1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định hướng chính sách đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế

103 560 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ KH&CN của các cơ quan trong Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia trong nhiều năm qua đã lấy đối tượng doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, trong đó

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 LÝ DO NGHIÊN CỨU 5

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 7

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 9

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9

5 MẪU KHẢO SÁT 9

6 CÂU HỎI VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 9

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

8 LUẬN CỨ 11

9 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN: 11

10 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 11

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 12

1.1 Các khái niệm 12

1.1.1 Thông tin, thông tin KH&CN 12

1.1.2 Các khái niệm công nghệ, ĐMCN, DNNVV 14

1.2 Vai trò của thông tin KH&CN đối với hoạt động ĐMCN của DNNVV trong bối cảnh hội nhập quốc tế 20

1.2.1 Khái quát về vai trò của thông tin KH&CN đối với hoạt động ĐMCN của DNNVV trong bối cảnh hội nhập quốc tế 20

1.2.2 Thông tin KH&CN là nguyên liệu cho hoạt động ĐMCN 23

1.2.3 Thông tin KH&CN là sản phẩm của hoạt động ĐMCN 24

1.2.4 Nội dung thông tin KH&CN phục vụ hoạt động ĐMCN của DNNVV trong bối cảnh hội nhập 25

1.3 Cơ sở đảm bảo thông tin KH&CN phục vụ DNNVV ĐMCN 28

1.3.1 Nguồn lực thông tin/tin lực 28

1.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật 29

1.3.3 Nhân lực thông tin KH&CN 29

Trang 2

1.3.4 Các dịch vụ thông tin KH&CN 30

1.4 Phát triển mạng thông tin KH&CN để đảm bảo thông tin cho ĐMCN của DNNVV - Xu thế tất yếu trong hội nhập quốc tế 30

1.4.1 Đặc điểm của thông tin KH&CN hỗ trợ cho ĐMCN trong bối cảnh hội nhập quốc tế 30

1.4.2 Kinh nghiệm của các cơ quan thông tin, mạng thông tin KH&CN phục vụ doanh nghiệp ĐMCN ở một số nước 32

Kết luận Chương 1 36

Chương 2 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẢM BẢO THÔNG TIN KH&CN HỖ TRỢ DNNVV ĐMCN VÀ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐẢM BẢO THÔNG TIN KH&CN HỖ TRỢ DNNVV ĐMCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 37

2.1 Phân tích, đánh giá chính sách liên quan đến đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN ở Việt Nam hiện nay 37

2.2 Thực trạng hệ thống thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN 44

2.2.1 Điểm mạnh và điểm yếu 44

2.2.2 Cơ hội và thách thức 49

2.3 Phân tích kết quả điều tra, phỏng vấn 52

2.3.1 Thống kê kết quả điều tra, phỏng vấn 52

2.3.3 Phân tích kết quả 55

Kết luận Chương 2 65

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH ĐẢM BẢO THÔNG TIN KH&CN HỖ TRỢ DNNVV ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 67

3.1 Định hướng Chính sách phát triển nguồn lực thông tin KH&CN 67

3.1.1 Chính sách đầu tư đảm bảo nguồn lực thông tin KH&CN phục vụ DNNVV ĐMCN 67

3.1.2 Chính sách khuyến khích hợp tác trong nước và với các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ để có thêm nguồn tài trợ về tài liệu 70

Trang 3

3.1.3 Chính sách khuyến khích DNNVV từng bước đóng góp thêm kinh phí để

bổ sung nguồn lực thông tin công nghệ mới 74

3.2 Định hướng chính sách phát triển nguồn nhân lực 75

3.2.1 Nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng của đội ngũ xử lý thông tin có kiến thức về công nghệ, kỹ thuật 75

3.2.2 Đào tạo nhân lực tiếp nhận và phổ biến tin KH&CN của DNNVV 79

3.2.3 Đào tạo nghiệp vụ tra cứu, tìm kiếm và xử lý thông tin đối với đội ngũ nghiên cứu, ĐMCN của DNNVV 80

3.3 Định hướng chính sách ưu tiên phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN phù hợp với nhu cầu ĐMCN của DNNVV 82

3.3.1 Tạo các sản phẩm thông tin cung cấp định kỳ, cung cấp đột xuất theo nhu cầu loại hình DNNVV 83

3.3.2 Phát triển dịch vụ thông tin KH&CN phù hợp với nhu cầu ĐMCN của DNNVV 85

3.3.3 Xây dựng các cơ sở dữ liệu theo nhu cầu của DNNVV 87

3.4 Định hướng Chính sách ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tin học phục vụ DNNVV 88

3.4.1 Chính sách ưu tiến phát triển Mạng thông tin KH&CN dùng riêng cho DNNVV 88

3.4.2 Chính sách đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ xử lý thông tin đầu vào, lưu trữ và truyền tải dữ liệu 91

3.4.3 Chính sách hỗ trợ trang thiết bị đầu-cuối, đường truyền, cài đặt phần mềm để DNNVV tiếp nhận và khai thác thông tin 92

3.5 Tăng cường marketing 93

Kết luận chương 3 93

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KH&CN Khoa học và công nghệ

NC&TK Nghiên cứu và triển khai

TCĐLCL Tiêu chuẩn – Đo lường - Chất lượng Techmart Chợ công nghệ và thiết bị

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO NGHIÊN CỨU

Ngày nay, thông tin được coi là nhu cầu thiết yếu trong mọi hoạt động của con người, là nguồn lực đầu vào để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là công cụ điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô, là phương tiện hữu hiệu để bang giao trong hội nhập quốc tế

Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) của các cơ quan trong

Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia trong nhiều năm qua đã lấy đối tượng doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, trong đó nội dung thông tin tập trung chủ yếu phổ biến các thành tựu KH&CN của thế giới và trong nước, các kinh nghiệm chuyển giao công nghệ quốc tế, kinh nghiệp tiếp nhận làm chủ công nghệ nhập ngoại, tiến đến nghiên cứu đổi mới công nghệ (ĐMCN) và phát triển công nghệ nội sinh

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị hàng năm, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia - Cơ quan đứng đầu Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia, nơi tác giả đã có nhiều năm công tác, không ngừng mở rộng hoạt động thông tin và đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và dịch vụ của mình nhằm hướng vào phục vụ các đối tượng dùng tin trong xã hội như (1) Cán bộ lãnh đạo, quản lý, hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, KH&CN; (2) Các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nghiên cứu sinh, giảng viên đại học và sinh viên các ngành kỹ thuật; (3) Nông dân và (4) Doanh nghiệp, doanh nhân

Thực tế hoạt động thông tin phục vụ doanh nghiệp của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia đã thực hiện trong những năm gần đây, chủ yếu tổ chức các Chợ công nghệ và thiết bị (gọi là Techmart) Hoạt động này được tổ chức từ năm 2003 đến nay, cứ hai năm một lần tổ chức Techmart Quốc gia, hàng năm tổ chức Techmart vùng hoặc địa phương Tại các kỳ Techmart đã thu hút hàng nghìn lượt doanh nhân, nông dân tham quan, tìm kiếm thông tin công nghệ, công nghệ để phục

vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia cũng đã cung cấp nhiều loại sản phẩm, dịch vụ thông tin như các loại bản tin,

Trang 6

dịch vụ tra cứu tìm tin theo nhu cầu, dịch vụ xây dựng các báo cáo chuyên đề đã góp phần hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu đổi mới công nghệ (ĐMCN), áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào quá trình quản lý, sản xuất, kinh doanh

Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, cộng đồng doanh nghiệp nói chung có nhu cầu rất lớn về thông tin KH&CN phục vụ cho hoạt động ĐMCN, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm

và sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Tuy nhiên, khuôn khổ của Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu là đề xuất định hướng chính sách đảm bảo thông tin KH&CN cho một đối tượng cụ thể là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam - Một cộng đồng rất lớn, chiếm trên 97% trong tổng số trên 500.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, sử dụng trên 50% số lao động trong các doanh nghiệp, sử dụng trên 30% tổng vốn đầu tư, tạo ra trên 40% số hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu, trên 47% GDP, đóng góp gần 40% ngân sách Nhà nước [2] Theo Cục Phát triển Doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ có khoảng 8%

số DNNVV đạt trình độ công nghệ tiên tiến (phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) DNNVV trong nước hầu hết đang sử dụng công nghệ và thiết bị

cũ, lạc hậu, quy mô nhỏ, tiêu hao nhiều vật tư, năng lượng và sức lao động Sản phẩm sản xuất ra, chất lượng thấp và giá thành cao, thậm chí thua kém nhiều các sản phẩm nhập khẩu qua đường tiểu ngạch, nên khả năng canh tranh thấp, chỉ có một số ít DNNVV mạnh dạn đầu tư ĐMCN nên sản phẩm của các loại doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và vươn ra các thị trường khu vực và thế giới

Chúng ta đều biết, số DNNVV chỉ mới bung ra phát triển trong những năm gần đây, khi đất nước đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH và mở cửa nên họ chưa chuẩn bị tốt hành trang cho xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Hầu hết các DNNVV đều có bước khởi đầu và trưởng thành với xuất phát điểm thấp, thậm chí có những đơn vị trưởng thành từ hộ kinh doanh nhỏ lẻ, ít vốn, chưa có điều kiện đầu tư vào thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại, phần lớn thiết bị máy móc có được là loại đã

Trang 7

qua sử sụng, quá trình vận hành đã phải sửa chữa thay thế các loại phụ tùng tự gia công , tự chế tạo, chưa có điều kiện để ĐMCN Đây là tình trạng chung về máy móc thiết bị và công nghệ của các DNNVV qua các cuộc điều tra của Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Nhìn chung, đội ngũ cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp không có cơ hội tiếp cận đến các loại thông tin về công nghệ, không biết nguồn cung công nghệ để có cơ hội lựa chọn chuyển giao và ĐMCN

Như vậy, việc đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là rất cần thiết, phải được các cơ quan Nhà nước quan tâm, hỗ trợ một cách cơ bản, khoa học, tiến đến chuyên nghiệp DNNVV cần được cung cấp thông tin KH&CN phù hợp với nhu cầu thực tiễn để họ có thể tính toán thích hợp hơn và để tận dụng tốt các lợi thế mà hội nhập quốc tế mang lại cũng như chủ động đối mặt với các thách thức

Nhận biết rõ vai trò quan trọng của cộng đồng DNNVV nước ta trong hoạt động kinh tế và những mặt còn yếu kém, Chính phủ đã ban hành Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về việc “Trợ giúp phát triển DNNVV”, trong đó tại Điều 9 và Điều 12 nêu rõ nhiệm vụ đảm bảo thông tin KH&CN cho DNNVV Tiếp đến, ngày 05 tháng 05 năm 2010, Chính phủ ra Nghị quyết 22/NQ-CP để khẩn trương triển khai Nghị định 56/NĐ-CP Trước sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng,

sự đòi hỏi cấp bách và nhu cầu thực tiễn của cộng đồng DNNVV về việc đảm bảo thông tin KH&CN phục vụ hoạt động ĐMCN, tác giả mạnh dạn đề xuất đề tài

nghiên cứu “ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH ĐẢM BẢO THÔNG TIN KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ” làm Luận văn tốt nghiệp

