Đồng thời, qua đây, chúng tôi có thể đưa ra được một vài khuyến nghị cho các ngành, các cấp và đặc biệt là với các bậc phụ huynh trong cách quan tâm, dạy dỗ con cái mình nhằm giảm thiểu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ HẰNG PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN
GÂY RA RỐI LOẠN LO ÂU
Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 2Các nhà khoa học cho rằng mười phần trăm (10%) lo âu là cần thiết cho một người bình thường Nhưng vấn đề lại ở chỗ không phải lúc nào người ta cũng có một chút lo âu, mà ở rất nhiều người lo âu đã trở thành bệnh lí Vì nó luôn làm đảo lộn cuộc sống cá nhân, làm cho người đó ăn không ngon, ngủ không yên, tâm thần bất an Trong nhiều trường hợp, người có rối loạn lo âu
có thể giảm được sự lo lắng thái quá nếu có những biện pháp hỗ trợ thích hợp
Về mặt lý thuyết
Nghiên cứu về những nguyên nhân gây ra các bệnh tâm trí ấy là cực kỳ cần thiết để phục vụ cho việc trị liệu tâm lí, giúp con người trở lại được trạng thái bình thường; nhưng từ trước tới nay, mặc dù có nhiều nghiên cứu về vấn
đề sức khoẻ tâm trí nói chung, nhưng lại ít có những nguyên cứu chuyên biệt
về rối loạn lo âu
Rối loạn lo âu tồn tại ở mọi lứa tuổi, nhưng với các em học sinh THPT, lứa tuổi 15-18 thì khả năng xuất hiện rối loạn lo âu là tương tối cao, bởi trước hết đây là lứa tuổi có đặc điểm tâm sinh lí đặc biệt; những thay đổi ở lứa tuổi dậy thì gây ra không ít những vướng mắc ở các em Hơn nữa, với các em học sinh trung học phổ thông, sự lo lắng của các em về việc học tập, về trường thi,
Trang 3khối thi, về tương lai, về ngành nghề và cả những vấn đề bạn bè đều có ảnh hưởng không nhỏ đến tình cảm và suy nghĩ của các em
Chính vì lí do trên đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh THPT (cụ thể là chúng tôi đã nghiên cứu trên học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình) Chúng tôi hi vọng rằng, qua nghiên cứu này, có thể tìm ra một số nguyên nhân chủ yếu gây ra rối loạn lo
âu ở học sinh trung học phổ thông Đồng thời, qua đây, chúng tôi có thể đưa
ra được một vài khuyến nghị cho các ngành, các cấp và đặc biệt là với các bậc phụ huynh trong cách quan tâm, dạy dỗ con cái mình nhằm giảm thiểu nguy
cơ rối loạn lo âu ở các em học sinh trong lứa tuổi trung học phổ thông
2 Đối tƣợng nghiên cứu
Nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu tại trường THPT chuyên Quảng Bình)
3 Mục đích nghiên cứu
- Chỉ ra một số nguyên nhân gây rối loạn lo âu, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông Chuyên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu
- Chỉ ra thực trạng rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông Chuyên
- Lý giải những nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở các em
- Phân tích 3 trường hợp cụ thể để minh hoạ nguyên nhân gây rối loạn
lo âu
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông Chuyên
Trang 4- 2 giáo viên dạy tại trường THPT Chuyên Quảng Bình
- 2 phụ huynh của các em học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu 4 nhóm nguyên nhân gây rối loạn
lo âu là: nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập, liên quan đến gia đình, liên quan đến các mối quan hệ xã hội và liên quan đến bản thân học sinh
- Trong đề tài này, chúng tôi dùng cụm từ “rối loạn lo âu“ để biểu đạt
cho việc lo âu quá mức bình thường Những em học sinh có rối loạn lo âu được xác định bằng việc các em ấy có điểm đo lo âu ở thang DASS 42 từ 15 điểm trở lên và ở thang Zung từ 40 điểm trở lên (Xin xem thêm ở Chương 2, phần phương pháp nghiên cứu)
6.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu học sinh, giáo viên và phụ huynh của các em học sinh thuộc trường trung học phổ thông
Chuyên Quảng Bình, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Trong các nhóm nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu cho các em học sinh trung học phổ thông mà chúng tôi đã đề cập đến ở trên, thì nhóm nguyên nhân liên quan đến lĩnh vực học tập gây ra rối loạn lo âu cho các em nhiều nhất
Trang 5- Rối loạn lo âu xuất hiện ở những em học sinh cuối cấp (học sinh lớp 12) cao hơn so với các em lớp dưới (lớp 10 và 11)
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study)
- Phương pháp thống kê toán học
Các phương pháp nghiên cứu này sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở chương 2 (trang 41)
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan nghiên cứu về vấn đề lo âu trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về lo âu trên thế giới
Thuật ngữ “Rối loạn lo âu“ đó được sử dụng từ lâu trong lịch sử phát triển của ngành tâm thần và y học Lần đầu tiên thuật ngữ Angest được Kerkgard (Đan Mạch) sử dụng để chỉ trạng tháng lo âu vào năm 1844, [dẫn theo [10; 123]
Vào những năm cuối thế kỳ 19, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm một cách đặc biệt đến tình trạng sức khỏe tâm thần của con người Trong các bệnh
về sức khỏe tân tầm, lo âu, trầm cảm được xem là những bệnh tâm căn
Năm 1866, Morel gộp chung lại những trạng thái lo âu dưới cái tên là:
“Hoang tưởng cảm xúc“ (Délire émotif), khác với hystérie và ưu bệnh (hypochondria) [10; 123]
Đến năm 1871, Dacosta đã mô tả các triệu chứng lo âu gọi là trạng thái tim bị kích thích Beck là người đầu tiên tách trạng thái lo âu, trầm cảm ra khỏi suy nhược thần kinh (Vì hầu hết các bác sĩ ở thế kỷ XIX đều xếp các bệnh nhân rối loạn lo âu vào suy nhược thần kinh) [10; 123]
Sau đó, vào năm 1895, Freud đề nghị khái niệm: “Loạn thần kinh lo hãi“ bao gồm sự chờ đợi và lo âu cấp tính Ông đó đề xuất ra thuật ngữ “nhiễu tâm lo âu“ trên cơ sở phân tích các hiện tượng lâm sàng rối loạn ám ảnh [10; 123]
Khái niệm này được nhiều người chấp nhận và sử dụng trong thời gian dài từ thế kỷ XX đến nay, ông cho rằng chứng bệnh tâm căn này là do xung đột nội tâm vô thức
Năm 1960, khi bàn về lo âu và rối loạn lo âu, Donald Klein đề nghị chia ra hai thực thể khác nhau là rối loạn hoảng loạn và lo âu lan tỏa mãn tính
Trang 7Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8 (ICD8, 1968) tổ chức Y tế thế giới cho rằng, lo âu được xếp vào lo âu tâm căn (tức là bệnh do căn nguyên tâm lí)
Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 9, (ICD9, 1978), mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhiều thay đổi trong bảng phân loại, nhưng họ vẫn xếp các trạng thái lo âu vào các rối loạn tâm căn, tuy nhiên bắt đầu theo hướng mô tả các triệu chứng thuần túy về các mức độ khác nhau của các rối loạn lo âu
Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD10, 1992) đã ghi nhận sự kết hợp quan trọng của các rối loạn này với các nguyên nhân tâm lí Rối loạn lo
âu được xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể
Khoảng những năm 80 thế kỷ XX, các nhà tâm lí học Nga xếp các trạng thái lo âu sợ hãi ám ảnh của trẻ em vào hội chứng rối loạn thần kinh chức năng
Trong bảng phân loại các rối loạn tâm lí và bệnh tâm thần của Hiệp hội tâm thần Mỹ (Diagnostic and Statistical Manual for Mental Disorders - DSM III, 1983), thì khái niệm rối loạn lo âu bắt đầu được sử dụng chính thức Phân chia rối loạn lo âu thành rối loạn lo âu chia ly, rối loạn lo âu quá mức, rối loạn
lo âu né tránh
Nhưng đến năm 1994, Hội tâm thần học Mỹ đưa ra bảng phân loại DSM – IV [23; 136], thì mỗi loại rối nhiễu tâm thần (Mental Disorders) được khái niệm hóa như là một nhóm những triệu chứng bất thường về tâm lí (hoặc những mẫu hành vi ứng xử bất thường) có ý nghĩa về mặt lâm sàng Chúng xảy ra ở một cá nhân và liên quan dến stress tiêu cực (ví dụ: triệu chứng đau) hoặc liên quan đến việc làm mất năng lực của cá nhân (tức là làm hỏng một hay một số chức năng duy trì cuộc sống cân bằng của cá nhân), hoặc làm tăng đáng kể sự nguy hiểm cho cá nhân qua việc phải chịu đựng những cảm giác tiêu cực (như ám ảnh về cái chết, sự đau khổ, sự mất năng lực) hoặc sự mất mát đáng kể, sự tự do của cá nhân (nhưng những triệu chứng này không phải
Trang 8là một sự đáp ứng được người ta chấp nhận về mặt văn hóa hoặc được người
ta mong đợi, chẳng hạn cái chết của người thân) Bất kể điều gì là nguyên nhân của những triệu chứng thì sự rối nhiễu hiện có phải được xem là sự biểu hiện của sự suy thoái về chức năng ở các góc độ sinh lí, tâm lí (nhận thức – hành vi) xảy ra ở các cá nhân nào đó
1.1.2 Vài nét về tình hình nghiên cứu lo âu ở Việt Nam
Theo những số liệu mà chúng tôi thu được, thì cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về rối loạn lo âu một cách độc lập, chuyên biệt Thông thường, các nghiên cứu đều tập trung vào nhiều yếu tố cùng một lúc
Ví dụ, các nhà khoa học nghiên cứu các rối nhiễu tâm trí, hay các tổn thương tâm lí thì rối loạn lo âu chỉ nằm một phần nhỏ, hẹp trong đó
Kể từ năm 1987 đến nay, Việt Nam chưa hề có một cuộc nghiên cứu trên quy mô toàn quốc về vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ em Theo bác sĩ Hoàng Cẩm Tú, đáng kể nhất là cuộc nghiên cứu của ngành tâm thần về rối nhiễu hành vi ở trẻ em (chỉ là một trong những bệnh về sức khỏe tâm thần) [32]
Tìm hiểu vấn đề này chúng tôi đã thu được những số liệu như sau ở Việt Nam:
Dưới góc độ nghiên cứu chẩn đoán trị liệu, theo báo cáo thống kê phân loại các rối nhiễu tâm lí của trẻ em và thiếu niên, qua 352 hồ sơ của Bác sĩ Phạm Văn Đoàn [16; 28], thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em (NT) tính từ tháng 1/1989 đến tháng 10/1995 có các nhóm rối nhiễu tâm trí cơ bản sau:
- Loạn tâm: có 24 trường hợp chiếm 6,8% trong đó chủ yếu là tâm thần phân liệt ở tuổi tiền dậy thì
- Nhiễu tâm: Có 95 trường hợp, chiếm 27% chủ yếu là nhiễu tâm tiến triển có biểu hiện hysteria và ám sợ trội
Trang 9- Bệnh lí về nhân cách và các rối nhiễu tiến triển ngoài loạn tâm và nhiễu tâm có 14 trường hợp, chiếm 4% trong đó chủ yếu là trái nết, dị tính
Bác sĩ Phạm Văn Trụ, trưởng Khoa khám bệnh bệnh viện tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, cuộc sống hiện tại làm con người ngày càng có nhiều áp lực, vì vậy mà số người mắc bệnh lo âu đến khám ngày càng nhiều, chỉ trong tháng 11/2004 đã có tới 812 bệnh nhân, tăng nhiều lần so với những tháng trước [34]
Dẫn theo tài liệu của Nguyễn Công Khanh, "Báo cáo của tổ chức y tế thế giới năm 1995 công bố rằng có khoảng 20% người lớn đã có trải nghiệm cơn hoảng sợ trong đời Theo thống kê của nhiều nước trong nhiều thập kỷ qua, tỉ lệ rối loạn lo âu trẻ em là 5,7 đến 17,7% Theo Kashani và O.Verchell (1997) tỉ lệ rối loạn lo âu trẻ em và vị thành niên Mỹ là khoảng 9% Còn tại Hoa Kỳ hiện nay, mỗi năm có hàng triệu dân mắc bệnh này" [16; 26]
Theo Bác sĩ Nguyễn Thanh Hồi - Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương, kết quả cuộc khảo sát mới đây đưa ra con số giật mình: 19,46 % học sinh trong độ tuổi từ 10-16 tuổi gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần Trong khi đó, hiểu biết của xã hội (thậm chí ngay trong ngành y tế) về chăm sóc sức khỏe tâm thần còn rất nghèo nàn Như vậy, gần 20% trẻ dưới 16 tuổi có vấn đề sức khỏe tâm thần [33]
1.2 Các khái niệm công cụ đƣợc sử dụng trong đề tài
1.2.1 Khái niệm lo âu
Có nhiều định nghĩa khác nhau về lo âu, trong đó, nổi bật lên là các định nghĩa:
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuấn, lo âu là một rối loạn có cấu trúc đơn sơ thể hiện ra ngoài bằng một mối lo âu không đối tượng, lan tỏa và dai dẳng [19,11]
Trang 10Theo tác giả Đinh Đăng Hòe: Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, hướng tới [7,37]
Theo bác sĩ Lâm Xuân Điền, Giám đốc bệnh viện tâm thần TP Hồ Chí Minh: “Lo âu là tâm trạng chờ đợi một việc gì đó sắp xẩy ra mà mình không biết được hậu quả” [34]
Còn theo từ điển tâm lý, Nguyễn Khắc Viện, lo âu là việc đón chờ và suy nghĩ về một điều gì đó có thể để mà không chắc có thể đối phó được là
lo Nếu sự việc cụ thể mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi tâm lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp là mối
lo nhưng cụ thể không thật rõ là lo về cái gì, sợ về cái gì, đó là hãi [21; 190]
Theo từ điển Wikipedia, lo âu về bản chất là đáp ứng với một đe dọa không được biết trước từ bên trong, mơ hồ hay có nguồn gốc xung đột, còn sợ
là đáp ứng với một đe dọa được biết rõ ràng từ bên ngoài hay không có nguồn gốc xung đột Cả hai đều là đáp trả lại các kích thích bất lợi của môi trường nhằm gia tăng tính tích cực của hành vi, chẳng hạn sợ hãi con rắn được tìm thấy ở nhiều người được cho là có ích nó giúp họ tránh những tổn thương mà người không có cảm giác sợ này có thể gặp phải do không lường trước được nguy hiểm (như bị rắn cắn)
Từ những cách hiểu khác nhau về lo âu vừa trình bày trên, chúng ta có thể xem xét thuật ngữ lo âu qua những điểm sau:
- Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua để tồn tại
- Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xẩy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa
Trang 11Lo âu và sợ hãi cũng có những điểm khác nhau, với lo âu, đó là một đáp ứng với một sự đe dọa mà cá nhân không biết được rõ ràng, mơ hồ, thường phát sinh từ bên trong và mang tính xung đột, mâu thuẫn Còn sợ hãi là đáp ứng với một sự đe dọa, mà sự đe dọa này thường được xác định hoặc biết rõ, thường phát sinh từ bên ngoài và không mang tính xung đột
Như vậy, đối với mỗi con người, trạng thái lo âu xuất hiện trong cuộc
sống của họ là chuyện bình thường, phải lo lắng về điều gì đó cũng giống như những việc làm hàng ngày khác của họ: lo cái ăn, cái mặc, lo học hành,
tu dưỡng, lo nghĩ về các mối quan hệ Và lo âu là điều kiện tiên quyết để mỗi người hoàn thiện bản thân mình, làm tốt mọi việc được giao, tạo ra cuộc sống tốt đẹp hơn cho chính mình và những người xung quanh
Nhưng nếu những lo âu đó kéo dài, lo âu với những nguyên nhân không rõ ràng sẽ có những hậu quả không lường trước được, ví dụ như lo âu mang tính bệnh lí hay trầm cảm
Vấn đề lo âu đối với trẻ em, thanh thiếu niên có những điểm khác biệt hẳn so với người lớn, đó cũng là cảm giác lo lắng về những gì xẩy ra bên cạnh mình, có ảnh hưởng tới tình cảm, nguyện vọng đời sống của chính các em Dựa vào đặc điểm hoạt động chủ đạo của các em, chúng ta có thể phân loại được những nguyên nhân gây ra lo lắng, áp lực cho các em chính là những lo lắng xung quanh áp lực về việc học tập, những mối quan hệ với bạn bè với thầy cô giáo, và mối quan hệ với cha mẹ, anh chị em gia đình
Còn đối với người lớn, mối quan hệ của họ rộng lớn hơn, như gia đình, bạn bè, nơi làm việc, hàng xóm… cho nên những rối loạn lo âu ở người lớn cũng nhiều yếu tố phức tạp hơn ở trẻ em
1.2.2 Khái niệm rối loạn lo âu
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, lo âu là điều bình thường và cần thiết đối với cuộc sống con người Nhưng nếu người ta không kiểm soát nổi những
Trang 12cảm giác lo âu ở mức bình thường, để nó vượt quá ngưỡng của mức bình thường, diễn biến trong thời gian dài, kèm theo những rối loạn về mặt thực thể, rối loạn hệ thần kinh thực vật thì lo âu trở nên có tính bệnh lí (còn gọi là rối loạn lo âu)
Thuật ngữ “rối loạn lo âu” đã từng có những biến đổi về ý nghĩa và định nghĩa, Aubrey Lewis, một bậc lão thành của ngành tâm thần học nước Anh đã khái quát lại như sau [10; 123]:
+ Đó là một trạng thái cảm xúc với tính chất trải nghiệm chủ quan về
sợ hoặc cảm xúc có liên quan gần như thế (kinh hãi, tổn hại, hoảng hốt khiếp
sợ, hoảng sợ, bối rối, kinh sợ, kinh hoàng)
+ Cảm xúc xấu: Có thể là cảm giác cái chết đe dọa hoặc là suy sụp + Đó là sợ trực tiếp cho tương lai, trong đó có cảm giác đe dọa của nguy hiểm đang đến
+ Có những đe dọa hoặc là không thể nhận ra được, hoặc theo tiêu chuẩn hợp lí, đe dọa ấy không cân xứng với cảm xúc đó gây nên
+ Có những khó chịu chủ quan về cơ thể như là cảm giác thắt lại trong ngực, cảm giác thít chặt trong cổ họng và khó thở
+ Có các rối loạn cơ thể bao gồm các hoạt động tự ý (thí dụ, kêu thét lên, chạy trong khi hoảng sợ) hoặc các hoạt động không hoàn toàn hoặc hoàn toàn tự ý (thí dụ: khô mồm, ra mồ hôi, nôn và đánh trống ngực)
Theo P Pichot (1967), lo âu chỉ là sự lo sợ về một đối tượng không rõ ràng hoặc không cụ thể Fiona Judd và Graham Burrows trong bài viết về “Các rối loạn lo âu”, cho rằng: Lo âu thường gặp là một cảm giác sợ hãi mơ hồ, khó chịu, lan tỏa cùng với rối loạn cơ thể ở bất cứ bộ phận nào, ít nhất trong thể nhẹ
và nhất thời, chúng ta thường thấy mang tính chu kỳ Lo âu có thể là hoạt động thích nghi như là một tín hiệu báo động và báo trước sự đe dọa bên ngoài hoặc bên trong và hậu quả là tạo ra hoạt động thích hợp (dẫn theo [1; 277])
Trang 13Theo Bremmer có tới 50-90% bệnh nhân có các rối loạn tâm thần khác kéo theo (trầm cảm, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, loạn thần cấp ) Rối loạn lo
âu thường biểu hiện sau một yếu tố gây stress, chủ thể có cảm giác sợ hãi mơ
hồ, sự bất an, bối rối khó chịu, dễ bị kích thích lo nghĩ về những sự việc vụn vặt kéo theo cảm giác đau thắt ngực, đánh trống ngực, cảm giác trống rỗng thượng vị, có mồ hôi Những người bị rối loạn lo âu, trầm cảm, stress dai dẳng thường có biểu hiện mất ngủ, bực bội, bất an, trí nhớ và khả năng lao động giảm sút (dẫn theo [1; 277])
Theo tiêu chuẩn phân loại lo âu của hội Tâm thần học Mỹ, DSM-IV, rối loạn lo âu là những lo sợ thái quá về một số sự kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xẩy ra lặp đi lặp lại ít nhất trong 6 tháng Cá nhân thường có khó khăn trong sự kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng hạn như là sự căng cơ, cáu bẳn, khó ngủ và cảm giác bất an…
Cũng theo DSM-IV, sự khác biệt giữa lo âu và rối loạn lo âu là trạng thái lo lắng quá mức và cá nhân có khó khăn hoặc mất sự kiểm soát những lo
âu này Những người trải nghiệm sự lo âu khó kiểm soát những xúc cảm của bản thân, những xúc cảm tiêu cực thường tạo ra sự đảo lộn hay sự mất năng lực trong phạm vi của bản thân
Chúng ta có thể xem ở bảng sau để phân biệt rõ hơn về lo âu bình thường và rối loạn lo âu, trong luận văn này, chúng tôi cũng dựa vào những tiêu chí này để xem xét những dấu hiệu rối loạn lo âu ở học sinh THPT Chuyên Quảng Bình
Trang 14Chủ đề
Lo lắng có chủ đề, nội dung rõ ràng như ốm đau, công ăn việc làm
Không có chủ thể rõ ràng, mang tính chất vô lí, mơ hồ (lo lắng về tương lai)
Thời
gian
Nhất thời khi có các sự kiện trong đời sống tác động đến tâm lí của chủ thể Hết lo âu khi mất các tác động này
Kéo dài và lặp đi lặp lại
Thông qua các cách diễn đạt về RLLA như trên, ở đây, chúng tôi thống nhất hiểu khái niệm rối loạn lo âu như sau:
Rối loạn lo âu là lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với
sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của chủ thể, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ như quá mức hay vô lí
1.2.3 Khái niệm học sinh trung học phổ thông
Trung học phổ thông là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay, nó sau tiểu học, trung học cơ sở và trước cao đẳng hoặc đại học Trung học phổ thông kéo dài 3 năm (từ lớp 10 đến lớp 12) Để tốt nghiệp bậc học này, học sinh phải vượt qua kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông vào
cuối năm học lớp 12 (trước đây thường gọi là thi tú tài) [41]
Trường trung học phổ thông chuyên là trường THPT nhưng đào tạo theo hệ thống các lớp chuyên Học sinh trường THPT Chuyên nói chung đều
Trang 15phải vượt qua kỳ thi tuyển vào trường với môn chuyên đăng ký trước Về số lượng học sinh cũng hạn chế hơn các trường THPT không chuyên
1.2.3.1 Học sinh trung học phổ thông là những em học sinh từ lớp 10
đến lớp 12 ở các trường THPT, tuổi đi học chuẩn là từ 16 đến 18 ( tuy nhiên,
có những em đi học sớm hơn và cũng có những em đi học muộn hơn)
Đây là giai đoạn quan trọng trong cuộc đời bởi từ đây, các em xác định cuộc sống tương lai cho chính mình, là thời điểm các em tập trung học tập và phát triển trí tuệ cao độ Hoạt động chủ đạo của học sinh THPT là học tập, vì thế, nội dung và tính chất học tập có những nét khác biệt hơn hẳn so với các giai đoạn trước và sau này
Ví dụ như việc xác định ngành nghề, khối thi, trường thi vào ĐH đã giúp các em tưởng tượng ra công việc của các em trong tương lai, muốn vậy, các em buộc phải tập trung cao độ vào việc học tập để vượt qua kỳ thì vào
ĐH sắp tới Việc các em xác định khối thi, ngành thi giúp các em chọn mục tiêu phấn đấu và vạch ra đường hướng phát triển
Đặc điểm nổi bật nhất của lứa tuổi là sự phát triển các năng lực trí tuệ Các quá trình nhận thức được phát triển mạnh, từ tri giác, trí nhớ, đến chú ý,
tư duy Thông qua các quá trình nhận thức này mà học sinh THPT nhận thức tốt hơn về chính mình và những người xung quanh Nhưng không hoàn toàn tất cả các em đều có tính trách nhiệm với những gì mình nhận thức được, ngược lại, cũng có nhiều em vì quá lo lắng với những gì các em cho là trách nhiệm của bản thân, đến nỗi sinh ra những rối loạn về mặt tâm lí
Việc các em có những thay đổi mạnh mẽ về mặt tâm lí cũng chứng tỏ được rằng nhận thức của các em tốt hơn các giai đoạn trước, các em tự ý thức được việc mình làm và cũng đánh giá được những gì đang xấy ra xung quanh mình Trên cơ sở đó, các em hình thành thế giới quan cho mình, những gì các
em thu nhặt được sẽ là hành trang cho các em trong suốt cuộc sống về sau Ngoài hoạt động chủ đạo là học tập, các em cũng có những mối quan hệ rất
Trang 16quan trọng đối với đời sống của các em, đó là quan hệ gia đình, bạn bè, thầy
cô, trường lớp những mối quan hệ này có những ảnh hưởng rất sâu sắc đến các em
Chúng tôi sẽ mô tả kỹ hơn ở phần sau
1.2.3.2 Học sinh trung học phổ thông Chuyên
Cũng như các học sinh THPT, học sinh THPT Chuyên là những em học sinh đang học từ lớp 10 đến lớp 12 ở các trường THPT Chuyên, cũng từ độ tuổi chuẩn là từ 16 đến 18
Điều khác biệt là các em học sinh THPT đã phải vượt qua một hoặc một số kỳ thi thì mới có thể được vào học trường Chuyên Bởi, trường Chuyên là trường THPT đào tạo theo các khối chuyên từ lớp 10 Tức là, đối với những em học sinh muốn vào học ở đây, các em phải lựa chọn một môn chuyên để thi vào, và các em phải học theo khối chuyên đó cho đến khi ra trường, và các em lựa chọn khối chuyên đó để thi vào ĐH
Ở trường Chuyên Quảng Bình, học sinh đạt giải học sinh giỏi tỉnh trở lên mới được tuyển thẳng vào trường Học sinh muốn dự thi vào học trường Chuyên phải đạt một trong các tiêu chuẩn sau: có giải tỉnh hoặc có tham dự
kỳ thi học sinh giỏi (đối với môn không chuyên); đạt giải hoặc có dự thi học sinh giỏi cấp huyện/thành phố; đạt học sinh giỏi, hoặc khá 4 năm liền ở khối THCS Các môn thi tuyển vào trường là môn ngữ văn, toán và môn chuyên (lấy điểm từ 8,5 trở lên với các môn học chuyên về khoa học tự nhiên và 7,5 với các môn khoa học xã hội)
Như vậy, những học sinh trường THPT Chuyên nói chung và trường THPT Chuyên Quảng Bình nói riêng có những đặc thù về nhóm học sinh, đó
là những em học sinh đã được tuyển chọn khá kỹ càng về mặt trí tuệ, các em phải trải qua nhiều vòng loại và các em ít nhiều phải có những khả năng thực
sự trong việc học tập Chúng tôi sẽ giới thiệu cụ thể hơn ở phần sau
Trang 171.3 Những vấn đề liên quan đến rối loạn lo âu
1.3.1 Biểu hiện của rối loạn lo âu
Đối với những người có RLLA thì đều có biểu hiện ra ngoài bằng các triệu chứng thực thể, ở học sinh THPT thì có thể có những biểu hiện như là:
- Sự lo lắng thái quá về những vấn đề mà cá nhân gặp phải, ví dụ như các em học sinh lo lắng quá mức về kỳ thi, điểm thi, đến mức các em ăn không ngon, ngủ không yên Các em trở nên suy diễn trong mọi việc, sợ hãi quá mức về những gì có thể xẩy ra mà các em không chắc chắn được điều gì
sẽ đến
- Sự căng cứng các cơ: trong cơn lo âu, có những biểu hiện thực thể thường được biểu hiện ra bên ngoài như đau đầu, bồn chồn, bất an, sự run chân tay
- Sự hoạt động thái quá của thần kinh tự chủ biểu hiện như: hơi thở nhanh, tiết mồ hôi thái quá, tim đập nhanh, các triệu chứng khó tiêu đầy bụng
- Sự cảnh giác thái quá của nhận thức biểu hiện như: dễ bực dọc, cáu gắt, bồn chồn, bất an…
Biểu hiện của chứng rối loạn lo âu nói chung là rất đa dạng và với mỗi người mỗi khác Trước hết chứng lo âu có thể là sự khó chịu tinh thần, ví dụ: nỗi day dứt không nguôi hoặc một sự hốt hoảng không có nguyên nhân rõ ràng Có thể gặp ở một số người là chứng lo âu khủng khiếp, làm cho chủ thể phải chìm trong trạng thái sửng sốt, hốt hoảng, lo lắng thái quá về những gì xẩy ra, họ suy diễn quá mức về những vấn đề, những mối quan hệ của họ
Triệu chứng của chứng rối loạn lo âu cũng có thể bao gồm một trong các dấu hiệu sau: đau ngực, hồi hộp, cảm giác nghẹt thở, căng cơ, nhức đầu, đau lưng, co giật cơ bắp, đổ mồ hôi nhiều, hoa mắt, rối loạn tiêu hóa, khô miệng và mất ngủ Rối loạn lo âu cũng có thể khởi phát bởi caffein, rượu, đường, thiếu hụt vitamine nhóm B, thiếu Mg hay Ca, dị ứng thức ăn, một vài
Trang 18thuốc khác và sự truyền lactate vào máu, nhưng đây là dạng rối loạn thực thể, mặc dù có biểu hiện giống như rối loạn lo âu về tâm lí
Ở người bệnh có rối loạn lo âu, có khi họ phải chịu đựng một cảm xúc
vô cùng khó chịu, được kèm theo bởi một hay nhiều biểu hiện thể chất: xanh xao, run rẩy, cơn khủng hoảng thần kinh, tim đập nhanh, toát mồ hôi, co thắt nội tạng (đôi khi đau đớn đến mức chủ thể phải cong người lại), cảm giác nghẹt thở, miệng khô, đau thắt ngực giả tạo… chứng lo âu và ám ảnh thường nối kết nhau
Trong nhân cách bệnh, rối loạn lo âu xuất hiện trên những người có nét nhân cách bệnh lí, tồn tại dai dẳng thường có từ thời thơ ấu, được xem như là một thuộc tính của nhân cách thường mang tố chất bẩm sinh Do tồn tại dai dẳng nên rối loạn lo âu ảnh hưởng rất lớn đến lối sống của người bệnh, những người bệnh thường có hiện tượng né tránh tiếp xúc chỗ người đông, xa lánh những nơi ồn ào Tình trạng rối loạn lo âu thường được tìm thấy trong sự trầm uất, suy nhược tâm thần, và phần lớn các rối loạn tinh thần Đẩy cao thêm một bậc rối loạn lo âu sẽ trở thành sự sợ hãi, với vô số triệu chứng mang tính chất đau khổ cho chủ thể
Lo âu nói chung là hiện tượng phổ biến ở tất cả mọi người, trong mọi hoàn cảnh để thúc đẩy con người hoạt động, đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho cuộc sống Ngược lại, một khi lo âu chuyển sang mức rối loạn, thì nó lại ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống và nó có những biểu hiện đặc trưng Đối với trẻ em và thanh thiếu niên thì rối loạn lo âu có những biểu hiện khác biệt hơn so với người lớn Trong đề tài này, khách thể của chúng tôi là học sinh trung học phổ thông, vì thế, một số phần lý thuyết chúng tôi trình bày chỉ mang tính chất giới thiệu về hệ thống lí luận của đề tài Còn khi phân tích, chúng tôi chỉ tập trung vào những yếu tố liên quan đến lứa tuổi học sinh trung học phổ thông
Trang 191.3.2 Các tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu
Có nhiều cách chẩn đoán RLLA, ở đây, chúng tôi giới thiệu các tiêu chuẩn chẩn đoán, dựa vào các biểu hiện của rối loạn lo âu, theo bảng phân loại quốc tế và hiệp hội Tâm thần Mỹ Đó là:
Dựa theo bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán RLLA như sau:
Bệnh nhân phải có các triệu chứng lo âu nguyên phát trong đa số các ngày, trong ít nhất nhiều tuần hoặc là nhiều tháng
Các triệu chứng gồm nhiều yếu tố sau:
+ sợ hãi (lo lắng về bất hạnh tương lai, cảm giác dễ cáu kỉnh, khó tập trung tư tưởng )
+ căng thẳng vận động (bồn chồn đứng ngồi không yên, đau căng đầu, run rẩy, không có khả năng thư giãn)
+ hoạt động quá mức thần kinh thực thể (đầu óc trống rỗng, ra mồ hôi, mạch nhanh hoặc thở gấp, khó chịu ở vùng thượng vị, chóng mặt khô mồm )
Dựa theo bảng phân loại các rối loạn tâm lí và các bệnh tâm thần của hiệp hội tâm thần Mỹ, DSM-IV, rối loạn lo âu được chẩn đoán bởi các tiêu chuẩn sau [26; 512]
Chủ thể lo lắng quá mức về một số sự kiện xảy ra hàng ngày, kéo dài ít nhất trong sáu tháng Chủ thể khó kiểm soát dược sự lo lắng của mình
Cụ thể là đối với thanh thiếu niên, biểu hiện của rối loạn lo âu chỉ cần
liên quan ít nhất 3 trong 6 dấu hiệu sau (ở trẻ em chỉ cần một dấu hiệu)
+ Kích thích dễ bực mình, căng thẳng đầu óc
+ Dễ mệt mỏi
+ Khó tập trung, đầu óc trống rỗng
+ Dễ cáu kỉnh
Trang 20+ Căng thẳng cơ bắp
+ Rối loạn giấc ngủ (cảm giác khó ngủ, ngủ không ngon giấc)
Đối với học sinh trong diện điều tra, chúng tôi đã sử dụng thang đo để
đánh giá thực trạng rối loạn lo âu của các em Qua kết quả điều tra, chúng tôi
thấy hầu hết các em học sinh THPT Chuyên Quảng Bình có điểm rối loạn lo
âu (theo thang đo) cao đều có ít nhất 3 trong 6 biểu hiện trên đây (Xin xem thêm ở phần kết quả nghiên cứu)
Đồng thời, chúng tôi sử dụng bảng hỏi với những câu hỏi mở, nhằm tìm hiểu các biểu hiện khác thường của các em trong vòng 6 tháng trở lại đây trên các lĩnh vực: tình trạng sức khoẻ, tâm lí, hành vi Thông qua thang đo và bảng hỏi, chúng tôi có thể biết được những em có rối loạn lo âu và thực hiện những biện pháp hỗ trợ cho các em
1.3.3 Phân loại lo âu
1.3.3.1 Lo âu tâm căn: Lo âu tâm căn là một trong những vấn đề cơ
bản trong bệnh cảnh lâm sàng, lo âu thường liên quan đến tác nhân tâm lí và ở đây xuất hiện vòng xoắn bệnh lí đó là càng lo âu thì các rối loạn tâm căn càng nặng và ngược lại, các rối loạn tâm căn càng nặng thì bệnh nhân càng lo âu hơn Lo âu trong tâm căn sẽ dịu đi khi có tác động của tâm lí trị liệu Nếu trong những trường hợp lo âu nổi bật lên hàng đầu trong bệnh cảnh lâm sàng, kèm theo các rối loạn thần kinh thực vật (hồi hộp, đánh trống ngực, ra mồ hôi,
mạch nhanh ) thì chúng ta chẩn đoán lo âu tâm căn
Các rối loạn lo âu này làm cản trở các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của chủ thể như: nhận thức, hành vi, tình cảm…
Như vậy, đặc trưng cơ bản của rối nhiễu biểu hiện sự lo âu, sự sợ hãi quá mức bình thường (đến mức vô lí), trước những tình huống, sự vật hoặc một ý nghĩ đe dọa đến sự an toàn của chủ thể Lo âu có thể bộc lộ trực tiếp, nhận thấy rõ rệt, nhiều khi bị che lấp bởi những phản ứng quá mức trước một
Trang 21stress dường như không lưu ý, hoặc bộc lộ dưới các triệu chứng của rối loạn thần kinh thực vật
Qua toạ đàm, phỏng vấn, trao đổi với các em học sinh tại trường THPT Chuyên Quảng Bình, chúng tôi thấy rằng các em đều có rối loạn lo âu thuộc loại lo âu tâm căn, tức là lo âu có những căn nguyên từ tâm lí Chúng tôi đã nhóm thành bốn nhóm nguyên nhân gây ra RLLA cho các em, các nhóm nguyên nhân đó đều là nguyên nhân tâm lý
1.3.3.2 Lo âu lan tỏa
Khái niệm rối loạn lo âu lan tỏa (theo ICD): Nét chính là lo âu lan tỏa
và dai dẳng nhưng không khu trú vào hoặc hơn nữa không trội lên mạnh mẽ trong bất kì hoàn cảnh môi trường đặc biệt nào Như trong các rối loạn lo âu khác, các triệu chứng ưu thế rất thay đổi, nhưng phổ biến là bệnh nhân phàn nàn luôn cảm thấy lo lắng, run rẩy, căng thẳng cơ bắp, ra mồ hôi, đầu óc trống rỗng, chóng mặt, khó chịu vùng thượng vị Sợ bản thân hoặc sợ người thân thích, sợ mắc bệnh hoặc bị tai nạn thường biểu hiện, đồng thời với các loại lo
âu và linh tính điềm gở Rối loạn này thường phổ biến ở phụ nữ và thường liên quan đến stress môi trường mãn tính Tiến triển của nó thay đổi nhưng có
xu hướng giao động và mãn tính
Khái niệm rối loạn lo âu lan tỏa (theo DSM-IV): Rối loạn lo âu lan tỏa
là trạng thái lo âu và lo lắng quá mức về một số sự kiện hoặc hành động trong suốt một thời gian dài, ít nhất là 6 tháng Lo lắng rất khó kiểm soát và thường
đi kèm với các triệu chứng cơ thể như căng thẳng cơ bắp, dễ cáu kỉnh, khó ngủ, bồn chồn Sự lo âu không gây ra bởi việc sử dụng chất gây nghiện hoặc một tình trạng (trạng thái) y học nói chung và không xuất hiện chỉ khi có sự rối loạn tâm thần hoặc tâm trạng Sự lo âu rất khó có thể kiểm soát, về mặt chủ quan là gây đau buồn và làm tổn hại đến những thời khắc quan trọng của đời sống chủ thể
Trang 221.3.3.3 Rối loạn lo âu toàn thể: Đây là dạng nhẹ nhất trong các rối loạn
lo âu Người mắc bệnh RLLA toàn thể có cảm giác khó chịu kéo dài và sự lo lắng không thực tế, đặc biệt xung quanh người khác và có xu hướng dễ dàng
bị giật mình Rối loạn này nhìn chung bắt đầu khi còn nhỏ hay mới trưởng thành và thường gặp ở nữ hơn nam
Triệu chứng của rối loạn lo âu toàn thể là: Khó ngủ và mệt mỏi kéo dài, đau đầu, những cơn hoảng loạn thỉnh thoảng, run hay co giật, cảm giác quay cuồng, trầm cảm, đau nhức cơ bắp, bồn chồn không yên, có mồ hôi, đau bụng, hoa mắt, khó tập trung, hồi hộp, dễ cáu gắt Bệnh được chẩn đoán khi một người trải qua ít nhất sáu tháng lo lắng quá độ về một số vấn đề cuộc sống hàng ngày
1.3.3.4 Rối loạn ám ảnh cưỡng chế: Loại rối loạn này xuất hiện khi
một người thấy lo lắng một hay nhiều lần tái diễn và không có thực (sự cưỡng chế) và sử dụng một vài hành vi mang tính nghi thức để cố gắng xua
đi những lo lắng đó Cứ 50 người thì có một người bị và tỉ lệ như nhau ở cả hai giới Rối loạn này có thể bắt đầu ở bất kể lứa tuổi nào nhưng thường là
vị thành niên hay giai đoạn đầu của trưởng thành Đi kéo với rối loạn ám ảnh cưỡng chế là trầm cảm, và những RLLA khác, như rối loạn ăn uống và vấn
đề lạm dụng rượu và chất gây nghiện
Người bị rối loạn ám ảnh cưỡng chế biết rằng nỗi sợ của họ và những hành vi hệ quả không có ý nghĩa nhưng dù sao họ vẫn làm điều đó vì chính họ không bỏ được và vì họ hi vọng tìm thấy sự xoa dịu thông qua hành động của mình Những bệnh nhân này sợ sự không chắc chắn và thường tìm kiếm sự an tâm từ người khác về hành vi của họ Những sự cưỡng chế thường gặp bao gồm lau chùi kĩ lưỡng, kiểm tra đi kiểm tra lại để chắc rằng chúng an toàn, sự lặp lại, sự chậm chạp và tích trữ quá đáng
1.3.3.5 Ám ảnh sợ: Ám ảnh sợ là nỗi sợ phi lí và không cố ý về một vài
Trang 23nào đó của ám ảnh sợ, chúng có xu hướng mang tính gia đình và thường bắt đầu tuổi thanh niên hay trưởng thành và nữ dễ mắc hơn nam Trong trường hợp bị ám ảnh sợ, những cách thông thường để đối đầu với nỗi sợ không có tác dụng và người đó có thể trở nên tiều tụy bởi nhu cầu quá mức để tránh bất
cứ cái gì gây ra cho họ nỗi sợ hãi mãnh liệt như thế
Có 3 nhóm: Ám ảnh sợ chuyên biệt (nỗi sợ vô lí về một vài đối tượng
nào đó như nhện, đi máy bay, độ cao ), ám ảnh sợ xã hội (nỗi sợ lúng túng, khó khăn trong một tình thế xã hội) và ám ảnh sợ khoảng rộng (nỗi sợ tình huống nào có thể tạo ra cơn hoảng loạn)
Trong nhóm các rối loạn này, lo âu xuất hiện, hoặc duy nhất hoặc chủ yếu do những hoàn cảnh hay những đối tượng nào đó (bên ngoài chủ thể) và thực tế không nguy hiểm, kết quả đặc trưng là bệnh nhân né tránh các hoàn cảnh và đối tượng đó hoặc là bắt buộc phải chịu đựng sự khiếp sợ
Như vậy đặc trưng của các rối loạn lo âu ám ảnh sợ là lo âu có khu trú vào một hoặc nhiều đối tượng hoặc hoàn cảnh nào đó
1.3.3.6 Cơn hoảng loạn: cơn hoảng loạn xuất hiện khi do một nguyên
nhân mơ hồ, cơ thể sẵn sàng đối phó với một tình huống khẩn cấp tưởng tượng Cơ thể sản xuất adrenaline dư thừa và nhịp tim và nhịp thở tăng nhanh Những cơn này trung bình kéo dài vài mươi phút và hiếm khi quá một giờ Ở Hoa Kỳ, có từ 3 đến 6 triệu người mắc bệnh này, ở nữ gấp hai lần nam và có thể bắt đầu ở bất kể tuổi nào nhưng thường là người trưởng thành còn trẻ
Theo hiệp hội tâm lí học Hoa Kỳ, những người bị cơn hoảng loạn có ít nhất 4 trong các triệu chứng sau: hồi hộp, tim đập thình thịch, có mồ hôi, run rẩy, cảm giác hụt hơi, ngộp thở, đau ngực, buồn nôn hay đau bụng, hoa mắt, cảm giác quay cuồng, mất nhận thức, giải thể nhân cách, cảm giác sợ mất tự chủ hay sợ mất trí hay sợ chết Được cho là cơn hoảng loạn khi xảy ra đột ngột và xuất hiện mỗi hai tuần hoặc nếu chỉ là cơn duy nhất thứ sau đó phải là
sự lo âu mơ hồ và sự căng thẳng về cơn đó kéo dài ít nhất một tháng
Trang 24Cơn hoảng loạn có thể kéo hoặc không kéo theo ám ảnh sợ khoảng rộng (nỗi sợ khi tiếp xúc đám đông và không có khả năng thoát ra được khi cơn xuất hiện) Người bị cơn hoảng loạn thường cố gắng tránh những cơn sắp tới bằng cách nộ tránh những nơi hay vật có thể làm khởi phát cơn bằng các trò giải trí hay tìm đến các chất gây nghiện hay rượu bia để trốn tránh
Các rối loạn lo âu khác: Biểu hiện của các rối loạn lo âu này là không khu trú vào bất kỳ hoàn cảnh xung quanh đặc biệt nào, có thể có cả các triệu trứng thứ phát của trầm cảm, ám ảnh hay lo âu ám ảnh sợ Bao gồm rối loạn lo âu hoảng sợ, RLLA hoảng sợ, RLLA lan tỏa, RLLA không biệt định, RL khác
1.3.4 Nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu
Nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu có thể có các nguyên nhân sinh học
và nguyên nhân tâm lí, song chúng ta có thể đề cập đến các nguyên nhân tâm
lí là chủ yếu Ở đây chúng tôi đề cập một cách vắn tắt những nguyên nhân
tâm lí gây ra rối loạn lo âu dựa vào các hệ thống lí thuyết
1.3.4.1 Tiếp cận phân tâm học
Lí thuyết phân tâm của Freud cho rằng: lo âu bắt nguồn từ thời tấm bé Bắt đầu là khi em bé có cảm giác “mất mẹ“; rồi đến lo hãi mất tình yêu của bố mẹ; rồi đến lo hãi vì bản thân nhiều khi căm ghét bố mẹ, có ý hành hung bố
mẹ nhưng không dám thực hiện Cũng theo thuyết phân tâm, một số lo hãi thường gặp ở trẻ em là lo bị thiến (con trai thì lo sẽ bị cắt mất dương vật, con gái thì cho rằng mình đã bị cắt) Dĩ nhiên, các mối lo hãi ở trẻ em đều là vô thức, nhưng nếu không hiểu thì nhiều ứng xử của trẻ em cũng khó mà lý giải Thông thường, lo âu của bố mẹ cũng gây lo âu cho trẻ em
Lo âu bắt nguồn từ mâu thuẫn nội tâm giữa một bên là những mong muốn biểu hiện các xung năng tình dục và hung tính với một bên là những cấm kỵ của ý thức, chống lại mong muốn đó Mâu thuẫn nội tâm hoá nằm ngoài hiểu biết của ý thức, song các triệu chứng lo sợ thì bộc lộ rõ Sự sợ hãi
có thể bộc lộ bằng dễ cáu kỉnh, dễ khóc thút thít ở trẻ nhỏ hay sự lo lắng ở trẻ
Trang 25lớn Nó cũng có thể biểu hiện dưới một tình trạng ám sợ: sợ bóng tối, sợ đi ra ngoài, đôi khi lo lắng…được chuyển thành các triệu chứng thực tế
1.3.4.2 Theo cách tiếp cận tập nhiễm xã hội
Học thuyết điều kiện hóa của Skinner kết luận: lo âu là do tập nhiễm gây ra khi có mặt các kích thích lo âu, nếu thiết lập một đáp ứng ức chế lo âu thì đáp ứng này sẽ làm yếu đi ức chế lo âu
Theo học thuyết về tập nhiễm xã hội Bandura nhấn mạnh vai trò của nhận thức trong các hình thành lo âu, lo âu có thể được tập nhiễm từ người chăm sóc hoặc những người khác trong môi trường sống của trẻ (thông qua bắt chước và lây lan lo sợ hoặc cách giải thích của người lớn thường nhấn mạnh đến khía cạnh sợ những nguy hiểm trong cuộc sống ) Như vậy hành vi của người chăm sóc là yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển lo
âu ở trẻ em
1.3.4.3 Theo tiếp cận nhận thức Beck và Emery
Khi con người quá chú ý vào tình huống nguy hiểm gây lo hãi có thể bóp méo sự ước lượng của con người về mối nguy hiểm mình phải đối diện
Sự ước lượng này thường chứa đựng kinh nghiệm cá nhân khi so sánh với tình huống trong quá khứ, vì quy luật, vì lí tưởng mà họ hướng tới Tiếp cận nhận thức tập trung vào các quá trình tư duy, những ý nghĩ sai lầm, mà cách thức suy nghĩ ấy trở thành nguyên nhân của rối loạn lo âu
Trên đây là những quan niệm về lo âu theo những cách tiếp cận và các thuyết của các nhà nghiên cứu Về phía chúng tôi, chúng tôi cho rằng, với mỗi quốc gia có những đặc trưng riêng, với từng dân tộc lại có những phong tục, tập quán và những quan niệm riêng… cho nên cũng khó để có thể áp dụng tuyệt đối một cách nhìn nhận nào vào Việt Nam mà có tính chất phổ quát nhất Cũng cần quan tâm đến yếu tố “khí chất lo âu” Vì đối với những trẻ em
có loại khí chất này được mô tả là: có những hành vi thu mình ức chế, hoảng
Trang 26sợ khi phải đối mặt với những tình huống và người lạ, khó tách mẹ, khó ăn, khó ngủ, ít nói hơn những đứa trẻ bình thường khác
Nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở lứa tuổi học sinh THPT
Chúng tôi cho rằng ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông, các em có nhiều thay đổi đặc biệt về sinh lí cũng như tâm lí, đó là gian đoạn có nhiều biến đổi nhất trong cuộc đời (các em buộc phải chọn ngành nghề cho tương lai, các em có những tình cảm mới lớn ), hơn nữa bên cạnh những tác động
từ chính trong nội tâm của các em cộng thêm những tác động từ bên ngoài nào ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lí các em, ví dụ như các mối quan hệ, những yêu cầu của gia đình, thầy cô, nhà trường, xã hội Đó là những nguyên nhân gây ra nhiều thay đổi trong tâm tư, tình cảm của các em, nếu những sự thay đổi đó không kiểm soát được sẽ sinh ra những rối loạn về mặt tâm lí ở các em
Có nhiều nguyên nhân gây ra các bệnh tâm lí, nhưng những nguyên nhân thường gặp ở bệnh lí tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn thần kinh trước hết là suy nhược do lao lực, hoạt động quá mức trong xã hội Ngoài ra, còn thấy nguyên nhân của các bệnh tâm lí là do suy nhược phản ứng thường thấy sau một biến cố trong cuộc sống, nó gây ra bất ổn tâm lí như mất người thân, ly dị, thất nghiệp, mâu thuẫn với đồng nghiệp nơi làm việc Có nhiều stress dễ thấy ở người lao động trí óc làm việc với máy tính hay đối với học sinh, sinh viên thì áp lực của việc học quá tải Còn đối với học sinh thì đó là những mâu thuẫn với bạn bè, với bạn khác giới, với những người xung quanh
Chúng tôi mô tả một số nguyên nhân có thể gây ra rối loạn lo âu ở lứa tuổi học sinh THPT như sau:
- Mất năng lực học tập hoặc có những trải nghiệm thất bại trong học tập (ví dụ: những học sinh này đã có lần bị điểm kém nên bị thầy cô cha mẹ trách mắng, bạn bè chê cười)
Trang 27- Có lo lắng về việc học tập ở trường (kiểm tra, bị gọi lên trước lớp để trình bày bài, ý kiến…)
- Cường độ học tập cao, khối lượng kiến thức cần phải học lớn, (trẻ học với cường độ cao, không có thời gian nghỉ, thư giãn)
- Cha mẹ quá kì vọng vào việc học tập cũng như thành tích học tập của con mình
- Phương pháp chăm sóc, giáo dục con chưa phù hợp: yêu cầu con học quá nhiều, học thêm, học hè ; cha mẹ không hiểu và không đáp ứng đúng,
đủ những nhu cầu của con
- Sự thay đổi trong gia đình (ly hôn, đau ốm, cái chết của một thành viên gia đình, chuyển nhà )
- Việc học ở trường gây ra sự chán nản đối với trẻ
- Trẻ bị bạo lực học đường, bị bắt nạt hay quấy rối
- Việc chuyển trường, chuyển lớp hoặc thay đổi giáo viên chủ nhiệm nhiều lần, làm cho đứa trẻ chưa có khả năng thích nghi (có sự thay đổi về trường mới hay cấp học mới)
- Phương pháp giảng dạy không phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh: yêu cầu các em ngồi yên quá lâu, không tạo ra các hoạt động tích cực nhằm giảm không khí căng thẳng trong giờ học
- Trẻ gặp khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè và giáo viên (mâu thuẫn với giáo viên hay với bạn bè)
- Trẻ sử dụng một số chất kích thích như: rượu, cà phê cũng có thể là nguyên nhân gây ra lo âu ở trẻ
- Ngoài ra, những tác động của các phương tiện truyền thông như của đài, báo, dư luận xã hội… cũng có thể tác động đến sự lo âu học đường ở học sinh
Trang 28Dựa vào hệ thống các thuyết mà chúng tôi vừa nêu trên đây, cùng với việc phân tích các tài liệu đã có, và cùng với việc tìm hiểu thực trạng RLLA ở học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình, chúng tôi nhóm thành những nhóm nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu như sau:
- Do áp lực về việc cần phải học tốt hơn nữa, do các em sợ gặp nhiều thất bại trong học tập
- Do mối quan hệ trong gia đình không tốt, như mâu thuẫn với cha mẹ, anh chị em…
- Do có mâu thuẫn với bạn bè, thầy cô và với những người xung quanh
- Do các em tự mâu thuẫn với chính bản thân mình trong quá trình hình thành cái tôi của mình
Chúng tôi sẽ phân tích rõ hơn ở phần kết quả nghiên cứu, chương 3
1.3.5 Cách trị liệu rối loạn lo âu
Chúng tôi đề cập đến các cách điều trị RLLA vì chúng tôi cho rằng việc nêu lên thực trạng và nguyên nhân của rối loạn lo âu thì sẽ giúp con người tìm được cách trị liệu (tham vấn)
Nguyên tắc trị liệu: nên phối hợp nhiều liệu pháp với nhau,cả về liệu pháp tâm lí, lẫn hoá trị liệu, trong đó liệu pháp quan trọng nhất vẫn là liệu pháp tâm lí Trong liệu pháp tâm lí có thể sử dụng nhiều liệu pháp khác nhau như giải thích hợp lý, thư giãn, liệu pháp hành vi, liệu pháp nhóm (Về điều trị bằng thuốc cần chú ý chỉ nên dùng trong thời gian đầu và dùng thời gian ngắn, khi bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn phải giảm dần và cắt hẳn thuốc, khi đó chỉ còn liệu pháp tâm lí đơn thuần) [1; 281]
Về liệu pháp tâm lí hay dùng nhất trong y học là liệu pháp giải thích hợp lý hay thuyết phục, nhằm giải thích để bệnh nhân an tâm, không quá lo lắng về bệnh tật và về những điều không may sẽ xẩy ra Còn trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường sử dụng nhất là tham vấn tâm lí Thông qua tham
Trang 29vấn, nhà tâm lí có thể giúp thân chủ lấy lại thăng bằng và nhận thức rõ vấn đề mình đang gặp Từ đó, họ sáng rõ phương thức hành động để vượt qua khó khăn Trong luận văn này, chúng tôi dựa vào các liệu pháp tâm lí để giúp đỡ cho 37 trường hợp học sinh có rối loạn lo âu
Về mặt lí luận: Có rất nhiều loại liệu pháp tâm lí khác nhau nhằm giúp cho bệnh nhân có rối loạn lo âu được cải thiện tình trạng của mình Theo Herink (1980), [dẫn theo 1; 14], có khoảng 250 liệu pháp tâm lí, nhưng theo Karasu (1986) có hơn 400 loại liệu pháp Ở đây, chúng tôi chỉ giới thiệu một
số liệu pháp cơ bản đã được phân loại mà các nhà tâm lí học vẫn sử dụng để
hỗ trợ cho những người có khó khăn tâm lí
- Phân loại theo phương thức tác động
+ Liệu pháp tâm lí gián tiếp
+ Liệu pháp tâm lí trực tiếp: ám thị, thôi miên, liệu pháp nhóm
- Phân loại theo thành phần người tham gia điều trị
+ Liệu pháp tâm lí cá nhân: một nhà trị liệu và một khách hàng
+ Liệu pháp tâm lí nhóm hay tập thể: một hoặc hai nhà trị liệu cũng một nhóm khách hàng
+ Liệu pháp gia đình hay liệu pháp điều trị cặp: một nhà trị liệu cùng với các thành viên trong gia đình hoặc với một cặp vợ chồng, thậm chí với cặp tình nhân
- Phân loại theo tính thời đại
+ Các liệu pháp tâm lí cổ điển: giải thích hợp lý, ám thị, thôi miên, thư giãn
+ Các liệu pháp tâm lí hiện đại: liệu pháp hành vi, liệu pháp nhận thức, liệu pháp gia đình
- Phân loại theo mục đích điều trị
Trang 30+ Các liệu pháp điều trị triệu chứng giải thích hợp lý (thuyết phục), ám thị, thôi miên, thư giãn, liệu pháp hành vi
+ Các liệu pháp hướng tới nhân cách: liệu pháp tham vấn (theo C.Roger), liệu pháp tâm lí nhóm, liệu pháp gia đình
Đối với các em học sinh ở lứa tuổi trung học phổ thông, có thể vì các
em có hành vi và nhận thức chưa vững vàng, nên các em dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động từ bên ngoài vào và chính từ nội tâm của các em Các
em thường bị đau khổ do chính ý niệm không đúng về hoàn cảnh của mình
Vì vậy nâng cao tri thức và rèn luyện khả năng đối phó với các tình huống là một trong những biện pháp làm giảm những “đau khổ do chính ý niệm không đúng của mình gây ra” Một trong những cách thức để giải quyết tình trạng đó là cần suy nghĩ về các sự việc và hiện tượng một cách tích cực; chuyển những ý nghĩ tiêu cực sang hướng tích cực; ca ngợi hay thường nói về các vấn đề tích cực; luôn lạc quan và có tính hài hước; cố gắng không nghĩ về các hiện tượng tiêu cực; đặc biệt phải luôn hoà nhập với cộng đồng, tập thể và gia đình Sống có tình cảm, trách nhiệm và làm việc tốt cho người khác
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã lựa chọn một số phương pháp nhằm hỗ trợ tâm lí cho các em Chúng tôi đã giới thiệu và thực hiện một trong những phương pháp trên đây thông qua việc tổ chức những buổi toạ đàm, giao lưu nói về cách thức đối phó và hạn chế stress học đường Chúng tôi mô tả kỹ thêm về các phương pháp đã sử dụng như sau:
Phương pháp giúp học sinh nâng cao khả năng nhận thức để đối phó
và hạn chế những rối loạn lo âu
Làm thế nào để đối phó và hạn chế những rối loạn do các nguyên nhân tâm lí gây ra? Chúng tôi thấy rằng, cách tốt nhất là tránh các tác nhân gây stress, lo âu từ cơ thể và môi trường bên ngoài Vì vậy cần phải học cách đối phó với stress, lo âu và điều trị kịp thời các rối loạn mà nó gây nên
+ Học cách ứng xử và giao tiếp
Trang 31Trong giao tiếp những ảnh hưởng qua lại của nội dung và hình thức giao tiếp sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với hành vi và nhân cách Nếu cá nhân càng có kiến thức về ứng xử giao tiếp thì hiệu ứng tích cực càng cao, sẽ giảm stress cho bản thân và đối tượng giao tiếp Chúng tôi muốn tập trung vào đối tượng là học sinh phổ thông, vì thế, trong các buổi giao lưu, chúng tôi đã sử dụng các tình huống giả định để đề xuất các em tham gia giải quyết, thông qua hoạt động đó, chúng tôi giúp các em có cách ứng xử trong giao tiếp; qua đó, các em có thể dễ dàng xử lí những tình huống gây khó khăn cho các em trong cuộc sống hàng ngày
+ Tăng cường rèn luyện thể chất và tinh thần
Sức khoẻ là vốn quý giá của con người, vì thế, thể chất khỏe mạnh sẽ hạn chế được những yếu tố gây stress từ bên trong cơ thể và tăng cường khả năng hoạt động hệ thần kinh cao cấp, (cơ quan quan trọng xử lí các tình huống stress, căng thẳng) Việc rèn luyện về thể chất và tinh thần sẽ cho mọi người khả năng phản ứng phù hợp và hiệu quả với các yếu tố gây căng thẳng,
lo âu Nhờ đó, giảm tối đa những bất lợi và tăng cường mặt tích cực của quá trình lo lắng Vì thế chúng tôi đã đề xuất với các em và giáo viên ở trường THPT Chuyên Quảng Bình nên có nhiều chương trình hoạt động, vui chơi, giao lưu dành cho các em để giải toả căng thẳng bằng cách luôn thư giãn và thường xuyên tập thể thao, tham gia các hoạt động tập thể v.v
+ Phải có kỹ thuật đối đầu với căng thẳng, lo âu
Muốn có kỹ thuật đối đầu với căng thẳng, lo âu, các em cần phải chuẩn
bị khả năng thích nghi, tăng cường tri thức và kinh nghiệm, tham khảo các biện pháp của những người vững vàng về tâm lí và hành động Chúng tôi đã giới thiệu với các em một phương pháp thực hành có hiệu quả như sau:
+ Giai đoạn phân tích cho chủ thể tiếp xúc với tình huống gây căng
thẳng: Mục đích để họ phân tích được tác nhân gây căng thẳng và những phản
ứng không thích hợp của họ
Trang 32+ Giai đoạn chuẩn bị: Tiếp cận liệu pháp thư giãn hành vi, nhằm điều chỉnh các phản ứng của chủ thể cho phù hợp và với nhận thức đúng đắn hơn
+ Giai đoạn nhắc lại: Cho chủ thể nhắc lại tình huống và theo dõi các
phản ứng, đánh giá sự phù hợp
+ Giai đoạn ứng dụng: chuẩn bị tâm lí cho chủ thể tiếp xúc trực tiếp với
hoàn cảnh gây căng thẳng Mục đích là để chủ thể đối đầu trực tiếp với yếu tố gây stress gần giống với thực tế
+ Giai đoạn duy trì: chủ thể phải tập luyện trong thời gian dài để có
trạng thái tâm sinh lí bền vững trước hoàn cảnh cần tiếp xúc
Ngoài ra, cũng có khi phải sử dụng thuốc an thần nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của các chứng bệnh tâm lí này
Trong các buổi giao lưu, chúng tôi cùng bàn về một chủ đề nào đấy và luôn đi kèm trong các buổi giao lưu là việc giải đáp các câu hỏi mà các em đặt
ra Hầu như trong bất kỳ một buổi gian lưu nào, chúng tôi đều dành thời gian đặt vấn đề về những áp lực mà học sinh đang gặp để các em bày tỏ ý kiến của mình, thông qua đó, chúng tôi thăm dò ý kiến các em về những phương pháp giải thoát khỏi các áp lực ấy
Chúng tôi đã có dịp đề xuất đến các phương pháp trên đây và lấy nhiều
ví dụ để mô tả, tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa có nhiều thời gian để thực hiện nhiều lần các phương pháp đó
Phương pháp mà chúng tôi sử dụng nhiều nhất trong việc hỗ trợ trực tiếp đến các em học sinh có rối loạn lo âu là tham vấn Chúng tôi đã gặp gỡ các em, thông qua những giờ tham vấn cá nhân, chúng tôi đã cùng các em tháo gỡ những khúc mắc, giúp các em xem xét lại vấn đề của mình và tìm hướng giải quyết Chúng tôi cho rằng, phương pháp mà chúng tôi đã sử dụng
đã đem lại nhiều thành công trong quá trình hỗ trợ các em
Trang 331.4 Những vấn đề tâm lí – xã hội của học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình
Học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình cũng như tất cả các em học sinh THPT trên toàn quốc, các em đều có những đặc điểm tâm sinh lý, các đặc điểm chung trong hoạt động học tập chủ đạo, những đặc điểm chung trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè, xã hội Đó là:
1.4.1 Đặc điểm tâm lí
Với đa số học sinh THPT thì các em thường ở lứa tuổi từ 14, 15 tuổi đến 17, 18 tuổi; đây là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên (còn gọi là thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh) Đây cũng là giai đoạn nối tiếp thời kỳ dậy thì, thời gian quan trọng của một đời người Chính vì có sự thay đổi lớn như thế nên tâm sinh lí của các em cũng có những đặc điểm rất khác biệt và đặc biệt hơn hẳn những giai đoạn trước
Do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ương
và các giác quan nên có sự thay đổi trong chiều cao, cơ thể phát triển Ở các
em nam thì cao vọt lên, râu cằm, ria mép, cơ bắp nổi lên, hoàn thiện dần chức năng làm cha…còn ở các em gái thì cơ thể duyên dáng, mềm mại hơn, hoàn thiện chức năng làm mẹ… nói chung là ở thời gian này, các em đã có sự chín muồi về mặt sinh lí, cơ thể
Về mặt tâm lí có lẽ là biểu hiện đặc biệt nhất của lứa tuổi, trong cách nhìn người, nhìn đời của các em đã có những thay đổi rõ rệt
Thứ nhất: Điểm nổi bật nhất ở lứa tuổi này là sự tự ý thức, tự nhìn nhận
vấn đề theo cách của mình, các em luôn muốn được tự giải quyết để tự khẳng định mình Các em không chỉ có nhu cầu đánh giá, mà còn có khả năng tự đánh giá mình sâu sắc hơn và tốt hơn thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những người cùng sống và của chính mình Đồng thời các
em có khuynh hướng độc lập hơn trong việc phân tích và đánh giá bản thân
Trang 34Điều này thể hiện rất rõ ở các em học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình, bởi các em đã có một thời gian dài học tập nghiêm túc ở bậc THCS, các em đã có những thành tích học tập đáng kể, vì thế, các em đã thực
sự trưởng thành về mặt ý thức, ý chí Các em hiểu rõ mặt mạnh của mình và cũng hiểu rõ những điểm yếu mà mình đang gặp phải Trong việc học tập, các
em được “cọ xát“ nhiều trong môi trường thi cử, tranh giành ngôi vị thấp cao trong thành tích, và cũng đã nhiều lần các em đạt được những thành tích đáng
kể, vì thế, nhu cầu được khẳng định mình các em rất cao, càng muốn được người khác công nhận, muốn được thể hiện mình hơn nữa
Ngoài ra, trong lứa tuổi này, nhiều lúc các em cảm thấy mình đã lớn nên cứ muốn thể hiện cho bố mẹ thấy sự trưởng thành của mình bằng nhiều cách: như việc các em tỏ ra mình lớn hơn hẳn lứa tuổi, các em tỏ ra mình chín chắn Ở trường, các em là những học sinh ngoan, nhiều em làm cán bộ lớp, học sinh ngoan, học lực giỏi (hoặc ít nhất là khá), hạnh kiểm tốt
Do có sự tích lũy kinh nghiệm sống và tri thức, do yêu cầu ngày càng cao của hoạt động học tập, lao động xã hội Cảm giác, tri giác của các em đạt tới mức độ tinh, nhạy của người lớn Xét về nghĩa nào đó thì có thể nói được rằng học sinh trường THPT Chuyên QB đã có những sự trưởng thành nhất định trong tâm lí, các em có cách nhìn riêng của mình về tất cả các vấn đề, các em đã đưa ra được những ý kiến cá nhân sắc sảo, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến mình
Thứ hai: ở gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm của
người lớn, bố mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề trong gia đình Các em đã cảm thấy mình trưởng thành và ít nhiều các em cũng phải gánh vác một số công việc chính trong nhà, ví dụ như công việc đồng áng (đối với những em ở nông thôn) hay các em tham gia vào một số việc của cha mẹ (đối với các em ở thành phố ) Các em bắt đầu hiểu cuộc sống gia đình và các em
Trang 35hiểu được những khó khăn, hạn chế của gia đình mình, có những em đã hiểu được cách chi tiêu của cha mẹ, hiểu nhà mình thiếu thốn thế nào, các em hiểu
và thông cảm với cha mẹ hơn hẳn giai đoạn trước
Với những thành tích mà các em đã đạt được trong học tập, các em đã
có trách nhiệm hướng dẫn cho các em của mình cũng có những cách học như mình để đạt được những thành tích cao Trong nhiều gia đình, hầu như cha
mẹ không cần phải bày dạy cho đứa con sau, vì đứa đầu đã đảm đương được
Hầu hết các em học sinh THPT Chuyên QB là đi học xa nhà (chiếm 70% số học sinh của trường), nên các em đã phải sống cuộc sống tự lập Các
em thuê nhà để ở mà đi học, hàng tháng, các em được bố mẹ chu cấp cho một khoản nào đó nhất định để các em chi tiêu, cũng có gia đình không thể có đủ tiền để cho con mang đi một lần trong mỗi tháng, mà con phải hàng tuần về nhà lấy Nhiều em còn không có tiền để đi xe về nhà nên các em phải đi xe đạp đến hơn 50km để về đến nhà hàng tuần
Với những phân tích như trên, chúng tôi cho rằng, ít nhiều việc sống xa nhà cũng gây ra những ảnh hưởng về mặt tâm lý đối với các em Các em buộc phải tự chi tiêu, tự lập kế hoạch cho cuộc sống của mình Vì thế, sự tự lập của các em buộc phải hình thành từ rất sớm, (từ 16 tuổi) Các em vừa phải tự chăm sóc cho mình, vừa phải cố gắng cho bằng bè bạn, cố gắng thi cử cho đỗ đạt rất nhiều sức nặng bắt đầu đổ lên vai một đứa trẻ mới mới bắt đầu tuổi
16, trong khi các bạn cùng tuổi khác đang được bố mẹ chăm sóc hàng ngày
Thứ ba: Đời sống tình cảm của học sinh trung học phổ thông rất phong
phú Các em có thái độ cảm xúc đối với các mặt khác nhau của đời sống
Với học sinh trung học phổ thông, nhu cầu về tình bạn tâm tình cá nhân được tăng lên rõ rệt Việc tìm bạn mà chơi đã được bắt đầu từ tuổi thiếu niên Nhưng sang giai đoạn này tình bạn của các em trở nên sâu sắc hơn nhiều Các
em có yêu cầu cao hơn đối với tình bạn (các em mong muốn sự chân thật, tính
Trang 36vị tha, sự tin tưởng, sự tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết nhau và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau…) Ở các trường THPT khác, chúng tôi vẫn nghe nói nhiều về những mâu thuẫn của các em học sinh khi tình cảm học trò không đem lại những hiệu quả tốt, như các em đánh ghen, bạo lực với nhau Nhưng ở
trường THPT Chuyên Quảng Bình, dẫn lời bác Bảo vệ: “ở đây thì không phải
