Lý do nghiên cứu: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh thị trường, sản xuất sản phẩm từ kết quả nghiên cứu đang trở thành nhu cầu bức thiết không chỉ đối với các doanh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN CHIẾN LƯỢC CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÌNH THÀNH DOANH NGHIỆP SPIN-OFF TRONG CÁC TỔ CHỨC NC&TK GÓP PHẦN THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HOÁ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Người hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Văn Học
Hà Nội, 2008
Trang 2LỜI CẢM ƠN 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
DẪN NHẬP 8
1 Lý do nghiên cứu: 8
2 Lịch sử nghiên cứu 9
3 Mục tiêu nghiên cứu 11
4 Phạm vi nghiên cứu 12
5 Mẫu khảo sát 12
6 Vấn đề nghiên cứu 12
7 Giả thuyết nghiên cứu 13
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 13
9 Phương pháp nghiên cứu 14
10 Kết cấu của luận văn 15
Danh mục tài liệu tham khảo 15
CHƯƠNG I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÐỔI MỚI, DOANH NGHIỆP SPIN-OFF 16
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong luận văn 16
1.1.1 Khái niệm về đổi mới 16
1.1.2 Sản phẩm của quá trình đổi mới 17
1.1.3 Hoạt động đổi mới 18
1.1.4 Chính sách đổi mới 19
1.1.5 Hệ thống đổi mới quốc gia 19
1.1.6 Cơ sở hạ tầng cho đổi mới 20
1.2 Khái niệm doanh nghiệp spin-off 21
1.2.1 Doanh nghiệp spin-off - bộ phận hợp thành của cơ sở hạ tầng đổi mới 21
1.2.2 Kết quả NC&TK và vấn đề sở hữu - điều kiện quan trọng để thành lập và hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp spin-off29 1.3 Thương mại hoá kết quả NC&TK 31
1.3.1.Thương mại hoá kết quả NC&TK và điều kiện thực hiện 31
1.3.2 Thương mại hoá kết quả NC&TK - yếu tố quan trọng để thực hiện chính sách đổi mới 32
1.3.3 Thương mại hoá kết quả NC&TK và vai trò thúc đẩy của doanh nghiệp spin-off 33
CHƯƠNG II.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP SPIN-OFF TẠI MỘT SỐ VIỆN NGHIÊN CỨU NƯỚC TA 38
2.1 Tổng quan về thực trạng phát triển doanh nghiệp spin-off trong một số viện công nghệ 38
2.1.1 Quá trình hình thành 38
2.1.2 Các loại hình (doanh nghiệp theo hình thức sở hữu, theo lĩnh vực hoạt động, theo chức năng, theo chuỗi đổi mới v.v…) 40
2.1.3 Các vấn đề nảy sinh: 41
2.2 Tổng quan về thực trạng phát triển doanh nghiệp spin-off trong một số viện ngành dược 44
2.2.1.Quá trình hình thành 44
Trang 32.2.2 Các loại hình doanh nghiệp KH&CN của ngành dược 45
2.2.3 Các vấn đề nảy sinh giữa tổ chức mẹ và doanh nghiệp spin-off trong ngành dược 46
2.3 Vai trò của các doanh nghiệp spin-off trong việc thúc đẩy thương mại các kết quả NC&TK trong công nghiệp và trong ngành dược 47 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến việc thành lập hoạt động và các doanh nghiệp spin-off ở Việt Nam 49
2.4.1 Thực trạng năng lực và sản phẩm NC&TK của các tổ chức NC&TK 49
2.4.2 Tinh thần kinh thương và nhu cầu thành lập doanh nghiệp spin-off ở các viện NC&TK trong ngành dược Việt Nam 54
2.4.3 Hệ thống các chính sách khuyến khích phát triển xét theo quan điểm của chính sách đổi mới 55
CHƯƠNG III.CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP SPIN-OFF NHẰM THÚC ÐẨY THƯƠNG MẠI HOÁ KẾT QUẢ NC&TK TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 62
3.1 Lựa chọn ưu tiên - các lĩnh vực khuyến khích thành lập 62
3.2 Các giải pháp đảm bảo thành lập doanh nghiệp spin-off nhằm thúc đẩy thương mại hoá kết quả NC&TK 64
3.2.1 Nâng cao năng lực NC&TK và chất lượng sản phẩm NC&TK của các tổ chức NC&TK theo hướng đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động đáp ứng mục tiêu của chính sách đổi mới 64
3.2.2 Nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&TK trong tổ chức hoạt động sử dụng và phát triển nhân lực KH&CN 66
3.2.3 Tăng cường sự gắn kết giữa tổ chức mẹ và doanh nghiệp spin-off trên cơ sở giải quyết thoả đáng quyền sở hữu trí tuệ và tài sản, cũng như cán bộ KH&CN 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 1 76
Doanh nghiệp KH&CN IMI trực thuộc Viện Nghiên cứu Thiết kế 76
Chế tạo máy và Dụng cụ công nghiệp 76
PHỤ LỤC 2 79
Công ty phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ -APP 79
PHỤ LỤC 3 82
Mô hình chuyển đổi thành công ở Viện Gang thép, Bộ Kinh Mậu và Công ty cổ phần Công nghệ và Vật liệu An Thái (AT&M) 82
PHỤ LỤC 4 84
Công ty Văcxin và sinh phẩm số 1 (VABIOTECH) 84
PHỤ LỤC 5 85
Công ty Dược khoa - Thuộc Trường Đại học Dược 85
PHỤ LỤC 6 87
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, em đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp Điều đầu tiên,
em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Học - một nhà khoa học với kiến thức chuyên môn của mình cộng với lòng tận tâm với học trò
đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, ngoài việc thu lượm được những kiến thức,
em đã học được ở thầy sự nghiêm khắc trong việc rèn rũa về tư duy khoa học và phương pháp trình bày
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô trong Viện Chiến lược Chính sách Khoa học và Công nghệ và Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập của mình
Cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn Viện Chiến lược Chính sách Khoa học và Công nghệ đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tra cứu, tìm kiếm các tư liệu cần thiết phục vụ cho luận văn này
Luận văn đã được hoàn thành theo đề cương đã duyệt Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong nhận được nhiều
ý kiến góp ý của các thầy cô và các bạn đồng học Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Vũ Thùy Liên
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DẪN NHẬP
1 Lý do nghiên cứu:
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh thị trường, sản xuất sản phẩm từ kết quả nghiên cứu đang trở thành nhu cầu bức thiết không chỉ đối với các doanh nghiệp mà còn đối với các viện NC&TK ở nước ta khi mà chủ trương “chuyển các viện nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp” (Nghị quyết TW-VI khoá VIII) đã được thể chế hoá tại Nghị định 115/2005-CP của Chính phủ Xét về phương diện lý luận, Nghị định này còn có một số khía cạnh cần bàn, song xét về công cụ điều tiết, Nghị định 115/CP có tác động buộc các tổ chức KH&CN gắn chặt hơn nữa với thị trường trên cơ sở phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mình Nói cách khác, các viện buộc phải “thương mại hoá” kết quả nghiên cứu để tồn tại và phát triển Nhiều tổ chức KH&CN đã tiến hành tự điều chỉnh hoạt động, cơ cấu lại tổ chức, hình thành các cơ cấu sản xuất mới (các doanh nghiệp phối thuộc, các công ty cổ phần, các doanh nghiệp do một số nhà khoa học có kết quả nghiên cứu và tinh thần kinh thương thành lập v.v…) Xuất hiện nhiều hình thức tổ chức mới trải rộng từ nghiên cứu đến thiết kế - sản xuất thử nghiệm và sản xuất sản phẩm từ kết quả nghiên cứu Trong một số hướng công nghệ cao hoặc công nghệ trình độ cao đã hình thành các doanh nghiệp có sức cạnh tranh không chỉ tại thị trường trong nước mà còn trên thị trường quốc tế Điển hình như Viện IMI, Viện Khoa học và Công nghệ
mỏ, Viện Hoá học Công nghiệp, Công ty Văcxin thuộc Viện Vệ sinh dịch
tễ trung ương, Công ty Trapaco, v.v
Thực tế cho thấy, mặc dù đã có nhiều văn bản chính sách của Nhà nước đã được công bố để điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất khởi phát từ viện nghiên cứu và trường đại học, song cho tới nay nhiều doanh nghiệp vẫn còn đang gặp không ít khó khăn Nhiều mâu thuẫn nảy sinh giữa viện, trường với tư cách là tổ chức mẹ và doanh nghiệp trong vấn đề sở hữu trí tuệ, sử dụng trang thiết bị, điều chuyển nhân lực và nổi cộm hơn cả là những vấn đề liên quan đến tài chính - công cụ quan trọng
Trang 7kết quả NC&TK Trong bối cảnh đó cần thiết phải có cách tiếp cận đúng
để giải quyết các vấn đề nảy sinh xét cả về mặt lý luận, phương pháp luận
và các biện pháp chính sách cụ thể
Vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở hình thành các tổ chức sản xuất khởi phát từ viện nghiên cứu (hay theo cách mà các nhà hoạch định chính sách nói là doanh nghiệp spin-off), tác động của nó với tư cách là một thành phần tạo hệ của hệ thống đổi mới là hết sức cần thiết, đặc biệt khi nó được xem xét theo quan điểm của chính sách đổi mới (innovation policy) Kết quả nghiên cứu cũng góp phần cung cấp luận cứ để xây dựng chính sách phát triển các doanh nghiệp spin-off nhằm thúc đẩy thương mại hoá kết quả NC&TK với tư cách là thành phần của cơ sở hạ tầng của hệ thống đổi mới quốc gia
2 Lịch sử nghiên cứu
Doanh nghiệp spin-off với mục đích thúc đẩy thương mại hoá kết quả NC&TK, đã và đang là chủ đề của nhiều nhà nghiên cứu chính sách,
cụ thể:
Đặng Duy Thịnh (năm 2000) với đề tài “Nghiên cứu xây dựng luận
cứ khoa học cho việc thương mại hoá hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam” Đề tài nhằm mục tiêu làm rõ quan điểm lý luận, phạm trù, yếu
tố về vấn đề thương mại hoá kết quả hoạt động KH&CN và trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp tổng quát cần thiết cho chính sách KH&CN và chính sách có liên quan trong thời kỳ chuyển đổi ở Việt Nam
Hoàng Văn Tuyên (năm 2006) với đề tài: "Nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đổi mới – Kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt Nam" Công trình này tập trung vào xác định đặc trưng cơ bản của đổi mới
và chính sách đổi mới, tầm quan trọng của chính sách đổi mới, xem xét các khía cạnh khác nhau trong quá trình phát triển chính sách đổi mới của một
số quốc gia điển hình Xem xét tình hình Việt Nam (theo khung của OECD) chỉ mang tính thăm dò, minh chứng cho các tác giả nghiên cứu
Trang 8Đề tài tập trung vào việc luận giải các biện pháp chính sách thúc đẩy áp dụng nhanh các kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu vào sản xuất và đời sống thực tế Xét theo khía cạnh thương mại hoá kết quả NC&TK, tác giả mới chỉ đề cập tới việc hoàn thiện sản phẩm cung theo một số tiêu chuẩn chất lượng “sau nghiệm thu” để có thể nhanh chóng được bên mua – doanh nghiệp chấp nhận
Phạm Quang Trí (năm 2004) với đề tài: "Nghiên cứu cơ sở lý luận
và thực tiễn một số loại hình tổ chức sản xuất – kinh doanh trong các viện NC&PT" Đề tài chủ yếu tập trung vào việc phân tích các loại hình tổ chức sản xuất thuộc viện nghiên cứu, vai trò của các tổ chức này trong việc đẩy nhanh kết quả NC&TK vào thực tế sản xuất, thúc đẩy liên kết trực tiếp giữa các khâu sản xuất - nghiên cứu - thị trường, giảm các chi phí giao dịch v.v…
Phạm Thị Bích Hà (năm 2007) với đề tài: ”Nghiên cứu đặc điểm hệ thống đổi mới ngành ở Việt Nam - Trường hợp ngành công nghiệp dược phẩm“ Đề tài tập trung vào các yếu tố liên kết chính sách đổi mới cấp ngành và phân tích thực chứng ngành dược Việt Nam
Nguyễn Thị Minh Nga (2006) với đề tài: ”Bàn về khía cạnh pháp lý cho doanh nghiệp KH&CN” Nghiên cứu đề cập đến các đặc trưng của doanh nghiệp KH&CN, vai trò và động cơ của doanh nghiệp KH&CN Các thủ tục thành lập doanh nghiệp, hình thức hoạt động, tổ chức và quản
lý, liên kết nghiên cứu, các nhân tố thuận lợi và khó khăn đối với doanh nghiệp KH&CN, sự cần thiết và phạm vi chính sách hỗ trợ, các chính sách
hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN
Hoàng Văn Tuyên - Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (2005)
đã đưa ra một số các khái niệm, kinh nghiệm của thế giới về mô hình doanh nghiệp KH&CN và các hình thức đầu tư tài chính cho loại hình doanh nghiệp này
Ngoài ra, nhiều bài báo khoa học về vấn đề ĐMCN trên cơ sở áp dụng kết quả NC&TK, thực trạng và biện pháp thúc đẩy gắn kết hoạt động
Trang 9KH&CN với sản xuất đã được đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu khác nhau
Các nghiên cứu trên đây chủ yếu xem xét ở tầm lý thuyết cơ bản, hoặc ở một số khía cạnh chính sách cụ thể, chính sách gắn kết NC&TK với sản xuất nói chung Chưa có nghiên cứu nào phân tích một cách sâu sắc thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp spin-off ở Việt Nam nói chung
và trong một số ngành cụ thể nói riêng theo quan điểm của chính sách đổi mới; vai trò của các doanh nghiệp này trong việc trực tiếp thúc đẩy thương mại kết quả NC&TK cũng như đề xuất trong giải pháp chính sách khuyến khích hoạt động và phát triển loại hình doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường sơ khai của Việt Nam khi các thành phần tạo hệ của nó chưa phát triển đầy đủ Đi trước một bước, cần nhấn mạnh rằng, việc xuất hiện các doanh nghiệp spin-off đặt dấu ấn quan trọng cho thị trường sản phẩm KH&CN nói chung và thương mại hoá kết quả NC&TK nói riêng
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Phân tích cơ chế hình thành, phát triển và hoạt động loại hình doanh nghiệp spin-off trong các tổ chức NC&TK (khởi phát từ các tổ chức NC&TK) và tác động của nó đối với việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu. Đề xuất một số giải pháp chính sách thúc đẩy
3.2 Mục tiêu cụ thể
Phân tích vai trò của doanh nghiệp spin-off theo quan điểm của chính sách đổi mới: doanh nghiệp spin-off - bộ phận hợp thành của cơ sở
hạ tầng hệ thống đổi mới quốc gia;
Nghiên cứu quá trình thương mại hoá kết quả NC&TK và tác động thúc đẩy của doanh nghiệp spin-off trong quá trình này;
Đề xuất các giải pháp thúc đẩy hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp spin-off trong điều kiện của Việt Nam;
Trang 104 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Cơ sở lý luận về hoạt động hoạt động đổi mới (NC&TK và hoạt động đổi mới, mối quan hệ giữa NC&TK và ĐMCN, vai trò của NC&TK
và hoạt động đổi mới), chính sách đổi mới, hệ thống đổi mới và cơ sở hạ tầng của hệ thống đổi mới;
Thực trạng hình thành, phát triển và tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp spin-off trong các tổ chức NC&TK ở Việt Nam nói chung và ngành dược nói riêng, vai trò của các doanh nghiệp này trong việc trực tiếp thúc đẩy quá trình thương mại hoá kết quả NC&TK;
Nam;
4.2 Phạm vi thời gian
Giai đoạn 2001 - 2007 Đây là thời gian nước ta chuẩn bị hội nhập (hoàn chỉnh các điều kiện để hội nhập bao gồm hệ thống pháp luật về KH&CN) và chính thức gia nhập WTO (các khó khăn nảy sinh)
5 Mẫu khảo sát
- Một số tổ chức NC&TK trên địa bàn Hà Nội;
- Một số doanh nghiệp spin-off trong công nghiệp và trong ngành dược Khảo sát ở các loại hình: Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần và Công ty liên doanh liên kết;
- Một số doanh nghiệp có liên quan đến việc chuyển giao các kết quả NC&TK;
6 Vấn đề nghiên cứu
- Hiện trạng thương mại hoá các kết quả nghiên cứu của các tổ chức NC&TK nói chung và trong ngành dược trong 5 năm trở lại đây ra sao?
Trang 11- Doanh nghiệp spin-off có vai trò như thế nào đối với việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu theo quan điểm chính sách đổi mới?
- Những giải pháp chính sách thích hợp nào để doanh nghiệp off hoạt động góp phần thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu?
