1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh thông quan việc vận dụng mô hình quản trị sáu Sig

92 692 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về nhân lực KH&CN Định nghĩa của UNESCO nhân lực KH&CN S&T personnel là “Những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được

Trang 1

MỤC LỤC

KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 4

LỜI CẢM ƠN 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Tên đề tài: 6

2 Lý do nghiên cứu 6

3 Lịch sử nghiên cứu: 7

4 Mục tiêu nghiên cứu: 8

5 Phạm vi nghiên cứu: 8

6 Mẫu nghiên cứu: 8

7 Vấn đề nghiên cứu: 8

8 Giả thuyết nghiên cứu: 8

9 Phương pháp nghiên cứu: 8

10 Luận cứ: 9

11 Kết cấu của luận văn: 9

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAOCHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC KH&CN 10

1.1 Nhân lực KH & CN 10

1.1.1 Khái niệm về nhân lực KH&CN 10

1.1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN 14

1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực KH&CN 15

1.2 Chất lượng trong giáo dục đại học 17

1.2.1.Các quan niệm về chất lượng 17

1.2.2 Những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chất lượng 20

1.2.3 Chất lượng của quá trình đào tạo 21

1.3 Khái niệm về dự án 22

1.3.1 Khái niệm 22

Trang 2

1.3 2 Đặc trưng cơ bản về dự án 23

1.4 Các khai niệm về tổ chức và cấu trúc tổ chức 25

1.4.1 Các khai niệm 26

1.4.2 Các loại cấu trúc tổ chức 26

Kết luận chương 1 29

CHƯƠNG 2.HIỆN TRẠNG NHÂN LỰC KH&CN TỈNH ĐỒNG NAI VÀ LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO 30

2.1 Hiện trạng nhân lực KH&CN tỉnh Đồng Nai 30

2.1.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên 30

2.1.2 Dân số và lao động 30

2.1.3 Kết quả giải quyết việc làm 2001 - 2010 31

2.1.4 Cơ cấu nhân lực theo giới tính, nhóm tuổi 31

2.1.5 Nhân lực theo trình độ học vấn 33

2.1.6 Nhân lực theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 35

2.1.7 Hiện trạng hệ thống đào tạo 36

2.1.8 Các Điều kiện đảm bảo đào tạo 37

2.2 Tổ chức hoạt động Trường Đai học L Nghiệp iệt Na (Cơ 2) Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 38

2.2.1.Chức năng nhiệm vụ Trường ĐHLN VNCS2 39

2.2.2.Sơ đồ tổ chức hiện nay của Trường ĐHLN VNCS2 43

2.2.3 Ngành nghề đào tạo và số lượng sinh viên: 43

2.2.4 Trình độ đội ngũ giảng viên và công nhân viên nhà trường 53

2.2.5 Công tác NCKH; ứng dụng; phát triển và chuyển giao công nghệ 56

2.2.6 Chất lượng đào tạo 57

2.3 Tiềm lực một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có liên quan với nhà Trường và khả năng huy động vào đào tạo 59

2.3.1 Tiềm lực của một số doanh nghiệp 59

2.3.2 Kết quả phỏng vấn 63

Trang 3

2.3.3 Khả năng huy động nhân lực và cơ sở hạ tầng doanh nghiệp vào đào tạo

nhân lực của nhà trường 64

2.4 Thực trạng mối quan hệ nhà trường và Doanh nghiệp 66

Kết luận chương 2 70

CHƯƠNG 3 LIÊN KẾT NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆPTHEO MÔ HÌNH DỰ ÁN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC KH&CN 71

3.1 Điều kiện để nâng cao chất lượng 71

3.1.1 Cơ vật chất tốt 71

3.1.2 Cần có đội ngũ giáo viên giỏi 71

3.1.3 Sinh viên có động lực học tốt 72

3.2 Liên kết nhà trường và doanh nghiệp 72

3.2.1 Huy động cơ hạ tầng DN phục vụ đào tạo 72

3.2.2 Thầy tham gia sản xuất và NCKH 73

3.2.3 Huy động cán bộ DN tha gia đào tạo 73

3.2.4 Đào tạo theo địa chỉ là động lực thúc đẩy sinh viên tích cực học tập 73

3.3 Một số mô hình 73

3.3.1 Điều kiên hình thành dự án 73

3.3.2 Các mô hình dự án 75

3.3.3 Một số mô hình cụ thể 77

3.3.4 Mô hình dự án theo kết cấu ma trận 78

3.4 Giải pháp hình thành và thúc đẩy liên kết nhà trường – DN 85

3.4.1 về phía doanh nghiệp 85

3.4.2 về phía nhà trường 85

3.4.3 về phía nhà nước 88

Kết luận chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

KẾT LUẬN 90

KHUYẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 4

DANH SÁCH NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

KH& CN Khoa Học và công nghệ

ĐHLN N(CS2) Đại học Lâm nghiệp Việt Na (Cơ 2)

OECD Ogannization for Economic Cooperation and Development

( tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ) UNESCO United Nations Educational Scietific and Cultual

(Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc) CLNL Chất lượng nhân lực

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thộn

LKĐT Liên kết đào tạo

HSSV Học sinh sinh viên

Trang 5

Để hội nhập và phát triển, không có cách nào khác Việt Nam phải từng bước xây dựng cho được nguồn nhân lực chất lượng cao, theo kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới Yêu cầu này ngày càng trở nên bức thiết

Thực tế cho thấy hiện nay hầu hết các địa phương ở nước ta nhân lực KH&CN còn ít về số lượng, yếu về chất lượng, vừa thừa lại vừa thiếu, phân công,

bố trí chưa hợp lý nên hiệu quả sử dụng thấp Chúng ta còn thiếu các chuyên gia đầu ngành, số đông các chuyên gia đều đã lớn tuổi, không ít cán bộ KH&CN đi làm việc trái ngành hoặc bỏ nghề, hoặc không sống được với nghề vì thu nhập thấp…

Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực

Trang 6

con người Yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Đất nước đang rất cần nhân lực trình độ cao, mà mũi nhọn là nhân tài, điều này chỉ có được khi có các cơ sở đào tạo chất lượng tốt với đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục tương xứng

Mâu thuẫn gay gắt giữa đào tạo theo khả năng của nhà trường với nhu cầu của

xã hội và thị trường lao động Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải có sự liên hệ, phối hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa giảng dạy NCKH, đào tạo và sử dụng Nhà trường và doanh nghiệp liên kết đào tạo, NCKH, chuyển giao công nghệ nhằm tạo hợp lực phát huy thế mạnh của nhà trường và của doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực KH&CN

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay việc liên kết hợp tác toàn diện giữa nhà trường và doanh nghiệp hầu như chưa có

Trong quá trình này đã nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc cần nghiên cứu, về lý luận cũng như thực tiễn đòi hỏi phải “ Đổi mới liên kết nhà Trường với doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ” Liên kết đào tạo giữa trường đại học và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía Các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu của thị trường lao động

Vì lợi ích của chính mình, hoạt động đào tạo của trường đại học luôn hướng tới nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu doanh nghiệp Mặt khác tiềm lực của các Doanh nghiệp rất lớn, nhà Trường cần tìm cách huy động các nguồn lực đó phục vụ đào tạo

Việc nghiên cứu những vấn đề này có ý nghĩa khoa học và mang tính thực tiễn, vì vậy tôi chọn đề tài “Đổi mới liên kết nhà trường với doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN”

(Nghiên cứu tại trường Đại học Lâm Nghiêp Việt Nam - Cơ sở 2 Trảng Bom- Tỉnh Đồng Nai)

3 Lịch sử nghiên cứu:

Trang 7

Hiện nay ở Tỉnh Đồng Nai chưa có cơ quan hoặc cá nhân nào nghiên cứu việc liên kết nhà trường với doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN

4 Mục tiêu nghiên cứu:

- Đề xuất các giải pháp gắn đào tạo nhu cầu doanh nghiệp

- Tận dụng tiềm lực doanh nghiệp phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo

5 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu giới hạn về liên kết theo mô hình dự án giữa trường Đại học Lâm Nghiêp Việt Nam - Cơ sở 2 Trảng Bom- Tỉnh Đồng Nai, với một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

+ Thời gian diễn biến sự kiện:

Từ năm 2008 đến tháng 9 năm 2011

6 Mẫu nghiên cứu:

Trường Đại học Lâm Nghiêp Việt Nam - Cơ sở 2 Trảng Bom- Tỉnh Đồng

Nai và 6 doanh nghiệp trên địa bàn

7 Vấn đề nghiên cứu:

- Làm thế nào để đào tạo đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp?

- Làm thế nào để tận dụng tiềm lực của doanh nghiệp phục vụ cho nâng cao

chất lượng ?

8 Giả thuyết nghiên cứu:

- Doanh nghiệp là nơi tiếp nhận nhân lực KH& CN Nên cần liên kết theo

mô hình dự án để đào tạo tạo gắn kết tốt với nhu cầu doanh nghiệp

- Tiềm lực doanh nghiệp mạnh, bổ xung cho nhà trường nâng cao chất lượng đào tạo, sự bổ sung nay được thể hiện liên kết theo mô hình dự án

9 Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu sách, tài liệu, các văn bản có liên quan đến nhân lực và và mô hình dự án đào tạo nhân lực KH&CN xây dựng luận cứ lý thuyết

Trang 8

Nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát, phỏng vấn, phân tích, xử lý thống

kê các tài liệu thu thập được, tổng hợp kết quả phân tích

Phân tích đánh giá nội quan, ngoại quan để chứng minh giả thuyết

Tham khảo ý kiến các nhà khoa học và chuyên gia

- Thực trạng nhân lực KH&CN tại trường Đại học Lâm Nghiêp Việt Nam -

Cơ sở 2 Trảng Bom- Tỉnh Đồng Nai và các doanh nghiệp trên địa bàn

- Thực trạng liên kết đào tạo nhà trường và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

11 Kết cấu của luận văn:

Luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN

Chương 2: Hiện trạng nhân lực KH&CN tỉnh Đồng Nai và liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo

Chương 3: Liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án để nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN

Kết luận và khuyến nghị

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC KH&CN

1.1 Nhân lực KH&CN

1.1.1 Khái niệm về nhân lực KH&CN

Định nghĩa của UNESCO nhân lực KH&CN (S&T personnel) là “Những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan,

tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ”.[10;5]

Như vậy, UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo bằng cấp mà phân biệt theo công việc hiện thời

Nguồn nhân lực KH&CN theo OECD, là những người đáp ứng được một trong hai điều kiện sau:

- Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn khoa học và công nghệ ( từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình

độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo)

- Không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CNmà đòi hỏi trình độ trên Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc.[10;7]

Tổng hợp hai tiêu chí trên thì nhân lực KH&CN theo OECD bao gồm:

- Những người có bằng cấp, trình độ tay nghề trở lên và làm việc hoặc không làm việc trong lĩnh vực KH&CN, ví dụ: Giáo sư đại học, tiến sĩ về kinh tế, bác sỹ nha khoa làm việc tại phòng khám, chuyên gia đang thất nghiệp, nữ vận động viên chuyên nghiệp và có bằng y học v.v

- Những người được coi là trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhưng không có bằng cấp, như nhân viên lập trình máy tính hoặc cán bộ quản lý quầy hàng nhưng không có bằng cấp v.v

Trang 10

- Những người làm việc trong lĩnh vực R&D nhưng không đòi hỏi trình độ cao như: Thư ký của cơ quan nghiên cứu và phát triển, văn thư trong các trường đại học v.v [10;7]

Như vậy, nguồn nhân lực KH&CN theo OSCD được hiểu theo nghĩa rất rộng bao gồm cả những người tiềm tàng/tiềm năng chứ không phải những người đang tham gia hoạt động KH&CN, để khi cần thiết có thể huy động những người tiềm tàng/ tiềm năng này tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN [10;10]

Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm có thể lực và trí lực Các tiềm năng về thể lực đã được khai thác tận dụng triệt để, còn các tiềm năng

về trí lực cũng được chú ý nhưng khai thác còn ở mức độ mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng tiềm năng và còn nhiều bí ẩn trong mỗi con người

Định nghĩa khác là nhân lực là toàn bộ số lượng người có thể làm việc khi cần thiết

Lực lượng lao động là một bộ phận dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định có khả năng lao động có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc

Nhân lực KH&CN được phát triển trên nền tảng của nguồn nhân lực, nó quyết định việc nâng cao chất lượng và bổ sung số lượng nguồn nhân lực

Tiếp cận từ chức năng nghề nghiệp thì nhân lực KH&CN được định nghĩa

“Nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động KH&CN”.[10;12]

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài khái niệm nhân lực KH&CN được hiểu là tập hợp những nhóm người tham gia vào hoạt động KH&CN trong các lĩnh vực: sản xuất- kinh doanh; Sự nghiệp (các viện, trường đại học); Hành chính quản lý với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của KH&CN, của sự phát triển kinh tế- xã hội

Trang 11

Nội hàm:

Lực lượng hành chính, quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan bao gồm các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý có trình độ cao, am hiểu về hoạt động KH&CN Họ làm việc tại các cơ quan hành chính cơ quan quản lý chuyên nghiệp, các phòng ban ở trường học, học viện, trung tâm dịch vụ KH&CN

Lực lượng sự nghiệp có trình độ chuyên môn cao, chiếm số đông Họ làm việc ở các đơn vị sự nghiệp, giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Họ không chỉ tham gia giảng dạy mà còn tham gia NCKH, chuyển giao công nghệ đối với các doanh nghiệp

Lực lượng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Với chức năng nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu KH&CN và phát triển thực nghiệm

Lực lượng trong lĩnh vực kinh tế- xã hội, sự nghiệp thường xuyên tiến hành công tác NCKH

Trong nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế nên thường xảy ra các trường hợp di động xã hội, thay đổi nghề nghiệp, chức vụ

Để có một khái niệm hoàn chỉnh về nhân lực KH&CN cần thiết phải xem xét các

mô đun thành tố của hệ thống khoa học và công nghệ gồm:

- Tạo công nghệ bao gồm nghiên cứu, sáng tạo để làm ra công nghệ trong nước và nắm vững hiểu sâu về quá trình thử nghiệm, thích nghi và hoạt động thương mại hoá công nghệ nhập ngoại

- Áp dụng công nghệ là quá trình nắm vững thiết kế và kỹ thuật tiến tới làm chủ công nghệ để xây dựng xí nghiệp, thử nghiệm, vận hành, sản xuất thử để đi tới quá trình sản xuất liên tục và ổn định

- Môi trường chính sách bao gồm cơ cấu chính sách, công cụ kế hoạch hoá, những luật lệ và thể chế hoá…trong việc thực thi chính sách về tài chính, các phương tiện vật chất và các chế tài kích cầu

- Cơ sở hạ tầng bao gồm các tiêu chuẩn, cấp phát tài chính, các tổ chức tư vấn và công trình, các cơ quan về an toàn công nghiệp…

Trang 12

Trên cơ sở những nghiên cứu cơ bản về hệ thống KH&CN cho thấy nhân lực KH&CN đóng vai trò rất quan trọng trong tất cả 4 modun của hệ thống Xét theo chức năng và nghề nghiệp thì chức năng của nhân lực KH&CN bao gồm:

- Nghiên cứu sáng tạo;

- Giảng dạy;

- Quản lý;

- Khai thác sử dụng và tác nghiệp

a/ Chức năng nghiên cứu sáng tạo:

Được gọi bằng nhiều tên khác nhau, chỉ đề cập đến thuật ngữ các nhà nghiên cứu hay các nhà khoa học

Các nhà khoa học thường làm việc ở các tổ chức nghiên cứu khoa học và

công nghệ, thường có trình độ cao (từ tốt nghiệp đại học trở lên) khác nhau về trình

độ, năng lực, khả năng chuyên môn, chức danh…

Các nhà khoa học chỉ có thể làm việc hiệu quả trong môi trường thuận lợi mà

ở đó họ được tôn trọng, được phát huy hết khả năng sáng tạo, được cung cấp đầy

đủ thông tin, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, có mối liên hệ chặt chẽ với các nhà nghiên cứu đồng nghiệp trong và ngoài nước

b/ Chức năng giảng dạy:

Đề cập đến thuật ngữ giảng viên trường Đại học

Giảng viên bao gồm những người thuộc biên chế của trường làm công tác giảng dạy và những cán bộ kinh tế - kỹ thuật, cán bộ quản lý làm việc trong và ngoài trường tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm nhiệm, có trình độ chuyên môn bậc Thạc sĩ trở lên, có năng lực sư phạm, đạt tiêu chuẩn chuyên môn theo quy định của bộ Giáo dục và Đào tạo, có khả năng giảng dạy lý thuyết và thực hành các môn học bậc Đại học và thấp hơn

c/ Chức năng quản lý:

Nhân lực KH&CN hoạt động theo chức năng quản lý gọi theo thuật ngữ nhà quản

lý, có vai trò vị trí cực kỳ quan trọng

Trang 13

Tiến hành các công việc nhập khẩu, làm thích nghi, lắp đặt và truyền bá công nghệ Nhóm này không chỉ bao gồm các kỹ sư mà còn gồm các nhà quản lý có trình

độ cao như:

- Lựa chọn công nghệ;

- Làm các quyết định về khuyến khích giảm thuế xuất, nhập khẩu công nghệ, xác định lựa chọn công nghệ;

- Các vấn đề về điều khoản của các License (Luật sư);

- Đánh giá hiệu quả của việc thay đổi công nghệ (Nhà kinh tế);

Việc đề xuất, đánh giá không chỉ dựa trên năng lực trình độ chuyên môn đơn thuần mà còn đòi hỏi các kiến thức và khả năng tư duy phân tích tổng hợp

d/ Chức năng khai thác sử dụng và tác nghiệp:

Nhóm người hoạt động trong lĩnh vực này gọi bằng thuật ngữ công nhân kỹ thuật bao gồm:

Cán bộ kỹ thuật là những người biết toàn bộ hoặc từng phần của công nghệ, hoạt động trên bình diện rất rộng, đa dạng

Công nhân tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất, quá trình công nghệ với nhiệm vụ là người tác nghiệp

Việc phân nhóm theo chức năng nghề nghiệp đang làm trong lĩnh vực khoa học và công nghệ sẽ thuận lợi hơn khi xem xét về chức năng hoạt động, kinh nghiệm công tác, trình độ đào tạo và nghề nghiệp của từng nhóm người đó trong tổng thể nhân lực khoa học và công nghệ

1.1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN

Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực

là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KT-XH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực

Trang 14

của họ được huy động vào quá trình lao động Kinh tế phát triển cho rằng: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng

số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng

và chất lượng Như vậy theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…

1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực KH&CN

Theo UNIDO “Phát triển nguồn nhân lực KH&CN là sự phát triển con người một cách hệ thống như là chủ thể và khách thể của sự phát triển quốc gia, nó bao gồm toàn bộ các khía cạnh kinh tế và công nghiệp, trong đó đề cập đến sự nâng cao khả năng của con ngưòi, nâng cao năng lực sản xuất, khả năng sáng tạo, khuyến khích các chức năng lãnh đạo…thông qua giáo dục, đào tạo và nghiên cứu”.[10;16]

Theo định nghĩa của hiệp hội Mỹ “Phát triển nguồn nhân lực KH&CN nghĩa

là sử dụng một cách tổng hợp các hoạt động đào tạo và phát triển, phát triển tổ chức, phát triển nghề nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả của cá nhân nhóm người lao động hay cơ quan” [10;16]

Theo các chuyên gia Nam Phi định nghĩa là các hoạt động học hỏi một cách

có tổ chức trong nội bộ cơ quan để nâng cao hiệu quả hoạt động hoặc phát triển đội ngũ nhân lực nhằm củng cố nghề nghiệp hoặc phát triển cá nhân hay tổ chức,

cơ quan [10;16]

Trang 15

Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động học tập

có tổ chức được tiến hành trong các khoản thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động

Phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển

- Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả chức năng nhiệm vụ của mình

- Giáo dục là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề nghiệp mới thích hợp hơn trong tương lai

- Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức hoặc phát triển khả năng nghề nghiệp của

động trực tiếp hấp thụ kiến thức mà xã hội cung cấp

Mục tiêu chung của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối

đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp và thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai

Như vậy, nâng cao không ngừng chất lượng giáo dục đại học là vấn đề cần được quan tâm và là yêu cầu cấp bách của tất cả những nhà quản lý giáo dục, cán bộ giảng dạy, sinh viên và cũng là của toàn xã hội Đây cũng là giải pháp duy nhất giúp giáo dục đại học Việt Nam thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, vươn lên ngang tầm khu vực, tiến tới tiếp cận trình độ giáo dục đại học thế giới

Trang 16

1.2 Chất lượng trong giáo dục đại học

1.2.1.Các quan niệm về chất lượng

Chất lượng luôn là vấn đề được quan tâm của tất cả các trường đại học và việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo nào

Theo từ điển tiếng Việt phổ thông “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)…làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với

sự vật (sự việc) khác”

Theo Oxford Dictionnary: “Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản”

Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814-1994 phù hợp với ISO/DIS 8402:

“Chất lượng là tập hợp các đạt tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những du cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn”[4;33]

Chất lượng có một loạt định nghĩa trái ngược nhau và rất nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này đã diễn ra tại các diễn đàn khác nhau mà nguyên nhân của nó là thiếu một cách hiểu thống nhất về bản chất của vấn đề

- Chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”:

Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng một trường đại

học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó” Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực”, có nghĩa là:

Nguồn lực = chất lượng Theo quan điểm này, một trường đại học tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao

Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo đang được diễn

ra rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài (4 đến 6 năm) trong trường đại học Thực tế, theo cách đánh giá này, quá trình đào tạo được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra” Sẽ khó giải thích trường hợp một trường đại học có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chỉ có

Trang 17

những hoạt động đào tạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho sinh viên một chương trình đào tạo hiệu quả

- Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”:

Một quan điểm về chất lượng giáo dục đại học cho rằng “đầu ra” của giáo dục đại học có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo

“đầu ra” chính là sản phẩm của giáo dục đại học được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó

Có hai vấn đề cơ bản liên quan đến cách tiếp cận chất lượng giáo dục đại học này Một là, mối liên hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” không được xem xét đúng mức Trong thực tế mối liên hệ này là có thực, cho dù đó không hoàn toàn là quan hệ nhân quả Một trường có khả năng tiếp nhận các sinh viên xuất sắc, không có nghĩa

là sinh viên của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Hai là, cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau

- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”:

Quan điểm thứ ba về chất lượng giáo dục đại học cho rằng một trường đại học có tác động tích cực tới sinh viên khi trường đó tạo ra được sự khác biệt trong

sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của sinh viên “Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào” kết quả thu được là “giá trị gia tăng” mà trường đại học đã đem lại cho sinh viên và được cho là chất lượng đào tạo của trường đại học

Nếu theo quan điểm này về chất lượng giáo dục đại học, một loạt vấn đề phương pháp luận nan giải sẽ nảy sinh: khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất

để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và

đánh giá chất lượng của trường đó Hơn nữa các trường trong hệ thống giáo dục đại học lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các trường đại học Cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng được xác định sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào tạo trong từng trường đại học

Trang 18

- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”:

Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán

bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học Điều này có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ lớn,

có uy tín khoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao

Điểm yếu của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường đại học để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường không thuần học thuật Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi có xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng

- Chất lượng được đánh giá bằng "Văn hoá tổ chức riêng":

Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường đại học phải tạo ra được "Văn hoá tổ chức riêng" hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì vậy một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được "Văn hoá tổ chức riêng" với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức Quan điểm này được mượn từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại nên khó có thể

áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đại học

- Chất lượng được đánh giá bằng "Kiểm toán":

Quan điểm này về chất lượng giáo dục đại học xem trọng quá trình bên trong trường đại học và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem các trường đại học có thu thập đủ thông tin phù hợp và những người ra quyết định có đủ thông tin cần thiết hay không Quan điểm này cho rằng nếu một cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác và chất lượng giáo dục đại học được đánh giá qua quá trình thực hiện, còn "đầu vào" và "đầu ra" chỉ là các yếu tố phụ

Trang 19

Điểm yếu của cách đánh giá này là sẽ khó lý giải những trường hợp khi một

cơ sở đào tạo có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể có những quyết định chưa phải là tối ưu

Ngoài sáu quan điểm nêu trên, tổ chức Đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học quốc tế (INQAAHE -International Network of Quality Assurance Agencies in Higher Education) đã đưa ra hai định nghĩa về chất giáo dục đại học như sau:

-Tuân theo các chuẩn quy định;

- Đạt được các mục tiêu đề ra

Theo định nghĩa thứ nhất, cần có Bộ tiêu chí chuẩn cho giáo dục đại học, về tất cả các lĩnh vực và việc kiểm định chất lượng một trường đại học sẽ dựa vào Bộ tiêu chí chuẩn đó Khi không có Bộ tiêu chí chuẩn việc kiểm định chất lượng giáo dục đại học sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá Những mục tiêu này

sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển KT-XH của đất nước và những điều kiện đặc thù của trường đó

Như vậy để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường cần dùng Bộ tiêu chí

có sẵn; hoặc dùng các chuẩn đã quy định; hoặc đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu đã định sẵn từ đầu của trường Trên cơ sở kết quả đánh giá, các trường sẽ được xếp loại theo 3 cấp độ:

- Chất lượng tốt;

- Chất lượng đạt yêu cầu;

- Chất lượng không đạt yêu cầu

Các tiêu chí hay các chuẩn phải được lựa chọn phù hợp với mục tiêu kiểm định

1.2.2 Những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chất lượng

Chất lượng là một khái niệm động nhiều chiều và nhiều học giả cho rằng không cần thiết phải tìm cho nó một định nghĩa chính xác Tuy vậy, việc xác định một số cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này là điều nên làm và có thể làm được Theo quan niệm truyền thống một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm được

Trang 20

làm ra một cách hoàn thiện bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền Nó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho người sở hữu nó

Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật)

Chất lượng là sự phù hợp với mục đích

Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của nhà trường

Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người sử dụng lao động được đào tạo)

+ Quan niệm về chất lượng trong giáo dục đại học

Khó đưa ra một định nghĩa về chất lượng trong giáo dục đại học được mọi người thừa nhận Cách tiếp cận này xem chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều và với những người ở cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét Đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên thì ưu tiên khái niệm chất lượng là ở quá trình đào tạo, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập Đối với những người sử dụng lao động thì lại ở đầu ra tức trình độ, năng lực và kiến thức của sinh viên tốt nghiệp… Chất lượng cần được xác định theo ý nghĩa, mục tiêu của nó ở khía cạnh này có thể có chất lượng cao, nhưng ở khía cạnh khác, lĩnh vực khác lại có thể là chất lượng thấp

1.2.3 Chất lượng của quá trình đào tạo

Với cách lý giải về khái niệm chất lượng trong giáo dục đại học vừa được trình bày ở trên, cần xem xét lĩnh vực nào của giáo dục đại học sẽ được đánh giá về chất lượng Từ trước tới nay giáo dục đại học có mục đích chung là thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước bằng cách cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo ở trình độ nhất định

Mục đích này được thực hiện bằng hai hoạt động có liên quan với nhau:

- Đào tạo sinh viên đáp ứng nhu cầu về nhân lực của các ngành, các tổ chức trong toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước;

- Làm phong phú thêm kho tàng kiến thức thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học Để đánh giá chất lượng các công trình nghiên cứu và tác động của nó tới quá trình đào tạo là rất khó nên theo quan niệm của tác giả nên mặc nhiên công

Trang 21

nhận xem nghiên cứu khoa học là một chức năng không thể thiếu để đảm bảo chất lượng của quá trình đào tạo

Chất lượng đào tạo thể hiện chính qua năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương trình đào tạo Năng lực này bao hàm các thành tố:

- Khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức được đào tạo;

- Kỹ năng thực hành được đào tạo;

- Năng lực nhận thức và năng lực tư duy được đào tạo;

- Phẩm chất nhân văn được đào tạo

+ Tương tác giữa nghiên cứu khoa học và quá trình đào tạo

Trong nhà trường chuyên nghiệp các hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm những nghiên cứu cơ bản và những nghiên cứu ứng dụng, tạo ra những công nghệ mới để chuyển giao hoặc có thể bán trên thị trường Những hoạt động này có tác động tích cực qua lại đến chất lượng của quá trình đào tạo Nghiên cứu khoa học

là một chức năng không thể thiếu để đảm bảo chất lượng quá trình đào tạo

Để đánh giá, xác định chất lượng của một khoá học theo dự án nhà trường và doanh nghiệp cần xem xét chất lượng công tác thiết kế khoá học đó như chương trình khung, chương trình chi tiết, các môn học, các giáo trình cơ bản, giảng viên,

cơ sở vật chất đảm bảo cho khóa học thành công Cần xem xét thêm quá trình thực hiện khoá học, chất lượng đầu ra dựa trên mục tiêu chi tiết của khoá học

Tác giả nghiên cứu sử dụng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục Đại học Việt Nam để so sánh đánh giá thực trạng chất lượng quá trình giáo dục tại trường ĐHLNVNCS2

1.3 Khái niệm về dự án

1.3.1 Khái niệm:

Theo từ điển tiếng Anh OXFORD:

-Dự án là một chuổi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn và ngân sách được xác định nhằm xác định mục tiêu là đạt được một kết quả duy nhất nhưng được xác định rõ

Theo viện quản trị dự án:

Trang 22

-Dự án là một nổ lực nhất thời được thưc hiện để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ độc nhất vô nhị

Theo đại bách khoa toàn thư:

-Dự án (Project) là điều người ta có ý định làm hay đặt kế hoạch cho một ý

đồ, một quá trình hành động v v…

-Dự án là một nổ lưc tổng hợp bao gồm các nhiệm vụ có liên quan với nhau được thực hiện trong giới hạn về thời gian và ngân sách và với một mục tiêu được định nghĩa một cách rõ ràng

-Dự án là một tập hợp có tổ chức các hoạt động và các quy trình đã được tạo

ra để thực hiện các mục tiêu riêng biệt trong các giới hạn về nguồn lực, ngân sách

và các kỳ hạn đã được xác định trước

Như vậy, dự án là phương thức người lãnh đạo đạt được mục tiêu của mình bằng người khác và thông qua người khác điều khiển các bên tham gia dự án tiến hành việc xác định, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát nguồn lực và ngân sách hoạt động, và những chuỗi hoạt động có liên quan lẫn nhau được lập ra nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu cụ thể với các nguồn lực nhất định trong một thời hạn cụ thể nhằm đạt được một cách có hiệu quả các mục tiêu đề ra

1.3.2 Đặc trưng cơ bản của dự án:

a/ Xác định rõ mục tiêu:

Bất cứ dự án nào cũng phải thực hiện một mục tiêu nhất định, kết quả của

nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà khách hàng mong muốn Khi mục tiêu dự án đã được xác định thì khó có thể thay đổi hay sửa chữa

Mục tiêu của dự án được đề ra trên phạm vi công việc, kế hoạch tiến độ và

sự ràng buộc về chi phí và nguồn lực, có kế hoạch và thời gian hoàn thành và đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về thời gian, chất lượng và chi phí đã định

b/ Tính chất đặc thù:

Một số dự án do tính chất đặc thù, chưa có tiền lệ trong quá khứ Một số dự

án do hoàn cảnh bên trong và bên ngoài cũng có đặc điểm và thời gian khác nhau

c/ Tính ràng buộc về chi phí và nguồn lực:

Trang 23

Mỗi dự án đều cần dùng một lượng nguồn lực nhất định để thực hiện Nó bao

gồm nhân lực (giám đốc dự án, thành viên dự án), vật lực (trang thiết bị, nguyên vật liêu) và tài lực Dự án phải chịu sự ràng buộc về giá thành, phù hợp với yêu cầu của

khách hàng

d/ Tính trình tự trong quá trình thực hiện dự án:

Mỗi dự án đều là nhiệm vụ có tính trình tự và giai đoạn, đây chính là sự khác biệt lớn nhất giữa dự án và nhiệm vụ công việc mang tính trùng lặp Cùng với sự kết thúc của hợp đồng và bàn giao kết quả thì dự án cũng kết thúc

f/ Tính không xác định của dự án

Mỗi dự án đều có tính không xác định, tức là khi thực hiện dự án cụ thể do

sự tác động của hoàn cảnh bên trong, bên ngoài nên việc thực hiện có sự thay đổi so với kế hoạch ban đầu Dự án có thể hoàn thành trước thời gian hoặc có thể bị kéo dài so với kế hoạch ban đầu, có thể giá thành cao hơn dự kiến, thậm chí kết quả thực hiện dự án cũng không giống với kết quả dự định Trước khi thực hiện dự án cần phân tích đầy đủ các nhân tố bên trong và bên ngoài mà chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới dự án Trong quá trình thực hiện mục tiêu dự án cũng cần tiến hành quản lý và khống chế có hiệu quả nhằm hạn chế những sai sót có thể xảy ra

e/ Người uỷ quyền riêng của dự án

Mỗi dự án đều có người ủy quyền chỉ định riêng hay còn gọi là khách hàng

Đó chính là người yêu cầu về kết quả dự án, người cung cấp nguyên vật liệu để thực hiện dự án Họ có thể là một người, một tập thể, một tổ chức hay nhiều tổ chức có chung nhu cầu về kết quả của dự án

Trong một số trường hợp người uỷ quyền của dự án cũng chính là người được uỷ quyền

g/ Tính bất biến của kết quả dự án

Dự án không giống như công việc khác sai có thể sửa Khi thực hiện dự án buộc phải đảm bảo chắc chắn sự thành công của nó bởi nguồn nhân tài vật lực của

dự án đã được xác định và tính toán từ trước Khi thực hiện dự án phải dự trù được

Trang 24

những khả năng xảy ra nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu đề ra theo đúng thời gian quy định

l/ Những nhân tố ràng buộc sự thành công của mục tiêu dự án

Mục đích cuối cùng của mỗi dự án là để thực hiện một mục tiêu nhất định, mục tiêu này phải đáp ứng được nhu cầu của người được uỷ quyền trong quá trình thực hiện dự án Việc thực hiện thành công mục tiêu dự án chịu sự ràng buộc của bốn yếu tố: sự đánh giá của khách hàng, phạm vi dự án, tiến độ dự án và chi phí dự

án

- Sự đánh giá của khách hàng

Mục đích cuối cùng của việc thực hiện dự án là để thoả mãn nhu cầu của khách hàng Sự đánh giá của người được uỷ quyến sẽ trực tiếp quyết định dự án có thành công hay không Để thực hiện mục tiêu dự án chắc chắn thành công và để thoả mãn nhu cầu khách hàng trước khi thực hiện dự án phải căn cứ vào yêu cầu của

họ để định ra một kế hoạch cho dự án Bản kế hoạch bao gồm tất các nhiệm vụ công

việc, giá thành và thời gian dự định hoàn thành dự án

- Tiến độ dự án

Là sự sắp xếp thời gian thực hiện dự án Mỗi dự án đều có thời gian bắt đầu

và kết thúc Căn cứ vào tình hình thực tế của khách hàng và người được uỷ quyền

để định ra thời gian hoàn thành công việc

Trong phạm vi luận văn tác giả muốn đề cập đến một mô hình dự án theo kết cấu ma trận

1.4 Các khái niệm về tổ chức và cấu trúc tổ chức

Trang 25

a Cấu trúc chức năng: Dự án được chia ra làm nhiều phần và được phân

công tới các bộ phận chức năng hoặc các nhóm trong bộ phận chức năng thích hợp

Dự án sẽ được tổng hợp bởi nhà quản lý chức năng cấp cao

Ưu điểm:

- Sử dụng hiệu quả các kinh nghiệm và các phương tiện chung;

- Cơ cấu tổ chức cho hoạnh định và kiểm soát;

- Tất cả các hoạt động đều có lợi từ những công nghệ hiện đại nhất;

- Tiên liệu trước những hoạt động trong tương lai để phân bổ nguồn lực;

- Sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất;

- Ổn định và phát triển nghề nghiệp lâu dài cho nhân viên;

- Phù hợp cho loại hình sản xuất đại trà;

Nhược điểm:

Trang 26

- Không có quyền lực dự án tập trung, không có ai có trách nhiệm cho dự án tổng thể

- Ít hoặc không có hoạch định và viết báo cáo dự án;

- Ít quan tâm đến yêu cầu của khách hàng;

- Việc thông tin liên lạc giữa các chức năng gặp khó khăn;

- Khó tổng hợp các nhiệm vụ đa chức năng;

- Có khuynh hướng quyết định theo những nhóm chức năng có ưu thế nhất

b Cấu trúc dự án

Một nhà quản lý phải chịu trách nhiệm quản lý một nhóm / tổ gồm những thành viên nòng cốt được chọn từ những bộ phận chức năng khác nhau trên cơ sở làm việc toàn phần (full-time) Các nhà quản lý chức năng không có sự tham gia chính thức

Ưu điểm:

- Có sự kiểm soát chặt chẽ do có quyền lực dự án;

- Thời gian xúc tiến dự án nhanh chóng ;

- Khuyến khích sự cân đối về thành quả, thời gian biểu và chi phí;

- Tạo sự trung thành của các thành viên trong dự án;

- Có mối quan hệ tốt với các đơn vị khác;

- Quan tâm đến yêu cầu của khách hàng

Nhược điểm:

- Sử dụng nguồn lực không hiệu quả;

- Không chuẩn bị những công việc trong tương lai;

- Ít có cơ hội trao đổi kỹ thuật giữa các dự án;

- Ít ổn định nghề nghiệp cho những thành viên tham gia dự án;

- Khó khăn trong việc cân đối công việc khi dự án ở giai đoạn bắt đầu và kết thúc

c Cấu trúc ma trận:

Cấu trúc này là sự kết hợp của hai dạng cấu trúc chức năng và dự án

Ưu điểm:

Trang 27

- Sử dụng hiệu quả nguồn lực, - Tổng hợp dự án tốt;

- Luồng thông tin được cải thiện;

- Đáp ứng sự thích nghi nhanh chóng, - Duy trì kỷ luật làm việc tốt;

- Động lực và cam kết được cải thiện

Nhược điểm:

- Sự tranh chấp về quyền lực, - Gia tăng các mâu thuẫn;

- Thời gian phản ứng lại chậm chạp;

- Khó khăn trong giám sát và kiểm soát;

- Quản lý phí tăng cao, - Trải qua nhiều căng thẳng (stress)

Kết cấu tổ chức dạng ma trận là một loại hình tổ chức được tạo ra để kết hợp giữa các bộ phận được phân chia theo chức năng và bộ phận được phân chia theo dự

án trong cùng một cơ cấu tổ chức Hình thức tổ chức này vừa có thể phát huy ở mức lớn nhất ưu thế của hai loại hình thức tổ chức, vừa tránh được những thiếu sót của chúng trên một mức độ nhất định

Ưu điểm của kết cấu này là có sự ủng hộ lớn về trí lực và kỹ thuật, việc sử dụng nhân lực cũng tương đối linh hoạt, có sự phân công chuyên môn hoá, có ưu thế về mặt phân bổ nguồn lực, nhân viên của một bộ phận chức năng nào đó không những có thể nhận chức vụ trong dự án A, dự án B mà còn có thể phục vụ rất nhiều

dự án trong cùng một khoảng thời gian, các nguồn lực khác như máy móc, trang thiết bị có thể điều phối trong bất kỳ dự án nào, như vậy sẽ đảm bảo cho nguồn lực được tận dụng triệt để

Kết cấu tổ chức chặt chẽ, phân cấp quản lý rõ ràng Sau khi đội ngũ dự án được xây dựng, dưới sự dẫn dắt của giám đốc dự án đã hình thành nên một tổ chức mang tính tổng thể để thực hiện mục tiêu đã định, tổ chức vận hành công việc một cách hiệu quả

Trong phạm vi luận văn tác giả muốn đề cập đến một mô hình dự án kết cấu

ma trận phối hợp toàn diện hai trong một giữa “cung” và “cầu” nhà trường và

doanh nghiệp, từ mục tiêu chất lượng và lợi ích chung hai bên phối hợp tạo sức

Trang 28

mạnh tổng hợp chung để hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

Kết luận chương 1

1 Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, xã hội trong xu thế chuyển đổi, thì vai trò của sự liên doanh, liên kết và hợp tác toàn diện trên cơ sở các bên cùng có lợi là rất quan trọng và cần thiết

2 Các trường đại học đột phá vào đổi mới triết lý giáo dục, đổi mới tư duy với mục tiêu tập trung mọi nguồn lực để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo để sinh viên ra trường có việc làm và làm được việc Liên doanh, liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, phát huy lợi thế về nhân lực khoa học và công nghệ về

cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà xưởng… từng bước giảm dần tiến tới chấm dứt tình trạng đào tạo không đạt chuẩn, sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc theo đúng ngành nghề đào tạo hoặc dễ dàng chuyển đổi nghề nghiệp, để thích ứng với nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động, với môi trường làm việc, đáp ứng yêu cầu cao của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và xã hội, củng cố và tăng cường lòng tin của người học, người sử dụng và toàn xã hội đối với giáo dục đại học, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về chất lượng giáo dục, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

3 Theo quan điểm kinh tế thị trường, nhà trường là một “doanh nghiệp đặc biệt” với đội ngũ cán bộ giảng viên có nhiều tiềm năng (dù chưa đạt chuẩn về số và chất lượng), cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế thiếu thốn Trong khi doanh nghiệp có

điều kiện về vốn, cơ sở vật chất, chuyên gia lành nghề, có kinh nghiệm thực tế…và luôn có nhu cầu nhân lực KH&CN có chất lượng phù hợp, nhu cầu sáng tạo sản phẩm mới

Liên kết đào tạo, NCKH và chuyển giao công nghệ theo mô hình dự án kết cấu ma trận là phương án có hiệu quả, thiết thực trong việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN trong giai đoạn hiện nay

Trang 29

CHƯƠNG 2

HIỆN TRẠNG NHÂN LỰC KHCN TỈNH ĐỒNG NAI VÀ LIÊN KẾT GIỮA

NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO

2.1 Hiện trạng nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Nai

2.1.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên

Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ nước Việt Nam, có diện tích 5.903,940 km, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ Dân số toàn tỉnh đến năm 2010 là 2.559.673 người, mật độ dân số: 433,553 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm

2010 là 1,12% Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa

- là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Nhơn Trạch; Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú

Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai tiếp giáp với các địa phương sau đây:

Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh

Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1 , quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc

- Nam; gần cảng biển nước sâu, gần sân bay quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên

2.1.2 Dân số và lao động:

Năm 2005 dân số của tỉnh Đồng Nai là 2.249.989 người trong đó: Dân số khu vực thành thị là 710.108 người, khu vực nông thôn là 1.539.881 người Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Nai là

Trang 30

1.119.995 người, không hoạt động kinh tế - xã hội 279.998 Lao động nông nghiệp chiếm 44,74%, công nghiệp chiếm 27,67%, thương mại - dịch vụ chiếm 27,59%

Năm 2010 dân số của tỉnh Đồng Nai là 2.559.673 người trong đó: Dân số khu vực thành thị là 1.023.869 người, khu vực nông thôn là 1.535.804 người Tổng

số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Nai là 1.379.972 người, không hoạt động kinh tế - xã hội 445.234 Lao động nông nghiệp chiếm 34,99%, công nghiệp chiếm 33,59%, thương mại - dịch vụ chiếm 31,42%

2.1.3 Kết quả giải quyết việc làm 2001 – 2010:

- Từ năm 2001 đến năm 2010 giải quyết việc làm cho 813.580 lượt người (trong đó có 7.980 bộ đội xuất ngũ):

Trong đó:

+ Giải quyết việc làm thông qua các chương trình kinh tế xã hội 788.143 lượt

người: đưa vào các doanh nghiệp là 429.171 lượt người (Trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tuyển dụng 259.256 lượt lao động; các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần tuyển dụng 123.756 lượt lao động; các doanh nghiệp Nhà nước tuyển dụng 10.159 lượt lao động); Thông qua lồng ghép các chương trình đã giải quyết việc làm cho 358.972 lượt người, (riêng chương trình giảm nghèo đã giải quyết việc làm được cho 66.546 lượt người)

2.1.4 Cơ cấu nhân lực theo giới tính, nhóm tuổi

- Cơ cấu nhân lực theo giới tính:

Năm 2005, tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh Đồng Nai là 1.149.772 người Đến năm 2010, tổng số lao động đang làm việc là 1.379.970 người

+ Hiện trạng nhân lực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Hiện

nay có khoảng 1.000 đơn vị, trong đó gần 870 Doanh nghiệp đã đi vào hoạt động tuyển dụng trên 410.000 lao động, lao động nữ 254.200 người (chiếm 62%)

Trang 31

+ Hiện trạng nhân lực của các doanh nghiệp có vốn nhà nước (kể cả doanh

nghiệp đã cổ phần hóa): Có 129 doanh nghiệp với tổng số lao động trên 60.872 người, lao động nữ 31.653 người (chiếm 52%)

+ Hiện trạng nhân lực của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

khác: Có trên 12.500 doanh nghiệp, với tổng số lao động trên 220.000 người, lao động nữ 118.800 người (chiếm 54%)

- Cơ cấu nguồn nhân lực theo nhóm tuổi :

Lao động chia theo nhóm tuổi qua các năm

ĐVT:1.000 người

I Tổng số 1197,5 1434,2 1490,0 1551,2 1615,1 1679,1 1753,4 Phân theo độ tuổi

Trang 32

Cụ thể:

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 410.000 người

+ từ 18 -25 tuổi: 143.500 người (35%)

+ từ 25 - 35 tuổi: 196.800 người (48%)

+ Trên 35 tuổi : 69.700 người (17%)

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 220.000 người

+ từ 18 - 25 tuổi: 55.000 người (25%)

+ từ 25 - 35 tuổi: 66.000 người (35%)

+ Trên 35 tuổi : 99.000 người (40%)

Doanh nghiệp có vốn nhà nước: 60.872 người

Trang 33

động tốt nghiệp trung học phổ thông Trình độ học vấn của lực lượng lao động đang dần được nâng lên, số lao động tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông đang có xu hướng tăng lên

- Cơ cấu trình độ học vấn của đội ngũ CBCC,VC (không bao gồm ngành Y

tế, Giáo dục) cấp tỉnh, huyện hiện nay chủ yếu là từ cấp trung học phổ thông trở

lên, số lượng công chức, viên chức chưa tốt nghiệp trung học cơ sở là rất ít, không còn trình trạng chưa tốt nghiệp tiểu học và không biết chữ; cụ thể như sau:

+ Tốt nghiệp trung học cơ sở: 90 người, chiếm tỉ lệ 1,68%;

+ Tốt nghiệp trung học phổ thông: 5252 người, chiếm tỉ lệ 99,32%

- Hiện trạng chất lượng nhân lực các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 410.000 người

+ Chưa biết chữ: 2.050 người (0,5%)

+ Chưa tốt nghiệp tiểu học: 18.450 người (4,5%)

+ Tốt nghiệp tiểu học: 41.000 người (10%)

+ Tốt nghiệp trung học cơ sở: 184.500 người (45%)

+ Tốt nghiệp trung học phổ thông: 164.000 người (40%)

- Hiện trạng chất lượng nhân lực các Doanh nghiệp không có vốn nhà nước: 220.000 người

+ Chưa biết chữ: 3.000 người (1,4%)

+ Chưa tốt nghiệp tiểu học: 17.600 người (8%)

+ Tốt nghiệp tiểu học: 30.800 người (14%)

+ Tốt nghiệp trung học cơ sở: 110.000 người (50%)

+ Tốt nghiệp trung học phổ thông: 58.600 người (26,6%)

- Hiện trạng chất lượng nhân lực các Doanh nghiệp có vốn nhà nước: 60.872 người

+ Chưa biết chữ: 0 người

Trang 34

+ Chưa tốt nghiệp tiểu học: 2.435 người (4%)

+ Tốt nghiệp tiểu học: 4.260 người (7%)

+ Tốt nghiệp trung học cơ sở: 25.566 người (42%)

+ Tốt nghiệp trung học phổ thông: 28.611 người (47%)

2.1.6 Nhân lực theo trình độ chuyên môn – kỹ thuật:

a) Cơ cấu nhân lực theo trình độ chuyên môn – kỹ thuật:

Tổng số và cơ cấu đội ngũ nhân lực theo trình độ chuyên môn – kỹ thuật: Trong tổng số 1.379.970 người lao động trong độ tuổi có 47% lao động không có nghề (chưa qua đào tạo), 8,2% lao động được đào tạo sơ cấp nghề, 28,38% lao động

là công nhân kỹ thuật (không có bằng), 3,91% lao động có trình độ trung cấp nghề, 1,07% lao động có trình độ cao đẳng nghề, 3,25% lao động có trình độ Trung cấp chuyên nghiệp và 8,19 % lao động có trình độ Cao đẳng, đại học trở lên

- Các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

+ Không có nghề (chưa qua đào tạo): 168.100 người (41%)

+ Công nhân kỹ thuật chưa có bằng: 114.800 người (28%)

+ Công nhân kỹ thuật có bằng: 61.500 người (15%)

+ Trung cấp, cao đẳng: 41.000 người (10%)

+ Đại học trở lên: 24.600 người (6%)

- Các Doanh nghiệp không có vốn nhà nước:

+ Không có nghề (chưa qua đào tạo): 121.000 người (55%)

+ Công nhân kỹ thuật chưa có bằng: 39.600 người (18%)

+ Công nhân kỹ thuật có bằng: 28.600 người (13%)

+ Trung cấp, cao đẳng: 19.800 người (9%)

+ Đại học trở lên: 11.000 người (5%)

- Các Doanh nghiệp có vốn nhà nước:

Trang 35

+ Công nhân kỹ thuật chưa có bằng: 17.672 người (29%)

+ Công nhân kỹ thuật có bằng: 14.600 người (24%)

+ Trung cấp, cao đẳng: 6.080 người (10%)

+ Đại học trở lên: 5.478 người (9%)

Lao động hiện nay đang thiếu, đặc biệt lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật chuyên sâu đáp ứng yêu cầu công việc ngay khi được tuyển dụng Trong khi hàng năm vẫn có lực lượng lớn sinh viên, học sinh nghề ra trường nhưng việc tìm kiếm để tuyển dụng được một đội ngũ nhân sự vững tay nghề, đáp ứng ngay yêu cầu công việc mà không phải đào tạo lại vẫn còn khó khăn vì việc thực hành tại các

cơ sở đào tạo nghề hiện nay còn nhiều hạn chế, sinh viên không có điều kiện tiếp cận với máy móc thiết bị hiện đại như các nhà máy mới đầu tư Vì vậy thường các

DN tổ chức đào tạo ngắn ngày khi mới tuyển lao động

b) Cơ cấu nhân lực theo cơ cấu ngành nghề:

Năm 2010 tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh Đồng Nai là 1.379.970 người, có 52% đã qua đào tạo trong đó 35% đã qua đào tạo nghề Lao động nông nghiệp chiếm 34,99%, công nghiệp chiếm 33,59%, thương mại - dịch vụ chiếm 31,42%

2.1.7 Hiện trạng hệ thống đào tạo

Hệ thống cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh: Đến năm 2010 trên địa bàn tỉnh

có 4 trường đại học (ĐH Dân lập Lạc Hồng, ĐH Công nghiệp TP.HCM, ĐH Đồng Nai, ĐH Lâm nghiệp Việt Nam cơ sở 2), 6 trường cao đẳng nghề, 3 trường cao đẳng có đào tạo nghề, 6 trường trung cấp chuyên nghiệp, 10 trường trung cấp nghề,

10 trung tâm dạy nghề công lập, 33 trung tâm dạy nghề dân lập và 15 công ty, đơn

vị khác có dạy nghề

Chương trình đào tạo sau Đại học thuộc Đề án phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Đồng Nai: Trong giai đoạn 5 năm thực hiện chương trình, số lượng ứng viên đăng ký (bao gồm cả đối tượng là cán bộ chủ chốt do Sở Nội vụ phụ trách) là 743, trong đó 564 ứng viên được xét duyệt tham gia chiếm tỉ lệ 75% cụ thể: năm 2006

Trang 36

(90 ứng viên), năm 2007 (51 ứng viên), năm 2008 (95 ứng viên), năm 2009 (159 ứng viên) và năm 2010 (169 ứng viên) Tuy nhiên, trong tổng số ứng viên được duyệt theo quyết định của UBND tỉnh thì có 19 ứng viên không tham gia chương trình là do tìm được nguồn học bổng khác tốt hơn (06 trường hợp) hoặc cân nhắc không muốn bị ràng buộc sau khi tốt nghiệp (9 trường hợp) hoặc chuyển công tác (04 trường hợp)

Biểu 2: Kết quả phê duyệt các ứng viên tham gia Chương trình đào tạo sau Đại học thuộc Đề án phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-

2010

Năm đào

Loại hình Trong

nước

Liên kết Toàn phần nước ngoài

Nguồn: từ Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Đồng Nai

2.1.8 Các điều kiện đảm bảo phát triển đào tạo

- Trạng thái hoạt động của nhân lực:

Trang 37

Giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở thành thị từ 2,9% vào năm 2006 xuống dưới 2,8% năm 2010, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 85% vào năm 2006 lên đến 89% vào năm 2010

- Trạng thái việc làm của nhân lực:

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng tỷ trọng 2 ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, đồng thời giảm dần ở ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản (năm 2010 ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 57,2%, dịch vụ chiếm 34,1%, nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 8,7%) Sản xuất công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại Các ngành công nghiệp chủ lực (công nghiệp cơ khí, công nghiệp điện - điện tử, công nghiệp hóa chất, cao su, plastic, công nghiệp dệt may - giày dép, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng) luôn giữ được nhịp độ tăng trưởng

ổn định, đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng nền kinh tế địa phương Năng lực sản xuất và trình độ công nghệ ngành công nghiệp từng bước được nâng cao Đến nay, công nghệ tự động hóa và bán tự động hóa chiếm trên 30,2%, công nghệ cơ khí

và bán cơ khí chiếm 42,2%

Quy hoạch phát triển các vùng trồng trọt và chăn nuôi tập trung gắn với công nghiệp chế biến, áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, ứng dụng công nghệ sinh học trong lai tạo giống mới, chăm sóc và bảo vệ cây trồng, vật nuôi Đã cơ giới hóa được 90% khâu làm đất và 90% khâu sơ chế sản phẩm nông nghiệp

Kết luận nhu cầu nhân lực của tỉnh Đồng Nai hiện nay đang thiếu về chất lượng Trong khi hàng năm vẫn có lực lượng lớn sinh viên, học sinh nghề ra trường nhưng việc tìm kiếm để tuyển dụng được một đội ngũ nhân lực vững tay nghề, đáp ứng ngay yêu cầu công việc mà không phải đào tạo lại vẫn còn khó khăn

2.2 Tổ chức và hoạt động Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam (Cơ sở 2 Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai)

Trong số các trường đại học đóng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Trường ĐHLNVNCS2 có nhiều mối liên kết với doanh nghiệp và đã đáp ứng yêu cầu phát

Trang 38

triển nguồn nhân lực của Tỉnh Nên tôi chọn trường ĐHLNVNCS2 nghiên cứu để

từ kết quả này áp dụng cho các cơ sở đào tạo khác trên địa bàn Tỉnh

Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các cơ sở đào tạo, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: vai trò, chất lượng của đội ngũ GV, chất lượng người học, nội dung, chương trình giảng dạy, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu, học liệu, khả năng tìm việc làm của người học sau khi tốt nghiệp…Nếu như nhà trường xây dựng theo hướng chuẩn hoá, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đạt chuẩn là điều kiện quan trọng để NT thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo để xây dựng nội dung chương trình phù hợp, biên soạn sách, giáo trình, tài liệu tham khảo với chất lượng tốt, thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực Đội ngũ cán bộ GV chuẩn sẽ kết hợp được hai chức năng giảng dạy và NCKH, chuyển giao công nghệ, liên hệ chặt chẽ giữa lý luận và thực tế

2.2.1 Chức năng nhiệm vụ Trường ĐHLN VNSC2

Trường chính thức được thành lập vào ngày 29/7/1975 trên cơ sở sáp nhập 2 trường Nông - Lâm - Súc của tỉnh Thủ Dầu Một và lấy tên là Trường Trung cấp Kỹ thuật Lâm nghiệp Nam Bộ, đóng chân tại xã An Thạnh, huyện Lái Thiêu, tỉnh Bình

Dương (Quyết định số 208/QĐ ngày 29/7/1975 của Tổng cục Trưởng Tổng cục Lâm nghiệp) Nhiệm vụ chính của trường lúc này là tổ chức giảng dạy các lớp trung cấp

chuyên nghiệp đầu tiên với 2 khóa liên tiếp (gần 500 học sinh); tiếp tục giảng dạy các lớp văn hóa phổ thông cho hết năm học 1975 – 1976, sau đó bàn giao cho Sở Giáo dục Bình Dương và dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ, con em trong ngành và từ chiến khu ra

Những năm tiếp theo trong quá trình phát triển, Nhà trường tiếp tục được bổ sung các nhiệm vụ mới trong đào tạo nghề, ĐT bậc trung học ngành lâm nghiệp.v.v

ĐT và bồi dưỡng công chức kiểm lâm

Đến năm 1978, do nhu cầu phát triển, nhà trường đã chuyển về địa điểm mới: thị trấn Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Qua 34 khóa học, NT đã đào tạo hơn 10.000 kỹ thuật viên các chuyên ngành lâm nghiệp, nông nghiệp và nhân viên nghiệp vụ kinh

tế hệ chính quy và hơn 5000 học viên có trình độ trung, sơ cấp hệ vừa học vừa làm

Trang 39

Đặc biệt, nhà trường là đơn vị chủ lực đào tạo và bồi dưỡng công chức kiểm lâm cho các tỉnh, thành phố từ Đà Nẵng trở vào Có thể nói, học sinh, học viên do nhà trường đào tạo hiện nay đã có mặt đông đảo ở phần lớn các cơ quan quản lý và cơ

sở sản xuất trong ngành thuộc khu vực Nam Bộ, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ Ngày 28/01/2008, Bộ trưởng Bộ NN& PTNT đã kí Quyết định số: 240/QĐ-BNN-TCCB thành lập Cơ sở 2 Trường ĐHLNVNCS2 Việc sáp nhập nhằm hội tụ được nhiều tiền đề và điều kiện thuận lợi về các mặt tổ chức, quản lý và đầu tư, cũng như hoàn toàn thuận lợi cho việc từng bước mở thêm các ngành nghề đào tạo mới xuất phát từ thực tế yêu cầu phát triển KT-XH địa phương và khu vực, đặc biệt

ở bậc đại học và sau đại học ở khu vực phía Nam

a Cơ sở 2 Trường Đại học Lâm nghiệp có chức năng:

- Cơ sở 2 chịu sự chỉ đạo trực tiếp và thống nhất về mọi mặt của Hiệu trưởng Trường ĐHLN theo quy định của pháp luật và các quy chế, quy định của Trường ĐHLN

- Đào tạo nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có sức khoẻ, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp với các trình độ từ đào tạo nghề, trung học, cao đẳng, đại học đến sau đại học; có năng lực thích ứng với việc làm, biết tạo việc làm cho mình và cho những người khác, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc

- Là nơi đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật lâm nghiệp và các ngành nghề khác theo nhu cầu của xã hội, đồng thời là cơ sở NCKH, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất của NT ở phía Nam

b Cơ sở 2 Trường Đại học Lâm nghiệp có nhiệm vụ:

- Đào tạo nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp với trình độ từ đào tạo nghề, trung học, cao đẳng, đại học, sau đại học, có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội,

tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mục đích hoạt động của Trường là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ Cao học kinh tế, kỹ thuật và các trình

Trang 40

độ thấp hơn thuộc các ngành nghề: Kế toán, Quản trị Kinh doanh,Tin học, Lâm sinh, Lâm nghiệp, Quản Lý đất đai, Quản Lý rừng, Khuyên nông lâm, theo quy định của pháp luật; là cơ sở nghiên cứu, triển khai KH&CN và tổ chức kinh doanh dịch

vụ theo quy định của pháp luật, phục vụ yêu cầu phát triển KT-XH

- Đào tạo và bồi dưỡng công chức kiểm lâm

- Tiến hành NCKH và phát triển công nghệ; kết hợp ĐT với NCKH và sản xuất, dịch vụ KH&CN theo quy định của Luật KH&CN, Luật giáo dục và các quy định khác của pháp luật Thực hiện liên danh, liên kết với các tổ chức khoa học trong và ngoài nước, hợp tác, khai thác các đề tài, dự án, chương trình,

- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ CBVC

- Quản lý GV, cán bộ, nhân viên; xây dựng đội ngũ GV của Trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu tuổi và giới

- Tham gia công tác tuyển sinh và quản lý người học

- Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục

- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị, cơ sở vật chất theo quy định của pháp luật

- Tổ chức quản lý tài chính, cân đối thu chi trong phạm vi Cơ sở 2 theo quy định của pháp luật, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước và Nhà trường; chấp hành đầy đủ chế độ báo cáo kế toán và báo cáo định kỳ với Nhà trường

- Tổ chức cho cán bộ viên chức và học sinh, sinh viên tham gia các hoạt động

xã hội phù hợp với ngành nghề ĐT và nhu cầu của xã hội Tổ chức tốt đời sống vật chất và tinh thần, chăm lo sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của CBVC và người học; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

c Cơ cấu tổ chức, nhân sự của Cơ sở 2:

* Lãnh đạo Cơ sở 2 và các đơn vị trực thuộc

- Lãnh đạo Cơ sở 2 có Giám đốc và các Phó Giám đốc

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình Thức Đào Tạo - Hoàn thiện quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh thông quan việc vận dụng mô hình quản trị sáu Sig
nh Thức Đào Tạo (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm