1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế

145 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm được điều này, cần xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế- xã hội đất nước, từ thực tiễn của giáo dục cao đẳng, đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cơ sở đào tạo phải xây

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI

-

VŨ ĐỨC LỄ

Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo

mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao

đảng kinh tế - kỹ thuật Hải Dương

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ

Hà Nội - 2008

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 4

KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Tên đề tài : 6

2 Lý do nghiên cứu: 6

3 Lịch sử nghiên cứu: 7

4 Mục tiêu nghiên cứu: 7

5 Phạm vi nghiên cứu: 8

6 Mẫu nghiên cứu: 8

7 Vấn đề nghiên cứu: 8

8 Giả thuyết nghiên cứu: 8

9 Phương pháp nghiên cứu: 9

10 Luận cứ: 9

11 Kết cấu của luận văn: 9

PHẦN NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO 10

CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC KH&CN 10

1.1 Khái niệm về nhân lực KH&CN 12

1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN 18

1.3 Phát triển nguồn nhân lực KH&CN 19

1.4 Chất lượng trong giáo dục cao đẳng, đại học 20

1.4.1.Các quan niệm về chất lượng 20

1.4.2 Những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chất lượng 24

1.4.3 Chất lượng của quá trình đào tạo 25

1.5 Khái niệm về dự án 26

1.6 Lựa chọn kết cấu tổ chức dự án 30

1.7 Một số văn bản của Đảng và Nhà nước liên quan đến phát triển nhân lực KH&CN 31

Trang 3

Kết luận chương 1 39

CHƯƠNG 2 40

HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, CHẤT LƯỢNG TRƯỜNG VÀ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TẠI HẢI DƯƠNG 40

2.1 Thực trạng chất lượng nhân lực KH&CN tại tỉnh Hải Dương 40

2.2 Đánh giá thực trạng chất lượng trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Hải Dương : 45

2.2.1.Đánh giá tình hình chung 45

2.2.2 Hoạt động của trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Hải Dương 46 2.2.3 Đánh giá hiện trạng mục tiêu, sứ mạng và tổ chức quản lý của nhà trường: 52

2.2.4 Đánh giá về chất lượng chương trình giáo dục: 52

2.2.5 Đánh giá chất lượng hoạt động giáo dục đào tạo 53

2.2.6 Đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên 58

2.2.7 Đánh giá chất lượng người học: 63

2.2.8 Đánh giá chất lượng công tác nghiên cứu khoa học; ứng dụng; phát triển và chuyển giao công nghệ: 64

2.2.9 Đánh giá chất lượng công tác thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác 66

2.3 Phân tích thực trạng chất lượng nhân lực KH&CN của nhà trường 67

2.4 Chất lượng nhân lực KH&CN của một số doanh nghiệp 71

2.4.1.Chất lượng nhân lực KH&CN công ty xây dựng số 18 71

2.4.2.Chất lượng nhân lực KH&CN công ty Vinaconex 73

2.4.3 Kết quả phỏng vấn: 74

2.4.4 Kết quả khảo sát nhân lực KH&CN hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ của một số doanh nghiệp nhà nước 75

2.5 Một số hạn chế của chính sách phát triển nhân lực KH&CN 76

Trang 4

2.6 Thực trạng liên kết trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Hải Dương

với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương 77

Kết luận chương 2 82

CHƯƠNG 3 LIÊN KẾT NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP 83

THEO MÔ HÌNH DỰ ÁN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 83

3.1 Liên kết đào tạo, NCKH, chuyển giao công nghệ theo địa chỉ, theo yêu cầu của doanh nghiệp 86

3.2 Chuẩn hoá đội ngũ cán bộ giảng viên: 91

3.3 Doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào việc đổi mới nội dung chương trình đào tạo và hỗ trợ trực tiếp vào quá trình đào tạo 95

3.4 Doanh nghiệp đầu tư vốn, cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy 98

3.5 Đào tạo theo địa chỉ để người học sau khi tốt nghiệp có việc làm 100 3.6 Kết hợp hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên 102

3.7 Xây dựng cơ sở đào tạo tại doanh nghiệp, khu công nghiệp 104

3.8 Mô hình dự án theo kết cấu ma trận 107

3.9 Xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp 110

Kết luận chương 3 112

KẾT LUẬN 113

KHUYẾN NGHỊ 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

PHẦN PHỤ LỤC 119

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập tại lớp Cao học Quản lý Khoa học và Công nghệ tại khoa Khoa học Quản lý trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, làm luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự quan tâm dạy bảo tận tình của các thày, cô giáo, được Ban lãnh đạo cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình giúp đỡ Đến nay tôi đã hoàn thành quá trình học tập và luận văn tốt nghiệp, tôi muốn được bày tỏ sự trân trọng và lòng biết ơn tới các thày, cô:

- PGS.TS Vũ Cao Đàm về những đam mê khoa học và những ý tưởng,

ý kiến chỉ bảo rất quý báu, sự giúp đỡ tận tình trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn

- PGS.TS Phạm Xuân Hằng người thày hướng dẫn trực tiếp, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình hoàn chỉnh luận văn

- Các thày, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành các môn học trong chương trình đào tạo cao học

- Ban lãnh đạo và cán bộ khoa Khoa học quản lý Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

- Ban Giám hiệu và đồng nghiệp trường Cao đẳng Kinh tế -Kỹ thuật Hải Dương đã cho phép và tạo điều kiện cho tôi được theo học khoá học này

và giúp tôi trong quá trình khảo sát, phỏng vấn tại nhà trường

Trong quá trình làm luận văn, mặc dù đã rất cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thày, cô

và đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn

Trang 7

khi vừa tiếp tục khai thác tiềm năng theo chiều rộng (tăng vốn đầu tư, lao

động, tài nguyên và đất đai) thì chúng ta cần xây dựng và phát huy các yếu tố

phát triển theo chiều sâu là khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng nhân lực, quản lý, tiết kiệm, giảm lãng phí

Tri thức là nguồn lực hàng đầu để tạo ra sự tăng trưởng Khác với nguồn lực khác bị mất đi khi sử dụng, tri thức có thể được chia sẻ và trên thực

tế lại tăng lên khi sử dụng Đầu tư phát triển tri thức là đầu tư chủ yếu nhất Quyền sở hữu với tri thức là quan trọng nhất Ai chiếm hữu tri thức thì người

đó chiến thắng trong cạnh tranh

Để hội nhập và phát triển, không có cách nào khác Việt Nam phải từng bước xây dựng cho được nguồn nhân lực chất lượng cao, theo kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới Yêu cầu này ngày càng trở lên bức thiết

Thực tế cho thấy hiện nay hầu hết các địa phương ở nước ta nhân lực KH&CN còn ít về số lượng, yếu về chất lượng, vừa thừa lại vừa thiếu, phân công, bố trí chưa hợp lý nên hiệu quả sử dụng thấp Chúng ta còn thiếu các chuyên gia đầu ngành, số đông các chuyên gia đều đã lớn tuổi, không ít cán

bộ KH&CN đi làm việc trái ngành hoặc bỏ nghề, hoặc không sống được với nghề vì thu nhập thấp…

Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy

Trang 8

nguồn lực con người- Yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Đất nước đang rất cần nhân lực trình độ cao, mà mũi nhọn là nhân tài, điều này chỉ có được khi có các cơ sở đào tạo chất lượng tốt với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tương xứng

Mâu thuẫn gay gắt giữa đào tạo theo khả năng của nhà trường với nhu cầu của xã hội và thị trường lao động Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải có

sự liên hệ, phối hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa giảng dạy NCKH, đào tạo và sử dụng Nhà trường và doanh nghiệp liên kết đào tạo, NCKH, chuyển giao công nghệ nhằm tạo hợp lực phát huy thế mạnh của nhà trường và của doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực KH&CN

Trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay việc liên kết hợp tác toàn diện giữa nhà trường và doanh nghiệp hầu như chưa có

Trong quá trình này đã nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc cần nghiên cứu,

về lý luận cũng như thực tiễn đòi hỏi phải có những mô hình liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm tạo ra được môi trường thuận lợi để nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN Trên cơ sở nhà trường và doanh nghiệp cùng được hưởng lợi, đồng thời giáo dục cùng với khoa học và công nghệ với sản xuất được thiết kế thành một khâu liên hoàn tạo ra thị trường KH&CN ở nước ta

Việc nghiên cứu những vấn đề này có ý nghĩa khoa học và mang tính thực tiễn, vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu này

3 Lịch sử nghiên cứu:

Hiện nay ở Hải Dương chưa có cơ quan hoặc cá nhân nào nghiên cứu việc liên kết nhà trường với doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN

4 Mục tiêu nghiên cứu:

- Đánh giá thực trạng nhân lực KH&CN, xác định những yếu kém, tìm nguyên nhân

- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực KH&CN

Trang 9

- Đề xuất việc đổi mới liên kết nhà trường với doanh nghiệp theo mô hình dự án cấu trúc ma trận nhằm nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN

5 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu giới hạn về liên kết theo mô hình dự án giữa trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương, với một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương

+ Thời gian diễn biến sự kiện:

Từ năm 2001 đến tháng 8 năm 2008

6 Mẫu nghiên cứu:

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương và khoảng 5 doanh

nghiệp trên địa bàn

7 Vấn đề nghiên cứu:

- Thế nào là liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án?

- Mô hình dự án mang lại hiệu quả như thế nào trong việc nâng cao

chất lượng nhân lực KH&CN ?

8 Giả thuyết nghiên cứu:

Liên kết đào tạo, NCKH, chuyển giao công nghệ giữa nhà trường với các doanh nghiệp theo mô hình dự án ma trận để nhân lực KH&CN phát huy thế mạnh, đan xen, gắn lý thuyết với thực tiễn, gắn NCKH và đào tạo với sản xuất và yêu cầu xã hội, đồng thời nhân lực KH&CN có điều kiện học hỏi nâng cao trình độ trong quá trình làm việc

- Phối hợp đào tạo, nghiên cứu khoa học theo địa chỉ, theo yêu cầu của doanh nghiệp, của thị trường lao động nhằm phát huy lợi thế cơ sở vật chất, công nghệ, tay nghề của doanh nghiệp kết hợp với lợi thế trình độ lý luận, NCKH của người thày

- Doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, mỗi ngành nghề đào tạo mang tính mềm dẻo, linh hoạt Doanh nghiệp hỗ trợ trong suốt quá trình đào tạo

- Chuẩn hoá đội ngũ giảng viên

- Kết hợp hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Trang 10

- Xây dựng cơ sở đào tạo tại doanh nghiệp, khu công nghiệp theo mô hình kết cấu ma trận

9 Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu sách, tài liệu, các văn bản có liên quan đến nhân lực và đào tạo nhân lực KH&CN xây dựng luận cứ lý thuyết

Nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát, phỏng vấn, phân tích, xử lý thống kê các tài liệu thu thập được, tổng hợp kết quả phân tích

Phân tích đánh giá nội quan, ngoại quan để chứng minh giả thuyết Tham khảo ý kiến các nhà khoa học và chuyên gia

10 Luận cứ:

Luận cứ lý thuyết:

- Hệ thống các khái niệm về nhân lực KH&CN, chất lượng giáo dục,

mô hình dự án, liên kết đào tạo, NCKH, chuyển giao công nghệ

- Một số chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN

Luận cứ thực tế :

- Thực trạng nhân lực KH&CN tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật

Hải Dương, tỉnh Hải Dương và các doanh nghiệp trên địa bàn

- Thực trạng liên kết đào tạo nhà trường và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương

11 Kết cấu của luận văn:

Luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN Chương 2: Hiện trạng chất lượng nhân lực KH&CN và liên kết đào tạo tại Hải Dương

Chương 3: Liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án để nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN

Kết luận và khuyến nghị

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC KH&CN

Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu sắc và toàn diện, đứng trước những xu thế và thách thức mới là toàn cầu hoá, công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin, kinh tế tri thức, xã hội học tập, siêu xa lộ thông tin… đặt ra cho giáo dục cao đẳng, đại học Việt Nam những thách thức mới

Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vai trò của KH&CN gắn liền với quá trình phát triển nhanh và bền vững của đất nước Nghị quyết 26 của Bộ

chính trị nêu rõ “KH&CN là một động lực mạnh mẽ của quá trình đổi mới, ổn

định tình hình và phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, coi những người làm khoa học và công nghệ là đội ngũ đáng tin cậy, quý báu của Đảng và nhân dân ta”

Nghị quyết Đại hội Đảng X: “Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng

của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh các ngành kinh

tế và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức”

“Phát triển KH&CN ở nước ta phải phù hợp xu thế phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới Cố gắng đi ngay vào công nghệ hiện đại đối với một số lĩnh vực then chốt và từng bước mở rộng ra toàn

bộ nền kinh tế Chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ nhiều lao động để giải quyết việc làm”

“Phát triển mạnh, kết hợp chặt giữa hoạt động KH&CN với giáo dục

và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực thúc đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức Thống nhất định hướng giữa phát triển KH&CN với chấn hưng giáo dục và đào tạo, phát huy quan hệ tương tác thúc đẩy lẫn nhau giữa hai lĩnh vực quốc sách hàng đầu này”

Trang 12

Nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo cũng được xác định: “Tiếp tục nâng

cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống các trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục” thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá…” thực hiện “giáo dục cho mọi nhà, cả nước trở thành xã hội học tập”

Để đạt được mục tiêu chiến lược nêu trên, giáo dục cao đẳng, đại học Việt Nam phải tìm ra những giải pháp cơ bản nhằm vượt qua những thách thức Thách thức nổi bật của giáo dục chuyên nghiệp nước ta từ khi đổi mới, đặc biệt trong những năm gần đây là nhu cầu học ngày càng cao, trong khi đó điều kiện đầu tư cho giáo dục, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất trang thiết bị dạy và học không tăng tương ứng, hệ quả tất yếu là chất lượng đào tạo không được đảm bảo dẫn đến hiệu quả, hiệu suất đào tạo ngày càng thấp Thị trường lao động cần nhân lực chất lượng cao, số lượng lớn nhưng không thể thu nhận

số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học ngày càng nhiều nhưng chất lượng thấp

Thách thức thứ hai là xu thế toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới đòi hỏi giáo dục cao đẳng, đại học Việt Nam phải hội nhập với giáo dục đại học khu vực và thế giới Nếu toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới là một xu thế khách quan không thể đảo ngược thì giáo dục cao đẳng, đại học Việt Nam cũng phải

tự đổi mới để hội nhập mà điểm then chốt là phải phấn đấu vươn tới một chuẩn mực chung về chương trình đào tạo, về mô hình quản lí và đặc biệt là chuẩn về chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo

Giáo dục cao đẳng, đại học theo quan niệm mới được xếp vào “hệ

thống sản xuất đặc biệt” bởi hiệu quả đóng góp từ cá nhân, những người có

học vấn càng cao thì sẽ cống hiến cho nền kinh tế - xã hội càng lớn Chu kỳ lợi nhuận mang lại trực tiếp từ giáo dục ngày càng rút ngắn Các phát minh từ phòng thí nghiệm được triển khai thực hiện trong thời gian rất ngắn gần như

là trực tiếp Cùng với sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ của thông tin và kinh

tế tri thức giáo dục đã trở thành một ngành sản xuất có lợi nhuận rất cao, được kết hợp chặt chẽ bởi ba yếu tố: giáo dục, nghiên cứu khoa học và sản xuất

Phát triển giáo dục hiện nay không chỉ về quy mô và số lượng mà thực

Trang 13

chất vấn đề là chất lượng đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ và uy tín của nhà trường Cùng với vốn và sức lao động tri thức đã trở thành nhân tố quan trọng nhất, việc sản xuất ra tri thức tức là sáng tạo cái mới đã trở thành hoạt động trọng yếu của nhân loại

Giáo dục cao đẳng, đại học phải thích ứng với nhu cầu kinh tế và xã hội, sử dụng sức mạnh xã hội và sự điều tiết của thị trường để từng bước phát triển Chỉ khi nào giáo dục được xây dựng trên nền tảng của thị trường là sự kết hợp năng động của bốn thành phần: nhà nước, thị trường, các lực lượng xã hội và cơ sở giáo dục thì mới có thể phát triển nhanh chóng và theo kịp các yêu cầu của thời đại

Để làm được điều này, cần xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế- xã hội đất nước, từ thực tiễn của giáo dục cao đẳng, đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cơ sở đào tạo phải xây dựng chiến lược vừa mang tính đột phá nhằm đi trước một bước trong việc cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, vừa khả thi, lại mang tính đặc thù của Việt Nam, một đất nước đang tiến tới nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

1.1 Khái niệm về nhân lực KH&CN

Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm có thể lực và trí lực Các tiềm năng về thể lực đã được khai thác tận dụng triệt để, còn các tiềm năng về trí lực cũng được chú ý nhưng khai thác còn ở mức độ mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng tiềm năng và còn nhiều bí ẩn trong mỗi con người

Định nghĩa khác là nhân lực là toàn bộ số lượng người có thể làm việc khi cần thiết

Lực lượng lao động là một bộ phận dân số bao gồm những người trong

độ tuổi quy định có khả năng lao động có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc

Nhân lực KH&CN được phát triển trên nền tảng của nguồn nhân lực,

nó quyết định việc nâng cao chất lượng và bổ sung số lượng nguồn nhân lực

Trang 14

Tiếp cận từ chức năng nghề nghiệp thì nhân lực KH&CN được định

nghĩa “Nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn

nào đó trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ và những người có trình độ

kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động khoa học và công nghệ”

Định nghĩa của UNESCO nhân lực KH&CN (S&T personnel) là

“Những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ”

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài khái niệm nhân lực KH&CN được hiểu là tập hợp những nhóm người tham gia vào hoạt động KH&CN trong các

lĩnh vực: sản xuất- kinh doanh; Sự nghiệp (các viện, trường đại học); Hành

chính quản lý với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của KH&CN, của sự phát triển kinh tế- xã hội

Nội hàm:

Lực lượng hành chính, quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan bao gồm các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý có trình độ cao, am hiểu về hoạt động KH&CN Họ làm việc tại các cơ quan hành chính cơ quan quản lý chuyên nghiệp, các phòng ban ở trường học, học viện, trung tâm dịch vụ KH&CN

Lực lượng sự nghiệp có trình độ chuyên môn cao, chiếm số đông Họ làm việc ở các đơn vị sự nghiệp, giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Họ không chỉ tham gia giảng dạy mà còn tham gia NCKH, chuyển giao công nghệ đối với các doanh nghiệp

Lực lượng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Với chức năng nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu KH&CN và phát triển thực nghiệm

Lực lượng trong lĩnh vực kinh tế- xã hội, sự nghiệp thường xuyên tiến hành công tác NCKH

Trang 15

Trong nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế nên thường xảy ra các trường hợp di động xã hội, thay đổi nghề nghiệp, chức vụ

Để có một khái niệm hoàn chỉnh về nhân lực KH&CN cần thiết phải xem xét các mô đun thành tố của hệ thống khoa học và công nghệ gồm:

- Tạo công nghệ bao gồm nghiên cứu, sáng tạo để làm ra công nghệ trong nước và nắm vững hiểu sâu về quá trình thử nghiệm, thích nghi và hoạt động thương mại hoá công nghệ nhập ngoại

- Áp dụng công nghệ là quá trình nắm vững thiết kế và kỹ thuật tiến tới làm chủ công nghệ để xây dựng xí nghiệp, thử nghiệm, vận hành, sản xuất thử

để đi tới quá trình sản xuất liên tục và ổn định

- Môi trường chính sách bao gồm cơ cấu chính sách, công cụ kế hoạch hoá, những luật lệ và thể chế hoá…trong việc thực thi chính sách về tài chính, các phương tiện vật chất và các chế tài kích cầu

- Cơ sở hạ tầng bao gồm các tiêu chuẩn, cấp phát tài chính, các tổ chức

tư vấn và công trình, các cơ quan về an toàn công nghiệp…

Trên cơ sở những nghiên cứu cơ bản về hệ thống khoa học và công nghệ cho thấy nhân lực KH&CN đóng vai trò rất quan trọng trong tất cả 4 modun của hệ thống Xét theo chức năng và nghề nghiệp thì phổ chức năng của nhân lực KH&CN bao gồm:

- Nghiên cứu sáng tạo;

- Giảng dạy;

- Quản lý;

- Khai thác sử dụng và tác nghiệp

+ Chức năng nghiên cứu sáng tạo được gọi bằng nhiều tên khác nhau,

chỉ đề cập đến thuật ngữ các nhà nghiên cứu hay các nhà khoa học

Các nhà khoa học thường làm việc ở các tổ chức nghiên cứu khoa học

và công nghệ, thường có trình độ cao (từ tốt nghiệp đại học trở lên) khác

nhau về trình độ, năng lực, khả năng chuyên môn, chức danh…

Các nhà khoa học chỉ có thể làm việc hiệu quả trong môi trường thuận lợi mà ở đó họ được tôn trọng, được phát huy hết khả năng sáng tạo, được

Trang 16

cung cấp đầy đủ thông tin, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, có mối liên

hệ chặt chẽ với các nhà nghiên cứu đồng nghiệp trong và ngoài nước

+ Chức năng giảng dạy đề cập đến thuật ngữ giảng viên trường cao

đẳng

Giảng viên bao gồm những người thuộc biên chế của trường làm công tác giảng dạy và những cán bộ kinh tế - kỹ thuật, cán bộ quản lý làm việc trong và ngoài trường tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm nhiệm, có trình độ chuyên môn bậc đại học trở lên, có năng lực sư phạm, đạt tiêu chuẩn chuyên môn theo quy định của bộ Giáo dục và Đào tạo, có khả năng giảng dạy lý thuyết và thực hành các môn học bậc cao đẳng và thấp hơn

*Giảng viên có nhiệm vụ sau:

- Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện các điều lệ quy chế, quy định, nội quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Uỷ ban nhân dân Tỉnh và của trường;

- Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo và trường quy định; soạn giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập theo sự phân công của trường, khoa, tổ bộ môn;

- Chịu sự giám sát của trường về nội dung, chất lượng, phương pháp đào tạo và NCKH;

- Chủ trì đề tài nghiên cứu hoặc tham gia NCKH, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo sự phân công của trường, khoa, tổ bộ môn;

- Hoàn thành các công tác khác được trường, khoa, tổ bộ môn giao;

- Thường xuyên tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;

- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự; tôn trọng nhân cách; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người học; Hướng dẫn về học tập, nghiên cứu

và triển khai KH&CN, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, phong cách, lối sống đối với người học

*Giảng viên có quyền hạn sau:

Trang 17

- Được bố trí giảng dạy theo chuyên môn đào tạo, được xác định nội dung các giáo trình giảng dạy phù hợp với quy định chung của Bộ Giáo dục

- Được hưởng các quyền lợi về vật chất, tinh thần theo chính sách, chế

độ của nhà nước đối với nhà giáo và quy chế của nhà trường;

- Được ký hợp đồng giảng dạy, NCKH, chuyển giao công nghệ

Đối với mỗi quốc gia hoạt động giáo dục đào tạo đóng vai trò rất quan trọng, diễn ra các hoạt đông giáo dục đào tạo nhằm cung cấp nguồn nhân lực

để vận hành nền kinh tế, tạo ra cái mới, truyền bá và thúc đẩy sự tiến bộ của

xã hội Đối với các nước chậm phát triển, cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học đào tạo những cái mình có sẵn

Đối với các nước phát triển, cơ sở giáo dục đại học luôn đi trước và định hướng sự phát triển xã hội

Các chức năng của giáo dục:

- Đóng góp vào sự phát triển toàn diện của các cá nhân để họ phát triển hết khả năng của mình trong xã hội đa dạng;

- Giáo dục các cá nhân trong xã hội có khả năng cùng nhau hợp tác, đối thoại và thực hiện những trách nhiệm của công dân;

- Giáo dục tinh thần công dân, bao gồm việc lĩnh hội các kỹ năng cơ bản của cuộc sống để chuẩn bị cho từng cá nhân và nhóm tham gia vào lao động xã hội;

- Giáo dục có vai trò quan trọng để giải quyết các vấn đề của tội lỗi và xung đột trong xã hội;

Trang 18

- Quan hệ giữa giáo dục lao động và việc làm, cân đối giữa tri thức và biết cách làm công nghệ để mọi người thích nghi với sự biến đổi và yêu cầu của thị trường lao động;

- Giáo dục và phát triển giải quyết các vấn đề dân số, tạo ra năng lực sáng tạo, khuyến khích nhân tài;

- Giáo dục và nghiên cứu khoa học tạo ra những tri thức mới, tăng cường năng lực cho từng người và cả dân tộc trong hội nhập quốc tế ngày càng tăng

Trong phạm vi luận văn chỉ đề cập tới những giảng viên cao đẳng tham gia hoạt động giáo dục và đào tạo giúp người học hiểu biết và sử dụng KH&CN trong thực tiễn góp phần phát triển xã hội

Hoạt động giáo dục và đào tạo KH&CN được chia thành nhiều loại với các cấp học bậc học và phân thành các trình độ khác nhau, cơ bản nhất là đào tạo đại học và cao đẳng

Các hình thức đào tạo rất phong phú đa dạng gồm đào tạo chính quy, đào tạo vừa làm vừa học, đào tạo liên thông, đào tạo thực tế…các hình thức bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, đào tạo tay nghề, kỹ năng…về khoa học và công nghệ

Tất cả các hình thức đào tạo và bồi dưỡng trên đều liên quan đến công việc của nhà khoa học cũng như các cấp có trình độ cao hơn

+ Chức năng quản lý nhân lực KH&CN hoạt động theo chức năng quản lý

gọi theo thuật ngữ nhà quản lý, có vai trò vị trí cực kỳ quan trọng

Tiến hành các công việc nhập khẩu, làm thích nghi, lắp đạt và truyền bá công nghệ Nhóm này không chỉ bao gồm các kỹ sư mà còn gồm các nhà quản lý có trình độ cao như:

- Lựa chọn công nghệ;

- Làm các quyết định về khuyến khích giảm thuế xuất, nhập khẩu công nghệ, xác định lựa chọn công nghệ;

- Các vấn đề về điều khoản của các License (Luật sư);

- Đánh giá hiệu quả của việc thay đổi công nghệ (Nhà kinh tế);

Trang 19

Việc đề xuất, đánh giá không chỉ dựa trên năng lực trình độ chuyên môn đơn thuần mà còn đòi hỏi các kiến thức và khả năng tư duy phân tích tổng hợp

+ Chức năng khai thác sử dụng và tác nghiệp: nhóm người hoạt

động trong lĩnh vực này gọi bằng thuật ngữ công nhân kỹ thuật bao gồm:

Cán bộ kỹ thuật là những người biết toàn bộ hoặc từng phần của công nghệ, hoạt động trên bình diện rất rộng, đa dạng

Công nhân tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất, quá trình công nghệ với nhiệm vụ là người tác nghiệp

Việc phân nhóm theo chức năng nghề nghiệp đang làm trong lĩnh vực khoa học và công nghệ sẽ thuận lợi hơn khi xem xét về chức năng hoạt động, kinh nghiệm công tác, trình độ đào tạo và nghề nghiệp của từng nhóm người

đó trong tổng thể nhân lực khoa học và công nghệ

1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN

Nguồn nhân lực xã hội là những năng lực về thể chất và trí tuệ để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cho xã hội

Nguồn nhân lực của tổ chức là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực

xã hội Bao gồm tất cả những ai làm việc cho tổ chức hoặc những người chờ

đợi để làm việc cho tổ chức (nguồn dự trữ)

Vốn nhân lực (vốn con người) là các kỹ năng và năng lực con người khi

được sử dụng và lao động bằng cách nào đó đóng góp cho nền kinh tế

Nguồn nhân lực KH&CN (Scieltific and technological human

resources)

Định nghĩa của OECD nguồn nhân lực KH&CN bao gồm một trong những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau:

Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên

môn khoa học và công nghệ (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay

còn được gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo)

Không được đào tạo chính thức như đã nói trên nhưng làm một nghề trong lĩnh vực khoa học và công nghệ mà đòi hỏi trình độ trên thì kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo ở nơi làm việc

Trang 20

Nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà có bằng cấp và tham gia một cách thường xuyên, hệ thống vào hoạt động KH&CN

1.3 Phát triển nguồn nhân lực KH&CN

Theo UNIDO “Phát triển nguồn nhân lực KH&CN là sự phát triển con

người một cách hệ thống như là chủ thể và khách thể của sự phát triển quốc gia, nó bao gồm toàn bộ các khía cạnh kinh tế và công nghiệp, trong đó đề cập đến sự nâng cao khả năng của con ngưòi, nâng cao năng lực sản xuất, khả năng sáng tạo, khuyến khích các chức năng lãnh đạo…thông qua giáo dục, đào tạo và nghiên cứu”

Theo định nghĩa của hiệp hội Mỹ “Phát triển nguồn nhân lực KH&CN

nghĩa là sử dụng một cách tổng hợp các hoạt động đào tạo và phát triển, phát triển tổ chức, phát triển nghề nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả của cá nhân nhóm người lao động hay cơ quan”

Theo các chuyên gia Nam Phi định nghĩa là các hoạt động học hỏi một cách có tổ chức trong nội bộ cơ quan để nâng cao hiệu quả hoạt động hoặc phát triển đội ngũ nhân lực nhằm củng cố nghề nghiệp hoặc phát triển cá nhân hay tổ chức, cơ quan

Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong các khoản thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động

Phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển

- Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả chức năng nhiệm vụ của mình

- Giáo dục là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề nghiệp mới thích hợp hơn trong tương lai

Trang 21

- Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức hoặc phát triển khả năng nghề nghiệp của họ

Giáo dục gắn liền với nguồn nhân lực, phải biết tổ chức hướng dẫn thị trường lao động, sử dụng lao động theo đúng quy luật giá trị, thực sự trọng dụng người tài

Giáo dục chuyển từ chỗ dựa vào cách tiếp cận “dạy” là chính sang cách tiếp cận “học” là chính, người dạy chủ yếu đóng vai trò hướng dẫn còn

người học chủ động trực tiếp hấp thụ kiến thức mà xã hội cung cấp

Mục tiêu chung của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp và thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai

Như vậy, nâng cao không ngừng chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học

là vấn đề cần được quan tâm và là yêu cầu cấp bách của tất cả những nhà quản lý giáo dục, cán bộ giảng dạy, sinh viên và cũng là của toàn xã hội Đây cũng là giải pháp duy nhất giúp giáo dục cao đẳng, đại học Việt Nam thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, vươn lên ngang tầm khu vực, tiến tới tiếp cận trình độ giáo dục đại học thế giới

1.4 Chất lượng trong giáo dục cao đẳng, đại học

1.4.1.Các quan niệm về chất lượng

Chất lượng luôn là vấn đề được quan tâm của tất cả các trường cao đẳng, đại học và việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo nào

Trang 22

Theo từ điển tiếng Việt phổ thông “Chất lượng là tổng thể những tính

chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)…làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác”

Theo Oxford Dictionnary: “Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng

so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số

cơ bản”

Theo tiêu chuẩn Pháp NFX 50-109 : “Chất lượng là tiềm năng của một

sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của người sử dụng”

Chất lượng có một loạt định nghĩa trái ngược nhau và rất nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này đã diễn ra tại các diễn đàn khác nhau mà nguyên nhân của nó là thiếu một cách hiểu thống nhất về bản chất của vấn đề

- Chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”:

Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng một

trường cao đẳng, đại học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó” Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực”, có nghĩa là:

Nguồn lực = chất lượng Theo quan điểm này, một trường cao đẳng, đại học tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín, có nguồn tài chính cần thiết

để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem

là trường có chất lượng cao

Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo đang được

diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài (3 đến 6 năm) trong

trường cao đẳng, đại học Thực tế, theo cách đánh giá này, quá trình đào tạo

được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra” Sẽ khó giải thích trường hợp một trường cao đẳng, đại học có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào

tạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho sinh viên một chương trình đào tạo hiệu quả

- Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”:

Trang 23

Một quan điểm về chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học cho rằng “đầu

ra” của giáo dục đại học có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của

quá trình đào tạo “đầu ra” chính là sản phẩm của giáo dục cao đẳng, đại học

được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó

Có hai vấn đề cơ bản liên quan đến cách tiếp cận chất lượng giáo dục

cao đẳng, đại học này Một là, mối liên hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” không

được xem xét đúng mức Trong thực tế mối liên hệ này là có thực, cho dù đó không hoàn toàn là quan hệ nhân quả Một trường có khả năng tiếp nhận các sinh viên xuất sắc, không có nghĩa là sinh viên của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất

sắc Hai là, cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau

- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”:

Quan điểm thứ ba về chất lượng giáo dục đại học cho rằng một trường cao đẳng, đại học có tác động tích cực tới sinh viên khi trường đó tạo ra được

sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của sinh viên “Giá trị

gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào” kết quả thu được là “giá trị gia tăng” mà trường cao đẳng, đại học đã

đem lại cho sinh viên và được cho là chất lượng đào tạo của trường cao đẳng, đại học

Nếu theo quan điểm này về chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học, một loạt vấn đề phương pháp luận nan giải sẽ nảy sinh: khó có thể thiết kế một

thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra

được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó Hơn nữa các trường trong hệ thống giáo dục đại học lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các trường cao đẳng, đại học Cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng được xác định sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào tạo trong từng trường cao đẳng, đại học

- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”:

Trang 24

Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học Điều này có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ lớn, có uy tín khoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao

Điểm yếu của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường đại học để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường không thuần học thuật Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi có xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng

- Chất lượng được đánh giá bằng "Văn hoá tổ chức riêng":

Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường đại học phải tạo ra được

"Văn hoá tổ chức riêng" hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì

vậy một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được "Văn hoá tổ

chức riêng" với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng

đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng

và bản chất của tổ chức Quan điểm này được mượn từ lĩnh vực công nghiệp

và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục cao đẳng, đại học

- Chất lượng được đánh giá bằng "Kiểm toán":

Quan điểm này về chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học xem trọng quá trình bên trong trường đại học và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem các trường cao đẳng, đại học có thu thập đủ thông tin phù hợp và những người ra quyết định có đủ thông tin cần thiết hay không Quan điểm này cho rằng nếu một cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác và

Trang 25

chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học được đánh giá qua quá trình thực hiện,

còn "đầu vào" và "đầu ra" chỉ là các yếu tố phụ

Điểm yếu của cách đánh giá này là sẽ khó lý giải những trường hợp khi một cơ sở đào tạo có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể

có những quyết định chưa phải là tối ưu

Ngoài sáu quan điểm nêu trên, tổ chức Đảm bảo chất lượng Giáo dục

đại học quốc tế (INQAAHE -International Network of Quality Assurance

Agencies in Higher Education) đã đưa ra hai định nghĩa về chất giáo dục đại

Như vậy để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường cần dùng Bộ tiêu chí có sẵn; hoặc dùng các chuẩn đã quy định; hoặc đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu đã định sẵn từ đầu của trường Trên cơ sở kết quả đánh giá, các trường sẽ được xếp loại theo 3 cấp độ:

- Chất lượng tốt;

- Chất lượng đạt yêu cầu;

- Chất lượng không đạt yêu cầu

Các tiêu chí hay các chuẩn phải được lựa chọn phù hợp với mục tiêu kiểm định

1.4.2 Những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chất lượng

Chất lượng là một khái niệm động nhiều chiều và nhiều học giả cho rằng không cần thiết phải tìm cho nó một định nghĩa chính xác Tuy vậy, việc

Trang 26

xác định một số cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này là điều nên làm

và có thể làm được Theo quan niệm truyền thống một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm được làm ra một cách hoàn thiện bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền Nó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho người sở hữu nó

Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật)

Chất lượng là sự phù hợp với mục đích

Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của nhà trường

Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người sử dụng lao

động được đào tạo)

+ Quan niệm về chất lượng trong giáo dục cao đẳng, đại học

Khó đưa ra một định nghĩa về chất lượng trong giáo dục cao đẳng, đại học được mọi người thừa nhận Cách tiếp cận này xem chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều và với những người ở cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét Đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên thì ưu tiên khái niệm chất lượng là ở quá trình đào tạo,

cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập Đối với những người sử dụng lao động thì lại ở đầu ra tức trình độ, năng lực và kiến thức của sinh viên tốt nghiệp… Chất lượng cần được xác định theo ý nghĩa, mục tiêu của nó ở khía cạnh này có thể có chất lượng cao, nhưng ở khía cạnh khác, lĩnh vực khác lại có thể là chất lượng thấp

1.4.3 Chất lượng của quá trình đào tạo

Với cách lý giải về khái niệm chất lượng trong giáo dục cao đẳng, đại học vừa được trình bày ở trên, cần xem xét lĩnh vực nào của giáo dục cao đẳng, đại học sẽ được đánh giá về chất lượng Từ trước tới nay giáo dục đại học có mục đích chung là thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước bằng cách cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo ở trình độ nhất định

Mục đích này được thực hiện bằng hai hoạt động có liên quan với nhau:

- Đào tạo sinh viên đáp ứng nhu cầu về nhân lực của các ngành, các tổ chức trong toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước;

Trang 27

- Làm phong phú thêm kho tàng kiến thức thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học Để đánh giá chất lượng các công trình nghiên cứu và tác động của nó tới quá trình đào tạo là rất khó nên theo quan niệm của tác giả nên mặc nhiên công nhận xem nghiên cứu khoa học là một chức năng không thể thiếu

để đảm bảo chất lượng của quá trình đào tạo

Chất lượng đào tạo thể hiện chính qua năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương trình đào tạo Năng lực này bao hàm các thành tố:

- Khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức được đào tạo;

- Kỹ năng thực hành được đào tạo;

- Năng lực nhận thức và năng lực tư duy được đào tạo;

- Phẩm chất nhân văn được đào tạo

+ Tương tác giữa nghiên cứu khoa học và quá trình đào tạo

Trong nhà trường chuyên nghiệp các hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm những nghiên cứu cơ bản và những nghiên cứu ứng dụng, tạo ra những công nghệ mới để chuyển giao hoặc có thể bán trên thị trường Những hoạt động này có tác động tích cực qua lại đến chất lượng của quá trình đào tạo Nghiên cứu khoa học là một chức năng không thể thiếu để đảm bảo chất lượng quá trình đào tạo

Để đánh giá, xác định chất lượng của một khoá học theo dự án nhà trường và doanh nghiệp cần xem xét chất lượng công tác thiết kế khoá học đó như chương trình khung, chương trình chi tiết, các môn học, các giáo trình cơ bản, giảng viên, cơ sở vật chất đảm bảo cho khóa học thành công Cần xem xét thêm quá trình thực hiện khoá học, chất lượng đầu ra dựa trên mục tiêu chi tiết của khoá học

Tác giả nghiên cứu sử dụng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục Cao đẳng Việt Nam để so sánh đánh giá thực trạng chất lượng quá trình giáo dục tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương

1.5 Khái niệm về dự án

Dự án là phương thức người lãnh đạo đạt được mục tiêu của mình bằng người khác và thông qua người khác điều khiển các bên tham gia dự án tiến

Trang 28

hành việc xác định, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát nguồn lực và hoạt động dự án nhằm đạt được một cách có hiệu quả các mục tiêu mà

dự án đã đề ra Dự án là những chuỗi hoạt động có liên quan lẫn nhau được lập ra nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu cụ thể với các nguồn lực nhất định trong một thời hạn cụ thể

Dự án là những hoạt động và đầu tư được hoạch định trước, tại một thời điểm nhất định, được thiết kế và sử dụng những kỹ thuật cụ thể nhằm đạt được mục tiêu hay mục đích của dự án trong một khoảng thời gian nhất định

Dự án là tập hợp những hoạt động khác nhau có liên quan với nhau theo một logic, một trật tự xác định nhằm vào những mục tiêu xác định được thực hiện bằng những nguồn lực nhất định trong những khoảng thời gian xác định

Thông thường một cá nhân rất khó hoàn thành được công việc nhưng

có thể sẽ dễ dàng thực hiện tốt nếu có sự phối hợp của cả một đội ngũ Đội ngũ ở đây bao gồm nhiều thành viên của các công việc, chuyên môn khác nhau tập trung lại để hình thành sức mạnh tập thể Đội ngũ của dự án cũng vậy Sự thành công của dự án được quyết định bởi sức mạnh kết hợp giữa các thành viên mà đội ngũ lựa chọn với người lãnh đạo dự án và các nhân viên kỹ thuật chuyên ngành có năng lực và trình độ cao Điều này là nhân tố quyết định sự thành công của dự án

Đội ngũ dự án lý tưởng là đội ngũ có thể hoàn thành được mục tiêu dự

án đề ra trong thời gian nhất định, trong đó mỗi thành viên đều có thể phát huy hết năng lực cá nhân trong sự phát triển chung của đội ngũ

* Đặc trưng cơ bản của dự án:

Xác định rõ mục tiêu:

Bất cứ dự án nào cũng phải thực hiện một mục tiêu nhất định, kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà khách hàng mong muốn Khi mục tiêu dự án đã được xác định thì khó có thể thay đổi hay sửa chữa

Mục tiêu của dự án được đề ra trên phạm vi công việc, kế hoạch tiến độ

và sự ràng buộc về chi phí và nguồn lực, có kế hoạch và thời gian hoàn thành

Trang 29

và đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về thời gian, chất lượng và chi phí

đã định

Tính chất đặc thù:

Một số dự án do tính chất đặc thù, chưa có tiền lệ trong quá khứ Một

số dự án do hoàn cảnh bên trong và bên ngoài cũng có đặc điểm và thời gian khác nhau

Tính ràng buộc về chi phí và nguồn lực:

Mỗi dự án đều cần dùng một lượng nguồn lực nhất định để thực hiện

Nó bao gồm nhân lực (giám đốc dự án, thành viên dự án), vật lực (trang thiết

bị, nguyên vật liêu) và tài lực Dự án phải chịu sự ràng buộc về giá thành, phù

hợp với yêu cầu của khách hàng

Tính trình tự trong quá trình thực hiện dự án:

Mỗi dự án đều là nhiệm vụ có tính trình tự và giai đoạn, đây chính là sự khác biệt lớn nhất giữa dự án và nhiệm vụ công việc mang tính trùng lặp Cùng với sự kết thúc của hợp đồng và bàn giao kết quả thì dự án cũng kết thúc

Tính không xác định của dự án

Mỗi dự án đều có tính không xác định, tức là khi thực hiện dự án cụ thể

do sự tác động của hoàn cảnh bên trong, bên ngoài nên việc thực hiện có sự thay đổi so với kế hoạch ban đầu Dự án có thể hoàn thành trước thời gian hoặc có thể bị kéo dài so với kế hoạch ban đầu, có thể giá thành cao hơn dự kiến, thậm chí kết quả thực hiện dự án cũng không giống với kết quả dự định Trước khi thực hiện dự án cần phân tích đầy đủ các nhân tố bên trong và bên ngoài mà chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới dự án Trong quá trình thực hiện mục tiêu dự án cũng cần tiến hành quản lý và khống chế có hiệu quả nhằm hạn chế những sai sót có thể xảy ra

Người uỷ quyền riêng của dự án

Mỗi dự án đều có người ủy quyền chỉ định riêng hay còn gọi là khách hàng Đó chính là người yêu cầu về kết quả dự án, người cung cấp nguyên vật

Trang 30

liệu để thực hiện dự án Họ có thể là một người, một tập thể, một tổ chức hay nhiều tổ chức có chung nhu cầu về kết quả của dự án

Trong một số trường hợp người uỷ quyền của dự án cũng chính là người được uỷ quyền

Tính bất biến của kết quả dự án

Dự án không giống như công việc khác sai có thể sửa Khi thực hiện dự

án buộc phải đảm bảo chắc chắn sự thành công của nó bởi nguồn nhân tài vật lực của dự án đã được xác định và tính toán từ trước Khi thực hiện dự án phải

dự trù được những khả năng xảy ra nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu đề ra theo đúng thời gian quy định

Những nhân tố ràng buộc sự thành công của mục tiêu dự án

Mục đích cuối cùng của mỗi dự án là để thực hiện một mục tiêu nhất định, mục tiêu này phải đáp ứng được nhu cầu của người được uỷ quyền trong quá trình thực hiện dự án Việc thực hiện thành công mục tiêu dự án chịu sự ràng buộc của bốn yếu tố: sự đánh giá của khách hàng, phạm vi dự án, tiến độ dự án và chi phí dự án

Trang 31

án Khách hàng luôn mong muốn một khoản chi phí thấp nhất nhưng có thể thoả mãn yêu cầu nhận được sản phẩm tốt nhất

Tiến độ dự án

Là sự sắp xếp thời gian thực hiện dự án Mỗi dự án đều có thời gian bắt đầu và kết thúc Căn cứ vào tình hình thực tế của khách hàng và người được

uỷ quyền để định ra thời gian hoàn thành công việc

Trong phạm vi luận văn tác giả muốn đề cập đến một mô hình dự án theo kết cấu ma trận

- Chức năng rõ ràng

- Phạm vi hoạt động hẹp

- Phản ứng chậm

- Thiếu chú trọng tới khách hàng

- Chi phí cao

- Thiếu sự trao đổi về thông tin và kiến thức giữa các dự án

03 Kết cấu

ma trận

- Có thể chi phối nguồn lực

- Chuyên gia có thể tham gia vào tất cả các dự án

- Tạo điều kiện giao lưu học hỏi về kiến thức

Kết cấu tổ chức dạng ma trận là một loại hình tổ chức được tạo ra để kết hợp giữa các bộ phận được phân chia theo chức năng và bộ phận được phân chia theo dự án trong cùng một cơ cấu tổ chức Hình thức tổ chức này vừa có thể phát huy ở mức lớn nhất ưu thế của hai loại hình thức tổ chức, vừa tránh được những thiếu sót của chúng trên một mức độ nhất định

Ưu điểm của kết cấu này là có sự ủng hộ lớn về trí lực và kỹ thuật, việc

sử dụng nhân lực cũng tương đối linh hoạt, có sự phân công chuyên môn hoá,

có ưu thế về mặt phân bổ nguồn lực, nhân viên của một bộ phận chức năng

Trang 32

nào đó không những có thể nhận chức vụ trong dự án A, dự án B mà còn có thể phục vụ rất nhiều dự án trong cùng một khoảng thời gian, các nguồn lực khác như máy móc, trang thiết bị có thể điều phối trong bất kỳ dự án nào, như vậy sẽ đảm bảo cho nguồn lực được tận dụng triệt để

Kết cấu tổ chức chặt chẽ, phân cấp quản lý rõ ràng Sau khi đội ngũ dự

án được xây dựng, dưới sự dẫn dắt của giám đốc dự án đã hình thành nên một

tổ chức mang tính tổng thể để thực hiện mục tiêu đã định, tổ chức vận hành công việc một cách hiệu quả

Trong phạm vi luận văn tác giả muốn đề cập đến một mô hình dự án

kết cấu ma trận phối hợp toàn diện hai trong một giữa “cung” và “cầu” nhà

trường và doanh nghiệp, từ mục tiêu chất lượng và lợi ích chung hai bên phối hợp tạo sức mạnh tổng hợp chung để hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

1.7 Một số văn bản của Đảng và Nhà nước liên quan đến phát triển nhân lực KH&CN

Kể từ tháng 6 năm 1981 trở đi Nhà nước cho phép ký hợp đồng kinh tế trong hoạt động khoa học và công nghệ và sau này có một số quy định cho phép có thu nhập từ các hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, dịch vụ tư vấn khoa học và công nghệ Nghị quyết trung ương 2 khoá VIII đã đưa ra chủ trương khuyến khích cán bộ khoa học và công nghệ tăng thu nhập từ hợp đồng nghiên cứu

Nghị quyết hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng

(khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong

thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Chính sách đối với cán bộ khoa học và công nghệ:

Có chính sách lương thỏa đáng đối với cán bộ nghiên cứu khoa học và triển khai

Có chế độ thưởng, phụ trợ và trợ cấp cho các công trình khoa học và công nghệ có giá trị Có cơ chế để cán bộ khoa học và công nghệ bảo đảm thu nhập thích đáng thông qua các hợp đồng nghiên cứu- triển khai

Trang 33

Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, hoài bão, lý tưởng say mê khoa học; áp dụng nhiều hình thức biểu dương, tôn vinh địa vị xã hội của các nhà khoa học và chuyên gia công nghệ hàng đầu

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ KH&CN, trẻ hoá đội ngũ cán bộ KH&CN Khơi dậy nhiệt tình của thế hệ trẻ theo đuổi sự nghiệp khoa học và công nghệ

Xây dựng và thực hiện qui chế đảm bảo dân chủ, phát huy tinh thần sáng tạo, tăng cường đoàn kết, ý thức trách nhiệm xã hội của các nhà khoa học trong hoạt động khoa học và công nghệ Khuyến khích, trân trọng những tìm tòi khám phá khoa học, những kiến nghị giải pháp khác nhau về các vấn

đề của tự nhiên, kỹ thuật cũng như kinh tế - xã hội Có hình thức tổ chức, phương pháp và cơ chế hoạt động hợp lý để phát huy tối đa trí tuệ tập thể cũng như tài năng cá nhân của nhà khoa học

Trang bị kỹ thuật, thông tin, thiết bị đồng bộ cho một số phòng thí nghiệm, một số viện nghiên cứu trọng điểm, một số bộ môn ở các trường đại học đạt mức tiên tiến trong khu vực Tăng dần trang thiết bị và nâng cấp các thư viện cho các trường, các viện nghiên cứu

Quy định tuổi hưu thích hợp đối với cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao; có nhiều hình thức sử dụng và phát huy năng lực của đội ngũ trí thức tuổi cao còn sức cống hiến

Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài chuyển giao về nước những trí thức khoa học và công nghệ tiên tiến Có chính sách thoả đáng đối với cán bộ khoa học

và công nghệ Việt Nam ở nước ngoài về làm việc trong nước

Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục với

mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được

chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm nghề

Trang 34

nghiệp của nhà giáo; thông qua việc quản lý phát triển đúng định hướng và

có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”

Nhiệm vụ 2: Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục

Nhiệm vụ 3: Đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Nhiệm vụ 4: Đổi mới nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Nhiệm vụ 5: Xây dựng và hoàn thiện chính sách, chế độ đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Rà soát bổ sung hoàn thiện các quy định, chính sách, chế độ về bổ nhiệm, sử dụng, đãi ngộ, kiểm tra, đánh giá đối với nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục cũng như các điều kiện đảm bảo việc thực hiện các chính sách, chế độ đó, nhằm tạo động lực thu hút động viên đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục toàn tâm toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục Có chế độ phụ cấp ưu đãi thích hợp cho nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Kết hợp chặt chẽ giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhất là ở bậc đại học, tạo cơ sở pháp lý để nhà giáo có quyền và trách nhiệm tham gia nghiên cứu khoa học

Có chính sách và quy định cụ thể để thu hút trí thức, cán bộ khoa học

có trình độ cao của các cơ sở nghiên cứu khoa học trong nước và các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, các nhà khoa học quốc tế tham gia giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng

Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2005 của Thủ

tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội

ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” trong đó nhấn

mạnh:

Trang 35

Xây dựng hệ thống đào tạo bồi dưỡng các giảng viên đại học và cao đẳng Xây dựng nội dung chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng giảng viên theo hướng hiện đại, đặc biệt là việc ứng dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến phù hợp với yêu cầu giáo dục đại học cao đẳng;

Quy định các cơ chế chính sách cụ thể để tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi, những người có trình độ đại học, sau đại học có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn có nguyện vọng trở thành nhà giáo để tiếp tục đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm nhằm bổ sung và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học cao đẳng

Các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng phải xây dựng quy hoạch và kế hoạch đào tạo bồi dưỡng giảng viên phù hợp với quy mô và yêu cầu đào tạo trong từng giai đoạn với các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở sản xuất kinh doanh

Bồi dưỡng giảng viên cho các trường đại học, cao đẳng; quy định chế

độ và tiêu chuẩn đào tạo, bồi dưỡng giảng viên

Quy định cơ chế chính sách cụ thể để gắn công tác đào tạo với công tác nghiên cứu khoa học, gắn hoạt động của các trường đại học, các cơ sở đào tạo

Xây dựng hoàn thiện các cơ chế quản lý, định mức lao động, chính sách, chế độ đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2005 của chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao

Phần b/1/III : Huy động nguồn lực của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế- xã hội và cá nhân để phát triển giáo dục- đào tạo Tăng cường quan

hệ của nhà trường với gia đình và xã hội; Huy động trí tuệ và nguồn lực của toàn ngành, toàn xã hội vào việc đổi mới nội dung chương trình, thực hiện giáo dục toàn diện Ban hành cơ chế chính sách cụ thể khuyến khích và quy định trách nhiệm các ngành, địa phương, các tổ chức kinh tế- xã hội và người

sử dụng lao động tham gia xây dựng trường, hỗ trợ kinh phí cho người học, thu hút nhân lực đã được đào tạo và giám sát các hoạt động giáo dục

Trang 36

Nghị quyết 09/2005/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ

Phần c: Triển khai có hệ thống và chuẩn hoá công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên các trường đại học, cao đẳng và giáo viên các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề đảm bảo cho các nhà giáo được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo quy định của Luật giáo dục, nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo phải phù hợp với yêu cầu của từng bậc học

Tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện và thực hiện chính sách ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; Khuyến khích đội ngũ cán bộ nhà giáo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đẩy mạnh sự gắn kết chặt chẽ giảng dạy với nghiên cứu khoa học

Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020

Mục tiêu: Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học đủ về số lượng có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình

độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến; Bảo đảm tỷ lệ sinh viên/giảng viên của hệ thống giáo dục đại học không quá 20 Đến 2010

có ít nhất 40% giảng viên đạt trình độ thạc sỹ và 25% đạt trình độ tiến sỹ; Đến năm 2020 có ít nhất 60% giảng viên đạt trình độ thạc sỹ và 35% đạt trình

độ tiến sỹ

Hoàn thành chính sách phát triển giáo dục đại học theo hướng đảm bảo quyền tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục đại học, sự quản

lý của Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với giáo dục

Khuyến khích mở các cơ sở giáo dục đại học trong các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn Nghiên cứu mô hình tổ chức và có kế hoạch cụ thể sát nhập

cơ sở giáo dục đại học với các cơ sở nghiên cứu khoa học để gắn kết chặt chẽ đào tạo, nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh

Nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học Các trường đại học lớn phải là trung tâm

Trang 37

nghiên cứu khoa học mạnh của cả nước; Nguồn thu từ các hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất và dịch vụ đạt tối thiểu 15% tổng nguồn thu của các cơ sở giáo dục đại học vào năm 2010 và 25 % vào năm 2020

Luật khoa học và công nghệ:

Tháng 6 năm 2000, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật khoa học và công nghệ: Ngoài điều 17, 18 qui định về quyền và nghĩa vụ của cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ còn có các điều 34 và 35 liên quan đến nhân lực khoa học và công nghệ như sau:

Điều 34: Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về khoa học và công nghệ: Hàng năm, Nhà nước dành một khoản ngân sách để đào tạo lại nhân lực khoa học và công nghệ ở trong nước và ở nước ngoài; Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, những người có trình độ cao, kỹ thuật viên lành nghề

Tổ chức, cá nhân được tạo điều kiện để tự đào tạo, tham gia vào việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về khoa học và công nghệ, cử hoặc cấp học bổng cho công dân Việt Nam đi học tập, nâng cao trình độ chuyên môn ở trong nước và ở nước ngoài theo qui định của Chính phủ

Điều 35: Sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ:

Nhà nước chú trọng nhân tài, tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ sáng tạo

và cống hiến; có chính sách và biện pháp thu hút nhân tài vào việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học và các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên trọng điểm của nhà nước; Có chính sách khuyến khích trong việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực nữ trong hoạt động khoa học và công nghệ; Xây dựng các tập thể khoa học mạnh, đạt trình độ khu vực và quốc tế; Có chế độ đãi ngộ tương xứng với cống hiến và có chế độ ưu đãi đặc biệt xuất sắc, có cống hiến lớn đối với đất nước

Tổ chức, cá nhân sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ có trách nhiệm bố trí, sử dụng đúng năng lực, sở trường và tạo điều kiện thuận lợi để

họ phát huy khả năng chuyên môn vào việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học

và công nghệ

Trang 38

Nhà nước có chính sách thoả đáng về lương, điều kiện làm việc, chỗ ở đối với cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ

Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện các chính sách ưu đãi đối với cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ ở cơ sở, chú trọng địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập

Điều 2: Mục tiêu thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

1.Trao quyển tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị

để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội

2 Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của công đồng xã hội để phát triển các hoạt động

sự nghiệp

Điều 4: Chuyển đổi hình thức hoạt động

Nhà nước khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, loại hình ngoài công lập nhằm phát huy mọi khả năng của đơn vị trong việc thực hiện các hoạt động của đơn vị theo quy định của pháp luật

Phần 2 mục b Liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân để hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội theo quy định của pháp luật

Phần 2 mục c sử dụng tài sản để liên doanh liên kết hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng , mua sắm máy móc thiết bị hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị theo quy định hiện hành của nhà nước

Điều 7: Biên chế

Trang 39

1 Đối với đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động, được tự quyết định biên chế

2 Thủ trưởng đơn vị được quyền quyết định ký hợp đồng thuê, khoán công việc đối với những công việc không cần thiết bố trí biên chế thường xuyên; Ký hợp đồng và các hình thức hợp tác khác với chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu chuyên môn của đơn vị

Chỉ thị số 56/2008/CT-BGDĐT ngày 3 tháng 10 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học năm học 2008-2009

4 Đào tạo theo nhu cầu xã hội

4.5 Khuyến khích các trường ký kết các văn bản thoả thuận hợp tác trực tiếp với các doanh nghiệp để đặt hàng hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu khoa học, tạo cơ sở thực tập cho sinh viên, tiếp nhận sinh viên khi ra trường; đồng thời đánh giá việc thực hiện các văn bản thoả thuận đã ký kết trong năm học trước;

4.6 Phối hợp với các Bộ, ngành để xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích các trường, các doanh nghiệp tham gia đào tạo theo nhu cầu xã hội

4.7 Các trường cần hình thành bộ phận chuyên trách và có cơ chế đánh giá được tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 1 năm ra trường

6.3 Từng trường cần đánh giá năng lực đội ngũ giảng viên, có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng để nâng cao năng lực giảng viên, có lộ trình tăng tỷ

lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ từ nay đến 2015 và 2020 để sớm đạt tỷ lệ 30%

và 50% giảng viên có trình độ tiến sĩ Mở rộng việc thực hiện sinh viên nhận xét giảng viên đến 50% các trường đại học, cao đẳng; triển khai giảng viên đánh giá lãnh đạo trường và cán bộ quản lý;

Trang 40

Kết luận chương 1

1 Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, xã hội trong

xu thế chuyển đổi, thì vai trò của sự liên doanh, liên kết và hợp tác toàn diện trên cơ sở các bên cùng có lợi là rất quan trọng và cần thiết

2 Các trường đại học, cao đẳng đột phá vào đổi mới triết lý giáo dục, đổi mới tư duy với mục tiêu tập trung mọi nguồn lực để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo để sinh viên ra trường có việc làm và làm được việc Liên doanh, liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, phát huy lợi thế về nhân lực khoa học và công nghệ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà xưởng… từng bước giảm dần tiến tới chấm dứt tình trạng đào tạo không đạt chuẩn, sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc theo đúng ngành nghề đào tạo hoặc dễ dàng chuyển đổi nghề nghiệp, để thích ứng với nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động , với môi trường làm việc, đáp ứng yêu cầu cao của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và xã hội, củng cố và tăng cường lòng tin của người học, người sử dụng và toàn xã hội đối với giáo dục đại học, cao đẳng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về chất lượng giáo dục, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

3 Theo quan điểm kinh tế thị trường, nhà trường là một “doanh nghiệp

đặc biệt” với đội ngũ cán bộ giảng viên có nhiều tiềm năng (dù chưa đạt chuẩn về số và chất lượng), cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế thiếu thốn

Trong khi doanh nghiệp có điều kiện về vốn, cơ sở vật chất, chuyên gia lành nghề, có kinh nghiệm thực tế…và luôn có nhu cầu nhân lực KH&CN có chất lượng phù hợp, nhu cầu sáng tạo sản phẩm mới

Liên kết đào tạo, NCKH và chuyển giao công nghệ theo mô hình dự án kết cấu ma trận là phương án có hiệu quả, thiết thực trong việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN trong giai đoạn hiện nay

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ khoa học và công nghệ. Khoa học và công nghệ Việt Nam 2002 và 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ Việt Nam 2002 và 2004
Tác giả: Bộ khoa học và công nghệ
[3] Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010
[13] Nguyễn Thị Anh Thu - Đổi mới Chính sách sử dụng nhân lực Khoa học và công nghệ - Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới Chính sách sử dụng nhân lực Khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thị Anh Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2000
[19] Quốc hội - Bộ Luật Lao động của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Lao động của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
[21] Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIV (12/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIV
Năm: 2005
[24] Vũ Cao Đàm - Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản KH&KT, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản KH&KT
Năm: 2005
[2] Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thƣ về xây dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Khác
[4]- Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 Khác
[5] Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Khác
[6]- Chỉ thị số 56/2008/CT-BGDĐT ngày 3 tháng 10 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học năm học 2008-2009 Khác
[7] Chính phủ - Chiến lƣợc phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010 Ban hành theo quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ Khác
[9] Chính phủ - Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp Khác
[10] Chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII-NXB Sự thật, Hà Nội 1991 Khác
[11] Đặng Văn Khải - Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam - Nhà xuất bản Lý luận chính trị 2005 Khác
[12] Đặng Nguyên - Thu Hà - Quản lý công nghệ trong nền kinh tế trí thức - Nhà xuất bản Hà Nội 2002 Khác
[14] Nguyễn Thị Anh Thu - Tập Bài giảng môn học Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Khác
[15] Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ƣơng (Khoá VII), Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội 1994 Khác
[16] Nghị quyết lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Khác
[17] Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia - Bộ khoa học và công nghệ, Khoa học và công nghệ giới. Thách thức và vận hội mới Hà Nội 2005 Khác
[18] Quốc hội - Pháp lệnh cán bộ, công chức ban hành ngày 26/02/1998 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 – Nhân lực KH&CN theo cấp quản lý: - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Bảng 1 – Nhân lực KH&CN theo cấp quản lý: (Trang 44)
Bảng 2- Quy mô đào tạo và đội ngũ giảng viên của nhà trường - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Bảng 2 Quy mô đào tạo và đội ngũ giảng viên của nhà trường (Trang 55)
Bảng 3- Phương pháp dạy lý thuyết đang sử dụng: - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Bảng 3 Phương pháp dạy lý thuyết đang sử dụng: (Trang 56)
Bảng 5 - Các phương tiện dạy lý thuyết đang sử dụng: - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Bảng 5 Các phương tiện dạy lý thuyết đang sử dụng: (Trang 57)
Bảng 6 - Số giáo viên giảng dạy theo chuyên ngành tốt nghiệp: - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Bảng 6 Số giáo viên giảng dạy theo chuyên ngành tốt nghiệp: (Trang 62)
Bảng 7 - Kết quả nghiên cứu khoa học từ năm 2005-2008 - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Bảng 7 Kết quả nghiên cứu khoa học từ năm 2005-2008 (Trang 65)
Bảng 8- Chất lƣợng nhân lực KH&CN - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Bảng 8 Chất lƣợng nhân lực KH&CN (Trang 72)
Bảng 9- Chất lƣợng nhân lực KH&CN - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Bảng 9 Chất lƣợng nhân lực KH&CN (Trang 74)
Hình thức đào tạo - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Hình th ức đào tạo (Trang 79)
Bảng 9- Những công ty, doanh nghiệp có tiềm năng liên kết   với trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Hải Dương - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Bảng 9 Những công ty, doanh nghiệp có tiềm năng liên kết với trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Hải Dương (Trang 86)
Hình thức cập nhật   - Tự học - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Hình th ức cập nhật - Tự học (Trang 124)
Hình thức cập nhật:  - Tự học - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
Hình th ức cập nhật: - Tự học (Trang 131)
Bài giảng  37  28,2  Bảng kiểm  23  28,2 - Đổi mới liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ (Nghiên cứu tại trường Cao đảng kinh tế
i giảng 37 28,2 Bảng kiểm 23 28,2 (Trang 141)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w