1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên

114 2,7K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, việc đánh giá chất lượng các kết quả nghiên cứu KQNC khoa học xã hội thể hiện ở thang điểm trên cơ sở các tiêu chí: ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài, những đóng g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MÃ SỐ: 60.34.72

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Văn Luân

Hà Nội, 2013

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do nghiên cứu 6

2 Lịch sử nghiên cứu 8

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 12

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Mẫu khảo sát 13

6 Câu hỏi nghiên cứu 13

7 Giả thuyết nghiên cứu 13

8 Phương pháp nghiên cứu 13

8.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp 14

8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 14

8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 14

8.4 Phương pháp quan sát 15

8.5 Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia 15

9 Kết cấu của luận văn 15

PHẦN NỘI DUNG 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 16

1.1 Khoa học và nghiên cứu khoa học 16

1.1.1 Khoa học 16

1.1.2 Nghiên cứu khoa học (NCKH) 18

1.2 Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học và tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 24

1.2.1 Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 24

1.2.2.Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 31

1.3 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học xã hội và yêu cầu về tiêu chí đánh giá 32

Trang 4

1.3.1 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học xã hội 32

1.3.2 Yêu cầu về tiêu chí đánh giá 35

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC, ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 38

2.1 Khái quát về trường ĐHKH, ĐHTN 38

2.2 Hiện trạng công tác tổ chức và quản lý nghiên cứu khoa học tại trường ĐHKH, ĐHTN 40

2.2.1 Tình hình các nguồn lực đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học xã hội của trường ĐHKH 40

2.2.2 Tình hình triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc nhóm ngành khoa học xã hội tại trường ĐHKH 46

2.3 Hiện trạng công tác đánh giá KQNC khoa học xã hội tại trường ĐHKH 52

2.3.1 Đội ngũ đánh giá và quy trình đánh giá 52

2.3.2 Tiêu chí đánh giá 56

CHƯƠNG 3.XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC, ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 66

3.1 Căn cứ xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá KQNC khoa học xã hội ở

trường ĐHKH 66

3.1.1 Tính mới của KQNC 66

3.1.2 Giá trị của kết quả nghiên cứu 69

3.1.3 Tính logic, hệ thống và sự phù hợp của phương pháp nghiên cứu 73

3.2 Hệ thống tiêu chí và ý kiến đánh giá của chuyên gia về hệ thống tiêu chí 76

3.2.1 Hệ thống tiêu chí 76

3.2.2 Ý kiến đánh giá của chuyên gia về hệ thống tiêu chí 79

3.3 Kết quả áp dụng hệ thống tiêu chí mới vào đánh giá thử nghiệm KQNC 81

KẾT LUẬN 84

KHUYẾN NGHỊ 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 91

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐHKH Đại học Khoa học ĐHTN Đại học Thái Nguyên KQNC Kết quả nghiên cứu KHXH Khoa học xã hội NCKH Nghiên cứu khoa học

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Nhân lực thuộc lĩnh vực KHXH tại trường ĐHKH 41

Bảng 2.2 Tình hình phân bổ nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa

học và công nghệ ở trường ĐHKH giai đoạn 2007 – 2011 44

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ kinh phí phân bổ cho hoạt động nghiên cứu khoa học

Bảng 2.6 Nội dung nghiên cứu chính của các đề tài cấp Bộ và cấp

Bảng 2.7 Số lần các thầy cô đã từng tham gia đánh giá KQNC thuộc

Bảng 2.10 Chất lượng của các đề tài NCKH các cấp thuộc lĩnh vực

Bảng 2.11 Bảng xếp loại đề tài NCKH các cấp thuộc lĩnh vực KHXH

Bảng 2.12 Các thành viên trong hội đồng đánh giá có điểm chênh

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Khoa học xã hội ngày càng được khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội Các kết quả nghiên cứu của khoa học xã hội đã và đang góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền tảng tư tưởng, xác lập cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược và chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như trong việc khơi nguồn, xây dựng và phát triển con người và bản sắc văn hóa dân tộc

Hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội là loại hình hoạt động trí não hết sức đặc thù Kết quả, sản phẩm của nó mang tính giá trị định tính rất cao, khó có thể đánh giá

đo lường chính xác về mặt định lượng Việc đo lường, đánh giá số lượng thời gian lao động, cường độ và hiệu suất lao động đối với hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung đã khó, đối với khoa học xã hội càng gặp nhiều khó khăn, trở ngại

Hiện nay, việc đánh giá chất lượng các kết quả nghiên cứu (KQNC) khoa học

xã hội thể hiện ở thang điểm trên cơ sở các tiêu chí: ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài, những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn, những đề xuất kiến nghị có tính khả thi cho công tác hoạch định chính sách kinh tế, xã hội và văn hoá Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là những đánh giá mang tính ước lệ, tuỳ thuộc vào nhãn quan của người đánh giá và thời điểm lịch sử của những điều kiện chính trị-xã hội quy định Trên thực tế, có những đề xuất, kiến nghị không được đánh giá tốt của ngày hôm nay nhưng lại rất có giá trị cho những thời kỳ phát triển tiếp theo Chẳng hạn, tư tưởng chủ động hội nhập quốc tế được manh nha từ sau

“Đổi mới”, nhưng phải đến Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam, đề xuất này của giới khoa học xã hội mới được đưa vào cuộc sống, như một tư tưởng chỉ đạo về mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam Hoặc rất nhiều phát hiện, đánh giá về lịch sử - khảo cổ đúng nhưng phải đến hàng chục năm sau mới được thừa nhận Vì vậy, nếu quá nặng về tính khả thi, tính ứng dụng thực tiễn là chưa đủ trong đánh giá các công trình khoa học xã hội

Trang 8

Do chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá công trình khoa học xã hội khách quan

và toàn diện, công tác nghiệm thu đánh giá KQNC của các đề tài, dự án về khoa học xã hội vẫn còn thiếu khách quan, chưa chính xác và không thật sự nghiêm túc Điều này làm cho hoa học xã hội phần nào mất đi động lực phát triển của nó

Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên (ĐHKH, ĐHTN) tiền thân là Khoa Khoa học Tự nhiên, được thành lập năm 2002 theo Quyết định số 1286/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 28/03/2002 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) Đến tháng 11/2006, để phù hợp với sự mở rộng của quy mô

và ngành đào tạo, Giám đốc ĐHTN đã ký Quyết định số 803/QĐ-TCCB đổi tên Khoa Khoa học Tự nhiên thành Khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội Tháng 12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1901/QĐ – TTg ngày 23/ 12/ 2008 về việc thành lập trường Đại học Khoa học trên cơ sở phát triển khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội thuộc ĐHTN Với chức năng và nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có trình độ đại học, sau đại học Trường ĐHKH đã triển khai và thực hiện được nhiều đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các cấp như cấp cơ sở, cấp Đại học Thái Nguyên, cấp Bộ và cấp Nhà nước; ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và đất nước Nhìn các hướng nghiên cứu của trường ĐHKH cả lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội đều cho thấy được tính đa dạng và phong phú về nội dung nghiên cứu, đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của nhà trường và xã hội

Tuy nhiên qua quan sát thực tế, chúng tôi nhận thấy việc đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu khoa học xã hội hiện nay của trường ĐHKH vẫn còn những hạn chế Điều này thể hiện ở khoảng cách hay sự khác nhau giữa kết quả của hoạt động đánh giá với giá trị thực sự của kết quả nghiên cứu Biểu hiện cụ thể là các kết quả nghiên cứu được xếp loại “Xuất sắc”, “Tốt” là rất nhiều trong khi đó chất lượng nghiên cứu, hiệu quả của đề tài trên thực tế là chưa cao Ngoài nguyên nhân chung đã nêu ở trên, hiện tượng này còn có nguyên nhân khác do đặc thù của trường ĐHKH như chất lượng chuyên môn của hội đồng đánh giá

Trang 9

chưa đồng đều, trong một số trường hợp còn thiếu tính khách quan; những quy trình về thủ tục đánh giá, nghiệm thu còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa phù hợp với thực tế

Xuất phát từ những lí do trên, đồng thời với mong muốn làm rõ thực trạng việc đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu khoa học xã hội của trường ĐHKH, chỉ

ra nguyên nhân của những hạn chế trong việc đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu khoa học xã hội, từ đó đề xuất một hệ thống các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội rõ ràng, cụ thể và định lượng được cho nhà trường, chúng tôi đã

lựa chọn vấn đề “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên” để nghiên

cứu Hệ thống các tiêu chí được đề xuất trong luận văn sẽ góp phần nhận dạng chất lượng các kết quả nghiên cứu, làm cơ sở để nghiệm thu các sản phẩm và kết quả nghiên cứu khoa học xã hội của trường ĐHKH

2 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu về công tác đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước bàn tới:

Trên thế giới, chúng ta có thể kể ra quan điểm của một số tác giả tiêu biểu như:

P Fasella, trong cuốn “Đánh giá các chương trình nghiên cứu và triển khai của Cộng đồng Châu Âu” đã đề ra một số nguyên tắc chung của việc đánh

giá R&D là: Quá trình đánh giá cần tiến hành trong mối liên hệ đến việc hình thành và triển khai các giai đoạn của nghiên cứu; có thể kết hợp đánh giá trong và đánh giá ngoài Đánh giá trong thường được thực hiện bởi các nhà quản lý dự án, tham gia trong quá trình thực hiện đề tài Còn đánh giá ngoài là đánh giá của các chuyên gia bên ngoài không tham gia vào chương trình nghiên cứu

Tuy nhiên theo P Fasella, việc đánh giá nên được tiến hành với các chuyên gia ngoài, những người không tham gia vào thực hiện chương trình đó Tác giả nhấn mạnh cần có cơ chế phản hồi thường xuyên sẽ đảm bảo cho phương pháp đánh giá được thích nghi với hoàn cảnh Đồng thời, tác giả còn đưa ra đề xuất hội đồng đánh giá cần dừng lại ở mức tương đối nhỏ (từ 6- 8 người) Thời gian

Trang 10

thực hiện đánh giá là bắt đầu đánh giá khoảng giữa của chương trình để có thể đánh giá được những việc làm trước đó và thời gian dành cho việc đánh giá tối

đa là 6 tháng cho đánh giá bằng phương pháp “chuyên gia” và 3 tháng cho đánh giá bằng phương pháp “hội đồng”

A.M.T Rouban, trong cuốn “Đánh giá các chương trình R&D của Pháp”

cho rằng mặc dù có thể đưa ra hệ thống chỉ báo rõ ràng, tuy nhiên khi tiến hành đánh giá và sử dụng công trình khoa học thì sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như các nhà khoa học, các nhà quản lý, các cơ quan giám sát Do vậy, việc đưa

ra một hệ thống chỉ báo có thể áp dụng cho mọi đánh giá vẫn là vấn đề đang được bàn cãi

Trong cuốn “Đánh giá R&D: kinh nghiệm và suy nghĩ” Delcroix có cho

rằng quá trình đánh giá là một hoạt động liên tục và thâm nhập vào các hoạt động của chương trình Tác giả này đưa ra một số cơ sở của đánh giá như đánh giá nguồn gốc của nghiên cứu khoa học và công nghệ trong từng giai đoạn; đánh giá ảnh hưởng về mặt kinh tế xã hội của đề tài nghiên cứu; sự tham gia của các đội ngũ nghiên cứu trong các hoạt động có tính quốc tế

Có thể thấy, các quan niệm của các tác giả kể trên mới chỉ dừng lại ở việc

đề ra một số nguyên tắc, phương pháp, cách thức chung cho việc đánh giá kết quả nghiên cứu và triển khai

Ở Việt Nam bàn về công tác đánh giá nghiên cứu khoa học trước hết phải

kể đến: Quyết định số 19/2007/QĐ-BKHCN ngày 18 tháng 9 năm 2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về việc đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản trong khoa học tự nhiên, trong đó có đưa ra tiêu chí đánh giá thông qua: Kết quả nghiên cứu; kết quả tham gia đào tạo sau đại học; tiến độ thực hiện đề tài và tình hình sử dụng kinh phí Tuy nhiên, những tiêu chí còn gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học trong nước

Bên cạnh đó, cũng có nhiều nhà khoa học có công trình nghiên cứu và cho công bố về đánh giá nghiên cứu khoa học như tác giả Vũ Cao Đàm, Nguyễn

Văn An, Hồ Tú Bảo,…Đặc biệt là cuốn sách “Đánh giá nghiên cứu khoa học”

Trang 11

(NXB Khoa học và Kỹ thuật năm 2007), Vũ Cao Đàm đã đưa ra một hệ thống phương pháp luận về việc đánh giá nghiên cứu khoa học

Vấn đề này cũng đã được một số học viên chuyên ngành Quản lý Khoa học

và Công nghệ quan tâm lựa chọn để nghiên cứu, Chẳng hạn: đề tài “Xây dựng tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học để thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương” của học viên Nguyễn Văn

Quang, bảo vệ năm 2008 đã đề cập đến thực trạng đánh giá nghiên cứu khoa học tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương Trên cơ sở làm rõ thực trạng công tác tổ chức, quản lý nghiên cứu khoa học, luận văn đề xuất các tiêu chí đánh giá kết

quả nghiên cứu khoa học tại Trường Cao đẳng nghề Hải Dương Với đề tài “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học của cán bộ trường Đại học Sư phạm Hà Nội” được bảo vệ năm 2010, học viên Lê Ngọc

Sơn đã đưa ra được bộ tiêu chí đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học dựa theo 3 bước, cụ thể:

Bước 1: (40điểm), ở bước này tập trung vào xem xét tính mới dựa trên sự kiện khoa học, vấn đề khoa học và luận điểm khoa học theo các chỉ tiêu chuẩn mực Bước 2: (25điểm), ở bước này xem xét tính logic của 5 bộ phận đó là: sự kiện khoa học; vấn đề khoa học; luận điểm khoa học; luận cứ khoa học và phương pháp nghiên cứu

Bước 3: (35điểm) Xem xét tổng thể các tiêu chí còn lại như tiêu chí và mức

độ rõ ràng, tính logic và khoa học của việc luận giải về sự cần thiết nghiên cứu đề tài; mức độ rõ ràng và khả thi của mục tiêu nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; tính khoa học, độc đáo, phù hợp của cách tiếp cận; kết cấu, hình thức theo cấu trúc logic của kết quả nghiên cứu

Ngoài ra, còn có những bài viết về đánh giá hoặc thẩm định nghiên cứu khoa học được đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học của Bộ Khoa học và Công

nghệ và một số trang web Trong đó nổi bật bài “Một số vấn đề trong đánh giá

và nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học đăng trên tạp chí “Hoạt động khoa

học” số 4/2005 của Nguyễn Văn An Bài viết đã làm rõ vai trò và thực trạng của

Trang 12

hoạt động đánh giá và nghiệm thu nghiên cứu khoa học Việt Nam hiện nay và

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đổi đổi mới cơ chế quản lý trong đánh giá, nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học

Trong bài viết “Đánh giá định lượng kết quả nghiên cứu khoa học” của GS

Hồ Tú Bảo đăng trên tạp chí “Hoạt động khoa học”, số 7/2010 đã giới thiệu khái niệm và một số đặc điểm cơ bản của các độ đo tiêu biểu dùng để đánh giá định lượng các ấn phẩm nghiên cứu khoa học, gồm chỉ số trích dẫn, hệ số ảnh hưởng và chỉ số H

Vũ Cao Đàm trong bài “Đánh giá nghiên cứu khoa học như thế nào”

đăng trên trang web khoahoc.baodatviet.vn đã nêu rõ đánh giá nghiên cứu

khoa học nên được sử dụng trong một số trường hợp cụ thể, phân loại đánh giá nghiên cứu khoa học và đề nghị xây dựng một hệ thống đánh giá khoa học với một số cách tiếp cận và tiêu chí phù hợp để đánh giá khách quan các công trình khoa học

Với “Đánh giá khoa học qua định lượng ấn phẩm: Những xu hướng mới trên thế giới trong đánh giá khoa học xã hội, nghệ thuật và nhân văn” đăng

tải trên trang web khoavanhoc-ngonngu.edu.vn Phạm Thị Ly đã cho thấy thực

trạng phân cực trong kết quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới thông qua dữ liệu của hệ thống đánh giá khoa học qua định lượng ấn phẩm, nêu ra những hạn chế của các hệ thống này trong việc đánh giá các kết quả nghiên cứu trong khoa học xã hội và nhân văn Bài viết cũng nêu những xu hướng mới trên thế giới trong việc cải tiến phương pháp đo lường ấn bản khoa học, chủ yếu là bổ sung những công cụ và tiêu chí đánh giá mang tính chất định tính cho khoa học xã hội và nhân văn, tác giả cũng nêu ra một số đề xuất liên quan đến đo lường ấn phẩm khoa học để cải thiện chất lượng nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam

Có thể thấy các công trình nghiên cứu kể trên đã được tiếp cận ở những khía cạnh khác nhau của vấn đề đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học như phương pháp luận cho việc đánh giá: tìm hiểu thực trạng của việc đánh giá và

Trang 13

nghiệm thu kết quả nghiên cứu, hệ thống tiêu chí để phục vụ cho việc đánh giá đúng chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở những cách tiếp đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học nói chung, chứ chưa đề cập đến khía cạnh xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội Mặt khác, những nghiên cứu trên được tiến hành và triển khai ở phạm vi về nội dung, thời gian và không gian

khác nhau Do đó, đề tài “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên” không phải là hướng tiếp cận hoàn toàn mới nhưng nó được tiến

hành ở không gian nghiên cứu mới là trường ĐHKH và những tiêu chí đánh giá

cụ thể áp dụng cho đánh giá các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội của một trường đại học cụ thể

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội ở trường ĐHKH, ĐHTN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài (thao tác hóa một số khái niệm liên quan đến đề tài như khái niệm khoa học, nghiên cứu khoa học, tiêu chí, đánh giá, kết quả nghiên cứu khoa học,….Làm rõ đặc điểm hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội, yêu cầu về tiêu chí đánh kết quả nghiên cứu khoa học xã hội)

- Làm rõ thực trạng việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội tại trường ĐHKH, ĐHTN

- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội ở

trường ĐHKH, ĐHTN

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Trường ĐHKH, ĐHTN

- Phạm vi về thời gian khảo sát số liệu: 5 năm trở lại đây (từ năm 2007 đến 2011)

Trang 14

6 Câu hỏi nghiên cứu

Việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội tại trường ĐHKH, ĐHTN hiện nay như thế nào?

Một hệ thống tiêu chí như thế nào để nhận dạng được đúng chất lượng các công trình nghiên cứu xã hội ở trường ĐHKH, ĐHTN?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Việc đánh giá chất lượng kết quả các công trình nghiên cứu khoa học xã hội của trường ĐHKH, ĐHTN hiện nay còn nhiều hạn chế: chưa phản ánh đúng chất lượng các công trình nghiên cứu

Hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kết quả nghiên cứu khoa học xã hội cần bao hàm những nội dung để nhận dạng chất lượng của kết quả nghiên cứu như tính mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, tính hệ thống, toàn diện trong nghiên

cứu, tính phù hợp của phương pháp nghiên cứu

8 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, luận thuyết của Vũ Cao Đàm trong cuốn “Đánh giá nghiên cứu khoa học” – NXB KH&KT, năm 2007, cuốn “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” – NXB Giáo dục, năm 2007 cũng như các tiêu chí, quan điểm đánh giá nghiên cứu khoa học của trường ĐHKH, ĐHTN, hay trong các trường đại học, cao đẳng khác và các tổ chức khoa học trong và quốc tế Các chủ trương chính sách của Việt Nam về đánh giá nghiên cứu khoa học

