1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều kiện chuyển đổi cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 CP của Chính phủ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập hiện nay

104 620 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐỖ MẠNH THƯỜNG ĐIỀU KIỆN CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ TỰ CHỦ TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/CP CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI CÁ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ MẠNH THƯỜNG

ĐIỀU KIỆN CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ TỰ CHỦ

TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/CP CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN

các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2010

Trang 2

ĐIỀU KIỆN CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ TỰ CHỦ

TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/CP CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN

các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long)

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Mã số: 60.34.72

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ CAO ĐÀM

Hà Nội, 2010

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu 9

3 Mục tiêu nghiên cứu 10

3.1 Phân tích thực trạng hoạt động của các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN vùng ĐBSCL và vấn đề chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP đối với các tổ chức KH&CN công lập 10

3.2 Làm rõ các điều kiện để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của các tổ chức KH&CN công lập 10

4 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Mẫu khảo sát 10

6 Vấn đề nghiên cứu 10

7 Giả thuyết nghiên cứu 11

8 Phương pháp nghiên cứu: 11

9 Dự kiến luận cứ 11

10 Kết cấu luận văn 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA R&D 12

1.1 Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm 12

1.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và triển khai (R&D) ở Việt nam 12

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CỦA CÁC TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP KHỐI ĐỊA PHƯƠNG THEO NGHỊ ĐỊNH 115 12

2.1 Khái quát về tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP 12

2.2 Thực trạng hoạt động các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN khối địa phương trong cả nước 12

2.3 Thực trạng hoạt động của các Trung tâm vùng ĐBSCL 12

2.4 Thực trạng thương mại hóa kết quả hoạt động KH&CN 13

2.5 Tình hình chuyển đổi cơ chế hoạt động theo NĐ 115/2005/NĐ-CP 13

CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN ĐỂ CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỨA TỔ CHỨC KH&CN 13

3.1 Các sản phẩm khoa học và công nghệ phải được thương mại hóa 13

3.2 Nhà nước phải đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô về KH&CN 13

KẾT LUẬN 13

KHUYẾN NGHỊ 13

Trang 4

PHÂN NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP 14

1.1 Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm 14

1.1.1 Các khái niệm liên quan 14

1.1.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm 17

1.1.3 Tổng quan về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức nghiên cứu & phát triển Nhà nước qua kinh nghiệm của nước ngoài 19

1.1.4 Ý nghĩa về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN 26

1.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN ở Việt nam 27

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của tổ chức KH&CN công lập 27

1.2.2 Khái quát về tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP 30

1.2.3 Kết quả đạt được và những nguyên nhân hạn chế của tổ chức KH&CN nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm 38

Kết luận Chương 1 42

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CỦA CÁC TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP KHỐI ĐỊA PHƯƠNG THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP 44

2.1 Khái quát về tình hình hoạt động các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN trong cả nước 44

2.1.1 Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu 44

2.1.2 Cơ sở vật chất 47

2.1.3 Nguồn vốn: 48

2.1.4 Nguồn nhân lực : 50

2.1.5 Mô hình tổ chức: 50

2.2 Thực trạng hoạt động các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN khu vực vùng Đồng bằng Sông Cửu long (ĐBSCL) 52

2.2.1 Những đặc trưng của chuyển giao KH&CN trong vùng sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL 52

2.2.2 Thực trạng hoạt động các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN khu vực ĐBSCL 52

2.3 Thực trạng về thương mại hóa hoạt động KH&CN 70

2.4.Tình hình chuyển đổi cơ chế hoạt động theo Nghị định 115/CP 72

2.4.1.Tình hình chung của quá trình chuyển đổi 72

2.4.2 Tình hình chuyển đổi các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN thuộc khối địa phương trong phạm vi cả nước 74

2.4.3 Tình hình chuyển đổi các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN khu vực ĐBSCL 77

2.4.4 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển đổi 78

Kết luận Chương 2: 83

Trang 5

CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP CỦA TỔ CHỨC

KH&CN 85

3.1 Các sản phẩm KH&CN phải được thương mại hóa 85

3.1.1 Nhiệm vụ KH&CN phải xuất phát từ nhu cầu thị trường 85

3.1.2 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai (R&D) 88

3.1.3 Thương mại hóa hoạt động dịch vụ tư vấn KH&CN 90

3.1.4 Phát triển các quan hệ thị trường công nghệ 91

3.2 Nhà nước phải đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô về KH&CN 93

Kết luận Chương 3 96

KẾT LUẬN 98

KHUYẾN NGHỊ 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 05/9/2005, quy định

cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN là văn bản pháp quy rất quan trọng để các tổ chức KH&CN và các nhà khoa học thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mình trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Có thể coi đây là một chủ trương có tính chất chìa khóa trong cải cách quản lý hoạt động KH&CN

ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, đa số các tổ chức KH&CN trong phạm vi cả nước, đặc biệt là các tổ chức KH&CN khối địa phương còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất, các sản phẩm KH&CN thiếu hoặc chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất và thương mại Vì vậy, sau khi thực hiện chuyển đổi các tổ chức KH&CN đã bộc lộ nhiều yếu kém trong hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thậm chí khó có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường và hội nhập toàn cầu đang diễn ra cạnh tranh gay gắt như hiện nay

Xuất phát từ tình hình thực tế, bản thân tác giả đã từng trực tiếp công tác

trong lĩnh vực tổ chức KH&CN là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 115/2005/NĐ-CP, với mong muốn có cơ hội được tham gia đóng góp ý kiến của mình

để bàn luận về điều kiện và lộ trình chuyển đổi đối với các tổ chức KH&CN công lập

Vì vậy, tác giả đã quyết định chọn đề tài dưới đây để làm đề cương nghiên cứu của mình đồng thời cũng là dịp để trải nghiệm thực tế giúp cho cơ quan, đơn vị mình thực hiện các chính sách và cơ chế chuyển đổi để tồn tại và phát triển mạnh hơn

Tác giả xin bày tỏ lòng chân thành biết ơn Quí thầy, cô đã dành thời gian đọc và góp ý nhận xét bản đề cường này

Người thực hiện

Đỗ Mạnh Thường

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tổng hợp nguồn thu qua 05 năm hoạt động ….……… Trang 49

Bảng 2.2: Tổng hợp thực trạng nguồn nhân lực……… Trang 54

Bảng 2.3: Tổng hợp cơ sở vật chất……… Trang 57

Bảng 2.4: Tổng hợp kinh phí đầu tư phát triển tiềm lực KH&CN……… Trang 59

Biểu đồ 2.4.1: so sánh đầu tư tiềm lực KH&CN……… Trang 60

Bảng 2.5: Kết quả thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Nhà nước giao………… Trang 63

Bảng 2.6: Tổng hợp nguồn thu sự nghiệp (2005 – 2009)……… Trang 66

Bảng 2.7: Kinh phí hoạt động thường xuyên (2005 – 2009)………… Trang 68

Bảng 2.8: Tổng hợp nguồn thu của các trung tâm (2005 – 2009)………… Trang 69

Biểu đồ 2.8.1: So sánh giá trị tài sản (không tính nhà, xưởng)……… Trang 70

Bảng 2.9: Tiến độ chuyển đổi các trung tâm khu vực ĐBSCL… ……… Trang 76

Bảng 2.10: Tiến độ chuyển đổi các trung tâm khu vực ĐBSCL……… Trang 77

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hoạt động khoa học và công nghệ của nước ta hiện nay mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để đưa KH&CN Việt Nam thoát khỏi cơ chế bao cấp tồn tại nhiều thập kỷ, hướng tới một hệ thống KH&CN tự chủ, hiệu quả và hội nhập quốc tế Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ đã ban hành ngày 05/9/2005 nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức KH&CN công lập đổi mới phương thức hoạt động, tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo, gắn nghiên cứu khoa học với phát triển công nghệ trong sản xuất kinh doanh, thu hút được sự tham gia của xã hội trong quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN Có thể coi đây là một chủ trương có tính chất chìa khóa trong cải cách quản lý hoạt động KH&CN và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy lĩnh vực khoa học và công nghệ phát triển ở nước ta hiện nay

Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện, theo quy định trong lộ trình của Nghị định 115 /2005/NĐ-CP của Chính phủ đến hết ngày 30-12-2006, các tổ chức KH-CN phải xây dựng và phê duyệt xong đề án chuyển đổi, và đến cuối tháng 12-2009, tất cả các tổ chức KH-CN công lập trong diện chuyển đổi sẽ phải chuyển đổi thành một trong hai hình thức, hoặc là thành tổ chức KH-CN tự trang trải kinh phí hoặc là thành doanh nghiệp KH-CN Nếu đơn vị nào không chuyển đổi được, sẽ giải thể hoặc sát nhập Hiện nay, lộ trình chuyển đổi đã triển khai thực hiện hết thời gian như dự kiến Số đơn vị, tổ chức KH&CN cần phải chuyển đổi còn nhiều ( 55%), khả năng tồn tại và phát triển của các tổ chức KH&CN sau khi chuyển đổi không cao, đặc biệt là các tổ chức KH&CN khối địa phương còn gặp nhiều khó khăn trong cơ chế chuyển đổi và hoạt động Riêng vùng Đồng bằng Sông Cửu long, tuy có 9/13 tổ chức KH&CN của 13 tỉnh, thành phố (chủ yếu là các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN) đã có đề án được phê duyệt chuyển đổi, trong đó chỉ có 02/13 Trung tâm hoạt động được theo cơ chế tự hạch toán và đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên Số trung tâm còn lại vẫn còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ mô hình hoạt động

Trang 10

Vì sao Nghị định 115/2005/NĐ-CP ban đầu được xem như là « khoán 10 », là cơ hội « vàng » trong ngành khoa học và công nghệ nhưng khi triển khai thực hiện các tổ chức KH&CN phải chuyển đổi lại thiếu « mặn mà » ? Nguyên nhân nào làm chậm triển khai Nghị định 115/CP dẫn đến hiệu quả của chuyển đổi theo Nghị định chưa được như mong muốn? Phải chăng đang còn tồn tại khá nhiều bất cập, đó là :

- Cơ sở vật chất của đa phần các tổ chức KH&CN đặc biệt khối địa phương còn nhiều khó khăn

- Nguồn nhân lực vừa thiếu lại vừa yếu, các tổ chức KH&CN chưa đủ khả năng

để thực hiện nghiên cứu triển khai tạo sản phẩm có tính thương mại cao Bên cạnh đó, nguồn thu từ dịch vụ khoa học công nghệ cũng còn thấp và chưa ổn định

- Lộ trình thực hiện Nghị định 115 với thời gian quá ngắn cũng là một nguyên nhân, các địa phương khó có thể chuẩn bị kịp các điều kiện cần thiết để đáp ứng

Do đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để các tổ chức KH&CN sau khi chuyển đổi vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đã gợi ý cho người viết đưa ra ý tưởng nghiên cứu đề tài :

“Điều kện để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ CP của Chính phủ đối với các tổ chức Khoa học và Công nghệ cộng lập hiện nay ”, với mong muốn sẽ góp phần làm rõ các vấn đề về lý luận, thực tiễn để

khắc phục những bất cập trong lộ trình chuyển đổi cũng như bổ sung các điều kiện cần

và đủ để thực hiện cơ chế chuyển đổi thành công theo Nghị định 115/CP

Ý nghĩa lý luận của đề tài :

Đề tài được nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xác định điều kiện và lộ trình chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN phù hợp tình hình thực tế đất nước ta hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện các điều kiện về cơ chế chuyển đổi, giúp các tổ chức KH&CN thực hiện đúng qui định về qui chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần tăng cường tiềm lực khoa học

và công nghệ của đất nước

Trang 11

Những giải pháp được đưa ra có ý nghĩa thiết thực và phù hợp đối với các tổ chức KH&CN trong quá trình thực hiện cơ chế chuyển đổi

2 Lịch sử nghiên cứu

+ Trung Quốc, trong những năm đầu của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội ( 1980) đã thực hiện các chính sách thể chế KH & CN nhằm khắc phục sự ngăn cách giữa KH&CN và sản xuất, chuyển một số viện nghiên cứu vào xí nghiệp và tổng công

ty, cải tiến cơ chế lập kế hoạch KH&CN, tạo những biện pháp khuyến khích cho ứng dụng nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất Nhà nước Trung Quốc đã tiến hành cải cách thể chế KH&CN và được chia ra làm 04 giai đoạn :

- Giai đoạn 1 : Cải cách thể chế bước đầu ( 1985 – 1990)

- Giai đoàn 2: Tiếp tục cải cách sâu hơn ( 1991 – 1993)

- Giai đoạn 3 : Chuuyển đổi mạnh tổ chức đối với các viện và tăng khả năng thâm nhập thị trường ( 1994 – 1999)

- Giai đoạn 4 : Thay đổi cấu trúc hệ thống KH&CN (2000- đến nay)

Việc tìm hiểu các kinh nghiệm chuyển đổi của Trung Quốc để vận dụng vào tình hình cụ thể của Việt Nam giúp ta tiết kiệm thời gian và nguồn lực trong nỗ lực chuyển đổi thể chế KH&CN nói chung và chuyển đổi các tổ chức KHCN nói riêng là một vấn đề đang rất bức xúc ở VN Song, xét về lộ trình chuyển đổi của Trung Quốc là quá dài khó có thể áp dụng trong tình hình chuyển đổi của các tổ chức KHCN Việt Nam hiện nay

+ Tại Việt Nam, việc triển khai và thực hiện cơ chế chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ đối với các tổ chức KHCN công lập mới chỉ được áp dụng trong mấy năm gần đây Vì vậy, chưa có nhiều kinh nghiệm về mô hình hoạt động cũng như các tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Tuy nhiên, gần đây

đã có những bài viết về vấn đề này trong các diễn đàn khoa học, Hội nghị, Hội thảo khoa học, trên các báo và tạp chí như:

- Bàn về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN ( Tạp chí KHCN, tháng 10/2007 )

Trang 12

- Thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học nghiên cứu

cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước của các bộ, cơ

quan ngang bộ ( Nguyễn Tuấn Khanh)

- Vài ý kiến về việc thực hiện nghị định 115 ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa ( Tạp chí KH&CN)

- Đại học từ Viện : Bài toán tự chủ và nhân sự (ViệtnamNet, 14/9/2007)

Trong đề tài này, người viết kế thừa những kết quả nghiên cứu nói trên đồng thời đưa ra một hướng tiếp cận nhằm khắc phục những bất cập làm hạn chế quá trình thực hiện cũng như hiệu quả chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KHCN hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Phân tích thực trạng hoạt động của các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN vùng ĐBSCL và vấn đề chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP đối với các tổ chức KH&CN công lập

3.2 Làm rõ các điều kiện để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo

Nghị định 115/2005/NĐ-CP của các tổ chức KH&CN công lập

4 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tiến hành nghiên cứu các tổ chức KH&CN công lập khu vực Đồng bằng sông Cứu long (ĐBSCL) đang trong qúa trình thực hiện chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP

- Về phạm vi thời gian, luận văn giới hạn việc phân tích những hoạt động KH&CN của các trung tâm ứng dụng TB KH&CN các tỉnh ĐBSCL giai đoạn:

Trang 13

sau khi chuyển đổi vẫn không phát huy được ưu thế của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Song song với quá trình thực hiện chuyển đổi, các chính sách đề cập trong Nghị định để hỗ trợ thúc đẩy năng lực hoạt động của tổ chức KH&CN cũng chưa được triển khai kịp thời, thiếu sự quan tâm của các cấp ủy Đảng và Chính quyền các cấp , điều

đó đã dẫn đến đa số các tổ chức KH&CN sau chuyển đổi hoạt động kém hiệu quả Vậy, nguyên nhân của hoạt động kém hiệu quả đó là gì ? Từ đó, vấn đề đặt ra là : Điều kiện nào để chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN hoạt động có hiệu quả ?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề trên, người viết sơ bộ đưa ra các giả thuyết như sau :

- Điều kiện để chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN là :

7.1 Các sản phẩm và dịch vụ KH&CN phải được thương mại hóa

7.2 Đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô về KH&CN

8 Phương pháp nghiên cứu:

- Phân tích tài liệu: Phân tích các nguồn dữ liệu từ thực trạng hoạt động của các

tổ chức KH&CN

- Phương pháp quan sát, tổng kết thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu và so sánh hệ thống các văn bản pháp luận vể KH&CN đã ban hành

- Phương pháp kiểm chứng giả thuyết

Trang 14

- Khảo sát và đánh giá quá trình chuyển đổi của các tổ chức KH&CN, thực tế cho thấy:

+ Một số tổ chức KH&CN ( Viện, Trường Trung ương ) có đủ cơ sở vật chất

và trang thiết bị khi thực hiện chuyển đổi sang cơ chế hoạt động theo Nghị định 115/CP cũng gặp nhiều khó khăn vì thiếu sản phẩm KH&CN có khả năng thương mại hóa

+ Đa số các tổ chức KH&CN đều nhận định thiếu điều kiện về vốn, nhưng khi được cấp vốn đầy đủ thì không biết sử dụng vào mục đích gì (!), bằng chứng là các sở KH&CN địa phương hàng năm vẫn không sử dụng hết ngân sách, ngay cả Bộ KH&CN cũng phải trả lại ngân sách hàng năm hàng trăm tỷ đồng

+ Nguồn nhân lực (lao động kỹ thuật cao) Lực lượng lao động kỹ thuật đang có

xu hướng chuyển dịch từ khối Nhà nước ( công lập) sang các lĩnh vực tư nhân (TNHH)và nước ngoài, chứng tỏ cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy Nhà nước thiếu

sự mềm dẻo hữu cơ, chưa phù hợp với sự năng động của kinh tế thị trường

+ Các tổ chức KH&CN nào hoạt động tạo ra nhiều sản phẩm KH&CN, đồng thời sản phẩm đó có tính thương mại cao thì tổ chức đó phù hợp với cơ chế chuyển đổi, tồn tại và phát triển mạnh

10 Kết cấu luận văn

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA R&D

1.1 Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm

1.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và triển khai (R&D) ở Việt nam

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CỦA CÁC TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP KHỐI ĐỊA PHƯƠNG THEO NGHỊ ĐỊNH 115

2.1 Khái quát về tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP

2.2 Thực trạng hoạt động các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN khối địa phương trong cả nước

2.3 Thực trạng hoạt động của các Trung tâm vùng ĐBSCL

Trang 15

2.4 Thực trạng thương mại hóa kết quả hoạt động KH&CN

2.5 Tình hình chuyển đổi cơ chế hoạt động theo NĐ 115/2005/NĐ-CP CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN ĐỂ CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỨA TỔ CHỨC KH&CN

3.1 Các sản phẩm khoa học và công nghệ phải được thương mại hóa

3.2 Nhà nước phải đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô về KH&CN

KẾT LUẬN

KHUYẾN NGHỊ

Trang 16

PHÂN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI

CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KH&CN

CÔNG LẬP

1.1 Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm

1.1.1 Các khái niệm liên quan

- Khái niệm “tự chủ”: Theo từ điển tiếng Việt: “tự chủ là tự điều hành, quản lý

một công việc của mình, không bị ai chi phối”; Theo các từ điển tiếng Anh: tự chủ (autonomy) cũng có nghĩa là tự quản hoặc tự trị (self-government), khái niệm này có thể được áp dụng cho cá nhân hay tập thể hoặc một tổ chức Theo Bách khoa thư: về quản lý tự chủ là mức độ tự quyền và độc lập mà một công việc cho phép người làm xác định xem sẽ thực hiện công việc đó như thế

- Khái niệm về “trách nhiệm”: Theo từ điển tiếng Việt thì trách nhiệm là “sự

ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu hậu quả” (Viện ngôn ngữ học 1987) Khái niệm “trách nhiệm” phản ánh sự

ràng buộc của hành vi hay lời nói của một đối tượng đối với kết quả của các hành vi, lời nói đó

Như vậy, Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong lĩnh vực nghiên cứu này là: quyền được chủ động, sáng tạo về nhiệm vụ, tài chính, tài sản, tổ chức về biên chế và trách nhiệm với các vấn đề trên của thủ trưởng các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN

- Mối quan hệ giữa tính tự chủ và tính trách nhiệm : Trong chuỗi logic này tự

chủ sẽ đi trước và trách nhiệm sẽ xuất hiện sau Tuy nhiên tính tự chủ (hay các biểu hiện của nó) sẽ là mối liên hệ ngược, cung cấp các thông tin tới các bên có liên quan để

họ ra các phán quyết về tự chủ của các tổ chức KH&CN Nếu một tổ chức KH&CN có được tính tự chủ cao thì sẽ có những quyết định có tính trách nhiệm cao hơn và đạt được kết quả tốt hơn trong những hoạt động của mình Ngược lại khi tính trách nhiệm của các tổ chức KH&CN không xứng với tầm của tính tự chủ thì các cơ quan có thẩm

Trang 17

quyền và cả các bên liên đới sẽ giảm bớt hoặc thu hồi các quyền hạn của tổ chức KH&CN và như vậy năng lực làm chủ các hoạt động của tổ chức sẽ bị thu hẹp tương ứng với mức độ trách nhiệm Rõ ràng sẽ không có một mức độ như nhau về tính trách nhiệm và tính tự chủ của các tổ chức KH&CN khác nhau mà sẽ có những mức độ khác nhau cho các tổ chức này, tuỳ theo năng lực của các tổ chức KH&CN và sự tin cậy của

xã hội thể hiện qua các quyết định về quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN

- Các tổ chức nghiên cứu và triển khai (R&D) hay còn gọi là các tổ chức khoa

học và công nghệ công lập1 có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, gồm :

+ Tổ chức nghiên cứu khoa học : là những tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước Không thuộc diện bắt buộc chuyển đổi)

+ Tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ: là những tổ chức

nghiên cứu và thực nghiệm các công nghệ mới và sản phẩm mới (R&D)

Tổ chức R&D có 03 nhóm2

: Nhóm 1: Tổ chức R&D về công nghệ thuộc các bộ “sản xuất-kinh doanh” Nhóm 2: Tổ chức R&D thuộc khối hàn lâm ( các viện, trường trung ương) Nhóm 3: Tổ chức R&D trong lĩnh vực công ích (chủ yếu là các tổ chức

KH&CN khối địa phương)

- Tổ chức dịch vụ KH&CN: là tổ chức KH&CN thực hiện các kỹ năng và kinh nghiệm KH&CN, chủ động khai thác và ký hợp đồng với các tổ chức, cá nhân và tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ: hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, dịch vụ KH&CN, cung cấp hàng hóa và các loại hợp đồng kinh tế khác do tổ chức KH&CN tự thỏa thuận với các đối tác trên cơ sở phù hợp với năng lực, lĩnh vực chuyên môn của tổ chức KH&CN

1 Xem khoản 2, Điều 1, Nghị định 115/2005/NĐ-CP

2 Vũ Cao Đàm: Khảo luận về căn bệnh hành chính hóa khoa học Giáo trình giảng dạy cao học, năm 2007,Tr 27,

Trang 18

Các tổ chức KH&CN công lập được tổ chức dưới các hình thức: viện, trung tâm, trạm, trại (nghiên cứu, quan trắc, thử nghiệm) và các cơ sở nghiên cứu và phát triển khác thuộc Nhà nước

+ Cơ quan nghiên cứu và triển khai công nghệ: Là cơ quan nghiên cứu khoa

học và triển khai công nghệ nơi tạo ra nguồn công nghệ để chuyển giao

+ Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN ( Trung tâm) ở các tỉnh, thành phố

cũng là những tổ chức KH&CN công lập, là đơn vị sự nghiệp có chức năng, nhiệm vụ làm cầu nối, tiếp thu và chuyển giao các kết quả nghiên cứu, các kỹ thuật tiến bộ và công nghệ mới vào sản xuất

+ Lộ trình chuyển giao kỹ thuật tiến bộ: Việc phát triển KH&CN trong lĩnh vực

sản xuất bao gồm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ Để chuyển giao kỹ thuật tiến

bộ và công nghệ vào sản xuất phải đi theo một lộ trình, gồm các công đoạn với những đặc điểm và yêu cầu khác nhau, được biểu hiện tóm tắt theo lộ trình: R – R&D - D3

R: được hiểu là những hoạt động nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo

R&D: được hiểu là nghiên cứu và triển khai Các kết quả thu được từ nghiên cứu ứng dụng là cơ sở cho các hoạt động nghiên cứu triển khai Các nghiên cứu triển khai được bắt đầu bằng các thực nghiệm ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ Kết quả của các thực nghiệm được sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng các mô hình áp dụng các

kỹ thuật tiến bộ và công nghệ vào sản xuất

D: được hiểu là phát triển sản xuất đại trà Sau khi tiến bộ kỹ thuật được thử nghiệm thành công trên diện tích lớn sẽ được áp dụng trong sản xuất đại trà

Con đường đưa kỹ thuật tiến bộ và công nghệ đi vào sản xuất đại trà là con đường không ngắn Nhiều kỹ thuật tiến bộ đã đi qua các công đoạn R và RD nhưng không trở thành được yếu tố của sản xuất để mở rộng ra đại trà D

Ở các nước công nghiệp phát triển, các thành quả của khoa học và công nghệ ở các công đoạn đầu (R và RD) trước khi đưa vào sản xuất thường có những điểm giống nhau, gần gữi với thực tế sản xuất Vì vậy, các thành tựu này có thể chuyển giao một cách dễ dàng

Trang 19

Ở Việt Nam, hai công đoạn đầu R và R&D được thực hiện tương đối tốt nhưng công đoạn D việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất đại trà còn gặp nhiều khó khăn Nhiều điển hình sản xuất và mô hình ứng dụng kỹ thuật tiến bộ và công nghệ được xây dựng thành công ở các tỉnh, nhưng việc mở ra sản xuất lại rất hạn chế và chỉ tồn tại trong thời gian ngắn

Như vậy, việc nghiên cứu khoa học và công nghệ (R) phải xuất phát từ vấn đề bức xúc của sản xuất đặt ra Hay nói cách khác việc nghiên cứu phải có địa chỉ và đơn đặt hàng ( thị trường khoa học và công nghệ) , có như vậy kết quả của nghiên cứu mới

đi vào sản xuất và đời sống Việc nghiên cứu triển khai (R&D) cũng phải từ mục đích

đó, phải gắn kết với thực tế sản xuất, hoàn thiện qui trình kỹ thuật để chuyển giao vào sản xuất Chỉ khi nào kỹ thuật tiến bộ mới chứng tỏ được tính ưu việt trong mở rộng áp dụng, lúc đó qui trình mới được chuyển giao cho sản xuất đại trà và có điều kiện phát huy để trở thành yếu tố kỹ thuật của sản xuất

+ Thương mại hóa sản phẩm KH&CN: là các sản phẩm khoa học và công nghệ

có giá trị trong trao đổi thương mại và khả năng ứng dụng rộng rãi để phục vụ đời sống

Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN là nhằm vào các mục tiêu

cụ thể về: giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, đáp ứng những thay đổi trong chính sách KH&CN, đáp ứng xu hướng phát triển mới của KH&CN

Trang 20

Vấn đề quan trọng quyết định đến sự tồn tại của các tổ chức KH&CN là quyền sở

hữu của tổ chức đó “Quyền sở hữu bao gồm 3 quyền năng: quyền chiếm giữ, quyền sử dụng

và quyền định đoạt đối tượng sở hữu”4 Tách quyền sử dụng với quyền chiếm giữ và quyền định đoạt đối tượng sở hữu nhằm tạo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ thể sử dụng đối tượng diễn ra khá nhiều và khá sớm Điều đáng nhấn mạnh là sự độc lập của quyền sử dụng chỉ là tương đối, nó vẫn phải đặt trong mối quan hệ ràng buộc với các mặt khác của quyền

sở hữu Bởi vậy, tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập có những khuôn khổ nhất định Ngoài việc không thể thay đổi quyền chiếm giữ và quyền định đoạt đối với đối tượng sở hữu, thì hoạt động của tổ chức KH&CN công lập còn phải định hướng phục vụ vào các mục tiêu của Nhà nước, mà chính nhờ có những mục tiêu đó thì các tổ chức nghiên cứu và triển khai Nhà nước mới ra đời

Để hoạt động một cách tự chủ trên thị trường, các tổ chức KH&CN công lập cần có các quyền sử dụng tài sản trong đơn vị nhằm đáp ứng những đòi hỏi của bối cảnh bên ngoài vốn đầy biến động và phức tạp Như vậy, mặc dù Nhà nước vẫn là chủ thể sở hữu tài sản của

tổ chức KH&CN công lập, nhưng chính mỗi tổ chức KH&CN công lập lại là chủ thể sử dụng tài sản đó Đương nhiên, tăng cường quyền cho đơn vị không có nghĩa là loại bỏ quyền của Nhà nước “Tách quyền sỡ hữu và quyền sử dụng”, “tách Nhà nước khỏi tổ chức KH&CN” không phải hiểu theo nghĩa cơ học là đối lập tuyệt đối, tách biệt hoàn toàn giữa chủ thể sở hữu với tổ chức KH&CN công lập Tăng quyền sử dụng cho đơn vị và “tách quyền sở hữu và quyền sử dụng” thực chất là thiết lập một quan hệ kiểu mới giữa chủ thể sở hữu - Nhà nước và chủ thể sử dụng - tổ chức KH&CN công lập cụ thể

Nếu như trong cơ chế kế hoạch hoá, chủ thể sở hữu dễ thể hiện vai trò hơn chủ thể sử dụng, thì ngược lại, cơ chế thị trường tạo điều kiện để chủ thể sử dụng bộc lộ mình hơn là chủ thể sở hữu Chuyển sang cơ chế mới chúng ta có thể nhận biết những quyền cần có của đơn vị qua tác động của thị trường, đồng thời cũng cần xác định rõ phương thức quản lý của Nhà nước đối với tổ chức KH&CN công lập

Về nguyên tắc, quyền sở hữu của Nhà nước phải được thể hiện cụ thể trong từng tổ chức KH&CN công lập thông qua:

- Nhà nước có đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại các tổ chức KH&CN công lập

Trang 21

- Nhà nước có quyền gián tiếp nhưng quyết định đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ của tổ chức KH&CN công lập như quyền chỉ định người lãnh đạo, quyền quyết định chiến lược hoạt động và quyền kiểm tra, kiểm soát hoạt động của tổ chức KH&CN công lập

Trên cơ sở định hình chủ thể sử dụng, phải tiếp tục xác định Đại diện chủ sở hữu trực tiếp của tổ chức KH&CN công lập nhằm đảm bảo nguyên tắc ở đâu có vốn của Nhà nước thì phải có tổ chức hoặc cá nhân được giao quyền đại diện Nhà nước làm chủ sở hữu trực tiếp với nhiệm vụ, quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng

Như vậy, để phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xác lập quyền sở hữu Nhà nước và quyền sử dụng của các tổ chức KH&CN Trước hết, nên đổi mới chế độ chủ quản của cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên trực tiếp của tổ chức KH&CN công lập Cần thiết lập các hình thức đại diện Nhà nước làm chủ sở hữu ít tính chất quan liêu hơn, độc lập hơn với hệ thống hành chính Nhà nước, có chức năng - nhiệm vụ - quyền hạn - trách nhiệm được xác định đạt rõ ràng hơn, và theo hướng Chính phủ thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện các quyền của chủ sở hữu Nhà nước đối với tổ chức KH&CN công lập Chẳng hạn, áp dụng cơ chế sử dụng Hội đồng quản trị với tư cách là người đại diện pháp nhân của tổ chức KH&CN công lập, có quyền quản lý tài sản, quyết định phương châm và chiến lược hoạt động của đơn vị Mặc dù không trực tiếp can thiệp vào hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ nhưng Nhà nước có thể thông qua việc cử đại diện tham gia hội đồng quản trị để gián tiếp quản lý các tổ chức KH&CN công lập Quá trình áp dụng cơ chế Hội đồng quản trị trong tổ chức KH&CN công lập sẽ không dễ dàng, bởi vậy cần có những bước thử nghiệm và chú trọng so sánh rút kinh nghiệm từ đổi mới doanh nghiệp Nhà nước

1.1.3 Tổng quan về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức nghiên cứu & phát

triển Nhà nước qua kinh nghiệm của nước ngoài

a) Cải cách thể chế và tái cấu trúc tổ chức

a 1 Kinh nghiệm chuyển đổi tổ chức nghiên cứu và triển khai của Trung Quốc

- Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng, có cùng một thể chế chính trị

và nền văn hóa có nhiều điểm tương đồng Trung Quốc là một trong những nước có nhiều thành công trong việc cải cách thể chế kinh tế cũng như thể chế khoa học và công nghệ, trong đó có việc đổi mới các tổ chức nghiên cứu và triển khai (R&D) được

Trang 22

thực hiện khá bài bản và đem lại thành công lớn Việc tham khảo lộ trình chuyển đổi của Trung Quốc sẽ giúp chúng ta có những bài học kinh nghiệm trong việc chuyển đổi

tổ chức và quản lý các tổ chức KH&CN đang diễn ra hiện nay được tốt hơn, rút ngắn được thời gian chuyển đổi và chuyển đổi thành công

Hệ thống các tổ chức R&D của Trung Quốc trước đây, hoạt động kém hiệu quả, thể hiện ở ba khía cạnh: Thứ nhất, có quá nhiều viện được thành lập và hoạt động tách rời sản xuất nên gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu của sản xuất; thứ hai, có nhiều viện trùng lặp và thứ ba là, cơ cấu tổ chức phức tạp, kinh phí đầu tư hạn chế lại dàn trải nên kém hiệu quả

Nhìn chung, là một hệ thống các tổ chức R&D được hình thành tách rời hệ thống sản xuất

Từ những năm 1980, yêu cầu bức thiết đặt ra là phải cải cách thể chế kinh tế, thể chế KH&CN và đổi mới công tác kế hoạch hoá Hàng loạt nỗ lực của Nhà nước Trung Quốc được thực hiện nhằm khắc phục sự ngăn cách giữa KH&CN và sản xuất, thông qua một số chính sách như thành lập các liên hiệp khoa học và sản xuất (KH&SX), chuyển một số viện nghiện cứu vào xí nghiệp và tổng công ty, cải tiến cơ chế lập kế hoạch KH&CN, tạo những biện pháp khuyến khích để ứng dụng nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và tiến hành cải cách thể chế KH&CN theo hướng thị trường trong đó thực hiện chuyển đổi các tổ chức NC&PT theo hướng nhất thể hoá chức năng nghiên cứu với chức năng khác của doanh nghiệp nhằm khắc phục khiếm khuyết mang tính chất cấu trúc của hệ thống tổ chức NC&PT hiện hành

Quá trình chuyển đổi chia 04 giai đoạn

Giai đoạn1: Cải cách thể chế bước đầu (1985-1990): Là tiến hành cải cách chế

độ cấp phát tài chính, xây dựng và phát triển thị trường công nghệ (TTCN) Nghĩa là quản lý chặt kinh phí của nhà nước cấp, đồng thời khuyến khích các cơ quan nghiên cứu khai thác các nguồn tài chính khác, như thông qua các hợp đồng sản xuất Mặc dù vậy, TTCN được hình thành trong giai đoạn này nhưng chưa đảm nhận được vai trò là nơi trao đổi giữa người bán và người mua và là công cụ để tăng cường mối liên kết giữa hai khu vực nghiên cứu và sản xuất

Trang 23

Giai đoạn 2: Tiếp tục cải cách sâu hơn (1991-1993): Với chủ trương biến xí

nghiệp trở thành chủ thể tiếp nhận kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công

nghệ; đồng thời tổ chức lại hệ thống R&D gắn với sản xuất

Giai đoạn 3: Chuyển đổi mạnh về tổ chức đối với các viện và tăng khả năng thâm nhập thị trường (1994- 2000)

Trung Quốc tiến hành thí điểm chuyển đổi một số viện Chuyển đổi một số viện thành doanh nghiệp KH&CN, một số viện thành đơn vị dịch vụ tư vấn, một số viện chuyển vào trường đại học hoặc các bộ khác với tư cách bộ phận nghiên cứu trực thuộc

và một số tổ công ty do trung ương quản lý

Giai đoạn 4: Thay đổi cấu trúc hệ thống R&D (từ năm 2000 đến nay)

Giai đoạn này được thực hiện với 3 nguyên tắc: Một là, nhà nước tập trung kinh phí đầu tư cho một số tổ chức nghiên cứu thuộc lĩnh vực nhà nước cần phát triển ở trình độ cao Hai là, tăng cường sáng tạo KH&CN, đẩy nhanh chuyển hoá thành quả khoa học Ba là, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, tôn trọng quy luật thị trường và khuyến khích cạnh tranh

Tóm lại: Việc chuyển đổi các tổ chức nghiên cứu và triển khai của Trung Quốc

là một quá trình lầu dài và phức tạp, không chủ quan và nóng vội Quá trình chuyển đổi vừa làm vừa rút kinh nghiệm Kinh nghiệm cải cách thể chế KH&CN của Trung Quốc cho thấy, trước khi Nhà nước quyết định chuyển đổi các viện, hàng loạt các biện pháp kinh tế, tài chính đã được ban hành để tạo môi trường chuyển đổi phù hợp cho các viện phải chuyển đổi Thể chế kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh, tạo môi trường thuận lợi thực hiện chuyển đổi các viện và lưu chuyển cán bộ Đây là nguên nhân quan trọng để cải cách KH&CN Trung quốc thành công

a 2 Hoạt động của tổ chức nghiên cứu và triển khai (R&D) ở một số nước khác

Ở nhiều quốc gia, một phần đáng kể kinh phí Nhà nước đầu tư cho khoa học được dành cho hệ thống tổ chức R&D nhà nước Khoản kinh phí này thường không mang lại hiệu quả như mong muốn bởi một phần do sự thiếu cơ chế tự chịu trách nhiệm từ phía đối tượng được cấp kinh phí là tổ chức R&D nhà nước Nhà nước đã tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị nghiên cứu bằng cách cắt giảm nguồn kinh phí bao cấp và buộc các viện nghiên cứu phải tìm kiếm các nguồn vốn khác để tồn tại, cụ thể:

Trang 24

- Chính phủ Liên bang Australia đòi hỏi các cơ quan nghiên cứu của Chính phủ phải kiếm được 30% kinh phí hoạt động của mình từ những thu nhập ở bên ngoài

- Chính phủ Ấn Độ buộc các cơ quan nghiên cứu và triển khai Nhà nước phải tìm kiếm các nguồn hỗ trợ tư nhân từ bên ngoài tới mức 50%

- Chính phủ Mêhicô và Braxin thậm chí còn chủ trương cắt 100% kinh phí bao cấp đối với một số cơ sở nghiên cứu khoa học quốc gia

- Ở Pháp, ngoài cách thức Nhà nước quản lý hoạt động KH&CN của các cơ sở nghiên cứu và triển khai thông qua ký kết hợp đồng (thời hạn mỗi hợp đồng 4 năm), Chính phủ Pháp còn cho phép các nhà nghiên cứu trong cơ quan Nhà nước trực tiếp tham gia kinh doanh, như một biện pháp mạnh, là nhằm thực hiện ý đồ tăng cường phối hợp hoạt động nghiên cứu KH&CN giữa cơ sở Nhà nước và doanh nghiệp Mở rộng quyền tự chủ của tổ chức NC-PT và cá nhân nhà khoa học đã được thực hiện đồng bộ với nhiều biện pháp khác, trong đó đặc biệt có việc triển khai dự án “vườn ươm và vốn ban đầu cho các doanh nghiệp công nghiệp” nhằm hỗ trợ, giúp đỡ trên các mặt đào tạo, tư vấn và tìm kiếm nguồn tài chính cho những người có dự án doanh nghiệp khoa học

- Ở Hàn Quốc: Viện KH&CN Hàn Quốc (KIST), một tổ chức R&D điển hình của Hàn Quốc, với đặc trưng độc đáo là Viện nghiên cứu làm theo hợp đồng, không chỉ toàn Viện tự chủ trước Nhà nước mà mỗi phòng của Viện đều có thể độc lập lãnh đạo một hệ thống nghiên cứu và phải chịu trách nhiệm về tất cả các chi phí cần thiết để thực hiện các hoạt động nghiên cứu

b) Thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai (R&D)

Thương mại hóa hoạt động KH&CN, thực chất là thương mại hóa những kết quả R&D được áp dụng vào sản xuất, đưa lại hiệu quả kinh tế (Commercialisation of R&D Outputs)

b 1 Kinh nghiệm của Trung Quốc về vấn đề thương mại hóa kết quả R&D

Trong giai đoạn 1978 - 1985, chính sách KH&CN Trung Quốc, về căn bản, vẫn tiếp tục đi theo đường lỗi cũ, tập trung vào việc khôi phục, cải thiện các cơ sở nghiên cứu - triển khai (R&D), cụ thể là:

- Phục hồi và mở rộng các viện độc lập R&D

Trang 25

- Cải cách quản lý các viện R&D theo hướng cử cán bộ chuyên môn làm giám đốc thay cho cán bộ chính trị, thiết lập nguyên tắc trọng nhân tài

- Làm kế hoạch để phân bổ lại nguồn lực R&D cho các ngành công nghiệp

- Thực hiện chế độ quản lý chặt chẽ các dự án nằm trong kế hoạch

Những cải cách trên nhằm thay đổi khuôn khổ của cơ chế cũ - cơ chế kế hoạch hóa tập trung

Tuy nhiên, kết quả trên thực tế lại không như mong muốn, đó là:

- Sức mạnh hành chính không đủ khả năng giải quyết các nhu cầu khác nhau về KH&CN cho các nhà sản xuất

- Không tạo được sự phối hợp cần thiết giữa những người tham gia vào các kế hoạch hoạt động phát triển KH&CN

- Hạn chế sự phổ biến những công nghệ đã được tạo ra

Phân tích các thất bại trên, Trung Quốc đã đề ra Nghị quyết về cải cách hệ thống quản lý KH&CN (năm 1985) với tinh thần chính là thương mại hóa hoạt động KH&CN

Thương mại hóa kết quả R&D là quá trình tất yếu khách quan, đồng thời cũng là một quá trình phức tạp, lâu dài Thực tế đã xuất hiện rất nhiều vấn đề mà trước đó không thể lường trước Các vấn đề này thực sự là những trở ngại và thách thức đối với chính sách thương mại hóa của Trung Quốc Tính chất phức tạp của thương mại hóa đòi hỏi phải có phương pháp tiến hành thích hợp Đó là:

+ Kiên trì chủ trương cải cách hệ thống KH&CN theo hướng thương mại hóa Kinh nghiệm cho thấy, lúc đầu áp dụng chính sách mới đã gây nên không ít hỗn loạn

và khó khăn cho các đơn vị R&D, nhưng việc áp dụng thành công những sản phẩm có giá trị thương mại đã thúc đẩy họ tích cực tham gia vào quá trình thương mại hóa; và nếu như ban đầu việc "bị ép buộc làm kinh doanh" có hạ bớt danh tiếng chuyên môn của các nhà khoa học, thì sau đó, địa vị của họ lại được củng cố, nâng cao nhờ sự đánh giá nghiêm túc, vô tư của thị trường về các sản phẩm làm ra

+ Chủ động tiến hành thương mại hóa theo các giai đoạn khác nhau ứng với mỗi giai đoạn cần xác định rõ mục tiêu, phương thức tiến hành cụ thể

Trang 26

Kể từ 1985 đến nay, Trung Quốc đã có đến 3 chính sách quan trọng đánh dấu những điểm mốc lớn trên con đường cải cách hệ thống quản lý KH&CN nói chung và thương mại hóa hoạt động KH&CN nói riêng: Quyết định của Trung ương (TƯ) Đảng

cộng sản Trung Quốc về “cải cách hệ thống quản lý KH&CN ”,1985; Quyết định của

TƯ Đảng cộng sản Trung Quốc về “Thúc đẩy phát triển khoa học”, 1995; Quyết định của TƯ Đảng, Quốc vụ viện về “Tăng cường đổi mới công nghệ, phát triển công nghệ

cao, thực hiện việc tạo ra các ngành nghề công nghiệp”

+ Hết sức linh hoạt, nắm bắt và điều chỉnh theo thực tiễn Ở đây có thể nêu lên một ví dụ điển hình về Xí nghiệp công nghệ mới (NTE – New Technology Enterprise) Trước chủ trương cắt giảm ngân sách và tình trạng không chắc chắn của thị trường công nghệ, nhân viên nghiên cứu và trường đại học đã phản ứng bằng cách tự sáng tạo riêng cho mình những "sản phẩm phụ" (Spin - offs) hay NTE Hoạt động tự phát này

đã mang lại những kết quả bất ngờ trong quá trình cải tổ hệ thống KH&CN Các NTE dần dần hợp thức hóa vai trò thương mại mới cho các viện nghiên cứu và trường đại học, giúp tạo ra một nền văn hóa kinh doanh công nghệ đầy sinh động vốn thiếu vắng trong khu vực các doanh nghiệp Nhà nước truyền thống Nhận thấy tác dụng tích cực của NTE, đồng thời nhằm giúp cho việc hình thành và khả năng đứng vững của NTE Trung Quốc đã xúc tiến chương trình Bó đuốc vào năm 1988 và thành lập một loạt các Khu công nghệ cao nhằm tạo môi trường phát triển công nghiệp công nghệ cao

Thương mại hóa mang lại những lợi ích to lớn, nhưng mặt khác nó cũng còn một số hạn chế nhất định như:

Trang 27

- Làm cho các nhà khoa học không có trình độ về thương mại cũng cố gắng trở thành nhà doanh nghiệp và nhà quản lý Xí nghiệp, tất nhiên sẽ có nhiều sai sót trong kinh doanh

- Khuyến khích việc chuyển những nhà khoa học học trẻ tuổi rời khỏi nghiên cứu cơ bản vì lợi ích trong nghiên cứu ứng dụng cao hơn

- Buộc các cơ quan phải ưu tiên phân phối lợi ích cho những người có thể "bán các dịch vụ và công nghệ", và do đó, sẽ tạo ra cạnh tranh giữa các phòng ban, làm ảnh hưởng tới thời gian nghiên cứu và gây ra khó khăn trong việc thúc đẩy công trình nghiên cứu liên phòng ban và liên ngành

b 2 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm của Trung Quốc

Thành công của quá trình thương mại hóa phụ thuộc rất nhiều vào việc xác định những vấn đề phải đối đầu và tìm ra giải pháp khắc phục chúng Bài học có thể rút ra

từ kinh nghiệm của Trung Quốc:

- Thúc ép và khuyến khích các tổ chức R&D tham gia vào thương mại hóa hoạt động KH&CN Biến các tổ chức R&D vốn quen hoạt động trong môi trường kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp (làm theo lệnh và ăn theo lương) thành những chủ thể tham gia vào thương mại hóa là một việc hết sức khó khăn Đối phó lại vấn đề phức tạp này, Trung Quốc đã sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ cho nhau

Biện pháp ép buộc thể hiện sự kiên quyết của Chính phủ yêu cầu các cơ quan R&D phải thay đổi phương thức hoạt động Chính phủ cắt bỏ mọi nguồn tài trợ qua việc phân loại các tổ chức R&D, như năm 1991, hơn 2000 viện làm công nghệ công nghiệp

bị cắt hoàn toàn hoặc một phần "kinh phí hoạt động thường xuyên" Cùng với việc hủy

bỏ sự cấp phát của Chính phủ nhằm gây áp lực bắt các viện R&D phải quay về với những nhu cầu thực tại của cuộc sống, các biện pháp tạo điều kiện cho các viện R&D hướng vào thị trường cũng được áp dụng

- Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động mua bán công nghệ bằng cách cho phép ký kết hợp đồng công nghệ; Thành lập các cơ quan hỗ trợ mua bán công nghệ; cho phép thực hiện một loạt các giao dịch có liên quan đến công nghệ (phát triển công nghệ theo hợp đồng, chuyển giao công nghệ, tư vấn công nghệ, dịch vụ công nghệ)

Trang 28

- Tăng quyền độc lập cho các tổ chức R&D để có thể liên hệ với thị trường công nghệ mới được tạo ra Tự chủ quyết định các hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ theo hợp đồng, đăng ký liên doanh với các xí nghiệp và đơn vị thiết kế cũng như với các viện của hệ đại học, quyết định những việc về nhân sự và tổ chức nội

bộ trong tổ chức, quyết định về thu nhập từ các hợp đồng, chủ động liên kết hợp tác quốc tế và giữ lại phần ngoại tệ đơn vị có được phù hợp với các quy định của Nhà nước

- Mềm hóa trong công tác cán bộ: cho phép cán bộ KH&CN làm thêm công việc thứ hai, với điều kiện họ thực hiện tốt nhiệm vụ chính được giao; áp dụng chế độ "nghỉ không lương nhưng biên chế vẫn được giữ"; cho phép thu nhận những cán bộ KH&CN

1.1.4 Ý nghĩa về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN

- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN là nhằm vào các mục tiêu cụ thể về giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, đáp ứng những thay đổi trong chính sách KH&CN, đáp ứng xu hướng phát triển mới của KH&CN

- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm có tác dụng nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn

vị nghiên cứu khoa học và công nghệ Một trong những đặc điểm nổi bật của xu hướng mới trong KH&CN hiện nay có ảnh hưởng tới tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức

KH&CN là mối liên kết giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh ngày

càng phát triển Quá trình từ phát minh khoa học đến sáng chế , phát triển công nghệ và đưa vào sử dụng trong sản xuất và đời sống ngày càng rút ngắn

Trang 29

- Các tổ chức KH&CN nhà nước đang có điều kiện và cần phải tăng cường tự chủ trên cả 2 mặt: giảm những loại tổ chức KH&CN nhà nước mang tính phụ thuộc cao (loại phục vụ mục tiêu quốc phòng và đặc biệt là loại phủ định phương thức hoạt động KH&CN

tư nhân), đồng thời tăng mức độ tự chủ ở mọi loại hình tổ chức KH&CN nhà nước Nói một cách khác là tăng tự chủ ở mọi loại và tăng loại có khả năng tự chủ cao

- Ngoài việc tăng cường quyền tự do, tự chủ năng động sáng tạo trong nghiên cứu KH&CN và phát huy ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, ý nghĩa khác của tự chủ, tự chịu trách nhiệm còn là nâng cao đời sống của các nhà KH&CN Bởi vì, đời sống của các Nhà khoa học hiện nay có mức thu nhập thấp khiến cho những cán bộ nghiên cứu không muốn gắn bó với công việc của mình với tổ chức KH&CN Đời sống khó khăn cũng

là nguyên nhân làm cho các tổ chức KH&CN không thu hút được người giỏi vào làm việc

Để gắn bó chặt chẽ giữa hoạt động KH&CN với hoạt động sản xuất đòi hỏi các

tổ chức R&D nhà nước phải chủ động mở rộng quan hệ với doanh nghiệp, phải năng động trước các diễn biến của đời sống kinh tế và điều đó chỉ có thể thực hiện được đúng với việc tăng cường quyền tự chủ, thái độ tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN như theo tinh thần Nghị định 115/CP sẽ được trình bày ở phần sau

1.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN ở Việt nam

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của tổ chức KH&CN công lập

Các tổ chức KH&CN ở nước ta thực sự trở thành hệ thống kể từ năm 1955 sau khi miền Bắc được giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp Sự hình thành và phát triển của hệ thống có thể chia thành 03 giai đoạn 5

+ Giai đoạn 1: Từ 1955 – 1990

Đặc trưng của giai đoạn này là cơ chế quản lý theo chế độ kế hoạch hóa tập trung Cơ chế này quyết định chiều hướng phát triển của hệ thống và định ra cơ chế quản lý hệ thống Giai đoạn này phát triển theo khả năng, yêu cầu của nền kinh tế Đặc biệt, vào cuối giai đoạn này bắt đầu công cuộc đổi mới, phương hướng xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Hệ thống R&D Nhà nước cũng được sắp

5 Phạm Huy Tiến “Tổ chức KH&CN” Hà Nội, 2006, tr49

Trang 30

xếp, điều chỉnh phù hợp với những cơ chế mới bằng các văn bản qui định của Nhà nước Mở đầu là Quyết định 175-CP ngày 29/4/1981 cho phép ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Quyết định 175-CP đã khuyến khích các tổ chức nghiên cứu và triển khai (R&D) nhà nước được ký kết hợp đồng kinh tế để thực hiện nhiệm vụ KH&CN trên cơ sở tự nguyện Nhà nước đã chính thức thừa nhận việc mở rộng chức năng của tổ chức R&D nhà nước kể từ Nghị quyết 51/HĐBT và Thông tư hướng dẫn số 1438/TT- KHKT-TC giữa Liên bộ Bộ Tài chính

và Uỷ ban KHKT Nhà nước Theo đó, tổ chức R&D nhà nước được tiến hành ba loại hoạt động: nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, sản xuất thử và sản xuất một số sản phẩm có trình độ kỹ thuật cao hơn, nhưng chưa có điều kiện sản xuất đại trà Giai đoạn này, sự tăng trưởng về số lượng các tổ chức và đội ngũ cán bộ KHKT, đã có sự kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học, với số lượng là: 264 tổ chức R&D

+ Giai đoạn 2: Từ 1990 – 2000

Đặc trưng của giai đoạn này là đất nước ta vượt qua thời kỳ khủng khoảng và bước vào thời kỳ đổi mới, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Số lượng tổ chức của hệ thống tăng từ 264 lên 610 tổ chức Giai đoạn này, để thích nghi với sự biến động của môi trường, các tổ chức R&D luôn

tự điều chỉnh không những về chức năng, nhiệm vụ mà còn hướng hoạt động gần với thực tiễn Đây là giai đoạn chuyển hướng quan trọng của hệ thống R&D của nước ta từ

cơ chế quản lý tập trung sang kinh tế thị trường, là sự kiện quan trọng tạo ra một hiện thực mới, môi trường mới cho hoạt động của tổ chức R&D Điều này tiếp tục được khẳng định và phát triển ở Quyết định 134/HĐBT và đặc biệt là tại Nghị định 35-HĐBT ngày 28-1-1992 về công tác quản lý khoa học và công nghệ Với Nghị định 35-HĐBT còn cho phép các tổ chức R&D liên doanh liên kết không chỉ trong lĩnh vực R&D với nhau mà còn trong sản xuất - kinh doanh, cả liên doanh với các cơ sở trong nước và với các cơ sở ngoài nước Đây thực sự là một “tuyên ngôn dân chủ trong khoa học” Nó tuyên bố xóa bỏ độc quyền Nhà nước về hoạt động KH&CN, thừa nhận hoạt động

Trang 31

KH&CN trong khu vực xã hội dân sự 6 Tuy nhiên, cấu trúc của hệ thống vẫn còn mang dáng dấp của một thời kỳ bao cấp kéo dài, đó là: Hệ thống độc lập với hệ thống sản xuất và hệ thống giáo dục, đào tạo; các tổ chức KH&CN đều là tổ chức sự nghiệp nhà nước Với mô hình như vậy, cấu trúc của tổ chức thường theo lý thuyết cơ học và vận hành mang tính hành chính và đẳng cấp

+ Giai đoạn 3: Từ năm 2000 đến nay

Số tổ chức tăng lên ở giai đoạn này là 650 tổ chức Đây là giai đoạn chuyển mình quan trọng của cấu trúc lại hệ thống R&D Để những tổ chức này phát huy được sức mạnh của hệ thống thì cần có những thay đổi quan trọng về cấu trúc Cấu trúc lại

hệ thống cần dựa trên nguyên tắc Nhà nước từ bỏ độc quyền về hoạt động KH&CN, Nhà nước chỉ sở hữu những tổ chức cần cho sự phát triển của Quốc gia mà không một thành phần kinh tế nào đảm nhận nổi ( lĩnh vực quân sự, nghiên cứu cơ bản, chính sách, chiến lược, tài nguyên và môi trường ), đồng thời đẩy mạnh các hoạt động KH&CN trong khu vực xã hội dân sự (XHDS) và chuyển đổi cấu trúc của tổ chức từ

mô hình hoạt động theo nguyên lý cơ học sang mô hình hoạt động của lý thuyết hữu cơ phù hợp với cơ chế thị trường định hướng XHCN Với chủ trương này, một số các văn bản của Nhà nước đã ra đời kịp thời, tiếp tục điều chỉnh các mối quan hệ giửa chủ thể

sở hữu và chủ thể sử dụng về các kết quả nghiên cứu khoa học, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa học và công nghệ phát huy tính năng động, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, một số văn bản Nhà nước

đã ban hành như:

+ Nghị định 10-2002/NĐ-CP, ngoài nghĩa vụ đối với Nhà nước, tổ chức NC-PT nhà nước còn được chi các khoản thu nhập cho cán bộ công nhân viên tối đa gấp 2,5 - 3,5 lần lương cơ bản Đây cũng là điều góp phần khuyến khích tổ chức NC-PT nhà nước tự chủ tìm kiếm các khoản thu nhập từ bên ngoài thông qua hợp đồng

+ Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập

6

Vũ Cao Đàm “Quan hệ giữa Nhà nước và xã hội dân sự trong Luật KH&CN” Tạp chí Hoạt động Khoa học 8.2008.

Trang 32

+ Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/4/2006 quy định chế độ

tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập

Riêng quyền tự chủ về nhân sự của các tổ chức khoa học còn được quy định rõ tại các văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức như: Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003; Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp; Nghị định số 121/2006/NĐ-CP ngày 23/10/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán

bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tiếp tục khẳng định tính tự chủ của thủ trưởng đơn vị sự nghiệp trong việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

1.2.2 Khái quát tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP

(1) Tư tưởng chỉ đạo của Nghị định

Trong số các văn bản qui phạm pháp luật của Nhà nước đã ban hành về chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN công lập, Nghị định 115/2005/NĐ-CP được các Bộ, ngành, địa phương đánh giá rất cao về chính sách đổi mới quản lý KH&CN của Nhà nước và coi đó là một bước đi tất yếu và cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN trên cả nước

Nghị định 115/2005/NĐ-CP có 3 tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng 7

Một là, nó trao cho các tổ chức KH&CN nói chung, trong đó có tổ chức R&D quyền tự chủ cao nhất theo cơ chế doanh nghiệp, thậm chí được sản xuất kinh doanh giống như doanh nghiệp Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX) và Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX) đều nhấn mạnh phải nhanh chóng chuyển đổi các tổ chức KH&CN sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, dưới ngôn từ của KH&CN chính là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP

Trang 33

Hai là, Nhà nước đổi mới phương thức cấp kinh phí cho tổ chức KH&CN thông

qua hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (theo nhiệm vụ, không bao cấp theo số lượng biên chế)

Ba là, thông qua cơ chế hoạt động mới, đặc biệt là được phép trực tiếp sản xuất

kinh doanh như doanh nghiệp, các tổ chức KH&CN có điều kiện tăng nguồn đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động, gắn kết tốt nghiên cứu với đào tạo và sản xuất

(2) Nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP

Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với tổ chức KH&CN nhà Nước thể hiện trên những nội dung chủ yếu như sau:

a) Quyền tự chủ của tổ chức KH&CN

a 1. Tự chủ về hoạt động khoa học và công nghệ

- Nhiệm vụ thứ hai, phân theo chức năng hoạt động của tổ chức đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Điều lệ khi thành lập tổ chức mức độ tự chủ của loại nhiệm vụ thứ hai này cao hơn loại nhiệm vụ thứ nhất, nhưng giới hạn về tự chủ ở loại này cũng rất rõ ràng Ngoài giới hạn lĩnh vực, phạm vi xác định đề tài theo chức năng và theo nhiệm vụ định hướng do Nhà nước giao trực tiếp, thông thường các kế hoạch nghiên cứu của đơn vị còn phải được Nhà nước xét duyệt một cách chặt chẽ

- Nhiệm vụ thứ ba, do tổ chức và cá nhân ( bên ngoài) đặt hàng Tổ chức KH&CN chủ động khai thác và ký hợp đồng (liên doanh, liên kết, hợp tác, nghiên cứu khoa học, dịch vụ KH&CN, chuyển giao công nghệ v.v ) với các tổ chức cá nhân và

tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ Lựa chọn những hợp đồng hoàn toàn thuộc quyền tự chủ của đơn vị trên cơ sở vận dụng các qui luật của kinh tế thị trường

8 Điều 5, Nghị định 115/2005/NĐ-CP

Trang 34

Các nhiệm vụ KH&CN thông qua tuyển chọn, đấu thầu cũng thuộc loại nhiệm vụ này nhưng tổ chức KH&CN có quyền tham gia đấu thầu bình đẳng như các tổ chức và cá nhân khác hoặc có quyền từ chối không tham gia

+ Về tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu

Nếu như ở khâu xác định nhiệm vụ nghiên cứu có khác nhau nhất định về mức độ độc lập, tự chủ giữa 3 loại nhiệm vụ thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu lại có

xu hướng chung tôn trọng tính chủ động của tổ chức nghiên cứu và triển khai Các tổ chức R&D tự do xác định phương pháp nghiên cứu, tự do huy động và bố trí các nguồn lực phục

vụ cho nghiên cứu

Tổ chức R&D thường có quyền tự do liên doanh, liên kết với bên ngoài, được thành lập các doanh nghiệp khoa học như Spin - off (Cty con) trên cơ sở các kết quả nghiên cứu

ra Các đơn vị cũng có thể tự thay đổi tổ chức, cơ cấu bên trong nhưng không được có biểu hiện xa rời nhiệm vụ chức năng được giao Sự chi phối của quyền sở hữu Nhà nước có khi được thể hiện trên nguyên tắc nhưng cũng có khi rất cụ thể Vấn đề này sẽ được tham khảo qua kinh nghiệm hoạt động ở một số nước trong phần tiếp theo

+ Vấn đề liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với kết quả nghiên cứu khoa học

Các kết quả nghiên cứu là sản phẩm của việc sử dụng các nguồn lực tự huy động của

tổ chức R&D, nó sẽ thuộc toàn quyền sử dụng của đơn vị Vấn đề là những kết quả nghiên cứu sử dụng kinh phí của Nhà nước thì các tổ chức R&D có quyền tự chủ sử dụng và chuyển giao hay không?

Đây là một chủ đề được thảo luận nhiều ở các nước trên thế giới và trên thực tế cũng tồn tại nhiều cách khác nhau

Ở Trung Quốc, lúc đầu người ta cho rằng quyền sở hữu thành quả nghiên cứu sử dụng kinh phí Nhà nước phải thuộc về cơ quan nghiên cứu, nhưng sau đó đã thống nhất là thành quả nghiên cứu được Nhà nước cấp tiền thì quyền sở hữu là của Nhà nước

Tại Nga, tình hình cũng giống như Trung Quốc Chính sách Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia Liên Bang Nga đã quy định: "Các kết quả nghiên cứu khoa học của Viện hàn lâm Khoa học Nga và các viện hàn lâm Khoa học ngành được thực hiện bằng vốn ngân sách Liên bang đều phải giao nộp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật liên bang Nga

Trang 35

Trong các nước OECD cũng có sự khác nhau về quan niệm ai là chủ sở hữu quyền

sở hữu trí tuệ, ai là người có quyền chuyển giao, ai được thu lợi nhuận, Nhiều nước OECD

đã có chương trình trao quyền sở hữu trí tuệ cho các nhóm nghiên cứu để tăng cường chế độ khuyến khích mua bán, cấp giấy sử dụng cho bên thứ ba Riêng Mỹ, sau khi thông qua Đạo luật Bayh-Dole Act năm 1980, các cơ quan, trường đại học được giao quyền sở hữu các sáng chế tạo ra bằng kinh phí nhà nước trong một thời hạn nhất định, nếu không khai thác được thì sau thời gian đó, trường đại học phải trả lại quyền sở hữu cho Nhà nước

a 2 Tự chủ về tài chính: Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động để thực hiện

nhiệm vụ Nhà nước giao theo phương thức khoán chi quỹ lương, hoạt động bộ máy và kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Ngoài kinh phí nhà nước cấp, các tổ chức này được tự chủ trong việc mở rộng nguồn vốn từ việc sử dụng các nguồn thu khác từ hợp đồng khoa học và công nghệ với các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài,nguồn tài trợ, vốn vay

a 3 Tự chủ về quản lý nhân sự: thực hiện phân cấp và trao quyền tự chủ nhân

sự cho tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước trên cơ sở thực hiện chế độ viên chức và hợp đồng lao động đối với cán bộ khoa học và công nghệ Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực khoa học và công nghệ nhằm phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ; tạo động lực vật chất và tinh thần, thực hiện chế độ thù lao, đãi ngộ theo mức độ cống hiến và các chính sách khuyến khích khác đối với cán bộ khoa học và công nghệ Nội dung này cũng thể hiện thông qua việc tăng quyền tự chủ về quản lý nhân lực của các tổ chức khoa học và công nghệ trong việc bố trí, sắp xếp bộ máy, tuyển dụng và sử dụng cán bộ, viên chức căn cứ vào nhu cầu công việc và năng lực tài chính của đơn vị

Nhân lực hoạt động trong tổ chức R&D là một loại lao động khá đặc thù Làm việc trong các cơ quan của Nhà nước thì dường như họ là những công chức Nhà nước, nhưng nghiên cứu khoa học thì lại cần có sự độc lập, tự chủ, ở nhiều nước, mâu thuẫn này được giải quyết bằng cách coi cán bộ là loại công chức, viên chức đặc biệt, có bổ sung thêm những quy chế riêng

Trang 36

a 4 Tự chủ về quan hệ hợp tác quốc tế: phân cấp mạnh hơn nữa cho các tổ chức

khoa học và công nghệ trong việc cử cán bộ khoa học và công nghệ ra nước ngoài, thuê chuyên gia nước ngoài thực hiện nghiên cứu, đào tạo, tư vấn khoa học và công nghệ và đảm nhiệm chức vụ quản lý trong các tổ chức khoa học và công nghệ thuộc các lĩnh vực do Nhà nước quy định

b) Các quyền hạn của tổ chức KH&CN

Ngoài những vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm như đã đề cập trên, nội dung Nghị định 115/CP còn cho phép người đứng đầu các tổ chức KH&CN sử dụng các quyền hạn như:

b 2 Về biên chế và tuyển dụng viên chức

Thủ trưởng các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền:

+ Quyết định tổng số biên chế hàng năm của đơn vị căn cứ vào nhu cầu cán bộ

và khả năng tài chính của đơn vị

+ Quyết định việc tuyển dụng viên chức theo hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển;

ký hợp đồng làm việc với những người được tuyển dụng

+ Ký hợp đồng làm việc với những người đã được tuyển dụng vào biên chế trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước có hiệu lực thi hành

+ Ký hợp đồng lao động để thực hiện những công việc không cần thiết bố trí biên chế thường xuyên

b 3 Về sử dụng cán bộ, viên chức

Trang 37

Thủ trưởng các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền:

+ Quyết định việc sắp xếp, bố trí sử dụng cán bộ, viên chức phù hợp với năng lực và trình độ chuyên môn của từng người

+ Quyết định việc điều động, biệt phái, nghỉ hưu, thôi việc, chấm dứt hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật

+ Quyết định việc xếp lương đối với cán bộ, viên chức được tuyển dụng vào làm việc tại đơn vị; quyết định việc nâng bậc lương đúng thời hạn, trước thời hạn và vượt bậc trong cùng ngạch; quyết định bổ nhiệm vào ngạch viên chức, chuyển ngạch viên chức từ ngạch nghiên cứu viên chính và tương đương trở xuống

+ Xem xét, bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo đối với cán bộ, viên chức sau khi hết hạn tập sự, được ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, có thời gian làm việc

từ 3 năm trở lên và có đủ các điều kiện theo yêu cầu

+ Quyết định việc khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức thuộc quyền quản lý theo quy định của pháp luật

(3) Lợi ích của việc chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP

a) Về tài chính: Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định thay đổi căn bản phương

thức cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước, thay vì cấp theo biên chế, nay các tổ chức KH&CN sẽ được cấp theo nhiệm vụ do nhà nước giao, đặt hàng (có thể bao gồm cả kinh phí để duy trì bộ máy theo chức năng nhiệm vụ), hoặc thông qua đấu thầu, tuyển chọn

Ngoài ra, Nghị định 115/2005/NĐ-CP cho phép các tổ chức KH&CN khi có sản xuất kinh doanh thì được hoạt động “như doanh nghiệp” hoặc có thể chuyển thành doanh nghiệp thực sự, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như doanh nghiệp, được miễn giảm thuế thu nhập theo qui định như doanh nghiệp

