Một số nghiên cứu khác ở địa phương đề cấp đến việc đánh giá kết quả các đề tài, dự án KH&CN, như: - Trương Thành Công 2006, trong đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện đề tài, dự án nghiên
Trang 1ẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐỖ XUÂN HOÀN
BIỆN PHÁP GẮN KẾT MẠNG LƯỚI TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH PHÚ THỌ)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số: 60.34.70
Khóa: 2007 - 2010
HÀ NỘI - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BIỆN PHÁP GẮN KẾT MẠNG LƯỚI TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH PHÚ THỌ)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số: 60.34.70
Khóa: 2007 - 2010
Người thực hiện: Đỗ Xuân Hoàn
Hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Học
HÀ NỘI – 2010
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MẠNG LƯỚI TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 10
1.1 MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC KH&CN VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 10
1.1.1 Hoạt động KH&CN 10
a) Khái niệm khoa học, công nghệ và hoạt động KH&CN 10
b) Khái niệm và đặc trưng của hoạt động NC&TK 12
c) Các loại hình hoạt động NC&TK 12
1.1.2 Năng lực NC&TK 13
a) Khái niệm năng lực NC&TK 13
b) Các yếu tố của năng lực NC&TK 14
1.1.3 Tổ chức KH&CN 15
1.1.4 Mạng lưới các tổ chức NC&TK là một hệ thống 17
1.1.5 Quan điểm chủ đạo trong phân tích mạng lưới các tổ chức nghiên cứu và triển khai 18
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG NC&TK VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 21
1.2.1 Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ 21
1.2.2 Mối quan hệ giữa tổ chức NC&TK với doanh nghiệp 22
a) Tam giác liên kết 22
b) Lợi ích của các thành viên trong tam giác liên kết 24
1.2.3 Mối quan hệ giữa KH&CN với phát triển KT-XH 26
a) Nguyên lý phát triển KT-XH dựa trên KH&CN 26
b) Cơ chế tác động của KH&CN đối với sự phát triển KT-XH 27
1.3 GẮN KẾT HOẠT ĐỘNG NC&TK THEO TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỔI MỚI QUỐC GIA 28
1.3.1 Đổi mới 28
1.3.2 Đổi mới theo mô hình tuyến tính 29
1.3.3 Đổi mới theo mô hình phi tuyến 30
1.3.4 Hệ thống đổi mới quốc gia 31
Trang 4a) Các khái niệm 31
b) Chức năng của Chính phủ trong Hệ thống đổi mới quốc gia 33
c) Cấu trúc của Hệ thống đổi mới quốc gia 33
1.3.5 Chính sách đổi mới với hoạt động NC-TK 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 36
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NC&TK CÁC TỔ CHỨC KH&CN TRÊN ĐỊA BÀN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH 38
2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KT-XH TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2006 -2010 38
2.1.1 Vị trí địa lý và tiềm năng thiên nhiên 38
2.1.2 Phát triển kinh tế - xã hội 39
2.1.3 Nhận định chung 41
2.2 HIỆN TRẠNG KH&CN TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2006 -2010 41
2.2.1 Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN 41
2.2.2 Mạng lưới các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh 42
2.2.3 Về nhân lực KH&CN 44
a) Về số lượng và trình độ: 44
b) Về phân bố lực lượng cán bộ KH&CN: 45
c) Về độ tuổi của cán bộ KH&CN 47
d) Nhận định chung về đội ngũ cán bộ KH&CN 47
2.2.4 Đầu tư cho KH&CN 48
a) Tình hình đầu tư cơ sở vật chất cho tổ chức KH&CN: 48
b) Nguồn thu của các tổ chức KH&CN 50
c) Tổng ngân sách sự nghiệp KH&CN và cơ cấu chi 51
2.2.5 Tác động của hoạt động NC&TK các tổ chức KH&CN đối với sự phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội của tỉnh 53
b) Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp 55
c) Trong nghiên cứu, điều tra tài nguyên và bảo vệ môi trường 57
d) Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn 59
e.) Trong lĩnh vực khoa học quản lý 62
f).Trong lĩnh vực bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cộng đồng 62
g) Trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin 63
Trang 52.2.6 Sơ lược hiện trạng công nghệ của các doanh nghiệp Phú thọ 64
a) Về trình độ công nghệ 64
b) Về nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp 65
2.2.7 Đánh giá chung hoạt động NC&TK các tổ chức KH&CN 66
a) Những ưu điểm 66
b) Những hạn chế và thách thức chủ yếu 67
c) Nguyên nhân của những hạn chế trên 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 70
CHƯƠNG III BIỆN PHÁP GẮN KẾT HOẠT ĐỘNG CỦA MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC KH&CN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ 72
3.1 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020 72
3.1.1 Quan điểm phát triển KT-XH 72
3.1.2 Mục tiêu 73
3.2 NHŨNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KT-XH ĐẶT RA CHO KH&CN TỈNH PHÚ THỌ 75
3.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đòi hỏi sự đóng góp mạnh mẽ của công nghệ 75
3.2.2 Nghiên cứu khoa học phải làm rõ những vấn đề liên quan tới sự phát triển phù hợp với điều kiện đặc thù của Phú Thọ 75
3.2.3 KH&CN phục vụ cho việc phát triển ngành nghề mới 76
3.2.4 KH&CN phục vụ cho các định hướng ưu tiên 77
3.2.5 KH&CN hướng vào phục vụ các sản phẩm mũi nhọn của Tỉnh77 3.2.6 KH&CN phục vụ các vùng kinh tế trọng điểm 78
3.2.7 KH&CN góp phần giải quyết việc làm cho người lao động 78
3.3 CÁC BIỆN PHÁP GẮN KẾT HOẠT ĐỘNG NC&TK CỦA MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC KH&CN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TÊ - XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ 79
3.3.1 Hiện trạng các biện pháp gắn kết hoạt động NC&TK của các tổ chức KH&CN với doanh nghiệp 79
a) Các biện pháp ngoại biên 79
b) Các biện pháp kích cầu 80
c) Các biện pháp kích cung 81
Trang 6c) Về phát triển các tổ chức trung gian, môi giới 85
3.3.2 Đổi mới chính sách gắn kết hoạt động NC&TK với doanh nghiệp85 a) Khuyến khích doanh nghiệp thúc đẩy hoạt động KH&CN 85
b) Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư NCƯD, CGCN, DVTV trên địa bàn 86
c) Thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ 86
d) Tăng cường trợ giúp về thông tin KH&CN 87
e) Xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển KH&CN 87
f) Phát triển nguồn nhân lực KH&CN 87
g) Hỗ trợ thông qua các chương trình mục tiêu 88
h) Phân cấp để Tỉnh chủ động trong việc ban hành chính sách phù hợp với điều kiện của tỉnh 89
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1 KẾT LUẬN 91
2 KHUYẾN NGHỊ 93
2.1 Đối với các tổ chức NC&TK : 93
2.2 Đối với các doanh nghiệp 94
2.3 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan ở địa phương 94
2.4 Về hướng nghiên cứu tiếp theo 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
R&D: Nghiên cứu và triển khai
ĐMCN: Đổi mới công nghệ
NIS: Hệ thống đổi mới quốc gia
Organisation (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn
hoá, của Liên hiệp quốc)
Development (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế)
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
NA: Không khai báo (not avirable)
Trang 8Hoạt động của các tổ chức KH&CN địa phương chủ yếu nhằm phát hiện đặc thù của địa phương và cung cấp căn cứ khoa học để có các quyết định phù hợp với đặc thù đó Thật vậy, không thể ra các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ nếu không có nghiên cứu tổng hợp các yếu tố tiềm năng về thiên nhiên, con người, đặc điểm văn hóa… của tỉnh Tương tự, không thể áp dụng giống lúa do Viện cây lương thực và thực phẩm đồng bằng sông Hồng vào địa bàn tỉnh Phú Thọ nếu không có hoạt động nghiên cứu thích nghi hóa của Trung tâm giống cây trồng Phú Thọ cũng như hoạt động trình diễn, hướng dẫn của hệ thống khuyến nông tỉnh
Nhận rõ vai trò “đi trước một bước”, định hướng của các tổ chức KH&CN, song với một tỉnh còn nghèo như Phú Thọ cần tổ chức như thế nào mạng lưới đó; vấn đề nào tự làm, vấn đề nào cần “đứng trên vai người khổng lồ” và đứng như thế nào là thích hợp nhất1
là các câu hỏi đang được các cấp chính quyền Phú Thọ đặt ra cho Sở KH&CN với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN của tỉnh Đây là một yêu cầu thực tế cần đáp ứng
1
Trường hợp viện nghiên cứu chè với tư cách là viện vùng đông bắc trong mạng lưới quốc gia đặt tại Phú
Trang 91.2 Các chính sách hiện hành chưa thích ứng với tính đa dạng của các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh
Cho đến nay, trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Thọ đã hình thành một mạng lưới đa dạng gồm trên 70 tổ chức KH&CN, bao gồm: tổ chức KH&CN trực thuô ̣c các
bộ, ngành và các tổ chứ c NC&TK, dịch vụ KH&CN, các tổ chức có hoạt động NC&TK củ a tỉnh
Tuy nhiên, việc nhận dạng cụ thể hình thức tổ chức và loại hình hoạt
động trong đó có hoạt động NC&TK, chuyển giao, áp dụng công nghệ v.v vẫn chưa được thực hiện để có chính sách điều tiết khuyến khích các hoạt động này thiết thực phục vụ phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh Có lẽ chính
vì nguyên nhân này mà các chính sách hiện hành chưa đủ sức liên kết mạng lưới trên thành một hệ thống nhằm chung một mục tiêu: phục vụ phát triển của tỉnh Vấn đề đặt ra là: cần thiết phải tìm hiểu hiện trạng hoạt động, hình thức, cách thức tổ chức hoạt động của các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh; những tác động, đóng góp chủ yếu hoạt động của các tổ chức KH&CN cho sự phát triển kinh tế và xã hội tỉnh Phú Thọ; những bất cập của các biện pháp chính sách đang thực thi trên địa bàn tỉnh và nguyên nhân của các hạn chế đó ảnh
hưởng đến các hoạt động của các tổ chức KH&CN này
1.3 Cần thiết một số giải pháp để nâng cao tính hướng đích của các
tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh
Như trên đã nói, mạng lưới tổ chức KH&CN của Phú Thọ khá nhiều về
số lượng, đa dạng về hình thức tổ chức và loại hình hoạt động xét với một tình nghèo, bán sơn địa Sự thiếu liên kết trong hoạt động và thiếu vắng các giải pháp cụ thể đã làm cho hệ thống này được xem là kém hiệu quả Vì vậy, rất cần đề xuất một số giải pháp, nhằm phát huy vai trò quan trọng của hoạt động (NC&TK, dịch vụ, chuyển giao, áp dụng công nghệ…) của các tổ chức này, phù hợp với bối cảnh điều kiện thực tế của tỉnh Phú Thọ Đây là một vấn đề cần thiết được nghiên cứu, xem xét cụ thể, góp phần định hướng đúng đắn hoạt động NC&TK của tỉnh, từng bước gắn kết và đưa các kết quả hoạt động NC&TK vào thực tiễn sản xuất và đời sống (gắn với dân và doanh nghiệp trên
Trang 10địa bàn) Đó cũng là sự điều chỉnh hoạt động của các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh, phát huy vai trò thông qua hoạt động của mình, góp phần quan trọng vào sự phát triển KH&CN, phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh
Với ý nghĩa và những lý do trên, đồng thời với mong muốn vận dụng, khai thác những kiến thức được tiếp cận trong quá trình học tập, nghiên cứu của mình để áp dụng vào giải quyết vấn đề cụ thể của địa phương nói trên,
nhận thấy việc nghiên cứu “Biện pháp gắn kết mạng lưới tổ chức KH&CN
theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương - Trường hợp tỉnh Phú Thọ” là thiết thực, có thể thực hiện được trong khuôn khổ một luận văn
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Liên quan đến chủ đề nghiên cứu này, trong thời gian qua đã có một số
công trình được thực hiện, cụ thể:
- Nguyễn Thanh Thịnh (1986), trong công trình quản lý nhà nước về KH&CN tại các địa phương đã đề cập tới các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý KH&CN ở các tỉnh và một số vùng Tuy nhiên, công trình hầu như không đề cập đến hệ thống các tổ chức KH&CN với tư cách là đối tượng quản lý của các cơ quan này
- Hoàng Xuân Long (2002), đã tiến hành 01 đề tài cấp bộ về quản lý KH&CN của địa phương Các kết quả của đề tài tập trung vào việc cách thức
tổ chức thực hiện đề tài, dự án ở địa phương (cấp tỉnh) từ việc lựa chọn ưu tiên nghiên cứu, tổ chức tuyển chọn, tổ chức thực hiện, nghiệm thu và định hướng
áp dụng v.v…Tác giả đề cập không nhiều đến các tổ chức KH&CN địa phương với tư cách là chủ thể thực hiện các hoạt động NC&NK tại địa phương
- Hoàng Xuân Long (2004), đã có nghiên cứu về đổi mới tổ chức và quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển ở địa phương:Xác định đặc thù và quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển địa phương, đánh giá thực trạng đổi mới quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển địa phương thời gian qua;
đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới quản lý hoạt động nghiên cứu
và phát triển địa phương của nước ta trong thời gian tới
Trang 11- Nguyễn Việt Hòa (2004), nghiên cứu sự cộng tác giữa các tổ chức NC&TK nhà nước với doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Đề tài chủ yếu phân tích mô hình liên kết giữa các tổ chức NC&TK nhà nước
và doanh nghiệp cần hướng đến để phù hợp với yêu cầu hội nhập, đó là mô hình cộng tác thay cho mô hình hợp tác NC&TK trước đây
- Mai Đức Lộc (2005) trình bày cơ sở lý luận, thực tiễn về cơ chế quản
lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ Công trình tập trung vào việc đánh giá thực trạng thực hiện nhiệm vụ KH&CN ở thành phố Đà Nẵng Đề xuất giải pháp đổi mới cơ chế quản lý nhiệm vụ KH&CN của thành phố Đà Nẵng
- Đỗ Nguyên Phương (2007) tập trung nghiên cứu nâng cao chất lượng
và hiệu quả công tác quản lý khoa học và công nghệ địa phương Trên thực tế, công trình là sự tập hơp các chuyên đề về hiện trạng, mô hình, cơ chế chính sách quản lý khoa học và công nghệ địa phương trong nước và nước ngoài
Một số nghiên cứu khác ở địa phương đề cấp đến việc đánh giá kết quả các đề tài, dự án KH&CN, như:
- Trương Thành Công (2006), trong đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện
đề tài, dự án nghiên cứu khoa học - ứng dụng công nghệ của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 1991-2004”, đã đề xuất giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả của hoạt động này Tác giả đã trình bày cơ sở lý luận liên quan và về tiềm lực khoa học công nghệ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Giới thiệu kết quả thực hiện các đề tài,
dự án và hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
- Hồ Văn Tùng (2005), đã lựa chọn phương pháp luận nghiên cứu đánh giá đề tài, dự án Đánh giá cụ thể kết quả và hiệu quả 120 đề tài, dự án cấp tỉnh được thực hiện từ năm 1992-2002 tại Phú Yên; Đánh giá chung về hiệu quả kinh tế xã hội, khoa học công nghệ, thông tin, đào tạo của các đề tài, dự án
đã thực hiện trong 10 năm; Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý đề tài, dự án nghiên cứu - triển khai
- Nguyễn Văn Diễm và cộng sự (2006) trong công trình cấp tỉnh về quy hoạch định hướng phát triển KH&CN đã đề cập đến hệ thống các tổ chức KH&CN tỉnh Phú thọ như là bộ phận hợp thành quan trọng của tiềm lực
Trang 12KH&CN của Tỉnh Phú Thọ Tác giả coi tính liên kết trong hoạt động của các
tổ chức KH&CN trên địa bàn như là điều kiện cần thiết để thúc đẩy các hoạt động của hệ thống này phục vụ phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh Song, trong khuôn khổ một đề tài quy hoạch định hướng, tác giả đã không phân tích một cách đầy đủ các mô hình, các thể loại hoạt động, các bất cập trong chính sách để điều tiết hoạt động của mạng lưới này nhằm gắn kết với mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội của Tỉnh
Một số bài báo khoa học có đề cập đến các tổ chức NC&TK trong hệ thống đổi mới và đổi mới cơ chế, tổ chức và hoạt động của các tổ chức KH&CN… gắn với sản xuất và đời sống ở nhiều góc độ khác nhau
Một số kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn Thạc sỹ, đã đề cập đến khía cạnh khác nhau về tổ chức KH&CN, về chính sách và quản lý KH&CN ở địa phương:
- Trịnh Ngọc Diệu (2000), về Phát triển các tổ chức KH&CN ở nước ta trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế
- Lê Anh Đức (2003) về Những giải pháp chính sách KH&CN trong phát triển du lịch (trường hợp tỉnh Phú Thọ)
- Trần Cẩm Phong (2003) về Hoàn thiện công tác quản lý KH&CN ở cấp tỉnh (trường hợp tỉnh Hà Nam)
Như vậy, trong số các nghiên cứu đã có, một số công trình chủ yếu xem xét ở tầm vĩ mô, hoặc mới chỉ đề cập ở một số khía cạnh liên quan đến chính sách quản lý hoạt động KH&CN, của cơ quan quản lý KH&CN, hoạt động NC&TK qua các đề tài, dự án nói chung ở địa phương Chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể hoạt động của các tổ chức KH&CN với vai trò là chủ thể hoạt động NC&TK và là yếu tố cấu thành của hệ thống đổi mới gắn với doanh nghiệp và người dân theo định hướng phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương Thực tiễn quản lý ở tỉnh Phú Thọ cũng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống và toàn diện vấn đề này
Vì vậy, luận văn định hướng nghiên cứu có hệ thống và toàn diện với
Trang 13mạng lưới các tổ chức KH&CN và những tác động, đóng góp chủ yếu đối với
sự phát triển KT-XH; về những hạn chế, nguyên nhân và những biện pháp gắn kết hoạt động NC&TK của các tổ chức KH&CN theo định hướng phát triển KT-XH phù hợp thực tiễn tỉnh Phú Thọ
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đề xuất những biện pháp phát huy vai trò hoạt động NC&TK của các
tổ chức KH&CN theo hướng gắn kết với sự phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nội dung nghiên cứu: Phân tích thực trạng và đề xuất biện pháp nhằm phát huy vai trò hoạt động NC&TK của các tổ chức KH&CN gắn với sự phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ;
- Khách thể nghiên cứu: Các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ;
- Thời gian (giai đoạn nghiên cứu): Xem xét trong giai đoạn từ năm
2005 đến năm 2009
5 MẪU KHẢO SÁT
Khảo sát cụ thể một số tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh, gồm: Nhóm một số tổ chức KH&CN do tỉnh quản lý và nhóm một số tổ chức KH&CN do Trung ương quản lý
6 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đề tài cần phải trả lời những câu hỏi lớn sau:
Trang 14- Thực trạng hoạt động NC&TK và vai trò, tác động của mạng lưới các
tổ chức KH&CN trên địa bàn với sự phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội, tỉnh Phú Thọ như thế nào?
- Các biện pháp chính sách hiện hành và tác động của chúng đến hoạt động NC&TK và sự gắn kết các tổ chức KH&CN với phát triển KT-XH tỉnh Phú Thọ như thế nào?
- Những biện pháp chủ yếu nào cần đề xuất nhằm gắn kết hoạt động mạng lưới tổ chức KH&CN với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ?
7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Với những câu hỏi lớn trên, dự kiến các giả thuyết sau:
- Hoạt động NC&TK của các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ là khá đa dạng, phong phú cả về cơ cấu trong mạng lưới, hình thức tổ chức hoạt động và đối tượng phục vụ Đã có những tác động, đóng góp đối với
sự phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, chưa phát huy được vai trò với tư cách là yếu tố cấu thành của hệ thống đổi mới gắn với doanh nghiệp và người dân trên địa bàn;
- Những chính sách hiện nay trên địa bàn tỉnh có những hạn chế, bất cập, còn thiếu và yếu, chưa đủ để điều tiết, khuyến khích các hoạt động NC&TK thiết thực thúc đẩy sự gắn kết giữa các hoạt động NC&TK của các tổ chức KH&CN với sự phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ;
- Cần có những giải pháp, chính sách cụ thể, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của tỉnh Phú Thọ mới có thể khắc phục được các khiếm khuyết trên, từng bước gắn kết và đưa các kết quả hoạt động NC&TK của các
tổ chức KH&CN vào thực tiễn sản xuất và đời sống (gắn với dân và doanh nghiệp trên địa bàn), nâng cao tính hướng đích của các tổ chức, góp phần thực hiện định hướng, mục tiêu phát triển KT-XH của tỉnh
8 LUẬN CỨ NGHIÊN CỨU
8.1 Luận cứ lý thuyết
- Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến hoạt động KH&CN: Nghiên
Trang 15nghiên cứu và triển khai); dịch vụ; chuyển giao; áp dụng công nghệ; năng lực NC&TK, năng lực tiếp thu kết quả NC&TK…;
- Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến tổ chức KH&CN: Hệ thống
tổ chức KH&CN; các loại hình tổ chức KH&CN; vai trò của các tổ chức KH&CN…;
- Lý thuyết về hệ thống đổi mới quốc gia, chính sách đổi mới, dự án đổi mới, sản phẩm đổi mới v.v
8.2 Luận cứ thực tiễn
- Hiện trạng mạng lưới các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh;
- Kết quả điều tra, khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động NC&TK của các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh (thông qua nghiên cứu phân tích tài liệu thu thập được và kết quả khảo sát cụ thể một số tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh theo mẫu khảo sát lựa chọn):
+ Thực trạng năng lực các tổ chức KH&CN (theo các yếu tố chính là nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực, cơ chế và tổ chức thực hiện);
+ Các chính sách khuyến khích thúc đẩy hoạt động NC&TK, phổ biến, tiếp thu và áp dụng các kết quả NC&TK và vai trò quản lý nhà nước về KH&CN ở địa phương;
+ Những kết quả, đóng góp, tác động của hoạt động NC&TK các tổ chức KH&CN đối với sự phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội của tỉnh (những ưu điểm, tồn tại, hạn chế);
- Những yêu cầu của thực tiễn sản xuất và đời sống trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của tỉnh Phú Thọ gắn với hoạt động hoạt động NC&TK của các tổ chức KH&CN;
- Thông tin ý kiến về các biện pháp gắn kết của một số tổ chức KH&CN
và cơ quan quản lý Nhà nước liên quan trên địa bàn;
- Những kinh nghiệm trong nước và nước ngoài trong hoạt động NC&TK ở các tổ chức KH&CN…
Trang 169 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
9.1 Phương pháp tiếp cận
9.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp chuyên gia
9.3 Phương pháp xử lý thông tin
10 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được trình bày theo các phần chính sau:
Trang 17CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MẠNG LƯỚI TỔ CHỨC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VÀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
1.1 MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC KH&CN VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1 Hoạt động KH&CN
a) Khái niệm khoa học, công nghệ và hoạt động KH&CN
Khoa học được hiểu là "hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật
chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy"
(theo UNESCO) Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học khác với tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích luỹ
có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học là loại hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và được tiến hành dựa trên những phương pháp khoa học Đây là khái niệm đã được thừa nhận ở phạm vi quốc tế Khái niệm khoa học trong Luật KH&CN cũng có tính tương đồng với khái niệm này
Công nghệ là "hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế
biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ"
(theo ESCAP) [1], [2]
Công nghệ là thuật ngữ đang được sử dụng rộng rãi, nhưng có rất nhiều định nghĩa khác nhau tuỳ theo từng mục đích sử dụng Định nghĩa về công nghệ theo ESCAP có tính bao quát các khía cạnh liên quan đến công nghệ Công nghệ là hệ thống kiến thức, nhấn mạnh bản chất cốt lõi của công nghệ là kiến thức, khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ Công nghệ có khả năng chế biến các nguồn lực thành hàng hoá và dịch vụ, do
đó phải đáp ứng được mục tiêu sử dụng và các yêu cầu về kinh tế để được áp dụng trong thực tế Công nghệ là công cụ, phương tiện, nhấn mạnh đó là sản phẩm của con người và con người có thể làm chủ được nó Công nghệ có thể
là vật thể (thiết bị máy móc), hay còn được gọi là phần kỹ thuật (technoware);
Trang 18con người, phần con người (Humanware); ghi chép, phần thông tin
(Inforware); và thiết chế tổ chức, hay phần tổ chức (Orgaware) [3] Mục tiêu
của công nghệ theo Nawaz sharif là sử dụng tối ưu các kỹ thuật để tác động vào các yếu tố môi trường vật chất, xã hội, văn hóa
Khái niệm công nghệ cũng được quy định trong Luật KH&CN, Luật Chuyển giao công nghệ và nhiều giáo trình về quản lý công nghệ và chuyển giao công nghệ, tuy nhiên còn có sự khác nhau giữa các văn bản này Cũng cần nhấn mạnh rằng, tùy thuộc vào mục tiêu mà người ta đưa ra và vận dụng các khái niệm về công nghệ Ví dụ, để thuận lợi cho việc đàm phán chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, người ta vận dụng định nghĩa của Nawaz sharif với cấu trúc gồm 4 phần nói trên
Hoạt động KH&CN, theo UNESCO định nghĩa là "các hoạt động có
hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật trong mọi lĩnh vực của khoa học và công nghệ, là các khoa học tự nhiên và công nghệ, các khoa học y dược và nông nghiệp, cũng như các khoa học xã hội và nhân văn" [4] Hoạt động
KH&CN theo nghĩa này gồm: Hoạt động nghiên cứu khoa học gồm có nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai (viết tắt tiếng Anh là R&D); Hoạt động chuyển giao tri thức công nghệ; Hoạt động phát triển công nghệ (phổ cập công nghệ sau khi đã làm chủ công nghệ trong sản xuất và nâng cấp công nghệ); Hoạt động dịch vụ KH&CN
Theo Luật KH&CN thì "Hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa
học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ"
Quy định của Luật không làm rõ được bản chất của hoạt động KH&CN, vừa như rất chặt chi tiết, nhưng lại rất lỏng với một quy định chung chung về
“các hoạt động khác” Luận văn chọn cách tiếp cận theo UNESCO, với ý nghĩa
không những chỉ ra các lĩnh vực hoạt động cụ thể mà còn thể hiện được đặc trưng
Trang 19bố và sử dụng các kiến thức khoa học và kỹ thuật [5] Với quan điểm này, khái niệm hoạt động triển khai bao gồm cả sản xuất thử các vật mẫu
b) Khái niệm và đặc trưng của hoạt động NC&TK
Khái niệm NC&TK (hoặc R&D) được định nghĩa theo UNESCO và
OECD là "các hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống để
tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hoá, xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới" [7, 8]
Định nghĩa trên cho thấy các yếu tố đặc trưng cơ bản của hoạt động NC&TK là: Yếu tố sáng tạo; Tính mới hoặc đổi mới (novelty or innovation);
Sự sử dụng phương pháp khoa học; Sự sản sinh ra kiến thức mới Trong đó hai yếu tố có tính quyết định để nhận dạng NC&TK là yếu tố sáng tạo và tính mới hoặc đổi mới
c) Các loại hình hoạt động NC&TK
Hoạt động NC&TK bao gồm NCCB, NCƯD và Triển khai Đây là cách phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu khoa học [6]
Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính,
cấu trúc, động thái của sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với sự vật khác Sản phẩm của NCCB có thể là các phát hiện, phát minh dẫn đến hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học NCCB bao gồm: NCCB thuần tuý (chưa đề cập đến ý nghĩa ứng dụng) và NCCB định hướng (có dự kiến trước mục đích ứng dụng) NCCB định hướng gồm: Nghiên cứu nền tảng (về quy luật tổng thể) và nghiên cứu chuyên đề (về một hiện tượng đặc biệt của sự vật)
Nghiên cứu ứng dụng: là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ
NCCB để giải thích một sự vật; tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp
và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống, có thể là giải pháp về công nghệ,
về vật liệu, hoặc về tổ chức và quản lý Một số kết quả của NCƯD có thể là sáng chế Tuy nhiên kết quả của NCƯD phải qua giai đoạn triển khai mới có thể đưa vào sử dụng được
Trang 20Triển khai (hoặc Triển khai thực nghiệm): là sự vận dụng các quy
luật thu được từ NCCB và các nguyên lý thu được từ NCƯD, để đưa ra các hình mẫu và quy trình sản xuất với những tham số khả thi về kỹ thuật Sản phẩm của triển khai chỉ mới là những hình mẫu khả thi kỹ thuật Để áp dụng được còn phải tiến hành những tính khả thi khác, như khả thi về tài chính,
kinh tế, môi trường, xã hội Hoạt động triển khai gồm có các giai đoạn:
+ Tạo vật mẫu (Prototype): nhằm tạo ra một sản phẩm mẫu, chưa quan
tâm đến quy trình sản xuất và quy mô áp dụng Việc tạo sản phẩm mẫu thường thực hiện trong các phòng thí nghiệm, labô công nghệ
+ Tạo quy trình sản xuất (hoặc QTCN): nhằm xây dựng quy trình sản
xuất sản phẩm mẫu Hoạt động này thường được tiến hành trong các xưởng thực nghiệm thuộc viện, xí nghiệp sản xuất, nhà kính (nghiên cứu nông nghiệp)
+ Sản xuất thử (sản xuất loạt số 0): giai đoạn thử nghiệm cuối cùng nhằm
khẳng định khả năng thực thi quy trình chế tạo và áp dụng trong sản xuất
So sánh với Luật KH&CN, cách phân loại nêu trên có điểm khác nhau về
thuật ngữ được sử dụng Trong Luật KH&CN không sử dụng "triển khai" mà là
"phát triển công nghệ", để chỉ các hoạt động làm thực nghiệm, sản xuất thử…
Trong Luận văn sử dụng thống nhất khái niệm "triển khai" vì thuật ngữ này có nội hàm phù hợp hơn để chỉ một giai đoạn của hoạt động nghiên cứu khoa học, là loại hình hoạt động có đặc trưng riêng và có chính sách tài chính riêng khác với các hoạt động phát triển khác [6]
1.1.2 Năng lực NC&TK
a) Khái niệm năng lực NC&TK
Năng lực NC&TK (hay năng lực R&D) là năng lực để tiến hành các hoạt động NC&TK nhằm tạo ra và ứng dụng các kết quả NC&TK vào thực tiễn Năng lực NC&TK thể hiện qua các yếu tố nguồn lực đầu vào của hoạt động NC&TK, chính là nguồn lực tạo nên sức mạnh của hoạt động NC&TK
và đảm bảo sự thực thi các ý tưởng nghiên cứu [6]
Năng lực ứng dụng kết quả NC&TK cũng bao gồm các yếu tố nguồn
Trang 21tiễn sản xuất, đời sống và mang lại các hiệu quả về khoa học, công nghệ, kinh
tế, xã hội
Năng lực NC&TK, tiếp cận ở góc độ liên quan đến năng lực công nghệ,
là một yếu tố cấu thành năng lực công nghệ cùng với các yếu tố khác như hạ tầng thông tin, hạ tầng công nghiệp, năng lực thực hiện các dịch vụ kỹ thuật
b) Các yếu tố của năng lực NC&TK
Với cách tiếp cận theo các yếu tố đầu vào của hoạt động NC&TK, năng lực NC&TK thường được xem xét trên các yếu tố cơ bản là nhân lực, tài chính, thông tin KH&CN và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ NC&TK [5] [10]
- Về nhân lực, năng lực NC&TK của một tổ chức thể hiện qua số
lượng, cơ cấu về trình độ chuyên môn, về biên chế ( chính nhiệm, kiêm nhiệm, hợp đồng), về giới tính của nhân lực tham gia hoạt động NC&TK và khả năng đáp ứng các yêu cầu của hoạt động này Theo OECD, nhân lực NC&TK
là toàn bộ những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động NC&TK và những người thực hiện các dịch vụ trực tiếp cho hoạt động NC&TK như cán
bộ quản lý, cán bộ hành chính, nhân viên văn phòng trong đơn vị NC&TK [8] Ngoài ra năng lực về nhân lực còn được thể hiện qua việc phối hợp sử dụng nhân lực (chuyên gia) ở bên ngoài và tình hình đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhân lực bên trong tổ chức
- Về thông tin KH&CN, năng lực NC&TK biểu hiện qua nguồn thông
tin được dự trữ, cập nhật, sử dụng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đi kèm để phục vụ cho việc quản lý, sử dụng nguồn thông tin đó Ngoài ra năng lực về thông tin còn thể hiện qua mức độ cập nhật, sử dụng, tính đa dạng và độ tin cậy của nguồn cung cấp thông tin đầu vào Nguồn thông tin KH&CN có thể gồm một
số loại như sau:
+ Thông tin nguyên liệu như sách, báo cáo khoa học trong và ngoài ngành, số liệu thống kê, các tài liệu về chuyên ngành KH&KT có liên quan, các
sổ tay tiêu chuẩn về kinh tế - kỹ thuật, các văn bản chính sách của Nhà nước
Trang 22+ Thông tin về phương pháp như các tài liệu về phương pháp nghiên cứu và xử lý dữ liệu khoa học chuyên ngành và ngoài ngành, hoặc về các phương pháp có thể sử dụng cho hoạt động NC&TK
+ Thông tin về các nguồn lực như thông tin về các tổ chức KH&CN và nguồn nhân lực có thể phối hợp trong NC&TK, về các nguồn tài chính, các tổ chức tài trợ có tiềm năng có thể khai thác phục vụ hoạt động NC&TK
- Về tài chính, năng lực NC&TK biểu hiện qua khả năng huy động các
nguồn kinh phí để đầu tư cho hoạt động NC&TK và mức độ đáp ứng yêu cầu của hoạt động này Tính đa dạng của các nguồn kinh phí là yếu tố thể hiện sức mạnh và tính năng động của tổ chức biết khai thác các nguồn lực tài chính khác nhau để phát triển năng lực nghiên cứu Các nguồn tài chính ở đây có thể
là từ ngân sách Nhà nước, từ hoạt động của tổ chức, từ các tổ chức tài trợ trong và ngoài nước, từ các hợp đồng NC&TK và chuyển giao công nghệ với các đối tác khác
Ngoài ra các phương thức cấp phát và thanh toán, việc hình thành Quỹ phát triển KH&CN, cũng là yếu tố giúp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính trong hoạt động NC&TK
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ NC&TK, năng lực NC&TK
được thể hiện chủ yếu qua việc tổ chức các cơ sở phục vụ NC&TK như các phòng thí nghiệm, labô công nghệ, cơ sở thực nghiệm, sản xuất thử, gia công, chế tạo, thử nghiệm, giám định chất lượng sản phẩm (từ sản xuất thử)…; tình hình đầu tư trang thiết bị phục vụ NC&TK tại các cơ sở này và mức độ đáp ứng yêu cầu hoạt động NC&TK Bên cạnh đó khả năng phối hợp với các cơ sở bên ngoài qua các hình thức thuê thiết bị, đặt hàng hoặc hợp tác thực hiện… cũng là yếu tố góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của tổ chức
Trang 23đại học); Tổ chức dịch vụ KH&CN Trong đó, tổ chức NC&TK được tổ chức
dưới các hình thức như: viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và cơ sở khác Theo mục tiêu, quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động, các tổ chức này chia thành 03 cấp: Cấp quốc gia; cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp cơ sở
Cũng theo Luật KH&CN, các tổ chức nghiên cứu và phát triển, các trường đại học đều có hoạt động NC&TK Vì vậy để thuận lợi Luận văn sử dụng thống nhất thuật ngữ Tổ chức NC&TK chung cho các đơn vị có tiến hành hoạt động NC&TK Cần lưu ý rằng, việc gọi tắt này không loại trừ chức năng đào tạo của các tổ chức NC&TK và không loại trừ các trường đại học và cao đẳng ra khỏi danh mục các tổ chức KH&CN
Theo UNESCO thì tổ chức NC&TK là đơn vị cơ sở trong nền sản xuất
xã hội, được chuyên môn hoá để thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học
và triển khai kỹ thuật một cách thường xuyên và có tổ chức
Theo Y.de HEMPTINE trong cuốn "Những vấn đề then chốt của Chính sách Khoa học và kỹ thuật" thì tổ chức NC&TK là các tổ chức tiến hành các hoạt động khoa học-kỹ thuật một cách thường xuyên và có tổ chức Các hoạt động khoa học-kỹ thuật có thể do các tổ chức NC&TK Nhà nước hoặc tư nhân thực hiện Thuật ngữ tổ chức bao hàm một giải rộng các chủ thể có tư cách pháp nhân như viện, viện hàn lâm, trường đại học, hiệp hội, trung tâm, xưởng thực nghiệm v.v
Theo Bách khoa toàn thư Liên xô (cũ) thì tổ chức NC&TK là các cơ quan tiến hành nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật "là hình thức tổ chức cơ bản để thực hiện hoạt động khoa học một cách có tổ chức" ở đại đa số các nước trên thế giới
Ở Việt nam, tổ chức NC&TK được xác định trong Nghị định 35-HĐBT ngày 28 tháng 2 năm 1992 Đó là các tổ chức chuyên thực hiện các nhiệm vụ: nghiên cứu, thực nghiệm, triển khai áp dụng các công nghệ mới, các kỹ thuật mới, các sản phẩm mới, các phương pháp mới và biện pháp tổ chức mới; sản
Trang 24xuất đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ các sản phẩm mới với trình độ công nghệ cao
mà các cơ sở sản xuất chưa có điều kiện thực hiện; thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ về khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý
Tuy nhiên, hiện vẫn tồn tại một quan điểm coi tổ chức NC&TK là đơn
vị hành chính sự nghiệp và vì vậy nó được điều chỉnh bởi các chế độ của một đơn vị hành chính sự nghiệp Điều này ảnh hưởng nhiều đến việc tự do hoá hoạt động cũng như đa dạng hoá loại hình tổ chức của mạng lưới tổ chức NC&TK
Theo cách nhìn của luận văn thì tổ chức NC&TK là chủ thể có tư cách pháp nhân đầy đủ, chuyên sản xuất các sản phẩm khoa học và công nghệ mới, chuyển giao và áp dụng các sản phẩm đó vào sản xuất, đời sống; giáo dục và đào tạo; thực hiện các dịch vụ KH&CN và các dịch vụ khác mà pháp luật
không cấm
Với cách tiếp cận trên, tổ chức NC&TK là các chủ thể tiến hành hoạt động NC&TK, bao gồm các viện, trung tâm nghiên cứu, trường cao đẳng, đại học, phòng thí nghiệm, cơ sở sản xuất thử, cơ sở NC&TK trong các DN Đây
là loại hình tổ chức thực hiện hoạt động nhằm sản xuất ra các sản phẩm đặc thù: sản phẩm KH&CN để phục vụ cho nhu cầu xã hội Không phụ thuộc vào thành phần kinh tế, cấp trực thuộc, lĩnh vực KH&CN, tổ chức NC&TK có chức năng thực hiện một hoặc nhiều khâu của chu trình “Nghiên cứu - Sản xuất” như NCCB, NCƯD, triển khai thực nghiệm, dịch vụ KH&CN [9]
1.1.4 Mạng lưới các tổ chức NC&TK là một hệ thống
Thuật ngữ "mạng lưới" tổ chức NC&TK đã được dùng rộng rãi trong
ngôn ngữ khoa học và các văn bản pháp quy Nhưng cho đến nay nó vẫn chưa được hiểu nhất quán và vì vậy nó được dùng với nhiều ngữ nghĩa khác nhau Trong luận văn này, mạng lưới được hiểu là một tập hợp chỉnh thể các tổ chức KH&CN liên kết với nhau thông qua các hình thức quan hệ khác nhau, bao gồm: kinh tế, khoa học, tổ chức - khoa học, thông tin, pháp lý, chính thức, phi chính thức, Ngoài ra, tập hợp đó được định hình về cơ cấu và xác định theo không gian
Trang 25Sự phát triển của mạng lưới tổ chức NC&TK được đặc trưng bởi: số lượng các tổ chức theo loại hình, theo ngành khoa học, theo ngành kinh tế; mức độ tập trung hoá, chuyên môn hoá (theo số cán bộ, quy mô tài chính, mức
độ kiểm soát - tầm quét của cơ quan đối với những vấn đề nghiên cứu ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác); tính chất và hình thức phân bố theo vùng lãnh thổ, tương quan giữa sự phát triển các tổ chức NC&TK với cơ cấu khoa học - hệ thống tri thức, với hình thức và trình độ phục vụ khoa học, với mức độ liên kết khoa học - đào tạo - sản xuất - thị trường,
Sự hình thành và phát triển của toàn bộ mạng lưới tổ chức KH&CN liên quan rất chặt chẽ với lịch sử hình thành và phát triển của các bộ phận hợp thành của nó, song không trùng lắp lẫn nhau Vấn đề là ở chỗ, mạng lưới các
tổ chức NC&TK không thuần tuý là “tổng số” các bộ phận hợp thành tại một thời điểm nào đó của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, mà là sự thống nhất chỉnh thể, một hệ thống có tổ chức nhất định
Nhiều thế kỷ qua, các tổ chức NC&TK xuất hiện và phát triển tách biệt nhau do các nhu cầu riêng Vì vậy, toàn bộ tập hợp các tổ chức NC&TK lúc bấy giờ không được xem như là một hệ thống thống nhất Chỉ sau khi tính tập thể trong nghiên cứu khoa học tăng lên do nhu cầu cần giải quyết những vấn
đề to lớn của đất nước, của thế giới mới dẫn đến sự phát triển của các quan hệ hiệp tác giữa các tổ chức KH&CN Đó là nguyên nhân để mạng lưới trở thành một tập hợp chỉnh thể - một hệ thống Thuật ngữ mạng lưới dùng dưới đây được hiểu theo nghĩa như vậy
Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng Nhà nước (Chính phủ) ở bất kỳ thể chế nào, cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển mạng lưới khoa học quốc gia cũng như trong khu vực và trên thế giới
1.1.5 Quan điểm chủ đạo trong phân tích mạng lưới các tổ chức nghiên cứu và triển khai
Việc phân tích sự phát triển của mạng lưới tổ chức NC&TK của bất kỳ quốc gia nào cũng cần phải căn cứ vào một số tiêu chuẩn về "độ phủ" của nó
Trang 26Ví dụ, sự tương hợp giữa cơ cấu tri thức và cơ cấu mạng lưới một trong các tiêu chuẩn về "độ phủ" hay còn gọi là tầm quét của mạng lưới
Dựa vào tính chất và giới hạn của cơ cấu KH&CN ở một nước, ta có thể đánh giá mức độ tương hợp của mạng lưới với nội dung và đặc điểm của các lĩnh vực KH&CN đang được nghiên cứu Nói cách khác một trong các dấu hiệu cho phép ta đánh giá mức độ hợp lý của mạng lưới là số lượng tổ chức NC&TK có vai trò trọng yếu tương ứng trong các lĩnh vực khoa học mũi nhọn (ưu tiên) của đất nước
Cách mạng công nghệ hiện đại đã và đang ảnh hưởng to lớn tới động thái và sự thay đổi cơ cấu của mạng lưới tổ chức NC&TK của tất cả các nước trên thế giới đặc biệt là các nước chậm phát triển như nước ta Sự ảnh hưởng này thật là đa dạng và không phải khi nào cũng có thể quan sát rõ được
Thật vậy, chính sách chuyển giao công nghệ đã và đang đặt trước chúng
ta một sự lựa chọn chiến lược: hoặc vẫn giữ nguyên chiến lược phát triển tổng thể đã ghi trong Nghị quyết 37-TW vào năm 1981 hoặc lựa chọn chiến lược thích nghi (lấy nhập công nghệ làm chủ)
Tuy nhiên, cho dù sự ảnh hưởng đó hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các yếu tố kinh tế, chính trị, cơ cấu của mạng lưới vẫn phải đáp ứng các yêu cầu và phù hợp với các xu thế phát triển khách quan của cách mạng công nghệ hiện đại Mạng lưới phải được xây dựng và thay đổi sao cho đáp ứng các nhu cầu tự thân của nền KH&CN nước nhà cũng như của nền kinh tế và xã hội
Khi xem xét tổ chức mạng lưới các cơ quan KH&CN, điều quan trọng
là phải phân tích mức độ tập trung và phi tập trung của nó Nói cách khác,
cần xem xét hệ số tự do của các bộ phận hợp thành của hệ thống Điều đó rất cần thiết và đặc biệt cần thiết ở nước ta khi mà sự tách nhập các cơ quan chủ quản thường xuyên xảy ra, khi mà đang có những bước chuyển ban đầu sang nền kinh tế thị trường
Kinh nghiệm cho thấy đây là vấn đề quan trọng nhưng rất ít được để tâm nghiên cứu Sự phi tập trung quá độ cũng nguy hại chẳng kém gì sự tập
Trang 27lớp tương ứng bởi vì chỉ có như vậy mới đảm bảo được nhịp độ phát triển nhanh cho KH&CN
Sự cần thiết phải điều hoà phối hợp hoạt động của toàn bộ mạng lưới với tất cả các thành viên của nó và bởi các nguyên nhân sau:
Thứ nhất- do những nhu cầu nội tại của khoa học (sự phức tạp, đa diện
của các chương trình nghiên cứu đòi hỏi phải liên kết rất nhiều tập thể nghiên cứu lớn, thiết bị quý hiếm cần phải sử dụng chung, );
Thứ hai- cần phải phối hợp lao động nghiên cứu với các lĩnh vực hoạt
động xã hội khác, trước hết là với sản xuất: công nghiệp, nông nghiệp, giáo dục, Điều đó bao gồm cả sự trao đổi kinh nghiệm giữa cộng đồng quốc tế, sự liên kết các nỗ lực đa quốc gia để giải quyết những vấn đề khó khăn, chi phí lớn
Trong sản xuất công nghiệp, xu hướng tiêu chuẩn hoá và thống nhất hoá tuyệt đối cụm linh kiện, các thành phần công nghệ, các quá trình công nghệ là biểu tượng của tiến bộ, là sự khắc phục những tàn dư của lối làm ăn nhỏ, phương thức thủ công Còn trong hoạt động KH&CN thì hoàn toàn khác, sự nhất thể hoá cứng nhắc các tập thể khoa học làm giảm tính năng động và năng suất lao động của họ Theo quan điểm này thì xu thế định biên (để cấp kinh phí thường xuyên) đối với viện nghiên cứu hiện đang tồn tại trong thực tế quản lý ở nước ta cũng cần phải bàn lại
Tựu trung lại, mọi phân tích trong luận văn đều dựa trên quan
điểm chỉ đạo cho rằng: dù ở giác độ nào, mạng lưới các tổ chức NC&TK
không phải là sự liên kết cơ học mà là một cơ thể sống với các quy luật hình thành và phát triển riêng có Mọi thành phần tạo hệ của nó không phải là những “phần” thuần tuý có thể đổi chỗ cho nhau hoặc cắt bỏ mà không đau đớn “kể cả khi nó là ung nhọt”, đó là những tế bào của một tổ chức phức tạp, tinh tế và cực kỳ nhạy cảm
Nói như vậy có nghĩa là:
- Mạng lưới các tổ chức NC&TK là một hệ thống và cũng như bất kỳ
một hệ thống xã hội nào, nó có khả năng đặt cho mình mục tiêu, có khả năng tự
Trang 28điều chỉnh, tự thích nghi Mục tiêu cao nhất của hệ thống này là phục vụ các mục tiêu phát triển KT-XH với tư cách là môi trường hoạt động của hệ thống
- Cũng nhƣ tất cả các hệ thống có tổ chức, mỗi tổ chức trong mạng
lưới là một phân hệ độc lập tương đối, hoạt động để đạt mục tiêu riêng khác với mục tiêu chung của toàn hệ và của các thành phần khác Mỗi một phân hệ đều cần có bộ phận quản lý riêng thể hiện qua các chế định pháp lý về hoạt động của mình, ví dụ như chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức v.v
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG NC&TK VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.1 Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ
Giai đoạn ban đầu của lịch sử phát triển KH&CN, công nghệ phát triển trên cơ sở các kinh nghiệm tích luỹ được và qua đó kích thích khoa học phát triển để giải thích những kinh nghiệm đó Từ cuộc cách mạng công nghiệp ở cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, nhiều lĩnh vực, ngành công nghệ rất xa nhau đã có sự tăng trưởng phi thường dựa trên các nền tảng thành tựu của khoa học Tại thời điểm đó, đã hình thành
xu hướng công nghệ đi sau khoa học, ngược lại với quá trình trước kia Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ đã trở nên rõ nét, gắn bó hơn và hình thành hai cách tiếp cận: i) có thể tìm kiếm cơ hội triển khai công nghệ mới từ các phát triển trong nghiên cứu khoa học; ii) sự triển khai giải pháp công nghệ mới nhằm đáp ứng một nhu cầu KT-XH sẽ kích thích các nghiên cứu khoa học Việc áp dụng các thành tựu khoa học giúp rút ngắn được thời gian triển khai các công nghệ mới Về phần mình, công nghệ lại cung cấp phương tiện giúp nâng cao năng lực, rút ngắn thời gian trong nghiên cứu khoa học
Như vậy quan hệ giữa khoa học và công nghệ là mối quan hệ hữu cơ giữa hai lĩnh vực không tách rời nhau, cùng tác động vào nhau và thúc đẩy nhau phát triển Tuy nhiên cũng cần lưu ý đến những điểm khác biệt nhau giữa khoa học và công nghệ Theo PGS.TS Vũ Cao Đàm, có các điểm khác nhau
cơ bản như sau:
Trang 29- Tri thức về khoa học là tri thức hiểu: Hệ thống tri thức về quy luật sự vật Tri thức về công nghệ là tri thức làm: hệ thống tri thức về các giải pháp hành động
- Sản phẩm của khoa học khó định hình trước Sản phẩm của công nghệ được xác định trước theo thiết kế, nếu sai so thiết kế bị xem là phế phẩm
- Hoạt động khoa học luôn đổi mới, có kế thừa, không lặp lại Hoạt động của công nghệ lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm
- Quá trình hoạt động khoa học mang tính xác suất, có tính rủi ro Quá trình hoạt động của công nghệ mang tính tin cậy cao trên cơ sở một quy trình
đã được nhà chế tạo chuẩn hoá và được người sản xuất làm chủ
- Sản phẩm khoa học (phát minh, phát hiện) tồn tại mãi với thời gian Sản phẩm công nghệ (sáng chế) tồn tại nhất thời và tiêu vong theo sự tiến bộ
kỹ thuật
- Lao động khoa học mang tính linh hoạt và sáng tạo Lao động công
nghệ được định khuôn chặt chẽ theo quy trình
1.2.2 Mối quan hệ giữa tổ chức NC&TK với doanh nghiệp
a) Tam giác liên kết
Khái niệm tam giác liên kết được sử dụng khi xem xét mối quan hệ giữa nghiên cứu lý thuyết với sản xuất, ứng dụng được thực hiện chủ yếu tại các trường đại học hoặc tại các viện hàn lâm Mối quan hệ này có thể hình dung qua tam giác liên kết [12] dưới đây:
SX
NC ĐT
Hình 1 Tam giác liên kết NC - ĐT - SX
Hầu hết các xí nghiệp công nghiệp tại các nước công nghiệp mới và đang phát triển hiện nay đều có quy mô vừa và nhỏ Năng lực công nghệ của
họ (tự tạo hoặc thích nghi) trên thực tế phụ thuộc vào sự hỗ trợ của hạ tầng công nghệ quốc gia Công nghệ nào cần mua, công nghệ nào có thể tự tạo
Trang 30cũng phụ thuộc vào thiết chế của hạ tầng cơ sở đó Hạ tầng cơ sở này được thiết lập nhằm tạo ra sự đổi mới thông qua tam giác liên kết giữa các viện nghiên cứu hàn lâm (đào tạo công nghệ và nghiên cứu lý thuyết), các tổ chức NC&TK
và các DN Sự kết hợp này được gọi là tam giác nghiên cứu công nghiệp và bản thân nó có vai trò cực kỳ to lớn trong sự nghiệp thúc đẩy KH&CN
Tuỳ thuộc vào mục tiêu phân tích, ta có thể gọi đó là tam giác liên kết (Triangular linkages) hoặc tam giác đổi mới (Innovation triangle) hoặc tam giác công nghiệp (Industrial triangle)
Kết quả (xét theo phương diện đổi mới công nghệ) do có sự liên kết chặt chẽ trong tam giác nghiên cứu giữa khoa học và sản xuất bao gồm các dạng sau đây:
- Đổi mới quá trình - sản phẩm;
- Đổi mới tri thức - kỹ năng;
- Đổi mới phương pháp - đóng gói
Trong tam giác liên kết, sự tham gia của các tổ chức hỗ trợ như tổ chức tài chính (cơ quan hỗ trợ đầu tư, ngân hàng đầu tư mạo hiểm), các tổ chức kỹ thuật (đánh giá, kiểm định và bảo hộ chất lượng, tiêu chuẩn hoá v.v ) hoặc các tổ chức dịch vụ thông tin, tư vấn) là rất cần thiết để hỗ trợ cho các quá trình đổi mới trên Các tổ chức hỗ trợ này có thể là tổ chức thuộc khu vực Nhà nước hoặc khu vực tư nhân
Mối quan hệ giữa ba khu vực nghiên cứu, đào tạo và sản xuất thường được thể hiện thông qua các hoạt động như:
- Các hoạt động đào tạo: Thực tập; nâng cao; hội thảo, hội nghị v.v
Trang 31Mối quan hệ giữa ba khu vực trên cũng có thể tồn tại dưới dạng các hình thức tổ chức như: Các liên hiệp khoa học - sản xuất; viện tổng hợp; các tổ chức phối thuộc giữa khoa học - đào tạo - sản xuất; công viên khoa học, công viên công nghệ, công viên công nghiệp; các viện liên hợp (một dạng của công viên khoa học – science park)
Thể loại liên kết có thể được phân chia tương ứng với mức độ phức tạp của các quan hệ trong tập hợp hoặc quan hệ theo cặp Tuy nhiên, các mối liên kết có thể là chính thức và phi chính thức Liên kết chính thức thường là các liên kết dẫn đến xây dựng tổ chức Mọi hành động sau đó thường được thực hiện trên cơ sở "hợp đồng hoặc thoả thuận chung" Liên kết phi hình thức thường là các liên kết cá nhân, đơn hành dựa trên cơ sở lòng tin lẫn nhau và tiếp cận cá nhân
b) Lợi ích của các thành viên trong tam giác liên kết
Trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức sản xuất, kinh doanh là ba thành viên chính trong tam giác liên kết Trường đại học có chức năng chính
là đào tạo, nghiên cứu và phục vụ xã hội Hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ xã hội, đồng thời đem lại nguồn thu cho trường Nhân lực KH&CN với những tập thể nghiên cứu mạnh là hạt nhân tích cực trong việc thúc đẩy hoạt động KH&CN và góp phần hoàn thành tốt chức năng trên của trường
Viện nghiên cứu có chức năng chính là nghiên cứu, đào tạo, hoạch định các chính sách và phục vụ xã hội Như vậy, nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ được chú trọng hàng đầu, là hoạt động được đầu tư chủ yếu cả về nhân lực, vật lực, tin lực và tài lực
Chức năng của doanh nghiệp là sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Để có được các sản phẩm có tính cạnh tranh, được thị trường chấp nhận thì doanh nghiệp phải đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và triển khai
Như vậy, các tổ chức NC&TK cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng
và các bí quyết kỹ thuật (know - how), trong khi các tổ chức SX-KD đáp ứng
Trang 32phương tiện và cơ hội ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, tạo ra sản phẩm xã hội cần với giá cả hợp lý
Đối với các tổ chức NC&TK trong đó có trường đại học, mối liên kết trên có thể nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ nguồn vốn nghiên cứu mà tổ chức kỹ thuật và sản xuất hỗ trợ Mối quan hệ đó cũng giúp cho các định hướng nghiên cứu mang tính lý thuyết hướng vào thực tiễn nhiều hơn, nhằm phục vụ nhu cầu thực tiễn Điều này rất quan trọng cho việc phát triển đội ngũ, nâng cao nguồn lực thông qua giảm giá công nghệ chuyển giao, đồng thời cũng hướng các nghiên cứu tập trung hơn nữa tới nhu cầu của thị trường nhằm tạo ra các công nghệ có thể chuyển giao được
Mối liên kết có hiệu quả trong tam giác nghiên cứu sẽ giúp ích nhiều cho những nhà hoạch định chính sách sản xuất kinh doanh Lợi ích mà khu vực sản xuất có được trong mối liên kết với trường đại học, viện nghiên cứu được thể hiện qua việc doanh nghiệp được cung cấp nhân lực có trình độ chuyên môn, được đào tạo thêm để nâng cao năng lực Bởi vì, chính những nhu cầu của doanh nghiệp lại do phía trường đại học, viện nghiên cứu phát hiện và giải quyết Điều đó là một trong các biện pháp để thu được know-how
và tăng cường nguồn lực thông qua việc cấp vốn, dùng chung thiết bị và chia
sẻ kinh nghiệm
Mối liên kết chặt chẽ giữa ba khu vực trên có thể tạo ra năng lực phát triển công nghệ nội sinh cho đất nước, sử dụng một cách có hiệu quả công nghệ nhập, đồng thời tạo ra năng lực mới cho các tổ chức NC&TK và cuối cùng dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế của đất nước
Tuy nhiên, mối quan hệ trên tại nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) thực tế không mạnh Thói quen hàn lâm đối lại với thói quen thương mại cũng là một trong các vấn đề cần giải quyết để tạo được mối liên kết tốt Tình trạng thường thấy ở các nước đang phát triển là phần lớn các công nghệ được tạo ra trong các tổ chức NC&TK để có thể chuyển giao cho công nghiệp hoặc ngược lại DN không có sự chuẩn bị để lựa chọn áp dụng
Trang 33yếu kém trong liên kết đã tạo ra xu thế phát triển biệt lập, cát cứ và sự đóng góp yếu kém cho nền kinh tế Kết quả là sự hụt hẫng kỹ năng có liên quan tại các cơ sở sản xuất và tổ chức NC&TK, còn các cơ sở đào tạo thì không tận dụng được các nguồn nhân lực
Mặc dù vậy, không thể phủ nhận vai trò to lớn của tam giác liên kết trong việc phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học nói riêng và sự phát triển của trường đại học nói chung Nhờ có mối liên kết này, nhân lực KH&CN của trường đại học được nâng cao về năng lực nghiên cứu, đồng thời nhà trường cũng thực hiện được chức năng của mình là phục vụ nhu cầu xã hội, dần dần
có thể trở thành một tổ chức KH&CN độc lập, tự chủ về tài chính
1.2.3 Mối quan hệ giữa KH&CN với phát triển KT-XH
Về đại thể, giữa mục tiêu phát triển KT- XH với hoạt động KH&CN có mối quan hệ hữu cơ với nhau: Mục tiêu phát triển KT-XH đặt ra yêu cầu và cả nhu cầu đối với hoạt động KH&CN; Hoạt động KH&CN là phương thức có tính chất nền tảng để thực hiện các mục tiêu KT-XH Mối quan hệ giữa phát triển KT-XH và KH&CN được phân tích theo nguyên lý và cơ chế tác động dưới đây
a) Nguyên lý phát triển KT-XH dựa trên KH&CN
Nguyên lý này đã được đề xuất lần đầu tiên vào tháng 4 năm 1984 tại khoá họp hàng năm lần thứ 40 của Uỷ ban KT-XH Châu Á -Thái Bình Dương (ESCAP) Nguyên lý nhấn mạnh rằng tiến bộ của công nghệ là yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng kinh tế Sự phát triển của công nghệ được coi là
cơ sở quan trọng nhất cho phát triển KT-XH Trước đây sự tăng trưởng phát triển kinh tế thường được nhận thức dựa vào các yếu tố là đất đai, lao động, vốn Ngày nay với sự phát triển và ứng dụng rộng rãi các thành tựu của KH&CN vào sản xuất, công nghệ trở thành một yếu tố mới được tách riêng để phân tích, đánh giá sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Nguyên lý phát triển này được khái quát hoá và phát triển thành công thức được thừa nhận rộng rãi như sau:
Y= f ( L 1 , L 2 , K, T) Trong đó Y: tăng trưởng kinh tế; f: hàm số; L1:
Đất đai; L2: Lao động; K: Vốn; T: Công nghệ
Trang 34Công nghệ xuất hiện trong công thức trên, phản ảnh vai trò và sự đóng góp quan trọng của nó đối với sự tăng trưởng kinh tế trong xã hội công nghiệp
b) Cơ chế tác động của KH&CN đối với sự phát triển KT-XH
Xu thế toàn cầu hoá làm thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa KH&CN và phát triển KT-XH: KH&CN từ chỗ là yếu tố bên ngoài, đầu vào của hoạt động kinh tế, thì nay được xác định là yếu tố bên trong, là lực lượng sản xuất của nền sản xuất xã hội, là động lực của phát triển KT-XH Về tác động của hoạt động KH&CN đối với sự phát triển KT-XH của một quốc gia, được tổng kết
và khái quát trên 3 phương diện là: i) cơ cấu lại nền sản xuất, nền công nghiệp; ii) nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế; iii) đảm bảo duy trì tăng trưởng kinh tế và sự phồn vinh của đất nước Tổng hợp 3 phương diện này tạo ra sức mạnh kinh tế và năng lực cạnh tranh của quốc gia, đó chính là tác động thúc đẩy của KH&CN đối với phát triển KT-XH
Ngược lại, sự phát triển KT-XH lại tạo ra những nhu cầu về phát triển KH&CN, có tác động lôi kéo các hoạt động KH&CN vận động, phát triển theo các nguyên lý, quy luật của nền kinh tế
Như vậy trong mối quan hệ tương tác ở đây, cơ chế tác động của KH&CN đối với phát triển KT-XH không phải một chiều mà là sự tác động tương hỗ Do đó, phát triển KH&CN phải căn cứ vào các mục tiêu, yêu cầu của nền kinh tế, của xã hội đặt ra cho mỗi giai đoạn phát triển Và khi xác định các mục tiêu phát triển KT-XH cũng phải căn cứ vào khả năng thực tế của KH&CN để làm cơ sở thực hiện
Mối quan hệ giữa hoạt động KH&CN và sản xuất ở nước ta hiện nay dựa trên cơ chế thị trường Về nguyên tắc các quy luật cơ bản của cơ chế thị trường sẽ có tác động quan trọng vào mối quan hệ này Quy luật cung cầu tạo điều kiện để hoạt động của nhà khoa học và sản xuất gặp nhau, việc cung cấp sản phẩm KH&CN và nhu cầu về KH&CN vận động theo xu hướng tiến đến
sự cân đối với nhau Quy luật cạnh tranh đòi hỏi các nhà khoa học phải năng động hướng hoạt động vào phục vụ sản xuất, các nhà sản xuất phải tích cực
Trang 35xuất có cơ hội tham gia vào mối quan hệ Quy luật giá trị sẽ đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa các bên tham gia quan hệ, và lợi ích kinh tế cũng là động lực
để các chủ thể tham gia quan hệ tự giác nhằm lập lại mối quan hệ vốn có gắn kết hoạt động KH&CN và sản xuất
1.3 GẮN KẾT HOẠT ĐỘNG NC&TK THEO TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỔI MỚI QUỐC GIA
1.3.1 Đổi mới
Thuật ngữ đổi mới đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX khi nhà kinh tế học Schumpeter (1911) đã phân biệt giữa việc hình thành một ý tưởng cho sản phẩm hoặc qui trình (phát minh/sáng chế) và việc ứng dụng ý tưởng
đó đến quá trình kinh tế (đổi mới) Có thể thấy, điểm xuất phát của cách tiếp cận mới là nằm trong sự phân biệt giữa đổi mới (Innovation) và phát minh (Invention) Nếu như phát minh là kết quả của các hoạt động R&D, là việc đưa ra và thực hiện một ý tưởng mới, phát hiện ra cái có thể về mặt kỹ thuật,
hoặc khoa học thì đổi mới lại là cả một quá trình: "Chuyển ý tưởng thành sản
phẩm mới/hoàn thiện để đưa ra thị trường, thành một quy trình được đưa vào hoạt động hoặc được hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa
ra một cách tiếp cận mới trong các dịch vụ xã hội" Nói theo Arthur J Carty:
"Đổi mới là một quá trình năng động, bao gồm trong đó các hoạt động phát
minh khoa học, nghiên cứu ứng dụng, triển khai, đào tạo, đầu tư, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm." Và như tác giả Smail-Ait-El-Hadj đã viết: "Đổi mới là chỗ gặp nhau giữa cái có thể về mặt kỹ thuật với cái có thể về mặt kinh tế - xã hội"
Đến năm 1939 Schumpeter mở rộng khái niệm đổi mới như là tập hợp các chức năng mới trong sản xuất, bao gồm tạo ra hàng hoá mới, hình thái tổ chức mới, mở ra những thị trường mới, sự kết hợp các nhân tố theo một cách mới hoặc tiến hành một sự kết hợp mới Lundvall (1992), Elam (1992) cũng
có những quan điểm tương tự
Nelson và Rosenberg (1993), Carlsson và Stankiewicz (1995) xác định
đổi mới theo một khái niệm rộng bao gồm các qui trình mà các doanh nghiệp
làm chủ và đưa vào thiết kế những sản phẩm và qui trình chế tạo mới đối với
Trang 36các doanh nghiệp, bất luận mới ở quy mô quốc tế hoặc quốc gia Ở đây khái
niệm đổi mới không chỉ là việc giới thiệu một công nghệ lần đầu tiên mà còn
là sự truyền bá các công nghệ đó
Edquist (1997) đưa ra khái niệm đổi mới như là việc tạo ra tri thức mới
hoặc sự kết hợp mới của những tri thứchiện có Điều này có nghĩa là đổi mới
được xem xét chủ yếu như là kết quả của qui trình học hỏi có tương tác giữa các chủ thể đổi mới với NC&TK, marketing, mua bán sản phẩm, giữa DN với
DN và các tác nhân khác trong hệ thống đổi mới Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tính „phi tuyến” của đổi mới
Mặc dù có những nhiều định nghĩa khác nhau, tựu chung lại khái niệm
về đổi mới là quá trình tạo ra sản phẩm/qui trình mới mang lại lợi ích trên thị
trường Luận văn chọn quan niệm này làm cơ sở cho việc phân tích trong việc
hoạch định các biệnphaps chính sách gắn kết hoạt động NC&TK với đổi mới sản phẩm của DN nói chung và trên địa bàn tỉnh Phú thọ nói riêng
Cần nhấn mạnh rằng, đổi mới sản phẩm và qui trình bao gồm một loạt các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại nhằm tạo
ra một sản phẩm mới hoặc một thay đổi về tính chất trong sản phẩm hiện có; Đổi mới quy trình mang tính mới đối với một ngành sản xuất; Mở ra thị trường mới; Phát triển các nguồn cung ứng mới về nguyên liệu thô hoặc các
đầu vào khác; Thay đổi trong tổ chức công nghiệp [8]
1.3.2 Đổi mới theo mô hình tuyến tính
Mô hình tuyến tính ngự trị trong các chính sách khoa học, công nghiệp
vào những năm trước thập kỷ 1980 Mô hình tuyến tính đầu tiên là khoa học
đẩy Các bước phát triển có thể mô tả như sau: NCCB → NCƯD → Triển
khai → Sản xuất → Tiếp thị → Nhu cầu thị trường Trong mô hình này khoa
học là cơ sở, tri thức, tiền đề của ĐMCN, hoạt động NC&TK là nhân tố thúc đẩy ĐMCN Tuy nhiên nếu ĐMCN chỉ dựa vào NC&TK mà không xuất phát
từ nhu cầu thị trường, sẽ có khả năng xảy ra rủi ro là sản phẩm có thể không
có thị trường
Trang 37Khoa học&công nghệ
Hình 2: Mô hình kết hợp thị trường và công nghệ đẩy của quá trình đổi mới
Đến thập kỷ 1970, một số nghiên cứu mới đã xác nhận thị trường có
ảnh hưởng đến đổi mới và xuất hiện mô hình tuyến tính thị trường kéo [13]
Các bước: Nhu cầu thị trường → Tiếp thị → NC&TK → Sản xuất Trong mô
hình này nhu cầu thị trường là tác nhân khởi thuỷ của các ý tưởng đổi mới có được thông qua quá trình tiếp xúc với khách hàng Nhu cầu này sẽ tạo cơ hội cho sản phẩm mới, quy trình mới và qua đó thúc đẩy hoạt động NC&TK Tuy nhiên đầu tư cho các dự án chạy theo nhu cầu thị trường không phải lúc nào cũng thành công và ở mô hình này sẽ khó định hướng các hoạt động phát triển
để đi trước các đối thủ cạnh tranh
1.3.3 Đổi mới theo mô hình phi tuyến
Theo các mô hình tuyến tính, quá trình đổi mới diễn ra tuần tự một chiều và không có các phản hồi từ các khâu cuối của chu trình đổi mới, trong khi phản hồi là một bộ phận không thể thiếu của các quá trình phát triển liên tục và đổi mới Ví dụ, ở mô hình khoa học đẩy, thiếu phản hồi từ các hoạt
Sản xuất, tiêu thụ
Xâm nhập thị trường
Giải pháp
Trang 38động phát triển đang được tiến hành, từ doanh số hoặc người sử dụng Mặt khác trong thực tế thường khó tách bạch các giai đoạn của chu trình đổi mới
và việc bắt đầu tiến hành từ giai đoạn nào còn phụ thuộc vào các yếu tố như nhu cầu và năng lực của chủ thể đổi mới tại từng thời điểm cụ thể
Để khắc phục các hạn chế trên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra mô hình tương tác kết hợp, gắn các mô hình tuyến tính với nhau và nhấn mạnh ĐMCN là kết quả tương tác giữa các yếu tố NC&TK, cơ hội thị trường và
năng lực DN Theo OECD, hoạt động NC&TK là một sự bổ trợ chứ không
phải là điều kiện tiên quyết cho đổi mới Nhiều hoạt động NC&TK sẽ hình thành từ quá trình đổi mới Khi xuất hiện vấn đề nào trong quá trình đổi mới, DN sẽ cần đến cơ sở tri thức tương ứng và NC&TK có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu cụ thể đó [8]
Trên thực tế, những ý tưởng đổi mới có thể xuất hiện từ rất nhiều nguồn
và ở bất kỳ một giai đoạn nào trong các hoạt động NC&TK, sản xuất, tiếp thị, lan tỏa (phổ dung) công nghệ mới Thực tế này đã làm cơ sở cho mô hình đổi mới mang tính liên kết và hệ thống, và lấy DN làm trung tâm liên kết – tiền đề cho việc xuất hiện đổi mới mang tính hệ thống hay còn gọi là Hệ thống đổi mới Ở tầm quốc gia, hệ thống đó được gọi với cái tên: hệ thống đổi mới quốc gia (National Innovation System – NIS)
1.3.4 Hệ thống đổi mới quốc gia
a) Các khái niệm
Hệ thống đổi mới quốc gia theo nghĩa rộng là một quá trình tích lũy liên tục không chỉ những đổi mới cơ bản và những cải tiến mà còn cả việc phổ biến, hấp thụ và sử dụng đổi mới Đổi mới được coi là sự phản ánh sự học tập tương tác trong quá trình sản xuất và kinh doanh
Hệ thống Đổi mới Quốc gia là một công cụ hàng đầu để liên tục nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm KH&CN nói riêng và của toàn nền kinh tế quốc gia nói chung, chủ yếu thông qua việc đổi mới công nghệ Đó là một mạng lưới bao gồm tất cả các tổ chức KH&CN, các tổ chức hoạch định chiến
Trang 39lược, các doanh nghiệp lớn, các tổ chức quản lý KH&CN liên kết với nhau theo quan hệ ngang trên quy mô ngành, vùng hoặc quốc gia
Khái niệm Hệ thống Đổi mới Quốc gia lần đầu tiên được Nelson, Freeman và Lundvall đưa ra để tạo cơ sở cho Chính phủ hoạch định và thực hiện các chính sách nhằm tăng cường đổi mới công nghệ Bảng sau đây hệ thống hóa quan điểm của một số tác giả chính
Lundvall,
1992
Là các bộ phận và quan hệ tương tác lẫn nhau trong sản xuất, phổ biến và sử dụng tri thức mới, đem lại lợi ích về kinh tế Tri thức này hoặc được đưa vào, hoặc bắt nguồn từ trong nước
Nelson,
1993
Là tập hợp các tổ chức tương tác lẫn nhau, có tác dụng quyết định tới hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp trong nước
Patel và
Pavitt, 1994
Là các tổ chức quốc gia, cơ cấu khuyến khích và trình
độ của các tổ chức này, có tác dụng tới tỷ lệ và phương hướng học hỏi/nghiên cứu công nghệ (hoặc số lượng và các loại hình hoạt động đem lại thay đổi công nghệ)
Metcalfe,
1995
Là tập hợp các tổ chức khác nhau, liên kết hoặc cá lẻ, góp phần vào việc phát triển và phổ biến công nghệ mới; tạo nên cơ sở để Chính phủ hoạch định và thực thi các chính sách đổi mới công nghệ Đó là hệ thống các tổ chức có quan hệ với nhau để tạo lập, lưu trữ và chuyển giao kiến thức, kỹ năng về công nghệ mới
Trang 40Theo định nghĩa của OECD, HTĐM là một hệ thống các cơ quan thuộc các lĩnh vực công và tư, mà hoạt động của nó nhằm khai phá, du nhập, biến đổi
và phổ biến các công nghệ mới Đó là hệ thống có tính tương hỗ của các doanh nghiệp công và tư, các trường đại học và các cơ quan Chính phủ, nhằm hướng tới sự phát triển của KH&CN trong phạm vi quốc gia Tính tương hỗ của các đơn vị này có thể là về mặt kỹ thuật, thương mại, luật pháp và tài chính, nhằm những mục đích phát triển, bảo trợ hay thực hiện các hoạt động KH&CN
b) Chức năng của Chính phủ trong Hệ thống đổi mới quốc gia
- Giám sát, kiểm tra và xây dựng các chính sách, các kế hoạch liên quan đến các hoạt động KH&CN tầm quốc gia;
- Liên kết các ngành liên quan (kinh tế thương mại, giáo dục, y tế, môi trường, quốc phòng);
- Phân bổ các nguồn lực, ngân sách cho các ngành KH&CN, các hoạt động theo thứ tự ưu tiên;
- Thiết lập các chương trình khuyến khích nhằm thúc đẩy đổi mới và các hoạt động khác;
- Đảm bảo khả năng thực hiện các chính sách và điều hòa phối hợp các hoạt động;
- Đảm bảo khả năng dự báo và đánh giá các xu hướng của sự thay đổi công nghệ;
- Dùng sức mua của Chính phủ để khuyến khích sản xuất, cung cấp dịch vụ;
- Cung cấp các chương trình cho đào tạo đội ngũ KH&CN;
- Thiết lập, vận hành, duy trì các cơ sở thiết bị KH&KT dùng chung;
- Thiết lập hệ thống đo lường, tiêu chuẩn và kiểm định quốc gia;
- Thiết lập hệ thống quốc gia nhận dạng và bảo hộ sở hữu trí tuệ;
- Thiết lập hệ thống quốc gia đảm bảo an ninh, y tế và môi trường…
c) Cấu trúc của Hệ thống đổi mới quốc gia
Theo các định nghĩa trên đây, ta có thể hình dung cấu trúc của hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm nhưng thành phần hợp thành như trình bày trên sơ