spin-7 Giả thuyết nghiên cứu
- Việc thương mại hoá các kết quả nghiên cứu của các tổ chức NC&TK nói chung đã đạt được một số kết quả bước đầu nhưng hiệu quả chưa cao, riêng đối với ngành dược chỉ dừng lại ở sản xuất thử nghiệm và chuyển giao dây chuyền sản xuất thử nghiệm (ở mức độ hạn chế);
- Doanh nghiệp spin-off là một trong các chủ thể chính và là trung tâm liên kết các yếu tố của hệ thống đổi mới;
- Doanh nghiệp spin-off là hình thức ngắn nhất - trực tiếp đưa sản phẩm NC&TK vào thị trường, giảm chi phí chuyển giao (transfer cost);
- Các giải pháp về sở hữu trí tuệ, tài sản, tài chính và luân chuyển (mobility) nhân lực KH&CN là nhóm các giải pháp cần thiết để hình thành doanh nghiệp spin-off và hoạt động hiệu quả nhằm thúc đẩy nghiên cứu, sản xuất và thương mại hoá các kết quả nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu và triển khai trong ngành dược;
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
8.1 Luận cứ lý thuyết
- Sử dụng các lý thuyết về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, quản lý công nghệ, quản lý nghiên cứu khoa học, tổ chức KH&CN, chính sách KH&CN, chính sách đổi mới, tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia
- Kế thừa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa hoạt động NC&TK với thị trường, về chính sách khuyến khích đổi mới từ các đề tài nghiên cứu khoa học đã công bố
8.2 Luận cứ thực tế
- Kết quả khảo sát hiện trạng nghiên cứu, sản xuất và thương mại
Trang 12- Kết quả khảo sát hiện trạng nghiên cứu, sản xuất và thương mại hoá tại một số tổ chức NC&TK của ngành dược: Viện Vệ sinh dịch tễ; Công ty Dược của Trường Đại học Dược; Một số doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân có liên quan đến thương mại hoá kết quả NC&TK v.v.;
- Kinh nghiệm một số nước trên thế giới;
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp tiếp cận
- Kết hợp phương pháp tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia, phân tích và tổng hợp, định tính và định lượng;
9.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu cơ sở lý thuyết từ các
lý thuyết có liên quan và kế thừa kết quả từ các đề tài nghiên cứu khoa học
đã có Thu thập và phân tích thông tin từ các bài báo khoa học, từ kết quả các cuộc điều tra, thống kê KH&CN và đổi mới có liên quan đã thực hiện,
từ các tài liệu báo cáo kết quả hoạt động KH&CN, các văn bản chính sách
có liên quan…v.v;
- Phương pháp quan sát: thực tế hình thành các doanh nghiệp off tại một số tổ chức NC&TK của ngành dược: Viện Vệ sinh dịch tễ; Công ty Dược của Trường Đại học Dược; Một số doanh nghiệp và tổ chức,
spin-cá nhân có liên quan đến thương mại hoá kết quả NC&TK v.v ;
- Phương pháp chuyên gia: thu thập bằng bảng hỏi thông tin về ý kiến chuyên gia tại các cơ quan quản lý liên quan, một số tổ chức NC&TK
và doanh nghiệp và doanh nghiệp spin-off (20 chuyên gia)
9.3 Phương pháp xử lý thông tin
- Xử lý toán học đối với các thông tin định lượng: sử dụng phương pháp thống kê toán học để xác định xu hướng diễn biến của tập hợp số liệu;
- Xử lý lô gíc đối với các thông tin định tính: sử dụng các suy luận logíc đưa ra các phán đoán về bản chất của các sự kiện, thể hiện mối liên
Trang 1310 Kết cấu của luận văn
Dẫn nhập
Chương I Cơ sở lý luận về hoạt động đổi mới, doanh nghiệp
spin-off
Chương II Phân tích, đánh giá thực trạng hình thành và phát triển
doanh nghiệp spin-off tại một số viện nghiên cứu ở nước ta, các yếu tố thuận lợi và cản trở chủ yếu
Chương III Các giải pháp chính sách khuyến khích hình thành và
phát triển doanh nghiệp spin-off nhằm thúc đẩy thương mại hoá kết quả
NC&TK trong các viện NC&TK
Kết luận
Khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 14CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÐỔI MỚI, DOANH NGHIỆP SPIN-OFF 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong luận văn
1.1.1 Khái niệm về đổi mới
Thuật ngữ đổi mới đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX khi nhà kinh tế học Schumpeter (1911) nghiên cứu sự khác biệt giữa việc hình thành một ý tưởng cho sản phẩm hoặc qui trình (phát minh/sáng chế) và việc ứng dụng ý tưởng đó đến quá trình kinh tế (đổi mới) Đến năm 1939, Schumpeter mở rộng khái niệm đổi mới như là tập hợp các chức năng sản xuất mới, bao gồm cả tạo ra hàng hoá mới, hình thái tổ chức mới, mở ra những thị trường mới, sự kết hợp các nhân tố theo phương thức mới hoặc tiến hành sự kết hợp mới
Edquist (1997) đưa ra khái niệm đổi mới như là việc đưa ra nền kinh
tế tri thức mới hoặc sự kết hợp mới của những tri thức đang có Bên cạnh
đó ông cũng phân biệt các loại đổi mới: đổi mới quy trình (công nghệ và tổ chức) và đổi mới sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ)
Ngược lại với cách tiếp cận tuyến tính trong đó quá trình đổi mới phát triển qua những giai đoạn theo trật tự thời gian và tiệm tiến (từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm, sản xuất sản phẩm/dịch vụ và thị trường…), một số học giả đã vận dụng cách tiếp cận mới: cách tiếp cận hệ thống Cách tiếp cận hệ thống nhấn mạnh tầm quan trọng của những hợp phần khác nhau và sự tương tác giữa các hợp phần đó trong toàn bộ hệ thống diễn ra quá trình đổi mới Ở đây, thuật ngữ “đổi mới” không đồng nghĩa với thuật ngữ “nghiên cứu” hoặc “chu trình công nghệ” Đổi mới vượt ra ngoài phạm vi NC&TK và bao gồm nhiều hoạt động, cả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, tạo ra các đối tượng
sở hữu công nghiệp, thương mại hóa công nghệ, hoạt động sản xuất và phân phối các sản phẩm, dịch vụ mới trên thị trường
Trang 15Đổi mới là hoạt động tìm kiếm và theo đuổi lợi nhuận của các doanh nghiệp và doanh nhân trên thị trường thông qua quá trình tạo ra sản phẩm
Tóm lại, đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đổi mới được đăng tải trên các tài liệu quốc tế và trong nước nhưng nhìn chung, các cách tiếp cận này đều dẫn đến điểm chung về đổi mới, đó là đưa ra được sản phẩm/quy trình mới hay sản phẩm /quy trình được cải tiến mang lại lợi ích trên thị trường Với cách hiểu như vậy thì định nghĩa của Tổ chức Hợp tác
mới không chỉ đơn thuần là đổi mới công nghệ mà có thể là đổi mới sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) hoặc quy trình (công nghệ và tổ chức) bao gồm các sản phẩm và quy trình mới hay các sản phẩm và quy trình được cải tiến Việc đổi mới sản phẩm và quy trình được thực hiện nếu nó đưa được sản phẩm mới ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong quy trình sản xuất (đổi mới quy trình) Đổi mới sản phẩm và quy trình bao gồm một loạt các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại Doanh nghiệp thực hiện đổi mới sản phẩm và quy trình là đơn vị đã thực hiện các sản phẩm hoặc quy trình mới hoặc cải tiến đáng kể trong khoảng thời gian nhất định Để đổi mới thành công (đưa sản phẩm mới/được cải tiến ra thị trường hoặc quy trình mới/được cải tiến áp dụng trong sản xuất), doanh nghiệp cần thực hiện nhiều hoạt động khác nhau tuỳ thuộc vào bản chất của đổi mới đó
1.1.2 Sản phẩm của quá trình đổi mới
Một sản phẩm hoặc dịch vụ chỉ được xem là đổi mới một khi sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình công nghệ mới đã ra khỏi phòng thí nghiệm, được đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận, được mua - bán và
sử dụng trong xã hội
Sản phẩm của quá trình đổi mới được hình thành theo một quá trình:
từ khi tạo ra sáng chế và qua các hoạt động thử nghiệm, chế tạo, sản xuất
Trang 16để biến sáng chế từ chỗ chỉ là ý tưởng, những bản vẽ trở thành những sản phẩm và dịch vụ mới được mua bán trên thị trường, được thị trường chấp nhận Mục đích cuối cùng của đổi mới là đưa ra các sản phẩm mới, dịch vụ mới được người sử dụng chấp nhận, trong khi sáng chế công nghệ chỉ được xem như là phương tiện, là một trong số nhiều điều kiện cần để tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới
Theo tổ chức OECD “Các sản phẩm hay quy trình công nghệ mới chỉ được coi là được thực hiện nếu như đã được thị trường chấp nhận hoặc được sử dụng trong quá trình sản xuất”
1.1.3 Hoạt động đổi mới
Hoạt động đổi mới là một hoạt động tổng thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau từ NC&TK đến thiết kế, chế tạo, sản xuất, thương mại hóa, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm mới và dịch vụ mới trên thị trường Hoạt động đổi mới bao gồm các hoạt động NC&TK và ngoài NC&TK Trong phạm vi của hoạt động đổi mới, ranh giới giữa các loại hoạt động không những không còn mà hơn thế, chúng tự liên kết, đan xen, lồng ghép
và tích hợp với nhau một cách hữu hiệu để có thể tạo ra các sản phẩm, dịch
Điểm khác biệt cơ bản giữa hoạt động KH&CN với hoạt động đổi mới là ở chỗ: Nếu đầu ra của các hoạt động KH&CN là các phát minh, sáng chế thì đầu ra của các hoạt động đổi mới là các sản phẩm, dịch vụ mới được xã hội và thị trường chấp nhận Chính vì vậy, việc đòi hỏi các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phải tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới đem lại hiệu quả kinh tế
và phát triển công nghệ đó được đặt trong hệ thống của các hoạt động đổi mới và có cơ chế bảo đảm cho các hoạt động đổi mới diễn ra và phát huy
ý tưởng và các thiết kế công nghệ trong phòng thí nghiệm hoặc các sáng chế công nghệ được đăng ký và cấp bằng Hoạt động đổi mới còn tiếp diễn
kể từ khi các sáng chế công nghệ được ứng dụng vào sản xuất cho đến khi
đưa ra được những sản phẩm hoặc dịch vụ mới được thị trường chấp nhận
Trang 17
1.1.4 Chính sách đổi mới
Về đại thể, chính sách đổi mới là một tập hợp có hệ thống các biện pháp chính sách để điều tiết có hiệu quả các hoạt động đổi mới Chính sách đổi mới có thể hiểu là những can thiệp của nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và môi trường thúc đẩy cho sự thay đổi kinh tế có lợi nhất, khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, hình thành những ý tưởng mới và hiện
Chính sách đổi mới là những chính sách tác động đến những quyết định của doanh nghiệp để phát triển, thương mại hoá và thực hiện những
Khi xem xét quá trình phát triển chính sách đổi mới của mỗi quốc gia, người ta thường căn cứ vào một số vấn đề cơ bản như: i) Quá trình hoạch định và điều phối chính sách đổi mới; ii) Môi trường có lợi cho đổi mới; iii) Truyền bá tri thức và công nghệ trong nền kinh tế và iv) Phát triển nguồn nhân lực và văn hoá đổi mới
Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, chính sách đổi mới không thuần túy
là một chính sách mới, mà là tập hợp có hệ thống các chính sách công
nghiệp, chính sách thương mại, chính sách giáo dục, chính sách khoa học
và công nghệ… Nếu tập hợp đó không có tính hệ thống thì không thể nói
đến chính sách đổi mới
1.1.5 Hệ thống đổi mới quốc gia
Theo định nghĩa của OECD, hệ thống đổi mới quốc gia (NIS)5
là một hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước và tư nhân, thực hiện các hoạt động nhằm nghiên cứu, du nhập, cải tiến và phổ biến các công nghệ mới Trong NIS, các doanh nghiệp công và tư, các trường đại học và các cơ quan của Chính phủ tương tác với nhau nhằm hướng đến sự phát triển của KH&CN trong phạm vi quốc gia Tính tương hỗ của các đơn vị này có thể
5 Nguồn: Research Policy, 2/2002
Trang 18là về mặt kỹ thuật, thương mại, luật pháp và tài chính, nhằm những mục đích phát triển, bảo trợ hay thực hiện các hoạt động KH&CN
NIS cũng có thể được hiểu như là một tập hợp các cơ quan, tổ chức
và các cơ chế chính sách tương tác lẫn nhau nhằm theo đuổi các mục tiêu KT-XH bằng việc áp dụng các thành quả KH&CN Theo OECD, có 4 điểm quan trọng sau cần phải lưu ý:
- Cần có một tập hợp các cơ quan và tổ chức, cơ chế chính sách hiệu quả xét theo chức năng của một NIS;
- Cần có sự tương tác hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức và các chương trình hành động;
- Đảm bảo sự hài hoà và đồng thuận trong các mục tiêu và tầm nhìn;
- Đảm bảo một môi trường chiến lược riêng tạo thuận lợi cho đổi mới
1.1.6 Cơ sở hạ tầng cho đổi mới
Cơ sở hạ tầng đổi mới là một hệ thống tổng thể bao gồm các tổ chức, tác nhân liên quan như tổ chức NC&TK, doanh nghiệp, trường đại học, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp, các tập đoàn, các tổ chức tư vấn, chuyển giao công nghệ, trung tâm thông tin và tư vấn các lĩnh vực đổi mới cho doanh nghiệp, công viên khoa học, vườn ươm và một số hình thái tổ chức khác là những tổ chức trung gian Hệ thống này rất quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các doanh nghiệp đổi mới, doanh nghiệp CNC, doanh nghiệp KH&CN, tăng cường khả năng truyền bá, phổ biến tri thức và công nghệ trong nền kinh tế cũng như đưa
ra khung khổ luật pháp; tài chính; phổ biến thông tin; các dịch vụ chuyển giao/phổ biến công nghệ; hỗ trợ thương mại hoá Bên cạnh đó, các chương trình của Chính phủ, các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng đóng vai trò tạo động lực cho đổi mới Tất cả tạo hệ trên đây liên kết với nhau theo quan hệ tương tác và có mục tiêu chung là tạo ra sản phẩm đổi mới ở doanh nghiệp
Vì vậy, người ta thường nói, trong hệ thống đổi mới quốc gia, doanh nghiệp là trung tâm
Trang 191.2 Khái niệm doanh nghiệp spin-off
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp spin-off Do vậy, trong luận văn này cần thiết phải phân tích các quan niệm về doanh nghiệp spin-off của các kết quả nghiên cứu trước đây về loại hình doanh nghiệp này
1.2.1 Doanh nghiệp spin-off - bộ phận hợp thành của cơ sở hạ tầng đổi mới
1.2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ (spin-off)
Khái niệm “spin-off” về bản chất xuất phát từ lĩnh vực vật lý nguyên
tử là một quá trình điện tử chuyển động quay quanh hạt nhân khi tích đủ năng lượng thì điện tử đó văng ra khỏi quỹ đạo chuyển động xa hạt nhân hơn
Trong các tài liệu nghiên cứu phương tây, đặc biệt là ở Mỹ và Anh, khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hiểu là doanh nghiệp khoa học spin-off (academic spin-offs) và doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới/doanh nghiệp dựa trên công nghệ cao
Doanh nghiệp spin-off được hiểu là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, được hình thành dựa trên cơ sở áp dụng, khai thác các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ được tạo ra ở viện nghiên cứu, trường đại học hoặc do cá nhân hoặc tập thể các nhà khoa học,
kĩ sư,… có trình độ kiến thức và năng lực chuyên môn cao, có tinh thần kinh thương rời khỏi tổ chức mẹ để bắt đầu một sự kinh doanh độc lập, mới
Các sản phẩm của doanh nghiệp KH&CN là các kết quả nghiên cứu KH&CN, đặc biệt là sản phẩm mới, công nghệ mới, do đó nó mang tính đặc thù và khác với các sản phẩm hàng hóa thông thường khác như chứa đựng nhiều yếu tố vô hình, có nhiều ràng buộc về quyền sở hữu, khó định giá Tuy nhiên đây lại là nền tảng, là động lực thúc đẩy quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 20tự quá trình điện tử chuyển động quay quanh hạt nhân, khi tích đủ năng lượng thì điện tử đó văng ra khỏi quỹ đạo chuyển động Tuy nhiên, ở đây tác giả bổ sung thêm quan điểm “tích hợp” của tác giả Nguyễn Văn Học - spin-off là quá trình điện tử quay quanh hạt nhân và tích lũy năng lượng đến khi đủ điều kiện (ái lực giảm dần) thì văng ra khỏi quỹ đạo, kết hợp với một số yếu tố khác bên ngoài để hình thành nên “đám mây điện tử” hoặc “điện tử tự do - doanh nghiệp độc lập”
Từ các phân tích về nguyên lý hình thành doanh nghiệp spin-off ở trên, khó có thể nhất trí với một số quan điểm cho rằng doanh nghiệp spin-off có quan hệ “gắn bó hữu cơ” với tổ chức mẹ, vì như vậy là trái với nguyên lý của spin-off là sau quá trình tích lũy đủ năng lượng thì tách khỏi
tổ chức mẹ và hoạt động độc lập Có thể trong một số trường hợp, sau khi
tách ra, doanh nghiệp vẫn chịu sự chi phối của hệ thống mẹ trong thời gian đầu nhưng sau đó là hoạt động độc lập “Thời gian đầu” này chỉ là quá độ
để doanh nghiệp trưởng thành Cần rút ngắn giai đoạn quá độ này để sao
nó không trở thành căn bệnh lệ thuộc, làm giảm tính sáng tạo của doanh nghiệp spin-off
Từ các phân tích trên đây, có thể đưa ra một khái niệm về doanh nghiệp spin-off phù hợp với điều kiện của Việt Nam như sau:
“Doanh nghiệp spin-off là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở
áp dụng/khai thác kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ được tạo ra ở viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức nghiên cứu tư nhân hoặc bởi một
cá nhân hoặc tập thể nhà khoa học, công nghệ, sáng chế (người khởi xướng/sáng lập doanh nghiệp)
Người sáng lập doanh nghiệp spin-off thường có một hoặc cả ba đặc trưng sau đây:
công nghệ đó để đổi mới sản phẩm hoặc đổi mới quá trình;
đa bí quyết công nghệ cụ thể đã có;
Trang 21 Để sản xuất sản phẩm và dịch vụ cụ thể đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường trên cơ sở khai thác các nguồn vốn tự có hoặc coi như tự
có (vốn vay, vốn mạo hiểm v.v…)
Doanh nghiệp spin-off có thể được xem xét trong mối liên hệ với chuyển giao công nghệ hoặc luân chuyển (mobility) cán bộ nghiên cứu như là một phương thức khai thác giá trị kinh tế đối với kết quả nghiên cứu Nói một cách khác việc hình thành doanh nghiệp spin-off luôn gắn với việc chuyển giao bí quyết công nghệ và luân chuyển nguồn nhân lực tham gia vào việc tạo nên bí quyết công nghệ đó
1.2.1.2 Các loại hình doanh nghiệp spin-off chủ yếu:
Phân loại doanh nghiệp spin-off theo nguồn gốc thành lập doanh nghiệp:
Xét về nguồn gốc hình thành doanh nghiệp, quá trình hình thành doanh nghiệp spin-off thường xuất phát từ 3 khu vực: viện nghiên cứu, trường đại học và trong doanh nghiệp có tổ chức NC&TK Tuy nhiên, do chức năng nhiệm vụ nên trong mỗi khu vực lại có những đặc thù riêng
- Trong viện nghiên cứu
Viện nghiên cứu có chức năng chính là nghiên cứu, đào tạo, hoạch định các chính sách (các viện chiến lược và chính sách) và phục vụ xã hội
Do vậy, nghiên cứu là hoạt động được đầu tư chủ yếu cả về: nhân lực, vật lực, tin lực và tài lực Do vậy, quá trình hình thành doanh nghiệp spin-off trên nền tảng các hướng NC&TK kế thừa từ chuỗi các đề tài, dự án, chương trình đã được thực hiện từ nhiệm vụ của các Viện Doanh nghiệp spin-off được hình thành trên cơ sở các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp có tinh thần kinh thương dịch chuyển từ hoạt động nghiên cứu sang hoạt động nghiên cứu và SXKD
- Trong trường đại học
Trường đại học có chức năng chính là đào tạo, nghiên cứu và phục
vụ xã hội Hoạt động NC&TK vừa nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào
Trang 22nghiên cứu mạnh có tinh thần kinh thương nằm trong các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm trọng điểm được đầu tư mạnh về nguồn lực Đây chính là những tiền đề quan trọng, là “cú huých” cho việc hình thành doanh nghiệp spin-off dựa trên các kết quả NC&TK công nghệ cao và mới
Chức năng của doanh nghiệp là sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Để
có được các sản phẩm có công nghệ cao và mới, có tính cạnh tranh cao trên thị trường, doanh nghiệp phải đầu tư vào bộ phận NC&TK Khi một công nghệ mới ra đời và thỏa mãn một số điều kiện nhất định đủ để mở ra một hướng kinh doanh mới thì được tách ra (hoặc tự tách ra) thành lập một doanh nghiệp độc lập (trường hợp doanh nghiệp tách ra trở thành doanh nghiệp thành viên và vẫn chịu sự chi phối của doanh nghiệp mẹ không phải là trường hợp spin-off) Ở đây, điểm thuận lợi là nhà nghiên cứu vốn
đã sẵn có tinh thần kinh thương và được đầu tư tốt về nguồn lực nên con đường hình thành spin-off có thể diễn ra nhanh hơn Vốn cũng là một ưu thế vượt trội của doanh nghiệp so với khu vực viện nghiên cứu và trường đại học Vấn đề khó khăn nhất cho doanh nghiệp chính là chứng minh được hoạt động NC&TK để được hưởng chính sách ưu đãi về đầu tư và thuế Mặt khác, không dễ dàng gì mà các doanh nghiệp mẹ để doanh nghiệp con tách ra hoạt động độc lập, thường do các cá nhân hoặc nhóm tự tách ra hoặc thậm chí là kết quả của các xung đột rồi tách ra thành lập doanh nghiệp độc lập
Trong luận văn này, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp spin-off có nguồn gốc từ các trường đại học và viện nghiên cứu
Phân loại doanh nghiệp spin-off theo hình thức sở hữu:
Doanh nghiệp Nhà nước;
Doanh nghiệp cổ phần, sở hữu tư nhân trong đó viện/trường đại học… mẹ đại diện cho sở hữu nhà nước có cổ phần trong doanh nghiệp KH&CN;
Doanh nghiệp sở hữu thuộc gia đình;
Trang 23Phân biệt các loại hình doanh nghiệp KH&CN
Theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP, hoạt động chính của doanh nghiệp KH&CN là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Ngoài các hoạt động này, doanh nghiệp KH&CN có thể thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá khác và thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật
Theo quy định trên thì phàm là các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh các sản phẩm mới từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thì đều được gọi là doanh nghiệp KH&CN Như vậy, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều được xếp vào loại hình doanh nghiệp này bởi đa số các dây chuyền sản xuất, các sản phẩm đều là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Theo quyết định 68/1998/QĐ-TTg, các doanh nghiệp nhà nước
trong một số trường đại học, cao đẳng công lập (gọi tắt là cơ sở đào tạo), viện nghiên cứu khoa học, trung tâm khoa học công nghệ, liên hiệp khoa
học - sản xuất nhà nước (gọi tắt là cơ sở nghiên cứu), có chức năng “hoạt động SXKD các sản phẩm là kết quả nghiên cứu, triển khai công nghệ hoặc các sản phẩm, dịch vụ khoa học công nghệ gắn với chức năng, nhiệm
vụ chuyên môn của chính cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu đó”
Bảng 1 dưới đây cho ta thấy sự khác biệt tương đối giữa 3 loại hình doanh nghiệp: spin-off, doanh nghiệp KH&CN (doanh nghiệp 80) và doanh nghiệp 68 (doanh nghiệp nhà nước thành lập theo quyết định 68/1998/QĐ-TTg)
Trang 24Bảng 1: Phân biệt doanh nghiệp spin-off, doanh nghiệp 68 và
doanh nghiệp 80 (Trang sau)
Doanh nghiệp spin-off Doanh nghiệp 68 Doanh nghiệp 80
Là doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thành lập
- Thành lập một doanh nghiệp hoàn toàn mới hoặc tách ra từ một bộ phận của tổ chức mẹ hoặc do chuyển đổi toàn bộ từ tổ chức NC&TK công lập;
- Hoạt động độc lập không phụ hoặc có phụ thuộc vào tổ chức mẹ; Các hoạt
công nghệ mới, công
nghệ cao, hoặc công nghệ
cao, mới
SXKD các sản phẩm
là kết quả nghiên cứu, triển khai công nghệ gắn với chức năng, nhiệm vụ của
tổ chức mẹ (có thể bao gồm các sản phẩm công nghệ cao, mới)
Sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả NC&TK của mình (có thể bao gồm các sản phẩm công nghệ cao, mới)
Trang 25Theo Trần văn Dũng (2007), nếu tiếp cận theo khái niệm tập hợp trong toán học, có thể suy diễn như sau:
- Gọi A: là tập hợp doanh nghiệp spin-off
- Gọi B: là tập hợp doanh nghiệp 68
- Gọi C: là tập hợp doanh nghiệp 80
- Gọi D: là tập hợp các phần tử được tách ra từ một bộ phận của tổ chức mẹ để thành lập hệ thống mới (doanh nghiệp) hoạt động dựa trên cơ
sở khai thác các công nghệ cao, mới, hoặc vừa cao vừa mới hoặc các sản phẩm thuần túy được sản xuất từ các dây chuyền công nghệ đó
: là quan hệ giao Khi đó: D = A B C
Quan hệ giữa 3 loại hình có thể mô tả theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Mô tả quan hệ giữa 3 loại hình doanh nghiệp
D
A
Trang 26Về bản chất, ta nên khuyến khích doanh nghiệp trong khu vực D – các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh công nghệ cao và mới
Về vấn đề cơ sở hình thành, theo nghiên cứu của tác giả Bạch Tân Sinh (2005) thì ở phương Tây, đặc biệt ở Mỹ và Anh, doanh nghiệp KH&CN bao gồm doanh nghiệp khoa học spin-off và doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới/doanh nghiệp dựa trên công nghệ cao Tác giả Hoàng Văn Tuyên, Phạm Huy Tiến và một số tác giả khác cũng có cùng quan điểm như vậy
Như vậy, khái niệm doanh nghiệp spin-off ở đây không hoàn toàn giống với quan niệm về doanh nghiệp 80 và doanh nghiệp 68 trong các văn bản chính sách Việc xác định loại hình doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định các chính sách phát triển, nhất là xác định đối tượng ưu tiên đầu tư các nguồn lực và chính sách thuế
1.2.1.3 Điều kiện để hình thành doanh nghiệp spin-off
Một doanh nghiệp spin-off phải hội tụ đủ 3 yếu tố sau:
(i) Tập thể hoặc cá nhân là người chủ sở hữu hoặc được giao quyền
sở hữu các công nghệ sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp spin-off Trong nhiều trường hợp, chủ doanh nghiệp spin-off phải là các nhà khoa học thuộc tổ chức NC&TK, trường đại học v.v
ii) Chủ doanh nghiệp spin-off – các nhà khoa học phải có tinh thần kinh thương như đã nói trên đây Đồng thời phải luôn duy trì hoạt động đổi mới hoặc thông qua mối quan hệ thường xuyên với tổ chức mẹ (viện, trường) hoặc tự mình tổ chức hoạt động NC&TK Đơn giản là vì doanh nghiệp spin-off luôn luôn đòi hỏi tự tích tụ năng lượng (các dự trữ khoa học) để đổi mới sản phẩm
iii) Có khả năng khai thác, sử dụng các nguồn vốn tự có và coi như
tự có (vốn vay, vốn đầu tư mạo hiểm, quà tặng, biếu v.v )
Yếu tố thứ 3 đòi hỏi một thiết chế tài chính năng động với tính thanh khoản nhanh nhậy để khuyến khích các nhà đầu tư mạnh dạn cung cấp vốn cho doanh nghiệp spin-off Thiếu yếu tố thứ 3 này, ý tưởng thành lập doanh nghiệp spin-off khó có thể thành hiện thực cao nhất
Trang 271.2.2 Kết quả NC&TK và vấn đề sở hữu - điều kiện quan trọng
để thành lập và hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp spin-off
1.2.2.1 Kết quả NC&TK
Kết quả NC&TK là thành quả do hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Nói rộng hơn đó là sản phẩm của hoạt động đổi mới Đây là những kết quả NC&TK được thực hiện bằng ngân sách nhà nước
Kết quả NC&TK sau nghiệm thu là kết quả NC&TK đã được Hội đồng khoa học tiến hành đánh giá và kết luận nghiệm thu
1.2.2.2 Sở hữu trí tuệ kết quả NC&TK
Trong nền kinh tế định hướng đổi mới, việc đổi mới công nghệ để cạnh tranh và tăng lợi nhuận ngày càng trở nên gay gắt đòi hỏi một hệ thống bảo hộ SHTT hữu hiệu và chặt chẽ để ngăn chặn sự cạnh tranh hỗn loạn, không trung thực, đồng thời kích thích năng lực công nghệ nội sinh
“Sở hữu trí tuệ” nhắm đến việc xác lập quyền sở hữu đối với các kết quả mới của hoạt động trí tuệ, có thể gọi chung là các “ý tưởng mới”, tuy
có tính vô hình, nhưng lại có khả năng tạo ra giá trị gia tăng (value added) khi được lồng vào trong một sản phẩm hữu hình, hoặc thể hiện ra trong một tác phẩm (Viết, đồ họa, âm nhạc, kịch nghệ, điện ảnh …) khả cảm, hoặc bộc lộ ra trong một tương tác vật lý (như một thao tác công nghiệp hay một quy trình dịch vụ) Về mặt pháp lý, tuỳ thuộc chủ sở hữu kinh phí thực hiện các kết quả đó mà tập thể, cá nhân sáng tạo ra kết quả đó hoặc vừa là chủ sở hữu kết quả hoặc chỉ được xem là chủ bản quyền tác giả Để
có thể xác định được nội dung hoặc phạm vi sở hữu của loại tài sản này, các ý tưởng mới đó cần mô tả được ra hoặc thể hiện được ra bằng các thông tin cụ thể phù hợp với các hình thức luật định
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật Chủ sở hữu
là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” “Quyền chiếm hữu là quyền
Trang 28quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó” Đối với các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã được xác lập quyền tài sản dưới dạng các đối tượng sở hữu trí tuệ, do bản chất có tính thông tin, khái niệm “quyền chiếm hữu” dường như mất đi ý nghĩa truyền thống của nó Không giống như các tài sản hữu hình, chủ sở hữu không thể thực sự ngăn cấm người khác nắm giữ các thông tin thuộc quyền sở hữu của mình Bù lại, ở khía cạnh “quyền sử dụng”, pháp luật sở hữu trí tuệ đã phát triển chi tiết quyền ngăn cấm người khác trong việc sử dụng các thông tin đó, cụ thể như: cho phép hoặc không cho phép việc công bố, sao chép, phổ biến các tác phẩm; cho phép hoặc không cho phép việc áp dụng, kinh doanh, nhập khẩu … các sản phẩm được bảo hộ theo sáng chế; cho phép hoặc không cho phép việc tiết lộ, sử dụng các bí mật kinh doanh; cho phép hoặc không cho phép việc sản xuất, chế biến, nhân giống, xuất khẩu, nhập khẩu giống cây trồng được bảo hộ … Tùy đặc điểm của từng đối tượng sở hữu trí tuệ, theo nguyên tắc cân bằng giữa một bên là lợi ích của chủ sở hữu kết quả sáng tạo và một bên là lợi ích chung của xã hội, phạm vi ngăn cấm có thể được mở rộng hoặc thu hẹp và theo đó, quyền sử dụng của chủ sở hữu có thể mang tính độc quyền tuyệt đối (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp…), độc quyền tương đối (quyền tác giả đối với tác phẩm, bí mật kinh doanh
…) hoặc đôi khi không mang tính độc quyền (chỉ dẫn địa lý) Việc chủ sở hữu một đối tượng sở hữu trí tuệ cho phép một người khác được quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ của mình được gọi là hoạt động cấp ”li-xăng”
Sở hữu trí tuệ luôn là vấn đề nhạy cảm trong quá trình nghiên cứu nhằm thúc đẩy liên kết khoa học - sản xuất Một trong những hạn chế không kém phần quan trọng làm mất đi động lực ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất là do lợi ích chung chưa chuyển hoá thành lợi ích riêng,
cụ thể, trực tiếp Vì vậy, nhà khoa học không có động lực mạnh mẽ để xã hội hoá công trình và tri thức khoa học của mình Điển hình như các phản ứng xoay quanh vấn đề bản quyền của nhà khoa học Vì bản quyền của nhà khoa học không được tôn trọng và bảo vệ nên một số nhà khoa học, sau khi nghiên cứu ra các công nghệ mới, đã không vội công bố rộng rãi mà
Trang 29giữ lại để trực tiếp tự mình mang rao bán Đương nhiên, nếu công trình được công bố thì phạm vi ứng dụng vào sản xuất sẽ lớn gấp rất nhiều lần
so với việc một vài nhà khoa học vừa muốn ứng dụng sản phẩm nghiên cứu của mình vào thực tế, vừa lo giữ “bí quyết gia truyền” Do vậy, việc áp dụng kết quả nghiên cứu thành công vào sản xuất kinh doanh ngay bên trong viện NC&TK được coi là một biện pháp khả dĩ, khắc phục các hạn
chế gặp phải khi chuyển giao kết quả nghiên cứu ra ngoài
1.3 Thương mại hoá kết quả NC&TK
1.3.1.Thương mại hoá kết quả NC&TK và điều kiện thực hiện
“Thương mại hoá sản phẩm nghiên cứu là một phương thức tổ chức
và quản lý hoạt động KH&CN theo quy luật cung cầu và quy luật giá trị áp dụng trong một phạm vi nhất định để đưa nhanh kết quả NC&TK đã được
1.3.1.1 Những kết quả NC&TK không thể thương mại hoá:
- Những kết quả nghiên cứu đang ở trong giai đoạn ban đầu chưa thể triển khai rộng rãi;
- Các kết quả của nghiên cứu cơ bản;
- Sản phẩm của các đơn vị nghiên cứu thuộc các doanh nghiệp và các doanh nghiệp này muốn giữ các kết quả nghiên cứu đó làm bí quyết của mình;
1.3.1.2 Điều kiện đặc thù của thương mại hoá sản phẩm NC&TK:
Kết quả NC&TK phải mang một giá trị sử dụng nhất định, tức hàm chứa trong nó trình độ phát triển của KH&CN Các kết quả này có thể tồn tại dưới dạng vật chất hoá trong tư liệu sản xuất hoặc tồn tại dưới dạng tri thức mới trong con người Chủ yếu sản phẩm NC&TK được thương mại hoá tồn tại dưới hình thức của công nghệ bao gồm trong 4 yếu tố: (i) yếu tố trang thiết bị, máy móc, (ii) yếu tố kỹ năng, tay nghề, (iii) yếu tố vật mang tin, (iv) yếu tố tổ chức, quản lý
Trang 30Liên quan tới bản quyền của nhà khoa học với tư cách là bên cung sản phẩm NC&TK Nguyên tắc chung của trao đổi hàng hoá là trao đổi quyền sở hữu của hàng hóa Tuy nhiên, quyền sở hữu đối với sản phẩm NC&TK là vấn đề nhạy cảm và thường xảy ra việc chiếm dụng phi pháp hay nói cách khác là hiện tượng mất bản quyền Lúc này vai trò của bảo hộ
là cần thiết để đảm bảo quá trình chuyển giao diễn ra công bằng
Điều kiện tồn tại thị trường trao đổi Thị trường công nghệ nói chung có mối liên hệ nhất định với thị trường chung Quy luật cạnh tranh năng động trong thị trường cũng là một nhân tố tích cực thúc đẩy quá trình thương mại hoá sản phẩm NC&TK
Một điều kiện đặc thù khác của quá trình thương mại hoá sản phẩm NC&TK là vai trò quan trọng của phân hệ các tổ chức môi giới Lực lượng này có vai trò cầu nối giữa bên cung và bên cầu đối với sản phẩm NC&TK trong khi tồn tại khoảng cách giữa bên cung và cầu
Để có thể thương mại hoá kết quả nghiên cứu nói chung phải hội tụ
đủ 4 điều kiện trên Ngược lại, việc sản nghiệp hoá (tự tổ chức SX-KD bên trong tổ chức NC&TK) lại không cần thiết nhiều điều kiện như vậy hoặc ít nhất giảm thiểu tối đa tác động của các điều kiện trên Ví dụ, tự tổ chức sản xuất có thể tránh được việc “mất bản quyền”, giảm được các chi phí giao dịch không cần thiết
1.3.2 Thương mại hoá kết quả NC&TK - yếu tố quan trọng để thực hiện chính sách đổi mới
Bản chất của chính sách đổi mới là tập hợp hệ thống các giải pháp chính sách nhằm sử dụng có hiệu quả các tri thức (kết quả) khoa học và công nghệ để sản xuất sản phẩm mới đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường Đối tượng quản lý đổi mới – suy cho cùng là các dự án đổi mới sản phẩm có hàm lượng KH&CN Vì vậy, chính sách đổi mới là những chính sách ảnh hưởng đến những quyết định của doanh nghiệp để phát triển, thương mại hoá và thực hiện các công nghệ mới Việc thương mại hoá các kết quả NC&TK là một trong những giai đoạn quan trọng của quá trình đổi
Trang 31mới Do đó, nếu việc thương mại hoá thành công sẽ góp phần thúc đẩy cho việc thực hiện chính sách đổi mới
1.3.3 Thương mại hoá kết quả NC&TK và vai trò thúc đẩy của doanh nghiệp spin-off
1.3.3.1 Doanh nghiệp spin-off là phương thức ngắn nhất đưa kết
quả NC&TK vào sản xuất
Bản thân doanh nghiệp spin-off là do chính các nhà khoa học - những người nghiên cứu sáng tạo và làm chủ những công nghệ thành lập
và điều hành Như đã nói trên đây, theo quy luật, có thể thời gian đầu, doanh nghiệp spin-off vẫn còn tồn tại ngay trong cơ sở nghiên cứu mẹ với chức năng trực tiếp đưa nhanh kết quả nghiên cứu khoa học của mình vào sản xuất sản phẩm hàng hoá mang hàm lượng chất xám cao cho xã hội Doanh nghiệp spin-off là phương thức để nhà khoa học tự chủ, tự chịu trách nhiệm đến cùng với kết quả nghiên cứu của mình Mô hình doanh nghiệp này đề cao vai trò chủ động của các nhà khoa học và là mô hình kinh doanh mới, khai thác các kết quả nghiên cứu công nghệ một cách nhanh nhậy, khả dĩ sản xuất sản phẩm nhanh hơn, chất lượng hơn và rẻ hơn so với mô hình doanh nghiệp truyền thống Ngoài ra, không loại trừ việc hình thành các doanh nghiệp spin-off từ các viện, các tổ chức NC&TK Trong trường hợp đó, doanh nghiệp spin-off được gọi với cái tên
là spin-out với nghĩa là tách khỏi khu vực thuần tuý NC&TK để hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp Hiện ở nước ta đang áp dụng mô hình này đối với các viện nghiên cứu công IMI đang được xem là mô hình lý tưởng (hiện tượng IMI) để các nhà hoạch định chính sách hướng tới thí điểm
Các doanh nghiệp khoa học spin-off được thành lập trên cơ sở dịch chuyển nhân lực và sở hữu trí tuệ từ cơ quan/tổ chức mẹ Đây là quá trình chuyển giao tri thức dưới dạng ẩn, khác với cơ chế thương mại hoá công nghệ thông qua bán công nghệ, chuyển nhượng hay bán quyền sử dụng bản quyền hoặc liên doanh Nói cách khác, việc hình thành doanh nghiệp spin-off luôn gắn với việc chuyển giao bí quyết công nghệ và lưu chuyển nguồn
Trang 32đảm bảo quá trình thương mại hoá kết quả nghiên cứu thành công và không phải qua bất kỳ khâu trung gian nào, giảm giá thành chuyển giao (transfer cost)
1.3.3.2 Doanh nghiệp spin-off là phương tiện thực hiện hiệu quả chính sách đổi mới
Bản thân doanh nghiệp spin-off vừa có chức năng nghiên cứu, vừa
có chức năng sản xuất và kinh doanh nên doanh nghiệp spin-off đã tự xác định được nhu cầu cần phải ưu tiên nghiên cứu những sản phẩm gì cho phù hợp với năng lực sản xuất công nghệ của mình đồng thời vẫn đáp ứng được nhu cầu của thị trường để thu lợi nhuận cao Theo Lundvall (1992), đổi mới bắt nguồn từ sự xung đột giữa nhu cầu và cơ hội Chức năng cơ bản của mối quan hệ giữa người sản xuất (người tạo ra công nghệ) và người tiêu dùng (người sử dụng công nghệ) chính là trao đổi về cơ hội công nghệ và nhu cầu của người tiêu dùng Nếu sự trao đổi này thành công, điều đó có nghĩa là đã đạt được sự đổi mới Trở lại vấn đề, doanh nghiệp spin-off vừa là người sản xuất ra các công nghệ vừa lại là nơi sử dụng công nghệ đó để sản xuất sản phẩm kinh doanh được trên thị trường, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp spin-off là phương tiện để thực hiện đổi mới sản phẩm nói riêng và chính sách đổi mới nói chung
Bên cạnh đó, chi phí giao dịch là chi phí cần thiết để có thể tiến hành trôi chảy một cuộc trao đổi (hay vụ giao dịch) Một cuộc trao đổi có
ba bước Thứ nhất, phải tìm được một đối tác trao đổi, bao gồm việc tìm người muốn mua những thứ cần bán hay muốn bán những thứ có nhu cầu mua Thứ hai, các đối tác trao đổi phải đi đến một thỏa thuận Thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng thành công, tiến đến soạn thảo một bản hợp đồng Thứ ba, sau khi đã đạt được thỏa thuận thì phải thực thi thỏa thuận đó Thực thi thỏa thuận bao gồm giám sát việc thực hiện của các bên
và trừng phạt đối với những vi phạm hợp đồng Vì vậy, chi phí giao dịch gồm các loại: chi phí tìm kiếm và thông tin, chi phí thương thảo, chi phí đảm bảo thực hiện hợp đồng, v.v Câu hỏi đặt ra là khi nào thì các chi phí giao dịch cao và khi nào thì thấp Đối với chi phí tìm kiếm (tìm kiếm thông tin lẫn tìm kiếm đối tác) thì có khuynh hướng cao đối với hàng hóa hay
Trang 33dịch vụ độc đáo, và thấp đối với hàng hóa hay dịch vụ đã chuẩn hóa Chuyển qua chi phí thương thảo, chi phí này sẽ giảm khi mà cả hai bên đều
đã nắm rõ được các giải pháp hợp tác cũng như các giá trị của nhau Tuy nhiên, điều này sẽ là rất khó khăn bởi có những thông tin có thể công khai nhưng cũng có thông tin thì không thể (thông tin riêng tư) Nói chung, thông tin công khai giúp các bên đạt được thỏa thuận dễ dàng hơn bằng cách cho phép họ tính toán những điều kiện hợp tác hợp lý Kết quả là các cuộc thương lượng có khuynh hướng đơn giản và dễ dàng khi thông tin về giá trị đe dọa và giải pháp hợp tác là công khai Điều này dẫn đến làm cho chi phí giao dịch giảm.Việc thu thập thông tin là chìa khoá dẫn đến các chi phí giao dịch, bao gồm các chi phí đánh giá các thuộc tính có giá trị của những thứ được trao đổi Hơn nữa, chi phí giao dịch cũng bao gồm các chi phí bảo vệ các quyền và chi phí kiểm soát, chi phí cưỡng chế thi hành các thoả thuận
Theo Lundvall (1992), chi phí giao dịch phát sinh theo quan điểm quá trình tạo nên sự tin tưởng lẫn nhau giữa những người tạo ra và sử dụng tri thức thường rất tốn kém Hay nói một cách khác, chi phí giao dịch giữa một bên tạo nên và một bên sử dụng tri thức ở hai tổ chức khác nhau thì cao hơn nhiều so với chi phí giao dịch đó nếu hai bên ở trong cùng một
tổ chức Vì vậy, doanh nghiệp spin-off đã đáp ứng được yêu cầu đó bởi những lý do sau:
Thứ nhất, bản thân doanh nghiệp spin-off trực tiếp vừa nghiên cứu lại vừa sản xuất, nên không phải tốn chi phí tìm kiếm đối tác và không tốn phí thương thảo vì bộ phận nghiên cứu và bộ phận sản xuất cùng thuộc một tổ chức, đó chính là doanh nghiệp
Thứ hai, đối với các sản phẩm là công nghệ mới và công nghệ cao, mang tính đặc thù, chi phí tìm kiếm thông tin về sản phẩm cũng như tìm kiếm đối tác để mua và sản xuất công nghệ đó là rất cao, thậm chí là rất khó tìm Vì vậy, doanh nghiệp spin-off ra đời giải quyết thỏa đáng được vấn đề này bởi doanh nghiệp spin-off vừa sản xuất, vừa nghiên cứu các sản
Trang 34Thứ ba, thông thường, các đơn vị sản xuất kinh doanh thường đặt hàng cho các đơn vị nghiên cứu và phải trả cho các nhà nghiên cứu một khoản nhất định nào đó và ngược lại, các nhà khoa học khi muốn ứng dụng kết quả của mình để tạo thành sản phẩm thì phải thông qua các đơn vị sản xuất và đương nhiên sẽ phải trả một khoản lệ phí nào đó Từ mối quan hệ này, nảy sinh thêm những chi phí thông tin được trao đổi giữa hai bên ứng với mỗi đơn vị thuộc tính Điều đó cũng làm cho chi phí giao dịch tăng Mặt khác, khi gắn kết giữa nghiên cứu với sản xuất, đòi hỏi phải có sự trao đổi giữa bên nghiên cứu và bên sản xuất dưới nhiều hình thức Vì vậy, tất yếu phải có sự tranh luận, cạnh tranh nhau để tự khẳng định và cùng phát triển nhằm hoàn thiện những mặt yếu của mình Do đó khi xảy ra chi phí giao dịch thì cũng có thể coi là một quá trình kinh doanh đem lại lợi nhuận
và kinh nghiệm cho những bên tham gia Ta cũng có thể hiểu theo nghĩa là khi gắn kết nghiên cứu với sản xuất thì tất yếu sẽ dẫn đến những khoản chi phí cho giao dịch của quá trình gắn kết này Bởi vì sự gắn kết này phải dựa trên cơ sở là động lực phát triển của cả hai phía chứ không làm triệt tiêu lẫn nhau, nên tiến hành trả chi phí một cách thỏa đáng sẽ dẫn đến đạt được kết quả cao hơn Tuy nhiên, một khi cả hai bộ phận nghiên cứu và bộ phận sản xuất lại cùng nằm trong một tổ chức, đó chính là doanh nghiệp spin-off thì sẽ giảm được khoản chi phí giao dịch đó đồng thời vẫn đảm bảo thu được lợi nhuận cho doanh nghiệp Một khi giảm được chi phí giao dịch thì tất yếu giá thành sản phẩm sản xuất ra sẽ giảm, dẫn tới nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm
Thứ tư, do hạn chế của thị trường công nghệ, với tư cách là môi trường thực hiện giao dịch giữa nghiên cứu và sản xuất thì thực sự chưa phát triển Thị trường công nghệ ở Việt Nam còn sơ khai, hầu như thiếu vắng nhiều yếu tố hợp thành của một thị trường hoàn chỉnh, đặc biệt là các
tổ chức trung gian, môi giới, cung cấp thông tin về công nghệ, tư vấn mua bán công nghệ, kinh nghiệm trong việc tiếp thị, các kỹ thuật thương thuyết, đàm phán Vì vậy, hạn chế khả năng chuyển giao kết quả nghiên cứu của viện NC&TK ra bên ngoài Chính điều kiện này lại thúc đẩy hình thức sản
Trang 35xuất kinh doanh bên trong viện NC&TK phát triển, trong đó có mô hình doanh nghiệp spin-off
Kết luận chương I
Qua nghiên cứu lý luận cơ bản về doanh nghiệp KH&CN (spin-off) với những đặc điểm vốn có, những điều kiện hình thành, phát triển và vai trò của nó đối với hoạt động thương mại hoá kết quả NC&TK của các tổ chức NC&TK cho thấy sự tồn tại và phát triển của loại hình doanh nghiệp này là một xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường và sự phát triển của nó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong thời kỳ đổi mới Không phải ngẫu nhiên mà ở các nước phát triển cũng như ở Trung Quốc người ta gọi các doanh nghiệp này là các doanh nghiệp đổi mới (Innovation company) hoặc doanh nghiệp có hàm lượng chất xám cao (NC&TK intensive company) Ở Mỹ, người ta đánh giá các doanh nghiệp này “là niềm tự hào của đất nước” Vì vậy, việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp, chính sách hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này là rất cần thiết