là không có chuyện tình cảm học trò, nhưng mà ít lắm, chúng nó chỉ ở giai đoạn có tình cảm với nhau trên mức bạn bè, giúp đỡ nhau học hành là chính “ Điều mà chúng tôi nhận thấy sau thời gian thực hiện nghiên cứu này
tại trường, đó là, các em cũng có những tình cảm với các bạn khác giới, nhưng đó là loại tình cảm rất ngây thơ, trong trắng, các em quý nhau vì bạn ấy học giỏi, vì bạn ấy rất nổi bật, vì bạn ấy đặc biệt nhất trong lớp đó Và tình
cảm ấy rất trong sáng, đơn sơ, đáng trân trọng Em ĐBN tâm sự: “em rất
thích anh ấy, anh ấy là động lực thúc đẩy cho em quyết tâm thi đỗ ĐH KHXH&NV Hà Nội“ Những tình cảm này đều xuất phát từ sự ngưỡng mộ
người bạn kia học giỏi, bạn ấy đạt được giải gì đó để bây giờ mình có cái mốc
Đến thời điểm này, các em đã hiểu được mọi chuyện xẩy ra xung quanh mình, mặc dù chỉ nhìn theo lăng kính chủ quan, nhưng các em cũng đã đặt cho mình những mục tiêu để phấn đấu, bản thân các em đã đạt được ít nhiều những thành tích đáng nể, nên bây giờ, các em hiểu hơn ai hết giá trị của những thành tích đó Hơn nữa, các em càng hiểu sự kỳ vọng, mong chờ của
bố mẹ vào kết quả mà các em mang về cho bố mẹ, đó là niềm vui vô bờ bến
Trang 37mà không có gì mua được Vì vậy, mục tiêu học tập của các em còn là phải đạt kết quả học tập tốt để bố mẹ còn khoe với mọi người, để bố mẹ còn hãnh diện với hàng xóm láng giềng
Ngoài ra, các em còn xác định cho mình đường đi trong tương lai, các
em xác định phương hướng và chọn một ngành nghề nào đó phù hợp với mình để đầu tư thời gian suy nghĩ, nghiên cứu về nó Các em đều xem đây là lúc đứng trước việc quyết định đường đời, tương lai của mình
Chính vì thế, không ít học sinh đã cố gắng và đã đạt được nhiều thành tích cao trong học tập Có thể nói rằng đây là thời gian trí tuệ của các em được phát triển khá mạnh, dễ gặt hái được nhiều thành công học đường nhất
Và cũng có thể thấy rằng đây là giai đoạn tích lũy kiến thức khoa học cơ bản một cách đầy đủ và nền tảng nhất
Trong việc học tập, thái độ của các em càng tích cực hơn Các em đua chen nhau để được đi thi các giải học sinh giỏi Quốc gia, các em lại phải đầu
tư thời gian nhiều hơn, phải chăm chỉ học hành hơn hoặc nếu em nào xác định không thể đối chọi với các bạn được thì tập trung vào các môn cơ bản theo khối của mình để đi thi Đại học Chỉ một số ít em thì vì học sút dần nên các em chọn phương án là chỉ ôn chắc, thi chắc ngành nghề mà các em chọn phù hợp với sức của mình
Vì nhận thức của các em trong việc học hành thay đổi mà tâm lí của các
em cũng thay đổi nhiều hơn Đối với học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình, các em đặt ra cho mình nhiệm vụ phải học tập để đạt được kết quả nào
đó, nhất là việc phải thi thật tốt hai kỳ thi, kỳ thi Tốt nghiệp THPT và thi vào Đại học Đó là cái đích buộc phải đến, các em khó lòng chấp nhận việc mình không vào đại học, hoặc ít nhất là học cao đẳng, chứ không chịu nghỉ học vì
lý do mình thi không đậu Ở các khóa trước, hầu hết học sinh trường Chuyên Quảng Bình đều đậu tốt nghiệp với tỉ lệ trên 95%, năm học 2007-2008 tỉ lệ đậu là 99.58%, [36], theo số liệu của Ban giám hiệu nhà trường, tỉ lệ số học
Trang 38sinh đậu vào ĐH, CĐ năm đầu tiên là từ 80 - 90% Các em chưa đậu năm đầu đều thi đậu vào năm thứ 2, hoặc năm thứ 3 Cũng có em thi đến năm thứ 4 mới đậu (số này cực kỳ hiếm) nhưng em vẫn quyết tâm thi cho được vào ĐH Như vậy, trong việc học tập các em đã tự đặt ra cho mình khẩu hiệu: “không thể không đậu đại học“
Trước áp lực việc học tập như vậy, các em buộc phải cố gắng để đạt được kết quả tốt trong học tập Nhưng điều đáng nói là các em đã sử dụng các phương pháp để đạt đến kết quả ấy là không ổn, nên đã dẫn đến RLLA cho các em Các em đã phải học hành nhiều hơn, căng thẳng, lo lắng trong suốt một thời gian dài; các em đi học liên tục (ngoài giờ học ở lớp, các em còn học thêm ở nhiều nơi, các em không có thời gian nghỉ ngơi, có quá nhiều bài tập các em phải làm hết mà các em không thể làm được;) Có nhiều em không ngủ được suốt một thời gian dài, ảnh hưởng đến sức khoẻ Các em bị mâu thuẫn nội tâm giữa một bên là mong muốn đạt được những thành tích cao trong học tập như đạt học sinh giỏi tỉnh, học sinh giỏi quốc gia , và một bên
là khả năng của bản thân không thể đáp ứng được điều đó Từ đó sinh ra cảm giác ức chế, bức xúc, uất ức và dẫn đến RLLA
Những tác động như vậy đã ảnh hưởng đến tâm sinh lí của các em Vì vậy, đây là một trong những nguyên nhân gây ra RLLA cho các em
1.4.3 Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái của học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình
Ở lứa tuổi học sinh THPT nói chung, phản ứng dễ thấy nhất ở tuổi này
là sự thay đổi quan hệ với gia đình, xã hội Các em dành thời gian nhiều hơn cho bạn bè, chính vì thế mối liên hệ với gia đình có vẻ lỏng lẻo đi nhiều
Cụ thể là: ở lứa tuổi này, các em cảm thấy luôn muốn tự chủ trong mọi chuyện, từ chuyện tình cảm đến mọi hành vi của mình Tức là các em muốn được tự giải quyết tất cả mọi chuyện xẩy ra với mình, tự quản lí công việc của
Trang 39mình, tự chăm lo cho bản thân; các em muốn được khẳng định mình là người lớn… Trong khi bố mẹ lại luôn muốn con cái làm theo ý mình, vẫn luôn chăm con theo cách của mình, với bố mẹ, con cái lúc nào cũng còn bé bỏng, cần được chăm chút từng tí một Chính vì thế mà trong mối quan hệ với bố mẹ có những khúc mắc và xẩy ra những xung đột
Sự mâu thuẫn giữa bố mẹ và con cái có nguyên nhân chủ yếu là sự khác biệt trong quan điểm, bố mẹ thường xem xét hành vi của con cái thông qua lăng kính chủ quan của mình, bố mẹ cảm thấy mình cần phải điều tiết hành vi của con theo cách nhìn nhận về xã hội mà mình tích lũy được trong qua trình sinh sống Còn về phía các em, các em cho rằng mình đã lớn, các
em cảm nhận sự quan tâm này giống như sự xâm phạm vào quyền tự chủ và
sự lựa chọn cá nhân Từ chỗ bố mẹ là người nắm quyền trong các mối quan
hệ của con cái, nay vai trò của bố mẹ và con cái trở nên ngang bằng trong mọi quyết định quan trọng của con cái
Đối với học sinh ở trường THPT Chuyên Quảng Bình, ngoài những nét đặc trưng chung trong mối quan hệ với cha mẹ như trên, các em còn có những đặc điểm khác nổi bật, đó là:
Học sinh của trường THPT Chuyên Quảng Bình được tuyển chọn từ khắp các trường THCS của Tỉnh, theo như số liệu của Ban giám hiệu trường cung cấp thì số học sinh ở các huyện thị chiếm đến 70%, vì vậy mà các em hầu hết phải sống xa nhà, các em sớm sống xa cha mẹ hơn so với gần 30% các em còn lại Vì thế, mối quan hệ gia đình có nhiều sự khác biệt
Trang 40nhất định), các em buộc phải tính toán, suy nghĩ cho những ngày sống xa nhà Nhiều lúc, các em rất nhớ nhà, rất muốn có cảm giác ấm cúng của gia đình nhưng không được, bù lại, các em được “tự do“, muốn làm gì thì làm, miễn là học cho tốt Vì lúc này, ba mẹ chỉ có thể quản lý bằng số điểm, bằng kết quả học tập Vì thế, cuộc sống “tự do“ của các em xa nhà thực sự là niềm ao ước đối với những em đang sống cùng bố mẹ, vì các em không muốn bị bố mẹ gò
bó, ép buộc
Đối với đa số các em xa nhà, mỗi tuần về nhà một lần hoặc có khi lâu hơn, 2 tuần, hoặc 1 tháng, cho nên, mỗi lần các em về, các em được cha mẹ chăm sóc, yêu thương, bỏ qua mọi sai trái, lỗi lầm , như vậy, đối với các em này, dù sao thì mối quan hệ với cha mẹ cũng có những nét trung tính hoặc tốt Ngược lại, một số ít em sống xa nhà khác vẫn cảm thấy ngột ngạt trong mối quan hệ với cha mẹ, bởi từ hai phía có những khúc mắc, trục trặc Trong trường hợp đó mối quan hệ cha mẹ và con cái thực sự là nguyên nhân gây ra
áp lực đối với các em, vì các em không hề cảm thấy an toàn trong mối liên hệ với gia đình
Đối với những em sống với cha mẹ, các em được cha mẹ chăm sóc, theo dõi hàng ngày, nhiều em nhận ra sự chăm sóc này và cảm kích trước tấm lòng của cha mẹ nên càng học hành tấn tới Ngược lại, một phần trong số đó cảm thấy căng thẳng vì ba mẹ lúc nào cũng dò hỏi, quan tâm quá mức đến cuộc sống cá nhân của bản thân, các em cảm thấy ngột ngạt, khó chịu, vì cách thức mà cha mẹ áp đặt với mình Vì thế đã xảy ra mâu thuẫn và xung đột
Vì thế, về mối quan hệ gia đình, học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình cũng có những mâu thuẫn, xung đột nhất định với cha mẹ mình Mặc dù theo tìm hiểu sơ bộ của chúng tôi, số đó không phải là phổ biến