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản tăng bình quân là 13,4%/năm, năm 2005
đạt 150 triệu USD, bình quân 5 năm chiếm gần 42% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn
- Phát triển ngành nghề nông thôn tập trung vào các nghề truyền thống của
từng địa phương như dệt chiếu, đóng xuồng ghe, lò rèn, nấu rượu, làm bánh nhưng với quy mô hộ và cơ sở nhỏ (có khoảng 49.500 hộ với 120.000 lao động) Sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng trưởng nhanh và tạo được sự đột
phá trong cả giai đoạn thực hiện kế hoạch Bình quân 5 năm 2001-2005 giá trị
gia tăng khu vực này tăng trưởng 17,0%/năm (KH 13,5%/năm)
Công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao 17,8%/năm, ngày càng phát huy vai
trò động lực, góp phần quyết định đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh + Giá trị sản xuất công nghiệp trong nước tăng bình quân năm đạt 13,5% cao hơn giai đoạn 1996-2000 (8,5%/năm): QDTW tốc độ tăng bình quân năm 16,8%, chiếm tỷ trọng 10,7% ngành; QD địa phương đang trong giai đoạn sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa và giải thể những đơn vị thua lỗ nhiều năm liền nên giá trị sản xuất giảm, bình quân 32,5%/năm; Công nghiệp ngoài QD phát triển mạnh, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân gần 20%/năm (đã loại trừ cổ phần hóa DN nhà nước chuyển sang); năm 2005 chiếm tỷ trọng 25,8% (năm 2000 là 21,8%) Tuy nhiên, khu vực này đang có xu hướng tăng chậm lại do phần lớn đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ với trình độ công nghệ thấp nên sản phẩm cạnh tranh thấp lại gặp khó khăn về thị trường
Trang 39+ Khu vực đầu tư nước ngoài với mức đầu tư lớn, trình độ thiết bị công nghệ tiên tiến nên GTSX tăng bình quân cao nhất trong ngành 25%/năm; tỷ trọng của khu vực này tăng từ 51% năm 2000 lên 62,7% năm 2005 Tiếp tục đóng góp quan trọng trong phát triển sản xuất công nghiệp của tỉnh
Phần lớn các ngành công nghiệp phát triển ổn định, năng lực sản xuất cơ
bản đáp ứng nhu cầu như: xay xát, hạt điều nhân xuất khẩu, mía đường, thức ăn gia súc, nước khoáng, sản xuất và cung ứng điện Một số ngành có tốc độ phát triển khá cao, có tiềm năng phát triển và đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, giải quyết nhiều lao động Tuy nhiên do còn gặp khó khăn về thị trường đầu ra và nguồn nguyên liệu chưa ổn định (nhất là nguồn nguyên liệu tại chỗ), công nghệ sản xuất một số ngành còn lạc hậu nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm không cao
Hoạt động thương mại - dịch vụ được quan tâm mở rộng, nâng dần chất lượng Tốc độ tăng trưởng của ngành đạt 8,5% (KH 8 – 9%)
Mạng lưới thương mại trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển rộng khắp bước đầu đảm bảo tương đối việc giao lưu hàng hoá Tổng mức lưu chuyển hàng hoá tăng liên tục qua các năm, bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 11,3%/năm.; Kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm tăng 19,8%, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là gạo, hạt điều nhân, sản phẩm may mặc, vải ; Kim ngạch nhập khẩu bình quân hàng năm tăng 22,6%, sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu
Cửa khẩu quốc gia Bình Hiệp được hình thành bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi hàng hoá với Campuchia và các nước trong khu vực Đã tập trung đầu tư xây dựng các tuyến và điểm du lịch sinh thái như: Làng nổi Tân Lập, Lâm viên Thanh niên, hồ Khánh Hậu, khu bảo tồn Láng Sen
Chất lượng dịch vụ bưu chính, viễn thông ngày càng được nâng cao Dịch
vụ vận tải hàng hoá và hành khách cơ bản đáp ứng cầu phát triển kinh tế và đời sống nhân dân Bước đầu hình thành và phát triển các loại hình mới có doanh thu cao như: khai thác cảng, kinh doanh hạ tầng; các dịch vụ phục vụ cho các khu, cụm công nghiệp như dịch vụ ăn uống, cho thuê nhà trọ ngày càng tăng
Trang 40Hoạt động tài chính - tín dụng có bước phát triển đáng kể:
- Công tác lãnh đạo điều hành thu chi ngân sách có nhiều tiến bộ, thu ngân sách tăng bình quân 18,5%/năm Chi ngân sách tăng bình quân 13,9%/năm, chủ yếu tập trung cho đầu tư phát triển, bình quân hàng năm chiếm 41,6% tổng chi NSĐP Từng bước tiết kiệm chi quản lý hành chính, đã thực hiện khoán quỹ lương chi cho một số đơn vị
- Tổng nguồn vốn tín dụng tăng bình quân 34%/năm, trong đó vốn huy động tại địa phương tăng 33,5%/năm Cho vay tăng cao bình quân 41%/năm, xu hướng cho vay trung dài hạn chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng dư nợ, tăng từ 27% năm 2000 lên 35,6% năm 2005 Cơ cấu cho vay và phương thức thanh toán ngày càng tiến bộ Hệ thống mạng lưới được mở rộng, giúp đối tượng
đi vay dễ dàng tiếp cận nguồn vốn
Hiện có 18 Quỹ tín dụng nhân cơ sở, hoạt động trên địa bàn của 10 huyện thị Tổng vốn hoạt động tăng bình quân 24%/năm, trong đó nguồn vốn huy động vẫn ổn định và tăng đều, chiếm 75,7% trong tổng nguồn vốn hoạt động
Tình hình phát triển các thành phần kinh tế:
Tỉnh đã hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước theo KH được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Trong 5 năm đã thực hiện sắp xếp, đổi mới được 26 DN Nhà nước) góp phần tạo năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế Cuối năm 2005, còn 10 DN hoạt động công ích, 05 DN hoạt động kinh doanh (CT Xổ số kiến thiết, CT Cấp nước, Công ty Cơ khí, Công ty Dịch vụ sản xuất Nông lâm nghiệp Đồng Tháp 1 và 4)
Kinh tế hợp tác được củng cố và từng bước phát triển, đến cuối năm 2005
có 54 hợp tác xã, bao gồm 17 HTX nông nghiệp, 3 HTX công nghiệp, 2 HTX xây dựng, 14 HTX giao thông-vận tải, 18 quỹ tín dụng nhân dân với 26.572 xã viên; Toàn tỉnh có 6.993 tổ hợp tác đa dạng với 129.918 thành viên Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất và góp vốn giúp nhau trong cuộc sống
-Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tạo tiền đề chuyển dịch mạnh trong giai đoạn sau: