Chính vì vậy, đòi hỏi phải có quy trình, giải pháp quản lý riêng cho các nhiệm vụ KH&CN ở lĩnh vực này, đáp ứng với yêu cầu của thực tế đặt ra nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm nghiê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HỌC VIỆN QUÂN Y)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Trang 2NGUYỄN THÁI NGỌC
TÊN ĐỀ TÀI
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y - DƯỢC HỌC
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HỌC VIỆN QUÂN Y)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Hà
HÀ NỘI, 2010
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Mẫu khảo sát 5
6 Vấn đề nghiên cứu 5
7 Giả thuyết nghiên cứu 5
8 Phương pháp nghiên cứu 5
9 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Tổng quan hoạt động NCKH ở HVQY 7
1.1.1 Thực hiện nhiệm vụ NCKH 7
1.1.2 Hoạt động NCKH gắn với nhiệm vụ đào tạo 11
1.1.3 Hoạt động NCKH của sinh viên 12
1.1.4 Hoạt động NCKH gắn với điều trị và các nhu cầu xã hội 12
1.1.5 Sáng kiến, sáng chế và cải tiến kỹ thuật 13
1.1.6 Hợp tác trong nghiên cứu khoa học 13
1.1.7 Đánh giá chung 15
1.2 Cơ sở lý luận của công tác quản lý quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH 16
1.2.1 Các khái niệm khoa học, công nghệ và NCKH: 16
1.2.2 Khái niệm về nhiệm vụ NCKH 20
1.2.3 Quy trình xây dựng nhiệm vụ, đề tài NCKH 24
1.2.4 Tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH 28
Trang 41.3 Đặc điểm hoạt động KH&CN trong lĩnh vực y - dược học và quản
lý NCKH 38
1.3.1 Đặc điểm hoạt động KH&CN trong lĩnh vực y - dược học 38
1.3.2 Đặc thù của NCKH trong lĩnh vực y - dược học 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KH&CN TẠI HỌC VIỆN QUÂN Y 42
2.1 Hoạt động KH&CN ở Học viện Quân y giai đoạn 2005 - 2010 42
2.1.1 Tổng kết hoạt động KH&CN tại Học viện Quân y giai đoạn 2005 – 2010 42
2.1.2 Tổng kết nhiệm vụ NCKH cấp Nhà nước do HVQY chủ trì thực hiện từ năm 2005- 2009 45
2.2 Khảo sát thực trạng quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH tại HVQY hiện nay 50
2.2.1 Chọn mẫu và phương pháp khảo sát 50
2.2.2 Kết quả khảo sát 50
2.2.3 Những ưu, nhược điểm của quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH 69
2.2.4 Những tồn tại và nguyên nhân trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện và quản lý nhiệm vụ NCKH 72
2.3 Kết quả điều tra một số đặc trưng của các đối tượng điều tra 76
2.3.1 Cách chọn mẫu và phương pháp điều tra: 76
2.3.2 Nhóm đối tượng và kết quả điều tra 76
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VIỆC XÂY DỰNG, TỔ CHỨC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NCKH LĨNH VỰC Y- DƯỢC HỌC TẠI HỌC VIỆN QUÂN Y 83
3.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả việc xây dựng nhiệm vụ NCKH lĩnh vực y - dược học 83
3.1.1 Các giải pháp chung 83
3.1.2 Các giải pháp cụ thể 85
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm
Trang 5vụ KH&CN lĩnh vực y - dƣợc học 86
3.2.1 Các giải pháp chung 86
3.2.2 Các giải pháp cụ thể 89
3.3 Kiện toàn cơ quan quản lý NCKH các cấp của Học viện 95
3.3.1 Xác định chức năng, nhiệm vụ và biên chế, trang bị 95
3.3.2 Tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN các cấp 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
1 Kết luận 100
2 Khuyến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
KH&CN Khoa học và công nghệ
KH,CN&MT Khoa học, công nghệ và môi trường KHXHNV
Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 7Bảng 2.1: Số lượng, cấp quản lý, tiến độ thực hiện và hiệu quả thực tiễn của các đề tài NCKH tại Học viện Quân y từ năm 2005 - 2009……… 43 Bảng 2.2: Số lượng, cấp quản lý, tiến độ thực hiện các dự án ở Học viện Quân y từ 2005 - 2009 [14]……… 44 Bảng 2.3: Loại nhiệm vụ NCKH giai đoạn 2001 -2009……… 48 Bảng 2.4: Cơ cấu đối tượng điều tra……… 74 Bảng 2.5 Kết quả điều tra trình độ học vấn, chức vụ, chức danh của đối tượng điều tra……… 75 Bảng 2.6: Trình độ ngoại ngữ của đối tượng điều tra……… 76 Bảng 2.7: Tổng hợp ý kiến về những khó khăn khi NCKH… 76 Bảng 2.8: Tổng hợp ý kiến về các giải pháp giải quyết khó khăn trong NCKH……… 77 Bảng 2.9: Tổng hợp ý kiến về giá trị các tiêu chí đánh giá chất lượng kết quả các đề tài NCKH……… 78
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang 8Hình 2.1 Sơ đồ quy trình tổ chức xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN………51 Hình 2.2 Sơ đồ quy trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KH&CN thực hiện theo phương thức giao nhiệm vụ……… 54 Hình 2.3 Sơ đồ quy trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KH&CN thực hiện theo phương thức tuyển chọn……… 57
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Đất nước ta đang trong quá trình phát triển tiến tới hội nhập với nền kinh tế tri thức toàn cầu, phát triển giáo dục đại học và sau đại học là một trong những chiến lược then chốt có tính quyết định đối với sự thành công của hành trình vươn tới nền kinh tế tri thức hội nhập Nghị quyết 26/NQ - TW của
Bộ Chính trị cũng đã khẳng định: “Các trường đại học vừa là cơ sở đào tạo,
vừa là cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ”[15]
Như vậy, các trường đại học phải thực hiện hai nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH) Thông qua hoạt động khoa học và nghiên cứu khoa học, đội ngũ cán bộ, giảng viên có điều kiện tự học, tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức để khẳng định năng lực quản lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề của mình trong thực tiễn công tác
Hoạt động KH&CN gồm nhiều lĩnh vực như: NCKH, sáng kiến cải tiến
kỹ thuật, sở hữu công nghiệp, thông tin khoa học công nghệ, chuyển giao công nghệ , trong đó NCKH là hoạt động trọng tâm bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai Đặc biệt trong ngành y tế nói chung
và ngành Quân y nói riêng thì các đề tài nghiên cứu được tiến hành ở các lĩnh vực như y học cơ sở, y học quân sự, y học lâm sàng, dược bào chế, nghiên cứu y sinh học Việc triển khai các đề tài, nhiệm vụ ở lĩnh vực này thường được tiến hành trên đối tượng là con người, nhằm phục vụ cho công tác phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị thương, bị bệnh trong lao động sản xuất, sinh hoạt cũng như trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, với mục đích bảo đảm sức khỏe bộ đội và nhân dân
Ngày nay khoa học và công nghệ (KH&CN) đã trở thành lực lượng sản xuất quan trọng hàng đầu của nhân loại Điều đó đã được Đảng ta cụ thể hoá trong Nghị quyết 02/NQ - TW Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII:
“Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “ đào tạo cùng với
khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển
xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển ”[15]
Trang 10Cũng tại Nghị quyết 02/NQ - TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
đã khẳng định: “ cùng với giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách
hàng đầu ” “công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải dựa vào khoa học công nghệ và bằng khoa học công nghệ” [15] Nghị quyết đã khẳng định
KH&CN là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của quốc gia trên trường Quốc tế, là một trong những điều kiện cần thiết để góp phần giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và là khâu đột phá
để đất nước vươn lên trở thành một quốc gia giàu mạnh và văn minh
HVQY là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu và điều trị lớn của Quân đội cũng như của cả nước Hàng năm Học viện đào tạo nhiều cán bộ quân, dân y từ bậc trung học, đại học, sau đại học Ngoài các bộ môn khoa học cơ bản, khoa học xã hội, y học cơ sở, y học quân sự và các cơ quan chức năng, Học viện còn
có hai bệnh viện lớn (Bệnh viện 103 và viện Bỏng Quốc gia) vừa làm nhiệm vụ thu dung điều trị vừa là bệnh viện thực hành lâm sàng cho các đối tượng học viên, rất nhiều các trung tâm đào tạo và nghiên cứu như: Trung tâm Nghiên cứu
Y – Sinh – Dược học Quân sự; Trung tâm Đào tạo – Nghiên cứu Công nghệ Phôi; Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Sản xuất thuốc; Trung tâm Đào tạo Nghiên cứu Dược; Trung tâm Đào tạo – Nghiên cứu Độc học Quân sự
Xuất phát từ đặc điểm nhiệm vụ của Học viện, NCKH được Học viện xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được xem là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển của Học viện, nhất là đáp ứng các tiêu chí xây dựng Học viện trở thành trường đại học trọng điểm quốc gia và chiến lược phát triển Học viện NCKH cũng là một nội dung quan trọng nhằm phát huy nhiệt tình và trí tuệ trong đào tạo, điều trị cứu chữa bệnh nhân NCKH là hình thức
để phát hiện và bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế tiếp
Có nhiều loại nhiệm vụ KH&CN với các cấp khác nhau: cấp cơ sở, cấp
Bộ, Ngành và cấp Nhà nước HVQY là đơn vị nằm trong khối các Học viện Nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN mà BQP giao cho Học viện còn thực hiện rất nhiều các nhiệm vụ đặc biệt các nhiệm
vụ KH&CN cấp Nhà nước (bao gồm các đề tài và dự án) với phạm vi nghiên
Trang 11cứu rộng lớn, trực tiếp hoặc góp phần giải quyết vấn đề cấp thiết của kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng mà khả năng của một ngành, một tỉnh, thành phố không tự giải quyết được Chính vì vậy, đòi hỏi phải có quy trình, giải pháp quản
lý riêng cho các nhiệm vụ KH&CN ở lĩnh vực này, đáp ứng với yêu cầu của thực tế đặt ra nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm nghiên cứu, phát triển một bước công tác quản lý KH&CN ở lĩnh vực y - dược học trong tình hình mới
Trong những năm qua hoạt động KH&CN ở HVQY đã có những bước phát triển tốt cả về số lượng và chất lượng Giai đoạn 2001-2009, Học viện đã và đang thực hiện rất nhiều các nhiệm vụ NCKH khác nhau như nhiệm vụ cấp Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Khoa học Công nghệ và các Bộ, Ngành có liên quan Các công trình nghiên cứu được đánh giá cao, có ý nghĩa ứng dụng thực tiễn, rất nhiều các công trình được nhận giải thưởng cấp Ngành, cấp Bộ và Nhà nước Rất nhiều sản phẩm từ nghiên cứu khoa học được ứng dụng phục vụ trong đào tạo, điều trị và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH và điều trị
Tuy nhiên nếu nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, hoạt động KH&CN ở Học viện vẫn còn một số vấn đề cần được khắc phục Chất lượng một số đề tài nghiên cứu khoa học chưa cao, hàm lượng khoa học, trí tuệ của các đề tài khoa học đã được khẳng định, nhưng giá trị ứng dụng thực tế còn hạn chế Quá trình quản lý đã bộc lộ những khó khăn, hạn chế, bất cập, dẫn đến chất lượng công tác quản lý chưa thật sự sâu sát, chưa thật sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và sự phát triển của trình độ phát triển khoa học và công nghệ của Học viện Đặc biệt trong quản lý KH&CN còn gặp nhiều khó khăn, do hành lang pháp lý là các văn bản hướng dẫn của các Bộ, Ngành chưa thống nhất, việc đổi mới cơ chế quản lý còn chậm, tổ chức biên chế của cơ quan quản lý
và cán bộ làm công tác quản lý KH&CN chưa đáp ứng kịp với yêu cầu nhiệm
vụ Để giải quyết những hạn chế, bất cập trên chưa có tác giả nào nghiên cứu
đề cập đến vấn đề này Việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý nghiên cứu khoa học lĩnh vực y - dược học hy vọng sẽ khắc phục được
Trang 12phần nào hạn chế trong công tác quản lý các đề tài, nhiệm vụ NCKH tại HVQY
Chính vì những lý do đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đề xuất các giải
pháp trong quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học Y
- Dược học, làm luận văn tốt nghiệp cao học ngành Quản lý khoa học và công nghệ Mong muốn của tôi là áp dụng kết quả nghiên cứu này vào thực tế công tác quản lý nghiên cứu khoa học của Học viện đạt được hiệu quả hơn nữa
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng qui trình công tác quản lý KH&CN và chất lượng sản phẩm các công trình NCKH vào trong công tác đào tạo và điều trị cũng như chăm sóc sức khoẻ bộ đội và nhân dân trong lĩnh vực y - dược học của HVQY, nhằm đề xuất một số các giải pháp hữu dụng nhằm từng bước nâng cao hiệu quả công tác quản lý NCKH vào trong hoạt động thực tiễn của Học viện Vấn đề này cũng đã được một số tác giả nghiên cứu nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ một lĩnh vực nhỏ chưa toàn diện Qua khảo sát các công trình NCKH thuộc lĩnh vực y - dược học, tác giả chỉ tìm thấy một vài công trình hay bài báo khoa học tưởng như có liên quan đến đề
tài này như đề tài “Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học
công nghệ tuổi trẻ Học viện Quân y trong lĩnh vực y - sinh học”, tác giả là ThS
Nguyễn Văn Dự, thực hiện năm 1999; nội dung chủ yếu nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên và các bác sĩ trẻ mới ra trường, các sản phẩm là các sáng kiến, sáng chế mang tính mới áp dụng vào ngành Y – sinh học Tác giả đề xuất tới việc nâng cao hiều quả hoạt động nghiên cứu
khoa học tuổi trẻ HVQY; hoặc như đề tài “Phát triển nguồn nhân lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” của PGS.TS Nguyễn Văn
Tài thực hiện năm 2002 với nội dung nghiên cứu về phương hướng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
3 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng căn cứ lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải pháp trong quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học Y - Dược học
Trang 13tại Học viện Quân y
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý, xây dựng, tổ chức
và thực hiện NCKH tại HVQY trong giai đoạn từ năm 2001 – 2009
5 Mẫu khảo sát
Nghiên cứu trên các trường hợp là các CNBM – CNK, giảng viên, các bác sĩ, dược sĩ, CBQL đang công tác, giảng dạy tại Học viện Quân y, Bệnh viện Quân y 103 và Viện Bỏng Quốc Gia
6 Vấn đề nghiên cứu
Làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác quản lý NCKH ở Học viện Quân y trong lĩnh vực Y - Dược học?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý NCKH trong lĩnh vực Y - Dược học tại Học viện Quân y, nghiên cứu kiểm chứng các giả thuyết sau:
- Nâng cao quản lý việc xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thật
sự thiết thực, đúng hướng, hiệu quả
- Nâng cao công tác quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH theo đúng qui định của BQP và của Nhà nước
- Kiện toàn lại cơ quan quản lý NCKH các cấp trong Học viện
8 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài bằng các phương pháp sau
a Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp tài liệu để thu thập thông tin
b Phương pháp phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi đối với các đối tượng
là CNBM – CNK, giảng viên, các bác sĩ, dược sĩ, CBQL
c Phương pháp tiếp cận thống kê
d Phương pháp lập luận, so sánh, tư duy logic
9 Kết cấu của luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm: phần mở đầu; chương 1, 2 và 3; phần kết
Trang 14luận khuyến nghị; tài liệu tham khảo; phụ lục
Nội dung chính của luận văn:
Chương 1: Nghiên cứu tổng quan về hoạt động nghiên cứu khoa học tại HVQY, làm rõ những khái niệm liên quan đến luận văn và những đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y dược học và công tác quản lý nghiên cứu khoa học
Chương 2: Chủ yếu nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng thực trạng qui
trình công tác quản lý nghiên cứu khoa học lĩnh vực y - dược học tại HVQY
Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý
nghiên cứu khoa học lĩnh vực y - dược học tại HVQY
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan hoạt động NCKH ở HVQY
1.1.1 Thực hiện nhiệm vụ NCKH
HVQY là một trung tâm đào tạo, NCKH và điều trị lớn của quân đội NCKH được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thời gian qua, hoạt động NCKH của Học viện đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã định hướng chiến lược phát triển khoa học công nghệ trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước Căn cứ định hướng công tác khoa học, công nghệ và Môi trường (KH,CN&MT) quân sự của Đảng ủy quân sự Trung ương Xuất phát từ những yêu cầu nhiệm vụ BQP giao cho, của chính HVQY và tiềm lực về KH&CN Học viện, những năm qua HVQY luôn chủ động xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các kế hoạch hoạt động NCKH theo từng giai đoạn và từng năm cụ thể của đơn vị
Kế thừa và phát huy những thành tựu NCKH trên các lĩnh vực HVQY định hướng nghiên cứu trên nền tảng có sẵn đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu mũi nhọn vừa phục vụ an ninh quốc phòng vừa phục vụ dân sinh; vừa phục vụ cho công tác đào tạo nhân lực và hỗ trợ chẩn đoán, điều trị người bệnh ngày hiệu quả hơn
NCKH ở HVQY được thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó tiêu biểu là các mũi nhọn:
* Y học quân sự:
- Nghiên cứu sản xuất thành công các loại thuốc và phương tiện làm các
nhiệm vụ Quốc phòng Sản phẩm được Hội đồng khoa học quân sự BQP đánh giá xuất sắc và đó được đưa vào trang bị cho các đơn vị bộ đội
- Nghiên cứu phục vụ công tác bảo đảm quân y: đã triển khai nghiên cứu công tác bảo đảm quân y cho sư đoàn bộ binh chiến đấu tiến công và phòng ngự khu vực đô thị, nghiên cứu phát triển công tác bảo đảm quân y cho bộ đội ở các quân binh chủng
Trang 16- Nghiên cứu tổ chức cứu chữa vận chuyển thương binh cho lực lượng vũ trang bảo vệ cơ quan Trung ương trong tình huống thực hiện nhiệm vụ đặc biệt, nghiên cứu tổ chức cứu chữa người bị thương, bị nạn trong thảm họa bão lụt, hỏa hoạn, động đất, giao thông
- Trong lĩnh vực nghiên cứu độc học: đã xây dựng Trung tâm độc học với thiết bị phát hiện, phân tích độc chất nhanh, chính xác Đã nghiên cứu các biện pháp kết hợp quân - dân y để kiểm soát, dự báo giải quyết các vụ nhiễm độc hàng loạt trong thời bình và thời chiến
- Xây dựng chuyên ngành Y học thảm họa và bỏng, Viện Bỏng Quốc gia
đã nghiên cứu điều trị nhiều vụ thảm họa cháy nổ nghiêm trọng
* Khoa học và kỹ thuật ghép tạng:
- Ghép thận: Năm 1992 ca ghép thận trên người lần đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện thành công tại HVQY Đến nay, toàn quốc đã có hàng trăm bệnh nhân được cứu sống nhờ kỹ thuật ghép thận Sau thành công trong việc ghép thận, từ 1997 - 2003, HVQY được Bộ Y tế giao là đơn vị chủ trì dự
án ghép tạng Cụm công trình ghép tạng của HVQY đã được Nhà nước tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ năm 2005
- Ghép gan: Năm 2004, HVQY đã nghiên cứu ghép gan thành công trên người, từ đó chuyển giao kỹ thuật cho các cơ sở y tế khác Đề tài: “Nghiên cứu một số vấn đề về ghép gan đó thực hiện ghép gan trên người tại Việt Nam” Mã số: KC.10.14/01-05 là đề tài thuộc cụm công trình ghép tạng của Nhà nước được thực hiện tại HVQY Sù thành công ca ghép gan đầu tiên trên người ở Việt Nam (vào ngày 31.1.2004), mở ra bước phát triển mới trong sự nghiệp ghép tạng nước nhà Kết quả nghiên cứu của đề tài đã mang lại ý nghĩa về khoa học và về kinh tế
xã hội lớn cho nền y học Việt Nam
- Ghép tim: Phát huy thành quả về ghép thận, ghép gan đã đạt được, HVQY đã tiến hành nghiên cứu ghép tim thực nghiệm trên động vật và kết quả
là đã thực hiện thành công ca ghép tim đầu tiên trên người vào ngày 17 tháng 6 năm 2010 Đây là dấu mốc lịch sử về thành tích ghép tạng của HVQY
Rất nhiều những kết quả nghiên cứu và ứng dụng trong thực tế, thiết thực
Trang 17phục vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, Học viện đã đóng góp rất lớn vào thành tích chung về NCKH của ngành Y tế của nước nhà
* Công nghệ sinh học:
HVQY đã được đầu tư xây dựng Trung tâm nghiên cứu ứng dụng sinh - y - dược học Trung tâm được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại, có thể đáp ứng việc triển khai các hướng công nghệ tiên tiến của thế giới về gen, protein, enzym, vi sinh vật và phân tích, đặc biệt là nghiên cứu tế bào gốc
HVQY xác định phát triển Y sinh học là mục tiêu quan trọng trong phục
vụ quốc phòng, an ninh và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
- Nghiên cứu thành công quy trình nuôi cấy nguyên bào sợi, quy trình nuôi cấy tế bào sừng để điều trị vết thương vết bỏng;
- Bước đầu nghiên cứu nuôi cấy, biệt hóa tế bào gốc sinh tinh phục vụ điều trị
vô sinh nam giới do không có tinh trùng Hiện nay đã nuôi cấy thành công tinh
tử thành tinh trùng; đây là một trong 10 sự kiện KH&CN năm 2008;
- Phối hợp với Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Công ty MEKOPHA nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc tạo máu tự thân để điều trị các tổn thương cơ, xương, khớp khó liền, phân lập tế bào gốc từ màng dây rốn;
- Hiện nay, HVQY đang hoàn thiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ xây dựng Ngân hàng tế bào gốc;
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ phôi: đã nghiên cứu ứng dụng quy trình
kỹ thuật và thực hiện thành công thụ tinh trong ống nghiệm, phát triển kỹ thuật lọc, rửa và bảo quản tinh trùng HVQY là cơ sở thứ 3 trên toàn quốc thực hiện thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Đến nay, đã cho ra đời gần một nghìn cháu bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và hỗ trợ sinh sản, mang lại hạnh phúc cho nhiều gia đình;
- Bước đầu thành công trong nghiên cứu quy trình sản xuất một số chế phẩm sinh học phục vụ chẩn đoán và điều trị Điển hình là ứng dụng kỹ thuật PCR phục vụ nghiên cứu chẩn đoán bệnh, nghiên cứu chế tạo vacxin phòng chống nhiễm khuẩn đường hô hấp, huyết thanh kháng trực khuẩn mủ xanh, huyết thanh kháng nọc rắn
Trang 18- Nghiên cứu dược chất và bào chế, dự án: “Hoàn thiện quy trình kỹ thuật tách chiết, tinh chế Rotundin từ củ bình vôi, để điều chế Rotundin Sulphat và pha chế thuốc tiêm Rotundin Sulphat quy mô Pilot”- Mã số: KC.10.DA.04/01-
05, với sản phẩm là tách chiết được thuốc Rotudin sulphat từ củ bình vôi làm
thuốc tiêm và được lưu hành trên toàn quốc, thay thế cho thuốc tân dược có tác dụng an thần gây nghiện Sản phẩm này đã được Cục sở h÷u trí tuệ cấp bằng độc quyền sáng chế năm 2001, giải thưởng VIFOTEC năm 2002
- Tập trung nghiên cứu các kỹ thuật gen, ADN để chẩn đoán dị tật trước sinh, nhận dạng cá thể xác định huyết thống và giám định pháp y;
- Nghiên cứu xây dựng cơ sở nguồn gen và nguồn chủng các mầm bệnh phục vụ kiểm soát các tác nhân sinh học Tiến tới xây dựng thành Ngân hàng các nguồn chủng, nguồn gen
- Ứng dụng thành công công nghệ tế bào gốc thực vật, nuôi cấy sinh khối tế bào sâm Ngọc Linh, tạo nguồn nguyên liệu sản xuất một số chế phẩm phục vụ đời sống, công trình này đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền sáng chế năm 2009 Đây là công nghệ tiên tiến được thực hiện thành công đầu tiên ở Việt Nam Bước đầu nuôi cấy sinh khối tế bào gốc cây thông đỏ Việt Nam, Sâm
Vũ diệp
- Nghiên cứu sản xuất một số thực phẩm chức năng viên nang mềm MULTINAX và nước tăng lực VINATONIC để tăng lực, tăng sức dẻo dai và chống mệt mỏi
- Nghiên cứu sản xuất viên nang mềm NATANAX tăng cường giải độc, chống gốc tự do chống Stress, điều biến miễn dịch, bảo vệ các đối tượng làm việc trong môi trường độc hại
- Nghiên cứu Sản xuất một số thuốc giảm đau nhanh FASTAPAIN và kem giảm đau tác dụng kéo dài ATAPAIN điều trị chấn thương trong sinh hoạt và tập luyện
* Kế thừa và phát triển y học cổ truyền:
- Đã nghiên cứu áp dụng quy trình châm tê phẫu thuật vào mổ cho gần 10.000 trường hợp an toàn Các trường hợp được mổ bằng châm tê được hồi
Trang 19phục nhanh và không gây biến chứng phụ do thuốc mê
- Nghiên cứu bào chế nhiều chế phẩm từ dược liệu trong nước như B76, Maduxin, Phylamin, CM8… Nhiều sản phẩm đã được lưu hành rộng rãi trên thị trường Trong đó sản phẩm Phylamin, Rotundin sulphat đã được cấp bằng độc quyền sáng chế, được nhận giải nhất Giải thưởng sáng tạo kỹ thuật VIFOTEC
Ngoài những nhiệm vụ trọng tâm trong NCKH được Nhà nước và Bộ Quốc phòng giao cho, HVQY còn thực hiện rất nhiều các đề tài cấp Bộ Quốc phòng và các Bộ ngành liên quan
1.1.2 Hoạt động NCKH gắn với nhiệm vụ đào tạo
Hoạt động NCKH của Học viện luôn hướng tới những vấn đề mới của ngành y tế nhằm góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, học viên sau đại học Hoạt động NCKH đã gắn chặt với nhiệm vụ đào tạo, trong
đó có đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ và Bác sĩ nội trú, Bác sĩ chuyên khoa 2 Học viện luôn xác định các luận án, luận văn của học viên sau đại học là một sản phẩm nghiên cứu của đề tài, dự án
Nhiều đề tài tập trung nghiên cứu đổi mới hoạt động đào tạo, các hình thức, biện pháp để tích cực hóa hoạt động giảng dạy, tự đào tạo, các hình thức sử dụng phương tiện dạy học, đổi mới phương pháp giảng dạy đại học… Học viện đã nghiên cứu xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm để phục vụ công tác thi và kiểm tra Năm 2008, tại triển lãm ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ huấn luyện
và đào tạo, phần mềm được BQP đánh giá cao và có thể áp dụng trong các nhà trường quân đội
Nhiều sản phẩm KH&CN của Học viện được ứng dụng vào công tác đào tạo như bộ đĩa CD một số thủ thuật ngoại khoa lâm sàng, công nghệ mô phỏng trong giảng dạy ở các bộ môn hình thái, phần mềm sách điện tử giải phẫu hệ tuần hoàn, sách điện tử giải phẫu vùng đầu - mặt - cổ; công nghệ truyền hình trong giảng dạy và học y học, các giải pháp kết hợp giáo dục y đức thông qua dạy học các môn y học chuyên ngành
Hàng năm, cán bộ, giảng viên trong Học viện có hàng trăm bài báo, công
Trang 20trình nghiên cứu khoa học đăng tải trong các Tạp chí chuyên ngành ở trong nước và quốc tế
1.1.3 Hoạt động NCKH của sinh viên
Trong 10 năm trở lại đây, Học viện đã có trên 400 đề tài NCKH của cán bộ trẻ và sinh viên Kết quả 05 lần tham gia Hội nghị khoa học tuổi trẻ ngành Y - Dược toàn quốc đã có 32 đề tài đoạt giải
Năm 2002, có 02 đề tài đạt giải nhất Giải thưởng VIFOTEC, 01 giải thưởng của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) của Liên Hợp quốc, đây là giải thưởng duy nhất trao cho sinh viên các Trường Đại học trong toàn quốc năm
2002 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới Nhiều năm liền, Học viện có sinh viên đoạt giải nhất giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học và VIFOTEC
1.1.4 Hoạt động NCKH gắn với điều trị và các nhu cầu xã hội
* NCKH gắn với điều trị:
Các công trình NCKH của Học viện luôn gắn với công tác chẩn đoán và điều trị Đó là các công trình nghiên cứu châm tê trong phẫu thuật; ứng dụng nội soi trong chẩn đoán và điều trị; can thiệp mạch; điều trị ung thư và các bệnh hiểm nghèo; phục hồi chức năng cho thương bệnh binh Các công trình này đã góp phần phát hiện và cứu sống nhiều người bệnh
* NCKH phục vụ đấu tranh ngoại giao:
HVQY được Thủ tướng Chính phủ, BQP, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế giao nhiệm vụ thu thập các bằng chứng có giá trị khoa học và pháp lý về hậu quả của chất độc da cam/dioxin đến sức khỏe con người để tham gia đấu tranh ngoại giao Trong hai năm 2002 - 2004, HVQY đã thu thập được trên 60% số hồ sơ trong tổng số hồ sơ của toàn quốc để phục vụ cho đấu tranh ngoại giao
* Nghiên cứu khoa học gắn với nhu cầu xã hội:
Mặc dù với kinh phí của sự nghiệp khoa học không lớn, nhưng Học viện luôn xác định nghiên cứu phải gắn với thực tế huấn luyện, chiến đấu của đơn vị
và nhu cầu xã hội
Nhiều chương trình, dự án của Học viện đã góp phần bảo vệ và nâng cao
Trang 21sức khỏe cho bộ đội như chương trình phát triển y học quân binh chủng, nghiên cứu các biện pháp nâng cao khả năng thích nghi cho bộ đội ở các môi trường lao động khác nhau, nghiên cứu dự phòng các bệnh nghề nghiệp…
Các sản phẩm KH&CN của Học viện như các loại dược phẩm, trung bì da lợn, xương đồng loại… cũng được nhiều cơ sở y tế trong cả nước ứng dụng
1.1.5 Sáng kiến, sáng chế và cải tiến kỹ thuật
Hàng năm, Học viện đều tổ chức các hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật đến từng bộ môn, khoa để phát huy khả năng sáng tạo của đội ngũ cán
bộ chuyên môn
Trong 10 năm gần đây, số lượng và chất lượng các sáng kiến, sáng chế, cải tiến kỹ thuật của Học viện được công nhận ở cấp BQP, Bộ Y tế ngày càng tăng
và được đánh giá cao về mặt hữu ích Từ năm 2001 đến năm 2008, Học viện có
29 sáng kiến được công nhận ở cấp BQP; tham gia nhiều Hội thi kỹ thuật tuổi trẻ của các trường Đại học Y - Dược và đạt được nhiều thành tích Năm 2007, Học viện được 01 giải thí sinh trẻ nhất; 02 giải nhất; 03 giải nhì; 01 giải ba và 03 giải khuyến khích; tập thể đạt giải đơn vị có phong trào xuất sắc; giải nhì đồng đội Học viện đã có 03 bằng độc quyền sáng chế về sản xuất thuốc Phylamin, thuốc Rotundin sulfat và quy trình kỹ thuật sinh khối tế bào rễ sâm Ngọc Linh Hiện nay, đang tiếp tục xây dựng 03 hồ sơ xin cấp bằng độc quyền sáng chế cho
03 sản phẩm thuộc lĩnh vực nghiên cứu dược, bào chế thuốc và ứng dụng kỹ thuật y học vào điều trị
1.1.6 Hợp tác trong nghiên cứu khoa học
* Hợp tác trên lĩnh vực ghép tạng
- Từ năm 1990 đề tài độc lập cấp Nhà nước về nghiên cứu ghép thận đã được Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) giao cho Học viện chủ trì Với sự hợp tác rất hiệu quả của các chuyên gia Cuba ở giai đoạn đầu và đến sự hợp tác giúp đỡ của chuyên gia Đài Loan, đề tài nghiên cứu về ghép thận bước đầu đã thực hiện thành công mà sản phẩm chính
là ca ghép thận thành công trên người lần đầu tiên tại Việt Nam năm 1992 Trên
cơ sở ghép thận thành công, Học viện tiếp tục chủ trì 2 đề tài cấp Nhà nước về
Trang 22ghép tạng (1996 - 2000), về ghép gan (2001 - 2004) và chủ trì Dự án ghép tạng của Bộ Y tế từ năm 1997 đến tháng 4 năm 2003 HVQY đã hợp tác với 07 bệnh viện lớn trên cả 3 miền, triển khai chuyển giao kỹ thuật ghép thận trên người Đến nay kỹ thuật ghép thận đã được các trung tâm lớn hoàn thiện ở trình độ cao hơn và đã cứu sống được gần 300 bệnh nhân bằng kỹ thuật này
- Năm 2003 với sự hợp tác của các chuyên gia Bỉ, đặc biệt là sự hợp tác trường đại học Tổng hợp Tokyo Nhật Bản về đào tạo các kíp phẫu thuật, gây mê hồi sức và cử các chuyên gia đầu ngành trực tiếp chuyển giao kỹ thuật, thực hiện thành công ca ghép gan đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 31/1/2004 Cụm công trình ghép tạng của HVQY đã được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN năm 2005 và là công trình duy nhất của ngành y - dược được nhận giải thưởng này Hiện nay Học viện tiếp tục hợp tác với các trung tâm lớn trong toàn quốc nghiên cứu đề tài: NC một số vấn đề ghép tim thực nghiệm trên động vật để tiến tới ghép tim trên người tại Việt Nam
* Hợp tác trên lĩnh vực về công nghệ sinh học
Học viện xác định đây là hướng nghiên cứu mũi nhọn, có thể đi tắt đón đầu về công nghệ Để có kết quả cao trong nghiên cứu Học viện đã củng cố và phát triển hợp tác với các Bộ, ngành; các trung tâm nghiên cứu lớn trong cả nước, gửi cán bộ đi học tập tại Viện Khoa học Việt Nam; Viện vệ sinh dịch tễ
TƯ, Viện Dược liệu…Phối hợp nghiên cứu với các bệnh viện lớn trong và ngoài Quân đội trên lĩnh vực nghiên cứu về công nghệ sinh học, công nghệ gen, nghiên cứu về tế bào gốc Ngoài ra Học viện đã hợp tác với các ngành, các địa phương như Hà Tây (cũ), Hòa Bình, Hà Giang, Đà Nẵng triển khai các hợp đồng nghiên cứu phục vụ cho các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ
Đối với Quốc tế, HVQY hợp tác nghiên cứu với các trường đại học các nước có trình độ KH&CN cao, hợp tác về công nghệ sinh học, công nghệ gen, hiện nay Học viện có những đề tài đang được triển khai theo nghị định thư giữa Học viện với các trường đại học nổi tiếng của các nước như: Hàn Quốc, Nhật Bản, CHLB Đức và Nga
* Hợp tác nghiên cứu, chế tạo vật liệu sinh học trong điều trị
Trang 23- Hợp tác với Nga, Singapore nghiên cứu áp dụng công nghệ nuôi cấy nguyên bào sợi trong điều trị vết thương bỏng và nghiên cứu các vật liệu sinh học điều trị vết thương bỏng và vết thương mãn tính Ngoài ra Học viện hợp tác với Nhật Bản, Nga phát triển kỹ thuật vi phẫu trong tạo hình bỏng;
- Hợp tác với các doanh nghiệp trong việc thực hiện các đề tài, dự án phục
vụ nhu cầu xã hội: Thử nghiệm vacxin H5N1, vacxin sởi với Công ty vacxin sinh phẩm số 1;
- Đánh giá tác dụng các chế phẩm của doanh nghiệp nước giải khát Tân Hòa Phát (trà Dr Thanh), Công ty nước khoáng Tiền Hải
* Hội nghị quốc tế hàng năm
Hàng năm HVQY đã đăng cai tổ chức hoặc phối hợp tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị quốc tế có quy mô và kết quả tốt Nhiều Hội nghị quốc tế như Hội nghị Miễn dịch đã trở thành thường niên, Hội nghị về Bỏng, Hội nghị về ngoại khoa, Hội nghị Vi - Ký - Nhiễm…các Hội nghị được đề cập các nội dung nghiên cứu được cả 2 bên quan tâm, đây thực sự là một diễn đàn của các nhà khoa học
có được điều kiện gặp gỡ, trao đổi, học tập và cập nhật những thông tin khoa học, công nghệ, kỹ thuật hiện đại của các nước trong khu vực cũng như của thế giới Qua đây giúp các nhà khoa học của Học viện cũng như các nhà khoa học đến tham dự hội nghị có cơ hội nâng cao khả năng hội nhập về NCKH đồng thời học hỏi được kinh nghiệm, trình độ tổ chức các diễn đàn trao đổi ý kiến với các nhà khoa học trong nước và quốc tế
từ ngân sách Nhà nước, ngân sách cơ sở, hợp tác quốc tế, nguồn vốn huy động
từ các tổ chức, đối tác doanh nghiệp đã được chú ý nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của Học viện;
Trang 24- Đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện tiếp tục giữ vững vị thế là những cán bộ đầu ngành, nhiều đề tài được đánh giá cao về ý nghĩa khoa học
và thực tiễn;
- Hoạt động NCKH của Học viện luôn đứng vị trí cao trong thị trường khoa học của ngành y tế về cả quy mô, chất lượng hiệu quả và tiềm lực con người;
- Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng sinh - y - dược học được đầu tư ngang tầm với các phòng thí nghiệm trong khu vực, nhiều labo đang được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế Việc đầu tư xây dựng HVQY thành trường đại học trọng điểm quốc gia, đạt tiêu chuẩn quốc tế là điều kiện thuận lợi để Học viện tiếp tục phát huy những thành tựu khoa học đã đạt được
1.2 Cơ sở lý luận của công tác quản lý quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH
Quản lý NCKH là hoạt động quản lý đầy khó khăn và phức tạp; bao gồm các khâu: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch Trong khuôn khổ của luận văn không đề cập hết được các khâu của quản lý NCKH, mà tập trung nghiên cứu những khái niệm cơ bản liên quan đến nội dung luận văn và nghiên cứu công tác quản lý quy trình xây nhiệm vụ và
tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH Đây là nội dung chủ yếu trong quản lý KH&CN, nó có vai trò trực tiếp quyết định đến sự phát triển KH&CN và hoạt động NCKH cụ thể Vì vậy, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý KH&CN, đặc biệt là việc xây dựng nhiệm vụ và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN có ý nghĩa khoa học, thiết thực, nó quyết định đến kết quả nghiên cứu khoa học và
hiệu quả thực tiễn của nhiệm vụ KH&CN nói chung
1.2.1 Các khái niệm khoa học, công nghệ và NCKH:
Trang 25khách quan từ khi chào đời, chịu sự tác động của thế giưói khách quan, buộc phải xử lý những tình huống xuất hiện trong tự nhiên, trong lao động và trong ứng xử Từ quá trình cảm nhận và xử lý các tình huống của con người, những hiểu biết kinh nghiệm được tích luỹ chuyển dần từ những hiểu biết về từng sự vật riêng lẻ đến những mối liên hệ mang tính hệ thống [21];
- Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động NCKH, là hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định (khám phá, sáng tạo) và được tiến hành dựa trên một hệ thống phương pháp khoa học Tri thức khoa học được phát triển từ tri thức kinh nghiệm, nhưng nó không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm [21]
1.2.1.2 Công nghệ
Là một tập hợp tri thức gắn liền và tương ứng với một tập hợp kỹ thuật (máy móc, thiết bị, phương tiện ) bao gồm các trí thức về phương pháp, kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm, được sử dụng theo một quy trình hợp lý để vận hành tập hợp kỹ thuật đó, tác động vào đối tượng lao động tạo ra sản phẩm phục
vụ các nhu cầu của con người
Công nghệ từ chỗ là khái niệm chỉ sử dụng trong hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất, giờ đây đã được sử dụng với nghĩa rộng hơn và trong rất nhiều lĩnh vực hoạt động của con người
Cũng có thể phân biệt công nghệ theo ý nghĩa kinh tế - kỹ thuật của sản phẩm và công nghệ theo nghĩa kinh tế - xã hội Hiểu với nghĩa đầu tiên nó gắn liền với kỹ thuật và trong một số trường hợp có thể thay thế lẫn nhau
1.2.1.3 Nghiên cứu khoa học
Là một hoạt động xã hội hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, chưa nói tới để củng cố phát triển tri thức, phục vụ cho việc phát triển KH&CN, phát triển kinh tế Bao gồm: hoạt động NCKH và sáng tạo công nghệ (nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng), hoạt động thử nghiệm (sản xuất thử nghiệm)
NCKH và công nghệ có mục đích: hoàn thiện nhận thức về thế giới khách quan, góp phần làm giàu tri thức của nhân loại và để cải tạo thế giới, khám phá,
Trang 26tìm kiếm, sáng tạo các giá trị nhận thức mới, phương pháp mới, công nghệ mới
để tăng năng suất lao động, cải tạo xã hội, hoàn thiện nhân cách, phát triển nền văn minh nhân loại, góp phần nâng cao dân trí, tăng cường nhận thức, phát huy các năng lực sáng tạo để xây dựng, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của cộng đồng
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học, nhưng thông thường phân theo ba loại sau:
- Nghiên cứu cơ bản (Fundamental Research): là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật
và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác Sản phẩm có thể là khám phá, phát hiện, phát minh, hình thành một hệ thống lý thuyết ;
- Nghiên cứu ứng dụng (Applied Research): là sự vận dụng quy luật từ nghiên cứu cơ bản đề giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và ứng dụng vào sản xuất, đời sống (có thể là giải pháp về công nghệ,
về vật liệu, về tổ chức quản lý );
- Nghiên cứu triển khai (Development Research): còn gọi là triển khai thực nghiệm hoặc triển khai thực nghiệm kỹ thuật, là sự vận dụng các quy luật (từ nghiên cứu cơ bản) và nguyên lý (từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật
1.2.1.4 Khái niệm sản phẩm NCKH
SPNCKH hay còn được gọi là kết quả NCKH là những sản phẩm thu được sau một quá trình nghiên cứu, sản phẩm nghiên cứu có thể là một phần của một công trình nghiên cứu chưa hoàn tất (đối với những dự án nghiên cứu dài hạn có phân chia thành nhiều giai đoạn nghiên cứu) Trong phạm vi vấn
đề nêu ra của luận văn này, tác giả đề nghị chỉ xem xét đối với các sản phẩm
là các KQNC, tức là những đề tài NCKH đã được nghiệm thu
Sản phẩm của NCKH có tính đặc biệt so với các loại sản phẩm có được
từ lao động thông thường, nó luôn là một sự vật hoàn toàn mới, không được biết trước và mang tính được kế thừa Một SPNCKH có thể được sử dụng
Trang 27nhiều lần trong thời gian dài mà vẫn không mất đi giá trị sử dụng, nhưng cũng
có khi chính SPNCKH mang lại rủi ro cho người làm ra nó SPNCKH thể hiện dưới nhiều dạng, nhưng ở bất kỳ dạng thể hiện nào, về bản chất nó cũng
là những thông tin chứa đựng các tri thức khoa học Trong thực tế, con người chỉ tiếp xúc được với các thông tin tri thức khoa học đã được mã hóa dưới các dạng như âm thanh, hình ảnh, chữ viết…thông qua vật mang tri thức khoa học
Có ba loại vật mang tri thức khoa học thông dụng Một là vật mang vật
lý, gồm các loại bài báo, báo cáo khoa học, các mẫu vật thu được từ điều tra, khảo cổ, băng đĩa ghi âm, ghi hình… Hai là vật mang công nghệ gồm các mẫu vật liệu mới, sản phẩm công nghệ mới, mẫu máy móc, phương tiện mới… Ba là vật mang xã hội, có thể là một chuyên gia, một nhóm chuyên gia hay nhóm thợ lành nghề Tuy nhiên, trong luận văn này ta chỉ xem xét đối với loại vật mang vật lý là các sách, băng hình, đĩa hình, đĩa vi tính … chứa kết quả các công trình NCKH
1.2.1.5 Khái niệm hiệu quả và hiệu quả NCKH
Trong kinh tế học, hiệu quả được hiểu là quan hệ giữa kết quả đạt được
và nguồn lực được sử dụng để tạo ra kết quả đó, nếu biểu hiện bằng con số toán học, hiệu quả là tỷ lệ phần trăm giữa chi phí đầu vào và chi phí đầu ra Như vậy, hiệu quả NCKH được hiểu là tỷ lệ phần trăm giữa tổng chi phí các nguồn lực đưa vào phục vụ quá trình nghiên cứu và tổng giá trị kết quả nghiên cứu thu được ở đầu ra
NCKH là một hình thức lao động đặc biệt, cho ra kết quả là những sản phẩm có tính đặc trưng riêng biệt, bất kỳ một công trình nghiên cứu nào dù thực hiện trong thời gian lâu hay mau cũng phải sử dụng một nguồn lực nhất định cho đầu vào và thu được một giá trị nhất định ở đầu ra Lao động NCKH với đặc điểm không thể tính bằng định mức nên việc xác định chính xác nguồn lực cho đầu vào là một nội dung rất khó, bởi vậy công việc xác định hiệu quả của một công trình NCKH không hoàn toàn giản đơn như việc xác
Trang 28định hiệu quả của một hoạt động kinh doanh dịch vụ trong sản xuất Để xác định hiệu quả của một NCKH, bắt buộc phải tiến hành đánh giá NCKH đó, chỉ có thông qua một kết quả đánh giá nghiêm túc mới có thể xác định đúng giá trị đích thực cũng như hiệu quả do NCKH đó mang lại cho xã hội
Trong điều kiện nước ta hiện nay do những nguyên nhân khác nhau như cơ chế quản lý, trình độ nghiệp vụ chuyên môn của nhân lực làm công việc đánh giá, những quy định về tài chính…đều còn nhiều bất cập, chưa đủ đáp ứng cho các hoạt động khoa học nên việc đánh giá NCKH vẫn còn là một vấn đề tương đối mới chỉ được đề cập ở phương diện một số các công trình nghiên cứu, chứ chưa có những quy định bắt buộc phải thực hiện trong các tổ chức có NCKH Đây chính là một hạn chế cần phải được các cơ quan chức năng sớm xem xét, và có biện pháp khắc phục trong công tác quản lý KH&CN
1.2.2 Khái niệm về nhiệm vụ NCKH
1.2.2.1 Khái niệm chung
Nhiệm vụ NCKH là khái niệm khái quát dùng để chỉ những nội dung cụ thể cần phải được thực hiện để phát triển KH&CN nhằm phát triển kinh tế - xã hội và phát triển chính bản thân KH&CN Nhiệm vụ NCKH thường xuất phát từ thực tiễn và là tiền đề để đề xuất các ý tưởng khoa học, hình thành các đề tài nghiên cứu và xác định những mục tiêu tổng thể khái quát, định hướng cho nghiên cứu
- Nhiệm vụ NCKH được xuất phát từ chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, được giao từ cơ quan cấp trên, nhận từ hợp đồng với các đối tác hay do người nghiên cứu tự đề xuất
Nhiệm vụ NCKH phải được thể hiện dưới dạng các đề tài nghiên cứu, các
dự án hay chương trình phát triển KH&CN;
- Đề tài nghiên cứu (hay đề tài nghiên cứu độc lập): được hiểu là một khía cạnh, một mặt nào đó của sự vật, hiện tượng, một phạm vi nào đó của hiện thực khách quan mà ở đó vấn đề nghiên cứu nảy sinh và được phát hiện; Đó là lĩnh vực mà nhận thức ở đó chưa có hoặc chưa được nhận thức đầy đủ, đòi hỏi phải
Trang 29hoàn thiện hay phát triển nhận thức và nhà khoa học có thể nhận thức được Đề tài nghiên cứu là một hình thức tổ chức nghiên cứu, được đặc trưng bởi một hay một số nhiệm vụ nghiên cứu và do một người hoặc một nhóm người thực hiện;
- Dự án: là một loại đề tài có mục đích ứng dụng cụ thể về kinh tế - xã hội
râ rÖt Dự án cũng có những đòi hỏi khác đề tài như: đáp ứng nhu cầu đã được nêu ra, chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguồn lực, thực hiện trong một bối cảnh không chắc chắn;
- Chương trình nghiên cứu: là khái niệm dùng để chỉ một tập hợp nhiều
đề tài hay hệ thống đề tài độc lập và các dự án cùng được tiến hành nhằm thực hiện một hoặc một số mục tiêu chiến lược trong sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, ngành, quốc gia hay khu vực Chương trình nghiên cứu thường được hình thành tổ chức quản lý và triển khai nhằm thực hiện mục tiêu, định hướng rõ nét đáp ứng những yêu cầu cơ bản và cấp bách mang tính chiến lược trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Nhờ vậy, chương trình nghiên cứu có khả năng huy động nguồn lực KH&CN dồi dào, tiết kiệm kinh phí và có hiệu quả cao;
- Đề án: là một văn bản được xây dựng để trình một cấp quản lý hoặc một
cơ quan tài trợ để xin được thực hiện một công việc nào đó Chẳng hạn xin thành lập một tổ chức, xin cấp tài trợ cho một hoạt động xã hội Vì vậy, đi kèm với văn bản để trình thường phải là một đề cương nghiên cứu hay một dự án tiền khả thi, Sau khi đề án được phê chuẩn sẽ có thể xuất hiện những dự án, chương trình, đề tài hoặc tổ chức và hoạt động kinh tế - xã hội theo yêu cầu của đề án
Thực hiện nhiệm vụ NCKH tuy được coi là một nghề trong xã hội nhưng không phải ai cũng làm được Những người được giao thực hiện nhiệm vụ NCKH phải được đào tạo công phu, có năng lực tư duy sáng tạo đồng thời có sự say mê và ham muốn
Sản phẩm của việc thực hiện nhiệm vụ NCKH có thể là báo cáo khoa học, phổ biến các KQNC, các thành tựu mới, các bảng tổng kết, tổng luận, dự báo khoa học, các bài giảng, tài liệu; các mô hình, sơ đồ quy trình kỹ thuật công nghệ; các bí quyết, lời giải đáp, các phát minh sáng chế
Trang 30Kết quả do thực hiện nhiệm vụ NCKH đem lại có thể không tính được bằng tiền, bằng hàng hóa, nhưng bảo đảm hai yếu tố: Một là, mang tính hữu ích cho khoa học, cho xã hội; hai là, do áp dụng các phương pháp KH&CN mà có được Hai yếu tố trên phản ánh giá trị KH&CN, giá trị kinh tế - xã hội của mỗi nhiệm vụ NCKH
1.2.2.2 Về các dạng và yêu cầu đối với nhiệm vụ, đề tài NCKH
a) Các dạng cơ bản của nhiệm vụ, đề tài NCKH
+ Đề tài NCKH tự nhiên, KH&CN, khoa học xã hội và nhân văn (sau đây gọi chung là đề tài) là vấn đề khoa học, công nghệ cần được nghiên cứu để nắm được bản chất, nguyên lý, tìm ra giải pháp, tạo ra công nghệ nhằm phục vụ cho mục tiêu cụ thể của kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng Đề tài đưa ra tuyển chọn, xét chọn được xác định tên, định hướng mục tiêu và yêu cầu đối với sản phẩm;
+ Dự án sản xuất thử nghiệm (dự án SXTN) là vấn đề công nghệ cần tiếp tục hoàn thiện, thích nghi để tạo ra sản phẩm cụ thể đáp ứng nhu cầu thị trường
và có hiệu quả cao về kinh tế - xã hội Dự án SXTN đưa ra xét chọn được xác định tên, mục tiêu và yêu cầu về các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đối với sản phẩm;
+ Nhiệm vụ NCKH lĩnh vực y - dược học: là những nhiệm vụ nghiên cứu
về đặc điểm bệnh lý, các tổn thương và bệnh tật trong chiến tranh, sinh hoạt lao động sản xuất của bộ đội và nhân dân, nghiên cứu ứng dụng những thành tựu y học tiên tiến của thế giới, kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền, giữa đông
và tây y; những biện pháp tổ chức và y học dự phòng, cứu chữa thích hợp với điều kiện sinh hoạt, lao động sản xuất, huấn luyện, chiến đấu, học tập, công tác của bộ đội và nhân dân
b) Yêu cầu đối với nhiệm vụ, đề tài NCKH
* Yêu cầu đối với Đề tài
+ Giá trị thực tiễn:
- Trực tiếp hoặc góp phần giải quyết vấn đề cấp thiết của kinh tế, xã hội,
an ninh, quốc phòng mà khả năng của một ngành, một tỉnh, thành phố không tự giải quyết được;
Trang 31- Tạo chuyển biến cơ bản về năng suất, chất lượng, hiệu quả, tác động lớn
đến sự phát triển của ngành, lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật, vùng kinh tế trọng điểm;
- Tạo tiền đề cho việc hình thành ngành nghề mới, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, xã hội theo hướng hiện đại, hiệu quả và phát triển bền vững
+ Giá trị khoa học, công nghệ:
- Giải quyết được những vấn đề khoa học, công nghệ mới ở mức đạt hoặc tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực hoặc quốc tế;
- Góp phần nâng cao năng lực KH&CN của đất nước (đào tạo cán bộ khoa
học và công nghệ trình độ cao, hình thành tập thể khoa học công nghệ mạnh)
* Yêu cầu đối với dự án SXTN
+ Yêu cầu về công nghệ:
- Có tính mới, tính tiên tiến so với công nghệ đang có ở Việt Nam, có khả năng thay thế công nghệ nhập khẩu từ nước ngoài;
- Có tác động nâng cao trình độ công nghệ của ngành, lĩnh vực sản xuất khi được áp dụng rộng rãi
+ Tính khả thi và hiệu quả kinh tế - xã hội:
- Có thị trường tiêu thụ sản phẩm (thuyết minh rõ về khả năng thị trường tiêu thụ, phương thức chuyển giao và thương mại hóa các sản phẩm của dự án);
- Có khả năng huy động nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất từ các nguồn khác nhau để thực hiện dự án;
- Sản phẩm của dự án có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (tạo ngành nghề mới, tăng thêm việc làm và thu nhập cho cộng đồng)
+ Công nghệ được sử dụng đảm bảo tính hợp pháp và có xuất xứ từ một trong các nguồn sau:
Trang 32- Kết quả của các đề tài đã được Hội đồng KH&CN đánh giá, nghiệm thu
1.2.3 Quy trình xây dựng nhiệm vụ, đề tài NCKH
Quy trình xây dựng nhiệm vụ NCKH gồm có: xác định nhu cầu; xác định tên nhiệm vụ NCKH; xác định mục tiêu, nội dung, sản phẩm của nhiệm vụ NCKH và dự kiến kết quả cần đạt được
1.2.3.1 Xác định nhu cầu
Nhiệm vụ, đề tài NCKH thường có nguồn gốc từ thực tiễn, thành tựu NCKH của nó được ứng dụng trực tiếp vào đời sống Do vậy, việc xác định nhu cầu phải xuất phát từ:
* Nghiên cứu thị trường: Điều tra phân tích nhu cầu thị trường (bao gồm thị trường sản phẩm và thị trường công nghệ) có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan nghiên cứu và triển khai trong việc xác định nhu cầu Mục đích của điều tra thị trường là để tìm hiểu nhu cầu và giải quyết khả năng ứng dụng, tiêu thụ sản phẩm, làm rõ tính chất và quy mô của thị trường, phân tích những ý kiến, thái độ của người tiêu dùng (sử dụng) đối với sản phẩm; phân tích tình hình cạnh tranh thị trường, tâm lý người tiêu dùng, dự báo tiềm lực và nắm bắt những yêu cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm Đồng thời dự báo những rủi ro mà thị trường không thể dự báo được Trên cơ sở đó, cung cấp những tư liệu mang tính chỉ đạo và cung cấp số liệu cho việc xác định mục tiêu nhiệm vụ NCKH
* Quy hoạch, hướng ưu tiên: Ngày nay KH&CN phát triển nhanh chóng, nhiều phát minh sáng chế, sản phẩm mới, CN mới xuất hiện Cạnh tranh thị trường quyết liệt nên các nhiệm vụ nghiên cứu triển khai chịu sự ràng buộc của thời gian đạt được hiệu quả kinh tế một cách nghiêm ngặt, nhưng có một số đề tài ngay trong quá trình nghiên cứu chế tạo, công việc chưa kết thúc mà sản phẩm đã lạc hậu Mặt khác, căn cứ vào xu hướng phát triển của KH&CN và yêu
Trang 33cầu phỏt triển kinh tế xó hội, Nhà nước và cỏc Bộ, ngành, địa phương thường đề
ra quy hoạch dài hạn và xỏc định mục tiờu tổng quỏt, trong đú chỉ rừ cỏc hướng
ưu tiờn phỏt triển, bảo đảm cho phỏt triển KH&CN bền vững và gắn với phỏt triển kinh tế - xó hội và củng cố quốc phũng - an ninh của đất nước và của Bộ, Ngành và địa phương mỡnh Vỡ vậy, trong xõy dựng nhiệm vụ NCKH của cỏc đơn vị cần tỡm hiểu, nắm chắc cỏc chương trỡnh, đề tài trọng điểm của Nhà nước
để cú thể kết hợp chặt chẽ với cỏc yờu cầu của chớnh đơn vị mỡnh Đồng thời qua
đú chuẩn bị nhõn lực, vật lực và cỏc điều kiện khỏc của đơn vị mỡnh cho việc đảm nhận cỏc nhiệm vụ được giao
* Hợp tỏc trong nước và quốc tế: bao gồm giao lưu chuyờn gia, cựng nhau nghiờn cứu, trao đổi thụng tin; hợp tỏc nghiờn cứu Phương thức hợp tỏc quốc tế
cú hợp tỏc song phương giữa cỏc đơn vị cơ sở và kế hoạch hợp tỏc giữa cỏc Chớnh phủ
1.2.3.2 Xỏc định tờn nhiệm vụ NCKH
Nhiệm vụ, đề tài NCKH phải được thể hiện bằng một tờn gọi xỏc định, phản ỏnh được những nột cơ bản về nội dung, mục tiờu hay phương phỏp,… của nhiệm vụ Tờn đề tài, nhiệm vụ phải đảm bảo tớnh khoa học, tớnh thực tiễn và tớnh khả thi cao Việc hỡnh thành đề tài, chương trỡnh nghiờn cứu, dự kiến nội dung nghiờn cứu và phương thức nghiờn cứu thường thực hiện qua cỏc bước với cỏc nội dung sau:
Bước 1: Xỏc định vấn đề NCKH
Là một trong những khõu quan trọng cú tỏc động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, kết quả và hiệu quả của quỏ trỡnh thực hiện nhiệm vụ
Thực chất của việc xỏc định, lựa chọn tờn nhiệm vụ NCKH là xỏc định vấn
đề KH, nảy sinh từ hoạt động thực tiễn Trờn cơ sở đú hỡnh thành ý tưởng KH, xỏc định tờn đề tài để đưa vào danh mục cỏc đề tài nghiờn cứu của kỳ kế hoạch đỳng định hướng và yờu cầu của thực tiễn
Để thực hiện tốt việc lựa chọn và xỏc định tờn nhiệm vụ, đề tài nghiờn cứu, trước hết phải dựa vào cỏc căn cứ với những số liệu chuẩn xỏc; tiến hành luận chứng kinh tế kỹ thuật, thứ hai là đề tài phải lựa chọn theo một trỡnh tự khoa học
Trang 34với những tiêu chí được chuẩn bị trước
Bước 2: Xác định nguồn gốc và phân loại nhiệm vụ
Như đã nêu và phân tích, nhiệm vụ nghiên cứu về cơ bản hình thành từ
những vấn đề nảy sinh từ quá trình điều tra, phân tích nhu cầu hay từ định hướng nghiên cứu trong kế hoạch trung và dài hạn, trong chiến lược phát triển hoặc từ chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, từ yêu cầu hợp tác nghiên cứu giải quyết một vấn đề KH Như vậy, việc xác định nguồn gốc nhiệm vụ NCKH chính là xem xét nguồn gốc của cá nhân, tổ chức KH đề xuất đăng ký Xác định rõ nguồn gốc
là cơ sở để tiến hành tổ chức triển khai cũng như khai thác sử dụng KQNC
Việc phân loại nhiệm vụ nghiên cứu giúp ta hiểu rõ, nắm vững nội dung, đặc điểm và yêu cầu đối với nhiệm vụ nghiên cứu, đồng thời việc xác định đúng loại nhiệm vụ nghiên cứu cũng giúp cho công tác tổ chức và thực thi nhiệm vụ, quản lý quá trình thực hiện và quản lý KQNC đúng, chính xác, mang lại hiệu quả thiết thực
Loại đề tài có thể là đề tài cấp Nhà nước, đề tài cấp Bộ, Ngành (Tổng cục….) hay cấp cơ sở Đề tài ở mỗi cấp có thể khác nhau về mức độ ảnh hưởng
từ kinh tế - xã hội về quy mô nội dung khoa học và do đó nội dung thực hiện, nội dung quản lý cũng khác nhau
Loại đề tài cũng có thể là đề tài nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng hay triển khai thực nghiệm hoặc thử nghiệm (áp dụng thử) Mỗi loại đề tài cần phải chú ý bảo đảm các tiêu chí của kết quả nghiên cứu đồng thời nó liên quan tới phương thức quản lý, đánh giá kết quả cũng như thanh quyết toán đề tài
Về tầm cỡ đề tài có thể là đề tài độc lập, cũng có thể là đề tài nằm trong chương trình Tùy theo tầm cỡ mà việc lựa chọn và tổ chức triển khai thực hiện
sẽ đòi hỏi công tác quản lý đón đầu Qua đó xác định được nội dung, yêu cầu trong quản lý cho phù hợp
1.2.3.3 Xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung, sản phẩm của nhiệm vụ NCKH
* Mục tiêu nghiên cứu
Là cái đích về nội dung mà việc nghiên cứu cần phải đạt được Do vậy cần
Trang 35xem xét một cách hệ thống, toàn diện mọi khía cạnh, mọi tầng lớp của một tập hợp các mục tiêu có quan hệ tương tác trong khuôn khổ của nhiệm vụ Từ đó xác định quy mô của nhiệm vụ nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Là sự vật hiện tượng hay bản chất sự vật hiện tượng mà đề tài, nhiệm vụ, trong quá trình được thực thi để đạt mục tiêu đề ra bắt buộc phải đề cập đến Nắm chắc đối tượng nghiên cứu giúp người thực thi không làm lạc đề
* Nội dung nghiên cứu: Là những vấn đề cụ thể được tiến hành để giải quyết nhiệm vụ và để đạt được mục tiêu Phân tích nắm vững nội dung nghiên cứu sẽ giúp cho việc xây dựng kế hoạch thực hiện đề tài nhiệm vụ được đầy đủ
và chính xác, giúp cho việc thực hiện được thuận lợi, mang lại hiệu quả nghiên cứu cao
Để làm rõ các cấp mục tiêu và nội dung nhiệm vụ NCKH cần được tiến hành phân tích nhiệm vụ nghiên cứu thành các modul công việc có tính độc lập tương đối Mỗi modul có nội dung KH gắn với một mục tiêu thành phần tương ứng Tập hợp các mục tiêu thành phần sẽ đảm bảo cho mục tiêu tổng quát của nhiệm vụ được thực hiện Việc xác định mục tiêu tổng quát và các mục tiêu thành phần giúp cho việc thực hiện luôn đi đúng hướng; tránh lạc đề, đồng thời
là cơ sở để công tác quản lý nói chung, quản lý quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH nói riêng xác thực và có hiệu quả
1.2.3.4 Dự kiến kết quả cần đạt được của nhiệm vụ NCKH
Các nhiệm vụ NCKH được đưa vào nhiệm vụ nghiên cứu phải dự kiến được sản phẩm tạo ra KQNC có thể ở các dạng: báo cáo khoa học, báo cáo kết quả nghiên cứu, dự báo khoa học, tổng luận, tài liệu, bài giảng, mô hình,
sơ đồ, quy trình CN, bí quyết CN, tính năng kỹ thuật, lời giải đáp, hướng dẫn
sử dụng các phát minh sáng chế và dự kiến nơi sẽ đưa sản phẩm vào ứng dụng
KQNC có thể ở những trình độ KH và trình độ CN khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới kinh tế - xã hội với mức độ khác nhau Người nghiên cứu và người quản lý cần dự kiến được KQNC của nhiệm vụ NCKH sẽ đạt trình
Trang 36độ KH&CN ở mức nào Đồng thời có dự kiến đưa kết quả NCKH vào ứng dụng
1.2.4 Tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH
1.2.4.1 Lựa chọn đơn vị, cá nhân thực hiện nhiệm vụ NCKH
a Phân cấp thực hiện nhiệm vụ NCKH
Các nhiệm vụ NCKH được Nhà nước phân thành các cấp quản lý sau:
- Cấp Nhà nước; cấp Bộ (ngành, tỉnh, thành phố) và cấp cơ sở
Theo Điều lệ công tác KH&CN Quân đội nhân dân Việt Nam ban hành kèm theo quyết định số 728/2001/QĐ-BQP ngày 25 tháng 4 năm 2001 của Bộ trưởng BQP, nhiệm vụ NCKH trong quân đội được phân thành 4 cấp
- Cấp Nhà nước; cấp Bộ; cấp Tổng cục và tương đương (cấp ngành) và cấp
cơ sở
b Yêu cầu lựa chọn đơn vị, cá nhân thực hiện nhiệm vụ NCKH
Mỗi hoạt động nghiên cứu triển khai cần tập hợp lực lượng nhiều người, ở nhiều nơi để thực hiện Song cần xác định và lựa chọn chính xác đơn vị chủ trì
và chủ nhiệm chương trình, đề tài để có thể tổ chức và thực hiện hoàn thành nhiệm vụ NCKH được giao
- Đối với đơn vị chủ trì nhiệm vụ NCKH: phải có nhiều thuận lợi để tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao; có lực lượng chủ chốt với các chuyên môn phù hợp với nội dung chính về KH của nhiệm vụ, có phương tiện kỹ thuật cần thiết,
có tổ chức bộ máy thừa hành thạo việc…
- Đối với cá nhân thực hiện nhiệm vụ NCKH phải có các tiêu chuẩn cụ thể như: có trình độ kiến thức chuyên môn thích hợp với nhiệm vụ NCKH được giao, hiểu rõ vấn đề đặt ra, thấy được những yêu cầu và phương pháp có thể thực hiện có hiệu quả Có năng lực thực hiện trong đó chú ý cần có thời gian thỏa đáng dành cho việc thực hiện nhiệm vụ Có khả năng tổ chức thực hiện trong phân công và liên kết lực lượng, trong điều hành hoạt động, biết mặt mạnh, yếu của những người tham gia để phân công chủ trì nội dung nghiên cứu sát, hợp với khả năng để khai thác tối đa mặt mạnh cho thực hiện nhiệm vụ; biết bố trí lực lượng thuận tiện nhất trong hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ được giao
Người thực hiện nhiệm vụ NCKH chủ yếu là nhà KH, không nhất thiết phải
Trang 37là người lãnh đạo cơ quan, vì người lãnh đạo có thuận lợi trong tổ chức thực hiện nhưng hạn chế trong tiến độ thực hiện do kiêm nhiệm nhiều công việc, do hạn chế về thời gian và hạn chế việc một người thực hiện nhiều nhiệm vụ không phải
là nhiệm vụ NCKH
Trong trường hợp người thực hiện nhiệm vụ NCKH là người lãnh đạo cơ quan cần phải xem xét kỹ không những về trình độ và năng lực NCKH mà còn phải xét đến lượng thời gian mà người đó dành cho hoạt động nghiên cứu để đảm bảo tiến độ cũng như chất lượng Tránh tình trạng cán bộ lãnh đạo đứng tên nhận nhiệm vụ nhưng thực chất lại do cấp dưới thực hiện, trong khi trình độ, năng lực của cấp dưới đó lại không được xem xét, thẩm định trước khi giao nhiệm vụ Sở dĩ cần thiết phải chú ý như vậy vì tuy cán bộ lãnh đạo chủ trì trong quá trình tổ chức có phần nào thuận lợi hơn nhưng do hạn chế về thời gian hoặc
do cấp dưới thực hiện thay là chính thì kết quả sẽ khó đảm bảo về thời gian cũng như chất lượng Mặt khác, cũng cần chú ý tình trạng người nhận nhiệm vụ lại chính là người của cơ quan quản lý nhiệm vụ đó, để đảm bảo tính khách quan trong quản lý và trong đánh giá nghiệm thu KQNC
c) Phương thức lựa chọn đơn vị, cá nhân thực hiện nhiệm vụ NCKH
Lựa chọn đơn vị và cá nhân chủ trì nhiệm vụ NCKH được thực hiện theo 2 phương thức sau:
- Giao nhiệm vụ trực tiếp: Cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN có thẩm quyền lựa chọn tổ chức, cá nhân có năng lực, phẩm chất, điều kiện và chuyên môn phù hợp như đã trình bày ở trên để trực tiếp giao thực hiện những nhiệm vụ NCKH đặc thù và phải chịu trách nhiệm về việc giao nhiệm vụ của mình Đối với việc giao nhiệm vụ trực tiếp thì việc lựa chọn được tổ chức hay cá nhân xứng đáng để giao nhiệm vụ là hết sức quan trọng, bởi điều đó đảm bảo cho nhiệm vụ được thực hiện một cách tin cậy, chắc chắn và đạt được hiệu quả Việc xét tới trách nhiệm khi công việc không hoàn thành, không đáp ứng được yêu cầu chỉ là việc làm bất đắc dĩ bởi nó không mang lại hiệu quả và KH cũng như kinh tế - xã hội Vì vậy, việc xem xét, đánh giá để lựa chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ đòi hỏi phải có hiểu biết về chuyên môn rộng và sâu, hiểu biết năng
Trang 38lực trí tuệ cũng như các nguồn lực khác của các đơn vị, cá nhân các nhà KH
- Thực hiện tuyển chọn (đấu thầu): Cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN
có thẩm quyền các cấp phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng danh mục các nhiệm vụ NCKH được thực hiện theo phương thức tuyển chọn, bảo đảm để mọi tổ chức, cá nhân có điều kiện đăng ký tham gia tuyển chọn Quá trình tuyển chọn phải bảo đảm tính công khai, công bằng, dân chủ, khách quan Kết quả tuyển chọn phải được công bố công khai Để tổ chức tuyển chọn người đứng đầu cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN các cấp thành lập Hội đồng tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ NCKH và quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng này Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn và phải chịu trách nhiệm về việc tư vấn của mình Thành viên Hội đồng phải
có năng lực, phẩm chất trình độ chuyên môn phù hợp với nhiệm vụ NCKH Nhà nước đã có Nghị định 81/CP năm 2002 và gần đây, Bộ Trưởng Bộ KH&CN đã ra Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN quy định và hướng dẫn việc tuyển chọn này
1.2.4.2.Triển khai thực hiện nhiệm vụ NCKH
a) Vai trò của việc triển khai thực hiện nhiệm vụ NCKH
Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ NCKH là áp dụng các giải pháp để thực hiện nghiên cứu đúng mục tiêu, nội dung và tiến độ đặt ra Khi trình độ phát triển càng cao, KH&CN phát triển càng mạnh, đòi hỏi đầu tư càng lớn, bảo mật KQNC càng cẩn trọng thì việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ NCKH càng có vai trò quan trọng Mỗi loại hình nghiên cứu có những nét đặc thù trong phương pháp tiến hành, mục tiêu định trước, mức độ đầu tư, mức độ rủi ro, xác suất thành công, thất bại khác nhau nên đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức triển khai khác nhau Do vậy cần phân biệt rõ các loại hình nghiên cứu để thể hiện được vai trò của quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH
Tổ chức thực hiện nhiệm vụ NCKH có ảnh hưởng trực tiếp tới thành bại của hoạt động KH&CN, bảo đảm các định hướng phát triển KH&CN phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, vừa tạo sự kích thích sáng tạo KH, tạo
Trang 39ra bầu không khí tự do dân chủ trong NCKH, đồng thời mở ra các khả năng đầu
tư cho KH&CN và tiêu thụ sản phẩm NCKH Mục tiêu cơ bản của tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ NCKH là sử dụng tốt các công cụ như pháp luật, bộ máy tổ chức, cơ chế quản lý, các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm phát huy tiềm lực KH&CN trong nước để phát triển mạnh mẽ KH&CN của đất nước, đẩy nhanh tiến bộ KH&CN vào thực tiễn và đời sống Mở rộng sự hợp tác bình đẳng với nước ngoài, mau chóng hòa nhập với trình độ phát triển của nền KH&CN hiện đại trên thế giới
b) Nội dung triển khai thực hiện nhiệm vụ NCKH
Đây là một nội dung quan trọng có tác dụng trực tiếp và ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ, là một trong những yếu tố bảo đảm cho nhiệm vụ nghiên cứu đúng hướng, thực hiện được tiến độ, mục đích yêu cầu đặt ra
Tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu chính là thực hiện chức năng tổ chức, điều hành và điều tiết trong quản lý Việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu được tiến hành qua các bước:
Một là: Tổ chức truyền đạt nhiệm vụ nghiên cứu cho đơn vị chủ trì và cá nhân thực hiện
- Với trường hợp nhiệm vụ nghiên cứu được thực hiện theo giao nhiệm vụ thì việc truyền đạt nhiệm vụ nghiên cứu được thực hiện bằng hình thức:
+ Trực tiếp tại Hội nghị;
+ Gián tiếp bằng văn bản
Trong quá trình tổ chức truyền đạt dù dưới hình thức nào cũng phải xác định được các yếu tố cơ bản sau:
+ Tên nhiệm vụ nghiên cứu (đề tài, chương trình);
+ Mục tiêu nghiên cứu;
+ Nội dung nghiên cứu, sản phẩm cần đạt được;
+ Phạm vi nghiên cứu;
+ Các mốc thời gian (thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, thời gian xét duyệt đề cương nghiên cứu , );
Trang 40+ Các yếu tố bảo đảm cho nghiên cứu (chủ yếu là kinh phí)
- Với trường hợp nhiệm vụ nghiên cứu được thực hiện theo phương thức tuyển chọn:
Việc tổ chức truyền đạt nhiệm vụ nghiên cứu bằng văn bản thông báo kết quả tuyển chọn đơn vị, cá nhân trúng tuyển chủ trì thực hiện Văn bản phải nêu
rõ những yêu cầu cần phải sửa chữa, bổ sung, thực hiện tiếp theo, chuẩn bị thêm ngoài phần đã xác lập trong thuyết minh theo ý kiến của Hội đồng tuyển chọn Hai là, hướng dẫn đơn vị, cá nhân chủ trì thực hiện các công việc như: đăng
ký, hoàn thiện thuyết minh đề cương nghiên cứu, hoàn chỉnh hồ sơ thủ tục, xây dựng kế hoạch thực hiện…
Thường thì hệ thống văn bản về quản lý đã được xây dựng và ban hành Song trong những trường hợp cụ thể với những nhiệm vụ có tính chất đặc biệt đòi hỏi phải có những yêu cầu quản lý đặc biệt, phải tiến hành xây dựng và bổ sung một số quy định cần thiết trên cơ sở các văn bản quy phạm, các hướng dẫn, điều lệ công tác quản lý và luật KH&CN để hoàn thiện công tác quản lý giúp cho việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đạt hiệu quả và chất lượng cao nhất Các văn bản hướng dẫn hay quy định mới xây dựng trong từng trường hợp riêng biệt không được trái với các văn bản của Nhà nước đã ban hành đang có hiệu lực, song phải chi tiết hóa, cụ thể hóa những nội dung, yêu cầu và những vấn đề
có liên quan để đảm bảo cho nhiệm vụ được khả thi một cách tốt nhất và đúng với chế độ của Nhà nước
1.2.4.3 Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ NCKH
Công tác kiểm tra là một khâu của công tác quản lý nhằm bảo đảm cho nhiệm vụ nghiên cứu thực hiện đúng kế hoạch tiến độ, đúng mục tiêu và nội dung nghiên cứu đã được xác định Công tác kiểm tra thường được tiến hành theo hai phương thức:
- Kiểm tra định kỳ: tiến hành theo chế độ quản lý qui định với yêu cầu chủ yếu là xác nhận tiến độ kế hoạch triển khai nhiệm vụ NCKH Xem xét tình hình
tổ chức quản lý nội bộ đối với đơn vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ nhằm nắm bắt được quá trình triển khai thực hiện, các kết quả đã đạt được đến thời điểm kiểm