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu đề cập tới việc cung cấp thông tin KH&CN phục vụ cho doanh nghiệp, những nguyên nhân cản trở hoạt động ĐMCN ở doanh nghiệp và đưa ra các chính sách, hình thức hỗ trợ các

doanh nghiệp ĐMCN như: Đề tài: “Nghiên cứu và triển khai mạng thông tin Khoa học và Công nghệ tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia nhằm

Trang 8

phục vụ doanh nghiệp” (TS Tạ Bá Hưng, Ths Phan Huy Quế, 2006); Đề tài

“Nghiên cứu kinh nghiệm của Hungary về phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, vận dụng vào Việt Nam” (Lê Du Phong,

GS,TSKH, chủ nhiệm đề tài; Phạm Hồng Chương, TS; Mai Ngọc Cường, GS,TS;

Hồ Hải Yến, ThS Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, 2006); Đề tài “Nghiên cứu đề xuất cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, ĐMCN cho ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển phù hợp với các quy định của WTO” (Đào

Duy Trung, TS (Chủ nhiệm đề tài) , Hà Văn Vui, PGS; Nguyễn Mạnh Tuấn, KS; Lê Xuân Quý, ThS; Và những người khác Viện NC Cơ khí , 2009); Nghị định hợp tác

với Hoa Kỳ: “Nghiên cứu kinh nghiệm Hoa kỳ về xây dựng phương pháp luận phân tích hiện trạng đổi mới và chính sách đổi mới, ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ ĐMCN cho DNNVV Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” (2008-2010), Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Trần Ngọc Ca; Đề tài “Nghiên cứu đổi mới cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước đối với hoạt động KH&CN và hoạt động đổi mới (công nghệ)” (Đặng Duy Thịnh, TS (Chủ nhiệm đề tài), Bùi Thiên Sơn,

PGS,TS; Nguyễn Trọng Thụ, ThS; Nghiêm Thị Minh Hoà, KS; Và những người khác Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, 2009)

Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu nêu trên chủ yếu là đi vào nghiên cứu từng khía cạnh khác nhau trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam đang trên đà hội nhập khu vực và thế giới Tác giả cũng nhận thấy, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu

có tính luận cứ khoa học để giải quyết các vấn đề một cách thấu đáo Những nghiên cứu trên đây chưa đi vào làm rõ công tác thông tin KH&CN hỗ trợ cho DNNVV ĐMCN trong bối cảnh hội nhập Chính vì vậy, tác giả muốn đặt nhiệm vụ nghiên cứu đề tài của mình, từ luận cứ khoa học, nghiên cứu nhu cầu thực tiễn và chọn đối tượng nghiên cứu cụ thể, đó là cộng đồng DNNVV - Một đối tượng đang được xã hội coi trọng, được Nhà nước quan tâm để hoàn thiện chuyên đề nghiên cứu của mình Đây chính là sự khác biệt, tính mới, tính hệ thống, tính logic mà tác giả phải hướng tới

Trang 9

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề xuất định hướng chính sách đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1/ Đối tượng: Công tác thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN

2/ Phạm vi nghiên cứu: Chỉ giới hạn đối tượng DNNVV trong các lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, cơ khí - chế tạo - tự động hoá, chế biến lương thực - thực phẩm, chế biến nông – lâm - thuỷ sản, vật liệu – hoá chất trên địa bàn thành phố Hà Nội,

Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh; thời gian từ năm 2006 đến nay

5 MẪU KHẢO SÁT

Điều tra thực tiễn, lấy ý kiến tại Viện Khoa học Quản trị DNNVV, Hiệp hội DNNVV Việt Nam, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia và tại một số DNNVV ở thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh Hoạt động điều tra này giúp tác giả có thêm nguồn thông tin sát với nhu cầu thực tiễn của cộng đồng DNNVV

6 CÂU HỎI VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Câu hỏi nghiên cứu:

 Thực trạng hoạt động đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN ở nước ta hiện nay ra sao?

 Đề xuất định hướng chính sách gì để đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN có hiệu quả trong hội nhập quốc tế hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu:

- Hệ thống đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN ở nước ta hiện nay còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của DNNVV trong bối cảnh hội nhập hiện nay Để có được luận điểm này, tác giả đã phân tích hiện trạng, những mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và thách thức của hoạt động đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN ở nước ta hiện nay Những phân tích này chủ yếu tập trung vào nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực

Trang 10

- Đề xuất định hướng chính sách ưu tiên: Nhà nước cần ban hành các nhóm chính sách sau:

(1) Chính sách ưu tiên phát triển nguồn lực thông tin KH&CN, cung cấp thông tin KH&CN cho DNNVV ĐMCN; Đầu tư nguồn kinh phí hàng năm để mua nguồn tin công nghệ nước ngoài, những cơ sở dữ liệu (CSDL) về công nghệ ; Chính sách khuyến khích hợp tác trong nước và quốc tế để có thêm nguồn tài trợ về tài liệu (2) Chính sách ưu tiên phát triển nguồn nhân lực thông tin KH&CN có trình

độ cao, phục vụ cho hoạt động thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN; Tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ này thâm nhập vào doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp để hỗ trợ được hiệu quả; Chính sách tăng cường trách nhiệm của đội ngũ chuyên gia đảm bảo thông tin KH&CN cho DNNVV ĐMCN;

(3) Chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo cho các doanh nhân đạt được trình độ nhất định, họ chịu trách nhiệm đầu mối tiếp nhận thông tin KH&CN phục vụ cho ĐMCN của doanh nghiệp

(4) Chính sách ưu tiên phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN phù hợp với nhu cầu của DNNVV

(5) Chính sách ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tin học phục vụ DNNVV; Xây dựng Mạng thông tin KH&CN tầm cỡ quốc gia phục vụ riêng cho DNNVV ĐMCN; Đầu tư mua sắm trang thiết bị máy tính, máy quét, máy chủ phục

vụ xử lý thông tin đầu vào và lưu trữ dữ liệu; Hỗ trợ trang thiết bị đầu cuối để tạo điều kiện cho DNNVV tiếp nhận và khai thác thông tin

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu (thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp thông tin/tài liệu);

- Điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi: thiết kế phiếu điều tra và thực hiện điều tra tại các DNNVV;

- Quan sát, phỏng vấn và trao đổi trực tiếp với chuyên gia;

- Phân tích và tổng hợp

Trang 11

Góp phần vào việc khẳng định vai trò, vị trí và ý nghĩa của thông tin KH&CN

trong hoạt động ĐMCN của DNNVV trong bối cảnh hội nhập quốc tế

- Ý nghĩa thực tiễn:

Góp phần định hướng chính sách đảm bảo thông tin KH&CN phục vụ ĐMCN của các DNNVV tại Việt Nam, giúp họ sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó tiếp tục đẩy mạnh hoạt động thông tin KH&CN phục vụ doanh nghiệp

10 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn còn có các chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Đặc điểm của hoạt động ĐMCN trong DNNVV và thực trạng hệ

thống đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN ở nước ta hiện nay

Chương 3: Định hướng chính sách đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ

DNNVV ĐMCN trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Thông tin, thông tin KH&CN

a Khái niệm thông tin

Thông tin là một thuật ngữ thường xuyên được nhắc tới, bởi nó có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vậy thông tin là gì? Thuật ngữ thông tin (tiếng Anh- Information) có nguồn gốc từ thuật ngữ Latinh- Infomatio, có nghĩa

là diễn giải, thông báo Theo nghĩa thông thường, thông tin được xem như một đối tượng có nội dung, một quá trình trao đổi giữa con người và môi trường để làm dễ dàng cho sự thích nghi của con người Con người tồn tại luôn bị chi phối và chịu sự tác động của thế giới Cũng chính vì vậy, việc nhận thức được thế giới là mục đích quan trọng của con người Thông tin chính là chiếc cầu nối giữa thế giới với con người [11] Thông tin mang tính khách quan, bắt nguồn từ tính đa dạng, nhiều vẻ của cấu trúc cũng như về mối quan hệ của các sư vật hiện tượng trong thế giới khách quan

Thông tin, về bản chất, là một đối tượng trừu tượng, vô hình, được biểu thị qua nội dung của sự vật, được tiếp thu và được sử dụng cho các mục đích khác nhau Viện sỹ A.I Berg và Giáo sư Tcherniak nhận xét: "thông tin không phải là vật chất mà là một phạm trù của tư duy" Tuy nhiên, để tồn tại, thông tin phải được thể hiện trong hình thái vật chất-năng lượng dưới dạng các tín hiệu vật lý như: âm thanh, ánh sáng, điện tử, hoặc các dấu hiệu như: chữ viết, hình ảnh, văn bản, Trong Bách khoa toàn thư của Liên Xô xuất bản lần thứ 3, tập 10 viết “Thông tin là tin tức được truyền đi bởi con người bằng lời nói, chữ viết hoặc các phương tiện khác” Theo từ điển Oxford của Anh, thông tin là “điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến là tri thức, tin tức” Nhiều từ điển khác đồng nhất thông tin với kiến thức “thông tin là điều mà người ta biết” hoặc “thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm hiểu biết của con người” Từ điển Wikipedia cho rằng: Thông tin là

Trang 13

sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội Điều cơ bản là con người thông qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng

Khái niệm thông tin rất đa dạng và nhiều khía cạnh phức tạp giống như bản chất vốn có của thông tin là tính phong phú, đa dạng của nó Căn cứ vào đặc điểm, nội dung của tin tức, có thể chia thông tin thành các loại thông tin kinh tế, thông tin quản lý, thông tin KH&CN, Mỗi loại thông tin đều có đặc trưng riêng, song nhìn chung chúng đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển xã hội Trong Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5453-1991 nêu: “Thông tin là nội dung con người gán cho dữ liệu với các qui ước (ký hiệu) đã biết, được sử dụng trong việc trình bày chúng”

Theo quan điểm của tôi, trong phạm vi lĩnh vực thông tin – thư viện: thông tin

là những dữ liệu đã được xử lý, tổ chức và lưu giữ trên những vật mang tin khác nhau theo mục đích của người sử dụng Nói cách khác, thông tin là kết quả của sự phân tích, tổng hợp và đánh giá dựa trên những dữ liệu sẵn có để phục vụ nhu cầu của người dùng tin

Thông tin được lưu trữ trên nhiều dạng vật liệu khác nhau như được khắc

trên đá, được ghi lại trên giấy, trên bìa, trên băng từ, đĩa từ Nó có thể tồn tại dưới dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh…

b Khái niệm thông tin KH&CN

Căn cứ vào đặc điểm, nội dung của tin tức, có thể chia thông tin thành các loại thông tin kinh tế, thông tin quản lý, thông tin KH&CN, Mỗi loại thông tin đều có đặc trưng riêng, song nhìn chung chúng đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển xã hội

Trong phạm vi luận văn này, khái niệm thông tin KH&CN được hiểu theo định nghĩa tại Khoản 1, Điều 2 Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 quy

định về hoạt động thông tin KH&CN, theo đó: “Thông tin KH&CN là các dữ liệu,

Trang 14

khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội”

Như vậy, thông tin KH&CN là một loại hình thông tin, nó vừa là nguồn lực của phát triển, vừa là của cải và tài sản của xã hội Bước sang thời kỳ hậu công nghiệp, từ những năm 70 của thế kỷ XX, hoạt động thông tin vừa là lĩnh vực hoạt động khoa học, vừa là bộ phận của ngành kinh tế dịch vụ Như vậy, sản phẩm và dịch vụ của ngành thông tin KH&CN là một dạng hàng hóa đặc biệt với đầy đủ các tiêu thức về giá trị và giá trị sử dụng

1.1.2 Các khái niệm công nghệ, ĐMCN, DNNVV

a Khái niệm công nghệ

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, khởi đầu từ Mỹ rồi Tây Âu đã sử dụng thuật ngữ "công nghệ" (technology) để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực, các hoạt động này áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng Hiện nay, thuật ngữ công nghệ được sử dụng rộng rãi nhưng có rất nhiều định nghĩa khác nhau tùy theo từng quan điểm, từng mục đích sử dụng

Theo quan điểm của Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc

(UNIDO): Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp Theo

Ủy ban Kinh tế và Xã hội của khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP), công

nghệ là "Hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ" [20]

Quan điểm luận văn này nhấn mạnh định nghĩa công nghệ của ESCAP, nó có tính bao quát các khía cạnh liên quan đến công nghệ Công nghệ là hệ thống kiến thức, nhấn mạnh bản chất cốt lõi của công nghệ là kiến thức, khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ Công nghệ có khả năng chế biến các nguồn lực thành hàng hóa và dịch vụ, do đó phải đáp ứng được mục tiêu sử dụng và các yêu cầu về kinh tế để được áp dụng trong thực tế Công nghệ là công cụ, phương

Trang 15

tiện, nhấn mạnh đó là sản phẩm của con người và con người có thể làm chủ được nó Công nghệ hàm chứa trong đó các dạng hiện thân của nó như kiến thức, kỹ năng, thiết bị, các hệ thống… do đó công nghệ có thể mua bán được

Ở Việt Nam, từ điển Bách khoa tiếng Việt định nghĩa: “Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào trong thực tế để tạo ra sản phẩm và dịch vụ” Luật KH&CN Việt Nam (2000) định nghĩa: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình,

kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”

Mặc dù việc đưa ra định nghĩa công nghệ lại chưa có sự thống nhất, nguyên nhân là do tính đa dạng của công nghệ, sự đa dạng trong quan điểm của các nhà nghiên cứu và sự phát triển của KH&CN, nhưng nhìn chung, có bốn thành phần cần bao quát trong định nghĩa công nghệ gồm:

- Công nghệ hàm chứa trong các vật thể bao gồm mọi phương tiện vật chất

(Technoware): công cụ, thiết bị, máy móc, vật liệu, phương tiện vật chất… Trong

sản xuất, các vật thể này hợp thành dây chuyền để thực hiện quá trình biến đổi gọi

là dây chuyền công nghệ

- Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người làm việc trong

công nghệ (Humanware) bao gồm mọi năng lực của con người như kỹ năng do học

hỏi, tích lũy được trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm tố chất của con người

như tính sáng tạo, sự nhanh nhẹn, khả năng lãnh đạo, đạo đức lao động…

- Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế, tạo nên hệ khung tổ chức của

công nghệ (Organware): những quy định về trách nhiệm quyền hạn, mối quan hệ,

sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong công nghệ, quy trình đào tạo công nhân, kỹ sư, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần kỹ thuật và phần con người

- Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hóa được sử dụng

trong công nghệ (Inforware): các dữ liệu về phần kỹ thuật, phần con người và phần

tổ chức

Trang 16

Một quá trình sản xuất phải đảm bảo 4 thành phần trên Mỗi thành phần đảm nhiệm những chức năng nhất định Trong đó thành phần trang thiết bị được coi là xương sống, cốt lõi của quá trình hoạt động nhưng nó lại do con người lắp đặt và vận hành Thành phần con người được coi là nhân tố chìa khoá của nhân tố hoạt động sản xuất nhưng lại phải hoạt động theo hướng dẫn do thành phần thông tin cung cấp Thành phần thông tin là cơ sở hướng dẫn người lao động vận hành các máy móc thiết bị và đưa ra các quyết định Thành phần tổ chức có nhiệm vụ liên kêt các thành phần trên, động viên người lao động nâng cao hiệu quả sản xuất

b Khái niệm ĐMCN

ĐMCN là việc thay thế phần quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn ĐMCN có thể chỉ nhằm giải quyết bài toán tối ưu về các thông số của quá trình sản xuất như năng suất, chất lượng, hiệu quả v v (ĐMCN quá trình) hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường (ĐMCN sản phẩm) ĐMCN cũng có thể trên cơ sở đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới chưa có trên thị trường hoặc

là thông qua việc chuyển giao công nghệ.[20]

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): "Hoạt động ĐMCN gồm các khâu liên quan đến khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại, kể

cả đầu tư vào tri thức mới, đã hoặc nhằm đem lại các sản phẩm và quy trình mới/hoàn thiện hơn về mặt công nghệ Nghiên cứu và triển khai chỉ là một trong các hoạt động này và có thể được thực hiện ở các giai đoạn khác nhau của quá trình đổi mới"

Khái niệm này được OECD làm rõ hơn trong tài liệu OSLO: "Đổi mới sản phẩm và quy trình công nghệ bao gồm các sản phẩm và các quy trình mới về công nghệ được thực hiện và các cải tiến công nghệ đáng kể trong các sản phẩm và quy trình Một đổi mới sản phẩm và quy trình công nghệ được thực hiện nếu nó được đưa ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong quy trình sản xuất

Trang 17

(đổi mới quy trình) Đổi mới sản phẩm và quy trình công nghệ bao gồm một loạt các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại" (1).[17]

Định nghĩa của OECD đã chỉ ra được đối tượng quan trọng nhất của ĐMCN là sản phẩm mới (hàng hóa hoặc dịch vụ) và quy trình công nghệ mới (có thể gồm cả thiết bị), đồng thời còn thể hiện được mối liên kết có tính hệ thống giữa các yếu tố tham gia vào hoạt động ĐMCN Theo đó quá trình đổi mới là một quá trình phức tạp và có thể dẫn đến kết quả đổi mới thành công hoặc thất bại

c ĐMCN trong doanh nghiệp

Như chúng ta đã biết, công nghệ là một sản phẩm của con người và nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của sản phẩm Tức là nó được sinh ra, phát triển

và cuối cùng là suy vong Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu không có những hoạt động nhằm ĐMCN thì chắc chắn hệ thống công nghệ, dây chuyền sản xuất, máy móc, trang thiết bị… sẽ trở nên lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, dẫn đến bị đào thải, làm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bị đe doạ Do đó, ĐMCN là tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển Tính tất yếu của ĐMCN còn xuất phát từ các lợi ích khác nhau mà ĐMCN đem laị cho doanh nghiệp cũng như cho toàn xã hội nói chung

ĐMCN sẽ giúp doanh nghiệp, nhà sản xuất cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm, củng cố, duy trì và mở rộng thị phần của sản phẩm; đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao mức

độ an toàn sản xuất cho người và thiết bị, giảm tác động xấu đến môi trường Đặc biệt, về mặt lợi ích thương mại, nhờ đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm được nâng lên rõ rệt

Có thể nói, tiêu chí cơ bản để xem xét sự phát triển của doanh nghiệp là sự chủ động theo đuổi ĐMCN và sản phẩm của doanh nghiệp Có rất nhiều việc cần phải làm để thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện ĐMCN nhưng quan trọng nhất phải giải quyết vấn đề động lực đổi mới của doanh nghiệp nghĩa là doanh nghiệp phải là chủ thể ĐMCN Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn phát triển đều phải chú trọng

Trang 18

tới việc tích lũy kỹ thuật và lựa chọn sử dụng chiến lược nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới

d DNNVV

Khái niệm DNNVV

Muốn hiểu DNVVN là gì trước hết ta cần tìm hiểu thế nào là doanh nghiệp

Theo luật Doanh nghiệp năm 2005: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Các

loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau mà người ta có thể chia doanh nghiệp thành các loại khác nhau trong đó dựa theo quy mô có thể chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn và DNNVV

Không có một khái niệm chung nào thống nhất trên toàn thế giới về DNNVV, cũng như những gì cấu thành nên một DNNVV Các khái niệm và sự phân loại thay đổi tùy theo mỗi nước Tuy nhiên, theo cách chung nhất, phân loại doanh nghiệp phụ thuộc vào số người lao động hoặc số vốn kinh doanh Thông thường thì DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động

Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV định nghĩa như sau: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

Trang 19

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên 200 người đến 300 người

II Công

nghiệp và

xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên 200 người đến 300 người

III Thương

mại và dịch

vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng

từ trên 50 người đến 100 người

Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009

Vị trí và vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế quốc dân

Nhiều nghiên cứu và thực tế đã chỉ ra rằng chính các DNNVV là một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển và đổi mới kinh tế - xã hội Sự xuất hiện của các DNNVV đã thực sự định nghĩa lại những mảng thị trường hoàn toàn mới, khởi đầu cho những làn sóng sáng tạo - đổi mới không ngừng không chỉ cho quốc gia mà cả thế giới

Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các DNNVV có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau:

Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: DNNVV thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp

có đăng ký thì tỷ lệ này là khoảng 97%) Vì thế, đóng góp của họ vào GDP và tạo việc làm là rất đáng kể, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội

Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, DNNVV được ví là

Trang 20

Làm cho nền kinh tế năng động: vì DNNVV có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động

Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: DNNVV thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh

Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ

sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương

Quan điểm của Chính phủ Việt Nam về phát triển các DNNVV

Để hỗ trợ DNNVV phát triển, Chính phủ đã thực hiện những chính sách ưu đãi nhằm tạo điều kiện cho các doang nghiệp phát triển Nhằm tiếp tục khuyến khích, trợ giúp phát triển DNNVV đáp ứng các yêu cầu mới về hội nhập và phát triển, ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP

về trợ giúp phát triển DNNVV thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV Theo đó, khối doanh nghiệp này được sự hỗ trợ từ tài chính, thông tin, đào tạo nhân lực đến chính sách hỗ trợ để sử dụng khoa học công nghệ Sau đó, tháng 5/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 22/NQ-CP triển khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP,

hỗ trợ cho các DNNVV phát huy mọi khả năng và nguồn lực đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh

1.2 Vai trò của thông tin KH&CN đối với hoạt động ĐMCN của DNNVV trong bối cảnh hội nhập quốc tế

1.2.1 Khái quát về vai trò của thông tin KH&CN đối với hoạt động

ĐMCN của DNNVV trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Do quy mô sản xuất kinh doanh của các DNNVV Việt Nam là rất nhỏ bé, ít chú ý đến ĐMCN nên khả năng cạnh tranh rất kém trong bối cảnh hội nhập quốc tế Việc ĐMCN của các DNNVV là cấp thiết nhưng còn rất nhiều khó khăn như thiếu vốn, thiếu thông tin công nghệ và thông tin thị trường Tuy nhiên, để đứng vững và

Trang 21

có những sản phẩm cạnh tranh được trên thị trường thì DNNVV vẫn phải quan tâm đến thông tin công nghệ mới, thiết bị mới hoặc để ĐMCN, hoặc để nghiên cứu cải tiến từng bộ phận của thiết bị, dây chuyền sản xuất nhằm đổi mới sản phẩm về mẫu

mã, chất lượng, giá thành,… Trường hợp muốn phát triển một loại sản phẩm mới, doanh nghiệp cần phải tiến hành những bước đi cơ bản sau:

+ Cần thiết phải thu thập những thông tin liên quan đến sản phẩm mới, bao gồm công nghệ, thiết bị sản xuất ra sản phẩm, tiềm năng công nghệ, thiết bị và thông tin thị trường, giá cả trong nước và nước ngoài về sản phẩm;

+ Nghiên cứu những luận chứng khả thi về kinh tế-kỹ thuật khi phát triển loại sản phẩm mới;

+ Nghiên cứu và thiết kế ra sản phẩm mẫu;

+ Sản xuất thử nghiệm;

+ Đưa ra thị trường tiêu thụ và thăm dò ý kiến khách hàng, khảo sát tiềm năng thị trường;

+ Hoàn thiện sản phẩm về mẫu mã, chất lượng, giá cả,… phù hợp thị trường

và thị hiếu của người tiêu dùng;

+ Lập kế hoạch sản xuất quy mô lớn và phương thức tiêu thụ sản phẩm

Như vậy, trong từng bước tiến hành, doanh nghiệp đều phải quan tâm tìm kiếm thu thập những thông tin liên quan, đặc biệt là những thông tin về công nghệ mới, thiết bị mới, kết quả nghiên cứu triển khai, các bản catalo công nghiệp, các bản thiết kế, mẫu mã sản phẩm Với tiềm lực có hạn, các DNNVV có thể nhận được các thông tin này từ sự hỗ trợ của các cơ quan thông tin của Nhà nước, cơ quan thông tin chuyên ngành và tổng hợp

Thông tin KH&CN có thể được coi là nền tảng, là tiềm lực cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Việc Việt Nam gia nhập WTO còn đặt DNNVV vào cuộc cạnh tranh rất gay gắt với các doanh nghiệp nước ngoài Để tồn tại, doanh nghiệp cần phải coi trọng thông tin KH&CN để kịp thời ĐMCN nhằm nâng cao sức cạnh tranh

Hiện nay, nếu chỉ dựa vào thông tin theo chế độ báo cáo thống kê nhà nước, thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, doanh nghiệp sẽ không có đủ thông tin KH&CN, thông tin thị trường phục vụ sản xuất kinh doanh của mình

Trang 22

Doanh nghiệp cần phải chủ động thu thập, xử lý thông tin cho đơn vị mình một cách bài bản, coi thông tin là một bộ phận cấu thành trong tổ chức sản xuất kinh doanh Đây là việc mới và khó nhưng không có cách nào khác, nếu không làm tốt thông tin nói chung và thông tin KH&CN và thị trường nói riêng, doanh nghiệp còn phải gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh và hội nhập thị trường quốc tế

Nhu cầu thông tin trong doanh nghiệp là rất lớn, đa dạng và cũng chuyên sâu, chi tiết cụ thể cho từng lĩnh vực chuyên môn Thí dụ: trong trường hợp doanh nghiệp cần thông tin về một công nghệ mới, thiết bị mới thì họ có nhu cầu được cung cấp đầy đủ các tài liệu mô tả kỹ thuật chi tiết về công nghệ, thiết bị đó, bao gồm cả bản thiết kế chi tiết, các thông số kỹ thuật cụ thể

Tại các nước công nghiệp phát triển, để tồn tại và giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh quyết liệt trên thương trường, các doanh nghiệp lớn có tiềm lực đều phải

tự mình tổ chức và tăng cường công tác thu thập và nắm bắt mọi thông tin liên quan đến mọi mặt hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp mình, đặc biệt là những thông tin về công nghệ phải đi trước một bước Nhiều cơ quan, doanh nghiệp còn có tình báo công nghệ Các Hãng lớn của các nước phát triển đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ và thông tin công nghệ Thí dụ như Hãng SIEMENS của CHLB Đức đã thuê trên 500 người chỉ để thu thập, theo dõi thông tin về các sáng chế của các công ty nước ngoài liên quan đến các sản phẩm mà Hãng quan tâm Hãng Philips của Hà Lan đã thuê khoảng 250 người cũng chỉ để làm công việc này Ở Nhật Bản có khoảng 120 công ty tư nhân chuyên chào hàng các CSDL về thị trường trong nước Cùng với việc tăng cường năng lực nghiên cứu

và triển khai để tạo ra các công nghệ mới, các công nghệ mang tính đột phá, các doanh nghiệp đầu tư ngày càng nhiều vào khâu thu thập, xử lý thông tin công nghệ hiện có để nắm bắt những gì mà họ không thể tự làm được hoặc có thể tự làm được nhưng kém hiệu quả do phải đầu tư quá lớn lại mất nhiều thời gian cho việc nghiên cứu và thiết kế ra một loại sản phẩm mới mà không mang lại giá cả cạnh tranh Do vậy, thông tin công nghệ đối với các doanh nghiệp ở các nước phát triển đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng, một bộ phận hữu cơ không thể thiếu được trong cơ chế đổi mới của các doanh nghiệp, giúp cho các doanh nghiệp duy trì được khả năng và tăng cường năng lực cạnh tranh cũng như có thể đón đầu các xu hướng phát triển công nghệ để tránh bị tụt hậu

Trang 23

Thông tin công nghệ là một yếu tố hết sức quan trọng giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thực thi ĐMCN Khi nhu cầu ĐMCN của doanh nghiệp tăng cao ắt sẽ hình thành một thị trường công nghệ lớn cho các nhà công nghệ, các cơ quan dịch vụ thông tin KH&CN Tuy vậy, để cho thị trường công nghệ hoạt động náo nhiệt và hiệu quả hơn, vai trò của thông tin KH&CN đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV là vô cùng cần thiết, bởi vì thông tin hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp trong việc tìm kiếm nguồn công nghệ tin cậy, nhanh, chính xác, phù hợp giúp các doanh nghiệp có cơ hội cập nhật, lựa chọn và xác lập phương án ĐMCN tốt nhất

1.2.2 Thông tin KH&CN là nguyên liệu cho hoạt động ĐMCN

Thông tin KH&CN là nguyên liệu chủ yếu để những người thực hiện hoạt động ĐMCN làm nhiệm vụ của mình

ĐMCN là bộ phận quan trọng của hoạt động KH&CN, cũng là bộ phận sáng

tạo ra cái mới trong hoạt động KH&CN Sự phát triển của nó, ngoài qui luật về vận động tự thân, còn có quan hệ mật thiết với điều kiện hoàn cảnh bên ngoài tác động

Có thể hệ thống hóa hoạt động ĐMCN gồm 4 yếu tố hợp thành: đầu vào, quá trình hoạt động ĐMCN, đầu ra, và các tác động trở lại đối với quá trình hoạt động

Thông tin KH&CN là đầu vào và là điều kiện tất yếu để ĐMCN hoạt động, là

sự đảm bảo cơ bản, quyết định cho mục tiêu ĐMCN Có 4 yếu tố cơ bản của đầu vào ĐMCN:

- Nhân lực: người thực hiện ĐMCN, làm nghiên cứu công nghệ, kỹ thuật, công trình, người làm công tác quản lý ĐMCN và người phục vụ cho hoạt động đó

- Tài lực: kinh phí để ĐMCN (lương, tiền mua tài liệu, trang thiết bị máy móc, v.v…)

- Vật lực: địa điểm, trang thiết bị thực nghiệm và các loại nguyên vật liệu cho hoạt động ĐMCN

- Tin lực: các tài liệu quy hoạch, kế hoạch yêu cầu, đường lối kỹ thuật, phương

án thực thi, sách, báo, tài liệu hội nghị, hội thảo, các báo cáo kết quả nghiên cứu, đề tài nghiên cứu khoa học, các tài liệu sáng chế, văn kiện, thông tin các cấp, hồ sơ kỹ thuật, tư liệu kỹ thuật, v.v…

Cả 4 yếu tố trên đều rất quan trọng và cần thiết cho ĐMCN, không thể nói yếu

tố nào cần hơn, bởi mỗi yếu tố đều có vai trò đặc thù đảm bảo cho sự tồn tại và phát

Trang 24

nguyên liệu cho nhà máy hoạt động, sản xuất), mà đối với hoạt động ĐMCN, đó chính là thông tin KH&CN Có thể nói, thông tin KH&CN là nguyên liệu cho ĐMCN hoạt động, nó cũng là đầu vào của ĐMCN Một đơn vị ĐMCN, cho dù đã

có nhân lực, tài lực, vật lực hùng hậu, nhưng nếu không có thông tin thì hoạt động ĐMCN của đơn vị đó sẽ kém hiệu quả

1.2.3 Thông tin KH&CN là sản phẩm của hoạt động ĐMCN

Thông tin KH&CN cũng là yếu tố đầu ra của hoạt động ĐMCN, thông qua những thành quả KH&CN Thành quả KH&CN có đóng góp trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp đến sự phát triển kinh tế-xã hội Hình thái biểu hiện của thành quả đó gồm hai loại: "tri thức" và "hiện vật" Ở đây, "tri thức" chứa đựng trong các vật mang là sách, báo, tạp chí, tài liệu hội nghị, hội thảo, các báo cáo kết quả nghiên cứu, kết quả đề tài, luận văn, đồ án thiết kế, thống kê số liệu, tài liệu sáng chế, v.v…; "hiện vật" bao gồm mô hình, máy mẫu, sản phẩm sản xuất thử, công nghệ mới, v.v… Như vậy có thể thấy, yếu tố đầu ra của ĐMCN cũng là thông tin, hay nói cách khác, một phần sản phẩm của ĐMCN cũng là thông tin

Thông tin có mối liên hệ ngược trong hoạt động của ĐMCN

Về thực chất, hoạt động ĐMCN nói chung hay nghiên cứu và triển khai (NC&TK) nói riêng là một quá trình chuyển hóa có nhiều cấp độ Nó vừa là quá trình không ngừng hình thành các thành quả KH&CN; vừa là quá trình không ngừng tiếp thu, đưa các thành quả KH&CN vào thực tiễn sản xuất và đời sống Sản phẩm của ĐMCN hay NC&TK một mặt được áp dụng vào thực tiễn, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, mặt khác nó lại quay trở lại là nguyên liệu đầu vào cho ĐMCN hay NC&TK, để hoạt động NC&TK, ĐMCN tiếp tục hoạt động và phát triển cao hơn Sản phẩm của NC&TK, ĐMCN khi áp dụng vào thực tiễn cũng sẽ nhận được thông tin phản hồi về chất lượng sản phẩm, về giá trị sử dụng, v.v… Thông tin phản hồi cũng là yếu tố quan trọng cho hoạt động ĐMCN, nhất là trong cơ chế kinh tế thị trường, ĐMCN phải luôn lắng nghe mọi phản ứng từ người sử dụng, bởi vì đó chính

là yếu tố giúp cho ĐMCN hoạt động đúng hướng và có hiệu quả cao

Qua việc hệ thống hóa hoạt động ĐMCN, có thể thấy thông tin KH&CN là một nhu cầu rất cần thiết trong toàn bộ quá trình hoạt động của ĐMCN Thông tin

là yếu tố đầu vào, là sản phẩm đầu ra, là hiệu ứng thông tin phản hồi để ĐMCN hoạt

Trang 25

động ĐMCN có diễn ra tốt hay không, sản phẩm của nó có chất lượng và áp dụng hiệu quả vào thực tiễn hay không là nhờ rất lớn vào hiệu quả phục vụ thông tin, hay nói cách khác, ĐMCN có thực hiện được hay không phụ thuộc rất nhiều vào thông tin KH&CN

1.2.4 Nội dung thông tin KH&CN phục vụ hoạt động ĐMCN của

DNNVV trong bối cảnh hội nhập

Nội dung thông tin KH&CN phục vụ hoạt động ĐMCN của DNNVV trong bối cảnh hội nhập rất đa dạng, từ thông tin về công nghệ và thiết bị, phần cứng, phần mềm công nghệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ, thông tin về

cơ chế chính sách đến thông tin về tư vấn, dịch vụ KH&CN, thị trường KH&CN;

từ thông tin KH&CN trong nước đến thông tin KH&CN nước ngoài

Thông tin KH&CN là nguyên liệu chủ yếu để những người thực hiện hoạt động ĐMCN làm nhiệm vụ của mình Tất cả các thông tin thuộc lĩnh vực KH&CN đều cần thiết cho hoạt động ĐMCN, tất nhiên tùy từng đối tượng, ở những thời điểm khác nhau, nội dung thông tin có thể đi sâu hơn vào từng lĩnh vực cụ thể

+ Thông tin về công nghệ và thiết bị

Nhu cầu thông tin công nghệ và thiết bị thường đi liền với nhu cầu ĐMCN của doanh nghiệp Hiện nay ĐMCN ở Việt Nam nhìn chung yếu kém và chậm so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế và so với mức độ đầu tư quốc tế Trong 3 giai đoạn của phát triển công nghệ là tiếp thu công nghệ, làm chủ công nghệ và sáng tạo công nghệ, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ dừng ở giai đoạn tiếp thu công nghệ một cách thụ động thông qua nhập khẩu máy móc và thiết bị và vì thế thông tin về công nghệ và thiết bị nước ngoài là rất quan trọng đối với họ

Ngoài thông tin về công nghệ, thiết bị nước ngoài, doanh nghiệp còn có nhu cầu thông tin về công nghệ, thiết bị trong nước tự phát triển, liên kết phát triển hoặc

từ các nguồn cung trong nước khác Một kênh thông tin quan trọng về công nghệ và thiết bị là việc tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) Qua các phiên chợ này cho thấy, số lượng doanh nghiệp quan tâm tới công nghệ và thiết bị trong nước ngày càng nhiều

Trang 26

Thực tế, doanh nghiệp khi tìm kiếm thông tin công nghệ và thiết bị thường đặt

ra những câu hỏi rất cụ thể Đặc biệt, ngoài thông tin về kỹ thuật, doanh nghiệp còn yêu cầu những thông tin mang tính thương mại như tính phổ biến của công nghệ (đã được dùng ở đâu, ai dùng, hiệu quả ra sao), về yêu cầu nguyên liệu, về điều kiện bảo hành, bảo dưỡng, về giá cả, về vận chuyển, lắp đặt, v.v… Không những thế, doanh nghiệp có thể còn yêu cầu thông tin về một số nhà cung cấp khác nhau để có nhiều cơ hội so sánh, lựa chọn công nghệ thích hợp với khả năng đầu tư của mình

Họ có thể hỏi xem có bớt được cái này, cái nọ, hay thay thế loại nguyên liệu này bằng loại nguyên liệu khác không Tóm lại, yêu cầu thông tin của doanh nghiệp rất chi tiết, cụ thể, gắn liền với những vấn đề trong lĩnh vực của họ

Cách tiếp cận tới công nghệ, thiết bị mới có thể khác nhau, song doanh nghiệp nào cũng cần phải có thông tin về công nghệ đó một cách đầy đủ, chính xác

+ Thông tin thị trường công nghệ: đó là thông tin về các giao dịch mua bán,

trao đổi một loại hàng hoá đặc biệt là sản phẩm và dịch vụ KH&CN, thông tin về bên cung, bên cầu công nghệ, môi giới công nghệ Đó là tổng hoà các mối quan hệ mua bán, trao đổi, môi giới, giám định, khiếu kiện giữa các bên giao dịch; là

được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

+ Thông tin về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng

Là bộ phận của thông tin KH&CN, thông tin về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng (TCĐLCL) gắn rất chặt với hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội, góp phần làm cho nhiều hoạt động xã hội đi vào nền nếp, kỷ cương, bảo vệ quyền

và lợi ích chính đáng của công dân Thông qua việc cung cấp cho các nhà sản xuất

và cung ứng dịch vụ những thông tin mới nhất, chính xác nhất về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, hoạt động thông tin chuyên dạng này góp phần quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế

Thông tin TCĐLCL đóng góp phần đáng kể vào toàn bộ tiến trình sản kinh doanh, thể hiện ở những khía cạnh: Cung cấp các chứng cứ khoa học để thiết lập công nghệ quản lý chất lượng hiệu quả tại cơ sở; Cung cấp cơ sở khoa học để thiết lập các đặc tính, tính năng kỹ thuật, các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng; Cung cấp phương pháp, phương tiện kiểm

Trang 27

xuất-soát và đảm bảo chất lượng trong quá trình sản xuất; Cung cấp thông tin về những yêu cầu đặc biệt liên quan đến an tòan, vệ sinh và bảo vệ môi trường

Có thể nói, thông tin TCĐLCL cung cấp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh những cơ sở khoa học để tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với mức chất lượng, chi phí hợp lý nhất để có thể thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường

+ Thông tin về sở hữu trí tuệ

Nền kinh tế nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế và việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO làm cho vấn đề sở hữu trí tuệ (SHTT) trở nên đặc biệt quan trọng và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trong các quan hệ thương mại quốc

tế Chưa bao giờ vấn đề bảo hộ SHTT lại được đặt ra một cách gay gắt và cấp bách như hiện nay khi nền kinh tế thế giới chuyển sang thời kỳ mới thay đổi về chất - nền kinh tế dựa trên tri thức Thông tin về SHTT liên quan đến một số dạng quyền SHTT được luật pháp Việt Nam quy định bảo hộ như sau: Sáng chế và giải pháp hữu ích; Kiểu dáng công nghiệp; Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; Bí mật kinh doanh; Nhãn hiệu hàng hóa; Chỉ dẫn địa lý; và Tên thương mại

- Thông tin về tư vấn và dịch vụ KH&CN

Tư vấn là yếu tố hạ tầng không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng có vai trò xúc tiến, hướng dẫn quan trọng Dịch vụ tư vấn phát triển sẽ góp phần tạo ra môi trường lành mạnh cho các hoạt động sản xuất-kinh doanh, đầu tư và phát triển công nghệ Dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn

Cùng với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới khi Việt Nam đã gia nhập WTO, dịch vụ tư vấn trở thành một trong những dịch vụ quan trọng

- Thông tin về cơ chế, chính sách và các chương trình hỗ trợ

Nhóm thông tin này bao gồm thông tin về các vấn đề đảm bảo pháp lý không chỉ cho hoạt động sản xuất-kinh doanh nói chung của doanh nghiệp mà còn cho mỗi sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp Đó là các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách của Chính phủ điều chỉnh hoạt động sản xuất-kinh doanh trong phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế; là các quy định về cơ chế, chính sách khuyến khích, luật

Trang 28

pháp sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, vệ sinh môi trường đối với mỗi sản phẩm, v.v…

- Thông tin kinh tế

Đó là thông tin về tình hình, dự báo xu hướng phát triển kinh tế, thông tin về giá cả thị trường, cạnh tranh hàng hóa về những mặt hàng sản phẩm công nghệ trong nước và trên thế giới, v.v… đây cũng là nội dung rất cần thiết cho hoạt động ĐMCN, vì sản phẩm của ĐMCN phải phù hợp với nhu cầu thực tiễn, với sức "cầu" của xã hội, nếu không quan tâm đến thông tin này, các đơn vị ĐMCN sẽ có thể mất nhiều công sức, tiền của để sản xuất ra một loại sản phẩm mà nó đã được một đơn

vị khác ở trong hoặc ngoài nước tung ra thị trường với chất lượng tốt hơn và giá rẻ hơn, hoặc không có thông tin về giá cả các sản phẩm công nghệ của các hãng trên thế giới, chúng ta có thể lại quyết định mua một dây chuyền công nghệ vừa lỗi thời vừa đắt tiền, v.v… do đó thông tin kinh tế chính là để hoạt động của ĐMCN đi đúng hướng, phát huy tốt nhất hiệu quả của mình và tránh được những sai lầm đáng tiếc

1.3 Cơ sở đảm bảo thông tin KH&CN phục vụ DNNVV ĐMCN

Thông tin KH&CN có vai trò quan trọng đối với hoạt động ĐMCN, để hoạt động ĐMCN có hiệu quả, phải có hệ thống đảm bảo thông tin KH&CN, đó là ngân hàng dữ liệu, hệ thống tra cứu tìm tin, hệ thống dịch vụ thông tin, cơ sở vật chất kỹ thuật và con người

1.3.1 Nguồn lực thông tin/tin lực

Nói đến nguồn lực thông tin/tin lực trước hết đó là các ngân hàng dữ liệu Khái niệm này mới có khi công nghệ thông tin phát triển và được ứng dụng vào các lĩnh vực hoạt động của xã hội Trong lĩnh vực thông tin-thư viện đó là các cơ sở dữ liệu (CSDL), các ấn phẩm thông tin, các bộ đĩa CD-ROM chứa các thông tin về KH&CN và tin tức KH&CN

- CSDL: là các tư liệu KH&CN đã được số hóa, đưa vào máy tính dưới nhiều dạng khác nhau như CSDL thư mục (mô tả tài liệu), CSDL dữ kiện (nêu một sự kiện cụ thể), CSDL toàn văn (nêu toàn bộ nội dung tài liệu), CSDL về các sáng chế, tiêu chuẩn, CSDL về hình ảnh (sơ đồ, bản đồ), v.v…

- Ấn phẩm thông tin: là các bản tin, các báo, các tạp chí KH&CN trong nước,

Trang 29

các tài liệu dưới dạng tổng luận… được đưa toàn văn vào mạng máy tính

- Đĩa CD-ROM: chứa các dữ liệu thông tin về KH&CN (có thể là thông tin thư mục hoặc thông tin toàn văn), được các cơ sở sản xuất mà ta có thể mua và chạy trong mạng để khai thác và sử dụng

- Các tin tức KH&CN: được cập nhật hàng ngày và có thể thay đổi (xóa thông tin cũ) vì tính thời sự của nó

1.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở vật chất kỹ thuật ở đây là cơ sở hạ tầng kỹ thuật tin học (hệ thống máy tính, đường truyền, các giải pháp quản trị ) là yếu tố quan trọng, quyết định đến thành công, hiệu quả của hoạt động thông tin KH&CN phục vụ cho ĐMCN

Để có hệ thống thông tin đảm bảo phục vụ tốt, hệ thống mạng máy tính phải mạnh để chuyển tải thông tin thông suốt, phải có đủ trang thiết bị máy móc, kỹ thuật

để cán bộ thông tin làm việc cũng như khách hàng tra cứu trên máy, truy cập vào mạng một cách dễ dàng và thuận tiện

Ngoài ra phải xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin hiệu quả Trước đây là công

cụ truyền thống trong hoạt động phục vụ tra cứu tìm tin ở các cơ quan thông tin-thư viện, đó là các hộp phiếu tra tìm sách, tạp chí, các loại ấn phẩm (sách, tạp chí, bảng, biểu…) để tra cứu, v.v… Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT), việc tra cứu tìm tin trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn rất nhiều Tin học hóa đã được thực hiện phổ biến ở các cơ quan thông tin, vì vậy, hệ thống tra cứu tìm tin còn gồm các thiết bị máy tính để bạn đọc có thể tra cứu với những ưu thế hơn hẳn như nhanh chóng hơn, chất lượng hơn, thuận tiện hơn

1.3.3 Nhân lực thông tin KH&CN

Đội ngũ này phải có trình độ, phục vụ cho hoạt động thu thập, xử lý, phân tích, cung cấp, phổ biến thông tin KH&CN

Con người luôn là yếu tố quyết định đến mọi hoạt động của xã hội, trong lĩnh vực thông tin KH&CN cũng không phải là ngoại lệ, thậm chí nó còn đòi hỏi nguồn nhân lực ở trình độ cao hơn Chất lượng cán bộ thông tin sẽ quyết định chất lượng phục vụ thông tin Xã hội thông tin hiện đại càng đòi hỏi năng lực, trình độ cán bộ thông tin hơn bao giờ hết, cán bộ thông tin ngày nay không chỉ cần giỏi chuyên môn

Trang 30

có như vậy mới đảm đương được việc xây dựng ngân hàng dữ liệu có chất lượng, kết nối và khai thác mạng thông tin quốc gia, khu vực và quốc tế v.v… nhằm đáp ứng cao nhất nhu cầu thông tin cho hoạt động ĐMCN

1.3.4 Các dịch vụ thông tin KH&CN

Dịch vụ thông tin KH&CN là một loại hình dịch vụ KH&CN bao gồm dịch vụ thông tin công ích và dịch vụ thông tin có thu Dịch vụ thông tin công ích được cung cấp miễn phí hoặc mức phí thấp do ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần Dịch

vụ thông tin có thu được cung cấp theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân thông qua hợp đồng dịch vụ thông tin KH&CN

Theo Nghị định 159/2004/NĐ-CP về hoạt động thông tin KH&CN, dịch vụ thông tin KH&CN được tiến hành dưới các hình thức sau đây:

a) Phổ biến thông tin chọn lọc;

b) Cung cấp tài liệu phân tích, tổng hợp thông tin KH&CN theo chuyên đề; c) Cung cấp bản sao, bản dịch tài liệu, dữ liệu về KH&CN;

d) Tra cứu và cung cấp thông tin KH&CN trên mạng;

đ) Tổ chức triển lãm, chợ công nghệ và thiết bị;

tế tri thức là nền kinh tế số, nền kinh tế mạng, nền kinh tế internet, v.v…

Trang 31

Đặc điểm của hoạt động thông tin KH&CN trong giai đoạn hiện tại là tăng cường kết hợp ngày càng chặt chẽ; giữa hoạt động thông tin KH&CN với hoạt động thư viện và hướng tới xây dựng các thư viện điện tử; giữa thông tin KH&CN với thông tin kinh tế, thông tin thị trường, thông tin thống kê; giữa hoạt động thông tin KH&CN với thông tin đại chúng; giữa hoạt động thông tin KH&CN với tin học và viễn thông

Đi cùng với sự hình thành xã hội thông tin toàn cầu là những khái niệm như

"Cơ sở hạ tầng thông tin", "Siêu lộ thông tin" mang tính quốc gia và quốc tế mà chính phủ của bất kỳ nước nào, nếu muốn đưa đất nước phát triển, hội nhập đều phải coi đó là những vấn đề quốc sách hàng đầu Cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia là một mạng các mạng thông tin hiện đại có khả năng đặt vào tầm tay người sử dụng những lượng thông tin khổng lồ dưới mọi dạng của chúng

Cùng với sự phát triển của xã hội thông tin, thông tin cho ĐMCN có những

đặc điểm mới khác hẳn giai đoạn trước:

- Thông tin mang tính toàn cầu, xóa bỏ khoảng cách về không gian và thời gian Sự hội nhập quốc tế, cạnh tranh quốc tế làm cho thông tin trở thành tài sản chung của nhân loại, mọi người nếu có nhu cầu thông tin đều dễ dàng truy nhập vào các kho thông tin cần thiết cho mình, các mạng thông tin KH&CN quốc gia và quốc

tế, thư viện điện tử cho phép truy cập thông tin một cách nhanh nhất, bất kể lúc nào

và ở đâu

- Thông tin mang tính toàn diện, liên ngành và tổng hợp bởi nhu cầu gắn kết ngày một tăng giữa khoa học, công nghệ và kinh tế, bởi xu thế xuất hiện và phát triển các ngành khoa học và các lĩnh vực công nghệ tại phần giao nhau của các ngành hay các lĩnh vực cụ thể Sự phát triển KH&CN cũng gắn liền với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thông tin cho hoạt động ĐMCN cũng không thể tách khỏi những thông tin thuộc các lĩnh vực liên quan, đặc biệt là kinh tế

- Thông tin đã thay đổi cả lượng và chất:

+ Lượng: đó là một khối lượng thông tin đồ sộ, đề cập đến mọi lĩnh vực KH&CN, công nghiệp mà thông tin giai đoạn trước không thể có được Việc số hóa các tài liệu cho phép có lượng thông tin vô cùng to lớn mà không ảnh hưởng đến vấn đề kho tàng, bảo quản Không một cơ quan thông tin-thư viện nào có đủ khả năng xây dựng tiềm lực thông tin đầy đủ, toàn diện cho riêng mình, nhưng việc phát

Trang 32

triển mạng quốc gia, khu vực và quốc tế cho phép người dùng tin được tìm kiếm, lựa chọn bất kỳ thông tin nào cần thiết cho mình mà không bị hạn chế bởi số lượng + Chất: chất lượng thông tin đã phát triển vượt bậc, vừa đi vào chiều sâu, vừa bao quát được trên diện rất rộng, đảm bảo tính khách quan, chính xác, đầy đủ và kịp thời Việc phát triển công nghệ thông tin cho phép tìm kiếm nhanh chóng, đầy đủ, chính xác nhiều thông tin một lúc mà nếu ở giai đoạn trước thì không thể làm được

1.4.2 Kinh nghiệm của các cơ quan thông tin, mạng thông tin KH&CN phục vụ doanh nghiệp ĐMCN ở một số nước

Cổng giao dịch công nghệ toàn cầu Nam – Nam (South – South Global Asset and Technology Exchanges, gọi tắt là SS-GATE)

SS-Gate hoạt động theo hướng cung cấp một sàn giao dịch công nghệ bền vững và toàn cầu tại địa chỉ website: www.ss-gate.org Mục đích là hỗ trợ các DNNVV trong việc giao dịch công nghệ và vốn đầu tư, kết nối cung-cầu công nghệ tại các nước đang phát triển, liên kết các nhà đầu tư và nguồn vốn với các doanh nghiệp cần vốn Thông qua SS-GATE, các doanh nghiệp và người dùng được cung cấp thông tin và dịch vụ công nghệ, cùng các thông tin về giá cả thị trường, giao dịch và đào tạo trong lĩnh vực liên quan Cục Thông tin KH&CN Quốc gia đã được

Bộ KH&CN giao làm đầu mối của SS-GATE tại Việt Nam

Việc tham gia trực tiếp, tích cực vào SS-GATE là một trong những kênh, công

cụ quan trọng để Việt Nam thực hiện chủ trương của Chính phủ về phát triển thị trường công nghệ, đặc biệt thúc đẩy giao dịch công nghệ, kết nối cung-cầu công nghệ trong và ngoài nước

SS-GATE mở rộng triển khai đối với tất cả các nước có nhu cầu tham gia và đáp ứng được các yêu cầu do SS-GATE đề ra Trong giai đoạn từ tháng 7/2007 đến

712008 được triển khai ở 7 nước: Trung Quốc, Malaysia, Nigeria, Pakistan, Tanzania, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ Giai đoạn 2, từ tháng 7/2008 – 712009, triển khai thêm ở 9 nước: Bahrain, Cameroon, Ai Cập, Ghana, Mozambique, Ả Rập Xê

út, Nam Phi, Uganda và Việt Nam

Dựa trên kết quả thực hiện và nhu cầu thực tế của các nước thành viên, GATE có thể xem xét để hỗ trợ các nước thành viên xây dựng sàn giao dịch tương

SS-tự hệ thống SS-GATE với ngôn ngữ bản địa

Ở nước ta, mục tiêu của SS - GATE là xây dựng nhóm thực hiện dự án GATE (Workstation) của Việt Nam nhằm đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tiên tiến của nước ngoài vào Việt Nam; Thúc đẩy việc giới thiệu các công nghệ trong

Trang 33

SS-nước có thể chuyển giao ra SS-nước ngoài và tạo lập kênh thông tin hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được với các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước; Xây dựng năng lực cho SS – GATE Workstation Việt Nam; Thiết lập một mô hình làm việc trực tuyến và trực tiếp trên sàn giao dịch công nghệ, giúp các DNNVV tìm thấy đối tác thích hợp qua các sàn giao dịch công nghệ của các nước thành viên

Trung tâm thông tin DNNVV ảo Hồng Kông

Trung tâm Thông tin DNNVV ảo Hồng Kông (http://www.sme.gcn.gov.hk) bắt đầu hoạt động từ năm 1995 Website cung cấp nhiều thông tin và được phân chia dưới nhiều tiêu đề khác nhau:

- Sự kiện là thông tin nổi bật của Website giới thiệu các sự kiện như hội nghị, hội thảo, diễn đàn, hội chợ và đặc biệt là các khoá đào tạo phục vụ doanh nghiệp Website có công cụ cho phép doanh nghiệp có thể đăng ký tham gia trực tuyến các

sự kiện do Trung tâm trực tiếp tổ chức

- Hướng dẫn kinh doanh tại Hồng Kông: Doanh nghiệp nước ngòai có thể tìm hiểu được môi trường kinh doanh tại Hồng Kông Doanh nghiệp được cung cấp các thông tin về cơ chế, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp muốn đầu tư vào Hồng Kông

- Kết nối với chuyên gia tư vấn: Doanh nghiệp có thể đăng ký trực tuyến để được tư vấn về nhiều lĩnh vực như, thành lập doanh nghiệp, tài chính, chiến lược quản lý doanh nghiệp, marketing, quản lý tín dụng, pháp luật, nguồn nhân lực, bảo

hộ sáng chế, kiểm tra sản phẩm, công nghệ thông tin, công nghệ sản xuất, chứng chỉ ISO…

- Thông tin hữu ích: Có đường link tới website tìm kiếm thông tin sáng chế và nhãn hiệu hàng hóa Có các đường link trực tiếp tới các đối tác của Trung tâm hoạt động trong các lĩnh vực như: tư vấn doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực, tài chính, quản lý chất lượng, quản lý môi trường, thống kê thông tin đấu thầu, chỉ dẫn nguồn công nghệ Hồng Kông…

Mạng thông tin STN INTERNATIONAL (The Scientific & Technical Information Netwwork)

STN International là Mạng Thông tin KH&CN Quốc tế, một trung tâm dịch vụ

Trang 34

STN International là trung tâm cung cấp thông tin KH&CN cho các nhà ra quyết định, các nhà NC&TK, các nhà doanh nghiệp, v.v… trên toàn thế giới Đặc biệt, STN Internetional là nhà cung cấp thông tin sáng chế quốc tế (nhất là các sáng chế của Mỹ, châu Âu, Nhật Bản) Các CSDL sáng chế của STN bao gồm: Perwent Worrld Patents Index, Derwent Patents Citation Index, DGENE, DRUGPAT, PATOS, INPADOC, PATDPA, và EUROPATFULL sáng chế của Châu Âu (toàn văn), USPATFULL sáng chế của Mỹ (toàn văn)

STN International còn sản xuất CSDL dưới dạng CDROM như COMPACTMATH, ENERGIE, MATHDI, SIGLE, v.v… và được cập nhật hàng năm Để có thể sản xuất được một số lượng lớn các CSDL và được cập nhật thường xuyên, STN tổ chức một mạng lưới hợp tác rộng lớn giữa các Trung tâm thông tin, các Viện nghiên cứu quốc gia và quốc tế với một lực lượng hùng hậu các nhà nghiên cứu, các nhà thông tin-thư viện ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Đức, Nhật Bản, Anh, Canađa, Thụy Sĩ, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Áo, v.v…

Viện thông tin INIST (Institut de L'Information Scientifique et Technique)

INIST là mạng thông tin của Viện thông tin Khoa học và Kỹ thuật Pháp, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (Centre National de la Recherche Scientifique: CNRS) INIST là trung tâm thông tin khoa học và kỹ thuật tích hợp hàng đầu ở châu Âu có nhiệm vụ thu thập, xử lý và phổ biến những kết quả nghiên cứu KH&CN INIST có một kho tư liệu đồ sộ bao gồm phần lớn những tài liệu KH&CN trên thế giới như những ấn phẩm định kỳ, các tài liệu xám Với kinh nghiệm cũng như hoạt động của mình, với đội ngũ 336 chuyên gia thông tin lành nghề, INIST là mạng thông tin KH&CN với nhiều sản phẩm và dịch vụ rất đa dạng

và phong phú như các CSDL đa ngành, đa ngôn ngữ, các sản phẩm thông tin chuyên ngành, v.v…

INIST sản xuất CSDL dưới 2 dạng: CSDL thư mục (các tài liệu thuộc các lĩnh vực KH&CN) và CSDL Catalog Khách hàng có thể truy nhập trực tuyến (on-line) vào các CSDL này và khai thác những thông tin cần thiết

Trang 35

Mạng thông tin ISTIC (Institute of Scientific and Technical Information of China)

ISTIC là mạng thông tin của Viện thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung Quốc thuộc Bộ KH&CN Trung Quốc, cung cấp các dịch vụ thông tin về khoa học và kỹ thuật, cùng các thông tin kinh tế, tài chính và giáo dục, khách hàng của ISTIC là các Viện nghiên cứu, các trường đại học, các doanh nghiệp cũng như các tổ chức hành chính

ISTIC là nơi thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tài liệu KH&CN của Trung Quốc và thế giới như tài liệu hội nghị hội thảo, báo cáo kỹ thuật, luận án, các kết quả nghiên cứu, sách, tạp chí, v.v… ISTIC cũng là nơi cung cấp các thông tin về sáng chế, tiêu chuẩn, các kết quả nghiên cứu và triển khai, các công nghệ thích hợp… cho các xí nghiệp trong nước

Các sản phẩm của ISTIC bao gồm các ấn phẩm, các CSDL và CD-ROM Các

ấn phẩm như tạp chí, chuyên đề, sách và tài liệu liên quan, phần lớn thuộc các lĩnh vực chính sách khoa học, quản lý khoa học, công nghệ thích hợp và công nghệ mới Đặc biệt, ISTIC với nhiệm vụ trọng tâm là thúc đẩy các dịch vụ thông tin công nghệ, phục vụ ĐMCN của các doanh nghiệp, đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chuyển giao công nghệ và ĐMCN ở Trung Quốc

Mạng ACT ETSME (http://www.actetsme.org)

Trung tâm APECT về trao đổi và đào tạo công nghệ cho DNNVV được thành lập năm 1996 Đây là mạng thông tin tổng hợp, được thiết kế mang tính chỉ dẫn tới các trang web có các nội dung thông tin:

- Giới thiệu các sự kiện quan trọng như: triển lãm; hội thảo, hội nghị, diễn đàn Tại đây doanh nghiệp có thể link tới website giới thiệu đầy đủ thông tin về các sự kiện trên;

- Giới thiệu và cung cấp các đường link tới các website của các tổ chức thuộc các nước thành viên hỗ trợ DNNVV; Cung cấp đường link tới mạng của các tổ chức

Trang 36

- Giới thiệu thông tin về các nước thành viên của mạng như: thông tin về đầu

tư, chính sách cho DNNVV, tài chính, tín dụng, thông tin visa thương mại, KH&CN và các đường link tới các website có liên quan;

- Cơ hội giao thương: giới thiệu chào bán, tìm mua, cơ hội liên doanh giữa các doanh nghiệp;

- Trung tâm đào tạo và trao đổi công nghệ cho các DNNVV cung cấp trực tiếp các dịch vụ cho DNNVV như: tổ chức hội thảo, hội nghị, triển lãm, các khóa đào tạo về đổi mới và quản lý công nghệ; cho thuê văn phòng tại trụ sở của Trung tâm; môi giới thương mại; tìm kiếm thông tin (công nghệ; tài chính; chính sách…)

Kết luận Chương 1

Trong chương này, tác giả đã đề cập các khái niệm Thông tin, thông tin KH&CN, Công nghệ, ĐMCN, DNNVV, ĐMCN trong DNNVV Đây là những khái niệm bao quát phạm vi rộng, với nhiều quan điểm cũng như cách tiếp cận khác nhau liên quan đến các vấn đề được đề cập Trong phần này, atcs giả đã cố gắng đưa ra một số định nghĩa theo quan điểm cá nhân (định nghĩa về thông tin), hoặc lựa chọn

sử dụng định nghĩa trong số các định nghĩa đã có trong các văn bản chính sách hoặc các tài liệu nghiên cứu trước đó Đồng thời tác giả cũng đã nêu ra nội dung thông tin KH&CN phục vụ hoạt động ĐMCN, đặc biệt là đã nêu bật được vai trò của thông tin KH&CN đối với hoạt động ĐMCN của DNNVV trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cũng như kinh nghiệm đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN của một số mạng thông tin KH&CN, tổ chức thông tin KH&CN trên thế giới Bên cạnh đó, tác giả cũng đã làm rõ những cơ sở để đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trang 37

Chương 2 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẢM BẢO THÔNG TIN KH&CN HỖ TRỢ DNNVV ĐMCN VÀ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐẢM BẢO THÔNG TIN KH&CN HỖ TRỢ DNNVV ĐMCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 Phân tích, đánh giá chính sách liên quan đến đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, chính sách liên quan đến đảm bảo thông tin KH&CN phục vụ DNNVV ĐMCN, mặc dù có một số tác động tích cực (tác động dương tính), nhưng nhìn chung vẫn bộc lộ nhiều vấn đề cần giải quyết, nó khiến cho những

ưu đãi vẫn chưa đến được nhóm được hưởng lợi là DNNVV ĐMCN, mặc dù từ Quốc hội cho đến Chính phủ và các bộ/ngành đã có nhiều văn bản chính sách, đó

là các thiết chế, gồm thiết chế thành văn, thiết chế công bố, thiết chế ngầm định khuyến khích hỗ trợ DNNVV ĐMCN thông qua các hỗ trợ về vốn, ưu đãi thuế, đào đạo Nhưng trên thực tế hoạt động ĐMCN trong DNNVV vẫn dậm chân tại chỗ, thậm chí bế tắc Một trong những nguyên nhân quan trọng mà dường như các nhà hoạch định chính sách ít quan tâm là chính sách đảm bảo thông tin KH&CN phục vụ DNNVV ĐMCN

Kể từ “Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) Số 02-NQ/HNTW, ngày 24 tháng 12 năm 1996 Về định

hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp

hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”, đến Luật KH&CN năm 2000, Luật Chuyển giao Công nghệ, Luật Công nghệ cao và một số luật và văn bản dưới luật khác (đặc biệt là Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/08/2004 về hoạt

động thông tin KH&CN) cũng đã đề cập đến công tác thông tin KH&CN phục

vụ doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng trong ĐMCN Tuy nhiên, các thiết chế thành văn này đề cập đến hoạt động thông tin KH&CN này còn rất chung chung, thiếu những chính sách cụ thể, những phương tiện để thực hiện

Trang 38

khiến cho hoạt động thông tin KH&CN phục vụ DNNVV ĐMCN trở nên không hiệu quả

Thiết chế thành văn đầu tiên phải kể đến liên quan đến đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN ở nước ta là “Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) Số 02-NQ/HNTW, ngày 24 tháng

12 năm 1996 về định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000” Trong phần “Đẩy mạnh

các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức KH&CN”, Nghị Quyết

nêu rõ: “Đẩy mạnh các dịch vụ thông tin KH&CN về lãnh đạo - quản lý, nghiên

cứu khoa học và ĐMCN ở các doanh nghiệp, đặc biệt là thông tin công nghệ Phát triển và quản lý tốt mạng lưới thu thập, xử lý thông tin về KH&CN nước ngoài”

Nghị quyết trên đã có một số tác động tích cực Căn cứ vào Nghị quyết, nhiều cơ quan thông tin KH&CN, trong đó có Cục Thông tin KH&CN Quốc gia

đã xây dựng các chiến lực và chính sách của mình nhằm tăng cường công tác thông tin KH&CN phục vụ lãnh đạo - quản lý, nghiên cứu khoa học và ĐMCN ở các doanh nghiệp Các cơ quan thông tin KH&CN lớn, như Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, Trung tâm Thông tin Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (TCĐLCL) (Tổng cục TCĐLCL), Trung tâm Thông tin Sở hữu Công nghiệp (Cục Sở hữu Trí tuệ), đã được đầu tư nguồn lực thông tin KH&CN và đã có một

số sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của DNNVV Cơ sở vật chất kỹ thuật tin học phục vụ cho hoạt động thông tin KH&CN của một số cơ quan thông tin KH&CN đã được tăng cường, mặc dù còn rất hạn chế Đặc biệt, tiềm lực tin học của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia đã được gia tăng Mạng thông tin khoa học, công nghệ và môi trường quốc gia với giao thức Internet đã được thiết lập, tạo điều kiện cho việc truy nhập rộng rãi các CSDL trong và ngoài hệ thống CSDL toàn văn cũng bắt đầu được triển khai tại Cục Thông tin KH&CN Quốc

Trang 39

gia Cục Thông tin KH&CN Quốc gia đã trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet dùng riêng và nhà cung cấp nội dung thông tin trên Internet Như vậy, Nghị quyết trên đã có tác động trực tiếp, dương tính là làm cho tiềm lực thông tin, cơ

sở hạ tầng kỹ thuật của một số cơ quan thông tin KH&CN đã được tăng cường, tạo tiền đề cho hoạt động cung cấp thông tin KH&CN phục vụ DNNVV ĐMCN

ở nước

Một nội dung quan trọng khác liên quan đến đảm bảo thông tin KH&CN

hỗ trợ DNNVV ĐMCN mà chính sách thành văn trên đề cập là “Tạo lập thị

trường cho KH&CN”, trong đó có khuyến khích mở rộng mạng lưới thông tin

KH&CN, mạng lưới dịch vụ tư vấn KH&CN, hoàn thiện hệ thống luật pháp về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và khuyến khích chuyển giao công nghệ, miễn hoặc giảm thuế doanh thu cho các hoạt động tư vấn KH&CN

Mặc dù không nói ra cụ thể, nhưng chính sách “Tạo lập thị trường cho

KH&CN” có tác động ngấm ngầm hay còn gọi là thiết chế ngầm định thành văn

Nó hàm ý rằng, để tạo lập và phát triển thị trường KH&CN thì đồng nghĩa với sự phát triển hoạt động thông tin thị trường công nghệ, thông tin về công nghệ mới, thông tin về cung – cầu công nghệ và các dịch vụ thông tin đi kèm như thông tin

sở hữu trí tuệ, TCĐLCL, tư vấn, môi giới, chuyển giao công nghệ Chủ trương chính sách này đã được nêu rõ trong khoản 3, Điều 5 của Luật Chuyển giao

Công nghệ (2006): “Phát triển mạnh thị trường công nghệ” Điều này được cụ

thể hoá bằng các biện pháp được nêu tại Điều 34 của Luật này: Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển thị trường công nghệ bằng các hình thức sau đây: a) Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thị trường công nghệ, bao gồm chợ công nghệ, hội chợ công nghệ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ; b) Công bố, phổ biến, trình diễn, giới thiệu công nghệ và tham gia chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ trong nước và nước ngoài Như vậy, chính sách phát triển thị trường công nghệ có tác động tích cực đến hoạt động thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN

Trang 40

Một khía cạnh chính sách phát triển thị trường công nghệ là chính sách phát triển thị trường công nghệ cao được quy định tại Điều 1 (Phát triển thị trường công nghệ cao, thông tin, dịch vụ hỗ trợ hoạt động công nghệ cao) của

Luật Công nghệ cao (2008): “1 Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham

gia phát triển thị trường công nghệ cao; cung ứng dịch vụ môi giới, tư vấn, đánh giá, định giá, giám định công nghệ cao; tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ tư vấn kỹ thuật; 2 Bộ KH&CN chủ trì phối hợp với bộ,

cơ quan ngang bộ xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin về công nghệ cao; tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, sử dụng, trao đổi thông tin

về công nghệ cao; tổ chức, tham gia chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ cao quy

mô quốc gia, quốc tế.” Như vậy, Luật Công nghệ cao nêu rõ chách nhiệm của Bộ

KH&CN là chủ trì và phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin về công nghệ cao, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, sử dụng, trao đổi thông tin về công nghệ cao, tổ chức, tham gia chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ cao quy mô quốc gia, quốc tế Phát triển thị trường công nghệ nói chung và thị trường công nghệ cao nói riêng sẽ có trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV tìm kiếm, lựa chọn, nghiên cứu, ĐMCN của mình Như vậy, việc xây dựng CSDL công nghệ, hạ tầng thông tin KH&CN, tổ chức chợ công nghệ là những công cụ, phương tiện quan trọng góp phần đảm bảo thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN Vấn đề ở đây là cần xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch, chương trình, biện pháp, cơ chế, chính sách cụ thể thúc đẩy hoạt động thông tin KH&CN hỗ trợ DNNVV ĐMCN, cần tập trung vào các trụ cột chính: tăng cường tin lực, cơ sở vật chất kỹ thuật tin học, nhân lực thông tin KH&CN

Một thiết chế thành văn khác có tác động đến tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tin học phục vụ cho hoạt động thông tin KH&CN là Luật

KH&CN (2000) Điều 45 của Luật KH&CN nêu rõ: “Chính phủ đầu tư xây

dựng hệ thống thông tin KH&CN quốc gia hiện đại, bảo đảm thông tin đầy đủ,

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Báo điện tử Chính phủ, DNNVV góp phần quan trọng vào phát triển KT- XH, http://baodientu.chinhphu.vn/Home/DN-nho-va-vua-gop-phan-quan-trong-vao-phat-trien-KTXH/20111/59198.vgp , 10/1/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: DNNVV góp phần quan trọng vào phát triển KT- XH
Tác giả: Báo điện tử Chính phủ
Năm: 2011
3. Báo Lao động, Đổi mới công nghệ Biết lợi nhưng vẫn khó làm, http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Doi-moi-cong-nghe-Biet-loi-nhung-van-kho-lam/61645) , 7/10/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công nghệ Biết lợi nhưng vẫn khó làm
8. Vũ Cao Đàm (2007), Lý thuyết hệ thống, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết hệ thống
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội
Năm: 2007
9. Vũ Cao Đàm (2008), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội
Năm: 2008
10. Hoàng Minh Hiền (2000), Định hướng chính sách đảm bảo thông tin cho nghiên cứu và triển khai, Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Chính sách Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chính sách đảm bảo thông tin cho nghiên cứu và triển khai
Tác giả: Hoàng Minh Hiền
Năm: 2000
11. Nguyễn Hữu Hùng, Từ thông tin tới thông tin học, Tạp chí Thông tin tư liệu, Số 4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ thông tin tới thông tin học
12. Nguyễn Hữu Hùng (2005), Thông tin: Từ lý luận tới thực tiễn. Infomation: From theory to practice, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin: Từ lý luận tới thực tiễn. Infomation: "From theory to practice
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 2005
13. Nguyễn Hữu Hùng (2009), Phát triển hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam, Nghiên cứu Chính sách KH&CN, (số 16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Nhà XB: Nghiên cứu Chính sách KH&CN
Năm: 2009
14. Công Lý, Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ Dễ xác định nhưng... khó xử lý, Báo điện tử Đại biểu Nhân dân,(http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=200432), 8/1/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ Dễ xác định nhưng... khó xử lý
16. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2000, Luật Khoa học và Công nghệ (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2000
18. Đoàn Phan Tân (2001), Thông tin học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin học
Tác giả: Đoàn Phan Tân
Năm: 2001
19. Tạp chí Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Chuyển giao công nghệ và tiếp thu công nghệ: Phải mở cửa thị trường, số 4, 2/2011, tr. 10-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giao công nghệ và tiếp thu công nghệ: Phải mở cửa thị trường
Nhà XB: Tạp chí Tiêu chuẩn đo lường chất lượng
Năm: 2011
21. Trường Nghiệp vụ quản lý (2000), Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường
Tác giả: Trường Nghiệp vụ quản lý
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2000
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 8. Hà Nội, 1996 Khác
4. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009) , Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV Khác
5. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị định 115/2005/NĐ-CP về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập Khác
7. Cục thông tin KH&CN Quốc gia, Báo cáo tài chính năm 2010 Khác
15. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005, Luật Doanh nghiệp 2005 Khác
20. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Giáo trình Quản lý Công nghệ (2010) (tr. 141) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: DNNVV theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP - Định hướng chính sách đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Bảng 1.1 DNNVV theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP (Trang 19)
Bảng 2.1: Các loại hình thông tin được doanh nghiệp quan tâm - Định hướng chính sách đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Bảng 2.1 Các loại hình thông tin được doanh nghiệp quan tâm (Trang 55)
Hình 1:  Biểu đồ nhu cầu thông tin của các DNNVV được điều tra - Định hướng chính sách đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Hình 1 Biểu đồ nhu cầu thông tin của các DNNVV được điều tra (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm