Luận văn kế thừa có chọn lọc những tư tưởng, quan điểm và kết quả nghiên cứu đã được công bố, từ đó vận dụng phân tích thực trạng, đề xuất các điều kiện, từ đó đề ra các giải pháp để Quỹ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN DUY HƯNG
ĐIỀU KIỆN KHẢ THI CỦA QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số 60.34.72
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Vũ Cao Đàm
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu 6
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Mẫu khảo sát 8
6.Vấn đề nghiên cứu 8
7 Giả thuyết nghiên cứu 8
8 Phương pháp chứng minh 9
9 Kết cấu của Luận văn 10
CHƯƠNG 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Khái niệm 11
1.1.1 Khái niệm công nghệ 11
1.1.2 Đổi mới công nghệ 13
1.1.3 Doanh nghiệp công nghiệp 15
1.1.4 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 18
1.1.5 Thị trường chứng khoán 20
1.1.6 Quỹ đầu tư mạo hiểm 22
1.2 Những vấn đề cơ bản về Quỹ đầu tư mạo hiểm 23
1.2.1 Giới thiệu chung về Quỹ đầu tư mạo hiểm 23
1.2.2 Vai trò của Quỹ đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ĐMCN trong các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa 31
Kết luận Chương 1 33
Trang 3CHƯƠNG 2 34
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TẠI VIỆT NAM VÀ HOẠT ĐỘNG ĐMCN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở HẢI DƯƠNG 34
2.1 Thực trạng hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam 34
2.2 Tình hình phát triển và hoạt động của DNNVV ở Hải Dương 40
2.2.1 Tình hình phát triển các DNNVV 40
2.2.2 Những đóng góp chủ yếu của các DNNVV 41
2.3 Hiện trạng công nghệ và hoạt động ĐMCN của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương 43
2.3.1 Về trình độ sản phẩm 43
2.3.2 Về trình độ thiết bị công nghệ trong sản xuất 43
2.3.3 Về năng lực công nghệ 44
2.3.4 Về cơ sở hạ tầng công nghệ của các doanh nghiệp 46
2.3.5 Về các hoạt động khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp 47
2.3.6 Về các hoạt động ĐMCN của các doanh nghiệp 47
2.4 Nguồn tài chính cho hoạt động ĐMCN trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương 49
2.4.1 Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ 50
2.4.2 Nguồn vốn tín dụng từ các Ngân hàng thương mại 51
2.5 Mẫu khảo sát và kết quả khảo sát 54
2.5.1 Kết quả thu nhận qua phỏng vấn 56
2.5.2 Bàn luận kết quả phỏng vấn 58
2.6 Nguyên nhân quỹ đầu tư mạo hiểm chưa đầu tư vốn để các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương ĐMCN 58
Kết luận chương 2 60
CHƯƠNG 3 62 ĐIỀU KIỆN ĐỂ QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM
Trang 4NHỎ VÀ VỪA Ở HẢI DƯƠNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 62
3.1 Quan điểm phát triển công nghiệp của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006-2020 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá 62
3.2 Định hướng thu hút nguồn vốn ĐMCN từ quỹ đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương 64
3.3 Kết quả phỏng vấn sâu 65
3.4 Tính minh bạch là cơ sở phát triển bền vững và thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa 67
3.5 Điều kiện để quỹ đầu tư mạo hiểm đưa vốn đầu tư vào doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ 70
3.6 Một số giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư từ Quỹ đầu tư mạo hiểm để các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương thực hiện đổi mới công nghệ 75
3.6.1 Đối với Nhà nước: 77
3.6.2 Đối với tỉnh Hải Dương 78
3.6.3 Đối với bản thân doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa 81
3.7 Một số giải pháp hỗ trợ bổ sung để các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương thu hút được vốn đầu tư từ quỹ đầu tư mạo hiểm thực hiện ĐMCN 82
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN 87
KHUYẾN NGHỊ 89
1 Đối với nhà nước 89
2 Đối với tỉnh Hải Dương 89
3 Đối với các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 93
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề đổi mới công nghệ là một trong những yếu tố quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa Đổi mới công nghệ là chìa khoá để các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu
Tháng 1 năm 2007 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ
150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO, các DNNVV Việt Nam đặc biệt trong đó là các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa đứng trước nhiều cơ hội
và thách thức rất lớn khi nước ta thực hiện các hiệp định thương mại với các nước trên thế giới, hàng rào thuế quan và sự bảo hộ truyền thống của Nhà nước đối với doanh nghiệp trong cạnh tranh sẽ bị xóa bỏ Khi đó hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước phải đối mặt với sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ đến từ các nước có công nghệ sản xuất tiên tiến và hiện đại Do vậy vai trò của công nghệ được thể hiện như là vũ khí cạnh tranh của các nền kinh
tế trong xu thế toàn cầu hóa
Trong những năm vừa qua, cùng với sự ra đời và lớn mạnh không ngừng của hệ thống doanh nghiệp toàn quốc, cùng với các chính sách thu hút đầu tư của tỉnh Hải Dương, mỗi năm trên địa bàn tỉnh có hàng ngàn doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời Qua nghiên cứu các tài liệu khảo sát về tình hình các doanh nghiệp tại địa phương, từ thực tế hoạt động quản lý tại địa phương cho thấy, hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa còn gặp rất nhiều khó khăn như: quy mô và năng lực nhỏ
bé, yếu kém, loại hình doanh nghiệp này chưa được nhìn nhận và đánh giá đúng mức, hoạt động của các doanh nghiệp còn nhiều bất cập, khó khăn, thiết
bị phần lớn lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao, khả năng cạnh tranh kém, chưa có chiến lược phát triển lâu dài và bền vững Các doanh
Trang 7nghiệp khi thực hiện đổi mới công nghệ cũng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc nhất là khó khăn về vốn Để đổi mới công nghệ doanh nghiệp cần được đầu tư một số vốn nhất định, trong khi đó đầu tư đổi mới công nghệ là loại hình đầu tư thường có tính rủi ro cao, vì vậy doanh nghiệp rất khó huy động được nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, tín dụng ngân hàng để ĐMCN Hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam nói chung và của Hải Dương nói riêng hiện đang rơi vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng do bị hạn chế trong việc tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư, kể cả vốn cổ phần cũng như vốn vay dài hạn
từ các ngân hàng Do đó việc huy động vốn từ Quỹ đầu tư mạo hiểm để ĐMCN của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa được xem là nguồn cung cấp vốn khả thi cho các doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay
Như vậy việc nghiên cứu đề xuất các điều kiện, từ đó đề ra các giải pháp để quỹ đầu tư mạo hiểm đưa vốn đầu tư vào các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hải Dương nhằm thực hiện đổi mới công nghệ là hết sức cần thiết
2 Lịch sử nghiên cứu
Nhà nước đã ban hành Luật chuyển giao công nghệ và một số chính sách khuyến khích cho hoạt động chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, trong thực tế, hoạt động chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở mỗi địa phương được thực hiện với kết quả rất khác nhau, vì mỗi địa phương đều có những đặc điểm riêng
Đầu tư mạo hiểm là vấn đề mới ở Việt Nam, nó gắn kết chặt chẽ với các yếu tố thị trường công nghệ, thị trường vốn Ở nước ta hiện nay đã có một số Quỹ đầu tư mạo hiểm đang hoạt động như quỹ của tập đoàn IDG (Mỹ), Quỹ đầu tư mạo hiểm Mekong , nhưng các quỹ này chỉ mới đầu tư vào công nghệ thông tin
Trên bình diện quốc gia, trong vài năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về Quỹ đầu tư mạo hiểm và chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ như sau:
Trang 8tiên tại Việt Nam từ năm 1991, nhóm nghiên cứu gồm Vũ Cao Đàm, Nguyễn Thanh Hà và Dennis Ray (Mỹ) thực hiện
- Các biện pháp, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ, tháng 10 năm 1999
- Nâng cao hiệu quả một số chính sách thuế và tín dụng khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ, tháng 3 năm 2001
- Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam, Trần Ngọc Ca, tháng 6 năm 2003
- Dự thảo đề án thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao do nhóm nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, năm 2006
Những nghiên cứu này đã đưa ra sự cần thiết và vai trò của Quỹ đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ĐMCN của các doanh nghiệp Trong thực tế các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương rất cần vốn đầu tư từ Quỹ đầu tư mạo hiểm để thực hiện đổi mới công nghệ, nhưng trong nhiều năm qua quỹ chưa đầu tư vốn cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ Do đó cần thiết phải có nghiên cứu tìm ra điều kiện để quỹ đầu tư mạo hiểm đưa vốn đầu tư cho doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hải Dương đổi mới công nghệ
Luận văn kế thừa có chọn lọc những tư tưởng, quan điểm và kết quả nghiên cứu đã được công bố, từ đó vận dụng phân tích thực trạng, đề xuất các điều kiện, từ đó đề ra các giải pháp để Quỹ đầu tư mạo hiểm đưa vốn đầu tư vào doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương đổi mới công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng hoạt động đổi mới công nghệ và đánh giá nhu cầu
về vốn để ĐMCN của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn
Trang 9tỉnh Hải Dương
- Đề xuất điều kiện và giải pháp để Quỹ đầu tư mạo hiểm đưa vốn đầu
tư vào doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: qua hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam tác giả nhận thấy cần có điều kiện để quỹ đầu tư mạo hiểm đưa vốn đầu tư cho doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ĐMCN Có nhiều điều kiện khác nhau để thu hút vốn đầu tư ĐMCN từ các quỹ đầu tư mạo hiểm, luận văn tập
trung nghiên cứu điều kiện về tính minh bạch trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, vì tính minh bạch trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những cơ sở quan trọng để giữ vững, phát triển doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn đầu tư trên thị trường, nhất là nguồn vốn từ quỹ đầu tư mạo hiểm
- Về thời gian: Từ năm 2003 đến năm 2008 (năm 2003 là năm mà làn sóng đầu tư mạo hiểm bắt đầu đầu tư mạnh ở Việt Nam)
Dương đổi mới công nghệ Như vậy, điều kiện nào là khả thi nhất để Quỹ
đầu tư mạo hiểm đưa vốn đầu tư vào doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
ở Hải Dương đổi mới công nghệ?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa là
Trang 10nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Doanh nghiệp muốn đổi mới công nghệ thì không thể thiếu 3 yếu tố cơ bản đó là: vốn, nhân lực và công nghệ, trong đó yếu tốn vốn là yếu tố cơ bản và quyết định cho hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Tiếp cận nguồn vốn tín dụng dưới bất kỳ hình thức nào đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là điều khó khăn do yêu cầu về tài sản thế chấp, các quy định trong thẩm định cho vay và doanh thu đảm bảo không có Do vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải tìm kiếm nguồn vốn đầu tư thích hợp và Quỹ đầu tư mạo hiểm chính là loại hình đầu tư vốn
có tính khả thi giúp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ
Doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương có nhu cầu về vốn để đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp chưa đủ điều kiện để nhận được vốn đầu tư của quỹ đầu tư mạo hiểm Để nhận được vốn đầu tư các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa phải đáp ứng được những điều kiện, yêu cầu của nhà đầu tư Theo các chuyên gia kinh
tế, các quỹ đầu tư đặc biệt chú ý đến các doanh nghiệp có tính minh bạch cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Do vậy điều kiện khả thi để doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
nhận được vốn từ quỹ đầu tư mạo hiểm có thể là: tính minh bạch trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể là những điều kiện hết sức khả thi để quỹ đầu tư mạo hiểm đưa vốn đầu tư vào doanh nghiệp thực hiện ĐMCN
8 Phương pháp chứng minh
- Phương pháp phân tích tài liệu:
+ Phương pháp này được áp dụng để tìm hiểu, phân tích các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu Các tài liệu được phân tích gồm: Các website, sách, báo, tạp chí, báo cáo các công trình nghiên cứu về vấn đề giải pháp huy động vốn cho doanh nghiệp từ quỹ đầu tư mạo hiểm
+ Sử dụng nguồn dữ liệu kết quả nghiên cứu của các công trình nhiên cứu khoa học đã thực hiện ở Trung ương và ở tỉnh Hải Dương
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Trang 11+ Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện để thu thập những thông tin định tính nhằm bổ sung, giải thích cho các thông tin định lượng Đồng thời, phương pháp giúp cung cấp những thông tin mới mà số liệu định lượng không thu được
+ Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu với những đối tượng là chủ các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa điển hình để đánh giá nhu cầu về vốn ĐMCN và đề xuất điều kiện để Quỹ đầu
tư mạo hiểm đưa vốn đầu tư vào doanh nghiệp đổi mới công nghệ
- Phương pháp quan sát: phương pháp quan sát tự do giúp phát hiện vấn
đề, đồng thời làm rõ thêm một số thông tin liên quan cần thiết khác của các doanh nghiệp
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và các biểu số liệu, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam và hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương
Chương 3: Điều kiện để Quỹ đầu tư mạo hiểm đưa vốn đầu tư vào
doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương đổi mới công nghệ
Kết luận và khuyến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm công nghệ
Thuật ngữ công nghệ được hình thành từ khá lâu và được sử dụng khá phổ biến, đã có nhiều tổ chức quốc tế về khoa học và công nghệ cố gắng đưa
ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia, trong từng khu vực
ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh"
Theo J.R.Dunning, năm 1982, "công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm
và dịch vụ mới"
Tác giả P.Strunk, năm 1986 cho rằng, "công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp Công nghệ là kiến thức có sẵn trong óc con người, không phải là hàng hoá"
Theo Nawar Sharif, năm 1986 đã đưa ra một định nghĩa khá khái quát
về công nghệ: "công nghệ là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất hoặc/và thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất hoặc/và thông tin" Công nghệ là một tập hợp phần cứng và phần mềm, bao
Trang 13gồm 4 yếu tố: phần kỹ thuật (vật thể), phần thông tin, phần con người và phần thiết chế tổ chức
Đây cũng là 4 yếu tố công nghệ theo quan điểm của Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á- Thái Bình Dương (APCTT)
Theo E.M.Graham, năm 1988 đưa ra định nghĩa: "công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được, có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ"
Một số tổ chức quốc tế đã đưa ra các định nghĩa về công nghệ khác nhau:
- Tổ chức PRODEC, năm 1982 cho rằng, "công nghệ là một loại kỹ
năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công
nghiệp, chế biến và dịch vụ"
- Trước đó, năm 1972, tổ chức UNCTAD cho rằng, "công nghệ là một
đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy nó được mua bán trên thị trường
như một hàng hoá"
- Ngân hàng thế giới, năm 1985 đưa ra định nghĩa như sau: "công nghệ
là phương pháp chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: + Thông tin về phương pháp
+ Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá
+ Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao"
- Tổ chức OECD, gồm các nước phát triển châu Âu, Nhật Bản, Mỹ và Canađa lại có một định nghĩa chung: "công nghệ được hiểu là một tập hợp các
kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong một hoàn cảnh nhất định"
- Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO), cho rằng "công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng
Trang 14- Theo Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á - Thái bình dương (ESCAP),
"công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật liệu và
xử lý thông tin"
- Năm 1987, tác giả Trần Ngọc Ca đã đưa ra một khái niệm hợp lý về công nghệ như sau: Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép ) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm
và dịch vụ
- Theo Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam, năm 2000 đã đưa
ra định nghĩa: "công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí
quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm"
- Theo Luật chuyển giao công nghệ, năm 2006: "công nghệ là giải
pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm"
Trên cơ sở tập hợp và khái quát các định nghĩa về công nghệ nêu trên, tác giả tuân theo khái niệm: công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình,
kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành
sản phẩm
1.1.2 Đổi mới công nghệ
1.1.2.1 Khái niệm đổi mới công nghệ
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, do nhu cầu càng cao của con người do tiến bộ của tri thức và khoa học, do cạnh tranh… nên nhu cầu về sản phẩm ngày càng cao và đa dạng cùng với yêu cầu cao trong việc tiết kiệm chi phí Do vậy công nghệ luôn được thay đổi, cải tiến không ngừng
để thoả mãn nhu cầu đó nên việc thay đổi công nghệ là một xu thế tất yếu của
hệ thống công nghệ toàn cầu và đã mang lại những hiệu quả to lớn đối với sự phát triển của từng doanh nghiệp, mỗi quốc gia và toàn thế giới, nhờ liên tục đổi mới công nghệ Vậy đổi mới công nghệ là gì? Đó chính là cấp cao nhất
Trang 15của thay đổi công nghệ và là quá trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các hệ thống công nghệ Để có thể quản lý được hoạt động đổi mới thì cần tập trung vào những vấn đề cơ bản tất cả các thay đổi nhỏ về công nghệ ta chỉ coi là cải tiến công nghệ Do đó ta đưa ra khái niệm đổi mới công nghệ như sau:
Đổi mới công nghệ là sự chủ động thay thế một phần đáng kể (cốt lõi,
cơ bản) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ khác
Đổi mới công nghệ là một tiến bộ về công nghệ, tiến bộ này dưới dạng một phương pháp mới về sản xuất, một kỹ thuật mới về tổ chức, quản lý, marketing, mà nhờ chúng sản phẩm sản xuất ra sẽ có năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, chi phí sản xuất thấp hơn và do đó sẽ tạo được vị thế cạnh tranh trong doanh nghiệp về mặt giá thành hay về sự khác biệt của sản phẩm
Đổi mới công nghệ có thể là đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới hoặc mới sử dụng lần đầu trong hoàn cảnh mới
Peter Drucker, nhà kinh tế học nổi tiếng người Áo cho rằng xét ở góc
độ quản trị kinh doanh, có hai nhiệm vụ hàng đầu mà một doanh nghiệp luôn
phải thực hiện đó là tiếp thị (marketing) và đổi mới công nghệ (innovation)
Nếu chức năng tiếp thị là nhằm thoả mãn các những nhu cầu hiện tại của người tiêu dùng thì đổi mới công nghệ nhằm thoả mãn nhu cầu tương lai của khác hàng Nếu thiếu khả năng và sự kiên trì, bền bỉ trong việc đổi mới công nghệ thì doanh nghiệp sẽ sớm bị đào thải khỏi thương trường khi nhu cầu khách hàng, công nghệ thay đổi và cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn Do đó đối với một doanh nghiệp, đổi mới công nghệ luôn được sử dụng như một nhân tố trong chiến lược cạnh tranh
1.1.2.2 Vai trò của đổi mới công nghệ
Công nghệ là một sản phẩm đặc biệt của con người và trước hết nó cũng là một sản phẩm cho nên nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của sản phẩm Tức là nó cũng được sinh ra, phát triển và cuối cùng là bị đào thải Chính vì lẽ đó việc quan tâm đặc biệt đến đổi mới công nghệ sẽ gắn chặt đến
Trang 16quốc gia nào, hay một doanh nghiệp nào không có những hoạt động nhằm không ngừng ĐMCN thì chắc chắn ở quốc gia đó ở doanh nghiệp đó không thể có sự phát triển Một điều quan trọng đó là ĐMCN sẽ mang lợi ích cho doanh nghiệp đổi mới cũng như cho nền kinh tế, các lợi ích đó là:
- Đổi mới công nghệ cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm, đây là một lợi ích thiết thực, trực tiếp và được các doanh nghiệp đặt lên hàng đầu
- Từ việc nâng cao được chất lượng sản phẩm sẽ làm cho doanh nghiệp duy trì, củng cố và mở rộng thị phần của sản phẩm
- Một lợi ích rất quan trọng khác đó là đổi mới công nghệ sẽ mở rộng phẩm cấp của sản phẩm, tạo thêm chủng loại sản phẩm mới
- Đáp ứng được các quy định, tiêu chuẩn, luật lệ và các quy định ngày càng khắt khe được thế giới và các quốc gia xây dựng lên
- Giảm tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, đây là một lợi ích hết sức quan trọng, nhất là trong bối cảnh thế giới đang lâm vào cảnh thiếu năng lượng, giá xăng dầu tăng rất cao
- Cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao độ an toàn sản xuất cho con người và thiết bị
- Giảm tác động xấu đến môi trường tự nhiên nói chung và môi trường sống nói riêng
Vì tất cả các lý do kể trên có thể khẳng định đổi mới công nghệ là một tất yếu phù hợp với quy luật phát triển
Công nghệ và đổi mới công nghệ có ý nghĩa quyết định nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bằng việc nâng cao năng xuất, chất lượng
hạ giá thành sản phẩm Trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn về vốn để đầu tư đổi mới công nghệ các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương rất cần sự đầu tư vốn từ các nguồn vốn khác, đặc biệt là vốn đầu tư từ Quỹ đầu tư mạo hiểm để đổi mới công nghệ
1.1.3 Doanh nghiệp công nghiệp
Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11
Trang 17năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 một số khái niệm cơ bản
về doanh nghiệp được thống nhất như sau:
- Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
- Kinh doanh là việc thực hiện liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm Trên thực tế khái niệm doanh nghiệp được hiểu nôm na, dùng chung đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức, các ngành nghề khác nhau, có
tư cách pháp nhân
- Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ Hiện tại ở Việt Nam có loại hình doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp có trên 50% vốn nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn nhà nước
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân Số lượng thành viên không vượt quá 50 Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của Luật doanh nghiệp
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một
tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành
Trang 18có cổ phần Số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối
đa Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty
- Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung Ngoài các thành viên hợp danh còn có các thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
- Doanh nghiệp tư nhân là một doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ
và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân
- Nhóm công ty là tập hợp công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác Nhóm công ty bao gồm các hình thức: Công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế và các hình thức khác
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu
tư nước ngoài thành lập để thực hiện đầu tư tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại
- Doanh nghiệp công nghiệp là doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh các sản phẩm công nghiệp
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
Trang 19đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, lại dễ bị tổn thương nhất trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trên cơ sở tập hợp và khái quát các định nghĩa về doanh nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp nêu trên, tác giả tuân theo khái niệm: Doanh nghiệp công nghiệp là doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh các sản phẩm công nghiệp
1.1.4 Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.4.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo Điều 03 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm
2001 của Chính phủ định nghĩa về DNNVV: "Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ
sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người"
Trong thực tế hiện nay, một số cơ quan Nhà nước, một số tổ chức chính trị - xã hội để hỗ trợ doanh nghiệp đã chủ động đưa ra các tiêu chí quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa để phục vụ cho công tác của mình như:
- Ngân hàng công thương Việt Nam quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là: doanh nghiệp có dưới 500 lao động, vốn cố định nhỏ hơn 10 tỷ VNĐ, vốn lưu động dưới 08 tỷ VNĐ, doanh thu tháng không quá 20 tỷ đồng VNĐ
- Liên Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là: doanh nghiệp có số lao động thường xuyên dưới
100 người, doanh thu một năm nhỏ hơn 10 tỷ VNĐ, vốn pháp định không quá
01 tỷ VNĐ
- Dự án VIE/US/95/2004 hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam lại có quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là: doanh nghiệp có số lao động dưới
200 người, vốn đăng ký 0,4 triệu USD (khoảng 06 tỷ VNĐ)
Vì vậy, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của từng địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ
Trang 20Trong luận văn này tác giả tuân theo khái niệm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người
1.1.4.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung, doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa nói riêng có những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như
nhau: "Trong tổng số hơn 300.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta hiện
nay, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chiếm 22,5%" 1
- Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: "Doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại Việt Nam luôn chiếm tỷ lệ lớn nhất (95%) Hiện, cả nước có gần 350.000 DNNVV, tổng số vốn đăng ký của các DNNVV là gần 1.400 nghìn tỷ VND, tức bình quân 4 tỷ VND/DN"2 Vì thế, đóng góp của DNNVV vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể
- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, DNNVV được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế
- Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy
mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động
- Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh
- Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là thành phần kinh tế đóng góp quan
Trang 21trọng vào nguồn thu cho ngân sách cả ngoại tệ và nội tệ của địa phương, tạo sản lượng và giải quyết việc làm cho người lao động ở địa phương
Trong thành tựu chung của DNNVV đóng góp cho nền kinh tế của đất
nước, "các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa không chỉ tăng về số lượng
mà còn tăng lên về chất lượng (vốn, năng động, sáng tạo trong kinh doanh và sản xuất, thích ứng với sự biến động của thị trường, tạo ra nhiều việc làm để thu hút lao động xã hội, đổi mới trong quản lý…)" 3
Với vai trò vô cùng quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế, vì vậy nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng Nhưng trên thực tế ở nước ta, vai trò chính trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế là ngân hàng và hoạt động đổi mới công nghệ mang tính rủi ro cao cùng với yêu cầu về tài sản đảm bảo cũng như các quy định trong thẩm định vay vốn của ngân hàng đã không thể tạo cơ hội cho các doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ Từ những thực tế khó khăn trong việc huy động vốn
kể trên, doanh nghiệp phải tìm cách huy động vốn từ các nguồn vốn khác trong đó nguồn vốn đầu tư mạo hiểm là một trong những nguồn vốn được xem là quan trọng và có tính khả thi
Hình thức đầu tư mạo hiểm là nắm giữ cổ phần trong doanh nghiệp, tham gia chia sẻ thành công nếu doanh nghiệp phát đạt, song cũng gánh chịu rủi ro nếu thất bại Chính điều này đảm bảo rằng những khuyến khích đối với các nhà đầu tư và các doanh nhân khởi nghiệp là thống nhất với nhau
Do vậy, nguồn vốn từ các Quỹ đầu tư mạo hiểm được xem là một giải pháp về vốn cho các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ
1.1.5 Thị trường chứng khoán
1.1.5.1 Chứng khoán
Trang 22Chứng khoán là chứng chỉ xác định các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán và các chứng khoán khác theo qui định của pháp luật
1.1.5.2 Thị trường chứng khoán
Có nhiều khái niệm về thị trường chứng khoán khác nhau, nhưng nhìn
chung có thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến: Thị trường chứng khoán
là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời
Thị trường chứng khoán phải tồn tại ở một nơi mà ở nơi đó việc mua bán chứng khoán được thực hiện Trong quá trình phát triển và hoàn thiện thị trường chứng khoán ở các nước có nền sản xuất và lưu thông hàng hóa lâu
đời như Mỹ, Anh, Pháp,… nơi đó tồn tại dưới hai hình thức: Thị trường
chứng khoán có tổ chức và Thị trường chứng khoán phi tổ chức
Hình thái điển hình của thị trường chứng khoán có tổ chức là Sở giao
dịch chứng khoán Mọi việc mua, bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán phải tiến hành trong Sở giao dịch và thông qua các thành viên, theo quy chế của Sở giao dịch chứng khoán Sở giao dịch chứng khoán có thể là tổ chức sở hữu nhà nước, là doanh nghiệp cổ phần hoặc một hiệp hội và đều có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán Có thể dẫn ra những Sở giao dịch chứng khoán nổi tiếng của thế giới như: NYSE (New York Stock exchange), TSE (Tokyo Stock exchange), LSE (London Stock exchange )…
Thị trường chứng khoán phi tổ chức là một thị trường không có hình
thái tổ chức tồn tại, nó có thể là bất cứ nơi nào mà tại đó người mua và người bán trực tiếp gặp nhau để tiến hành giao dịch Nơi đó có thể là tại quầy giao dịch ở các ngân hàng bất kỳ nào đó Thị trường hình thành như thế gọi là thị trường giao dịch qua quầy OTC (Over the counter)
Ngày nay, nhờ vào thành quả của cách mạng tin học, hệ thống INTERNET đã gắn kết các thành viên của thị trường lại với nhau, do đó việc trao đổi thông tin, tiến hành giao dịch mua bán chứng khoán không phải đến
Trang 23tận quầy của các ngân hàng và có thể tiến hành ngay trên bàn máy vi tính Đây là một hình thái của thị trường chứng khoán phi tổ chức bậc cao mới xuất hiện trong thập kỷ qua Thị trường này chưa có tên chính thức, có người gọi
đó là thì trường thứ ba
Với sự phát triển phong phú của các hình thái tổ chức của thị trường chứng khoán từ một nơi chốn cụ thể như Sở giao dịch chứng khoán đến các quầy giao dịch của ngân hàng và gần đây là đến không gian rộng lớn của thông tin, do đó đã tạo điều kiện và môi trường cho mọi thành viên trong xã hội đều có thể trở thành thành viên của thị trường chứng khoán hiện đại
1.1.6 Quỹ đầu tư mạo hiểm
Đầu tư mạo hiểm (Venture Investment - VI) là thực hiện đầu tư vào hoạt động đổi mới công nghệ của một doanh nghiệp hoặc đầu tư để lập ra một doanh nghiệp mới, mà đặc trưng cơ bản của nó là còn thiếu độ tin cậy về kết quả kinh doanh, chưa tỏ rõ khả năng sinh lợi của mình, những nơi mà các thể chế tài chính truyền thống (tín dụng, ngân hàng ) không để ý đến Thay vì cho vay, họ đầu tư vốn để một công ty có thể phát triển, đồng thời có thể nhận lấy một tỷ lệ cổ phần không có lãi cố định hoặc quyền sở hữu cổ phần trong công ty mà họ đầu tư Xét về bản chất, hệ thống tín dụng thông thường không thể thúc đẩy đổi mới công nghệ khi mà khả năng thành công về kỹ thuật và thương mại còn chưa rõ ràng
Vốn mạo hiểm (Venture capital - VC) là hình thức vốn đầu tư vào các doanh nghiệp công nghệ cao khởi đầu (technology start-up company) trong giai đoạn sản xuất thử (pilot) nhằm đạt lợi nhuận siêu ngạch do tính cách mạng của công nghệ cao đem lại Vốn mạo hiểm thông thường được cung cấp thông qua một loại hình tổ chức tài chính đặc biệt gọi là quỹ mạo hiểm
Đối tượng đầu tư của quỹ mạo hiểm là những cá nhân có ý tưởng độc đáo khả thi, những công ty vừa và nhỏ đang rất cần vốn, đặc biệt là các công
ty đang đầu tư công nghệ mới hoặc các doanh nghiệp mới khởi nghiệp bắt đầu
cho ra những sản phẩm mới có triển vọng trong tương lai
Trang 24Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Fund - VCF) nhìn chung cũng
có những đặc điểm của quỹ đầu tư thông thường: đó là một định chế tài chính phi ngân hàng, là loại hình doanh nghiệp được chuyên môn hóa trong lĩnh vực đầu tư, mang đặc điểm của một ngành chuyên kinh doanh vốn trung và dài hạn, thông qua hoạt động đầu tư gián tiếp hoặc trực tiếp Quỹ đầu tư cho các nhà đầu tư tham gia vào thị trường tài chính thông qua một danh mục đầu tư
và thường xuyên được đặt dưới sự giám sát chuyên nghiệp Tuy nhiên quỹ đầu tư mạo hiểm luôn hướng đến những lĩnh vực mới và mục đích chính của quỹ bao giờ cũng hướng tới thị trường chứng khoán, nơi mang lại lợi nhuận
cao khi thành công nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro
1.2 Những vấn đề cơ bản về Quỹ đầu tư mạo hiểm
1.2.1 Giới thiệu chung về Quỹ đầu tư mạo hiểm
1.2.1.1 Sự ra đời của quỹ đầu tư mạo hiểm:
Từ sau thế chiến thứ II, ở Mỹ đầu tư mạo hiểm (venture investment) đã xuất hiện như một công cụ để giúp các công ty mới thành lập, nhất là các công ty trong lĩnh vực công nghệ cao giải quyết các khó khăn về tài chính và quản lý Quỹ vốn mạo hiểm đầu tiên trên thế giới có tên gọi là Công ty Nghiên cứu và Phát triển Mỹ (ARD Corporation) được thành lập vào năm
1948 tại thành phố Boston nước Mỹ Công ty này được hình thành như một quỹ hỗ trợ dạng đóng (closed end) Quỹ này được hình thành để tìm kiếm các
dự án đầu tư có nhiều tiềm năng mang về lợi nhuận cao và việc đầu tư vào công ty Digital Equipment Inc đã mang lại hơn 50% lợi nhuận của Quỹ Sau
đó nhiều quỹ vốn mạo hiểm đã ra đời Vào những năm 50, các tổ chức của chính phủ Hoa Kỳ bảo trợ cho các doanh nghiệp nhỏ được thành lập như SBA
và SBIC nhưng qui mô vốn đầu tư cho từng doanh nghiệp vẫn còn nhỏ
Vào những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX tại Silicon Valley cũng
có một vài quỹ vốn mạo hiểm với qui mô nhỏ do một số cá nhân thành lập
để phục vụ cho các công ty khởi nghiệp Tuy nhiên vào những năm 1970 đã
có những thay đổi quan trọng tác động đến sự phát triển của các quỹ vốn mạo hiểm khi chính phủ Mỹ ban hành đạo luật về giảm thuế đánh trên lợi
Trang 25nhuận do tăng vốn (capital gain tax) và Bộ Lao động Hoa kỳ điều chỉnh lại các qui định liên quan đến việc đầu tư của các quỹ hưu trí, đã thúc đẩy những khoản vốn từ quỹ hưu trí đầu tư cho các doanh nghiệp mới cần vốn mạo hiểm để đổi lại các khoản lợi nhuận cao trong danh mục đầu tư ngày càng được đa dạng hóa
Từ đó đến nay đã có sự tăng vọt về các khoản vốn mạo hiểm cùng với những đợt phát hành lần đầu ra công chúng và những lần tăng giá cổ phiếu vượt trội trên thị trường chứng khoán Vào những năm 1980 dù có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng khối lượng vốn mạo hiểm cũng chỉ đạt khoảng 10 đến
15 tỷ USD/năm, đến những năm 1990 các nhà đầu tư đã bỏ ra 30 tỷ USD vốn mạo hiểm/năm cho các dự án Theo nghiên cứu của Wetzel sang thế kỷ XXI hàng năm có khoảng 50tỷ USD được các quỹ mạo hiểm đầu tư cho các dự án trên toàn cầu Cùng với Mỹ và các nước phát triển ở châu Âu, một số nước châu Á như Nhật bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc… đã chú trọng tới các hoạt động đầu tư mạo hiểm
1.2.1.2 Một số đặc điểm của đầu tư mạo hiểm:
Tại các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, nhiều doanh nhân nghĩ đến vốn mạo hiểm khi họ tổ chức một doanh nghiệp góp vốn mới (new venture) Các công ty mạo hiểm hay quỹ đầu tư mạo hiểm là các công ty
có mục tiêu đầu tư vào những thị trường tiềm năng mang tính đặc trưng, các công ty này có cơ cấu tổ chức đặc biệt để hoàn thành nhiệm vụ của mình Thông thường người ta hay nghĩ các quỹ mạo hiểm luôn sẵn sàng cung cấp vốn cho các doanh nghiệp mới nhưng không hẳn như vậy vì đầu tư mạo hiểm chỉ thích hợp với một số lĩnh vực, loại hình hoạt động chứ không phải cho tất
cả các doanh nghiệp và quỹ đầu tư mạo hiểm cũng có những đặc điểm riêng của mình:
Thứ nhất: đầu tư vốn vào các doanh nghiệp mà doanh nghiệp không
cần phải có một khoản đặt cọc hay ký quỹ nào
Trang 26Thứ hai: vốn mạo hiểm được đầu tư vào doanh nghiệp chủ yếu dựa
trên sự tin tưởng vào việc tạo dựng thành công doanh nghiệp của người sáng lập và đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp
Thứ ba: vốn mạo hiểm được đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó thì
có nghĩa là họ sẽ đồng tham dự vào việc kiểm soát điều hành doanh nghiệp Điều này cũng có nghĩa là họ sẽ phải đối mặt với rủi ro bị mất khoản đầu tư trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Tuy nhiên, rủi ro cao thì sẽ được
bù đắp bởi lợi nhuận cao khi doanh nghiệp đó thành công
Thứ tư: bên cạnh việc cung cấp vốn, các chuyên gia quản lý quỹ đầu tư
mạo hiểm còn tư vấn ở cấp chiến lược, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp trong quản lý và mở rộng các mối quan hệ nhằm tăng cường năng lực hoạt động kinh doanh, tạo dựng uy tín, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường
Do tính chất “mạo hiểm” trong hoạt động đầu tư, các chuyên gia quản
lý quỹ đầu tư mạo hiểm thường tiến hành rất kỹ việc sàng lọc hay thẩm định đầu tư nhằm tìm ra các doanh nghiệp tiềm năng để đầu tư Việc thẩm định đầu
tư này được tiến hành trên tất cả các mảng của hoạt động sản xuất kinh doanh,
từ việc xem xét đội ngũ lãnh đạo, công nghệ cho đến mô hình kinh doanh
1.2.1.3 Cơ cấu tổ chức hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm:
Do đầu tư mạo hiểm có những đặc điểm mang tính chất đặc thù nên cơ cấu tổ chức hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm cũng có những điểm riêng biệt với thành phần và mô hình tổ chức như sau:
Trang 27khả năng sinh lời cao Người quản lý vốn sẽ được nhận một khoản thù lao cố định theo định kỳ và tiền thưởng do mang lại lợi nhuận cao cho quỹ
Theo thông lệ, người huy động và quản lý vốn (GP) đóng góp 1% vốn của quỹ, những người cung cấp vốn (LP) sẽ cung cấp 99% vốn còn lại Người huy động và quản lý vốn (GP) là một tập thể gồm các chuyên gia kỹ thuật, chuyên gia đầu tư mạo hiểm và chuyên gia tài chính Những cung cấp vốn (LP) thông thường phải đầu tư một phần lớn tài sản của họ và như vậy trong trường hợp quỹ hoạt động không được tốt họ sẽ bị thiệt hại lớn huy động và quản lý vốn sẽ cố gắng tạo ra một kết quả hoạt động trên mức trung bình Người cung cấp vốn sẽ đầu tư vào quỹ dựa trên một sự điều tra, nghiên cứu
kỹ lưỡng bao gồm cả kinh nghiệm, quá trình làm việc của Người huy động và quản lý vốn và chiến lược đầu tư Người huy động và quản lý vốn sẽ điều hành hoạt động hàng ngày của Qũy và nhận một khoản phí điều hành trong khoảng từ 2-2,5% vốn của qũy Lợi nhuận của quỹ thường được chia theo tỷ
lệ 20/80%
Đặc điểm của hợp đồng đầu tư mạo hiểm là chứa rất nhiều động cơ khuyến khích người huy động và quản lý vốn và doanh nghiệp thực hiện tốt chức năng của mình Đối với người huy động và quản lý vốn, cấu trúc thu nhập của họ dựa trên thành công của qũy tức là tức là được chia 20% lợi nhuận của qũy mặc dù chỉ đóng góp 1% trên tổng vốn Thành công của qũy sẽ đem lại uy tín cho người huy động và quản lý vốn và giúp họ dễ dàng thu hút vốn mở qũy khác Ngoài ra họ còn có nhu cầu thoát vốn để tái đầu tư lợi nhuận hữu hình và vô hình Để khuyến khích doanh nghiệp làm tốt, đầu tư mạo hiểm thường được thực hiện theo giai đoạn, do đó nhà đầu tư có toàn quyền quyết định ngưng rót vốn cho doanh nghiệp trong trường hợp hoạt động của doanh nghiệp không được cam kết, trong hợp đồng quyền này được quy định thông qua điều khoản "ưu tiên từ chối" trong hợp đồng Doanh nghiệp sẽ lấy lại quyền kiểm soát khi doanh nghiệp hoạt động thành công và bán được cổ phiếu ra thị trường chứng khoán
Trang 28Để có một quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động tốt, ba thành phần kể trên luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho các khoản đầu tư, tạo động lực phát triển cho các tổ chức, cá nhân có vốn tham gia đầu tư mạo hiểm Đồng thời khuyến khích tính sáng tạo công nghệ, tinh thần dám nghĩ, dám làm và phát huy triệt để năng lực của các nhà quản
lý quỹ
1.2.1.3.2 Mô hình tổ chức
Quỹ đầu tư mạo hiểm thông thường được tổ chức dưới hình thức công
ty quản lý quỹ, đó là một định chế tài chính trung gian trên thị trường tài chính chuyên cung cấp các dịch vụ tổ chức và quản lý hoạt động đầu tư mạo hiểm, thông tin thị trường và vốn đầu tư Những công ty này thường là công
ty hợp danh hữu hạn hoặc là công ty con của các tập đoàn, các tổ chức tài chính, cũng có thể là công ty cổ phần:
Tổ chức theo hình thức hợp danh hữu hạn (Limited partnership) bao gồm thành viên tổng quát (general partner) và thành viên hợp danh hữu hạn (limited partners) cùng tham gia Tổ chức này hoạt động theo cơ chế phân chia trách nhiệm và quyền lợi giữa các thành viên tham gia Các thành viên tổng quát là người lập ra quỹ đầu tư mạo hiểm bằng vốn của mình và gọi vốn
từ các thành viên trách nhiệm hữu hạn Họ cũng là những nhà quản lý vốn mạo hiểm chuyên nghiệp có chức năng tổ chức, kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư mạo hiểm, tìm kiếm và lựa chọn các cơ hội đầu tư tốt nhất sau đó tiến hành đầu tư và quản lý dự án Việc đầu tư vốn vào các doanh nghiệp đòi hỏi các thành viên tổng quát phải tốn nhiều thời gian, công sức để theo dõi và giám sát các doanh nghiệp nhận đầu tư Trong quá trình làm việc, các nhà quản lý quỹ nhận được một khoản tiền lương từ chi phí họat động của quỹ và một tỷ
lệ tiền thưởng nhất định từ lợi nhuận thu được - điều này tạo ra một động lực mạnh mẽ để các thành viên tổng quát không ngừng nổ lực tạo ra nhiều lợi nhuận hơn trong quá trình công tác Còn những thành viên hợp danh hữu hạn
là những nhà đầu tư mạo hiểm góp vốn vào quỹ sẽ được chia lợi nhuận (hoặc chịu rủi ro), nhưng không tham gia quản lý, họ gần như không đóng vai trò gì
Trang 29trong các quyết định đầu tư của quỹ Các thành viên hợp danh hữu hạn thường là các tập đoàn công nghiệp, các tổ chức tài chính hay các quỹ hưu trí, các nhà đầu tư cá nhân…
Tổ chức quỹ theo hình thức là các công ty con của các tổ chức tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế (corporate subsidiaries) Trong cơ cấu tổ chức này, công ty mẹ trợ vốn mạo hiểm cho doanh nghiệp nhằm tạo mối quan hệ với những doanh nghiệp mới và phát triển các dịch vụ khác nhau Hội đồng quản trị của các công ty con sẽ đưa ra các quyết định phê chuẩn các khoản đầu tư, còn việc điều hành quản lý các khoản đầu tư lại do một công ty quản lý vốn mạo hiểm đảm trách Nhìn chung hình thức này không tạo được một nhà đầu
tư chuyên nghiệp và nếu có thì năng lực của họ cũng bị hạn chế do không có quyền đưa ra các quyết định đầu tư Thù lao cho các nhà quản lý quỹ mạo hiểm là những khoản lương không gắn liền với thành quả đầu tư và họ phải trung thành với lợi ích từ các công ty mẹ, điều này đôi khi dẫn tới xung khắc
về lợi ích giữa nguồn tài trợ và các đơn vị nhận vốn, giữa quỹ của công ty với các nhà đầu tư mạo hiểm khác
Tổ chức theo mô hình công ty cổ phần (corporation): Theo mô hình này, các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn đầu
tư Trong đó các cổ đông nắm một tỷ lệ cổ phần đáng kể sẽ có đủ điều kiện tham gia hội đồng quản trị với tư cách cổ đông sáng lập, còn lại là cổ đông thường Thực hiện mô hình này các cổ đông vẫn có thể dễ dàng kiểm soát hoạt động của công ty thông qua vai trò chủ động của hội đồng quản trị và khả năng lựa chọn công ty quản lý quỹ Mô hình này cũng cho phép quỹ đầu
tư mạo hiểm được hình thành dưới dạng quỹ đóng hoặc mở
1.2.1.4 Qui trình hoạt động:
Hoạt động đầu tư mạo hiểm có độ rủi ro rất cao, vì vậy để hạn chế rủi
ro có thể phát sinh, quy trình hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm thường được thực hiện theo các bước sau:
1.2.1.4.1.Giai đoạn thành lập quỹ:
Trang 30Đây là giai đoạn khởi đầu cho việc hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm, trong thời gian này các nhà quản lý sẽ tiến hành nghiên cứu, tìm kiếm các cơ hội đầu tư có triển vọng đồng thời tìm các nguồn cung cấp vốn Trong giai đoạn này, các nhà quản lý quỹ cũng tiến hành các thủ tục về mặt pháp lý để chuẩn bị cho việc thành lập quỹ:
Các thành viên nghiên cứu để có nhận định tổng quát và phát hiện những cơ hội đầu tư có triển vọng mang lại lợi nhuận cao; xem xét những lĩnh vực nên đầu tư và cụ thể từng dự án đồng thời dự kiến các nguồn vốn Sau đó tiến hành thẩm định dự án để xác định sản phẩm, thị trường, chiến lược phát triển và hình thức tổ chức doanh nghiệp phù hợp với các nguồn tài chính trước khi quyết định đầu tư
Các thành viên sáng lập quyết định mô hình tổ chức quỹ (có thể lựa chọn 1 trong các hình thức: công ty đầu tư, quỹ hỗ trợ, quỹ đầu tư ở dạng đóng hoặc mở) và xây dựng những cơ sở pháp lý cần thiết Xem xét và ra quyết định về mô hình tổ chức, mức vốn, số lần gọi vốn, chi tiết thể thức đầu
tư, cơ cấu thành phần quỹ vốn, hội đồng quản trị, ban điều hành… (vì những thành viên sáng lập có thể là các định chế tài chính, những tập đoàn đầu tư, những chuyên gia… nên họ cần phải xem xét các yếu tố thành lập quỹ để bảo đảm sự thành công)
Khâu cuối cùng của giai đoạn thành lập là các thành viên ra quyết định
chiến lược phát triển quỹ và các kế hoạch thực hiện chiến lược đó
1.2.1.4.2.Giai đoạn huy động vốn
Việc tổ chức huy động và ấn định ngày đóng quỹ là công việc được tính toán rất kỹ, cũng có thể huy động vốn một lần hoặc theo từng đợt phù hợp với nhu cầu đầu tư của từng dự án Vì việc đóng đầy đủ vốn theo đăng ký
có thể kéo dài 2-3 năm nên cần xây dựng một thời biểu nhiều ngày đóng quỹ (fund closing date) Một lịch trình nhiều lần đóng quỹ giúp cho các nhà đầu tư thấy được số tiền góp vốn được đầu tư thế nào vào các danh mục đầu tư và giá cả thị trường của các danh mục đó ở từng thời điểm Các nhà đầu tư được
Trang 31hưởng quyền lợi dựa trên tỷ lệ góp vốn và có quyền duy trì hoặc bán các cổ
phần của mình
1.2.1.4.3.Giai đoạn đầu tư
Trong gian đoạn này, các nhà quản lý quỹ tiến hành chọn lọc, thẩm định các dự án đầu tư, thương thuyết mua cổ phần hoặc đầu tư trực tiếp vào các dự án để đạt được lợi nhuận như cam kết ban đầu Để đảm bảo quyền lợi của quỹ gắn liền với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, các nhà quản
lý quỹ luôn giám sát các hoạt động của doanh nghiệp để kịp thời tư vấn hỗ trợ; với những kinh nghiệm và kiến thức của mình, họ có thể đưa ra những giải pháp tối ưu về chiến lược sản xuất kinh doanh, quản trị nhân sự, quản trị tài chính cho doanh nghiệp… Trong quá trình này vẫn có thể có những đợt huy động vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư Đồng thời trong suốt quá trình hoạt động của mình, quỹ đầu tư sẽ thường xuyên báo cáo về việc sử dụng vốn đầu
tư qua các danh mục đầu tư và giá trị danh mục ở từng giai đoạn cho các nhà
đầu tư
1.2.1.4.4.Giai đoạn gia tăng giá trị
Sau khi tiến hành đầu tư theo các danh mục, các nhà quản lý quỹ tiếp tục xây dựng bộ máy quản trị và mở rộng quan hệ với các tổ chức tài chính, kinh doanh tìm cơ hội gia tăng giá trị vốn quỹ Trong giai đoạn này, các nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm tiếp tục hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như nhân sự, tài chính, marketing… để có thể làm tăng tối
đa giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên, đặc điểm cơ bản của đầu tư mạo hiểm là đầu tư ở giai đoạn đầu vì vậy vốn mạo hiểm không phải là vốn đầu tư dài hạn
và các nhà đầu tư luôn muốn thu hồi vốn nhanh để đầu tư tiếp nên thời gian hoạt động của một chu kỳ vốn được coi là hiệu quả chỉ nên kéo dài từ 4 - 5
năm và không nên quá 7 năm
1.2.1.4.5.Giai đoạn thoát vốn
Đây là giai đoạn quan trọng có tầm quyết định cả quá trình đầu tư vì sau khi giá trị đầu tư đạt đến mức cần thiết, các quỹ đầu tư sẽ tìm cách thoát
Trang 32ánh kết quả của quá trình đầu tư và lợi ích đạt được của cả quá trình này chỉ phụ thuộc vào kết quả của việc thoát vốn Tuy nhiên giai đoạn thoát vốn có thể cơ động do các giai đoạn nắm giữ cổ phần thay đổi nên chiến lược thoát vốn cũng có thể thay đổi theo thời gian Thông thường các nhà đầu tư mạo hiểm tiến hành thoát vốn bằng những phương thức cơ bản như :
- Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO- Initial Public Offering)
- Bán toàn bộ doanh nghiệp: là việc bán công ty cho các tổ chức hoặc
cá nhân nào khác hay tiến hành sáp nhập với các doanh nghiệp khác
- Nhượng lại cổ phần cho các doanh nghiệp nhận đầu tư
- Bán số cổ phần đã đầu tư (kể cả việc bán cổ phần cho người lao động)
Kết quả qua việc thoát vốn của nhà đầu tư có thể bằng tiền mặt hoặc các cổ phiếu có khả năng thanh toán cao trên thị trường vốn Thời gian của các giai đoạn hình thành quỹ, gọi vốn, đầu tư cho đến thu hồi vốn và lợi nhuận của mỗi quỹ sẽ khác nhau vì số lượng và thời gian đầu tư của các dự án
ở mỗi quỹ có biến thiên khác nhau Đầu tư mạo hiểm thường có thời gian nhất định khoảng từ 3 - 5 năm
Quỹ đầu tư mạo hiểm ngoài việc đóng vai trò là nhà cung cấp vốn thông qua việc mua cổ phần với khối lượng lớn, họ còn tham gia vào quá trình quản lý doanh nghiệp đó bằng cách tham gia hội đồng quản trị công ty, tham gia hoạch định các chính sách về tài chính, kinh doanh, tìm kiếm thị trường… Khi quá trình đầu tư thành công – công ty phát triển tốt và được niêm yết trên thị trường chứng khoán, quỹ sẽ bán cổ phiếu để thu hồi vốn đầu
tư (đây là cách thoát vốn có lợi nhất và hay được sử dụng đối với quỹ đầu tư mạo hiểm)
1.2.2 Vai trò của Quỹ đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ĐMCN trong các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
Quỹ đầu tư mạo hiểm là nguồn tài chính phù hợp nhất để đổi mới công nghệ: nhìn từ khía cạnh quá trình phát triển của doanh nghiệp, vốn mạo hiểm
Trang 33tập trung chủ yếu vào giai đoạn khởi đầu, khi xác xuất thành công của doanh nghiệp còn rất thấp từ khía cạnh công nghệ, khác với các khoản đầu tư thông thường vốn mạo hiểm dành phần lớn cho giai đoạn sản xuất thử là giai đoạn
áp dụng ý tưởng hoặc công nghệ sau khi các kết quả nghiên cứu khoa công nghệ đã hoàn tất nhưng vẫn chưa đủ điều kiện đưa vào ứng dụng để sản xuất đại trà Nói một cách tổng quát, vốn mạo hiểm là một mắc xích quan trọng của mô hình tài chính đối với hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
Bằng trình độ, kinh nghiệm và mạng lưới liên kết rộng lớn của mình, quỹ đầu tư mạo hiểm không chỉ cung cấp vốn mà còn hỗ trợ các hoạt động khởi đầu của doanh nghiệp như: tư vấn về mặt pháp lý, tìm kiếm thị trường, liên kết thông tin, quản lý… Đây là điểm khác biệt quan trọng nhất của đầu tư mạo hiểm so với các loại hình đầu tư thông thường thông qua các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác
Quỹ đầu tư mạo hiểm là cầu nối để phát triển khoa học và công nghệ: các ý tưởng, công nghệ có thể xuất hiện từ nhiều nguồn khác nhau và có thể
từ bất cứ cá nhân nào, nhưng trên thực tế chúng thường bắt nguồn từ các nhà khoa học, các cơ sở nghiên cứu và triển khai hoặc trong các doanh nghiệp công nghệ cao Tuy nhiên từ ý tưởng hoặc công nghệ ban đầu muốn trở thành sản phẩm (có khả năng sử dụng) cần phải có vốn đầu tư để biến ý tưởng, công nghệ đó thành hiện thực Đây là giai đoạn đầu tư ban đầu nhiều mạo hiểm nhưng cũng chứa dựng nhiều nguồn lợi tiềm năng Từ đây các quỹ mạo hiểm
ra đời và phát triển với mục tiêu triển khai các ý tưởng, công nghệ đặc biệt có khả năng mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư thông qua các hoạt động góp vốn và hỗ trợ những cá nhân, tổ chức trong việc thành lập, vận hành và đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp
Quỹ đầu tư mạo hiểm tạo động lực phát triển nguồn nhân lực khoa học
và công nghệ: bên cạnh việc hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, các quỹ đầu tư mạo hiểm còn tạo động lực quan trọng thúc đẩy các nhà nghiên
Trang 34các ý tưởng, công nghệ mới Từ đó có thể thấy vai trò sâu xa của quỹ đầu tư mạo hiểm chính là đầu tư vào con người, cụ thể là những cá nhân, tập thể dựa vào tài năng và trí tuệ của mình đi đến thành công, bởi những ý tưởng sáng tạo, độc đáo có nhiều khả năng trở thành những sản phẩm tốt trong tương lai, chính vì thế chất xám là một trong những điều kiện quan trọng để nhận được tài trợ từ quỹ đầu tư mạo hiểm
Kết luận Chương 1
1 Trong chương 1, tác giả đã trình bày các khái niệm cơ bản được nghiên cứu trong Luận văn bao gồm: Công nghệ, đổi mới công nghệ, thị trường chứng khoán, DNNVV, Doanh nghiệp công nghiệp, Quỹ đầu tư mạo hiểm
2 Đồng thời, phân tích cơ sở lý luận về vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam, tầm quan trọng của DNNVV đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa trong công cuộc phát triển kinh tế, đưa ra ý kiến về giải pháp cho việc giải quyết khó khăn về nguồn vốn cho doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ đó là quỹ đầu tư mạo hiểm
3 Tác giả cũng trình bày các mô hình hoạt động, các đặc điểm và vai trò của Quỹ đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ĐMCN để làm cơ sở cho việc nghiên cứu các điều kiện, từ đó đề ra các giải pháp để quỹ đầu tư mạo hiểm đưa vốn đầu tư cho doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương thực hiện ĐMCN tại các chương sau
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TẠI VIỆT NAM
VÀ HOẠT ĐỘNG ĐMCN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở HẢI DƯƠNG
2.1 Thực trạng hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam
Khác với nghĩa hẹp của đầu tư mạo hiểm là đầu tư cổ phần vào những ý tưởng, công nghệ, những doanh nghiệp chưa trưởng thành, nghĩa rộng của đầu tư mạo hiểm được hiểu là nguồn tài chính cung cấp cho các tổ chức, cá nhân dưới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu tư trung hạn với mục tiêu là tìm kiếm khoản thu nhập vốn cao hơn mức trung bình Khoản thu này trở thành hiện thực sau khi các khoản đầu tư được niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc bán ra công chúng nên vốn mạo hiểm có thể được sử dụng
ở bất kỳ giai đoạn nào trong chu kỳ sống của doanh nghiệp cho dù là khởi đầu, tăng trưởng, bão hòa hay suy thoái vì thế cũng có nhiều hình thức đầu tư mạo hiểm như: đầu tư giai đoạn đầu, đầu tư mở rộng hoạt động và đầu tư mua
bán nợ.v.v
Nhìn chung hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Việt nam hiện nay được hiểu theo nghĩa rộng, có nhiều đơn vị đã nhận vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm như: Dragon Capital đã trở thành một cổ đông nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam khi mua cổ phần của VP Bank trong năm 1996; sau đó cùng với Vietnam Fund trở thành cổ đông của nhân hàng Á Châu (ACB) và họ đã thành công khi ACB đã trở thành một trong những ngân hàng mạnh nhất Việt Nam; hay như Quỹ Mekong Enterprise là quỹ mạo hiểm chuyên đầu tư và các doanh nghiệp tư nhân thuộc khu vực sông Mekong với mục đích đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp: tái cấu trúc Công ty Kiến trúc AA, Công ty cổ phần Lạc Việt, Công ty cổ phần dây diện Ngô Han, gỗ Đức Thành…; với Quỹ Vina Capital thì đối tượng quỹ này nhắm đến là các doanh nghiệp FDI, các công ty cổ phần hoạt động kém hiệu quả nhằm tái cơ cấu và nâng cao giá trị
Trang 36đầu tư vào Công ty cổ phần Kinh Đô và nắm giữ 30% cổ phần của dự án kem Kido ngay từ đầu khi Kinh đô mua hãng kem từ tập đoàn đa quốc gia Unilever.v.v
Sau 15 năm hoạt động của thị trường vốn mạo hiểm của nước ta có thể khái quát như sau: vào đầu những năm 1990, giới đầu tư quốc tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng trên khắp thế giới đều đánh giá cao tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam do những chính sách về đổi mới kinh tế tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 06 năm 1991) đã tạo ra những chuyển biến tích cực về môi trường kinh doanh và tốc độ tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đến cuối năm 1994, mặc dù vốn huy động tại các quỹ chưa đầu tư hết nhưng giá giao dịch các quỹ đã có những dự báo rất hấp dẫn cho các nhà đầu tư Đến năm 1995, tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư mạo hiểm đã có sự suy giảm, mặc dù trong giai đoạn này dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn có tốc
độ tăng trưởng mạnh tại Việt Nam và dòng vốn đầu tư mạo hiểm tiếp tục gia tăng tại khu vực Châu Á Cùng với những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 và sự ra đời quá chậm chạp của thị trường chứng khoán
đã làm cho hàng loạt các quỹ đầu tư mạo hiểm được thành lập đầu thập niên
1990 đã rút khỏi Việt Nam hoặc hoạt động cầm chừng Tuy nhiên trong năm
1999, vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam tăng khá mạnh do chính phủ ban hành hàng loạt các quy định khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào các công ty tư nhân trong nước Bên cạnh đó, thông tin về khai trương trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên của Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2000 cũng góp phần gia tăng dòng vốn mạo hiểm chảy vào Việt Nam4, nhưng làn sóng đầu tư mạo hiểm thực sự mạnh sau năm 2003 Đến nay có 4 quỹ đầu tư mạo hiểm lớn tại Việt Nam đó là các quỹ sau:
DRAGON CAPITAL: Công ty Dragon Capital (Dragon Capital
Group - DCG) là một công ty cung cấp các dịch vụ tài chính, chủ yếu tập
4
Ngô Thị Kim Oanh, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ: Những khó khăn trong việc hình thành Quỹ đầu tư mạo
Trang 37trung vào thị trường vốn và là nhà đầu tư trực tiếp tiên phong tại thị trường chứng khoán tại Việt Nam Từ khi thành lập vào năm 1994 đến nay, với vốn đầu tư ban đầu là 16 triệuUSD, Dragon Capital là công ty quản lý quỹ lớn và giàu kinh nghiệm tại Việt Nam với tổng số tài sản trên 1,5 tỷ USD Việt Nam Eterprise Invesments Limtied ( VEIL ) hiện là quỹ đầu tư Việt Nam duy nhất được niêm yết ở nước ngoài từ khi được thành lập năm 1995 Vốn thị trường của VEIL chiếm 1/2 giá trị của tổng vốn thị trường trong lĩnh vực này VEIL
là công ty đầu tư lớn thứ 2 sau Nhà nước Việt Nam trên thị trường chứng khoán trong các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp cổ phần hoá VEIL là quỹ đầu tư đầu tiên và quan trọng nhất do DCG quản lý với tổng tài sản trên
500 triệu USD, đổng thời là quỹ tăng trưởng ấn tượng nhất tại Việt Nam Mục tiêu chủ yếu của quỹ là đầu tư vào các công ty đại chúng, các công ty tư nhân Việtnam hoặc những công ty liên quan đến Việtnam Với sự ra đời của những quỹ tiếp theo VietNam Growth Fund (VGF) và VietNam Dragon Fund (VDF) với mục đích mang đến cơ hội đầu tư vào các công ty niêm yết hoặc các công
ty chuẩn bị niêm yết Tài sản chuyên biệt đầu tiên Vietnam Resource Investment (VRI) hướng tới các cơ hội đầu tư vào khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam, Vietnam Debt Fund (VDeF), Quỹ đầu tiên chuyên biệt về thị trường nợ Việt Nam với tiêu chí tập chung vào trái phiếu Chính phủ và nợ doanh nghiệp (như trái phiếu, kì phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tín gửi); Vietnam property Fund (VPF) tập trung vào thị trường bất động sản Việt Nam với mục tiêu đầu tư trải rộng trên tất cả các lĩnh vực bất động sản và các
đô thị hiện hữu, DCG đã phát triển thành một ngân hàng đầu tư hoạt động đa dạng, cung cấp cho khách hàng nhiều dịch vụ tài chính bao gồm quản trị doanh nghiệp, quản lý quỹ, đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp vào thị trường vốn Bên cạnh viêc quản lý quỹ đầu tư nước ngoài, DCG đang nắm giữ 49% cổ phần của Vietfund Management (VFM), một công ty quản lý quỹ đầu tư trong nước thông qua hình thức liên doanh với ngân hàng Sacombank, ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam VFM hiện quản lý 3 quỹ trong nước
Trang 38quản lý tài khoản riêng cho một số khách hàng và dịch vụ đầu tư vào các loại tài sản như trái phiếu, địa ốc và tài nguyên thiên nhiên5
VinaCapital: Thành lập từ tháng 11 năm 2003 với số vốn đầu tư ban
đầu 10 triệu đôla Mỹ trong quỹ Vietnam Opportunity Fund (VOF), đến nay tập đoàn VinaCapital đã có những bước phát tiến rất lớn trong hoạt động của mình Tổng giá trị tài sản hiện VinaCapital đang quản lý đạt trên 1 tỷ đôla
Mỹ trong 3 quỹ VOF, VinaLand và DFJ VinaCapital L.P chuyên về công nghệ thông tin (2 quỹ đang niêm yêt tại TTCK London và VOF có giá trị tài sản ròng đạt 790 triệu đôla Mỹ và VinaLand có giá trị ban đầu 200 triệu đôla
Mỹ vừa hoàn thành đợt huy động vốn thứ 2 với dự kiến tổng số vốn đầu tư của quỹ sẽ đạt mức 500 - 600 triệu đôla Mỹ), trong đó vốn đầu tư trung hạn
và dài hạn chiếm 70% trên tổng số vốn VinaCapital đã và đang nỗ lực thực hiện hoá các tiêu chí hàng đầu trong hoạt động đầu tư Đó là tạo ra giá trị cụ thể cho nhà đầu tư, tăng giá trị của các công ty trong danh mục đầu tư, đóng góp ngày càng nhiều cho lợi ích cộng đồng, góp phần tích cực vào sự phát triển ổn định, bền vững của thị trường tài chính và tổng thể nền kinh tế Việt Nam Mục tiêu lớn nhất của VinaCapital Group là tạo ra giá trị cho các cổ đông và khách hàng của mình đồng thời gia tăng giá trị cho các công ty trong danh mục đầu tư, đóng góp ngày càng nhiều cho lợi ích cộng đồng và nền kinh tế Việt Nam.6
IDG Venture: là một chuỗi quỹ đầu tư mạo hiểm của Mỹ có mạng lưới
toàn cầu đang quản lý số vốn hơn hai tỷ đô la Trong 15 năm qua các qũy này
đã đầu tư vào 220 công ty Hệ thống IDG Ventures gồm 6 quỹ đầu tư hoạt động độc lập tại Bắc Mỹ và châu Á Mỗi quỹ đầu tư đại diện cho tập đoàn của mình là International Data Group (IDG) tập đoàn truyền thông công nghệ thông tin lớn nhất thế giới, được toàn quyền quyết định việc đầu tư Dựa trên nền tảng vững chắc của IDG-kết hợp giữa lĩnh vực xuất bản toàn cầu, nghiên cứu thị trường (IDC), tổ chức sự kiện và hội thảo cùng với bề dày kinh
Trang 39nghiệm thực tế trong việc phát triển các công ty mới khởi sự, mỗi quỹ đầu tư của IDG Ventures sẽ giúp các công ty hiểu hơn về thị trường cũng như thúc đẩy họ tiến nhanh hơn trong quá trình cạnh tranh Được thành lập vào tháng 8 năm 2004, IDV Ventures ViêtNam (IDGVV) là quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên
về công nghệ tại Việt Nam Quản lý số vốn 100 triệu đô la IDGVV đã đầu tư chủ yếu vào các công ty tư nhân thuộc lĩnh vực viễn thông, truyền thông và công nghệ từ giai đoạn sơ khởi IDGVV luôn kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ các công ty đầu tư bằng chuyên môn và kinh nghiệm tối ưu nhất của mình IDGVV đã và đang đầu tư vào công ty công nghệ hàng đầu tại Việt Nam có thể kể đến như: VinaGame, VinaPay, iSphere, MSS, Goldsun Focus Media, Vega, YeuAmNhac, DreamViet…7
Mekong Capital: Năm 1999, chương trình chương trình hỗ trợ phát
triển Khu vực Tư nhân vùng Mekong ( MPDF ) thực hiện một nghiên cứu khả thi về khả năng mở một quỹ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) trong vùng Mekong Đến giữa năm 2000, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)
có mối quan tâm sâu sắc vơi ý tưởng thành lập một quỹ đầu tư vào công ty
tư nhân ở Việt Nam, Lào và Campuchia do ảnh hưởng tích cực lên sự phát triển của khu vực tư nhân Phát kiến này của ADB do Ông Randa Earman thực hiện Ông đồng thời là đại diện của ADB làm thành viên Hội đồng quản trị trong MPDF Trong lúc đó Chris Frenund làm việc cho Templeton tại Viêt Nam từ 1995 đến 1998, và tại Singapore từ 1998 đến 2001, song mong muốn trở về Việt Nam và lập công ty quản lý quỹ Vào năm 2000, Tổng giám đốc của MPDF, Mario Fischel, liên lạc với Chis Freund để hỏi
ý kiến về ý tưởng lập quỹ đầu tư vào doanh nghiệp tư nhân tai Việt Nam, Lào và Campuchia Chris đã lập tức quan tâm theo đuổi cơ hội này và cộng tác cùng MPDF và ADB cho mục tiêu đó Khi đã thu hút được sự quan tâm
từ các nhà đầu tư tiềm năng cho quỹ Mekong Enterprise Fund, công ty
7 Nguồn: website www.idgvv.com, Giới thiệu về Quỹ đầu tư IDG Ventures
Trang 40TNHH Mekong Capital được thành lập ở Cayman Islands vào tháng 3 năm
2001 và mở văn phòng đại diện tại TP.HCM ngay sau đó Giữa tháng 3 năm 2001 và tháng 4 năm 2002, các nhà đầu tư khác của Mekong Enterprise Fund như Vụ kinh tế Thuỵ Sỹ (SECO), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF) và Quỹ Hợp tác Công nghệ Phần Lan (Finfund) bắt đầu tham gia vào quá trình hỗ trợ hình thành cơ cấu Quỹ Mekong Enterprise Fund Quỹ Mekong Enterprise Fund được khai trương vào tháng 4 năm 2002, khởi điểm với 16 triệu đô la Mỹ Mekong Enterprise Fund là quỹ đầu tư chủ yếu vào Việt Nam đầu tiên được khai trương sau khủng hoảng tài chính va là quỹ mới tại đầu tiên tại Việt Nam trong thập kỷ này Tại thời điểm đó, một quỹ khác đang đẩu tư tích cực tại Việt Nam là Enterprise Investment Limited do Dragon Capital quản lý Mekong Enterprise Fund hoàn tất khoản đầu tư đầu tiên vào tháng 3 năm 2003, và hoàn tất khoản đầu tư vào công ty thứ 10 và cũng là cuối cùng vào cuối năm 2005 Sau khi Mekong Enterprise Fund hoàn tất khoản đầu tư vào công ty cuối cùng cuối năm
2005, Mekong Capital khai trương Mekong Enterprise Fund II với quy mô
50 triệu đôla Mỹ vào tháng 6 năm 2006 Mekong Capital khai trương Việt Nam Azalea Fund với quy mô 100 triệu đôla Mỹ vào tháng 6 năm 2007
Mekong Enterprise Fund, Ltd là quỹ Private Equity với cam kết là
18,5 triệu đôla Mỹ tập chung đầu tư vốn cổ phần vào công ty tăng trưởng thuộc thế hệ đầu tiên các công ty tư nhân tại Việt Nam Quỹ đầu tư vào 10 công ty trong giai đoạn từ 2003 - 2005
Mekong Eterprise Fund II, Ltd là quỹ Private Equity với vốn cam
kết là 50 triệu đôla Mỹ, tập chung đầu tư vốn cổ phần vào các công ty tăng trưởng thuộc thế hệ mới các công ty tư nhân tại Việt Nam
Vietnam Azalae Limited là quỹ 100 triệu đô-la Mỹ tập trung thực hiện
các khoản đầu tư thiểu số vào các phân khúc trước niêm yết và đã niêm yết của thị trường đầu tư private equity Quỹ nhắm đến các công ty sẽ dẫn đầu Việt Nam trong tương lai, bao gồm các công ty tư nhân và công ty nhà nước