- Mức thu nhập của cán bộ, viên chức không bị giới hạn mức tối đa căn cứ vào hiệu quả công việc, có thể gấp nhiều lần mức lương cơ bản theo quy định của nhà nước, sau khi đó hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước và trích lập các quỹ theo quy định, tiền lương trong hợp đồng làm việc được tính vào chi phí hợp lý trước thuế

b) Về tài sản: Nghị định 115/2005/NĐ-CP cho phép các tổ chức KH&CN được

cấp có thẩm quyền giao tài sản, kể cả quyền sử dụng đất và được quản lý, sử dụng tài

Trang 38

sản cho nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật, tài sản nào sử dụng cho sản xuất kinh doanh thì phải trích khấu hao như tài sản nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước và hạch toán vào giá thành sản phẩm, được giữ lại khấu hao để bổ sung vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị Nếu đơn vị chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN theo Nghị định 80 thì tài sản được coi

là phần vốn nhà nước trong doanh nghiệp, có thể được giao đất, thuê đất và sử dụng tài sản thế chấp, vay vốn, liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật

c) Về quản lý cán bộ viên chức: Nghị định 115/2005/NĐ-CP tăng quyền hạn

cho người đứng đầu các tổ chức KH&CN góp phần cải cách hành chính và phân cấp quản lý một cách triệt để, đồng thời có quy định sự phối hợp, giám sát của các tổ chức chính trị và chính trị xã hội trong đơn vị Đó là:

- Thủ trưởng tổ chức KH&CN được quyền quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, ký hợp đồng làm việc, nâng bậc lương (đúng thời hạn, trước thời hạn và vượt 1 bậc khi có thành tích xuất sắc) trong cùng ngạch và quyết định chuyển ngạch viên chức

từ ngạch nghiên cứu viên chính và tương đương trở xuống

- Chính thức cho phép bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo của tổ chức KH&CN đối với viên chức đã làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc không xác định thời hạn

có thời gian từ 3 năm trở lên

- Cán bộ, viên chức chuyển sang chế độ ký hợp đồng làm việc, không phân biệt người đó trước đây trong biên chế hay ngoài biên chế

(4) Phân loại tổ chức KH&CN công lập

Để thực hiện quá trình chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo NĐ 115/2005/NĐ-CP, trước hết cần phân định rõ loại hình tổ chức KH&CN nào hoạt động

tự chủ, tự chịu trách nhiệm có hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên được ngân sách Nhà nước “bao cấp” (thông qua các nhiệm vụ KH&CN được giao), loại tổ chức nào tự trang trải kinh phí hoạt động?

Phân loại tổ chức KH&CN dựa trên loại hình hoạt động Hoạt động KHCN gồm

03 lĩnh vực:

+ Nghiên cứu khoa học

+ Dịch vụ KH&CN

Trang 39

+ Chuyển giao công nghệ

- Nghiên cứu khoa học (R): được chia thành: Nghiên cứu cơ bản , nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai (R&D)

Như vậy, căn cứ vào phân loại hoạt động của tổ chức KH&CN, có ba lĩnh vực cần phân biệt rõ để áp dụng Nghị định 115/2005/NĐ-CP trong việc xác định tổ chức nào sau khi chuyển đổi vẫn được ngân sách Nhà nước tiếp tục cấp kinh phí hoạt động thường xuyên, tổ chức nào phải tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên Ba tổ chức KH&CN đó là:

Thứ nhất là, tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước, được ngân sách Nhà nước tiếp tục đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên như trước đây, nhưng với mức độ tự chủ cao hơn, được áp dụng theo khoản 3, Điều 4, NĐ 115/2005/NĐ-CP

Thứ hai là, Tổ chức nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ (R&D) được áp dụng theo khoản 1, điều 4, NĐ 115/2005/NĐ-CP Đây là tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoạt động (gọi tắt là tổ chức chuyển đổi), được hiểu là đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên (quỹ lương và chi bộ máy), sau khi chuyển đổi vẫn là một

tổ chức KH&CN hoạt động theo Luật Khoa học và Công nghệ, được Nhà nước tiếp tục

hỗ trợ kinh phí thông qua nhiệm vụ KH&CN được giao và kinh phí đầu tư phát triển tiềm lực KH&CN hàng năm , đồng thời, nếu có hoạt động SXKD, thì được hưởng những quyền lợi khác như doanh nghiệp mới thành lập

Thứ ba là, doanh nghiệp KH&CN là những doanh nghiệp đa sở hữu mới khởi

nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực KH&CN theo Luật Doanh nghiệp, sản xuất kinh

doanh các sản phẩm mới, dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học, bí quyết công nghệ, kết quả ươm tạo công nghệ, sẽ được hưởng chính sách ưu đãi cao của Nhà nước trong giai đoạn hình thành và phát triển, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 115/2005/NĐ-CP

Sơ đồ phân loại được trình bày như sau:

Trang 40

Nguồn: Phạm Huy Tiến, Tạp chí hoạt động khoa học, số 12/2006,tr 28

Việc phân loại như trên vừa để các tổ chức KH&CN tự xác định mình thuộc loại hình nào, có phải chuyển đổi không, vừa là cơ sở để cơ quan quản lý thẩm định và phê duyệt đề án chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP

1.2.3 Kết quả đạt được và những nguyên nhân hạn chế của tổ chức KH&CN nhà nước trong việc thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm

a Kết quả đạt được

Với những kết quả bước đầu đã đạt được trong quá trình chuyển các tổ chức KH&CN nhà nước sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm, có thể rút ra một số đánh giá sau:

Một là, một số quan hệ tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã xuất hiện rất sớm và đến nay

đang từng bước được định hình ổn định Tự chủ trong xác định nhiệm vụ thông qua hợp đồng kinh tế và tự chủ lao động thông qua hoạt động kiêm nhiệm được bắt đầu từ cách đây

20 năm, nhiều quan hệ khác đã được mở đầu từ hơn một chục năm Việc tồn tại trong một quãng thời gian dài đã giúp cho các quan hệ này trở nên gắn bó mật thiết không thể thiếu trong các tổ chức KH&CN của Nhà nước

Hai là, đã có những mối liên hệ ràng buộc giữa một số quan hệ tự chủ, thể hiện sự

thống nhất của các mặt trọng hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN nhà nước Chẳng hạn, hoạt động tự nguyện ký kết hợp đồng đã có ảnh hưởng làm

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Quyết định số 08/2007/QĐ-BKHCN ngày 06/4/2007 về việc ban hành” Qui chế về tiêu chí xác định tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 08/2007/QĐ-BKHCN ngày 06/4/2007 về việc ban hành
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2007
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP (2006 – 2007), TP Hồ Chí Minh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP (2006 – 2007
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2007
8. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học, (Tái bản lần thứ nhất), Nxb Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
10. Bạch Tân Sinh (2003), Kinh nghiệm chuyển đổi tổ chức NC&PT ở Trung Quốc và một số bài học gợi suy cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu chính sách KH&CN, số 6/2003, tr.67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm chuyển đổi tổ chức NC&PT ở Trung Quốc và một số bài học gợi suy cho Việt Nam
Tác giả: Bạch Tân Sinh
Năm: 2003
11. Phạm Huy Tiến (2006), Tổ chức khoa học và công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức khoa học và công nghệ
Tác giả: Phạm Huy Tiến
Năm: 2006
13. Tăng Văn Khiên (2009), Thống kê khoa học và công nghệ, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê khoa học và công nghệ
Tác giả: Tăng Văn Khiên
Năm: 2009
14. Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia (2005), Tổng quan kinh nghiệm nước ngoài về vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và phát triển nhà nước và tại Việt nam, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan kinh nghiệm nước ngoài về vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và phát triển nhà nước và tại Việt nam
Tác giả: Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia
Năm: 2005
15. Viện Chiến lƣợc và Chính sách KH&CN (2003), Công nghệ và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam
Tác giả: Viện Chiến lƣợc và Chính sách KH&CN
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2003
3. Chính Phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Nghị định số 81/2002/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoa học và công nghệ Khác
4. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị định số 115/2005/NĐ-CP, qui định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiện của các tổ chức Khoa học và Công nghệ công lập Khác
5. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006) Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, qui định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiện về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Khác
6. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Nghị định số 80/2007/NĐ-CP, về doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Khác
12. Tài liệu Hội thảo toàn quốc các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN địa phương lần thứ I ( 2008), Đà Nẵng, 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tổng hợp nguồn thu của 52 Trung tâm  sau 5 năm (2003 – 2008) . - Điều kiện chuyển đổi cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 CP của Chính phủ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập hiện nay
Bảng 2.1. Tổng hợp nguồn thu của 52 Trung tâm sau 5 năm (2003 – 2008) (Trang 51)
Bảng 2.2:  Tổng hợp thực trạng nguồn nhân lực. - Điều kiện chuyển đổi cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 CP của Chính phủ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập hiện nay
Bảng 2.2 Tổng hợp thực trạng nguồn nhân lực (Trang 56)
Bảng 2.3: Tổng hợp cơ sở vật chất. - Điều kiện chuyển đổi cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 CP của Chính phủ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập hiện nay
Bảng 2.3 Tổng hợp cơ sở vật chất (Trang 59)
Bảng 2.4: Tổng hợp kinh phí đầu tƣ phát triển tiềm lực KH&CN (2006 – 2008),  khu  vực ĐBSCL - Điều kiện chuyển đổi cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 CP của Chính phủ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập hiện nay
Bảng 2.4 Tổng hợp kinh phí đầu tƣ phát triển tiềm lực KH&CN (2006 – 2008), khu vực ĐBSCL (Trang 61)
Bảng 2. 7: Kinh phí hoạt động thường xuyên  (2005 – 2009) - Điều kiện chuyển đổi cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 CP của Chính phủ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập hiện nay
Bảng 2. 7: Kinh phí hoạt động thường xuyên (2005 – 2009) (Trang 70)
Bảng 2.8. Tổng hợp nguồn thu của các trung tâm (2005 – 009) - Điều kiện chuyển đổi cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 CP của Chính phủ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập hiện nay
Bảng 2.8. Tổng hợp nguồn thu của các trung tâm (2005 – 009) (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w