1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số chính sách thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ công nghệ cao của Việt Kiều tại khu vực Bắc Mỹ đầu tư vào Khu Công nghệ cao Hoà Lạc

81 556 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN QUỐC TRUNG MỘT SỐ CHÍNH SÁCH THU HÚT CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CÔNG NGHỆ CAO CỦA VIỆT KIỀU TẠI KHU VỰC BẮC MỸ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN QUỐC TRUNG

MỘT SỐ CHÍNH SÁCH THU HÚT CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CÔNG NGHỆ CAO CỦA VIỆT KIỀU TẠI KHU VỰC BẮC MỸ ĐẦU TƯ VÀO

KHU CÔNG NGHỆ CAO HÒA LẠC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN QUỐC TRUNG

MỘT SỐ CHÍNH SÁCH THU HÚT CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CÔNG NGHỆ CAO CỦA VIỆT KIỀU TẠI KHU VỰC BẮC MỸ ĐẦU TƯ VÀO

KHU CÔNG NGHỆ CAO HÒA LẠC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.70

Người hướng dẫn khoa học: TS Tạ Doãn Trịnh

Hà Nội, 2013

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

3 Mục tiêu nghiên cứu: 8

4 Phạm vi nghiên cứu: 9

5 Mẫu khảo sát: 9

6 Câu hỏi nghiên cứu: 9

7 Giả thuyết nghiên cứu: 9

8 Phương pháp nghiên cứu 9

9 Kết cấu của luận văn 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11

1.1 Các khái niệm 11

1.1.1 Công nghệ 11

1.1.2 Công nghệ cao 12

1.1.3 Doanh nghiệp 12

1.1.4 Doanh nghiệp vừa và nhỏ công nghệ cao 13

1.1.5 Quỹ đầu tư mạo hiểm 17

1.1.6 Chính sách……… 18

1.1.7 Sự giao thoa về lợi ích giữa việc Việt Kiều đầu tư về các khu công nghệ cao và việc nhà nước tiếp nhận đầu tư của Việt Kiều 22

1.2 Môi trường cho việc phát triển các DNVVN 24

1.2.1 Mô hình DNVVN CNC của Việt Kiều 24

1.2.2 Môi trường vĩ mô 26

1.2.3 Môi trường vi mô 28

1.2.4 Môi trường bên trong 29

* Kết luận Chương 1: 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VÀ THỰC TẾ VIỆC THU HÚT DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CÔNG NGHỆ CAO CỦA VIỆT KIỀU ĐẦU TƯ VỀ NƯỚC NÓI CHUNG VÀ KHU CÔNG NGHỆ CAO HOÀ LẠC NÓI RIÊNG 32

Trang 4

2.1 Tổng quan về các DNVVN của Việt Nam: 32

2.1.1 Đặc điểm của các DNVVN của Việt Nam 32

2.1.2 Vai trò của các DNVVN trong nền kinh tế Việt Nam 36

2.2 Chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư tại Việt Nam 39

2.3 Kinh nghiệm từ một số khu khoa học đối với các DNVVN 42

2.3.1 Khu Phát triển Kinh tế Huaqiao, Kunshan, Jiangsu (Trung Quốc) 42

2.3.2 Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh: 45

2.3.3 Khu công nghiệp hỗ trợ Việt Nam - Nhật Bản 46

2.4 Trường hợp nghiên cứu về chính sách thu hút các DNVVN CNC của Việt Kiều tại khu vực Bắc Mỹ đầu tư vào KCNCHL: 48

2.4.1 Tổng quan về KCNCHL 48

2.4.2 Tổng quan về các chính sách ưu đãi tại KCNCHL 51

2.4.3 Đánh giá kết quả hoạt động thu hút đầu tư 52

2.4.4 Một số đề xuất nhằm thu hút các DNVVN CNC của Việt Kiều ở Khu vực Bắc Mỹ đầu tư tại KCNCHL 54

* Kết luận Chương 2: 66

CHƯƠNG 3 CHÍNH SÁCH THU HÚT CÁC DNVVN CNC CỦA VIỆT KIỀU Ở KHU VỰC BẮC MỸ ĐẦU TƯ VÀO KCNCHL 67

3.1 Về văn phòng/nhà xưởng cho thuê: 67

3.2 Về chính sách ưu đãi đầu tư: 68

3.3 Hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp: 69

3.4 Quảng bá về KCNCHL ở Bắc Mỹ: 70

3.5 Hỗ trợ tuyển dụng lao động: 71

3.6 Thực hiện dịch vụ một cửa 72

3.7 Kêu gọi nhà đầu tư lớn đến với KCNCHL 74

3.8 Một số đề xuất khác: 74

*Kết luận chương 3: 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH 80

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BQL KCNCHL Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc

KH&CN Khoa học và Công nghệ

Nghị định 56 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp

phát triển DNNVV

SHTP Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh

IDGVV Quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Ventures Việt Nam

DFJ Vinacapital Quỹ đầu tư mạo hiểm DFJ Vinacapital

JICA Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản

Bộ KH&ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNVVN theo Nghị định 56 13

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2007 (%) 32

Bảng 2.2: Thuế suất cho các nhà đầu tư 51

Bảng 2.3: Các khu chức năng của KCNCHL 53

Biểu 2.4: Mong muốn của các DNVVN CNC của Việt Kiều tại khu vực Bắc Mỹ đầu tư vào Việt Nam 65

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Các DNVVN tại Việt Nam phản ánh vai trò quan trọng đối với nền

kinh tế quốc dân Hiện nay, các DNVVN chiếm khoảng 96.5% tổng doanh nghiệp trong nước và đóng góp 40% tổng sản phẩm quốc nội Các DNVVN là thành phần đang phát triển nhanh chóng, đóng góp đáng kể vào việc tạo ra việc làm, giảm tỷ lệ đói nghèo ở nông thông và các vùng sâu xa Hỗ trợ và phát triển các DNVVN đã trở thành một nhiệm vụ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Các dự án do Việt kiều đầu tư đã có mặt trên 28 địa phương trong cả nước, nhưng chủ yếu vốn tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh: 210,7 triệu USD (chiếm 34,9% tổng vốn đăng ký), thành phố Hà Nội (chưa mở rộng): 61 triệu USD (chiếm 10,1% tổng vốn đăng ký), còn lại là các địa phương khác Phần lớn những dự án đầu tư của Việt kiều đều có quy mô nhỏ(bình quân của một dự án đạt 4,5 triệu USD), và trước đây chủ yếu nhằm vào kinh doanh nhỏ như nhà hàng, khách sạn hoặc du lịch Gần đây, đầu tư của Việt kiều đang có

xu hướng chuyển dịch sang nhiều lĩnh vực khác, có quy mô lớn hơn và thông qua các hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp đa dạng hơn, như: dược phẩm, hóa chất, y tế, giáo dục, công nghệ thông tin, xây lắp cao cấp, tài chính-ngân

hàng, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ phần mềm Ngoài ra,

trên thực tế, một phần không nhỏ đầu tư của Việt kiều được thực hiện dưới hình thức góp vốn liên doanh hay thông qua thân nhân trong nước

Với vị trí địa lý nằm gần trung tâm Thủ đô Hà Nội, nơi hội tụ các nhà

khoa học trong nước, với cảnh quan gắn liền với thiên nhiên rất thích hợp cho việc nghiên cứu – phát triển Theo định hướng quy hoạch phát triển các khu R&D, Khu Giáo dục-đào tạo, Khu Phần mềm, Khu Công nghiệp Công nghệ cao,… nên KCNCHL rất thích hợp cả về không gian vị trí địa lý, môi trường làm việc đối với DNVVN CNC Nội dung này đang được các cơ quan chức

năng xây dựng thành chương trình cụ thể thu hút đầu tư của các DNVVN

Trang 8

Khu vực Nước ngoài nói chung và đặc biệt là Hoa Kỳ là nơi tập trung rất nhiều những công ty về công nghệ hàng đầu ở nhiều quy mô khác nhau như Cisco, HP, Microsoft, Theo thống kê, chỉ riêng đối với mảng thiết kế các sản phẩm công nghệ cao, Hoa Kỳ đã chiếm 34,4% trên toàn cầu, đứng đầu thế giới về mức độ ảnh hưởng trong năm 2007, trong khi đó Trung Quốc chỉ chiếm 7,6% và Ấn Độ là 2,9% Ảnh hưởng về mặt thiết kế ở Mỹ đã lên tới 69,3 tỷ USD, gấp gần 5 lần so với Trung Quốc và gần 35 lần so với Ấn Độ Trên thực tế, các DNVVN của Việt kiều trên thế giới nói chung và đặc biệt là ở một số khu vực nước ngoài nói riêng rất mong muốn được đầu tư tại Việt Nam và nhận được chính sách ưu đãi đặc biệt cho hoạt động đầu tư của mình đúng như lời phát biểu của Ông David Dương, Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam ở một số khu vực nước ngoài tại Hội nghị người Việt Nam ở

nước ngoài lần thứ nhất được tổ chức từ ngày 19 - 24/11/2009 tại Hà Nội:

"Về mặt chính sách, chúng tôi mong muốn Nhà nước có chính sách khuyến

khích đầu tư dành cho kiều bào Nước ngoài ở một số khu vực nước ngoài

và Canada Đơn giản vì khu vực này có hơn 2 triệu Việt kiều, chiếm trên

50% kiều bào Việt Nam ở nước ngoài Cái chúng tôi cần là chính sách ưu

đãi cụ thể"

Tuy nhiên, hiện nay Nhà nước chưa có chính sách cụ thể nào để thu hút DNVVN CNC của Việt kiều đầu tư về nước Cụ thể, tại KCNCHL các cơ quan có thẩm quyền chưa có các chính sách liên quan đến nội dung này

Vì vậy, việc nghiên cứu để kiến nghị ban hành một số chính sách nhằm thu hút các DNVVN CNC của Việt kiều về đầu tư về nước là hết sức cần thiết, trường hợp nghiên cứu tại đề tài này là các kiến nghị ban hành một số chính sách thu hút các DNVVN CNC của Việt kiều tại Khu vực Bắc Mỹ đầu tư vào KCNCHL

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Việc phát triển KCNCHL được Lãnh đạo Đảng và Nhà nước rất quan tâm vì KCNCHL được mong chờ trở thành một trung tâm khoa học và công

Trang 9

nghệ đầu tiên của đất nước và đóp góp vào việc hỗ trợ công nghiệp công nghệ cao, phát triển kinh tế và cạnh tranh quốc tế của Việt Nam Phát triển KCNCHL được thông qua việc thu hút các nhà đầu tư đầu tư KCNCHL và nâng cao hoạt động của đơn vị thuộc KCNCHL Việc thu hút các nhà đầu tư thường được thực hiện qua các chương trình, hội nghị xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước, bên cạnh đó việc nâng cao hoạt động của đơn vị thuộc KCNCHL được thảo luận và nghiên cứu trong các đề tài Cụ thể để phát triển KCNCHL đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu, ví dụ:

- “Tăng cường hiệu quả hoạt động của trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao Hòa Lạc” Trần Ngọc Diệp, Thạc sỹ Quản lý khoa học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

- “Những giải pháp tạo kênh cung cấp vốn cho doanh nghiệp KH&CN đầu tư tại KCNCHL” Phạm Đại Dương, Thạc sỹ Quản lý khoa học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Tuy nhiên cho đến nay chưa có đề tài nào liên quan đến vấn đề thu hút đầu tư của DNVVN CNC của Việt kiều ở Bắc Mỹ đầu tư vào KCNCHL được thực hiện Nhận thức được đây là một vấn đề quan trọng nên tác giả quyết định lựa chọn đề tài này để thực hiện

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 10

- Đề xuất một số giải pháp chính sách cần ban hành nhằm thu hút các DNVVN CNC của Việt kiều ở Bắc Mỹ đầu tư vào KCNCHL

- Các DNVVN CNC của Việt kiều ở Bắc Mỹ đầu tư vào KCNCHL

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Để thu hút các DNVVN CNC Việt kiều ở Bắc Mỹ đầu tư vào KCNCHL thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải ban hành các chính sách ưu đãi cụ thể nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Để thu hút các DNVVN CNC của Việt kiều tại Bắc Mỹ đầu tư vào KCNCHL, KCNCHL cần phải có những chính sách ưu đãi:

+ Xây văn phòng và nhà xưởng cho thuê

+ Tài chính: Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn qua các Quỹ đầu tư mạo hiểm, ưu đãi hơn về thuế cho doanh nghiệp và cá nhân làm việc trong doanh nghiệp + Thủ tục hành chính (thủ tục một cửa)

+ Hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật của KCNCHL

8 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập tài liệu, tổng hợp tài liệu và xử lý số liệu

Trang 11

- Phỏng vấn và tham khảo ý kiến chuyên gia đã và đang làm việc tại KCNCHL để thu thập các thông tin liên quan đến chính sách thu hút đầu tư tại KCNCHL

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và các biểu số liệu, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài

- Chương 2 Thực trạng chính sách và thực tế việc thu hút doanh nghiệp

vừa và nhỏ công nghệ cao của Việt Kiều đầu tư về nước nói chung và Khu Công nghệ cao Hoà Lạc nói riêng

- Chương 3 Giải pháp thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ công nghệ cao của Việt Kiều ở khu vực Bắc Mỹ đầu tư vào Khu Công nghệ cao Hoà Lạc

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm

1.1.1 Công nghệ

Để hiểu được công nghệ, tác giả xin đưa ra một số định nghĩa về công nghệ Trong quá khứ, con người xem khái niệm công nghệ với ý nghĩa là các phương tiện vật liệu như công cụ, khả năng và các vật liệu mà được tạo nên

và sử dụng trong dịch vụ và sản xuất Sau đó, công nghệ được hiểu với nghĩa hẹp hơn như là phương pháp, giải pháp kỹ thuật để xây dựng Từ những năm

1960, khi mà có những trao đổi về kinh doanh quốc tế thì sự hiểu biết về công nghệ rộng hơn Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về công nghệ

Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 của Việt Nam, công nghệ

là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

Theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 của Việt Nam, công nghệ

là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm

Theo UNIDO, công nghệ được hiểu là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các nghiên cứu và giải quyết chúng theo các phương pháp mang tính hệ thống

Theo định nghĩa của Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á Thái Bình Dương, công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ

Theo Wikipedia, công nghệ (hay công nghệ học hoặc kỹ thuật học) có nhiều hơn một định nghĩa Nhìn chung có thể hiểu công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến

Trang 13

đổi các nguồn lực thành sản phẩm Như vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn Việc tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ

Trong luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa công nghệ là sự kết hợp giữa các nguồn lực để sản xuất ra các sản phẩm mong muốn, để giải quyết các vấn đề, đáp ứng các nhu cầu hoặc thoả mãn các ước muốn; nó bao gồm các phương pháp kỹ thuật, kỹ năng, quy trình, kỹ thuật, công cụ và các vật liệu

1.1.2 Công nghệ cao

Theo Luật Công nghệ cao, công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao

về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có

Trong luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa Công nghệ cao như định nghĩa trong Luật Công nghệ cao đã đề cập ở trên

1.1.3 Doanh nghiệp

Theo Luật doanh nghiệp, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Trong luận văn này, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa Doanh nghiệp công nghệ là doanh nghiệp tạo ra công nghệ, sử dụng các thành tựu khoa học, hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, tham gia vào các hoạt động công nghệ, sống dựa vào công nghệ

Trang 14

1.1.4 Doanh nghiệp vừa và nhỏ công nghệ cao

mô đầu tư không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động không quá 300 người”1 Tuy nhiên, sau khi Nghị định 56/2009/NĐ-CP ra đời, định nghĩa về DNVVN

đã thay đổi “DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau2:

Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNVVN theo Nghị định 56

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

nguồn vốn

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

I Nông, lâm

nghiệp và thủy

sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

II Công

nghiệp và xây

dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

mại và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

Trang 15

1.1.4.2 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trên thế giới, định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ được hiểu và quy định khác nhau tuỳ theo từng nơi Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp,

số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp Các tiêu chí này có

ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó: Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế; Tài sản hay vốn: có thể

là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay

có xu hướng sử dụng chỉ số này) Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên Ví dụ như một doanh nghiệp có 400 lao động ở Việt Nam không được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng lại được tính là DNVVN ở Đức Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số về lao động, vốn để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thấp hơn so với các nước phát triển Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện Do đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chứng trong phân loại các SME giữa các ngành với nhau Trong thực tế, ở nhiều nước, người ta thường phân chia thành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khác nhau

Doanh nghiệp công nghệ cao là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công

Trang 16

nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao

1.1.4.3 Ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ:

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng

sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh:

- Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ cảu nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế

- Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao

Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng mạo hiểm sẵn sàng mạo hiểm Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được

Trang 17

Bên cạnh đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm

- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào

để thay thế vốn Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn,sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế

- Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ tất nhiên là không lớn lắm Số lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong

xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp

1.1.4.4 Hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn Các hạn chế khách quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNVVN nằm trong chính đặc điểm của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị

- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà

nó cung cấp sản phẩm

Trang 18

- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt

là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường

- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu

bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nói cách khác là không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh

- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường, các DNVVN thường

tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường

- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNVVN gặp khó khăn trong thiết lập

và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh nghiệp đó đang hoạt động

- Cũng do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNVVN gặp khó khăn trong thiết

lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường

1.1.5 Quỹ đầu tư mạo hiểm

1.1.5.1 Định nghĩa: Trên thực tế có hai định nghĩa về vốn mạo hiểm

được sử dụng rộng rãi, đó là định nghĩa rộng và định nghĩa hẹp

Định nghĩa rộng: vốn mạo hiểm là nguồn tài chính cung cấp cho các DNVVN dưới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu tư gần giống như vốn cổ phần có thời hạn trên trung bình (3 đến 5 năm) Đầu tư mạo hiểm là phương thức mà theo đó, nhà đầu tư hay những tổ chức chuyên môn hóa rót vốn vào những doanh nghiệp mới thành lập, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, có tốc độ tăng trưởng cao và thường sử dụng các công nghệ mới, hiện đại đang cần tài trợ để phát triển sản phẩm hoặc quá trình tăng trưởng

Số cổ phần dành được trong các công ty nhận vốn đầu tư có thể là thiểu

số ít ỏi hoặc lên đến đa số Mục tiêu đầu tư là tìm kiếm được khoản thu nhập

Trang 19

vốn cao hơn mức trung bình Khoản thu này trở thành hiện thực sau khi khoản đầu tư được bán cho một nhà kinh doanh chứng khoán hoặc, như hiện tượng phổ biến hơn ở một số nước Châu á là bán cho công chúng Bên cạnh việc cung cấp vốn, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm còn tư vấn, ở cấp chiến lược, hướng dẫn các công ty nhận vốn đầu tư bước sang giai đoạn tăng trưởng tiếp theo và chuẩn bị sẵn sàng để công ty được chuyển giao cho các cổ đông khác Những tư vấn này là một đặc điểm quan trọng và đặc thù của vốn mạo hiểm Đặc biệt, các nhà đầu tư mạo hiểm có một vị trí trong hội đồng quản trị của công ty nhận vốn đầu tư Từ vị trí này và các kinh nghiệm thu được từ các công ty khác, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm có thể tác động tới sự phát triển của các công ty nhận vốn đầu tư Các công ty quản lý vốn mạo hiểm khác nhau sẽ đặt ra các trọng tâm khác nhau về mức độ tham gia đầu tư Mức độ tham gia có thể là tối thiểu, thường gắn liền với một số cổ phần nhỏ, hoặc tham gia công việc thường nhật, như đóng vai trò chủ tịch hội đồng quản trị, thường gắn liền với việc nắm giữ đa số cổ phần Thuật ngữ vốn mạo hiểm trong định nghĩa này có thể được sử dụng đồng nghĩa với thuật ngữ vốn cổ phần

Định nghĩa hẹp: Phần thu hẹp của định nghĩa rộng xác định vốn mạo hiểm là các khoản đầu tư vốn cổ phần trung hạn vào các công ty nhận vốn chưa trưởng thành (start-up) Nói cách khác, công ty đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển sản phẩm, phát triển năng lực sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ Vì các công ty đang trong giai đoạn này có xu hướng lịch sử phát triển ngắn hơn và qui mô nhỏ hơn so với đa số các khoản đầu tư nêu trong định nghĩa rộng, nên rủi ro có xu hướng cao hơn Và do vậy, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm sẽ tìm kiếm các khoản thu nhập tiềm năng cao hơn

Sự khác biệt giữa hai định nghĩa này là mức độ trưởng thành của các công ty nhận vốn đầu tư Không có qui tắc rõ ràng nào (chẳng hạn một mức doanh số ổn định) để phân biệt hai loại công ty này Thay vào đó, định nghĩa hẹp được xem là đúng ở một đầu dải thời gian đáo hạn của một khoản đầu tư

cổ phần Tại các thị trường mà thị trường chứng khoán hoạt động tốt như Hoa

Trang 20

Kỳ, Anh… nhà cung cấp vốn có xu hướng tập trung vào đầu hoặc cuối dải thời gian đáo hạn Tuy vậy, vẫn có một số nhà cung cấp vốn sẵn sàng đầu tư trải dài trong dải này

Đầu tư mạo hiểm có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: đầu tư vốn vào các doanh nghiệp mà doanh nghiệp không cần

phải có một khoản đặt cọc hay ký quỹ nào

Thứ hai: vốn mạo hiểm được đầu tư vào doanh nghiệp chủ yếu dựa trên

sự tin tưởng vào việc tạo dựng thành công doanh nghiệp của người sáng lập

và đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp

Thứ ba: vốn mạo hiểm được đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó thì có

nghĩa là họ sẽ đồng tham dự vào việc kiểm soát điều hành doanh nghiệp Điều này cũng có nghĩa là họ sẽ phải đối mặt với rủi ro bị mất khoản đầu tư trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Tuy nhiên, rủi ro cao thì sẽ được bù đắp bởi lợi nhuận cao khi doanh nghiệp đó thành công

Thứ tư: bên cạnh việc cung cấp vốn, các chuyên gia quản lý quỹ đầu tư

mạo hiểm còn tư vấn ở cấp chiến lược, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp trong quản lý và mở rộng các mối quan hệ nhằm tăng cường năng lực hoạt động kinh doanh, tạo dựng uy tín, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường

Do tính chất “mạo hiểm” trong hoạt động đầu tư, các chuyên gia quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm thường tiến hành rất kỹ việc sàng lọc hay thẩm định đầu

tư nhằm tìm ra các doanh nghiệp tiềm năng để đầu tư Việc thẩm định đầu tư này được tiến hành trên tất cả các mảng của hoạt động kinh doanh, từ việc xem xét đội ngũ lãnh đạo, công nghệ cho đến mô hình kinh doanh

1.1.5.2 Tổng quan về một số Quỹ đầu tư mạo hiểm và cơ chế hỗ trợ

a Quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Ventures Việt Nam

Quỹ đầu tư IDG Ventures Việt Nam (IDGVV) là Quỹ đầu tư mạo hiểm

về công nghệ đầu tiên của Hoa Kỳ hoạt động tại Việt Nam Được thành lập vào tháng 8 năm 2004, với số vốn là 100 triệu USD, IDGVV giúp các doanh

Trang 21

nghiệp phát triển công ty của họ lên quy mô và phạm vi toàn cầu Về mặt tổ chức, IDGVV là công ty độc lập đầu tư thay mặt Tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG), tập đoàn lớn nhất thế giới hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, truyền thông và tổ chức sự kiện trên toàn thế giới Các quỹ đầu tư mạo hiểm của IDG (IDG Ventures) hoạt động trên toàn cầu với tổng số vốn lên đến 2 tỷ đô la Là một trong số ít những công ty hoạt động đầu tư mạo hiểm thành công trên thế giới, IDG Ventures đã và đang thực hiện trên 250 dự án đầu tư trải rộng từ Nước ngoài tới Châu Âu và Châu Á trong hơn 10 năm qua

b Quỹ đầu tư mạo hiểm DFJ VinaCapital

DFJ VinaCapital là một quỹ đầu tư trong VinaCapital (tập đoàn quản lý quỹ tiên phong tại Việt Nam với hơn 200 doanh nghiệp trong danh mục đầu tư) và cũng là một thành viên trong mạng lưới đầu tư Draper Fisher Jurvetson (DFJ) (mạng lưới quỹ đầu tư mạo hiểm hàng đầu thế giới với vốn tham gia trong hơn

600 công ty trên toàn cầu) Hai mạng lưới đầu tư lớn này giúp DFJ VinaCapital trở thành một nhà hỗ trợ đắc lực và là một cầu nối quan hệ lý tưởng cho các doanh nghiệp

Là một trong những quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên tại Việt Nam và với mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng và tiềm năng của các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, DFJ VinaCapital kết hợp kinh nghiệm đầu tư quốc tế cùng sự am hiểu về thị trường trong nước để giúp các công ty trong Quỹ phát triển thành công trong môi trường hoạt động tại Việt Nam Đầu tư của DFJ VinaCapital vào các công

ty được xây dựng dựa trên sự hợp tác lâu dài với những doanh nhân sáng lập DFJ VinaCapital tập trung đầu tư vào các công ty theo các tiêu chí sau:

- Phục vụ người tiêu dùng Việt Nam

- Sử dụng nguồn nhân lực Việt Nam để cung cấp sản phẩm và dịch vụ

- Sáng lập bởi người Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới

c Quỹ đầu tư mạo hiểm của Ngân hàng Phát triển Canada (BDC VC)

Quỹ Đầu tư mạo hiểm của Ngân hàng Phát Triển Canada (BDC VC) có

Trang 22

nhiệm vụ hỗ trợ các doanh nhân Canada tạo lập và phát triển thành công, phát triển công nghệ tiên tiến thông qua việc đầu tư và hỗ trợ giá trị gia tăng BDC

VC đóng vai trò là một đối tác chiến lược trong việc phát triển và thương mại hóa công nghệ, cũng như một chất xúc tác cho hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Canada BDC VC nỗ lực để có thể thu được lợi nhuận để:

- Đánh dấu sự thành công của các doanh nghiệp

- Kích hoạt và thu hút đầu tư trong tương lai và giá trị gia tăng hỗ trợ cho các doanh nghiệp

- Chứng minh khả năng tồn tại của ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm tại Canada và thu hút thêm vốn vào các loại hình tài sản này

BDC VC đã đầu tư hơn 1,2 tỷ đô la Canada để hỗ trợ 465 doanh nghiệp công nghệ của Canada trong vòng 25 năm qua

1.1.6 Chính sách

Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”

Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường

Cũng có một định nghĩa khác, “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân”

Như vậy, tác giả sử dụng định nghĩa về chính sách và có các phân tích khái niệm “chính sách” như sau:

Trang 23

- Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;

- Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế;

- Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng

1.1.7 Sự giao thoa về lợi ích giữa việc Việt Kiều đầu tư về các khu công nghệ cao và việc nhà nước tiếp nhận đầu tư của Việt Kiều

Trên thực tế, khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế đất nước, được khuyến khích phát triển ổn định, lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, góp phần phát huy nội lực và lợi thế so sánh của Việt Nam, tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Qua đánh giá, tác giả nhận thấy sự giao thoa giữa những lợi ích mà phía Việt Nam mong muốn đạt được và những lợi ích

mà phía các doanh nghiệp Việt Kiều đang tìm kiếm khi đầu tư vào các khu công nghệ cao tại Việt Nam, cụ thể như sau:

- Môi trường chính trị: Các doanh nghiệp Việt Kiều mong muốn đầu tư vào một môi trường ổn định chính trị, tránh những bạo động, hỗn loạn gây thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam có môi trường chính trị ổn định là một lợi thế lớn và hấp dẫn đối với việc đầu tư nước ngoài nói chung và Việt Kiều đầu tư về nước nói riêng Đồng thời, Việt Nam luôn muốn tạo một môi trường

ổn định, có sự đoàn kết giữa các dân tộc và các kiều bào nước ngoài tạo nên sức mạnh lớn cho dân tộc

- Môi trường pháp luật: Các doanh nghiệp nói chung luôn mong muốn đầu tư vào một môi trường có được sự hỗ trợ, ưu đãi lớn từ phía chính phủ, hệ thống pháp luật thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp Trong khi đó, Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến việc hỗ trợ các doanh nghiệp, đơn giản hoá thủ tục hành chính, đặc biệt thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh

Trang 24

nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Hệ thống Luật bao gồm Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,

- Nguồn nhân lực của Việt Nam dồi dào, ham học hỏi, đội ngũ trí thức tăng nhanh, thông minh, nhanh nhạy trong việc tiếp thu cái mới Và thực tế là nguồn nhân lực của Việt Nam rẻ Chính phủ Việt Nam luôn cố gắng để tạo công ăn việc làm cho người dân bằng cách thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài, thu hút các doanh nghiệp Việt Kiều Vấn đề tạo việc làm là một vấn đề rất lớn đối với chính phủ Việt Nam Trong khi đó, phía các doanh nghiệp nói chung cũng như các doanh nghiệp của Việt Kiều nói riêng luôn nhận được những cơ chế ưu đãi lớn từ nhà nước với mong muốn sẽ đầu tư về nước Chính bản thân những Việt Kiều khi đầu tư về nước, họ cũng mong muốn tạo việc làm cho người thân và người dân nước mình Đồng thời, với nguồn lao động rẻ như tại Việt Nam, các doanh nghiệp sẽ giảm bớt chi phí thuê nhân công và tạo doanh thu lớn hơn cho chính doanh nghiệp của họ

- Môi trường khu vực: Khu công nghệ cao là nơi có nhiều chính sách ưu đãi cũng như cơ chế thúc đẩy các nguồn vốn đầu tư nước ngoài Hiện nay, nhà nước rất quan tâm tới các khu công nghệ cao với nguồn nhân lực dồi dào, với nhiều cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Trong khi đó, các doanh nghiệp nói chung

và các doanh nghiệp của các Việt Kiều nói riêng đang cần môi trường như môi trường khu công nghệ cao để đầu tư phát triển Việc lấp đầy một cách hiệu quả các khu công nghệ cao là một công việc rất lớn và quan trọng đối với các nhà lãnh đạo của các khu công ngệ cao cũng như các cơ quan thuộc Chính phủ Việt Nam Do đó, sự gặp nhau giữa các Việt Kiều cũng như Chính phủ Việt Nam là rất phù hợp

- Về kinh tế: Khi đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là các Khu vực công nghệ cao với rất nhiều chính sách như vậy, các Việt Kiều rất thuận lợi để tạo

ra nguồn lợi nhuận lớn Đồng thời, việc đóng góp vào nguồn ngân sách nhà

Trang 25

nước cũng không nhỏ từ lợi nhuận và sự đầu tư của Việt Kiều vào Việt Nam Đây là một mục đích cũng như mục tiêu lớn của cả hai bên

1.2 Môi trường cho việc phát triển các DNVVN

1.2.1 Mô hình DNVVN CNC của Việt Kiều

Theo quy định tại chương V Luật Đầu tư năm 2005 về các hình thức đầu

tư, nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào Việt nam theo một trong các hình thức sau:

a) Các hình thức đầu tư trực tiếp

1 Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài

Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập các tổ chức kinh tế sau đây:

a) Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp

b) Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật

c) Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi

d) Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật

2 Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng xây dựng-vận hành-chuyển giao, hợp đồng xây dựng-chuyển giao-vận hành, hợp đồng xây dựng-chuyển giao

a) Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài

Trang 26

nguyên khác dưới hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan b) Nhà đầu tư ký kết hợp đồng xây dựng-vận hành-chuyển giao, hợp đồng xây dựng-chuyển giao-vận hành và hợp đồng xây dựng-chuyển giao với

cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quy định

3 Đầu tư phát triển kinh doanh

Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức sau đây:

 Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh

 Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường

4 Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư

5 Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

6 Các hình thức đầu tư trực tiếp khác

b) Các hình thức đầu tư gián tiếp

- Nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức sau đây:

 Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác

 Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán

 Thông qua các định chế tài chính trung gian khác

- Đầu tư thông qua mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác của tổ chức, cá nhân và thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật về chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Trang 27

1.2.2 Môi trường vĩ mô

 Tự nhiên: tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Về cơ bản thường tác động bất lợi đối với các hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có liên quan đến tự nhiên như: sản xuất nông phẩm, thực phẩm theo mùa, kinh doanh khách sạn, du lịch Để chủ động đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên, các doanh nghiệp phải tính đến các yếu tố tự nhiên có liên quan thông qua các hoạt động phân tích, dự baó của bản thân doanh nghiệp và đánh giá của các cơ quan chuyên môn Các biện pháp thường được doanh nghiệp sử dụng: dự phòng, san bằng, tiên đoán và các biện pháp khác Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp như vấn đề tiếng ồn, ô nhiễm môi trường và các doanh nghiệp phải cùng nhau giải quyết

 Kinh tế: Bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nền kinh tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hố đoái tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức với doanh nghiệp Để đảm bảo thành công của hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ và đe dọa Khi phân tích, dự báo sự biến động của các yếu tố kinh tế, để đưa ra kết luận đúng, các doanh nghiệp cần dựa vào 1 số căn cứ quan trọng: các số liệu tổng hợp của kì trước, các diễn biến thực tế của kì nghiên cứu,các dự báo của nhà kinh tế lớn

 Kỹ thuật - Công nghệ: đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến doanh nghiệp Các yếu tố công nghệ thường biểu hiện như phương pháp sản xuất mới, kĩ thuật mới, vật liệu mới, thiết bị sản xuất, các bí quyết, các phát minh, phần mềm ứng dụng Khi công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng các thành tựu của công nghệ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ

Trang 28

có chất lượng cao hơn nhằm phát triển kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy vậy, nó cũng mang lại cho doanh nghiệp nguy cơ tụt hậu, giảm năng lực cạnh tranh nếu doanh nghiệp không đổi mới công nghệ kịp thời

 Văn hóa - Xã hội: ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh doanh của một doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra Mỗi một sự thay đổi của các lực lượng văn hóa có thể tạo ra một ngành kinh doanh mới nhưng cũng có thể xóa đi một ngành kinh doanh

 Chính trị - Pháp luật: gồm các yếu tố chính phủ, hệ thống pháp luật, xu hướng chính trị các nhân tố này ngày càng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp Sự ổn định về chính trị, nhất quán về quan điểm, chính sách lớn luôn là sự hấp dẫn của các nhà đầu tư Trong xu thế toàn cầu hiện nay, mối liên hệ giữa chính trị và kinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện trong các quan hệ quốc tế Để đưa ra được những quyết định hợp lí trong quản trị doanh nghiệp, cần phải phân tích, dự báo sự thay đổi của môi trường trong từng giai đoạn phát triển Sự chi phối môi trường chính trị đến hoạt động kinh doanh diễn ra theo 2 chiều hướngkhuyến khích tạo điều kiện thuận lợi và kìm hãm, hạn chế sự phát triển của thị trường Trước trào lưu hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều cơ hội để phát triển song cũng gặp không ít khó khăn Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường quốc tế phải đối mặt với vô số những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của mình Trong những yếutố đó chính trị và luật pháp là hai vấn đề đáng quan tâm Sự thành công hay thất bại củadoanh nghiệp trong kinh doanh quốc tế phụ thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểucác chính sách, các luật lệ của nước sở tại hay không Cho dù doanh nghiệp đóng

ở đâu cũng bị ảnh hưởng của hệ thống luật pháp và các chính sách của chính phủ nước đó Các hệ thống và chính sách đó là: kinh kế nhằm điều chỉnh hành

vi kinh doanh, tiêu dùng, quan hệ trao đổi thương mại

Trang 29

 Tình hình an ninh chính trị, cơ chế điều hành của chính phủ: Đây là yếu

tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ, cácyếu

tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất

cứ ngành nào Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp

sẽ phải bắt buộc tuântheo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó

 Đoàn thể, các lực lượng chính trị, xã hội - nguồn nhân lực xã hội, quốc gia

 Môi trường hội nhập - quốc tế: Việt Nam chính thức gia nhập WTO cũng là yếu tố ảnh hưởng lâu dài tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc thông thoáng hơn trong các chính sách đối với nhà đầu tư nước ngoài khi hội nhập sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giới thiệu các sản phẩm nội địa tới bạn bè khắp năm Châu Năm 2006 Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO), các doanh nghiệp có những

cơ hội hợp tác với các đối tác nước ngoài thực hiện những dự án lớn, mang tầm cỡ quốc tế nhằm nâng cao trình độ kinh doanh, trình độ quản lý và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp Đứng trước những cơ hội và thách thức hội nhập như vậy, các doanh nghiệp đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về năng lực quản lý, điều hành, chiến lược kinh doanh, từng bước củng cố tiềm lực tài chính để có thể chủ động nắm bắt thời cơ và vận hành phù hợp với tình hình mới

1.2.3 Môi trường vi mô

Môi trường này bao gồm các yếu tố như nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, đối thủ tiềm ẩn, sản phẩm thay thế, thị trường lao động Tuỳ vào từng lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, tác động của môi trường vi

mô này sẽ có những điểm khác nhau có thể là tác động dương tính hoặc tác động âm tính

Trang 30

1.2.4 Môi trường bên trong

Môi trường bên trong bao gồm các nguồn lực về con người, tài chính, công nghệ, sản phẩm, giá, kênh, phân phối, xúc tiến quảng cáo… của doanh nghiệp Ngoài ra còn có văn hoá doanh nghiệp Cụ thể tập trung vào các điểm như sau:

Về công nghệ

Nhờ các phát minh cải tiến kỹ thuật, máy móc, trang thiết bị hiện đại được áp dụng nhiều hơn vào hoạt động kinh doanh, đặc biệt là một số doanh nghiệp có vốn cố định lớn Phải nói rằng hiện nay công nghệ khoa học phát triển với tốc độ chóng mặt, nếu ai biết tận dụng cơ hội, nhanh nhạy thích nghi

và áp dụng công nghệ tiên tiến người đó sẽ có sức mạnh lớn, số còn lại sẽ bị

tụt hậu và trở thành những người theo sau

Hỗ trợ về nguồn tài chính được đề cập trong luận văn gồm hai khía cạnh

đó là: hỗ trợ nguồn tài chính để hoạt động và phát triển; hỗ trợ về thuế

Thứ nhất, nói về hỗ trợ nguồn tài chính để hoạt động và phát triển Kết nối các nguồn tài chính là việc rất quan trọng và là việc hỗ trợ của Nhà nước

để giúp các DNVVN có cơ hội để gặp gỡ, tiếp cận với các nguồn quỹ, nguồn tài chính từ các tổ chức ngoài nhà nước Và cũng không ngoại lệ việc hỗ trợ nguồn tài chính từ nguồn ngân sách của nhà nước nhưng nguồn ngân sách của nhà nước chỉ là nguồn tài chính hỗ trợ Các DNVVN cần phải có được sự tài trợ, hỗ trợ từ các nguồn tài chính mang tính quốc tế nhằm phát triển mạnh mẽ mạng lưới DNVVN cũng như phát triển chính các DNVVN Từ đây, các

Trang 31

DNVVN sẽ trình bày những mong muốn về việc nhận hỗ trợ từ các loại quỹ như Quỹ Rủi ro, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia,…Đây là những nguồn tài chính được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động của DNVVN

Thứ hai, ngoài nguồn ngân sách mà nhà nước hỗ trợ thì nhà nước còn có chính sách hỗ trợ nhà nước về vấn đề thuế Tất cả các loại thuế liên quan đến việc hoạt động cũng như phát triển doanh nghiệp như thuế sử dụng đất, thuế thu nhập,…

Về nguồn nhân lực

Về đội ngũ quản lý: đòi hỏi một đội ngũ quản lý có kiến thức chuyên ngành về lĩnh vực mà doanh nghiệp kinh doanh, có khả năng lãnh đạo và nắm bắt được những nhu cầu về công nghệ của xã hội

Về đội ngũ chuyên gia: Đội ngũ chuyên gia là nguồn nhân lực chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp có phát triển hay không là nhờ vào nguồn nhân lực chính này

* Kết luận Chương 1: Các DNVVN là các doanh nghiệp có vốn đầu tư

cũng như lợi nhuận được coi là nhỏ hơn các doanh nghiệp khác Tuy nhiên, ở Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung, các DNVVN chiếm

tỷ lệ rất nhiều và có sư đóng góp lớn cho nền kinh tế Kết hợp với Doanh

nghiệp công nghệ cao là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao,

cung ứng dịch vụ công nghệ cao, có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao DNVVN CNC thực sự đang là mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu cũng như các cơ quan có thẩm quyền Môi trường cho các DNVVN CNC phát triển là có môi trường pháp lý thuận lợi, có đủ các nguồn lực để phát triển Đặc biệt, đối với các Việt Kiều thì các DNVVN là chiếm đa

số và trong đó các DNVVN CNC chiếm một phần không nhỏ do đặc điểm điều kiện địa lý, do đó cần có một môi trường thuận lợi nhất để tạo điều kiện cho chúng phát triển nhằm đạt được mục đích cả về chính trị và kinh tế Để tìm ra được các biện pháp thu hút và thúc đẩy sự phát triển của các DNVVN

Trang 32

CNC của Việt Kiều đầu tư về Việt Nam, thì tác giả xin phân tích thực trạng các giải pháp thu hút tại Chương 2

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VÀ THỰC TẾ VIỆC THU HÚT DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CÔNG NGHỆ CAO CỦA VIỆT KIỀU ĐẦU TƯ VỀ NƯỚC NÓI CHUNG VÀ KHU CÔNG NGHỆ CAO HOÀ LẠC NÓI RIÊNG

2.1 Tổng quan về các DNVVN của Việt Nam

2.1.1 Đặc điểm của các DNVVN của Việt Nam

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt nam đã đạt được sự tăng trưởng ấn tượng với mức tăng trưởng bình quân 8,22% 3 Tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và bao trùm đó thể hiện ở tất cả mọi lĩnh vực Thành công này được đúc kết từ việc chuyển đổi một cách ổn định nền kinh tế sang hướng thị trường,

cũng như tỷ lệ tăng trưởng nhanh chóng của khu vực kinh tế tư nhân

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2007 (%)

Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

GDP 8,15 5,76 4,77 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,44 NLTS 4,33 3,53 5,53 4,63 2,89 4,17 3,62 4,36 4,02 3,30 3,00 CNXD 12,62 8,33 7,68 10,07 10,39 9,48 10,48 10,22 10,69 10,37 10,40

DV 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,50

Tuy con số tăng trưởng này còn thấp hơn so với thời kỳ 1992 - 1997 (8,7%) song đây là thành tích đáng ghi nhận bởi lẽ sự tăng trưởng này có sự đóng góp to lớn từ tiềm lực nội địa, không phải dựa quá nhiều vào đầu tư bên ngoài như thời kỳ tiền khủng hoảng trước 1997 Khi nói đến nội lực, không thể nào không nói đến vai trò của khu vực kinh tế tư nhân mà trong đó các DNVVN chiếm một tỷ trọng lớn

3

“The Economist - Pocket World In Figures” ấn bản 1999 – 2007

Trang 34

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tính đến năm 2007, Việt Nam có khoảng 300.000 doanh nghiệp, trong số đó có đến 95% là DNVVN Riêng năm 2007, năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, đã

có khoảng 50.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn khoảng 400.000 tỷ đồng Với tốc độ như vậy, theo thống kê mới nhất của Cục Phát triển DNVVN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam hiện có trên 500.000 DNVVN, chiếm tới 98% số lượng doanh nghiệp với số vốn đăng ký lên gần 2.313.857 tỷ đồng (tương đương 121 tỷ USD) Trong đó, xét quy mô về vốn thì doanh nghiệp có số vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 41,8%; từ 1 đến 5 tỷ đồng chiếm 37,03%; doanh nghiệp có vốn từ 5 đến 10 tỷ đồng chỉ chiếm 8,18% Về quy mô lao động có tới 51,3% doanh nghiệp có dưới 10 lao động…4 Tại hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM, số lượng DNVVN chiếm đến 42,46% tổng số DNVVN của cả nước Riêng tại TPHCM, năm 2007 đó có hơn 18.500 doanh nghiệp mới thành lập với tổng vốn đăng ký là 160.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 10 tỷ USD) Bốn tháng đầu năm 2008, số DNVVN thành lập mới tại TPHCM vẫn tiếp tục tăng mạnh với 6.400 doanh nghiệp và tổng vốn

là 90.000 tỷ đồng, gần bằng 50% tổng vốn năm 2007 Trong năm 2005, ước tính đóng góp của các DNVVN vào GDP là 53% Không chỉ phát triển nhanh

về số lượng, trong 5 năm 2001-2005, DNVVN nói riêng và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói chung có nhịp độ tăng trưởng cao nhất Nếu năm 2000, loại hình doanh nghiệp này chiếm 24,6% trong giá trị sản xuất theo giá trị thực tế của toàn ngành công nghiệp, năm 2003 là 27,5%, năm 2004 tăng lên 28,5% thỡ đến năm 2005 vọt lên tới 37% 5

a) Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm số lượng lớn trên thị trường, và tốc độ gia tăng cao Theo luật doanh nghiệp quy định, việc thành lập DNVVN yêu cầu số vốn thành lập nhỏ, vì vậy số lượng DNVVN chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Với ưu điểm là vốn điều lệ thấp, điều này đã tạo một động lực to lớn cho các tổ chức kinh tế tư nhân đứng ra thành lập doanh

Trang 35

nghiệp của mình Mặt khác, từ trước đó đã tồn tại không ít các doanh nghiệp nhà nước có quy mô vốn nhỏ, lao động ít như các hợp tác xã, các doanh nghiệp nhà nước mới thành lập hoặc được tách ra…Với đặc điểm là vốn pháp định nhỏ như vậy, số lượng các DNVVN đã chiếm phần lớn về số lượng trong nền kinh tế và có tốc độ gia tăng cao Tính đến cuối năm 2007, số lượng DNVVN vào khoảng 190.000 doanh nghiệp; 2,9 triệu hộ kinh doanh cá thể và hơn 20.000 hợp tác xã, nước ta phấn đấu đến năm 2010, cả nước có 500.000 DNVVN Con số này đã khẳng định sự phát triển không ngừng về số lượng của các DNVVN Với tỷ trọng lớn như vậy trong nền kinh tế, đòi hỏi chính phủ phải có một chính sách hợp lý cho các DNVVN, đảm bảo sự phát triển ổn định của kinh tế

b) Các DNVVN có quy mô vốn nhỏ, lao động ít Mặc dù tăng nhanh về

số lượng nhưng nếu xét về quy mô vốn của các DNVVN trong những năm gần đây thì lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2 tỷ đồng/doanh nghiệp Theo quy định của Luật doanh nghiệp, DNVVN là các doanh nghiệp có số vốn pháp định không vượt quá 10 tỷ, và có số lao động không vượt quá 300 lao động Với số vốn nhỏ như vậy, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhất

là khó khăn trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn sản xuất cùng một loại sản phẩm trong thị trường Nhất là khi nền kinh tế có biến động lớn, ví dụ biến động về đầu vào, DNVVN khó có khả năng chống đỡ và dễ bị dẫn đến phá sản Đồng thời, với số lao động ít (< 300 người), các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gặp nhiều cản trở trong quá trình sản xuất kinh doanh và mở rộng sản xuất kinh doanh Nhất là với tình trạng ít lao động, doanh nghiệp vừa và nhỏ

sẽ khó có được các lao động với tay nghề cao Với số lao động ít như vậy, sẽ khó mở các lớp đào tạo nâng cao tay nghề nghiệp vụ cho các nhân viên Và vì

đa số người lao động, nhất là người lao động có tay nghề nghiệp vụ, trình độ chuyên môn giỏi, khi tìm kiếm việc làm đều có xu hướng muốn vào các doanh nghiệp lớn trên thị trường, điều này khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 36

gặp khó khăn trong quá trình tuyển mộ và phải đầu tư nhiều hơn cho công tác marketing tuyển mộ lao động

c) Đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân (chiếm khoảng 80%) do đặc điểm về quy mô vốn và số lượng lao động Điều này tạo khó khăn cho việc quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhất là đối với các doanh nghiệp tư nhân hoạt động linh hoạt nhưng kém hiệu quả Các doanh nghiệp tư nhân thường khi thành lập và trong quá trình hoạt động chưa

có một tầm nhìn chiến lược cho doanh nghiệp của mình Và trong khi vận hành sản xuất kinh doanh, khi có một biến cố xảy ra thì không có kinh nghiệm chống đỡ hoặc không đủ khả năng chống đỡ, dẫn đến thua lỗ hoặc nặng hơn là phá sản Việc quản lý các doanh nghiệp tư nhân cũng rất khó khăn Nhiều doanh nghiệp còn cố tình làm ăn phi pháp, cố tình trốn thuế và không thực hiện đúng chế độ kế toán thống kê Để quản lý tốt các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đòi hỏi một sự theo dõi sát sao và thực sự có hiệu quả Như vậy mới có thể mới kiểm soát được hoạt động của loại hình doanh nghiệp này

d) Kinh nghiệm hoạt động còn chưa nhiều Không kể các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ đã thành lập lâu đời và hoạt động ổn định, đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều là các doanh nghiệp tư nhân được thành lập trong hoặc sau thời kỳ mở cửa nền kinh tế hoặc là các doanh nghiệp Nhà nước vừa được tách ra Với những doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập khá lâu mà hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, có hiệu quả, họ sẽ dần dần mở rộng nguồn vốn của mình và đứng vào hàng ngũ những doanh nghiệp lớn Như vậy, kinh nghiệm hoạt động của loại hình doanh nghiệp này chưa nhiều Với số vốn ít

và bề dày kinh nghiệm hạn chế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, chống đỡ với những thay đổi trong quá trình hoạt động của mình

Trang 37

e) Trình độ công nghệ và phương pháp quản lý lạc hậu Đây là vấn đề nổi cộm đối với tổng thể các doanh nghiệp của nước ta do đặc điểm nền kinh tế chưa thực sự phát triển.Ở doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, một thực trạng phổ biến trong các DNVVN là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 15-

20 năm trong ngành điện tử, 20 năm đối với ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệt may đã sử dụng được 20 năm Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới Thực trạng này dẫn đến tăng chi phí đầu vào, cao hơn từ 30 - 50% so với các nước ASEAN, đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao và năng suất thấp (Nguồn từ Vietnamnet) Nhiều DNVVN rất yếu kém trong tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực thấp, hạn chế về trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý doanh nghiệp, một phần là do đầu

tư cho hệ thống thông tin thấp, chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưa theo kịp diễn biến của thị trường Vì thế, nhiều quyết định kinh doanh được đưa ra chỉ dựa vào kinh nghiệm và phán đoán cảm tính, đây là điểm yếu nhất các DNVVN của Việt Nam trước áp lực cạnh tranh quốc tế

f) Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động linh hoạt, năng động Trong nền kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những thành phần hoạt động linh hoạt nhất Với mỗi thay đổi nhỏ nhất của nền kinh tế, các doanh nghiệp vừa

và nhỏ đều chịu tác động và phải điều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với mỗi biến đổi đó Với tính năng động như vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đạt được hiệu quả trong hoạt động của mình và đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế Sự đa dạng về loại hình hoạt động, phương thức quản lý, sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp cho họ đứng vững được trong thị trường

2.1.2 Vai trò của các DNVVN trong nền kinh tế Việt Nam

Vai trò của các DNVVN ở Việt Nam không chỉ thể hiện ở giá trị kinh tế

Trang 38

mà nó tạo ra, quan trọng hơn và có ý nghĩa then chốt là việc tạo công ăn việc làm Theo thống kê, có tới 90% việc làm mới được tạo ra từ khu vực này, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển đồng đều giữa các vùng, khu vực trong

cả nước Đội quân hùng hậu này đã đóng góp rất nhiều cho đất nước trong nhiều khía cạnh, cụ thể như sau:

Thứ nhất, các DNVVN có vị trí rất quan trọng ở chỗ, chúng chiếm đa số

về mặt số lượng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia tăng mạnh Ở hầu hết các nước doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng trên dưới 90 % tổng số các doanh nghiệp Tốc độ gia tăng các doanh nghiệp vừa

và nhỏ nhanh hơn các doanh nghiệp lớn Hiện nay, chưa có số liệu thống kê

về doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách chính thức, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cũng chiếm khoảng 80-90% tổng số các doanh nghiệp

Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự tăng

trưởng của nền kinh tế Chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP

ở mỗi nước, Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý TW, thì hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếp khoảng 24% GDP

Thứ ba, tác động lớn nhất của doanh nghiệp vừa và nhỏ là giải quyết một

số lượng lớn chổ làm việc cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm cho người lao động, thì khu vực này vượt trội hẳn so với khu vực khác, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc, ở hầu hết các nước doanh nghiệp vừa

và nhỏ tạo việc làm cho khoảng từ 50- 80% lao động trong các nghành công nghiệp và dịch vụ Đặc biệt trong nhiều thời kỳ các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thu hút thêm nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn khu vực doanh nghiệp lớn

ở Việt Nam cũng theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế TW, thì

số lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực phi nông nghiệp

Trang 39

có khoảng 7,8 triệu người, chiếm tới 72,9% tổng số lao động phi nông nghiệp

và chiếm khoảng 22,5% lực lượng lao động của cả nước

Thứ tư, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm năng động nền kinh

tế trong cơ chế thị trường, do lợi thế quy mô vừa và nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường

Thứ năm, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút được khá nhiều vốn

ở trong dân Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào dân cư và yêu cầu về

số lượng vốn ban đầu không nhiều, cho nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ

cố tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chúng tạo lập dần tập quán đầu tư vào sản xuất kinh doanh và hình thành các khu vực để thực hiện

có kết quả vấn đề huy động vốn của dân cư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước

Thứ sáu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn đối với quá trình

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại- dịch vụ phát triển Sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn góp phần đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp

Thứ bảy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần vào đô thị hoá phi tập

trung và thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương” Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn sẻ thu hút những người lao động thiếu hoặc chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ trong các

kỳ nông nhàn vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, nhưng vẫn sống tại quê hương

Trang 40

bản quán,không phải di chuyển đi xa, thực hiên phương châm “ly nông bất ly hương” Đồng hành với nó là hình thành những khu vực khá tập trung các cơ

sở công nghiêp và dịch vụ ngay tại nông thôn, tiến dần lên hình thành nhứng thị tứ, thị trấn, là hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, là quá trình đô thị hoá phi tập trung

Thứ tám, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi ươm mầm các tài năng

kinh doanh, là nơi đào tạo các nhà doanh nghiệp Kinh doanh quy mô nhỏ sẽ

là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp làm quen với môi trường kinh doanh Bắt đầu từ kinh doanh quy mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy mô vừa và nhỏ, một số nhà doanh nghiệp sẽ trưởng thành nên những nhà doanh nghiệp lớn tài ba, biết đưa doanh nghiệp của mình nhanh chóng phát triển Các tài năng kinh doanh sẻ được ươm mầm từ đây

Như vậy, vai trò to lớn của DNVVN trong công cuộc phát triển kinh tế quốc gia là vấn đề không thể phủ nhận

2.2 Chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư tại Việt Nam

Như đã nêu trên, DNVVN có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế và

xã hội, là khu vực doanh nghiệp có vai trò then chốt trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp vào ngân sách nhà nước Các DNVVN có vốn đầu tư ban đầu tuy không lớn nhưng được hình thành và phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực; là khu vực khai thác và huy động các nguồn lực, tiềm năng, tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư và tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn

Từ cuối năm 2007 cho đến nay, nền kinh tế nước ta chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng

số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới vẫn tăng: tính hết năm 2009, gần 85.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng gần 30% so với năm

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNVVN theo Nghị định 56 - Một số chính sách thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ công nghệ cao của Việt Kiều tại khu vực Bắc Mỹ đầu tư vào Khu Công nghệ cao Hoà Lạc
Bảng 1.1 Tiêu chí phân loại DNVVN theo Nghị định 56 (Trang 14)
Hình 1: Quy hoạch chung điều chỉnh Khu Công nghệ cao Hòa Lạc - Một số chính sách thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ công nghệ cao của Việt Kiều tại khu vực Bắc Mỹ đầu tư vào Khu Công nghệ cao Hoà Lạc
Hình 1 Quy hoạch chung điều chỉnh Khu Công nghệ cao Hòa Lạc (Trang 51)
Bảng 2.2: Thuế suất cho các nhà đầu tư - Một số chính sách thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ công nghệ cao của Việt Kiều tại khu vực Bắc Mỹ đầu tư vào Khu Công nghệ cao Hoà Lạc
Bảng 2.2 Thuế suất cho các nhà đầu tư (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w