Trang 36Chính vì vậy, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương chính sách mang tính cải cách nhất định Một trong số những chính sách để hình thành và phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ là Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 68/1998/QĐ-TTg về việc cho phép thí điểm thành lập doanh nghiệp nhà nước trong các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu, Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Nghị định 81/2004/NĐ-CP, Luật Chuyển giao Công nghệ 2006 , Nghị định của chính phủ số 80/2007/NĐ-CP ngày
19 tháng 5 năm 2007 về doanh nghiệp khoa học và công nghệ ra đời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân triển khai ứng dụng các kết quả khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh
Theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP, “Doanh nghiệp KH&CN thuộc đối tượng áp dụng là: Tổ chức, cá nhân Việt Nam; Tổ chức cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và có nhu cầu thành lập doanh nghiệp
Trang 37KH&CN Trong các đối tượng nêu trên, các tổ chức nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ và tổ chức dịch vụ KH&CN công lập thực hiện việc chuyển đổi tổ chức, hoạt động để thành lập doanh nghiệp KH&CN được gọi chung là tổ chức KH&CN công lập”
Hoạt động chính của doanh nghiệp KH&CN là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Ngoài các hoạt động này, doanh nghiệp KH&CN có thể thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá khác và thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật
Theo quan điểm trên thì phàm là các doanh nghiệp “tổ chức cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ” đều được gọi là doanh nghiệp KH&CN Như vậy, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều được xếp vào loại hình doanh nghiệp này bởi đa số các dây chuyền sản xuất đều là kết quả của quá trình NC&TK và phát triển công nghệ
Theo quyết định 68/1998/QĐ-TTg, “cho phép thành lập doanh nghiệp nhà nước trong một số trường đại học, cao đẳng công lập (gọi tắt là
cơ sở đào tạo), viện nghiên cứu khoa học, trung tâm khoa học công nghệ, liên hiệp khoa học - sản xuất nhà nước (gọi tắt là cơ sở nghiên cứu) thuộc mình quản lý, để hoạt động SXKD các sản phẩm là kết quả nghiên cứu, triển khai công nghệ hoặc các sản phẩm, dịch vụ khoa học công nghệ gắn với chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của chính cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu đó”
Sau hơn 2 năm thử nghiệm kể từ khi Quyết định số 68 ra đời, ngày 25/6/2001, Chính phủ ban hành Công văn số 574/CP-ĐMDN tạm dừng việc thành lập doanh nghiệp nhà nước Tính đến thời điểm đó đã có 17 doanh nghiệp (theo nghiên cứu khác thì có 20 doanh nghiệp) nhà nước thuộc cơ sở đào tạo và nghiên cứu được thành lập, trong đó có 10 doanh nghiệp thuộc viện nghiên cứu
Trang 38Trước đó, ngày 22/8/1992, Chính phủ đã có Quyết định 196-CP ngày 5 tháng 6 năm 1992 và Thông tư số 40-TC/TCT/CS về việc hướng dẫn thi hành Quyết định này, một số trường đại học đã thành lập công ty TNHH Cho đến ngày 23 tháng 7 năm 2002, trong các trường ĐH&CĐ có
12 Công ty trách nhiệm hữu hạn
Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tính đến tháng 12/2004, cả nước có
238 trường Đại học, Cao đẳng (215 trường công lập) Thống kê cho đến ngày 22 tháng 3 năm 2002, cả nước có 21 doanh nghiệp trong các trường đại học, cao đẳng Đại học Mỏ Địa chất, Xây dựng, Giao thông Vận tải là
Tiêu biểu trong số này phải kể đến Công ty Tư vấn đại học xây dựng, năm
2003 doanh thu đạt 17 tỉ đồng, năm 2004 doanh thu đạt gần 25 tỉ đồng Công ty Bách khoa thuộc trường Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2004 đạt doanh thu 41 tỉ đồng, đóng góp xây dựng trường 1,5 tỉ đồng và nộp thuế gần 1 tỉ đồng
Tuy nhiên, cho đến nay, trong các mô hình doanh nghiệp 68, ngoài
mô hình Công ty Vắc xin và Sinh phẩm số 1 thuộc Viện Vệ sinh dịch tễ, cho đến nay vẫn hiếm thấy có doanh nghiệp nào mang dáng dấp thực sự của spin-off
2.1.2 Các loại hình (doanh nghiệp theo hình thức sở hữu, theo lĩnh vực hoạt động, theo chức năng, theo chuỗi đổi mới v.v…)
Trong các loại hình doanh nghiệp KH&CN được hình thành từ viện
và trường thì loại hình doanh nghiệp được thành lập từ một nhóm các nhà khoa học của viện hay từ một bộ phận của viện và trường là phổ biến so với loại hình doanh nghiệp được hình thành từ nỗ lực của một cá nhân nhà khoa học có tinh thần kinh thương Sở dĩ như vậy là do các điều kiện cần thiết cho việc hình thành doanh nghiệp dựa trên một bộ phận của viện thuận lợi hơn nhiều so với doanh nghiệp hình thành từ một cá nhân nhà khoa học có tinh thần kinh thương, về cơ sở vật chất ban đầu, nguồn nhân
Trang 39
lực, mối quan hệ công tác, phương thức hợp tác đã được xây dựng khi còn
ở trong viện
Các loại hình doanh nghiệp KH&CN do cá nhân, một nhóm các nhà khoa học và công nghệ có tinh thần kinh thương hoặc một số tổ chức NC&TK khởi xướng và thành lập ở trong Khu công nghệ cao ở Việt Nam hiện nay mới ở giai đoạn ban đầu
Qua thực tế khảo sát, các doanh nghiệp KH&CN hình thành ở Việt Nam có hai loại hình chủ yếu: (1) Doanh nghiệp hình thành từ một bộ phận (phòng, ban) hay từ một nhóm cán bộ nghiên cứu của viện hoặc trường Ví dụ như Công ty Phát triển phụ gia và Sản phẩm Dầu mỏ (APP) được thành lập từ một phòng nghiên cứu về dầu bôi trơn và người sáng lập
ra công ty đã từng là viện trưởng Viện Hoá Công nghiệp; Doanh nghiệp KH&CN IMI hình thành từ Viện Nghiên cứu Thiết kế chế tạo máy và Dụng cụ công nghiệp (gọi tắt là Viện máy và Dụng cụ Công nghiệp); Công
ty Netnam được thành lập từ một nhóm nghiên cứu của Viện Công nghệ thông tin theo Quyết định 68; Công ty sản xuất công nghệ phần mềm được thành lập bởi một cán bộ nghiên cứu thuộc Viện Công nghệ thông tin (2) Doanh nghiệp thành lập từ việc chuyển đổi toàn bộ viện NC&TK công nghệ công nghiệp.Ví dụ: Viện thiết kế công nghiệp hóa chất chuyển thành Công ty tư vấn và thiết kế hóa chất (CECO)
Kết quả đạt được lớn nhất của các doanh nghiệp KH&CN là bước đầu đã thể hiện được sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học, công tác đào tạo và sản xuất kinh doanh
2.1.3 Các vấn đề nảy sinh:
2.1.3.1 Về quan hệ giữa viện mẹ và doanh nghiệp spin-off:
Trong đa số các trường hợp luận văn lựa chọn nghiên cứu, viện và trường (tổ chức mẹ) đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành doanh nghiệp KH&CN
Thứ nhất, việc thành lập các doanh nghiệp này đều dựa trên kết quả
Trang 40chủ quan ký quyết định trên cơ sở đề nghị của lãnh đạo viện mẹ Điều này dẫn đến những ràng buộc nhất định giữa giám đốc doanh nghiệp và lãnh đạo viện mẹ, giảm tính độc lập của doanh nghiệp (xem phụ lục 4 và phụ lục 5)
Thứ hai, ở giai đoạn mới bắt đầu đi vào hoạt động, các doanh
nghiệp được tổ chức mẹ hỗ trợ cơ sở vật chất, trụ sở làm việc, máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng… Mặt bằng cơ sở làm việc chính thức của các doanh nghiệp đều nằm trong khuôn viên của tổ chức mẹ Chính sự hỗ trợ này đã giúp doanh nghiệp giảm đi rất nhiều chi phí cho việc thuê đất và xây dựng nhà xưởng của doanh nghiệp
Thứ ba, tổ chức mẹ hỗ trợ dưới nhiều hình thức khác nhau từ
chuyển giao lixăng, cán bộ nghiên cứu, thị trường và kết quả nghiên cứu của một số hướng công nghệ trong tương lai Nói cách khác, các doanh nghiệp vẫn giữ quan hệ hợp tác truyền thống là thông qua các hợp đồng NC&TK Các cán bộ của doanh nghiệp vẫn hợp tác với cán bộ nghiên cứu của tổ chức mẹ để tiến hành các hoạt động nghiên cứu hoặc sử dụng các kết quả nghiên cứu từ viện mẹ rồi tiến hành triển khai trong thực tế theo đơn đặt hàng của khách hàng Hoặc các hợp đồng NC&TK của doanh nghiệp chủ yếu vẫn do tổ chức mẹ đặt hàng, ví dụ như Viện Nghiên cứu Thiết kế chế tạo máy và Dụng cụ công nghiệp (xem phụ lục 1) Hay cung cấp các dự án nghiên cứu được tài trợ như Công ty Phát triển phụ gia và Sản phẩm dầu mỏ - APP (xem phụ lục 2)
Thứ tư, tổ chức mẹ hỗ trợ vốn hoạt động (mặc dù số vốn là rất nhỏ
so với doanh thu hàng năm của mỗi doanh nghiệp)
Thứ năm, nhân tố đặc biệt quan trọng cho doanh nghiệp KH&CN là
các doanh nghiệp còn dựa vào uy tín, thương hiệu của tổ chức mẹ trong quá trình đàm phán hợp tác với các đối tác nước ngoài cũng như để ký kết các hợp đồng NC&TK với các khách hàng trong nước Đây là một lợi thế lớn nhất mà các doanh nghiệp đều mong muốn duy trì và không dễ gì có thể từ bỏ lợi thế này Cũng vì lý do trên mà đa số doanh nghiệp không muốn rời khỏi hẳn tổ chức mẹ thành một doanh nghiệp độc lập hoàn toàn