Trang 15

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

8.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Từ những luận cứ lý thuyết có được nhờ nghiên cứu tài liệu và những luận

cứ thực tiễn như số liệu thống kê về thực trạng việc đánh giá kết quả nghiên cứu của Trường, ý kiến thu thập được sau khi sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến, chúng tôi tiến hành phân tích và tổng hợp các số liệu, tài liệu để có cái nhìn tổng quan về việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội tại trường ĐHKH, ĐHTN, từ đó đề xuất hệ thống tiêu chí phù hợp với đặc điểm riêng của

trường ĐHKH

8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Chúng tôi tiến hành phát 45 phiếu bảng hỏi cho các cán bộ, giảng viên trực tiếp thực hiện đề tài, tham gia hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học

xã hội các cấp của trường ĐHKH để lấy ý kiến nhận xét về công tác đánh giá chất lượng kết quả nghiên cứu khoa học mà trường ĐHKH đang thực hiện; quan điểm của họ về một hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội

Thông tin thu thập được từ việc phát phiếu điều tra có cả thông tin định tính

và thông tin định lượng Đối với thông tin định tính chúng tôi tiến hành xử lý logic, nghĩa là đưa ra những phán đoán về bản chất của các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ logic của các sự kiện đang được xem xét Còn đối với thông tin định lượng chúng tôi xử lý theo phương pháp toán học bằng bảng số liệu, biểu đồ

8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Với mục đích nhằm thu thập được những thông tin sâu hơn liên quan đến vấn

đề nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn một số cán bộ quản lý của trường, chuyên gia và giảng viên với tư cách là chủ nhiệm các đề tại, cụ thể như sau:

- Phỏng vấn 02 cán bộ (01 phó trưởng phòng Đào tạo NCKH &QHQT và

01 chuyên viên phụ trách mảng nghiên cứu khoa học)

Trang 16

- Phỏng vấn sâu 05 giảng viên là chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các cấp như cấp cơ sở; cấp Bộ, cấp Đại học

- Phỏng vấn 05 cán bộ giảng viên tham gia chấm đề tài nghiên cứu khoa học xã hội các cấp)

8.4 Phương pháp quan sát

Chúng tôi còn sử dụng phương pháp quan sát để quan sát quy trình nghiệm thu một đề tài nghiên cứu khoa học; quan sát cách thức quản lý vấn đề khoa học của trường; quan sát quy trình làm việc của hội đồng nghiệm thu để có được cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu

8.5 Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia

Sau khi đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá KQNC khoa học xã hội tại trường

ĐHKH, chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến của chuyên gia về những tiêu chí được xây dựng cũng như tính khả thi của hệ thống tiêu chí mới này Từ đó, làm căn cứ cho việc đưa ra những khuyến nghị đối với trường ĐHKH để áp dụng hệ thống tiêu chí này vào thực tiễn công tác đánh giá KQNC khoa học xã hội của trường ĐHKH góp phần khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong công tác đánh giá KQNC khoa học xã hội hiện nay

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Thực trạng đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội tại trường ĐHKH, ĐHTN

Chương3 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội trường ĐHKH, ĐHTN

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khoa học và nghiên cứu khoa học

1.1.1 Khoa học

Khái niệm “Khoa học” được giải thích trong một số từ điển như sau:

Theo từ điển Larousse của Cộng hòa Pháp (2002) khoa học “là một tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định”

Từ điển Triết học của Liên Xô (bản tiếng Việt, 1975), khoa học “là lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này” Khoa học trong

trường hợp này được xem như một hoạt động sản xuất tri thức của con người

Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô(Bản tiếng Việt, 1986), khoa học

“là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan”, “Là một trong những hình thái ý thức xã hội, bao gồm trong đó cả những hoạt động nhằm thu nhận các kiến thức mới, và

cả những kết quả của các hoạt động đó” Khoa học trong trường hợp này được

xem như là phương tiện cung cấp những tri thức khách quan cho con người

Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (Nhà xuất bản thế giới, 1994),

khoa học “là một thiết chế xã hội” [17] Khoa học trong trường hợp này được

xem như một hệ thống các giá trị, các quy tắc tạo nên khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội thừa nhận Nó đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội và thực hiện những chức năng của một thiết chế xã hội như định ra một khuôn mẫu hành vi lấy tính khoa học làm thước đo; Xây dựng luận

cứ cho các quyết định sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội; Khoa học ngày càng trở thành một phương tiện góp phần rất quan trọng làm biến đổi tận gốc rễ mọi mặt của đời sống xã hội

Trang 18

Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam (Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ

Chí Minh, 2005), khoa học “là hệ thống các tri thức của người ta về tự nhiên, về

xã hội, về tư duy, tích lũy trong quá trình lịch sử, khiến người ta khám phá được những quy luật khách quan của các hiện tượng và giải thích được các hiện tượng đó” [16]

Tóm lại qua các từ điển được tra cứu, chúng tôi nhận thấy về cơ bản có 4 định nghĩa về khoa học dựa trên 4 cách tiếp cận sau:

Khoa học là một hệ thống tri thức

Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức

Khoa học là một hình thái ý thức xã hội

Khoa học là một thiết chế xã hội

Trong khuôn khổ của luận văn này, khoa học được hiểu là: hệ thống tri thức

về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của

tự nhiên, xã hội, tư duy Đây cũng là khái niệm được sử dụng rộng rãi và được

UNESSCO sử dụng trong các văn bản chính thức của mình Khoa học trong trường hợp này như một hệ thống tĩnh tại các tri thức, xem khoa học như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy từ trong hoạt động tìm tòi, sáng tạo của nhân loại

Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này chúng ta cũng cần phân biệt hệ

thống tri thức khoa học theo cách hiểu này với hệ thống tri thức kinh nghiệm

Hệ thống tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên tri thức kinh nghiệm chưa thực sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Còn tri thức khoa học ở đây là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt động này có mục tiêu nhất định và sử dụng phương pháp khoa học Không giống

Trang 19

như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học như triết học, sử học,…Có thấy rõ sự khác biệt qua

ví dụ: Khi thấy trời oi bức, mọi người đều biết là trời sắp mưa -> Đó là hiểu biết kinh nghiệm, do quan sát nhiều lần từ thực tế mà rút ra kết luận như vậy, chứ không giải thích được vì sao? Nhưng trong khoa học, không dừng lại ở đây mà người ta đi lý giải các hiện tượng có liên quan bằng các luận cứ khoa học, chẳng hạn: Trời oi bức có nghĩa là độ ẩm không khí đã tăng đến một giới hạn nào đó Điều này cho phép rút ra kết luận khoa học: sự tăng độ ẩm không khí đến một giới hạn nào đó là dấu hiệu cho biết trời sắp mưa đó là những hiểu biết khoa học Tóm lại, tri thức khoa học có được là nhờ vào hoạt động nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo của con người, còn tri thức kinh nghiệm có được là vào sự quan sát từ các sự vật, hiện tượng lặp đi lặp lại xung quanh con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh

nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học

1.1.2 Nghiên cứu khoa học (NCKH)

Để hiểu đúng về khái niệm “nghiên cứu khoa học”, trước hết chúng ta cần hiểu “nghiên cứu” là gì

Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí

Minh, (2005), nghiên cứu “là đi sâu vào một vấn đề để tìm hiểu bản chất vấn đề

đó hoặc để tìm cách giải quyết những điều mà vấn đề đó đề ra” [16]

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Nghiên cứu thường được mô tả “là một quy trình tìm hiểu tích cực, cần cù và có hệ thống nhằm khám phá, phiên giải và xem xét các sự kiện Sự điều tra tri thức này tạo ra sự hiểu biết tốt hơn

về các sự kiện, hành vi hoặc giả thuyết và tạo ra các ứng dụng thực tế thông qua các định luật và giả thuyết Thuật ngữ nghiên cứu cũng được sử dụng để mô tả việc thu thập thông tin về các vấn đề chuyên môn và nó thường liên quan đến khoa học và các phương pháp khoa học” Với cách hiểu này, có thể thấy rằng

Trang 20

nghiên cứu được hiểu là một quá trình đi sâu tìm hiểu nhằm khám phá bản chất các sự kiện

Nghiên cứu còn được hiểu là quá trình điều tra có thông số và mục tiêu rõ ràng: khám phá hay sáng tạo nên tri thức, xây dựng học thuyết; kiểm tra, xác minh, thẩm định hay bác bỏ một tri thức khoa học hay học thuyết

Từ các cách hiểu trên về nghiên cứu, khái niệm nghiên cứu khoa học cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

Theo luật Khoa học và công nghệ (2000), nghiên cứu khoa học “là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và

tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng” [11, tr.1]

Theo Vũ Cao Đàm: nghiên cứu khoa học “là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới” [9, tr.20] Về mặt thao tác, nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá” [8, tr.35]

Nghiên cứu khoa học theo quan điểm của Dương Thiệu Tống: là một hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng Nó là một hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét

kỹ, phân tích xếp đặt các các dữ kiện lại với nhau rồi rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường qui nạp và diễn dịch

Nghiên cứu khoa học còn được hiểu là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật (tự nhiên, xã hội, con người), nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng

Nghiên cứu khoa học cũng có thể được hiểu là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới

Trang 21

Tóm lại, có nhiều cách hiểu khác nhau về nghiên cứu khoa học, tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi hiểu nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,…đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện

ra cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn nhằm ứng dụng vào thực tiễn phục vụ mục đích của con người

Với cách hiểu trên về nghiên cứu khoa học, có thể thấy nghiên cứu khoa học là một loại hoạt động đặc biệt Nó đặc biệt ở chỗ: công việc tìm kiếm những điều chưa biết và người nghiên cứu hoàn toàn không thể hình dung được, hoặc không thể hình dung thật chính xác kết quả dự kiến Chẳng hạn: khi nghiên cứu hiện tượng một số sinh viên nghỉ học, chuồn giờ, xao nhãng trong giờ học của các học phần lý luận chính trị nhiều hơn các học phần khác, trước khi bắt tay vào nghiên cứu thì người nghiên cứu không thể hình dung thật chính xác được kết quả nghiên cứu, mà chỉ đến khi kết thúc quá trình nghiên cứu mới có kết luận chính xác về hiện tượng này Điều này khác biệt hoàn toàn với hàng loạt hoạt động khác trong đời sống xã hội

Từ đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa biết đến dẫn đến hàng loạt những đặc điểm khác của nghiên cứu khoa học đó là:

Tính mới: Nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá thế giới của những

sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Tính mới là đặc điểm quan trọng nhất trong nghiên cứu khoa học vì trong nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện Như vậy, có thể thấy hoạt động nghiên cứu khoa học là một loại lao động trí óc mang tính sáng tạo, nó cho thấy năng lực và sự sáng tạo của người nghiên cứu, và đây cũng là điểm cơ bản nhất phân biệt nó

với lao động sản xuất bình thường Hiểu được đặc điểm này, giúp các chuyên

Trang 22

gia đánh giá KQNC sẽ đặc biệt chú trọng tới tính mới của đề tài khi thực hiện việc đánh giá Đồng thời, việc công nhận và khẳng định vai trò quan trọng của tính mới trong nghiên cứu khoa học cho thấy sự tôn trọng và khuyến khích sự

sáng tạo cũng như năng lực của người nghiên cứu

Tính tin cậy: Tính tin cậy ở đây được hiểu là một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù

hợp với giả thuyết đặt ra trước đó cũng chưa xem là đủ tin cậy để kết luận về bản

chất của sự vật hoặc hiện tượng Đặc điểm này buộc người nghiên cứu phải thận

trọng khi lựa chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài, để có được những kết quả nghiên cứu đáng tin cậy Đồng thời, với đặc điểm này cũng giúp loại bỏ hoàn toàn những kết quả nghiên cứu không

trung thực, có tính nhào nặn hoặc ngẫu nhiên

Tính thông tin: Sản phẩm của nghiên cứu khoa học luôn mang đặc trưng

thông tin Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về một quá trình xã hội hoặc quy trình công nghệ và các tham số đặc trưng cho quy trình đó Nó có thể được thể hiện dưới nhiều dạng, là một báo cáo khoa học, một tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương thức tổ chức sản xuất mới,v.v… Đặc điểm này, giúp chúng ta phân biệt được sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học với các hoạt động lao động sản xuất bình thường khác, là cho những sản phẩm vật chất cụ thể có thể cầm nắm được Với đặc điểm này của hoạt động nghiên cứu khoa học cũng cho thấy người đánh giá cần phải đặc biệt chú ý đến lượng thông tin khoa học mà đề tài đã tạo ra thể hiện trong những trang báo cáo khoa học, trong tác phẩm khoa học, không nên bỏ sót mà phải tiến hành đánh giá một cách cẩn thận và nghiêm túc

Tính khách quan: Vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học vừa là một

tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học Một nhận định vội vã

Trang 23

theo tình cảm, một kết luận thiếu xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật, hiện tượng Để đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cần phải luôn đặt các loại câu hỏi ngược lại những kết luận

đã được xác nhận, chẳng hạn: kết quả có thể khác không? Nếu là kết quả đúng thì đúng trong những điều kiện nào?,.v.v…Với đặc điểm này, giúp loại bỏ những yếu

tố, nhận định, kết luận chủ quan của người nghiên cứu thể hiện trong kết quả

nghiên cứu

Tính rủi ro: Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới

hoàn toàn có thể gặp phải thất bại Đó là tính rủi ro của nghiên cứu Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn: thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy; trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp; năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu còn hạn chế; giả thuyết đặt ra là sai do những tác nhân bất khả kháng,v.v…Tuy nhiên trong khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả Kết quả ấy cũng mang ý nghĩa là một kết luận của nghiên cứu khoa học, mà nội dung là các giả thuyết đã đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong sự vật không tồn tại quy

luật hoặc giải pháp như đã dự kiến Hiểu được đặc điểm này, giúp cho người

đánh giá khi đánh giá KQNC có cái nhìn khách quan, không định kiến hoặc

nhạo báng người nghiên cứu thất bại

Tính kế thừa: Hầu như không có một công trình nghiên cứu khoa học nào

bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các khoa học khác nhau rất xa Hiểu được đặc điểm này, khi đánh giá KQNC người đánh giá cần phân biệt giữa “đạo văn” với “kế thừa”, để tránh gây nên những ức chế, thiệt thòi cho người nghiên cứu

Tính cá nhân: Dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực

hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân Tùy theo trình độ học vấn, tư chất di truyền, thể lực và môi trường xã hội mà cá tính

và năng lực cá nhân hình thành và phát huy khác nhau Hiểu được đặc điểm này,

Trang 24

khi đánh giá KQNC, người đánh giá cần phải tôn trọng ý kiến đề xuất khoa học của một cá nhân mới xuất hiện, thậm chí chưa được thử nghiệm một cách đầy đủ Chính khí chất và tính cách khác nhau của cá nhân những người nghiên cứu là yếu

tố quan trọng tạo nên sự phát triển không ngừng cho nền khoa học

Tính trễ trong áp dụng: Một kết quả nghiên cứu không phải lúc nào cũng

có thể áp dụng ngay vào sản xuất và đời sống được vì nhiều lý do như điều kiện kinh tế, văn hóa, tâm lý xã hội,… đặc biệt là những kết quả nghiên cứu trong nghiên cứu cơ bản, có khi phải mất nhiều năm mới thấy được kết quả và hiệu quả của nó Tính chất này được gọi là độ “trễ” trong nghiên cứu khoa học Do vậy, với đặc điểm này thì trong đánh giá KQNC, người đánh giá không nên nặng

nề về tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu, nhất là đánh giá KQNC trong khoa

học xã hội

Trên đây là những đặc điểm riêng có của hoạt động nghiên cứu khoa học, hiểu đúng về những đặc điểm này là một việc hết sức cần thiết đối với người nghiên cứu, người quản lý cũng như những người thực hiện đánh giá KQNC sẽ giúp họ chủ động, tự tin, loại bỏ được những tư tưởng phi khoa học

Có thể nói, nghiên cứu khoa học có rất nhiều vai trò, nhưng đối với mỗi trường đại học, cao đẳng thì nghiên cứu khoa học và đào tạo là hai nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của bản thân mỗi trường, có một ý nghĩa quan trọng giúp các trường có được một nền kiến thức cơ bản rộng, tạo điều kiện để tiến hành các hoạt động đào tạo thường xuyên, đào tạo lại hoặc đào tạo nâng cao Hoạt động NCKH cũng giúp tạo cơ sở vững chắc cho các trường đại học có vị trí xứng đáng trong hệ thống các cơ quan NCKH quốc gia, giúp các trường thực hiện tốt chức năng nghiên cứu khoa học và công nghệ của mình Hoạt động NCKH còn

là một phương thức tăng cường hiệu quả cho quá trình giảng dạy – học tập, giúp cho chất lượng đội ngũ giảng viên được cải thiện và nâng cao, làm cho đội ngũ giảng viên trở thành những chuyên gia khoa học và công nghệ giỏi, khẳng định

và nâng cao vị trí, vai trò của giảng viên trong sự nghiệp giáo dục đào tạo nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung Bên cạnh đó, hoạt động NCKH là

Trang 25

một môi trường rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và phương pháp nghiên cứu giúp sinh viên nắm chắc chuyên môn đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn khi ra trường, bảo đảm cho sinh viên mới tốt nghiệp có thể làm đúng ngành nghề đã đào tạo ĐHKH, ĐHTN trải qua 10 năm hoạt động, cho đến nay đã đạt được một số thành tích nhất định trong hoạt động đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, là một trường mới thành lập nên muốn nâng cao vị thế của mình trong hệ thống các trường đại học của Việt Nam, ĐHKH cần phải không ngừng học hỏi, nâng cao chất lượng đào tạo Một trong những yếu tố giúp ĐHKH làm được điều này là việc phải làm tốt công tác nghiên cứu khoa học bên cạnh hoạt động đào tạo

1.2 Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học và tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học

1.2.1 Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học

a Đánh giá

Khái niệm “Đánh giá” tương đương với khái niệm “Evaluer” trong tiếng Pháp và “Evaluate” trong tiếng Anh:

Từ điển Larousse (2002) giải thích “Evaluer” là “Déterminer la valeur, le

prix, l’importance de”, tạm dịch là “Xác định giá trị, giá cả, tầm quan trọng”

Từ điển Web Dictionary of Cybernetics and System định nghĩa “Đánh giá

là sự sử dụng phương pháp và thủ tục khoa học để thu nhận và hạn chế thông tin nhằm mục đích so sánh một sự kiện thực tế hoặc một sự kiện trong giả thuyết với mục tiêu và giá trị chuẩn”

Từ điển Cobuild, 2001 giải thích “Evaluate” là “Khi bạn muốn đánh giá một người hoặc một sự vật náo đó, bạn cần xem xét chúng để phán xét về chúng, chẳng hạn, chúng tốt hoặc xấu như thế nào”

Trong tiếng Việt: “Đánh giá” được hiểu theo một số nghĩa như sau:

+ Xem xét một công việc sau khi đã hoàn tất, xem xét mức độ đạt yêu cầu so với dự kiến ban đầu

+ Xem xét một con người theo một tiêu chuẩn đã đặt ra

Trang 26

+ Xem xét một đề tài nghiên cứu về mặt số lượng và chất lượng kết quả nghiên cứu, hiệu quả nghiên cứu, đồng thời là cơ sở để xem xét có nghiệm thu kết quả nghiên cứu hay không

Vũ Cao Đàm đưa ra khái niệm đánh giá: “Đánh giá là một sự so sánh, dựa trên một chuẩn mực nào đó, để xem xét một sự vật là tốt hơn hoặc xấu hơn một sự vật được chọn làm chuẩn, trong đó có những chỉ tiêu về chuẩn mực” [10, tr.77]

Như vậy, có thể hiểu: Đánh giá là một hoạt động nhằm xem xét, so sánh sự vật cần đánh giá với những tiêu chí chuẩn mực để xác định giá trị của sự vật đó Cũng cần phân biệt “Đánh giá” với “Thẩm định”

Thẩm định (Assessment) là sự đánh giá trước, Trong tiếng Việt “Thẩm định” được sử dụng trong một số trường hợp sau:

+ Xem xét đề tài trước khi quyết định nghiên cứu, là cơ sở để một cấp quản lý có phê duyệt nhiệm vụ nghiên cứu hay không

+ Kiểm tra một phương án công nghệ xem nếu áp dụng nó có đưa lại hiệu quả hay không, chẳng hạn, thẩm định tác động môi trường của công nghệ, thẩm định hiệu quả kinh tế của công nghệ

+ Kiểm tra lại một chỉ tiêu trước khi sử dụng, ví dụ, thẩm định đơn giá trước khi sử dụng nó để quyết đoán công trình

Với những ý nghĩa trên có thể thấy thẩm định là sự “đánh giá trước”, khác với đánh giá là sự “đánh giá sau” Mặc dù giữa thẩm định và đánh giá tuy có một số điểm khác nhau về một số chỉ tiêu và nội dung, còn cách làm về cơ bản là giống nhau

b Kết quả nghiên cứu (KQNC)

Theo Vũ Cao Đàm: KQNC“là sản phẩm được tạo ra nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học Bản chất của kết quả nghiên cứu là những thông tin về bản chất của sự vật – đối tượng nghiên cứu” [10, tr.89]

KQNC được thể hiện trên những hình thức rất khác nhau: Có thể là những thông tin về một quy luật bản chất của sự vật được phát hiện từ trong tự nhiên, xã hội, tư duy; có thể là những giải pháp trong công nghệ, trong tổ chức và quản lý; có thể là những vật mẫu với những thông số có giá trị khả thi về mặt kỹ thuật,…

Trang 27

Bản chất của các kết quả nghiên cứu là những thông tin, do đó chúng ta chỉ

có thể tiếp xúc với các kết quả của nghiên cứu khoa học thông qua các loại vật mang khác nhau như: các báo cáo khoa học; băng ghi hình, băng ghi âm; bản mô

tả quy trình, công thức, kỹ năng, bí quyết,…; vật mẫu (công nghệ mẫu, sản phẩm mẫu,…)

Như vậy, việc đánh giá kết quả nghiên cứu trên thực tế là đánh giá những thông tin chứa đựng trong các loại vật mang như đã nói ở trên Chúng ta cũng cần phân biệt KQNC với “Hiệu quả nghiên cứu” Hiệu quả nghiên cứu được

hiểu là “lợi ích thu được sau khi áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học” Như

vậy, hiệu quả nghiên cứu chỉ xác định được sau khi áp dụng KQNC vào thực tiễn Do đó, đánh giá hiệu quả nghiên cứu là công việc được thực hiện sau công việc đánh giá KQNC Trên thực tế, không phải bất cứ KQNC nào cũng cho thấy ngay được hiệu quả, đặc biệt là những KQNC của khoa học xã hội Do đó, đánh giá hiệu quả nghiên cứu cần phải được tiến hành theo những lộ trình nhất định, với những tiêu chí và phương pháp đánh giá nhất định Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc xây dựng những tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ở giai đoạn đánh giá về số lượng, chất lượng sản phẩm nghiên cứu của đề tài để đi quyết định nghiệm thu và xác định mức độ đáp ứng của kết quả nghiên cứu so với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra

c Đánh giá KQNC

Từ việc phân tích khái niệm đánh giá, kết quả nghiên cứu, chúng tôi hiểu:

Đánh giá KQNC: là việc xem xét về mặt số lượng và chất lượng các kết quả nghiên cứu được tạo ra nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học dựa trên những tiêu chí chuẩn mực để xác định giá trị của các kết quả nghiên cứu đó, đồng thời là

cơ sở để xem xét xem có nghiệm thu kết quả nghiên cứu đó hay không

Theo Vũ Cao Đàm: đánh giá KQNC “là lượng định giá trị của kết quả nghiên cứu” [10, tr.93] Như vậy, khi đánh giá KQNC cần phải dựa vào những đặc trưng

cần quan tâm của đối tượng cần đánh giá, cụ thể ở đây là một đối tượng đặc thù đó

là KQNC và những chỉ tiêu chuẩn mực được sử dụng để đánh giá Đây là những

Trang 28

chuẩn mực đối với một KQNC Đặc biệt, khi nói đến đánh giá KQNC, chúng ta chỉ nói đến việc đánh giá thuần túy chất lượng của bản thân những kết quả thu nhận được sau quá trình nghiên cứu, chưa nói đến hiệu quả sau khi áp dụng

Tóm lại, có thể thấy đánh giá kết quả nghiên cứu nhằm một số mục đích sau:

- Là cơ sở để đánh giá tầm quan trọng của kết quả nghiên cứu trong hệ thống khoa học nói chung

- Là cơ sở để đánh giá hiệu quả đầu tư vào khoa học

- Là cơ sở để trả công cho người nghiên cứu và tôn trọng người nghiên cứu Tuy nhiên, khi đánh giá giá trị của KQNC cũng gặp những khó khăn:(1) Khó xác định được tính thông tin của KQNC, bởi tính thông tin là một đặc trưng tương đối trừu tượng trong đánh giá định lượng Tính thông tin chỉ có thể đánh giá định tính qua ý kiến nhận xét của chuyên gia Hoặc là cá nhân chuyên gia, hoặc là ý kiến của hội đồng.(2) Tính mới của KQNC, đây là một đặc trưng mang tính quyết định của một KQNC Việc đánh giá tính mới của KQNC hiện nay chủ yếu cũng dựa vào ý kiến của các cá nhân và nhóm chuyên gia được tập hợp dưới dạng hội đồng.(3) “Độ trễ của áp dụng” của KQNC, bất cứ một KQNC nào cũng

có một độ trễ trong áp dụng Do đó, quy luật về độ trễ của việc áp dụng KQNC đòi hỏi phải được xem xét trong đánh giá các KQNC.(4) Tính rủi ro, đây là một đặc điểm luôn tồn tại trong NCKH và cũng được xem là một kết quả Do đó

trong đánh giá một KQNC cần phải được xem xét một cách khách quan

d Quan điểm về đánh giá KQNC

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng quan điểm đánh giá

KQNC của Vũ Cao Đàm: Đánh giá KQNC “là lượng định giá trị của kết quả nghiên cứu” Giá trị của KQNC có thể hiểu là mức độ quan trọng trong tính hữu ích

về số lượng và chất lượng của những thông tin chứa đựng trong KQNC đó Trong quá trình đánh giá KQNC của đề tài, cần phải thống nhất quan điểm sau:

- Giá trị của KQNC trước hết thể hiện ở giá trị tri thức: KQNC phải được đánh giá trước hết ở những tri thức mới chứa đựng trong kết quả Do đó, không thể dựa trên số trang báo cáo khoa học của đề tài để đánh giá tính mới

Trang 29

trong các tri thức khoa học mà KQNC đóng góp Điều đó có nghĩa là, không thể cho rằng một đề tài không có tính mới khi số trang của báo cáo khoa học này hạn chế và ngược lại Có thể có những báo cáo rất ngắn gọn, nhưng những đóng góp về tri thức khoa học mới trong báo cáo lại rất lớn; cũng không thể dựa trên

số “bít” thông tin để đánh giá một khối lượng tri thức mới và cũng không nên dựa vào số lần đề tài được trích dẫn nhiều hay ít để đánh giá đề tài có chất lượng hay không chất lượng, vì trích dẫn trong nhiều trường hợp rất có thể chỉ đơn thuần là trích dẫn để phê phán

- Không lấy tiêu chuẩn “đã được áp dụng” để đánh giá KQNC: KQNC không thể đánh giá một cách đơn giản chỉ dựa trên việc có được áp dụng hay là không, nhất là trong nghiên cứu khoa học xã hội Trên thực tế, có những KQNC không được đánh giá tốt của ngày hôm nay nhưng lại rất có giá trị cho những thời kỳ phát triển tiếp theo

- Không dựa theo cấp hành chính để đánh giá KQNC của đề tài: Hiện nay, việc đánh giá thành tích khoa học theo “cấp hành chính” đang dẫn đến những hiện tượng tiêu cực như: chạy chọt để ký hợp đồng thực hiện các nhiệm

vụ cụ thể để có “danh” là đề tài “cấp nhà nước”, sử dụng quyền lực để giành quyền làm chủ các chương trình, đề án cấp nhà nước Ngoài ra, đây còn là nguyên nhân dẫn đến việc coi rẻ giá trị những đề tài “cấp cơ sở” vì một số người cho rằng những loại đề tài này không có giá trị cao khi đánh giá ý nghĩa ở tầm ứng dụng Trên thực tế, đã có những công trình khoa học lớn để lại dấu ấn khoa học từ đời này qua đời khác của các nhà khoa học như Marx, Weber,…mà không phải là những đề tài “cấp nhà nước”, thậm chí cũng chưa đạt đến “trình độ” một đề tài cấp cơ sở, mà 100% đều “chỉ” là những đề tài “cấp cá nhân” Giá trị khoa học của một kết quả nghiên cứu và ý nghĩa ứng dụng của đề tài là hai

“đại lượng” không có “thứ nguyên” chung để so sánh Do đó, đối với mỗi đề tài trong mọi lĩnh vực khoa học, trước hết phải được xem xét về ý nghĩa khoa học; tiếp đó đối với những đề tài công nghệ thì phải xem xét thêm ý nghĩa kỹ thuật

Trang 30

Việc thống nhất quan điểm này trong đánh giá KQNC giúp chúng ta loại bỏ được tư tưởng hành chính hóa khi đánh giá KQNC – một trong những tư tưởng

dễ dẫn đến những sai lầm “méo mó” trong cộng đồng khoa học

e Tiếp cận đánh giá KQNC

Có hai cách tiếp cận để đánh giá kết quả nghiên cứu do Vũ Cao Đàm đưa ra là: Tiếp cận phân tích và tiếp cận tổng hợp

*Tiếp cận phân tích: được thực hiện trên cơ sở chia nhỏ công trình nghiên

cứu theo cấu trúc logic, tính bắt đầu từ sự kiện khoa học Sau đó xem xét giá trị của KQNC theo từng yếu tố cấu thành cấu trúc logic Xét về cấu trúc logic, một

công trình nghiên cứu gồm 5 bộ phận cấu thành sau:

(1) Sự kiện khoa học: là cơ sở cho việc lựa chọn một chủ đề nghiên cứu

Sự kiện có thực sự mang tính khoa học không, có mang một giá trị khoa học không Có tồn tại khách quan, không áp đặt chủ quan? Đây được xem là yếu tố quan trọng, quyết định đến chất lượng nghiên cứu

(2) Vấn đề khoa học: là câu hỏi đặt ra liên quan đến sự kiện khoa học, là câu hỏi mà người nghiên cứu phải trả lời trong quá trình nghiên cứu của mình Đây là yếu tố quyết định ý nghĩa của toàn bộ công trình nghiên cứu, là cơ sở để đặt ra các giả thuyết nghiên cứu

(3) Luận điểm khoa học: là kết quả chứng minh giả thuyết khoa học của tác giả, là câu trả lời của tác giả vào vấn đề khoa học được đặt ra ở trên Đây là yếu tố cốt lõi nhất đặc trưng cho giá trị tri thức của một công trình nghiên cứu,

là phần đóng góp trí tuệ quyết định nhất của tác giả để đặt tác giả vào một vị trí riêng biệt trong khoa học

(4) Luận cứ khoa học: là kết quả nghiên cứu của tác giả, là bằng cứ được

sử dụng để chứng minh luận điểm khoa học

(5) Phương pháp: là cách thức mà tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu, là cơ sở đảm bảo độ tin cậy của các luận cứ

Trên đây là 5 yếu tố của cấu trúc logic của một đề tài nghiên cứu khoa học được đưa ra theo phương pháp tiếp cận phân tích Mỗi yếu tố có những thuộc

Trang 31

tính riêng, chúng độc lập với nhau nhưng lại mang tính logic rất chặt chẽ cùng hướng vào một mục tiêu nghiên cứu của đề tài, yếu tố này làm tiền đề, làm sáng

tỏ cho yếu tố kia đảm bảo tính nhất quán cao của đề tài Nếu không đề tài sẽ rất

dễ mắc lỗi logic, ảnh hưởng đến toàn bộ kết quả nghiên cứu

Từ các yếu tố của cấu trúc logic trên, chúng tôi sử dụng các chỉ báo đánh giá theo tiếp cận phân tích do Vũ Cao Đàm đưa ra như sau:

- Sự kiện: Có dựa trên quan sát khách quan hay không?

- Vấn đề: Có thực sự cấp thiết hay không?

- Giả thuyết: Có dẫn đến một luận điểm khoa học mới hay không? Có ăn cắp của đồng nghiệp hay không?

- Luận cứ: Có thực sự khách quan và đủ minh chứng giả thuyết hay không?

Có ăn cắp của đồng nghiệp không? Có bịa đặt hoặc nhào lặn số liệu để làm luận cứ hay không?

- Phương pháp: Các phương pháp được sử dụng có đủ đảm bảo cho luận

cứ đánh tin cậy hay không?

*Tiếp cận tổng hợp: được sử dụng để đánh giá kết quả của một đề tài

nghiên cứu khoa học trong cả hai trường hợp thành công hoặc thất bại

- Một kết quả nghiên cứu được đánh giá thành công thể hiện ở các yếu tố sau: + Tính mới: phải được thể hiện trong sự kiện khoa học, vấn đề khoa học

và luận điểm khoa học

+ Tính tin cậy: được kiểm tra qua lai chỉ tiêu là: Luận cứ đã được chứng minh là đủ tin cậy hay không? và phương pháp có đảm bảo rằng những luận cứ đưa ra là đúng đắn về mặt khoa học hay không?

+ Tính khách quan: được kiểm tra bởi luận cứ có được tạo lập một cách đáng tin cậy hay không? và các phương pháp tác giả đưa ra có đủ đảm bảo cho tính khách quan của các luận cứ hay không?

+ Tính trung thực: kiểm tra thông qua tính đúng đắn trong trích dẫn các luận cứ, trong sử dụng các luận cứ thực tiễn, trong phép suy luận của người nghiên cứu

Trang 32

- Một kết quả nghiên cứu được xem là thất bại, cần phải được xem xét ở các khía cạnh sau:

+ Thất bại ở những yếu tố nào trong cấu trúc logic, do khách quan hay chủ quan + Nguyên nhân của thất bại trong nghiên cứu

+ Luận cứ để kết luận một kết quả nghiên cứu thất bại: Phải đủ tin cậy Trong nghiên cứu khoa học, một nghiên cứu thất bại cũng được xem là một kết quả Vì đó là bài học cho những người nghiên cứu sau không vấp phải

1.2.2.Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học

Theo Wikipedia, “tiêu chí” là các tiêu chuẩn dùng để kiểm định hay để đánh giá một đối tượng mà bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng, tuân thủ các quy tắc, quy định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó

“Tiêu chí” còn được hiểu là: tính chất, dấu hiệu để làm căn cứ nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm

Mỗi tiêu chí phải phản ánh được một yêu cầu của nội dung cần đánh giá, một chỉ báo cụ thể, một tính chất của sự vật, hiện tượng hoặc một dấu hiệu nhận biết sự vật, hiện tượng đó

Tóm lại, từ cách hiểu trên về khái niệm “Tiêu chí” trong khuôn khổ luận văn

này chúng tôi hiểu: tiêu chí đánh giá KQNC chính là những dấu hiệu dùng để làm căn cứ nhận biết, xếp loại một KQNC có chất lượng hay không có chất lượng

Tiêu chí và đánh giá bao giờ cũng có mối quan hệ với nhau: Đánh giá bao giờ cũng phải thông qua công cụ đánh giá đó các tiêu chí, nếu thiếu tiêu chí sẽ không thực hiện được việc đánh giá Do đó, mối quan hệ giữa tiêu chí và đánh giá là mối quan hệ hữu cơ Dựa vào mục tiêu, tính chất, đối tượng đánh giá để xác định tiêu chí, nếu không có tiêu chí thì không đánh giá được Như vậy, tiêu chí không chỉ là công cụ, phương tiện để đánh giá mà nó còn mang ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của việc đánh giá

Trang 33

1.3 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học xã hội và yêu cầu về tiêu chí đánh giá

1.3.1 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học xã hội

Khoa học xã hội (KHXH) là khoa học nghiên cứu về những quy luật vận động và phát triển của xã hội - đó cũng là những quy luật phản ánh mối quan hệ giữa người và người, quan hệ giữa con người với xã hội, mà đối tượng của nó là các hiện tượng xã hội nảy sinh từ mối quan hệ giữa người và người

Nếu như đối tượng của KHXH là những quy luật vận động và phát triển của xã hội thì đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ lại khác Đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên là các dạng vật chất

và các hình thức vận động của các dạng vật chất đó, được thể hiện trong giới tự nhiên, là những mối liên hệ và quy luật của chúng Còn đối tượng nghiên cứu của khoa học công nghệ là là phương pháp, quy trình, kĩ năng, bí quyết công

cụ và phương tiện để biến các nguồn lực thành sản phẩm

Mặc dù, có sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu nhưng giữa KHXH với khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ lại có mối quan hệ qua lại với nhau Khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ cung cấp cơ sở và phương tiện cho sự khái quát của khoa học xã hội Khoa học xã hội như chính trị học, xã hội học, khoa học quản lý,…định hướng, mở đường thúc đẩy cho sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ Cung cấp công cụ nhận thức cho khoa học

tự nhiên và xã hội mà trước hết là phép biện chứng duy vật

Trong hệ thống hoạt động khoa học và công nghệ, KHXH là một bộ phận nên

nó bao hàm hết thảy những đặc điểm của khoc học – công nghệ, song cũng chứa đựng những đặc điểm riêng có, khác với khoa học tự nhiên và công nghệ Cụ thể:

- Nghiên cứu KHXH cơ bản dựa trên tư duy sáng tạo và kết quả của nó chủ yếu mang tính phát hiện và sáng tạo

KHXH khác với khoa học tự nhiên và công nghệ ở chỗ không tiến hành nghiên cứu dựa trên các thực nghiệm ở phòng thí nghiệm mà dựa trên sự điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực tiễn để tổng kết, đúc rút, khái quát, phát hiện các quy luật…trên cơ sở đó nêu lên các luận điểm, luận cứ và các kết luận khoa học

Trang 34

Cho nên KQNC của KHXH ít mang tính phát minh, sáng chế mà chủ yếu mang tính phát hiện và sáng tạo Tư duy trong nghiên cứu KHXH được thể hiện cả trong quá trình nghiên cứu tư liệu, khảo sát thực tế, tìm phương pháp tiếp cận thích hợp, trao đổi học thuật, tranh luận, lập luận trình bày, phân tích các quan điểm, cũng như trình bày kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu KHXH không thể chỉ thuần túy thông qua đọc sách mà phải gắn kết với nghiên cứu phân tích thực tiễn để đánh giá xác nhận bản chất hiện tượng, sự vật và diễn biến các tình huống, vận dụng lý luận và tri thức kinh

nghiệm để phân tích tổng hợp, làm cơ sở cho tư duy sáng tạo

- KHXH rất khó lượng hóa các sản phẩm và kết quả nghiên cứu

Sản phẩm của KHXH thường là các trang tác giả thể hiện ý tưởng, sự kiến giải và các đề xuất về lý luận và thực tiễn của tác giả Tùy theo từng lĩnh vực mà yêu cầu về sản phẩm không giống nhau Thông thường đó là một báo cáo tổng quan, một báo cáo tổng hợp, các báo cáo chuyên đề và báo cáo kiến nghị Có những báo cáo mặc dù số trang rất nhiều, song đầu tư chi phí, thời gian và cường độ lao động (chất xám) lại không nhiều, trong khi đó có những báo cáo với độ dài số trang rất ít nhưng lại phải đầu tư chi phí, thời gian và cường độ lao động (chất xám) rất nhiều, nhất là các báo cáo kết luận, kiến nghị của đề tài Do vậy, việc tìm định chuẩn về lượng (số trang, độ dài, các loại hình sản phẩm, ) để đánh giá kết quả và đặc biệt khi dùng chúng để làm căn cứ trả thù lao, phải hết sức linh hoạt và phù hợp

- KHXH khó đánh giá về chất lượng nhưng không phải là không đánh giá được

Về cơ bản, đánh giá chất lượng trong KHXH khác xa với khoa học tự nhiên

và công nghệ Nó là kết quả của những quá trình suy nghĩ, nghiền ngẫm về những ý tưởng đề xuất được xã hội thừa nhận, nhất là được giới chuyên môn đánh giá cao Trên thực tế, có những đề xuất kiến nghị không được đánh giá tốt của ngày hôm nay (vì chưa được vận dụng) nhưng lại là những đề xuất kiến nghị

có giá trị cho những thời kì phát triển tiếp theo Cho nên, tại thời điểm đánh giá, khó có thể nói rằng một công trình KHXH này là chất lượng tốt hoặc không có chất lượng Việc đánh giá chất lượng các kết quả nghiên cứu của KHXH ở một

Trang 35

thời điểm nhất định là hoàn toàn mang tính tương đối và phải chờ thực tiễn kiểm nghiệm, song không thể không đánh giá được

- Hiệu quả của nghiên cứu KHXH là tổng hợp của nhiều hiệu quả, trong đó quan trọng nhất là hiệu quả chính trị - xã hội

Tác động của các kết quả nghiên cứu KHXH với xã hội thường rộng lớn, lâu dài và toàn diện nhất là khi nó được sử dụng để hoạch định đường lối, chính sách, tạo ra nguyên lý phát triển xã hội Mỗi một kết quả nghiên cứu KHXH được thể hiện ở các mặt về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả chính trị -

tư tưởng, hiệu quả khoa học… Trong đó, hiệu quả không trực tiếp đo đếm được

và tác động gián tiếp lại rất lớn và quan trọng Những mặt hiệu quả này không thể nhận thấy được trong một thời gian ngắn, ngay sau khi kết quả nghiên cứu KHXH được ứng dụng mà nhiều khi phải tới hàng chục năm mới thấy rõ hiệu quả Vì vậy, không thể thuần túy nhìn vào khía cạnh hiệu quả trước mắt hoặc đơn thuần chỉ xem xét trên bình diện hiệu quả kinh tế để cân nhắc mức độ đầu tư hoặc nhận xét kết quả và hiệu quả của hoạt động nghiên cứu KHXH mà phải xét trên quan điểm hiệu quả tổng hợp, lâu dài và toàn diện

- Hoạt động KHXH gắn rất chặt với hoạt động chính trị

KHXH có nhiệm vụ cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách xây dựng và phát triển đất nước phục vụ trực tiếp những chủ trương, đường lối chính trị của Đảng Các vấn đề lý luận, lý thuyết, trong đó bao hàm các vấn đề lý luận chính trị cơ bản trực tiếp phục vụ quan điểm chính trị, đường lối, chính sách của Đảng Các tổng kết khoa học của từng lĩnh vực khoa học xã hội tạo nên những công trình khoa học có giá trị Nhiều nội dung nghiên cứu đó đều gắn chặt với yêu cầu chính trị và việc xác định phương hướng, yêu cầu nghiên cứu cho các nội dung này cần được sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng

- KHXH vừa bao hàm nghiên cứu cơ bản, vừa nghiên cứu ứng dụng

KHXH nghiên cứu mối liên hệ phổ biến, phát triển của những mối quan hệ con người trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Hướng đích cuối cùng của hoạt động nghiên cứu KHXH là giúp con người và xã hội được phát

Trang 36

triển một cách toàn diện, thích ứng với mọi thay đổi của môi trường tự nhiên, xã hội và tư duy Do vậy, KHXH vừa bao hàm cả nghiên cứu cơ bản như lịch sử, kinh tế học, xã hội học,… lẫn nghiên cứu ứng dụng như điều tra, thẩm định, đánh giá các chương trình, dự án phát triển,

Tóm lại, các đặc điểm riêng có trên đây của KHXH cho thấy chúng ta cần phải chú ý đến trong quá trình đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, không quá cứng nhắc mà cần linh hoạt trong quá trình đánh giá do những đặc thù của nhóm ngành này Những chuyên gia đảm nhận việc đánh giá, những nhà quản lý cũng cần phải nắm rõ đặc thù riêng có của hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội để đưa ra những ý kiến nhận xét, đánh giá đúng đắn, những quyết định quản lý phù hợp

1.3.2 Yêu cầu về tiêu chí đánh giá

Hiện nay, việc đánh giá KQNC khoa học nói chung đều dựa trên những tiêu chí đánh giá do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành, những tiêu chí này được coi

là căn cứ pháp lý giúp hoạt động đánh giá KQNC đạt được hiệu quả Tuy nhiên, các tiêu chí đánh giá đang được áp dụng để đánh giá KQNC như tiêu chí: Ý nghĩa

về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài, những đóp góp mới về mặt lý luận và thực tiễn, những đề xuất, kiến nghị có tính khả thi cho công tác hoạch định chính sách kinh tế, xã hội và văn hóa vẫn chỉ là những tiêu chí mang tính ước lệ, tùy thuộc vào nhãn quan của người đánh giá và thời điểm lịch sử của những điều kiện chính trị -

xã hội quy định Trong quá trình đánh giá, các Hội đồng đánh giá thường sử dụng thang điểm đánh giá 4 mức: Xuất sắc, khá, đạt và không đạt Việc đánh giá dù ở mức nào đi chăng nữa cũng vẫn mang nặng cảm tính, chưa có tiêu chí cụ thể để sếp hạng đánh giá

Mặt khác, trong bảng tiêu chí đánh giá do Bộ KH&CN ban hành kèm theo Quyết định số 96/QĐ – BKHCN ngày 23 tháng 01 năm 2006 khi cho điểm ở tiêu chí 5 “tính mới, sáng tạo của kết quả nghiên cứu” chỉ có tối đa là 10/100 điểm Như vậy, một kết quả nghiên cứu không đạt ở tiêu chí này chỉ mất có 10

Trang 37

điểm trong tổng số 100 điểm của bản tiêu chí, về nguyên tắc thì đề tài vẫn được nghiệm thu trong khi không hề có giá trị nào mang ý nghĩa khoa học

Với những đặc thù riêng trong hoạt động nghiên cứu KHXH thì yêu cầu về các tiêu chí đánh giá phải rõ ràng, cụ thể, định lượng được là vô cùng quan trọng Ngoài ra, cũng cần xây dựng những tiêu chí cụ thể trong việc lựa chọn chuyên gia đánh giá KQNC khoa học Cụ thể:

- Yêu cầu về các tiêu chí đánh giá:

+ Các tiêu chí đánh giá KQNC khoa học xã hội phải thể hiện được tính khách quan, logic và phù hợp với định hướng của nội dung nghiên cứu và đặc điểm riêng của nhóm ngành KHXH Mỗi tiêu chí đánh giá đưa ra phải mang tính khách quan và phải logic với nhau Các tiêu chí có thể được xây dựng dựa trên cách tiếp cận phân tích và tổng hợp do Vũ Cao Đàm đưa ra “Tính mới” là tiêu chí quan trọng nhất để nhận dạng giá trị của một KQNC khoa học xã hội

Vì vậy, cần nâng tỉ trọng điểm của tiêu chí này lên hoặc xây dựng thành một tiêu chí mang tính điều kiện tiên quyết khi đánh giá KQNC

+ Các tiêu chí dùng để đánh giá KQNC khoa học xã hội phải rõ ràng, cụ thể, định lượng được Do các tiêu chí đánh giá hiện nay chủ yếu mang tính định tính nên hiệu quả đánh giá chưa cao Chẳng hạn, với tiêu chí: Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài, cần cụ thể ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn bằng những chỉ tiêu và mỗi chỉ tiêu đó cần quy định mức điểm cụ thể Tiêu chí “có khả năng áp dụng” không nên coi đây là một tiêu chí cứng trong bộ tiêu chí đánh giá

- Các công cụ đánh giá rõ ràng, cụ thể và định lượng được là chưa đủ vì việc đánh giá kết quả còn phục thuộc vào trình độ, chuyên môn và năng lực của người đánh giá Do vậy, cũng cần có tiêu chí rõ ràng, cụ thể trong việc tuyển lựa người đánh giá kết quả nghiên cứu Chẳng hạn, tùy thuộc vào hội đồng đánh giá kết quả NCKH ở từng cấp mà quy định về chuyên môn, học hàm, học vị của người đánh giá Với những hạn chế trong việc đánh giá KQNC khoa học xã hội hiện nay, thì yêu cầu cần có một hệ thống tiêu chí đánh giá nhằm đánh giá đúng chất lượng các

Trang 38

công trình nghiên cứu khoa học xã hội là cần thiết Việc đưa ra hệ thống tiêu chí đánh giá mang tính chuẩn mực riêng cho nhóm ngành KHXH được đông đảo giới các nhà khoa học công nhận là công việc không hề đơn giản bởi nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố chi phối, quyết định là yếu tố chính trị, bởi khoa học xã hội gắn chặt với hoạt động chính trị

cứu được sử dụng trong luận văn

2 Khoa học xã hội có những đặc thù riêng, khác với các khoa học chính xác Cần phải có một hệ tiêu chí phù hợp với đặc thù của khoa học xã hội để đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội Tiêu chí đánh giá phải thể hiện được tính khách quan, logic, phù hợp với định hướng các nội dung nghiên cứu

3 Nghiên cứu khoa học trong các trường đại học, cao đẳng là để giải quyết những nhiệm vụ cấp thiết về công tác giáo dục và đào tạo, từ đó để nâng cao chất lượng đào tạo, tạo đồng thời tạo uy tín cho các trường đại học, cao đẳng Các tiêu chí đánh giá KQNC khoa học là cơ sở, chuẩn mực và là “đòn bảy” cho phát triển nghiên cứu khoa học nói chung, phát triển nghiên cứu khoa học trong các trường đại học nói riêng

Chương 2 và chương 3 tiếp theo đây sẽ trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng đánh giá và đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng kết quả NCKH nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học tại trường ĐHKH, ĐHTN

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC, ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 2.1 Khái quát về trường ĐHKH, ĐHTN

Trường ĐHKH, ĐHTN tiền thân là Khoa Khoa học Tự nhiên, được thành lập năm 2002 theo Quyết định số 1286/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 28/03/2002

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đến tháng 11/2006, để phù hợp với sự mở rộng của quy mô và ngành đào tạo, Giám đốc Đại học Thái Nguyên đã ký Quyết định số 803/QĐ-TCCB đổi tên Khoa Khoa học Tự nhiên thành Khoa Khoa học

Tự nhiên và Xã hội Tháng 12/ 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1901/QĐ – TTg ngày 23/12/2008 về việc thành lập trường Đại học Khoa học trên

cơ sở nâng cấp khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội thuộc Đại học Thái Nguyên Trường ĐHKH có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc Hiện nay, các ngành đào tạo chính của trường ĐHKH là:

- Đào tào trình độ cử nhân khoa học xã hội: Khoa học xã hội chính thức được đưa vào đào tạo tại trường ĐHKH từ năm 2007 với 03 ngành: Văn, Khoa học quản lý và Lịch sử nhưng đến nay trường ĐHKH đã mở thêm 05 ngành mới, nâng tổng số các ngành đào tạo thuộc khoa học xã hội lên 08 ngành, cụ thể: Cử nhân Văn; Cử nhân Khoa học quản lý; Cử nhân Lịch sử; Cử nhân Việt Nam học;

Cử nhân Du lịch; Cử nhân Báo chí và truyền thông; Cử nhân Công tác xã hội và

Cử nhân Luật Có thể nói, các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội hiện nay của trường ĐHKH đều cho thấy được nhu cầu của người học và xã hội

- Đào tào trình độ cử nhân khoa học tự nhiên bao gồm: Cử nhân Toán – Tin; Cử nhân Lý; Cử nhân Hoá; Cử nhân Khoa học Môi trường; Cử nhân Sinh;

Cử nhân Công nghệ Sinh; Cử nhân Quản trị thư viện và Cử nhân quản lý tài nguyên và môi trường

Trang 40

Về đội ngũ cán bộ giảng viên: Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ giảng viên của trường ĐHKH không ngừng tăng lên về số lượng cũng như chất lượng Nếu năm 2006 tổng số lượng cán bộ, giảng viên là 93 người thì tới năm 2012 mức này tăng lên 287 cán bộ, giảng viên, trong đó hợp đồng là 86 và biên chế là

201, đa phần cán bộ, giảng viên của trường có tuổi đời còn rất trẻ, nhiệt tình, năng động tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu những tiến bộ khoa học kĩ thuật Có nhiều giảng viên được cử đi học sau đại học, nghiên cứu sinh ở trong và ngoài nước Tuy nhiên, so với quy mô đào tạo của trường ĐHKH thì mức tăng qua các năm về số lượng cán bộ giảng viên là tương đối chậm

Về cơ sở vật chất: Với hệ thống cơ sở vật chất hiện đại bao gồm giảng đường được trang bị đầy đủ máy chiếu, loa, míc; Thư viện gồm nhiều giáo trình, sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành thuộc các ngành đang được đào tạo tại trường… Ngoài ra, còn có một nguồn tài liệu tham khảo phong phú như các luận văn thạc sĩ, nghiên cứu khoa học của sinh viên, cán bộ, giảng viên Phòng thí nghiệm được trang trị máy móc hiện đại đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập của cán bộ, giảng viên và sinh viên

Hiện nay, trường ĐHKH có 04 hệ đào tạo chính là: chính quy, địa chỉ, liên thông, vừa học vừa làm với tổng số sinh viên lên tới hơn 6000 sinh viên Năm học 2008- 2009 trường ĐHKH đã triển khai, áp dụng hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ - một phương thức đào tạo giúp làm tăng tính chủ động, khả năng tự tìm tòi, nghiên cứu, phân tích và giải quyết vấn đề của người học

Cùng với công tác đào tạo, trường ĐHKH trong thời gian qua cũng đã làm tốt công tác nghiên cứu khoa học thể hiện ở việc triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và đất nước Rất nhiều đề tài NCKH của cán bộ, giảng viên và sinh viên được thực hiện thành công, hơn 200 bài báo khoa học được đăng tải trên các tạp chí trong và ngoài nước, nhiều giáo trình đã được xuất bản, hơn 20 tài liệu tham khảo được biên soạn, đã và đang được áp dụng trong thực tế giảng dạy tại trường

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An: Một số vấn đề trong đánh giá và nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học tạp chí “Hoạt động khoa học” số 4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề trong đánh giá và nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học" tạp chí “Hoạt động khoa học
2. Hồ Tú Bảo: Đánh giá định lượng kết quả nghiên cứu khoa học tạp chí “Hoạt động khoa học”, số 7/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá định lượng kết quả nghiên cứu khoa học" tạp chí “Hoạt động khoa học
8. Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, Hà Nội, (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
10. Vũ Cao Đàm: Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Quyết định số 19/2005/QĐ-BGD&ĐT Quy định về hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học, cao đẳng trực thuộc, 2005 Khác
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thông tư số 12/2010/TT-BGĐT ngày 29 tháng 03 năm 2010 Ban hành Quy định về quản lý đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010 Khác
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Quy định về quản lý đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ (Ban hành kèm theo Thông tư số 12/2010/TT-BGĐT ngày 29 tháng 03 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), 2010 Khác
6. Bộ khoa học và công nghệ: Quyết định số 19/2007/QĐ-BKH&CN Quy định đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên, 2007 Khác
7. Bộ Khoa học và Công nghệ: Thông tư số 07/2009/TT-BKHCN ngày 03 tháng 4 năm 2009 Hướng dẫn việc đánh giá, nghiệm thu đề tài khoa học xã hội cấp nhà nước Khác
11. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Luật khoa học và công nghệ, 2000 Khác
12. Trường Đại học Khoa học: Quyết định số 84/QĐ-ĐHTN ngày 27 tháng 01 năm 2011 Ban hành Quy định về công tác quản lý Khoa học và Công nghệ của Đại học Thái Nguyên, 2001 Khác
13. Trường Đại học Khoa học: Quy định về công tác quản lý Khoa học và công nghệ của Đại học Thái Nguyên (Ban hành kèm theo Quyết định số 84/QĐ- ĐHTN ngày 27/01/2011 của Giám đốc Đại học Thái Nguyên) Khác
14. Trường Đại học Khoa học: Báo cáo thống kê công bố kết quả nghiên cứu giai đoạn 2007 – 2011 Khác
15. Trường Đại học Khoa học: Tình hình thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học xã hội và phát triển công nghệ gắn với đào tạo sau đại học giai đoạn 2007 – 2011 Khác
16. Trường Đại học Khoa học: Báo cáo thống kê công bố cấp phát kinh phí thực nhiệm vụ nghiên cứu khoa học giai đoạn 2007 – 2011 Khác
17. Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005 Khác
18. Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện, Nhà xuất bản thế giới, 1994 Khác
19. Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2003 Khác
20. www. most.gov.vn: Bộ Khoa học và Công nghệ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Trình độ chuyên môn của nhân lực thuộc lĩnh vực khoa học xã hội  tại trường ĐHKH - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Bảng 2.1 Trình độ chuyên môn của nhân lực thuộc lĩnh vực khoa học xã hội tại trường ĐHKH (Trang 42)
Bảng  2.2:  Tình  hình  phân  bổ  nguồn  lực  tài  chính  cho  hoạt  NCKH  của  trường  ĐHKH giai đoạn 2007 – 2011 - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
ng 2.2: Tình hình phân bổ nguồn lực tài chính cho hoạt NCKH của trường ĐHKH giai đoạn 2007 – 2011 (Trang 45)
Bảng 2.3 Kết quả thực hiện đề tài NCKH các cấp của trường ĐHKH giai đoạn 2007 – 2011 - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Bảng 2.3 Kết quả thực hiện đề tài NCKH các cấp của trường ĐHKH giai đoạn 2007 – 2011 (Trang 48)
Bảng  2.4  Số  lượng  các  đề  tài  được  thực  hiện  thuộc  lĩnh  vực  khoa  học  tự  nhiên và xã hội qua các năm (2007 – 2011) - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
ng 2.4 Số lượng các đề tài được thực hiện thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội qua các năm (2007 – 2011) (Trang 49)
Bảng  2.5.  Nội  dung  nghiên  cứu  chính  của  các  đề  tài  cấp  cơ  sở  thuộc  khoa  KHXH tại trường ĐHKH - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
ng 2.5. Nội dung nghiên cứu chính của các đề tài cấp cơ sở thuộc khoa KHXH tại trường ĐHKH (Trang 51)
Bảng 2.7. Số lần các thầy/ cô đã từng tham gia đánh giá KQNC thuộc lĩnh  vực khoa học xã hội tại trường ĐHKH - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Bảng 2.7. Số lần các thầy/ cô đã từng tham gia đánh giá KQNC thuộc lĩnh vực khoa học xã hội tại trường ĐHKH (Trang 53)
Bảng 2.8: Cấp đề tài mà các thầy/ cô đã từng  tham gia đánh giá thuộc lĩnh  vực khoa học xã hội tại trường ĐHKH - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Bảng 2.8 Cấp đề tài mà các thầy/ cô đã từng tham gia đánh giá thuộc lĩnh vực khoa học xã hội tại trường ĐHKH (Trang 54)
Bảng 2. 9. Trình độ chuyên môn và cấp đề tài mà thầy cô đã từng tham gia đánh giá - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Bảng 2. 9. Trình độ chuyên môn và cấp đề tài mà thầy cô đã từng tham gia đánh giá (Trang 55)
Bảng 11: Bảng xếp loại đề tài NCKH các cấp thuộc lĩnh vực khoa học xã hội - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Bảng 11 Bảng xếp loại đề tài NCKH các cấp thuộc lĩnh vực khoa học xã hội (Trang 61)
Bảng 2.10.  Chất lượng của đề tài NCKH các cấp thuộc lĩnh vực khoa học xã hội - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Bảng 2.10. Chất lượng của đề tài NCKH các cấp thuộc lĩnh vực khoa học xã hội (Trang 61)
Bảng 12.  Trường hợp các thành viên trong hội đồng có điểm chênh lệch >= 2/10 điểm trở lên - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Bảng 12. Trường hợp các thành viên trong hội đồng có điểm chênh lệch >= 2/10 điểm trở lên (Trang 62)
Bảng mô tả công việc và vị trí công tác: - Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Bảng m ô tả công việc và vị trí công tác: (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w