Dưới góc độ người làm công tác chuyên môn là biên tập, thẩm định nội dung chương trình, học viên nhận thấy HTV cần phải đổi mới phương thức bồi dưỡng, đào tạo để có được nguồn nhân lực K
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HTV)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xuân Hằng
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 3Lời cảm tạ
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Xuân Hằng đã
hướng dẫn tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này Xin được gửi đến tập thể giảng viên khoa Khoa học Quản lý (Trường Đại học KHXH và NV - Đại học Quốc gia Hà Nội) lòng tri ân sâu sắc vì
đã nhiệt tình truyền thụ kiến thức trong chương trình đào tạo cao học Quản lý Khoa học và Công nghệ khóa 4
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài 2
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 4
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Mẫu khảo sát 6
7 Câu hỏi nghiên cứu 7
8 Giả thuyết nghiên cứu 7
9 Phương pháp chứng minh luận điểm 7
10 Các luận cứ 8
10.1 Luận cứ lý thuyết 8
10.2 Luận cứ thực tế 10
10.3 Luận cứ giải pháp 10
11 Kết cấu luận văn 12
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC 15
1.2 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC KH&CH 17
1.3 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC KH&CH TH 17
1.3.1 Truyền hình 19
1.3.2 Nguồn nhân lực truyền hình 20
1.3.3 Đặc trưng của nguồn nhân lực KH&CN TH 22
Trang 51.4 PHƯƠNG THỨC BỒI DƯỠNG, ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 23
1.4.1 Khái niệm đào tạo 23
1.4.2 Khái niệm bồi dưỡng 25
1.4.3 Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 26
1.4.4 Phương thức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 29
1.5 ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC BỒI DƯỠNG, ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRUYỀN HÌNH 32
1.6 TIỂU KẾT 34
Chương 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC, HẠ TẦNG KH&CN VÀ TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG, ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN TH CỦA HTV 2.1 Tổng quan về sự phát triển của HTV 35
2.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của HTV 35
2.1.2 Cơ cấu tổ chức nguồn nhân lực 39
2.2 Thực trạng nguồn nhân lực KH&CN của HTV 41
2.2.1 Trình độ chuyên môn nguồn nhân lực 41
2.2.2 Hạ tầng KH&CN của HTV và yêu cầu đào tạo nhân lực tương thích 46
2.3 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN của HTV (2009-2011) 47
2.3.1 Đào tạo trong nước 47
2.3.2 Đào tạo ở nước ngoài 48
2.4 Khảo sát và đánh giá hệ thống tổ chức đào tạo của HTV 49
2.4.1 Đào tạo nội bộ (in-house training) còn chưa được chú trọng 50
2.4.2 Đào tạo ủy thác tại chỗ (on-site training) còn bất cập về nội dung 51
2.4.3 Chưa có chiến lược hiệu quả gửi người đi đào tạo ngoại tuyến (public training) 53
Trang 62.5 Đánh giá hiệu quả công tác bồi dưỡng, đào tạo nhân lực của HTV qua
kết quả khảo sát điều tra 55
2.5.1 Khảo sát qua phỏng vấn chuyên gia 55
2.5.2 Khảo sát điều tra ý kiến của đội ngũ nhân viên HTV 55
2.6 TIỂU KẾT 56
Chương 3 THÀNH LẬP TRUNG TÂM ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ TRUYỀN HÌNH HTV NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 57
3.1 Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực KH&CN TH chuyên nghiệp 58
3.2 Nhu cầu đổi mới phương thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN của HTV 60
3.3 Thành lập Trung tâm đào tạo nghiệp vụ TH HTV 3.3.1 Xây dựng bộ máy tổ chức của Trung tâm đào tạo nghiệp vụ 64
3.3.2 Chuẩn hóa hệ thống đào tạo của HTV 68
3.4 TIỂU KẾT 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
PHỤ LỤC 96
Phụ lục 1 96
Phụ lục 2 98
Phụ lục 3 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Sơ đồ tổ chức của HTV 40
Biểu đồ tỉ lệ nam, nữ của HTV 42
Biểu đồ tỉ lệ theo lứa tuổi của HTV 42
Biểu đồ tỉ lệ theo trình độ đào tạo của HTV 43
Bảng 2.1: Nguồn nhân lực HTV 32
Bảng 2.2: Phân bố nguồn nhân lực các khối của HTV 44
Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trung tâm Đào tạo Nghiệp vụ Truyền hình 68
Trang 91
PHẦN MỞ ĐẦU
Bằng cách nào mà một sự kiện xảy ra ở bất kỳ một quốc gia có thể vượt
ra ngoài biên giới để đến với mọi công dân toàn cầu? Sự kiện nổi bật nào trên thế giới đã và đang xảy ra? Vấn đề gì đang diễn ra tại quốc gia của bạn?, Thế giới luôn tràn ngập sự kiện, những giằng xé về sắc tộc ở Trung Đông, những âu lo của người dân khắp hành tinh trong thời khủng hoảng KT, rồi lũ lụt, đói nghèo, nỗi khổ đau mất mát của người dân vùng chiến sự, Các phương tiện truyền thông đại chúng đã “kết nối” các thành viên của một cộng đồng, một quốc gia hay nhiều quốc gia trên thế giới lại với nhau qua việc thu thập và công bố các sự kiện Tất cả đều là những sự kiện nóng hổi, những hình ảnh chân thật, sinh động nhất ở từng vùng, lãnh thổ, quốc gia trên thế giới
Quả thật, sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đã góp phần biến đổi thế giới thành một “ngôi làng toàn cầu” Ngày nay, khoảng cách địa lý đã không còn là rào cản của xa lộ thông tin truyền tải tức thời trên khắp thế giới Các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và Đài TH nói riêng thật sự đã và đang tạo ra một ngôi làng toàn cầu về mặt truyền thông liên lạc Nó không chỉ mở rộng về phạm vi vươn tới mà còn thâm nhập vào mọi khía cạnh của đời sống thường nhật một cách nhanh chóng, sinh động và chính xác [17, tr 230]
TH đã trở thành phương tiện truyền thông quen thuộc ở mỗi gia đình
Sự tiện dụng theo hướng tích hợp truyền thông đa phương tiện đang làm cho
TH có những hướng phát triển mới cả về kỹ thuật lẫn nội dung và hình thức thể hiện Sự thâm nhập của TH đối với mỗi chúng ta là hết sức đáng kể trong mấy thập kỷ qua
Trang 102
Ở VN, TH ra đời tương đối muộn so với các loại hình phương tiện truyền thông khác, song đã chứng tỏ được những ưu thế vượt trội của nó Đến nay, ngành TH đã và đang phát triển mạnh mẽ với 67 ĐPT-TH, trong đó có 3 đài phủ sóng toàn quốc là Đài Tiếng nói VN-VOV, Đài TH VN-VTV và Đài
TH kỹ thuật số VTC và 64 ĐPT-TH địa phương gồm 62 ĐPT-TH của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, riêng TP.HCM có 2 đài: HTV và Đài Tiếng nói nhân dân TP.HCM-VOH Số lượng các kênh TH tại VN lên tới gần
200 kênh, trong đó có gần 100 CTTH quảng bá Ngày nay, khi KH&CN phát triển nhanh như vũ bão, cánh cửa thông tin rộng mở đã tạo điều kiện thuận lợi
để ngành TH nâng cao chất lượng chương trình, chất lượng phát sóng và làm
đa dạng, phong phú về thể loại, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hoá tinh thần của người dân
Hơn ba thập kỷ trôi qua kể từ CTTH đầu tiên được phát sóng, đến nay ngành TH trong cả nước đã phát triển khá toàn diện Điều đó đã khẳng định vị trí, vai trò của TH và đặc biệt là thế mạnh vượt trội của TH so với các phương tiện truyền thông đại chúng khác được thể hiện qua thế mạnh cũng như hạn chế của TH
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cũng như sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tạo cơ hội cho các phương tiện truyền thông TH phát triển mạnh
mẽ trên quy mô toàn cầu, giúp cho lượng thông tin, các chương trình mang tính giáo dục cao, các chương trình giải trí đa dạng, phong phú, những chương trình trực tiếp TH đến với mọi người một cách nhanh chóng, đầy đủ, chính xác và thuận lợi nên ngày càng thu hút sự quan tâm của công chúng Song công chúng ngày càng có trình độ, luôn đòi hỏi cao về chất lượng, nội dung các CTTH, đặc biệt là các CTTH giải trí Bên cạnh đó, sự cạnh tranh khốc liệt
Trang 113
của thị trường và của chính các loại hình báo chí, đặc biệt là từ Internet, mạng
XH đòi hỏi TH cần phải thay đổi bản thân, phải luôn tìm những hướng đi mới cho sự phát triển của mình Hơn nữa, ngành công nghệ TH hiện nay đang bước vào làn sóng thứ tư, đó là làn sóng của đổi mới và sáng tạo, thì yêu cầu đặt ra cho nó là chất lượng CTTH Và vai trò quan trọng quyết định các vấn
đề này chính là nguồn nhân lực
Nhìn lại nhân sự làm TH ở VN hiện tại rõ ràng là chưa được đào tạo bài bản, thiếu tính chuyên nghiệp vì cho đến nay vẫn chưa có trường đại học về lĩnh vực đặc thù này Chính vì tính ổn định của nhân sự không cao, trình độ chuyên môn chưa được đào tạo chuyên nghiệp, còn nhiều hạn chế mà chất lượng các CTTH bị ảnh hưởng Điều này có thể hiểu được khi nhìn vào chất lượng các chương trình không đồng đều đang phát sóng hiện nay Để giải quyết “bài toán khó” này, trước hết phải có phương thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực hiệu quả, mới mong có được nguồn nhân lực vừa thạo việc, vừa giỏi chuyên môn, đủ sức tạo ra nhiều chương trình mới, sáng tạo trong cách thể hiện và đa dạng, phong phú về ý tưởng nội dung
HTV cũng đã có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp của ngành
TH VN thời gian qua Dù là kênh chính luận, văn hóa, thể thao, khoa giáo hay các CTTH giải trí thì HTV luôn là tiếng nói trong trẻo của tâm hồn người miền Nam hồn hậu trong giao tiếp nhưng năng động trong hoạt động KT của
cả nước Để củng cố những nỗ lực trên, HTV phải có chiến lược quy hoạch và đào tạo nguồn nhân lực KH&CN tương thích với cơ sở trang thiết bị khá hiện đại của Đài Có như vậy mới mong tồn tại, phát triển và đáp ứng được sự kỳ vọng của công chúng trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay
Để đạt được mục tiêu trên, một vấn đề hết sức cấp bách và lâu dài là phải có được phương thức đào tạo nguồn nhân lực KH&CN cho ngành TH nói
Trang 124
chung cũng như HTV nói riêng Nguồn nhân lực TH phải được đào tạo chuyên nghiệp vì đây là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng một chương trình cũng như thương hiệu của một đài TH
Dưới góc độ người làm công tác chuyên môn là biên tập, thẩm định nội dung chương trình, học viên nhận thấy HTV cần phải đổi mới phương thức bồi dưỡng, đào tạo để có được nguồn nhân lực KH&CN TH chuyên nghiệp nhằm nâng cao chất lượng CTTH
Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Đổi mới phương
thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN để nâng cao chất lượng CTTH (nghiên cứu trường hợp HTV)” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành
Quản lý KH&CN
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài được nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ hơn một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho chất lượng CTTH của HTV chưa đạt yêu cầu như mong muốn Qua đó, đề tài nghiên cứu còn cho thấy cần phải có sự tương thích trong mối quan hệ giữa con người và công nghệ trong môi trường hoạt động của KH&CN
Những luận cứ trong nghiên cứu có thể được sử dụng tham khảo để cơ cấu lại hệ thống bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ TH cho nguồn nhân lực KH&CN TH của HTV nhằm góp phần nâng cao chất lượng CTTH trong xu thế cạnh tranh khốc liệt của sự hội nhập ngày nay
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ các luận văn chuyên ngành Quản lý KH&CN liên quan đến HTV, đã có một số cán bộ của HTV đề cập trong các luận văn Thạc
sĩ của mình
Trang 135
- Luận văn của ông Cao Anh Minh với đề tài Đổi mới quản lý hoạt
động công nghệ ngành TH VN nhằm đổi mới các quan điểm về cơ chế quản lý
hoạt động TH cũng như hoạt động công nghệ TH để thúc đẩy phát triển các hoạt động công nghệ trên toàn ngành TH VN trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay
- Luận văn của ông Lê Quang Trung với đề tài Ảnh hưởng của kinh tế
thị trường đối với hoạt động KH&CN ở HTV nhằm đánh giá tác động của
kinh tế thị trường đối với hoạt động quản lý KH&CN tại HTV khi chuyển từ
cơ chế bao cấp sang cơ chế tự chủ về tài chính và đề xuất các giải pháp đổi mới trong công tác quản lý KH&CN tại HTV cho phù hợp với nền KT thị trường theo định hướng XH chủ nghĩa như nước ta hiện nay
- Luận văn của ông Ngô Huy Hoàng với đề tài Đổi mới cơ chế quản lý
nguồn nhân lực KH&CN tại HTV đã phân tích, đánh giá và chỉ ra những bất
cập trong công tác quản lý nguồn nhân lực KH&CN đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTV
- Luận văn của Lê Thu Hà với đề tài Công tác đào tạo nghiệp vụ báo
hình trong xu thế XH hóa CTTH ở các trường đại học Nội dung chủ yếu là
việc hợp tác thực hiện CTTH theo phương thức XH hóa nói chung và nâng
cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ báo chí nói chung tại các trường đại học
Các luận văn nêu trên đều chưa đề cập cụ thể đến hoạt động và phương thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn lực KH&CN TH để nâng cao chất lượng các CTTH tại HTV Hướng nghiên cứu của luận văn này không trùng lắp với các nghiên cứu có trước nhưng có tham khảo số liệu và một số khái niệm chung
Trang 146
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng đến mục tiêu đề xuất giải pháp đổi mới phương thức bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ TH cho nguồn nhân lực KH&CN
TH để nâng cao chất lượng CTTH tại HTV
Để đạt được mục tiêu trên, học viên sẽ thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu được trình bày ở 3 chương như sau:
Nêu cơ sở lý luận về bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN TH
Khảo sát, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, thực trạng hạ tầng KH&CN, và thực trạng tổ chức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực
KH&CN TH của HTV
Đề xuất giải pháp đổi mới phương thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân
lực KH&CN TH để nâng cao chất lượng chương trình của HTV
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khách thể: Các tài liê ̣u như các báo cáo, bài viết, phỏng vấn, tài liê ̣u chuyên khảo liên quan đến đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực KH&CN và chất lượng các CTTH của HTV
Phạm vi thời gian: các kế hoạch, chương trình đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho nguồn nhân lực KH&CN của HTV từ 2009 đến 2011
Phạm vi nô ̣i dung: các vấn đề liên quan đến giải pháp đổi mới phương thức tổ chức bồi dưỡng, đào ta ̣o nguồn nhân lực KH&CN TH tại HTV
6 Mẫu khảo sát
HTV trong giai đoạn từ 2009 đến 2011
Nhóm đối tượng được phỏng vấn bao gồm:
• Ban Tổng Giám đốc HTV
Trang 157
• Trưởng/Phó các phòng, ban của Đài
• 12 chuyên gia về nội dung CTTH
• 18 người đại diện đội ngũ KH&CN
7 Câu hỏi nghiên cứu
Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN TH như thế nào
để nâng cao chất lượng CTTH tại HTV?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Đổi mới phương thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của công nghệ sản xuất CTTH sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng các CTTH của HTV
9 Phương pháp chứng minh luận điểm
Đề tài nghiên cứu này sử dụng các phương pháp như sau:
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (150 phiếu)
Cụ thể, học viên đã thực hiện như sau:
- Phân tích tài liệu sơ cấp: các báo cáo, số liệu thu thập từ nguồn HTV
- Quan sát tham dự: với tư cách là viên chức, ban phụ trách của HTV, học viên có điều kiện quan sát và phân tích việc điều hành, quản lý tại đơn vị trong thời gian dài
Trang 168
- Quan sát không tham dự: học viên đã quan sát và phân tích quy trình thực hiện nhiệm vụ cũng như hiệu quả hoạt động các đơn vị, phòng ban liên quan của HTV
- Sử du ̣ng phương pháp phân tích , tổng hợp để phân tích số liệu, thực trạng nhằm tìm ra những ưu điểm và tồn tại cần khắc phục, cần đổi mới trong việc bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN TH tại HTV
- Sử du ̣ng phương pháp phi thực nghiê ̣m : phỏng vấn trực tiếp, điều tra qua bảng hỏi, và khảo sát thực tế Học viên đã tiến hành phỏng vấn các nhà quản lý, chuyên gia về nhân lực , về hạ tầng công nghệ, về nội dung, về sản xuất CTTH Học viên cũng đã khảo sát thực tế hoạt động bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực KH&CN TH của HTV, GS, MBC (Hàn Quốc)
10 Các luận cứ
10.1 Luận cứ lý thuyết
- Nguồn nhân lực: Việc quản trị và phát triển đội ngũ con người của HTV cần được nhìn nhận dưới góc độ lý thuyết về nguồn nhân lực, tức là cần gắn kết với chiến lược, nhu cầu và đặc trưng phát triển của HTV trong lĩnh vực sản xuất CTTH
- Đặc trưng nguồn nhân lực KH&CN: Nguồn nhân lực của HTV cũng cần được nhận diện một cách rõ ràng về tính chất là nguồn nhân lực KH&CN, chịu sự chi phối bởi những đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực KH&CN Việc nhận diện này có ý nghĩa quan trọng để xây dựng các chiến lược và lựa chọn các phương thức bồi dưỡng, đào tạo hiệu quả hơn
Trang 17- Phương thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực: đối với công tác tổ chức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực cho một đơn vị có quy mô lớn như HTV, vấn đề lựa chọn phương thức tổ chức sẽ là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phát triển đội ngũ Đặc biệt, việc đặt ra mục tiêu bồi dưỡng, đào tạo nhân lực để phục vụ nâng cao chất lượng sản xuất CTTH lại càng phụ thuộc nhiều vào việc lựa chọn phương thức thực hiện Các vấn đề về nội dung, chương trình đào tạo chỉ có thể chuyển tải đến người tham dự một cách hiệu quả thông qua những phương thức tổ chức đào tạo phù hợp
- Mối tương quan giữa nguồn nhân lực KH&CN với chất lượng CTTH HTV và sự cần thiết phải đổi mới phương thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực: TH là lĩnh vực sản xuất nội dung truyền thông mang tính sáng tạo rất cao và đòi hỏi ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ truyền thông theo hướng cập nhật, hiện đại Ngoài ra, TH cũng
là lĩnh vực có sự tương tác với công chúng rất cao và chịu sự cạnh tranh gay gắt, vì vậy đội ngũ sản xuất sản phẩm TH phải luôn cập nhật thông tin, kỹ thuật, công nghệ, chủ động tiếp cận với nhu cầu của công chúng và có khả năng nhạy bén, phân tích kịp thời thực tế đa dạng và biến đổi liên tục của XH TH Muốn vậy, bên cạnh việc đáp ứng tốt các điều kiện tổ chức sản xuất, việc tổ chức quản trị và phát
Trang 1810
triển năng lực cho đội ngũ nhân lực TH giữ một vai trò then chốt trong việc đảm bảo chất lượng của các CTTH, đáp ứng nhu cầu thưởng thức ngày càng cao của khán giả xem đài
10.2 Luận cứ thực tế
- Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực KH&CN của HTV: qua khảo sát cho thấy hầu hết nguồn nhân lực KH&CN của HTV hầu hết có bằng cấp đại học, trên đại học, được đào tạo trong nước và nhiều nước trên thế giới nhưng hơn 90% chưa được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ
TH, vì vậy chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao chất lượng CTTH
- Đánh giá thực trạng về mặt công nghệ, HTV đã đầu tư và đưa vào khai thác nhiều dây chuyền làm việc tiên tiến về mặt công nghệ, tiện lợi về mặt quản lý nhưng chưa có được nguồn nhân lực chuyên nghiệp tương thích để tạo hiệu quả về chất lượng chương trình
- Đánh giá thực trạng về hoạt động đào tạo chuyên môn nghiệp vụ TH cho nguồn nhân lực của HTV: qua khảo sát cho thấy cách tổ chức các lớp học chưa đáp ứng nhu cầu chuyên môn nghiệp vụ TH cho nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất các CTTH
Qua việc đánh giá thực trạng công nghệ, thực trạng nguồn nhân lực, thực trạng đào tạo của HTV cho thấy HTV thiếu nguồn nhân lực KH&CN có chuyên môn nghiệp vụ TH cao Đây chính là yếu tố làm cho chất lượng CTTH chưa cao, chưa đáp ứng kỳ vọng của khán giả
10.3 Luận cứ giải pháp
Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực KH&CN của HTV cho thấy nguồn nhân lực KH&CN hiện có của HTV hầu hết đều đạt yêu cầu về bằng cấp
Trang 1911
nhưng chưa đạt yêu cầu về chuyên môn chuyên ngành TH; phương thức bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực của HTV chưa đáp ứng được nhu cầu chuyên môn của nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất chương trình, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng CTTH của HTV trong thời gian qua Cần có giải pháp bồi dưỡng, đào tạo và phát triển nguồn nhân KH&CN có chuyên môn nghiệp vụ
TH cao để nâng cao chất lượng chương trình Giải pháp đặt ra là cần tập trung đổi mới phương thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của công nghệ sản xuất CTTH
Giải pháp tổng quát là thành lập một đơn vị chuyên trách về bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ TH của HTV (tạm gọi là Trung tâm đào tạo nghiệp vụ TH của HTV: HTV Proffesion Training Center – HPTC) Chức
năng, nhiệm vụ của Trung tâm là nghiên cứu, tổ chức các chương trình đào tạo cơ bản chuyên ngành TH dựa trên nền tảng cơ sở hạ tầng công nghệ của HTV nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chuyên môn cho HTV và các đài
TH, các công ty truyền thông trong cả nước
Giải pháp cụ thể là thiết kế một hệ thống tổ chức đào tạo nhiều cấp
độ với 3 tuyến phương thức khác nhau có khả năng đáp ứng các nhu cầu
đào tạo nhân lực KH&CN TH của HTV:
-Tuyến đào tạo nội bộ (in-house training): đào tạo nội bộ có đặc trưng chính về phương thức tổ chức là sử dụng người của đơn vị để đào tạo cho đơn
vị Tuyến đào tạo này sẽ được HTV sử dụng để bồi dưỡng nghiệp vụ TH đối với người mới được tuyển dụng trước khi tham gia tác nghiệp; đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, công nghệ mới; bồi dưỡng, cập nhật chuyên môn nghiệp vụ TH cho đội ngũ sản xuất CTTH khi có sự thay đổi một bộ phận hay toàn bộ công nghệ
Trang 2012
- Tuyến đào tạo tại chỗ (on-site training): phối hợp với các trường đại học trong và ngoài nước có các khoa chuyên môn liên quan đến TH hoặc phối hợp với các chuyên gia để liên kết tổ chức chương trình học nghiệp vụ TH ngay tại HTV Trong đó, hạ tầng công nghệ của Đài được xem là phương tiện, công cụ phục vụ cho việc đào tạo Mục tiêu của việc đào tạo này là nhằm tạo nguồn nhân lực có trình độ sản xuất CTTH chuyên nghiệp, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao Đào tạo tại chỗ có ý nghĩa quan trọng trong việc kết hợp các giá trị đào tạo bên ngoài với các điều kiện bên trong HTV để tổ chức các khoá huấn luyện sát thực với việc sản xuất CTTH
- Đào tạo ngoại tuyến (public training): đây là phương thức đào tạo nhân lực hướng đến việc chuẩn hoá trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ chuyên viên, chuyên gia, cán bộ lãnh đạo, quản lý theo những chương trình đào tạo chuẩn mực có bằng cấp được cung cấp từ các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế Đào tạo ngoại tuyến gắn liền với việc xây dựng quy hoạch năng lực và tiêu chuẩn tham gia đào tạo cho các đối tượng khác nhau trong khung nhân lực của đơn vị
11 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục liên quan, phần nội dung khoa học của luận văn gồm 3 chương, triển khai khung cơ sở lý luận và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định Cụ thể là:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nội dung chương này tập trung trình bày các khái niệm và vấn
đề lý thuyết liên quan, làm cơ sở cho các phân tích và đề xuất giải pháp ở các chương tiếp theo
Trang 2113
Chương 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC, HẠ TẦNG
KH&CN VÀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG, ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN CỦA HTV
Nội dung chương này trình bày kết quả khảo sát và phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, hạ tầng KH&CN và hoạt động đào tạo nguồn nhân lực KH&CN TH của HTV trong giai đoạn 2009-2011 Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để thực hiện các đề xuất giải pháp ở chương 3
Chương 3: THÀNH LẬP TRUNG TÂM ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ TH
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CTTH
Chương này trình bày giải pháp đổi mới phương thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN TH trên cơ sở áp dụng khung lý luận đã nêu ở chương 1 và thực tế khảo sát, đánh giá thực trạng
ở chương 2, phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng CTTH của HTV
Trang 22TH đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với công chúng Ưu thế số một của TH hiện nay là đáp ứng cao nhất nhu cầu thông tin giải trí Cuộc sống càng hiện đại, con người càng phải làm việc căng thẳng thì nhu cầu giải trí ngày càng cao Khả năng và tốc độ phát triển của công nghệ thông tin đang ngày càng ảnh hưởng đến tốc độ sản xuất và chất lượng sản phẩm TH Bước chuyển của báo chí, của TH sang công nghệ số đang đang mở ra những triển vọng chưa từng có cho ngành Song để tồn tại và phát triển, các phương tiện truyền thông đại chúng không phải chỉ phát triển cơ sở kỹ thuật công nghệ mà cả việc hoàn thiện về nghề nghiệp cho nguồn nhân lực của mình Đây là vấn đề trọng tâm mà luận văn này muốn hướng đến, đó là việc đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho lĩnh vực TH Chỉ có như vậy mới mong có được nhiều CTTH hay, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khán giả xem đài
Bất cứ lãnh đạo của một đơn vị nào cũng hiểu được tầm quan trọng của việc đào tạo đối với đội ngũ nhân viên Điều mà đơn vị kỳ vọng đó là hành
Trang 2315
động của nhân viên sau đào tạo Các kiến thức và kỹ năng được học sẽ áp dụng và biến thành hành động nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển chiến lược của đơn vị Mong muốn hoàn thiện nguồn nhân lực KH&CN để nâng cao chất lượng CTTH là mục tiêu mà HTV hướng đến Để làm rõ vấn đề này, trước hết học viên sẽ đưa ra những khái niệm cũng như lý luận sau đây để làm cơ sở cho giải pháp của luận văn
1.1 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC
Trong hầu hết các Đại hội Đảng và nhiều văn kiện quan trọng khác nhau của Đảng đã khẳng định: con người là vốn quý nhất, việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người VN là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm quán triệt tư tưởng chăm lo bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người VN
Nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là một khái niệm được các nhà quản lý nhắc đến rất nhiều, nhất là trong điều kiện các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác cạn kiệt như hiện nay Một quốc gia muốn phát triển thì cần đảm bảo hài hòa các nguồn lực Trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển KT của mọi quốc gia
Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Liên hiê ̣p
quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,
năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi
cá nhân và của đất nước” [5, tr.13]
Trang 24là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ Về chất lượng, đó là sức khỏe và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động XH của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước Đó là lực lượng bao gồm những người lao động “có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại”
Ý nghĩa của nguồn nhân lực mà đề tài sử dụng có thể hiểu ngắn gọn là một trong những yếu tố đầu vào để sản sinh những thành quả mong muốn nhưng lại mang tầm quan trọng có tính quyết định bởi các phẩm chất, các giá trị mà nó có được như trên vừa trình bày Điều đó thật sự có ý nghĩa chiến lược đối với một đơn vị truyền thông, bởi vì yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm TH chính là con người Và những sản phẩm này đều nhằm vào mục tiêu lớn nhất là vì con người, phục vụ con người
Trang 2517
Trong luận văn này, nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn nhân lực của một tổ chức đơn vị, cụ thể là của HTV, bao gồm toàn bộ đội ngũ con người có khả năng tham gia hoặc đang tham gia vào khung công việc của đơn vị truyền thông TH, từ cán bộ quản lý đến nhân viên
1.2 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC KH&CH
Theo UNESCO: nhân lực KH&CN là "những người trực tiếp tham gia
vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho hoạt động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên
và nhân lực phù trợ ." [5, tr.15] Trong đó, hoạt động KH&CN theo
UNESCO là những hoạt động gồm nghiên cứu triển khai, giáo dục đào tạo và các dịch vụ Nó có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, phát triển, phổ biến kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN Nhân lực KH&CN là toàn bộ số người tham gia trực tiếp các hoạt động KH&CN có tổ chức
Đặc biệt, khái niệm về nhân lực KH&CN của UNESCO không bao hàm đội ngũ KH&CN dạng tiềm năng, cũng không theo bằng cấp mà dựa trên nghề nghiệp
Trong khi đó, định nghĩa nhân lực KH&CN của OECD: nguồn nhân lực KH&CN dựa trên trình độ và công việc Theo đó, nguồn nhân lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong các điều kiện sau:
- Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên môn KH&CN
- Không được đào tạo chính thức như đã nói ở trên nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc
Trang 2618
Từ định nghĩa của UNESCO, của OECD và để phù hợp với thực tế ở
VN có thể nêu định nghĩa về nguồn nhân lực KH&CN như sau: toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN, và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp nhưng tham gia một cách thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động KH&CN
Trong hệ thống các nguồn lực XH, nguồn lực KH&CN có đặc điểm chung của các nguồn lực khác, nhưng có khác biệt ở chỗ, các nguồn lực khác chỉ là hữu hạn và sẽ cạn kiệt trong quá trình khai thác, sử dụng và chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng và nó không thể tự phát huy tác dụng nếu không có sự tác động của con người, của KH&CN Trái lại, nguồn nhân lực KH&CN là nguồn lực trí tuệ và tiềm năng của nó là vô tận Nếu được sử dụng và phát triển hợp lý trong môi trường thuận lợi thì nguồn lực trí tuệ đó sẽ được nhân lên và không ngừng phát triển, trở thành sức mạnh có vai trò quyết định đến
sự phát triển của tổ chức, đơn vị, quốc gia
Tóm lại, nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ tiềm năng lao động, là tập hợp những nhóm người tham gia vào hoạt động KH&CN với các chức năng nghiên cứu, sáng tạo, giảng dạy, quản lý, chuyển giao công nghệ, khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần quyết định sự tiến bộ của KH&CN, phục vụ cho
sự nghiệp phát triển của XH Đây cũng là khái niệm nguồn nhân lực KH&CN được sử dụng trong luận văn này nhằm xác định nguồn nhân lực là những người trong độ tuổi lao động, tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào
đó, có khả năng lao động đồng thời xác định sự khác biệt do phân công lao động giữa người lao động phổ thông và người lao động được đào tạo trong môi trường KH&CN có tính hệ thống Cụ thể là nguồn nhân lực KH&CN tại một đơn vị truyền thông TH như HTV
Trang 2719
1.3 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN TRUYỀN HÌNH
1.3.1 Truyền hình
Kể từ những năm cuối thập niên 30 của thế kỷ XX, thời điểm đánh dấu
sự ra đời của TH ở Anh và Mỹ đến nay, vô tuyến TH ngày càng phổ biến và trở thành phương tiện truyền thông mang tính quần chúng rộng rãi Kỹ thuật ngày càng hiện đại đã giúp cho TH trở thành phương tiện truyền tin nhanh nhạy và hấp dẫn nhất Sự phát triển này không chỉ dựa vào những thành tựu mới nhất của KH&CN mà còn dựa vào thay đổi tâm lý thưởng ngoạn và việc cải tiến liên tục về mặt nội dung chương trình
Nhờ sự tiến bộ của KH&CN mà TH đã có những tiến bộ vượt bậc Trong đó, từ công nghệ tương tự sang công nghệ số, ngành TH hiện tại đang phải đối mặt với rất nhiều sự đổi thay Sự đổi thay từ một chiều, đơn điệu, riêng lẻ sang đa chiều đa dạng, hội tụ với những cơ hội và thách thức đan xen Nhưng đây không là một xu thế có thể đảo ngược Khi chấp nhận, điều đó đồng nghĩa với việc phải thích nghi với yêu cầu cạnh tranh, một yêu cầu mang tính chuyên nghiệp Trong điều kiện đó, chất lượng nội dung của sản phẩm
TH sẽ trở thành yếu tố then chốt để giúp cho người làm TH tồn tại thông qua việc thu hút tối đa khách hàng của mình trong những điều kiện cụ thể
Bên cạnh các chức năng cơ bản của TH như thông tin, tư tưởng, tổ chức, quản lý, giám sát XH thì chức năng phát triển văn hóa và giải trí của TH
là một chức năng quan trọng và ngày càng được xem trọng, đặc biệt là ở các
đô thị lớn Ưu thế số một của TH hiện nay đó là đáp ứng được một cách cao nhất nhu cầu thông tin giải trí cho khán giả Thông qua các CTTH, khán giả vừa có điều kiện giải trí, vừa có điều kiện nâng cao kiến thức của mình trong mọi lĩnh vực của đời sống XH Nhờ vào khoa học-kỹ thuật công nghệ ngày
Trang 2820
càng hiện đại, người dân có thể ngồi tại nhà và lựa chọn tất cả những kênh TH
mà họ yêu thích Đây là một ưu điểm và cũng là sự lựa chọn hàng đầu của công chúng hiện nay
Tóm lại phần này, luận văn muốn giới thiệu về TH, một phương tiện nghe nhìn được đưa vào kinh doanh từ những năm 1920 và liên tục phát triển đổi mới cho tới nay Một điều đáng quan tâm là muốn thu hút khán giả xem đài, không chỉ cần công nghệ TH tiên tiến mà vấn đề chính là nội dung Đây
là yếu tố quyết định một CTTH hay, hấp dẫn, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu công chúng thưởng ngoạn TH hiện đại ngày nay Nội dung thông tin, chương trình mới, đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu khán giả luôn là thách thức đối với bất kỳ một cơ quan đơn vị báo chí truyền thông nào, như đài TH
1.3.2 Nguồn nhân lực truyền hình
TH trở nên quen thuộc với XH song không phải ai cũng hiểu được những hoạt động của lực lượng lao động hàng ngày tất bật với việc thu sóng, phát sóng, sản xuất CTTH Và quy trình này đòi hỏi một lực lượng lao động phải gắn kết với các thiết bị công nghệ TH đang ứng dụng để tạo ra các CTTH ngày càng có chất lượng cao, phục vụ nhu cầu khán giả
Sự phát triển, đổi mới của công nghệ TH liên tục cũng bao hàm hình ảnh một lực lượng lao động đang nghiên cứu khoa học để tiếp tục làm nên những kỳ tích mới đối với lãnh vực nầy Những ứng dụng các thiết bị kỹ thuật công nghệ chuyên môn của TH, từ các thiết bị ghi hình, ghi tiếng tới thiết bị phát sóng, thu sóng và hiển thị, và các máy móc chuyên dụng khác cũng đồng thời cho thấy cần có một lực lượng lao động KH&CN có chuyên môn cao, đa dạng ngành nghề để vận hành và sử dụng các thiết bị công nghệ đó Công nghệ TH đang ngày càng phát triển buộc lực lượng lao động KH&CN trong
Trang 2921
ngành cũng cần phải được bồi dưỡng về công nghệ mới, hoặc phải đào tạo lại hoặc phải có kế hoạch đào tạo mới nguồn nhân lực, đáp ứng kịp thời xu thế phát triển của công nghệ TH hiện đại
Với những điều vừa nêu, luận văn muốn đưa ra một dẫn chứng về sự phát triển của công nghệ TH tương tác với những người sản xuất chương trình
sẽ tiếp tục làm thay đổi quy trình sản xuất hiện có, cùng với sự thay đổi tư duy của những người chuyên về lãnh vực nội dung CTTH Việc này đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thật sự cần thiết để nguồn nhân lực thuộc lãnh vực này được cập nhật những quy trình sản xuất mới và nâng cao chất lượng sản phẩm Mục tiêu của luận văn là muốn nói tới lực lượng lao động đông đảo, rất khác biệt nhau về chuyên môn đang tham gia trong quy trình sản xuất CTTH Họ gồm những người có chuyên môn nghiệp vụ rất khác biệt: những công việc kỹ thuật như thu hình, thu tiếng, ánh sáng, phát sóng, những công việc về nội dung như biên tập, đạo diễn, quay phim, đồ họa, lồng tiếng, những công việc về hậu cần như tài chính, kế hoạch, cung ứng thiết
bị, Nguồn nhân lực KH&CN này rất cần được có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo thường xuyên theo sự phát triển đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng CTTH
Nguồn nhân lực TH phát triển không những giúp cho việc khai thác tối
đa tính năng kỹ thuật của trang thiết bị mà qua thực tiễn sử dụng phương tiện, người lao động còn khám phá, cải tạo, nâng cấp để thiết bị đó phục vụ tốt hơn, hiệu quả hơn trong hoạt động chuyên môn Và điều quan trọng là, muốn CTTH đạt chất lượng cao, thu hút được khán giả, không những chỉ đầu tư công nghệ TH tiên tiến mà nguồn nhân lực cũng phải được bồi dưỡng, đào tạo tương thích với công nghệ mới
Trang 3022
1.3.3 Đặc trưng của nguồn nhân lực KH&CN TH
Nguồn nhân lực KH&CN TH có năm đặc trưng: chuyên môn hoá, phải thông qua đào tạo chuyên nghiệp, có tuổi thọ lao động kéo dài, đòi hỏi tính ổn định, và đòi hỏi cập nhật trình độ liên tục
Trên thực tế, TH là lĩnh vực có liên quan đến: 1) kỹ thuật và công nghệ TH; 2) sáng tạo nội dung truyền thông; 3) tương tác văn hoá – XH – tâm lý với công chúng truyền thông; 4) công nghệ sản xuất sản phẩm truyền thông
Vì thế, một trong những đặc trưng quan trọng của nguồn nhân lực TH là yêu cầu chuyên môn hoá rất cao Tính chuyên môn hoá này được phản ánh trong sự phân tuyến đội ngũ nhân lực của một đài TH
Theo đó, có thể nhận diện trong nguồn nhân lực KH&CN TH có sự phân chia về đặc thù lao động và giá trị chuyên môn của 4 nhóm nhân lực:
Nhóm nội dung: bao gồm các biên tập viên, phóng viên, viết kịch bản,
Nhóm kỹ thuật: bao gồm các kỹ sư, kỹ thuật viên, những người phụ trách các khâu vận hành kỹ thuật trong lĩnh vực TH có liên quan đến thiết bị và công nghệ
Nhóm thể hiện: bao gồm những người làm nhiệm vụ hiện dẫn chương trình, các MC, diễn viên hay các hoạ sĩ thiết kế trang phục, sân khấu, …
Nhóm tổ chức sản xuất: bao gồm những người tham gia vào khâu tổ chức sản xuất CTTH, từ giám đốc sản xuất, đạo diễn đến các nhân viên hỗ trợ tổ chức sản xuất
Trang 3123
Ngoài ra, không thể không kể đến nhóm quản lý, điều hành, kinh doanh
ở các đài TH, gồm những người có nhiều năm kinh nghiệm trong các nhóm nhân lực nói trên sau đó bước vào vị trí quản lý điều hành Họ giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng giá trị cho các sản phẩm CTTH và duy trì sự phối hợp công việc giữa các bộ phận trong đài
Tóm lại, đặc trưng của nguồn nhân lực KH&CN TH cũng bao gồm cả 5 đặc trưng của nguồn nhân lực KH&CN Đó là: chuyên môn hóa, qua đào tạo chuyên nghiệp, tuổi thọ lao động kéo dài, tính ổn định lâu dài, và được cập nhật trình độ liên tục Và như vậy nguồn nhân lực này thật sự cần có một phương thức bồi dưỡng, đào tạo tương thích và mang tính đặc thù chuyên môn cao Bởi lẻ sàn phẩm TH mang giá trị nhân văn, nghệ thuật, thẩm mỹ, có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy, tâm tư tình cảm của người xem
1.4 PHƯƠNG THỨC BỒI DƯỠNG, ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
Quản lý nguồn nhân lực luôn là một trong những công việc quan trọng
có ý nghĩa sống còn đối với các tổ chức, đơn vị Công việc này trên thực tế có liên quan đến việc thu hút, tuyển chọn, đào tạo, đánh giá và bồi dưỡng năng lực cho người lao động, đồng thời phải xây dựng văn hoá làm việc phù hợp với đội ngũ nhân lực, với công việc và pháp luật lao động để đảm bảo phát huy năng lực của đội ngũ Bồi dưỡng, đào tạo là một trong những phần việc quan trọng trong chuỗi giá trị quản lý nguồn nhân lực của một tổ chức
1.4.1 Khái niệm đào tạo
Cuộc cách mạng KH&CN phát triển ngày càng nhanh KT tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Trong bối cảnh đó, giáo dục đào tạo đã trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển KT-XH Các nước trên thế giới, kể cả những nước phát triển luôn xem
Trang 3224
giáo dục là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững Bởi
lẽ giáo dục đào tạo là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai và
là quá trình hoạt động nhằm phát triển, rèn luyện năng lực (tri thức, kỹ năng)
và phẩm chất (niềm tin, đạo đức, tư cách, …) cho mọi người để họ có được năng lực hoàn thiện hơn
Tuy nhiên, giữa hai khái niệm giáo dục và đào tạo có một sự phân biệt quan trọng Giáo dục nói chung là hoạt động chuyển giao kiến thức, kỹ năng
và thói quen của một nhóm người cho thế hệ kế tiếp thông qua giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu, hoặc chỉ đơn giản là thông qua tự học Trong khi đó, khái niệm đào tạo gắn liền với nghề nghiệp hơn Bản chất của đào tạo là chuyển giao kiến thức, kỹ năng và năng lực như một kết quả của việc giảng dạy kiến thức hoặc kỹ năng nghề thực tế có liên quan đến một năng lực hữu ích cụ thể Đào tạo có mục tiêu cụ thể là cải thiện khả năng, năng lực và hiệu suất trong một lĩnh vực công việc nào đó
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về đào tạo:
- Đào tạo là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân những công việc mới dựa trên cơ sở, những định hướng tương lai của tổ chức, làm cho người lao động có thể thực hiện các chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả
hơn trong công tác của họ [16, tr 508]
- Theo davilaw.vn, đào tạo là các hoạt động truyền tải thông tin và dữ liệu từ người này (huấn luyện viên hoặc giảng viên) sang người khác (học viên) Kết quả là có sự thay đổi về kiến thức, kỹ năng và thái độ của học viên
từ mức độ từ thấp đến mức độ cao
Trang 3325
- Quan điểm của giới quản trị nguồn nhân lực, đào tạo là các quy trình nhằm trang bị cho nhân viên những thông tin, kỹ năng cũng như là hiểu biết
về đơn vị và các mục tiêu của nó Hơn nữa, đào tạo và phát triển được thiết kế
để giúp nhân viên có thể tiếp tục đóng góp tích cực bằng cách làm việc đạt hiệu quả tốt nhất [ 16, tr 504]
Tóm lại, đào tạo là quá trình thay đổi có hệ thống hành vi của nhân viên, làm sao giúp các nhân viên đạt được những mục tiêu của đơn vị Đó là một chương trình định hướng hiện tại, giúp nhân viên thành thạo các kỹ năng
và khả năng cụ thể cần có trong công việc Đào tạo đóng vai trò quan trọng đối với Nguồn nhân lực KH&CN TH, tạo cơ hội cho họ nỗ lực cải thiện hiệu quả làm việc hiện tại và tương lai
1.4.2 Khái niệm bồi dưỡng
Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực, tăng thêm phẩm chất Bồi dưỡng còn được dùng với nghĩa là cập nhật, bổ túc thêm một số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng, để sau khóa học (dài hạn hoặc ngắn hạn) người học đạt được trình độ, cấp học cao hơn Bồi dưỡng còn là quá trình cập nhập kiến thức còn thiếu hoặc do lạc hậu, là đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề, các hoạt động nhằm tạo điều kiện cho người lao động củng cố và mở mang một cách
hệ thống những tri thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để họ thực hiện các công việc hiệu quả hơn
XH càng phát triển, kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn sẽ càng nhiều và luôn cần cập nhật, mở rộng trong suốt quá trình làm việc cho mỗi người để họ đều hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng, hiệu quả cao nhất Vì vậy, đào tạo,
Trang 3426
bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực là một tất yếu khách quan đối với đơn
vị, và với từng người lao động, công việc này càng có ý nghĩa to lớn:
- Đối với đơn vị: đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực sẽ đảm bảo cho nguồn nhân lực có khả năng thích ứng, theo sát sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật Nó còn đảm bảo cho đơn vị có một lực lượng lao động giỏi, hoàn thành tốt các mục tiêu của đơn vị, đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh hiện nay
- Đối với người lao động: trong điều kiện phát triển của KH&CN hiện nay, người lao động luôn phải nâng cao trình độ nghề nghiệp, chuyên môn tương thích để không bị tụt hậu Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực sẽ giúp
họ nâng cao kiến thức và tay nghề giúp họ tự tin hơn, phát huy khả năng, làm việc hiệu quả hơn
Trong điều kiện ngành TH đang có nhiều thay đổi và cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực càng có ý nghĩa to lớn Đây là nhiệm vụ cấp bách không thể thiếu đối với bất
cứ một đơn vị, tổ chức nào Trong thời đại khoa học, công nghệ tiến bộ quá nhanh, HTV muốn hoàn thành được mục tiêu, ổn định, tăng trưởng và phát triển bền vững thì phải tạo ra được nguồn nhân lực có trình độ tay nghề và trình độ chuyên môn tương xứng Như vậy đào tạo, bồi dưỡng có vai trò định hướng cho việc phát triển của tổ chức và là chìa khóa của sự thành công
1.4.3 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực là hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người Đó cũng là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên định hướng tương lai của tổ chức
Trang 3527
Kết quả của quá trình đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực sẽ nâng cao chất lƣợng, phát triển nguồn nhân lực đó Việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phải cố gắng đáp ứng các yêu cầu cụ thể nhƣ sau:
- Cải tiến cơ cấu nguồn nhân lực
Cơ cấu nguồn nhân lực là một khái niệm KT, phản ánh thành phần, tỷ lệ các bộ phận hợp thành và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy trong tổng thể Nó được xác định theo yêu cầu của chiến lược phát triển KT, XH mà đơn vị, tổ chức đã xây dựng Nói cách khác phải xuất phát từ mục tiêu của tổ chức, từ yêu cầu công việc phải hoàn thành, từ yêu cầu nâng cao hiệu quả
sử dụng các nguồn lực, từ quy trình công nghệ mà chuẩn bị cơ cấu nguồn nhân lực cho phù hợp Từ đó vừa đạt được hiệu quả, mục tiêu, chiến lược, vừa sử dụng có hiệu quả từng thành viên của tổ chức, vừa kích thích đuợc tính tích cực lao động của các thành viên đó
- Phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là kiến thức tổng hợp, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật, kiến thức đặc thù cần thiết để đảm đương các nhiệm vụ, chức vụ trong quản lý và các hoạt động khác, là phát triển, nâng cao kiến thức về kỹ thuật, trình độ chuyên môn Vì vậy, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực chỉ có thể có được thông qua đào tạo, bồi dưỡng Cho nên bất kỳ tổ chức, đơn vị nào cũng phải coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng Và, ngược lại, đào tạo, bồi dưỡng phải đáp ứng cho được yêu cầu này
Trang 3628
- Phát triển kỹ năng nghề nghiệp
Kỹ năng nghề nghiệp là sự hiểu biết về trình độ thành thạo tay nghề và những kinh nghiệm, mức độ tinh xảo trong việc thực hiện các công việc Phát triển kỹ năng nghề nghiệp là việc tổ chức, đơn vị hỗ trợ người lao động xác định được tiềm năng bản thân
và hoạch định con đường phát triển nghề nghiệp của mình, giúp cho họ có cơ hội phát huy khả năng vận dụng những kiến thức vào thực tế nghề nghiệp, giúp nâng cao năng lực cá nhân và từ
đó làm cơ sở để họ thăng tiến Nhiệm vụ của người làm công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là lập ra kế hoạch hành động nhằm giúp cá nhân, nhóm, tổ chức phát triển có hiệu quả, làm thỏa mãn mọi thành phần liên quan và giúp tổ chức phát tiển nhất quán theo định hướng chiến lược đã được xác định
- Nâng cao trình độ nhận thức cho người lao động
Trình độ nhận thức của người lao động là trình độ phản ánh mức
độ sự hiểu biết về chính trị, XH và tính tự giác trong hoạt động của đơn vị Nhận thức của người lao động được xem là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển nguồn nhân lực vì trình độ nhận thức của mỗi người khác nhau, dẫn đến kết quả cũng khác nhau Từ
đó dẫn đến hành vi, thái độ làm việc của người này khác người kia Vì vậy, phải có giải pháp nâng cao trình độ nhận thức cho người lao động, tạo thuận lợi cho họ có đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị
Mục tiêu cuối cùng của việc đào tạo, bồi dưỡng là hiệu quả cao nhất về
tổ chức, tăng sự thích nghi của tổ chức với mọi hoàn cảnh, hoàn thiện những hình thức đối xử trong nội bộ
Trang 3729
1.4.4 Phương thức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
Phương thức là con đường, cách thức tiến hành một việc gì đó, là phương tiện để đạt tới đích, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định Trong lĩnh vực khoa học và đời sống, ở mức độ, phạm vi khác nhau tùy theo bối cảnh chủ thể sử dụng thì các thuật ngữ “phương pháp”, “cách”, “cách thức”,
“phương thức” được dùng rất phổ biến và có thể hiểu là cùng nghĩa “Phương pháp” theo TS Vũ Thị Sơn là một trong những thành tố cơ bản, có vai trò kết gắn các thành tố khác (như mục tiêu, nội dung, đánh giá ) và làm cho quá trình trở nên sống động, phát triển Trong xu thế phát triển của lý luận giáo dục, đặc biệt với sự tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông, thành tố
“phương pháp” ngày càng được nhấn mạnh hơn trong cấu trúc hệ thống của quá trình giáo dục Điều cần nhấn mạnh là “phương pháp” được dùng để
“phục vụ” cho mục tiêu, khi mục tiêu thay đổi thì phương pháp cũng cần phải thay đổi theo Với ngành nghề mang đậm nét đặc trưng như ngành TH, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay thì việc có được phương thức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực tương thích với nền KH&CN nhằm tạo nên những CTTH chất lượng cao là mục tiêu tiên quyết
Ngày nay, để phát triển năng lực con người, thì phương thức giáo dục
và phương thức làm việc ngày càng tiếp cận nhau Khai thác nguồn trí lực con người liên quan đến việc cải cách phương thức giáo dục và phương thức làm việc, nó dẫn dắt là một trường liên động hệ thống [18, tr.20] Điều này
càng quan trọng đối với lãnh vực đa ngành nghề và mang tính chuyên môn hóa cao như đơn vị truyền thông TH HTV
Một phương thức đào tạo thường được nhận diện với các thành phần đặc tả như sau:
- Định hướng mục tiêu: hướng đến những mục tiêu nào?
Trang 3830
- Định hướng đối tượng tham dự: nên dành cho những đối tượng nào?
- Đặc thù nội dung: thay đổi nhận thức hay cập nhật thông tin hay huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ hay khơi mào năng lực sáng tạo?
- Yêu cầu về đội ngũ giảng huấn: giảng viên cần có kiến thức và kinh nghiệm gì?
- Cách thức học tập: tách khỏi công việc hay ngay trong công việc?
- Khung thời gian học tập: trong giờ làm việc hay ngoài giờ làm việc?
- Địa điểm đào tạo: ngay tại đơn vị hay ở cơ sở bên ngoài?
Có thể điểm qua một số phương thức đào tạo khác nhau như sau:
1.4.4.1 Đào tạo nội bộ (in-house training)
- Định hướng mục tiêu: huấn luyện nhân viên
- Định hướng đối tượng tham dự: dành cho nhân viên, đặc biệt là nhân viên mới
- Đặc thù nội dung: cập nhật thông tin và huấn luyện nghiệp vụ
- Yêu cầu về đội ngũ giảng huấn: giảng viên là người nội bộ có kinh nghiệm về vấn đề liên quan, có kỹ năng truyền đạt
- Cách thức học tập: có thể tổ chức các khoá huấn luyện nội bộ mà nhân viên sẽ tách khỏi công việc để học hoặc học ngay trên dây chuyền công việc thực tế
- Khung thời gian học tập: có thể thiết kế linh hoạt, hoặc học trong giờ làm việc hoặc học ngoài giờ làm việc
- Địa điểm đào tạo: ngay tại đơn vị
Trang 3931
1.4.4.2 Đào tạo theo công việc (on-job training)
- Định hướng mục tiêu: hướng dẫn thực hiện một công việc cụ thể để đạt được hiệu suất và hiệu quả cao
- Định hướng đối tượng tham dự: dành cho nhân viên, đặc biệt là nhân viên mới
- Đặc thù nội dung: huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ
- Yêu cầu về đội ngũ giảng huấn: giảng viên là người có kinh nghiệm
và thành thục các khâu trên dây chuyền công việc, có khả năng hướng dẫn, giải thích và chỉ dẫn tất cả các bước tác nghiệp liên quan
- Cách thức học tập: học ngay trong công việc
- Khung thời gian học tập: trong giờ làm việc
- Địa điểm đào tạo: ngay tại đơn vị
1.4.4.3 Đào tạo uỷ thác tại chỗ (on-site training)
- Định hướng mục tiêu: mục tiêu có thể rất đa dạng, có thể hướng đến
cả những mục tiêu lớn như thay đổi văn hoá tổ chức, văn hoá doanh nghiệp hay những mục tiêu cụ thể như huấn luyện một kỹ năng, nghiệp vụ đặc thù nào đó
- Định hướng đối tượng tham dự: có thể dành cho nhiều đối tượng khác nhau, nhưng thường được phân nhóm theo nhu cầu, theo chức năng, nhiệm vụ
- Đặc thù nội dung: các khoá đào tạo uỷ thác tại chỗ cũng có thể được thiết kế với nhiều nội dung khác nhau nhằm thay đổi nhận thức, cập nhật thông tin mới, huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ đặc biệt hay khơi mào năng lực sáng tạo của các cá nhân
Trang 4032
- Yêu cầu về đội ngũ giảng huấn: giảng viên thường là các chuyên gia
có trình độ cao được mời từ bên ngoài
- Cách thức học tập: tách khỏi công việc
- Khung thời gian học tập: thường là trong giờ làm việc
- Địa điểm đào tạo: ngay tại đơn vị
1.4.4.4 Đào tạo ngoại tuyến (public training)
- Định hướng mục tiêu: đào tạo chuẩn hoá trình độ cho cán bộ quản lý
- Cách thức học tập: tách khỏi công việc để đi học
- Khung thời gian học tập: tuỳ theo thiết kế của cơ sở đào tạo, thường là
sử dụng khung thời gian dài hạn cho một chương trình đào tạo
- Địa điểm đào tạo: ở cơ sở đào tạo bên ngoài đài
1.5 ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC BỒI DƯỠNG, ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRUYỀN HÌNH
Nhiệm vụ của đào tạo là giúp cho người học giành được khả năng gia
công tri thức, phát huy được năng lực bản thân Cho nên, nhân lúc thời đại
thông tin đến, chúng ta cần có một phương thức học tập hoàn toàn mới tiến hành đồng thời với cách mạng thông tin, để cho tất cả mọi người đều được