Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề phát triển công nghệ là một trong những yếu tố quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, là yếu tố quan t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH HẢI DƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội, 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH HẢI DƯƠNG)
Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 60.34.72
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Hải
Hà Nội, 2012
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Câu hỏi nghiên cứu 8
6 Giả thuyết nghiên cứu 8
7 Mẫu khảo sát 8
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Kết cấu của Luận văn 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 10
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách 10
1.1.1 Khái niệm chính sách 10
1.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ 13
1.2 Triển khai công nghệ và phát triển công nghệ 14
1.2.1 Khái niệm triển khai công nghệ 14
1.2.2 Khái niệm phát triển công nghệ 15
1.2.3 Mối quan hệ giữa “triển khai công nghệ” với “phát triển công nghệ” 16
1.3 Chính sách “khoa học và công nghệ đẩy”, chính sách “thị trường kéo” 17
1.3.1 Khái niệm chính sách “khoa học và công nghệ đẩy” 17
1.3.2 Khái niệm chính sách “thị trường kéo” 19
1.4 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 20
1.4.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 20
1.4.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 23
1.5 Năng lực cạnh tranh và năng lực công nghệ 25
1.5.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh 25
1.5.2 Khái niệm năng lực công nghệ 27
1.5.3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa 30
* Kết luận chương 1 34
CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THEO HƯỚNG “KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẨY” TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH HẢI DƯƠNG 35
2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương 35
2.1.1 Đặc điểm các doanh nghiệp nhỏ và vừa Hải Dương 35
2.1.2 Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Hải Dương 37
2.2 Đề tài áp dụng công nghệ sấy và xử lý gỗ bán thành phẩm để khử độ co ngót, cong vênh và nấm mốc 40
2.2.1 Khái quát về đề tài công nghệ xử lý gỗ bán thành phẩm 40
2.2.2 Kết quả nghiên cứu công nghệ xử lý gỗ bán thành phẩm 41
2.2.3 Triển khai thực nghiệm công nghệ xử lý gỗ bán thành phẩm 43
2.2.4 Phát triển công nghệ xử lý gỗ bán thành phẩm 45
2.2.5 Phân tích đề tài công nghệ xử lý gỗ bán thành phẩm 46
2.2.6 Đánh giá chính sách “KH&CN đẩy” qua đề tài công nghệ xử lý gỗ bán thành phẩm 48
Trang 42.3 Dự án nghiên cứu, hoàn thiện lò sấy cải tiến gián tiếp và xây dựng mô hình chế
biến bảo quản tiêu thụ nông sản 49
2.3.1 Khái quát về dự án 49
2.3.2 Kết quả nghiên cứu công nghệ lò sấy 50
2.3.3 Triển khai thực nghiệm công nghệ lò sấy 54
2.3.4 Phát triển công nghệ lò sấy 56
2.3.5 Phân tích dự án công nghệ lò sấy 57
2.3.6 Đánh giá chính sách “KH&CN đẩy” qua dự án công nghệ lò sấy 60
2.4 Đánh giá tác động của chính sách “KH&CN đẩy” qua khảo sát thực tiễn tại Hải Dương 61
2.4.1 Đánh giá tác động dương tính của chính sách “KH&CN đẩy” 61
2.4.2 Đánh giá tác động âm tính của chính sách “KH&CN đẩy” 62
* Kết luận chương 2 62
CHƯƠNG 3 PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THEO HƯỚNG “THỊ TRƯỜNG KÉO” TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH HẢI DƯƠNG 64
3.1 Phát triển công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp 64 3.1.1 Năng lực công nghệ của các doanh nghiệp 64
3.1.2 Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp 65
3.2 Phân tích năng lực công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa 67
3.2.1 Phân tích SWOT về năng lực doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa 67
3.2.2 Tác động của chính sách đến năng lực công nghệ của doanh nghiệp 70
3.2.3 Điểm yếu về tỷ lệ thiết bị hiện đại của doanh nghiệp 71
3.2.4 Điểm yếu về tỷ lệ lao động làm việc trên công nghệ hiện đại 72
3.2.5 Điểm yếu về chi phí năng lượng và nguyên liệu/đơn vị sản phẩm 72
3.2.6 Điểm yếu về mức độ phụ thuộc vào nước ngoài 73
3.2.7 Các tiêu chí khác 74
3.3 Giải pháp phát triển công nghệ theo “thị trường kéo” để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa 77
3.3.1 Đánh giá tác động từ đối thủ cạnh tranh đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 77
3.3.2 Giải pháp phát triển công nghệ theo chiều rộng (Extensive Development of Technology) 79
3.3.3 Giải pháp phát triển công nghệ theo chiều sâu (Intensive Development of Technology) 83
3.3.4 Các giải pháp khác để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa 88
3.4 Đánh giá tác động của chính sách “thị trường kéo” qua khảo sát thực tiễn tại Hải Dương 96
3.4.1 Đánh giá tác động dương tính của chính sách “thị trường kéo” 96
3.4.2 Đánh giá tác động âm tính của chính sách “thị trường kéo” 97
* Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN ……… ………100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 1 ……… 103
PHỤ LỤC 2 108
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ihđ: Tỷ lệ thiết bị hiện đại Kck: Tỷ lệ lao động làm việc trên công nghệ hiện đại KH&CN: Khoa học và công nghệ
Pnl: Mức độ phụ thuộc vào nguyên liệu nhập ngoại R&D: Nghiên cứu và triển khai
SME: Doanh nghiệp nhỏ và vừa TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam UBND: Ủy ban Nhân dân VLXD: Vật liệu xây dựng NSTP: Nông sản thực phẩm DMDG: Dệt may, da giầy
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 1.1 Sơ đồ tổng quát về “công nghệ đẩy” và “thị trường kéo” 20
Bảng 1.2 Quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa theo lĩnh vực 23
Bảng 1.3 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong diện khảo sát của Luận văn 23
Bảng 2.1 Phân bổ cơ cấu kinh tế tỉnh Hải Dương qua các năm 38
Bảng 2.2 Chế độ sấy của 4 lần sấy thử hành thái lát 53
Bảng 2.3 Chi phí nhiên liệu 53
Bảng 2.4 Năng suất và thu hồi 54
Biểu đồ 3.1 Tác động của chính sách đến năng lực công nghệ của doanh nghiệp (%) 70
Bảng 3.2 Đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp Hải Dương .78
Bảng 3.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính 88
Bảng 3.4 Khả năng cung cấp nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp 90
Bảng 3.5 Trình độ chuyên môn của nhà quản lý trong các doanh nghiệp 91
Bảng 3.6 Số người trực tiếp nghiên cứu KH&CN vào sản xuất của 1 doanh nghiệp 91
Bảng 3.7 Chi phí đầu tư, nghiên cứu và phát triển công nghệ trung bình trong 1 doanh nghiệp (triệu đồng) 92
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO từ tháng 01 năm 2007, với sự kiện này các doanh nghiệp nhỏ và vừa đứng trước nhiều cơ hội và thách thức rất lớn Khi nước ta thực hiện các hiệp định thương mại với các nước trên thế giới, bỏ hàng rào thuế quan thì sự bảo hộ truyền thống của Nhà nước đối với doanh nghiệp trong cạnh tranh bị xóa bỏ và hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước phải đối mặt với sức cạnh tranh của hàng hóa, và dịch vụ đến từ các nước có công nghệ sản xuất tiên tiến và hiện đại Vai trò của công nghệ sẽ được thể hiện như là vũ khí cạnh tranh của các nền kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề phát triển công nghệ là một trong những yếu tố quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng tác động đến năng suất, sức cạnh tranh
và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Phát triển công nghệ là chìa khoá để các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Trình độ và năng lực công nghệ của đa số các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa hiện nay được đánh giá là còn thấp và có nhu cầu phát triển công nghệ là rất lớn Tuy nhiên, hoạt động phát triển công nghệ của các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn về vốn, về nhân lực, về thị trường trong khi đó hoạt động nghiên cứu và triển khai chưa phát huy được hiệu quả đối với các doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển công nghệ của các doanh nghiệp; hoạt động nghiên cứu và triển khai trong các doanh nghiệp cũng không phát triển được Có những kết quả nghiên cứu trong thực tế xuất phát từ yêu cầu “đặt hàng”, từ phía các doanh nghiệp đã phát huy được hiệu quả trong phát triển công nghệ của các doanh nghiệp Tại Hải Dương hoạt động nghiên cứu triển khai nhằm phát triển công nghệ cho các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa có chính sách khuyến
Trang 8kích hoạt động này phát triển, trong khi thị trường công nghệ chưa phát triển
do vậy rất khó khăn cho hoạt động phát triển công nghệ tại các doanh nghiệp nhất là đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa
Bởi vậy, tác giả chọn đề tài Chính sách phát triển công nghệ theo
hướng thị trường kéo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương) làm Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành
Quản lý KH&CN
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nhà nước đã ban hành Luật chuyển giao công nghệ và một số chính sách khuyến khích cho hoạt động phát triển công nghệ Tuy nhiên, trong thực
tế, hoạt động phát triển công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa ở mỗi địa phương được thực hiện có những kết quả khác nhau, vì mỗi địa phương đều có những đặc điểm riêng, có những chính sách riêng Đối với từng doanh nghiệp lại có những điều kiện về nguồn lực khác nhau, do vậy doanh nghiệp tìm đến phát triển công nghệ sản xuất bằng nhiều còn đường khác nhau Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động phát triển công nghệ như:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam, Trần Ngọc Ca, tháng 6 năm 2003
- Các biện pháp, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ, tháng 10 năm 1999
- Nâng cao hiệu quả một số chính sách thuế và tín dụng khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ, tháng 3 năm 2001
- Nghiên cứu cơ chế, chính sách KH&CN khuyến khích đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có vốn Nhà nước (năm 2003) Chủ nhiệm đề tài Ths.Nguyễn Võ Hưng;
Trang 9Tại Hải Dương có 2 đề tài nghiên cứu:
- Đánh giá trình độ và năng lực công nghệ của các lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ, năm 2005
- Điều tra hiện trạng và đề xuất các giải pháp để tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Hải Dương khi gia nhập WTO, Trung tâm KHCN phát triển đô thị và nông thôn Hà Nội, năm 2009
Những nghiên cứu này đã đưa ra sự cần thiết phải có các giải pháp chính sách để giúp các doanh nghiệp trong hoạt động phát triển công nghệ Một vấn đề đặt ra hiện nay là “cầu” công nghệ của các doanh nghiệp có nhưng “cung” công nghệ hiện nay không đáp ứng phù hợp thực tế đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa, phải chăng do hoạt động nghiên cứu và triển khai chưa mạng lại hiệu quả thiết thực cho các doanh nghiệp Ở Hải Dương các công trình nghiên cứu về chính sách thị trường kéo trong hoạt động phát triển công nghệ ở điều kiện của nước ta còn hạn chế Vì vậy luận văn định hướng nghiên cứu về giải pháp chính sách để các doanh nghiệp thấy rõ động cơ thúc đẩy, quyền lợi và trách nhiệm của họ trong việc phát triển công nghệ, đặc biệt là phát triển công nghệ theo hướng thị trường kéo từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay, đây chính là vấn đề cơ bản trong nghiên cứu của đề tài luận văn
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Đề ra giải pháp về chính sách phát triển công nghệ theo hướng thị trường kéo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa của Hải Dương
Trang 10“KH&CN đẩy”, chính sách “thị trường kéo”, doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Khảo sát thực tế để chứng minh sự không thành công của chính sách
“KH&CN đẩy” trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa của
Hải Dương
- Khảo sát thực tế để chứng minh chỉ có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa của Hải Dương, khi thực hiện chính sách phát triển công nghệ theo hướng “thị trường kéo”
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: địa bàn tỉnh Hải Dương
- Phạm vi thời gian: 2002-2011
5 Câu hỏi nghiên cứu
5.1 Chính sách “KH&CN đẩy” tác động như thế nào đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương?
5.2 Cần có giải pháp về chính sách phát triển công nghệ như thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ
và vừa tỉnh Hải Dương?
6 Giả thuyết nghiên cứu
6.1 Chính sách “KH&CN đẩy” đã làm giảm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương
6.2 Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương cần thực hiện giải pháp chính sách phát triển công nghệ theo hướng “thị trường kéo”
7 Mẫu khảo sát
Luận văn dự kiến khảo sát 50 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ
và vừa trên địa bàn tỉnh Hải Dương, nhưng trong quá trình khảo sát thì có 5 doanh nghiệp không cung cấp thông tin, như vậy mẫu khảo sát mà Luận văn tiến hành là 45/50 đạt tỷ lệ 90% so với dự kiến Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa trong diện khảo sát có các đặc điểm như sau:
- Quy mô nhân lực: ít nhất là 14, nhiều nhất là 300
Trang 11- Loại hình doanh nghiệp: cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, tư nhân
- Lĩnh vực hoạt động: sản xuất công nghiệp, bao gồm: cơ khí, điện tử, vật liệu xây dựng, may mặc, giầy da, chế biến nông sản, thực phẩm
- Xuất xứ công nghệ: Việt Nam: 17; Trung Quốc: 15; Hàn Quốc: 5; Đài Loan: 2; Đức: 2; Nhật Bản: 2 và còn lại có xuất xứ từ các quốc gia khác
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp định lượng: tác giả Luận văn phát ra 50 phiếu thu thập thông tin, nhưng chỉ thu về được 45/50 phiếu, đạt tỷ lệ 90%
- Phương pháp định tính: tác giả Luận văn đã tiến hành phỏng vấn sâu (bằng cách gửi trước câu hỏi, trực tiếp nghe trả lời) các đối tượng:
+ Chủ hộ gia đình: đối tượng tiếp nhận công nghệ được chuyển giao; + Nhà nghiên cứu công nghệ, nhà quản lý công nghệ;
+ Nhà quản lý doanh nghiệp;
- Phương pháp quan sát: tác giả Luận văn trực tiếp quan sát, thống kê các thông số phục vụ đề tài Luận văn;
- Kế thừa các nghiên cứu đã công bố: Luận văn sử dụng số liệu từ 1 dự
án, 3 đề tài được thực hiện theo kế hoạch KH&CN của tỉnh Hải Dương
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận của Luận văn
- Chương 2 Phát triển công nghệ theo hướng “KH&CN đẩy” trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương
- Chương 3 Phát triển công nghệ theo hướng “thị trường kéo” trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương
Trang 12Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị
pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà
chủ thể quyền lực mong đợi
- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể
quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó
- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động
của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra
- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời
khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)
Trang 13- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một
đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ
thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý
Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa:
Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một
ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích
thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các
đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và
nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói
trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh
Trang 14doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:
- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó
trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn
thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau
- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất
đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực
chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới
những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo
tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển
- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những
biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm
“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó
Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ
có thể một vài cách tiếp cận trong đó
Định nghĩa của Luận văn:
Từ những phân tích trên đây, Luận văn sử dụng định nghĩa Chính sách
là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội [4; tr.29]
Trang 151.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ
Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc
(UNESCO): "Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành
pháp được thực hiện để nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia" Như vậy, theo định nghĩa này thì
chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN
Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là những phương châm, điều
lệ, qui định Đó là những nguyên tắc và qui tắc do một Nhà nước, một ngành, một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định, đặt ra nhằm phát triển KH&CN
Định nghĩa của Luận văn:
Trên cơ sở chính sách mà Vũ Cao Đàm đã định nghĩa [4;31], Luận văn xin đưa ra định nghĩa về chính sách KH&CN như sau:
Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp
Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp
Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới
dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN
Trang 16- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá
nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN
- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã
hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế -
xã hội nói chung
1.2 Triển khai công nghệ và phát triển công nghệ
1.2.1 Khái niệm triển khai công nghệ
Tên của đề tài có cụm từ “phát triển công nghệ”, do đó cần phải phân biệt thuật ngữ này với thuật ngữ “triển khai công nghệ”, vì trên diễn đàn KH&CN hiện đang có tranh luận về vấn đề này
Khoản 4 điều 3 Dự thảo Luật KH&CN viết: Nghiên cứu khoa học bao
gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng Để hiểu về quy định này, trước hết phải xem xét cách tiếp cận để
phân loại nghiên cứu khoa học, như phân loại theo chức năng nghiên cứu, phân loại theo phương thức thu thập thông tin, phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu… Trong đó phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu, bao gồm: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm, gọi chung
là nghiên cứu và triển khai, tiếng Anh viết là Research and Development (viết tắt là R&D) Từ Development trong cụm từ vừa nêu không dịch là phát triển, bởi vì thuật ngữ này có tên đầy đủ là Technical Exprimental Development, sau này cũng được gọi là Technological Exprimental Development Năm 1959, GS
Tạ Quang Bửu đặt thuật ngữ tiếng Việt là “triển khai kỹ thuật”, gọi tắt là “triển khai” Nghĩa của triển khai là “thực nghiệm một lý thuyết khoa học cho nó thành công nghệ”, sản phẩm của nó gồm 3 loại: tạo mẫu (prototype), tạo quy trình, làm thí điểm loại nhỏ (còn gọi là làm “Série 0”) [3; 39]
Qua tìm hiểu thuật ngữ Development trong các tài liệu nước ngoài
[7;29], Luận văn nhận thấy, ví dụ:
- Frascati Manual trong nghiên cứu do OECD công bố viết là “triển khai thực nghiệm” [20;30]
Trang 17- Điều 2 Luật khoa học và chính sách khoa học - kỹ thuật Cộng hòa Liên bang Nga do Duma quốc gia Nga thông qua ngày 12.7.1996 không dùng
từ “phát triển” (Развитие) mà dùng từ “triển khai” (Разработка): “Triển khai
thực nghiệm là hoạt động dựa trên tri thức thu được trong quá trình thực hiện
Trong cuốn Tuyển chọn văn bản Luật KH&CN của một số nước trên
thế giới do Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN dịch [17] Research and Development trong Luật tiến bộ KH&CN của Trung Quốc2 là “nghiên cứu và triển khai”
Như vậy, qua các nghiên cứu trong nước và nước ngoài được công bố, qua văn bản pháp luật về KH&CN của một số quốc gia cho thấy:
- Việc sử dụng cụm từ “nghiên cứu và triển khai” là hợp lý, triển khai công nghệ được hiểu theo nghĩa vừa phân tích ở trên;
- Không thể đồng nhất thuật ngữ “triển khai công nghệ” với thuật ngữ
“phát triển công nghệ”, vì lý do hai thuật ngữ rất khác nhau
Luận văn sẽ phân tích ngay sau đây
1.2.2 Khái niệm phát triển công nghệ
Thuật ngữ “phát triển công nghệ” (Technology Development) mang nghĩa hoàn toàn khác với “Triển khai công nghệ” (Technological Exprimental Development), đây là hoạt động sau nghiên cứu, là quá trình chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, bao gồm:
- Phát triển công nghệ theo chiều rộng (Extensive Development of Technology), còn gọi là “nhân rộng công nghệ” (Diffusion of Technology)
- Phát triển công nghệ theo chiều sâu (Intensive Development of Technology), còn gọi là “nâng cấp công nghệ” (Upgrading of Technology)
Về chính sách tài chính đối với “triển khai” và “phát triển” cũng khác nhau, trong khi “triển khai” được cấp vốn theo nguồn “nghiên cứu và triển
1 “Экспериментальные разработки - деятельность, которая основана на знаниях, приобретенных в
результате проведения научных…”
2 Xin tham khảo thêm chương 5 của Law of the People's Republic of China on Science and Technology
Progress (Adopted at the Second Meeting of the Standing Committee of the Eighth National People's
Congress on July 2, 1993)
Trang 18khai” (R&D), bán sản phẩm “triển khai” được miễn thuế, thì bán sản phẩm
“phát triển” lại phải chịu thuế [3; 41]
Tóm lại, qua tham khảo quan điểm của các nhà nghiên cứu, Luận văn
1.2.3 Mối quan hệ giữa “triển khai công nghệ” với “phát triển công nghệ”
Triển khai công nghệ và phát triển công nghệ thuộc hai công đoạn khác nhau, thuộc hai thời điểm khác nhau như đã phân tích ở trên, nhưng chúng lại
có mối quan hệ với nhau
Phát triển công nghệ theo chiều rộng còn gọi là “nhân rộng công nghệ”
từ khu vực R&D ra thị trường, từ khu vực này của thị trường sang khu vực khác của thị trường, chuyển giao công nghệ thuộc quá trình này Chuyển giao công nghệ có thể diễn ra trong phạm vi thị trường quốc gia và trên phạm vi thị trường liên quốc gia, khu vực
Phát triển công nghệ theo chiều sâu còn gọi là “nâng cấp công nghệ”, việc nâng cấp công nghệ có thể diễn ra ở khâu nghiên cứu (tác giả công nghệ tiếp tục nghiên cứu để nâng cấp công nghệ), nhưng cũng có thể diễn ra khi công nghệ đã được chuyển giao ra thị trường (người sử dụng công nghệ được chuyển giao có quyền cải tiến, nâng cấp công nghệ) Luật chuyển giao công
nghệ đã khẳng định vấn đề này tại điều 17.2.d Quyền được cải tiến công
nghệ, quyền được nhận thông tin cải tiến công nghệ
Như vậy, bên nhận công nghệ có quyền cải tiến công nghệ (việc này diễn ra tại thị trường) và có quyền nhận thông tin cải tiến công nghệ (việc cải tiến này do bên giao, là tác giả công nghệ thực hiện, diễn ra ở khâu R&D)
Qua đó, cho thấy việc phát triển công nghệ có liên quan đến triển khai công nghệ, hay nói cách khác khâu R&D có mối quan hệ với thị trường Khi nhu cầu thị trường đòi hỏi thì có sự đáp ứng của nghiên cứu, đó là nội dung của chính sách “thị trường kéo”
Luận văn sẽ phân tích trong mục dưới đây
Trang 191.3 Chính sách “khoa học và công nghệ đẩy”, chính sách “thị trường kéo” 3
1.3.1 Khái niệm chính sách “khoa học và công nghệ đẩy”
Thuật ngữ KH&CN đẩy (Science and Technology Push) được hiểu là
kết quả nghiên cứu, công nghệ đưa vào sản xuất và tiêu thụ trên thị trường mà không cần tính đến mục đích tồn tại của doanh nghiệp và nhu cầu của người tiêu dùng [19;43]
Để làm rõ hơn khái niệm KH&CN đẩy, trước hết cần khảo sát các triết
lý tồn tại quản lý KH&CN, theo Vũ Cao Đàm thì trong lịch sử khoa học của thế giới có 3 triết lý tồn tại của nền khoa học:
- Triết lý 1: Hoạt động KH&CN xuất hiện thuần túy do nhu cầu nội tại
của các cá nhân hoặc các nhóm tư nhân Nhà nước không có bất kỳ mối quan tâm nào đối với hoạt động KH&CN
- Triết lý 2: Hoạt động KH&CN bắt đầu được các nhà nước quan tâm
Có hai hình thức quan tâm: (1) Nhà nước công bố các chính sách vĩ mô tạo thuận lợi cho hoạt động KH&CN, định hướng ưu tiên thông qua các chính sách vĩ mô; (2) Nhà nước tài trợ một cách không vị lợi cho các hoạt động KH&CN của bất kỳ tổ chức nào trong xã hội Trong cả hai hình thức này, nhà nước không can dự dưới bất kỳ hình thức nào vào các hướng nghiên cứu, trừ trường hợp Nhà nước muốn đặt hàng nghiên cứu để giải quyết một vấn đề nào
đó mà Nhà nước quan tâm Người ta gọi đó là mô hình của một “Thiết chế tự
trị trong khoa học” (Autonomous institution of Science) Đây là triết lý tổ chức
KH&CN phổ biến hiện nay trên thế giới
- Triết lý 3: Nhà nước chỉ huy hoạt động KH&CN thông qua các
chương trình, đề tài các cấp của Nhà nước; Nhà nước thành lập các tổ chức KH&CN “của” Nhà nước; Nhà nước đào tạo “đội ngũ” “cán bộ” KH&CN
“của” Nhà nước; Nhà nước phân bổ ngân sách của Nhà nước cho các tổ chức KH&CN “của” Nhà nước để thực hiện các chương trình/đề tài “của” Nhà nước Đây là triết lý tổ chức KH&CN trong tất cả các nước xã hội chủ nghĩa
3 Khi biên soạn mục này, tác giả Luận văn đã sử dụng bài viết của Vũ Cao Đàm (6.2012): Các giải pháp đột
phá về đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động KH&CN, đưa KH&CN thực sự trở thành động lực
Trang 20KH&CN đẩy là chính sách chủ động “đẩy” KH&CN vào sản xuất và đời sống Chính sách này có giá trị nổi bật trong chiến tranh, khi các chính phủ muốn tận dụng mọi thành tựu KH&CN để tạo ra những vũ khí phục vụ chiến tranh Triết lý này kéo dài từ cách mạng công nghiệp (thế kỷ XVII-XVIII), và nổi bật nhất trong thập niên 1950-1960, nhất là trong thời gian phục hồi kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
Vẫn theo khảo sát của Vũ Cao Đàm, thì:
- Việt Nam hiện vẫn đang đi theo “Chính sách KH&CN đẩy”, với những chương trình/đề tài do Nhà nước chủ trì và do Nhà nước đặt kế hoạch
áp dụng Đó là một chính sách thịnh hành vào những thập niên thuộc nửa đầu thế kỷ XX, nghĩa là về triết lý chính sách KH&CN, Việt Nam đã lạc hậu so với thế giới trên nửa thế kỷ
- Hệ thống KH&CN nước ta là một hệ thống KH&CN do Nhà nước chỉ huy theo triết lý “KH&CN đẩy” trong một hệ thống kinh tế đang chuyển hướng theo thị trường, nhưng lại thêm “định hướng xã hội chỉ nghĩa”, với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nghĩa là vẫn giữ quyền Nhà nước chỉ huy nghiêm ngặt
Sau khi tham khảo từ tài liệu của Martin, Michael J.C (1994) và Vũ Cao Đàm (6.2012) về chính sách KH&CN đẩy, Luận văn đưa ra nhận định:
- Việc nghiên cứu và triển khai được thực hiện theo “kế hoạch” mà không căn cứ vào nhu cầu thực tiễn của thị trường;
- Đa số kết quả nghiên cứu và triển khai trong trường hợp này không đạt hiệu quả kinh tế, một số trong đó không thể đưa vào áp dụng trong đời sống, sản xuất, mà buộc phải “cất vào ngăn kéo”;
- Việc chủ động “đẩy” KH&CN vào đời sống, sản xuất khi kết quả nghiên cứu và triển khai được thực hiện theo “kế hoạch” có thể dẫn đến tình trạng sản phẩm không được thị trường chấp nhận vì không đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
- Khi tuân theo chính sách KH&CN đẩy có thể dẫn đến nguồn kinh phí
để tái đầu tư cho hoạt động KH&CN bị ảnh hưởng, vòng lẩn quẩn lại tác động đến kết quả thấp cho hoạt động KH&CN
Trang 21Tóm lại, chính sách KH&CN đẩy là chính sách chỉ có tác dụng trong
một số trường hợp nhất định, đổi mới có thể khởi đầu bằng “lực đẩy” của KH&CN nhưng điều đó chỉ thành công khi nó đáp ứng được nhu cầu rõ ràng của thị trường hoặc giải quyết một số vấn đề kỹ thuật quan trọng
1.3.2 Khái niệm chính sách “thị trường kéo”
Trong quá trình đổi mới, sức kéo của thị trường có tầm quan trọng đặc biệt Có thể đầu tư nhiều thời gian và tiền của cho công tác nghiên cứu và triển khai để phát triển sản phẩm, nhưng nếu như không nhìn rõ nhu cầu của thị trường thì ngay cả những sáng chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cũng sẽ chỉ nằm trong “ngăn kéo”
Để khảo sát thuật ngữ chính sách thị trường kéo, Luận văn tham khảo nghiên cứu của Vũ Cao Đàm (6.2012) về các thuật ngữ sau đây:
- Công nghệ kéo (Technology Pull/Driven), một chính sách xuất phát từ
nhu cầu công nghệ của sản xuất, và công nghệ sẽ “kéo” khoa học đi theo Chính sách này xuất hiện khi các nhà sản xuất đề xướng triết lý lấy công nghệ để giành thế mạnh cạnh tranh Triết lý này kéo dài suốt nửa cuối thập niên 1960
- Sản phẩm kéo (Product Pull/Driven), triết lý này là sự kế tiếp triết lý
“Công nghệ kéo” Các nhà kinh doanh cho rằng, cái họ cần chính là sản phẩm, chứ không phải là công nghệ Chính từ sản phẩm sẽ kéo công nghệ theo, và đến lượt mình, công nghệ lại kéo khoa học theo Triết lý này diễn ra vào đầu thập niên 1970, và kéo dài đến thập niên 1980
- Thị trường kéo (Market Pull/Driven), là chính sách phát triển trong
điều kiện hệ thống kinh tế thế giới thành một thị trường mở Và thị trường sẽ cuốn hút KH&CN đi theo nó, phục vụ cho các mục tiêu hợp tác và cạnh tranh Chính sách này bắt đầu từ những thập niên 1980-1990 và kéo dài cho đến ngày nay
- Nhu cầu kéo (Demand Pull/Driven), là sự mở rộng của chính sách thị
trường kéo trên quy mô không chỉ trên thị trường, mà trên toàn xã hội
Để khái quát mục chính sách KH&CN đẩy, chính sách thị trường kéo, Luận văn lấy sơ đồ do Martin, Michael J.C [19;44] đưa ra:
Trang 22Bảng 1.1 Sơ đồ tổng quát về “công nghệ đẩy” và “thị trường kéo”
Qua sơ đồ này, Luận văn đưa ra nhận định:
- Ở mô hình công nghệ đẩy: khâu R&D được thực hiện trước tiên, đưa
ra sản phẩm và “đẩy” vào thị trường;
- Ở mô hình “thị trường kéo”: khâu khảo sát nhu cầu của thị trường được thực hiện trước tiên, sau đó mới tiến hành R&D
Tóm lại, sau khi khảo sát quan niệm của Martin, Michael J.C (1994)
và Vũ Cao Đàm (6.2012) về chính sách thị trường kéo, Luận văn đưa ra các nhận định sau đây về chính sách thị trường kéo:
- Đặt nhu cầu của người tiêu dùng, đòi hỏi của thị trường lên trên hết, căn cứ vào đó để “đặt hàng” cho khâu R&D;
- Khâu R&D được tiến hành theo “đơn đặt hàng” của thị trường, bởi vậy sản phẩm của nó có nơi tiêu thụ, không diễn ra tình trạng kết quả nghiên cứu phải “cất vào ngăn kéo”;
- Thị trường tiêu thụ kết quả của khâu R&D, dẫn đến việc mở rộng nguồn kinh phí chi cho tái đầu tư R&D, tác động đến hiệu quả cao cho hoạt động KH&CN
1.4 Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.4.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tiêu chí nhận biết doanh nghiệp nhỏ và vừa là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này trong những năm qua Định
Trang 23nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa phải dựa trước tiên vào quy mô doanh nghiệp Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu , các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát triển khác nhau
Công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20-6-1998 theo đó doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn) Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam phục
vụ cho việc hoạch định chính sách Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp nhỏ và vừa Vì vậy, tiếp theo đó Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa ra chính thức định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa như
sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đó
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”
Về tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Trên thế giới, định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu và quy định khác nhau tuỳ theo từng nơi Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng
Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó chúng thường được dùng làm
cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế
Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó:
- Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế;
- Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn)
cố định, giá trị tài sản cũ;
Trang 24- Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này)
Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
- Trình độ phát triển kinh tế của một nước;
- Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện Do đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chứng trong phân loại các doanh nghiệp nhỏ và vừa giữa các ngành với nhau Trong thực tế, ở nhiều nước, người ta thường phân chia thành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khác nhau
- Vùng lãnh thổ: do trình độ phát triển khác nhau nên số lượng và quy
mô doanh nghiệp cũng khác nhau Do đó cần tính đến cả hệ số vùng để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh quy mô doanh nghiệp giữa các vùng khác nhau
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại điều 3 Nghị định
56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa: Doanh
nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) Cụ thể như sau:
Trang 25Bảng 1.2 Quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa theo lĩnh vực Quy mô
Lĩnh vực
Tổng nguồn vốn Số lao động nguồn vốn Tổng Số lao động
I Nông, lâm nghiệp và
thủy sản
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến 200 người
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
Từ trên 200 người đến 300 người
II Công nghiệp và xây
dựng
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến 200 người
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
Từ trên 200 người đến 300 người
III Thương mại và dịch
vụ
10 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến 50 người
Từ trên 10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
Từ trên 50 người đến 100 người
Luận văn sử dụng một phần của điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó chỉ khảo sát doanh nghiệp thuộc nhóm II trong bảng 2 vừa nêu Cụ thể:
Bảng 1.3 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong diện khảo sát của Luận văn Quy mô
Lĩnh vực
Tổng nguồn vốn Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
Sản xuất công nghiệp 20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến 200 người
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
Từ trên 200 người đến 300 người
1.4.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau:
- Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể;
- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn
Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có
Trang 26- Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy
mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động
- Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh
- Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương
Do vài trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều quốc gia đã chú trọng công tác khuyến khích loại hình doanh nghiệp này phát triển Các
hỗ trợ mang tính thể chế để khuyến khích bao gồm: các hỗ trợ nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi (xây dựng và ban hành các luật về doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo thuận lợi trong cấp giấy phép, cung cấp thông tin, ), những hỗ trợ bồi dưỡng năng lực doanh nghiệp (đào tạo nguồn lực quản lý, hỗ trợ về công nghệ, ), và những hỗ trợ về tín dụng (thành lập ngân hàng chuyên cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay, bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp, ), và những hỗ trợ khác (như mặt bằng kinh doanh)
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), có đến 96% doanh nghiệp đăng ký ở Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa Khối này tạo ra đến 40% tổng sản phẩm quốc nội, tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới mỗi năm, chủ yếu mang lại lợi ích đặc biệt cho nguồn lao động chưa qua đào tạo Trong nhiều năm tới, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn là động cơ chạy chính cho nền kinh tế Việt Nam Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế, là khối này cũng chỉ phát triển mạnh trong những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận khiêm tốn, công nghệ thấp do không có lợi thế về quy mô (tiềm lực tài chính, địa bàn hoạt động, thị phần…) mà thường tập trung vào các vấn đề như lựa chọn mục tiêu kinh doanh phù hợp với khả năng, ổn định, củng cố thị phần đã có hay phát triển thị trường từng bước và có chọn lọc khâu, điểm đột phá thuận lợi nhất Các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn phải tự vận động và liên kết để hợp tác kinh doanh mà thiếu vắng vai trò rõ nét của chính sách nhà nước [18]
Trang 271.5 Năng lực cạnh tranh và năng lực công nghệ
1.5.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Khái niệm năng lực cạnh tranh được nhắc đến rất nhiều nhưng đến nay khái niệm này vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Bởi lẽ năng lực cạnh tranh cần phải đặt vào điều kiện, bối cảnh phát triển của đất nước trong từng thời kỳ Đồng thời năng lực cạnh tranh cũng cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành giữa các doanh nghiệp và cần được thể hiện ra bằng phương thức cạnh tranh phù hợp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững
Về các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của các doanh nghiêp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như thị trường, thể chế chính sách, kết cấu hạ tầng và bên trong doanh nghiệp như tổ chức quản
vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp Cách quan niệm này có thể gặp trong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước như của CIEM (Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế) Cách quan niệm như vậy tương đồng với cách tiếp cận thương mại truyền thống đã nêu trên Hạn chế trong cách quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 28- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa
và dịch vụ trên thị trường thế giới Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc
tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp
“không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng
- Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thức đo duy nhất về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp
- Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo
ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững
Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn chưa được hiểu thống nhất Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:
- Quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh
và trình độ phát triển trong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở
Trang 29tối đa số lượng hàng hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần; còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng
“không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới
- Năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng tranh đua, tranh giành về các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả những phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế [13]
Tóm lại, từ những phân tích trên, Luận văn đưa ra nhận định:
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững;
- Trong nền kinh tế thị trường, khi yếu tố công nghệ được tính đến như một trong các tiêu chí tiên quyết, thì không thể tách rời năng lực cạnh tranh với năng lực công nghệ của một doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp nhỏ và vừa), một doanh nghiệp có năng lực công nghệ yếu chắc chắn sẽ bị thị trường đào thải, dẫn đến phá sản;
- Để nâng cao năng lực cạnh tranh, trước hết doanh nghiệp phải nâng cao năng lực công nghệ của mình
Luận văn sẽ phân tích trong mục sau
1.5.2 Khái niệm năng lực công nghệ
Khái niệm năng lực công nghệ đã xuất hiện vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, nó như một làn sóng mới trong quá trình nhận thức về con đường phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển
Trang 30Trước đó, các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào lựa chọn kỹ thuật và nhập thiết bị kỹ thuật sau đó lựa chọn và nhập công nghệ Hậu quả tiêu cực của nhận thức đó là sự trả giá quá đắt cho công nghệ mua do khả năng nhận biết, nắm vững và triển khai còn quá yếu, công nghệ được sử dụng không thích ứng với nguồn lực, điều kiện, nơi áp dụng và dẫn đến hiệu quả quá thấp
Do công nghệ là hàng hoá đặc biệt, có tính chất ẩn, độ bất định cao, để triển khai và làm chủ công nghệ nhập từ bên ngoài vào, bên nhận phải có trình độ nhận thức, năng lực để giải quyết các hoạt động tự lập, giải quyết sự
cố một cách chủ động mà không hoàn toàn dựa vào bên bán
Trong nhiều năm qua, năng lực công nghệ đã được nhiều tổ chức, nhiều chuyên gia quan tâm và có nhiều công trình đã nghiên cứu về vấn đề này Nhiều chuyên gia cho rằng vấn đề trước mắt không phải chỉ quan tâm đưa ra được một định nghĩa tổng quát, mà chính là phải tìm ra những nhân tố nào quyết định năng lực công nghệ
- Tổ chức phát triển công nghệ của Liên Hiệp Quốc (UNIDO) đã xác
định các yếu tố để xây dựng năng lực công nghệ, bao gồm: Khả năng đào tạo nhân lực; Khả năng tiến hành nghiên cứu cơ bản; Khả năng thử nghiệm các phương tiện kỹ thuật; Khả năng tiếp nhận và thích nghi các công nghệ; Khả năng cung cấp và xử lý thông tin
- Ngân hàng thế giới (WB) trong công trình nghiên cứu đã đề xuất phân chia năng lực công nghệ theo ba nhóm độc lập: 1) Năng lực sản xuất, bao gồm:
Quản lý sản xuất, kỹ thuật sản xuất, bảo dưỡng, bảo quản tư liệu sản xuất, tiếp
thị sản phẩm; 2) Năng lực đầu tư, bao gồm: Quản lý dự án, thực hiện dự án, năng lực mua sắm, đào tạo nhân lực; 3) Năng lực đổi mới, bao gồm: Khả năng
sáng tạo và tổ chức thực hiện đưa kỹ thuật mới vào các hoạt động kinh tế
- C.M Fransman, một chuyên gia trong công trình của mình đã nêu
lên rằng, đối với thế giới thứ ba việc đánh giá năng lực công nghệ phải bao gồm các yếu tố sau:
+ Năng lực tìm kiếm các công nghệ để thay thế, lựa chọn công nghệ thích hợp để nhập khẩu
Trang 31+ Năng lực nắm vững công nghệ nhập khẩu và sử dụng có hiệu quả + Năng lực thích nghi công nghệ nhập khẩu với hoàn cảnh và điều kiện địa phương tiếp nhận
+ Năng lực cung cấp công nghệ đã có và năng lực đổi mới
+ Năng lực thể chế hoá việc tìm kiếm những đổi mới và những đột phá quan trọng nhờ phát triển các phương tiện nghiên cứu và triển khai trong nước
+ Tiến hành nghiên cứu cơ bản để tiếp tục nâng cấp công nghệ
Qua các công trình trên chúng ta rút ra một điều, năng lực công nghệ là kết quả phức hợp của nhiều tác động tương tác Nhưng cần làm rõ và đánh giá được hai yếu tố cơ bản của năng lực công nghệ là khả năng đồng hoá công nghệ nhập khẩu và năng lực nội sinh tạo ra công nghệ Trong đó nhấn mạnh:
a Năng lực đồng hoá công nghệ nhập khẩu, là khả năng nắm vững và thích
nghi công nghệ nhập, tất nhiên phải theo bốn thành phần công nghệ
Ví dụ:
- Không thể làm chủ công nghệ nếu chỉ thụ động nhập phần kỹ thuật Muốn đạt được điều này phải biết thích nghi và nâng cấp phần kỹ thuật với nỗ lực bản thân Mặc dù phần kỹ thuật có thể mua được trên thị trường quốc tế, song khó mua được loại hiện đại phù hợp và sao chép lại ở trong nước
- Phần con người cũng có thể nhập khẩu tạm thời, song kết quả có được năng lực công nghệ hay không còn phụ thuộc vào khả năng lĩnh hội ở trong nước
- Phần thông tin mà các nhà nhập khẩu có được không vượt quá những hướng dẫn thao tác đơn giản, hướng dẫn các hoạt động đơn giản Những thông tin có giá trị, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao không được bán hay chia sẻ với người nhập khẩu
- Phần tổ chức không dễ dàng dập khuôn như ở nước ngoài mà phải sửa đổi, điều chỉnh đáng kể để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh trong nước
b Năng lực phát triển công nghệ nội sinh, là khả năng tổng hợp trong nước
để có thể thích nghi, cải tiến và sáng tạo công nghệ Điều này có nghĩa là có khả năng:
Trang 32+ Triển khai công nghệ đã biết ở một địa điểm nào đó
+ Cải tiến công nghệ đã áp dụng
+ Sáng tạo công nghệ hoàn toàn mới
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu về năng lực công nghệ chỉ
có S.Lall đưa ra được định nghĩa mang tính tổng quát và phù hợp Đó là,
“Năng lực công nghệ quốc gia (ngành, cơ sở) là khả năng triển khai những công nghệ đã có một cách có hiệu quả và đương đầu được với những thay đổi công nghệ lớn”
Theo định nghĩa này có hai mức hoạt động phát triển công nghệ, cũng
là hai cơ sở để phân tích năng lực công nghệ, đó là:
- Sử dụng có hiệu quả công nghệ sẵn có
- Thực hiện đổi mới công nghệ thành công
Khái niệm này cũng đã khái quát được hai mặt cơ bản của năng lực công nghệ mà nhiều chuyên gia đã đề cập là khả năng đồng hoá công nghệ và khả năng phát triển công nghệ nội sinh [6]
1.5.3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa được đánh giá trên các mặt sau đây: tiềm lực tài chính; thị phần; hệ thống sản phẩm, dịch vụ; trình độ công nghệ; trình độ quản lý; nguồn nhân lực; thương hiệu Trong khuôn khổ có hạn, Luận văn xin phân tích các khía cạnh sau đây:
a Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp
Sự phát triển nhanh chóng về mặt số lượng của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa trong những năm vừa qua đã kéo theo sự gia tăng nguồn vốn huy động cho sản xuất Nhưng khó khăn chung hiện nay của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa là thiếu vốn để phát triển Như vậy, với đặc thù của ngành Công nghiệp, có thể thấy được phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa có quy mô vốn nhỏ và đang hoạt động trong tình trạng không đủ vốn Với mức vốn này, các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc đầu tư trang thiết bị, máy móc, công nghệ tiến tiến Đồng thời, quy
mô vốn nhỏ đã làm ảnh hưởng đến việc huy động các nguồn vốn từ bên
Trang 33ngoài Bên cạnh đó, một số hạn chế mà các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa đang gặp phải, đó là hiệu quả kinh doanh chưa cao, công nghệ vẫn đang trong giai đoạn đầu tư, sức cạnh tranh thấp đã có những tác động xấu đến khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay của các doanh nghiệp này Chính từ thực tế
đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
Đa số các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ, vốn ít, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 97% trong hơn 450.000 doanh nghiệp Theo Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam (Vinasme), các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam có vốn dưới 1 tỉ đồng chiếm tới 41% trong khi doanh nghiệp có vốn hơn 10 tỉ đồng chỉ chiếm 13% Phần lớn các chủ doanh nghiệp, giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo một cách bài bản về kiến thức kinh doanh, quản lý kinh tế - xã hội, văn hóa, luật pháp, kỹ năng quản trị kinh doanh, … nhất là kỹ năng kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế, ứng phó với những bất ổn trong môi trường kinh doanh mang tính toàn cầu
b Quy mô nhân lực của doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhìn chung các doanh nghiệp đang trăn trở với một thực trạng chung của lao động trong cả nước đó là tình trạng thừa thầy thiếu thợ, năng lực hành nghề của người lao động chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng Bên cạnh đó, quy mô về lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa cũng là một khó khăn cho các doanh nghiệp này Tỷ lệ lao động chất lượng cao trong các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa còn thấp Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện làm việc, tiền lương, tiền thưởng và các chế độ khác chưa đáp ứng được với yêu cầu của người lao động Phần lớn các doanh nghiệp mới chỉ chú trọng đến lợi nhuận chứ chưa thực sự quan tâm đến tay nghề của lao động, dẫn đến tình trạng trình
độ của người lao động ngày càng giảm sút, khó bắt kịp với khoa học kỹ thuật tiên tiến Chính điều này đã dẫn đến những lao động chất lượng có tâm lý không thích làm việc cho các doanh nghiệp quy mô nhỏ và họ thường tìm cơ hội ở các khu công nghiệp và các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn
Trang 34c Trình độ quản lý của doanh nghiệp
Xét về góc độ quản lý, các doanh nghiệp chịu tốn kém rất nhiều cho việc đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ quản lý, bởi vì đội ngũ lãnh đạo trong các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa chưa được qua đào tạo chiếm một tỷ lệ khá cao Nguồn nhân lực của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa thật đáng báo động Đó là những khó khăn về tình trạng đội ngũ lao động thiếu năng lực và kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm tham gia vào những thị trường mang tính cạnh tranh cao Trong khi đó, lực lượng lao động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ thiếu cả về kỹ năng và chuyên môn kỹ thuật, mà còn yếu cả tính chuyên nghiệp Đây là những thách thức không nhỏ về nguồn nhân lực đối với các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa, nếu không giải quyết tốt bài toán về nguồn nhân lực sẽ khiến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này dần giảm sút trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
d Hoạt động phát triển thị trường
Tuy đã nhận thức được vai trò quan trọng của việc nghiên cứu phát triển thị trường, song các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa với quy mô nhỏ, cơ cấu và năng lực quản lý còn nhiều hạn chế nên phần lớn các doanh nghiệp này ít tiến hành hoặc tiến hành không thường xuyên hoạt động nghiên cứu phát triển thị trường Hiệu quả trong công tác nghiên cứu thị trường còn nhiều yếu kém, dẫn đến tình trạng nhiều thị trường tiềm năng chưa được khai thác, nhiều doanh nghiệp đã bị giảm thị phần hoặc đánh mất thị trường do không đi sâu vào nghiên cứu Chính điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp chế biến Vì vậy, các doanh nghiệp này không chỉ gặp khó khăn khi phải cạnh tranh với môi trường kinh doanh mà còn với thị trường cả nước
e Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm
Chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm là một vấn đề khó đối với các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
Chiến lược phân phối, chiến lược truyền thông và xúc tiến thương mại còn nhiều hạn chế Hoạt động xúc tiến thương mại còn giản đơn, sơ lược và
Trang 35không có hiệu quả thiết thực Các doanh nghiệp mới chỉ chú trọng vào khâu sản xuất sản phẩm mà chưa chú ý nhiều đến các khâu tạo nên giá trị gia tăng, như nghiên cứu và triển khai (R&D), xúc tiến và tiếp thị (P&M)… Hầu hết các doanh nghiệp chưa nhận thức đúng được giá trị và ý nghĩa của xúc tiến thương mại, quảng cáo… Vì vậy, đầu tư về kinh phí, nhân lực và các nguồn lực khác cho quảng cáo rất thấp, tổng thể mới chỉ dưới 1% doanh thu (tỷ lệ này của các doanh nghiệp nước ngoài chiếm khoảng 10% đến 20% doanh thu) Các doanh nghiệp Việt Nam chưa biết khai thác sự kết hợp giữa phương thức cạnh tranh kiểu truyền thống (cạnh tranh bằng giá cả) với phong cách hiện đại như cạnh tranh bằng tư vấn, dịch vụ
h Trình độ công nghệ của doanh nghiệp
Ngoài những khó khăn như đã đề cập ở trên về nguồn nhân lực, vốn là những khó khăn về trình độ công nghệ, trang thiết bị máy móc
Theo điều tra của Sở KH&CN Thành phố Hồ Chí minh, đa số các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình
của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ Thể hiện cụ thể: hơn 70% máy móc thiết bị
đang sử dụng được sản xuất từ những năm 1970; 75% máy móc thiết bị đã hết
thời gian khấu hao; 50% máy móc thiết bị mới tân trang Xét về trình độ công
nghệ, không có doanh nghiệp Việt Nam nào đạt trình độ công nghệ hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế; trong khi đó có 35% và 44% doanh nghiệp có trình
độ công nghệ trung bình, lạc hậu và rất lạc hậu; trình độ công nghệ khá cũng chỉ khiêm tốn ở mức 21% [11]
Vì lý do lạc hậu về công nghệ nên chi phí sản xuất của doanh nghiệp luôn cao hơn chi phí trung bình của thế giới từ 10 - 30%, trong khi chất lượng chưa tương xứng khiến cho hàng hóa của Việt Nam rất khó cạnh tranh với các hàng hóa cùng chủng loại của nước ngoài trên thị trường quốc tế, khu vực và ngay cả thị trường trong nước Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam hoạt động chủ yếu trong các ngành nghề truyền thống Tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực hiện đại chưa nhiều: doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính tín dụng chỉ chiếm 1,46%, kinh doanh tài sản và tư vấn chỉ chiếm 5,73%, khoa học và công nghệ chiếm 0,02% [14]
Trang 36Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố công nghệ đóng vai trò không nhỏ, như đã phân tích
* Kết luận chương 1
Trong chương 1, Luận văn đã phân tích cơ sở lý luận, bao gồm: khái niệm chính sách, chính sách KH&CN, triển khai công nghệ, phát triển công nghệ và mối quan hệ giữa triển khai công nghệ và phát triển công nghệ, trong
đó đã nêu rõ không thể phát triển công nghệ nếu không quan tâm, đầu tư cho khâu nghiên cứu và triển khai (R&D) Đồng thời, đã phân tích khái niệm chính sách “khoa học và công nghệ đẩy”, chính sách “thị trường kéo”, trong
đó nêu rõ sự lạc hậu của chính sách “khoa học và công nghệ đẩy”, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì cần phải tiến hành chính sách
“thị trường kéo” Chương 1 cũng đã phân tích khái niệm năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
Trang 37CHƯƠNG 2
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THEO HƯỚNG “KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ ĐẨY” TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH HẢI DƯƠNG
Tại mục 1.3.1 trong chương 1 của Luận văn, Vũ Cao Đàm đã điểm 3
triết lý tồn tại của nền khoa học, trên cơ sở phân tích triết lý 3: Nhà nước chỉ
huy hoạt động KH&CN thông qua các chương trình, đề tài các cấp của Nhà nước; Nhà nước thành lập các tổ chức KH&CN “của” Nhà nước; Nhà nước đào tạo “đội ngũ” “cán bộ” KH&CN “của” Nhà nước; Nhà nước phân bổ ngân sách của Nhà nước cho các tổ chức KH&CN “của” Nhà nước để thực hiện các chương trình/đề tài “của” Nhà nước, 4 chương 2 của Luận văn sẽ
phân tích 01 đề tài và 01 dự án được triển khai theo mô hình “KH&CN đẩy”, nghĩa là các đề tài/dự án này được nghiên cứu theo kế hoạch, sau khi nghiệm thu sẽ “đẩy” vào áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Mô hình “KH&CN đẩy” thành công ở mức độ nào trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hải Dương? Chương 2 của Luận văn sẽ làm rõ câu hỏi vừa này
2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương
2.1.1 Đặc điểm các doanh nghiệp nhỏ và vừa Hải Dương
Đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa xuất phát trước hết từ chính quy mô của doanh nghiệp Cũng như các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cả nước và trên thế giới, với quy mô nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Hải Dương cũng có những đặc điểm tương tự như ở trong cả nước và các quốc gia khác trên thế giới Ngoài ra, do đặc trưng riêng của nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt
Trang 38
Nam nói chung và ở Hải Dương nói riêng còn có những đặc điểm riêng so với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các quốc gia khác trên thế giới Những đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương thể hiện như sau:
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức tổ chức doanh nghiệp, bao gồm từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và các công ty tư nhân đến các hợp tác xã Trong một thời gian dài, các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau không được đối xử bình đẳng, bị phân biệt đối xử Điều đó ảnh hưởng đến tâm lý, phong cách kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay, đồng thời cũng tạo ra những điểm xuất phát về tiếp cận nguồn lực không như nhau (trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng,…)
- Là những doanh nghiệp có quy mô vốn hoặc lao động nhỏ, đây thường là những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân Đặc điểm này đã làm cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động của mình
- Khả năng quản lý hạn chế: các chủ doanh nghiệp thường là những kỹ
sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập và vận hành doanh nghiệp Họ vừa
là người quản lý doanh nghiệp, vừa tham gia trực tiếp sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao Đôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất Phần lớn những nguời chủ doanh nghiệp đều không được qua đào tạo một lớp quản lý chính quy nào, thậm chí chưa qua một khoá đào tạo nào
- Trình độ tay nghề của người lao động thấp: Các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những người lao động có tay nghề cao do hạn chế về tài chính Bên cạnh đó, định kiến của người lao động cũng như những người thân của họ về các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn khá lớn Người lao động ít được đào tạo, đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp vì vậy trình độ thấp và kỹ năng thấp Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ
Trang 39hội để phát triển thấp tại các doanh nghiệp này cũng tác động làm nhiều lao động có kỹ năng không muốn làm việc cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đó
- Trình độ công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu và triển khai, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có những sáng kiến công nghệ nhưng không đủ tài chính cho việc nghiên cứu và triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc bị các doanh nghiệp lớn mua với giá rẻ Tuy nhiên các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị công nghệ dây truyền thường thấp và thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới công nghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tồn tại trên thị trường
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương một phần thường sử dụng chính diện tích đất riêng của mình làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh và rất khó thuê được các mặt bằng sản xuất Vì vậy, các doanh nghiệp này rất khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh khi quy mô doanh nghiệp được
mở rộng
- Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường là những doanh nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không lớn và họ cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn
2.1.2 Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Hải Dương
Với việc nhà nước chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, cùng với việc tái thành lập tỉnh Hải Dương năm 1997 và đặc biệt là từ khi Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân ra đời (1990), các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dương phát triển mạnh mẽ
Tuy nhiên, cho đến khi Luật Doanh nghiệp 1999 được ban hành (thay thế Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân) thì số lượng doanh nghiệp
Trang 40thuộc khu vực kinh tế tư nhân được tăng lên nhanh chóng Với số lượng các doanh nghiệp được thành lập mới ngày càng tăng nhanh, đóng góp của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng lớn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vì vậy, vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng lớn đối với nền kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương và được thể hiện trên các mặt sau:
- Đóng góp quan trọng vào GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế: doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP do số lượng doanh nghiệp ngày càng lớn và phân bố rộng khắp trong hầu hết các ngành, lĩnh vực (bình quân GDP tăng 9,7%/năm trong giai đoạn 2006-2010) Ngoài
ra, tốc độ tăng trưởng sản xuất của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thường cao hơn so với các khu vực doanh nghiệp khác
- Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: việc nhiều doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập tại các vùng nông thôn tại
12 huyện, thành phố trong tỉnh, đồng thời một phần các doanh nghiệp này được thành lập tại các khu công nghiệp trong tỉnh nên làm giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ Điều này
sẽ giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế theo hướng giảm
tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ
Bảng 2.1 Phân bổ cơ cấu kinh tế tỉnh Hải Dương qua các năm
Đơn vị tính: %
1 Nông lâm nghiệp và thuỷ sản 27,1 26,8 25,5 25,7 24,5 23,1 23,0
2 Công nghiệp và xây dựng 43,6 43,7 44,0 43,8 44,3 45,4 45,6
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương)
Sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp chưa thực sự tích cực theo hướng phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao
và có năng lực lớn, nhưng đến năm 2008 đã hình thành một số ngành công nghiệp quan trọng chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản xuất ngành công