1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa

106 884 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được ý nghĩa quan trọng đó, tác giả chọn vấn đề “Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉ

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN LỰC KH&CN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN LỰC KH&CN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 7

1.1 Nhân lực KH&CN và đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN 7

1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực 7

1.1.2 Khái niệm nhân lực KH&CN 8

1.1.3 Đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN 11

1.2 Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng nhân lực KH&CN 12

1.2.1 Năng lực tinh thần của nhân lực KH&CN (trí lực) 12

1.2.2 Năng lực thể chất của nhân lực KH&CN 13

1.2.3 Chỉ số phát triển con người (HDI) 13

1.2.4 Phẩm chất đạo đức và trình độ văn hóa của nhân lực KH&CN 14

1.3 Chức năng của nhân lực KH&CN 14

1.3.1 Chức năng nghiên cứu sáng tạo 14

1.3.2 Chức năng giảng dạy 14

1.3.3 Chức năng quản lý 15

1.3.4 Chức năng khai thác, sử dụng 15

1.4 Vai trò của nhân lực KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội 15

1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN 17

1.5.1 Nhóm nhân tố về quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ tăng dân số 17

1.5.2 Nhóm nhân tố về trình độ phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia đóng vai trò quyết định đến trình độ phát triển nhân lực KH&CN của nước đó 18

1.5.3 Nhóm nhân tố về giáo dục và đào tạo giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN 20

1.5.4 Nhóm nhân tố thuộc về chính sách 21

1.6 Kinh nghiệm về chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN của một số nước ASEAN 23

1.6.1 Kinh nghiệm của Singapore 23

1.6.2 Kinh nghiệm của Thailand 28

1.6.3 Kinh nghiệm của Indonesia 30

1.6.4 Kinh nghiệm của Philippines 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHÂN LỰC KH&CN, ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN VÀ HỆ THỐNG CÁC CHÍNH SÁCH VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN CỦA TỈNH THANH HOÁ 35

2.1 Những đặc điểm ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực KH&CN tỉnh Thanh Hóa 35 2.1.1 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội 35

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

2.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 36

2.1.1.3 Quy mô của nền kinh tế 37

2.1.2 Đặc điểm phát triển nhân lực 38

2.1.2.1 Dân số và cơ cấu nhân lực 38

2.1.2.2 Đặc điểm nhân lực của tỉnh 39

Trang 2

2.2 Thực trạng nhân lực KH&CN và đào tạo nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa

40

2.2.1 Thực trạng nhân lực KH&CN 40

2.2.1.1 Nhân lực KH&CN trong tổ chức hoạt động KH&CN 42

2.2.1.2 Nhân lực KH&CN trong các cơ quan nhà nước của tỉnh 47

2.2.1.3 Nhân lực KH&CN trong một số ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh 48

2.2.2 Thực trạng công tác đào tạo nhân lực KH&CN 50

2.2.2.1 Hệ thống cơ sở giáo dục, đào tạo nhân lực 50

2.2.2.2 Các điều kiện đảm bảo phát triển đào tạo 52

2.3 Những bất cập của hệ thống chính sách hiện hành về đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN 58

2.3.1 Một số văn bản quy định về đào tạo nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội 58

2.3.1.1 Chính sách đối với người học 59

2.3.1.2 Chính sách đối với giảng viên, giáo viên 62

2.3.1.3 Chính sách đối với các cơ sở đào tạo 63

2.3.2 Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới 65

2.3.3 Chưa gắn kết giữa đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp SX, tuyển dụng, sử dụng với cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN 65

2.4 Đánh giá tổng quan hiệu quả của các chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN giai đoạn 2006-2010 67

2.4.1 Những thành tựu 67

2.4.2 Những hạn chế, yếu kém 69

2.4.3 Những nguyên nhân của hạn chế, yếu kém 71

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THANH HOÁ 73

3.1 Những nhân tố tác động đến sự phát triển nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hoá 73

3.1.1 Những nhân tố bên ngoài 73

3.1.1.1 Hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá 73

3.1.1.2 Phát triển KH&CN và hình thành nền kinh tế tri thức 74

3.1.2 Những nhân tố trong nước, trong tỉnh 74

3.1.2.1 Nhân tố trong nước 74

3.1.2.2 Nhân tố trong tỉnh 75

3.2 Dự báo nhu cầu nhân lực KH&CN đến năm 2020 76

3.2.1 Phương pháp dự báo 76

3.2.2 Dự báo tổng cầu lao động (cầu việc làm) giai đoạn 2011-2020 77

3.2.3 Kết quả dự báo tổng cầu nhân lực KH&CN giai đoạn 2011-2020 79

3.3 Quan điểm và mục tiêu phát triển nhân lực KH&CN giai đoạn 2011-2020 81

3.3.1 Định hướng hoạt động KH&CN giai đoạn 2011-2020 81

3.3.2 Quan điểm phát triển nhân lực KH&CN 82

3.3.3 Mục tiêu phát triển nhân lực KH&CN 82

3.4 Những giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hoá 83

3.4.1 Đổi mới công tác Quy hoạch nhân lực KH&CN đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới 84

Trang 3

3.4.1.1 Xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN giai đoạn 2011 - 2020 84

3.4.1.2 Tổ chức rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển mạng lưới các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực KH&CN và gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với sử dụng, giải quyết việc làm 84

3.4.1.3 Quy hoạch phát triển các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, ứng dụng và gắn kết với đào tạo, sử dụng nhân lực KH&CN 85

3.4.2 Đổi mới các chính sách đào tạo nhân lực KH&CN theo hướng đáp ứng yêu cầu về nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội 86

3.4.2.1 Đổi mới chính sách bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên 86

3.4.2.2 Xây dựng chính sách khuyến khích đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng gắn với chuẩn đầu ra của mỗi chương trình mà người học cần phải đạt được 87

3.4.2.3 Đổi mới chính sách đào tạo và đào tạo lại nhân lực KH&CN 87

3.4.3 Huy động và hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, thực hành cho các cơ sở đào tạo, đơn vị nghiên cứu 89

3.4.3.1 Xây dựng chính sách huy động vốn đầu tư cho GD&ĐT để phát triển nhân lực KH&CN 89

3.4.3.2 Xây dựng và hoàn thiện chính sách hỗ trợ kinh phí cho đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN 90

3.4.3.3 Hoàn thiện chính sách về đất đai để phát triển GD&ĐT 90

3.4.4 Xây dựng việc gắn kết giữa nghiên cứu, doanh nghiệp SX, tuyển dụng, sử dụng với cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN 90

3.4.4.1 Xây dựng và hoàn thiện chính sách đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế 90

3.4.4.2 Xây dựng chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài 91

3.4.4.3 Xây dựng chính sách trao giải thưởng KH&CN tôn vinh nhân tài 92

3.4.4.4 Xây dựng chính sách hợp tác quốc tế giúp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực KH&CN 92

KẾT LUẬN 94

KHUYẾN NGHỊ 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hóa

CNTT Công nghệ thông tin

KH&CN Khoa học và Công nghệ

KT-XH Kinh tế - xã hội

SX-KD Sản xuất kinh doanh

HDI Human Development Index

Chỉ số phát triển con người OECD Organization for Economic Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế

R&D Research and Development

Nghiên cứu và phát triển GDP Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội FTE Full-Time Equivalent

Tương đương thời gian làm việc đầy đủ UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Quy mô dân số và lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh

Bảng 2.2 Lực lượng lao động theo trình độ đào tạo giai đoạn 2006-2010 Biểu đồ 1 Dân số-Lực lượng lao động và nhân lực KH&CN giai đoạn 2006-2010 Biểu đồ 2 Cơ cấu trình độ nhân lực KH&CN giai đoạn 2006-2010

Bảng 2.3 Nhân lực KH&CN trong các tổ chức R&D

Bảng 2.4 Nhân lực KH&CN trong các tổ chức dịch vụ KH&CN

Bảng 2.5 Nhân lực KH&CN ở các đơn vị sự nghiệp cấp huyện có hoạt

động KH&CN Bảng 2.6 Nhân lực KH&CN ở các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh có hoạt động

KH&CN Bảng 2.7 Nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng

Bảng 2.8 Nhân lực KH&CN ở một số doanh nghiệp trong tỉnh

Bảng 2.9 Hiện trạng năng lực các trường ĐH-CĐ trên địa bàn tỉnh năm

học 2009-2010 Bảng 2.10 Hiện trạng năng lực đào tạo một số cơ sở đào tạo trên địa bàn

tỉnh năm học 2009-2010 Bảng 2.11 Kinh phí dành cho đào tạo nhân lực trong các cơ sở đào tạo

giai đoạn 2006-2010 Bảng 3.1 Kết quả dự báo cầu lao động giai đoạn 2011- 2020

Bảng 3.2 Kết quả dự báo tổng cầu lao động theo ngành kinh tế giai đoạn

2011-2020 Bảng 3.3 Nhu cầu lao động qua đào tạo giai đoạn 2011-2020

Bảng 3.4 Nhu cầu lao động qua đào tạo và nhân lực KH&CN giai đoạn 2011-2020 Bảng 3.5 Nhu cầu nhân lực KH&CN phân theo cơ cấu ngành nghề đến

năm 2020 Biểu đồ 3 Dân số-Lực lượng lao động và nhân lực KH&CN giai đoạn 2011-2020

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Việt Nam đang thúc đẩy quá trình CNH, HĐH làm xương sống cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững Để thực hiện thành công quá trình CNH, HĐH đòi hỏi phải có hai yếu tố cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau, đó là công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực tiên tiến Công nghệ hiện đại có thể huy động vốn nhập về từ nước ngoài, nhưng để có được nguồn nhân lực tiên tiến, có thể vận hành tốt những dây chuyền và thiết bị CNH, HĐH, tiến tới sáng tạo công nghệ là bài toán hóc búa đặt ra cho các nhà quản lý, các nhà giáo dục và đào tạo Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hay đào tạo nhân lực là một trong những yêu cầu cấp bách để đẩy mạnh CNH-HĐH Theo đó, trong bối cảnh nền KH&CN phát triển như vũ bão hiện nay, đào tạo nhân lực KH&CN có chất lượng là mối quan tâm hàng đầu Không khó để nhận biết, nhân lực KH&CN nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản đáng quan tâm, nguyên nhân cản trở quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đó là „„Bậc đào tạo càng cao càng có xu hướng phát triển thiên lệch

về các ngành sản xuất phi vật chất Số lượng nhân lực có trình độ trên đại học trong các ngành KH&CN chỉ chiếm khoảng 10% Chất lượng cán bộ KH&CN cũng còn nhiều vấn đề, tỷ lệ cán bộ khoa học phát huy tốt chỉ chiếm 34– 35% trong khi tỷ lệ yếu lên tới 27 – 28% Một vấn đề nữa khi điều tra về tiềm lực KH&CN thấy rằng, tuổi đời của cán bộ khoa học có chức danh khá cao, bình quân chung 57,2%, giáo sư là 59,5 tuổi Số cán bộ có chức danh khoa học tuổi dưới 50 chỉ chiếm 12%, riêng giáo sư là 7,2% Những con số này cho thấy nguy cơ hụt hẫng trong đội ngũ cán bộ KH&CN nước ta thời gian tới Một hạn chế nữa của cán bộ KH là khả năng ngoại ngữ quá yếu, dưới 25% số cán bộ KH có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh hoặc tiếng Pháp”1

1 Trích: Đẩy mạnh liên kết đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực http://www.utm.edu.vn

Trang 7

Có thể thấy, hiện tại năng lực KH&CN của Việt Nam còn yếu, thiếu cán

bộ đầu ngành, đặc biệt là thiếu cán bộ trẻ kế cận có trình độ cao Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nhân lực KH&CN có chất lượng cao, đặc biệt là các ngành mũi nhọn và các ngành khoa học mới Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo với thực tế sản xuất, kinh doanh Thị trường công nghệ chưa phát triển, các chính sách về lĩnh vực này còn chưa phát huy tác dụng trong đời sống xã hội Thực tiễn chỉ ra rằng, sự phát triển của KH&CN không những làm thay đổi diện mạo, vị thế của các quốc gia trên thế giới mà còn thay đổi hoàn toàn nhận thức của con người về vai trò của KH&CN như là một lực lượng sản xuất Nhận thức rõ được điều này, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp phát triển KH&CN Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: Phát triển KH&CN cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,

là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong bối cảnh hiện nay, hơn bao giờ hết, vấn đề đào tạo nhân lực KH&CN của Việt Nam đang được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư toàn diện Đây chính là động lực góp phần nâng cao năng lực nội sinh của nước nhà về KH&CN phục

vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Bên cạnh đó, đi tắt, đón đầu về KH&CN là chủ trương chiến lược của các quốc gia phát triển sau như Việt Nam trong cuộc đua bám đuổi với các quốc gia đi trước trên thế giới Do đó, đào tạo đội ngũ nhân lực KH&CN là một trong những chủ trương xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta

Thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về giáo dục, đào tạo và phát triển nhân lực KH&CN đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH, những năm qua, tỉnh Thanh Hoá đã có nhiều chương trình hành động, nhiều chính sách quan tâm đến phát triển nhân lực KH&CN Từ năm 2006 đến 2010, UBND tỉnh Thanh Hoá đã ban hành chính sách về đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực: Quyết định về việc ban hành „„Quy chế tuyển chọn đào tạo đại học, sau đại học ở nước ngoài” (2007); Quyết định về việc phê duyệt đề án „„Liên kết đào tạo đại học, sau đại học ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước” (2007) v.v Tuy nhiên, nguồn nhân lực đặc biệt là nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hoá vẫn tồn tại những bất cập: trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhân lực

Trang 8

KH&CN chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mới; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu vẫn còn tồn tại ở các cơ quan, đơn vị; số cán bộ, công chức, viên chức

có trình độ sau đại học còn ít; chưa hợp lý về cơ cấu ngành nghề v.v Bên cạnh đó, công tác giáo dục, đào tạo chưa gắn với kế hoạch sử dụng, quá trình đào tạo lại, đào tạo theo chức vụ, đào tạo tại chỗ chưa được quan tâm đúng mức; chưa tập trung đào tạo một số ngành mũi nhọn; công tác triển khai, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức ở nước ngoài tiến hành còn chậm Cơ chế quản lý, sử dụng, chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ KH&CN còn nhiều bất hợp lý, chưa thực sự tạo động lực để đội ngũ này có đóng góp hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Do đó, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hoá xác định phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010-2015 đã

đề ra Chương trình phát triển nguồn nhân lực là một trong 5 chương trình phát triển kinh tế trọng tâm của tỉnh Qua nghiên cứu tác giả thấy rằng, để thực hiện tốt mục tiêu phát triển nhân lực KH&CN của tỉnh cũng cần được hỗ trợ nhiều hơn từ hệ thống các chính sách phát triển KH&CN, nhất là công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN chưa được quan tâm đúng mức

Vì thế, việc đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN ở tỉnh Thanh Hoá

là vấn đề hết sức bức thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao

Nhận thức được ý nghĩa quan trọng đó, tác giả chọn vấn đề “Nghiên cứu

các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ

phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài luận văn

thạc sĩ, chuyên ngành chính sách KH&CN Tác giả hy vọng rằng vấn đề nghiên cứu được hoàn thiện và có tính khả thi cao không những đối với phát

triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa mà còn là của khu vực Bắc miền Trung

2 Lịch sử nghiên cứu

Tại Việt Nam, phát triển nhân lực KH&CN được Nhà nước rất quan tâm,

có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan về vấn đề này như: Phát triển nguồn nhân lực KH&CN (Giáo trình đào tạo cao học, Tiến sĩ Trần Xuân Định); Cơ chế chính sách đối với hoạt động KH&CN (Thạc sĩ Trần Chí Đức); Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hóa đến năm 2010 theo hướng CNH,

Trang 9

HĐH (Bùi Sĩ Lợi, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002) Đặc biệt tác giả Bùi Sĩ Lợi, tập trung đi sâu nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hóa đến năm 2010 theo hướng CNH, HĐH thông qua công tác đào tạo nghề cho người lao động Tác giả Trần Chí Đức tập trung nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực KH&CN thông qua phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên của Đại học quốc gia Hà Nội

Có thể nói, các công trình trên đã đề cập một số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với nguồn nhân lực KH&CN trên phạm vi cả nước, hoặc nguồn nhân lực nói chung của tỉnh Thanh Hóa Từ trước đến nay chưa có một công trình

nào nghiên cứu độc lập về “Các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa” Vì vậy

đề tài này là rất cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn trong chủ trương phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay của tỉnh Thanh Hoá

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, Luận văn có các nhiệm

vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Làm rõ các vấn đề lý luận về nhân lực KH&CN, đào tạo nhân lực KH&CN và sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

- Phân tích, đánh giá nhu cầu nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa hiện nay, thực trạng hệ thống chính sách hiện hành liên quan về đào tạo nhân lực KH&CN Tìm ra những bất cập và nguyên nhân dẫn đến những bất cập của

hệ thống các quy định hiện hành về đào tạo nhân lực KH&CN

- Đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa

4 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các quan hệ kinh tế-xã hội liên quan đến đào tạo nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa

Trang 10

5 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: nghiên cứu hệ thống chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN; thực trạng và nhu cầu về nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa; nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa

- Về thời gian: Từ năm 2006 đến 2010

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Nhu cầu nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa hiện nay được thể hiện qua các yếu tố: số lượng; chất lượng; cơ cấu ngành nghề;

- Hệ thống chính sách hiện hành về đào tạo nhân lực KH&CN có những bất cập sau:

+ Một số văn bản quy định về đào tạo nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội + Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới

+ Chưa gắn kết giữa đơn vị NC, doanh nghiệp SX, tuyển dụng, sử dụng với cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN

- Cần có những giải pháp sau đây để đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa:

+ Sửa đổi các chính sách đào tạo nhân lực KH&CN theo hướng đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

+ Có chính sách quy hoạch nhân lực KH&CN đúng đắn để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới

+ Xây dựng việc gắn kết giữa đơn vị NC, doanh nghiệp SX, tuyển dụng,

sử dụng với cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN

+ Có chính sách hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, thực hành cho các cơ sở đào tạo, đơn vị nghiên cứu khoa học để nâng cao năng lực đào tạo nhân lực KH&CN có chất lượng

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu kết hợp cơ sở lý luận với thực tiễn;

Trang 11

- Thống kê, phân tích các tài liệu liên quan về chính sách phát triển nhân lực hiện hành trong việc đào tạo, sử dụng, đãi ngộ đối với người làm công tác KH&CN;

9 Luận cứ nghiên cứu

9.1 Luận cứ lý thuyết

- Khái niệm phát triển nguồn nhân lực; khái niệm nhân lực KH&CN

- Đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN

- Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nhân lực KH&CN

- Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nhân lực KH&CN

- Chức năng, vai trò của nhân lực KH&CN trong phát triển KT-XH

- Khảo cứu kinh nghiệm của một số nước ASEAN về chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN

- Đề án phát triển KH&CN tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2005-2010

- Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ khoá XVII về KH&CN, giai đoạn 2010-2015

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về nhân lực KH&CN, đào tạo nhân lực

KH&CN và vai trò của nhân lực KH&CN trong phát triển kinh tế-xã hội

- Chương 2: Thực trạng nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa và hệ

thống các chính sách về đào tạo nhân lực KH&CN

- Chương 3: Những giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực

KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa

Trang 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN LỰC KH&CN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN LỰC KH&CN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1 Nhân lực KH&CN và đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN

1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực

Nhân lực KH&CN được phát triển trên nền tảng của nguồn nhân lực Tuy nhiên, nhân lực KH&CN góp phần quyết định nâng cao chất lượng và số lượng của nguồn nhân lực Để cắt nghĩa điều đó, trước khi đi sâu nghiên cứu nhân lực KH&CN, chúng ta cần xem xét những định nghĩa hoặc khái niệm chung nhất về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nói chung

- Khái niệm nguồn nhân lực:

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực

tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng

Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết

55 tuổi)

Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ Trong đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc

và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp) Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động

- Khái niệm phát triển nguồn nhân lực:

Thế nào là phát triển nguồn nhân lực? Các tổ chức quốc tế khác nhau đưa ra những khái niệm khác nhau, tuỳ theo vị trí và cách nhìn của mình Liên hiệp quốc định nghĩa “Phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ kỹ năng, trí lực và khả năng của con người được sử dụng thực tế hoặc dưới dạng tiềm năng vì sự phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”

Trang 13

UNESCO cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ kỹ năng của dân số (population) liên quan đến sự phát triển của mỗi quốc gia”

UNIDO định nghĩa “Phát triển nguồn nhân lực là sự phát triển một cách

hệ thống của con người như là chủ thể và khách thể của sự phát triển quốc gia, nó bao gồm toàn bộ các khía cạnh kinh tế và công nghiệp, trong đó đề cấp đến sự nâng cao khả năng của con người, nâng cao năng lực sản xuất, khả năng sáng tạo, khuyến khích chức năng lãnh đạo thông qua giáo dục, đào tạo

và nghiên cứu” [9, tr.4]

Trên cơ sở các định nghĩa đã nêu trên, “Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là sự huy động tối đa toàn bộ kỹ năng, tri thức và tiềm năng của dân số vào các hoạt động sản xuất vật chất và phi vật chất, vì mục tiêu phát triển của

mỗi cộng đồng”

1.1.2 Khái niệm nhân lực KH&CN

Hiện nay trên thế giới có khá nhiều công trình nghiên cứu về nhân lực KH&CN Tuy nhiên, một số nghiên cứu, bài viết trên báo/tạp chí đề cập đến nhân lực KH&CN, trong khi một số khác lại đề cập đến nhân lực R&D hay nhân lực mang tính chất “tiềm năng” Vậy nên hiểu như thế nào về nhân lực KH&CN?

Từ các tài liệu chính thức của Bộ KH&CN, định nghĩa được dựa theo cuốn

“Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực KH&CN”, xuất bản năm 1995 tại Paris của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây:

1) Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một lĩnh vực KH&CN;

2) Tuy chưa đạt được điều kiện trên nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương [36, tr.61]

Theo định nghĩa trên, nhân lực KH&CN được diễn giải gồm những người:

1) Đã tốt nghiệp ĐH-CĐ và làm việc trong một ngành KH&CN;

2) Đã tốt nghiệp ĐH-CĐ, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào;

3) Chưa tốt nghiệp ĐH-CĐ, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương

Trang 14

Khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện hoạt động KH&CN của một quốc gia Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D) để thể hiện lực lượng nhân lực KH&CN của mình Tìm kiếm từ các tài liệu của OECD liên quan đến thống kê KH&CN, định nghĩa về nhân lực R&D như sau: Nhân lực R&D là tất cả những người được tuyển dụng cho hoạt động R&D, cũng như những người cung cấp dịch

vụ trực tiếp như các nhà quản lý R&D, cán bộ nhân viên hành chính và văn phòng

Từ cách diễn đạt hai thuật ngữ nhân lực KH&CN và nhân lực R&D có thể đi đến nhận định chung là có sự khác nhau về mặt số lượng giữa nhân lực KH&CN và nhân lực R&D Nhân lực R&D bị giới hạn hơn so với nhân lực KH&CN, bởi vì nó loại trừ tất cả những người ở thời điểm hiện tại không tham gia vào các hoạt động R&D Hơn nữa, nhân lực R&D loại trừ luôn cả những người có khả năng chuyên môn nhưng làm công việc không dính dáng đến hoạt động R&D và cả những người có khả năng chuyên môn nhưng đã thất nghiệp, nghỉ hưu hoặc không thuộc lực lượng lao động

Quan hệ giữa nhân lực KH&CN và nhân lực R&D có thể được thể hiện như sau:

Nhân lực R&D Nhân lực KH&CN Nhân lực có trình độ đang làm việc Tổng số nhân lực

Ở mức độ khái quát hơn, UNESCO cũng đưa ra hai khái niệm liên quan đến nhân lực trong lĩnh vực KH&CN là “Tổng số nhân lực có trình độ” và

“Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác” Quan điểm của UNESCO về hai khái niệm này là: “Tổng số nhân lực có trình độ” cần phải được xem xét như một đại lượng đo, qua đó có thể biết được tổng số những người được đào

Trang 15

tạo để có năng lực trở thành nhà khoa học và kỹ sư bất kể hiện tại họ có làm việc theo năng lực này hay không Nói một cách khác, đại lượng này thể hiện cho tiềm năng của một quốc gia về nhân lực KH&CN Trong khi đó, thống kê

về “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác” phản ánh số lượng cán bộ thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc là làm trong lĩnh vực KH&CN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế-xã hội của một đất nước

Trên cơ sở phân biệt như vậy, UNESCO đã đưa ra sự phân biệt tương đối giữa các khái niệm nhân lực trong lĩnh vực KH&CN nói chung như sau: Hiểu về nội hàm các khái niệm liên quan đến nhân lực trong lĩnh vực KH&CN là như vậy nhưng để đo lường được thì không chỉ đơn giản là phép tính cộng tổng đầu người Theo khuyến nghị của OECD và UNESCO (được nhiều nước áp dụng), bên cạnh việc đếm đầu người cần phải tính đến yếu tố khác như: Quy đổi tương đương thời gian làm việc đầy đủ (Full-Time Equivalent, FTE) và các đặc trưng của họ Việc đưa ra thông số nhân lực theo FTE sẽ giúp các nhà nghiên cứu và phân tích có được cái nhìn xác thực hơn về thực trạng và năng lực KH&CN hay R&D của một quốc gia, một ngành, qua đó có được những tư vấn hay đối sách thích hợp để thúc đẩy phát triển [19, tr.64]

Hệ thống số liệu về nhân lực KH&CN chính thức của nước ta hiện nay mới chỉ là phương thức “đếm đầu người” gồm những người có trình độ ĐH-

CĐ trở lên [36, tr.62] Các lực lượng tham gia hoạt động KH&CN nước ta, gồm 5 thành phần chủ yếu sau đây:

1 Cán bộ nghiên cứu trong các viện, trường đại học

2 Cán bộ kỹ thuật, công nghệ (kỹ thuật viên, kỹ sư, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư) làm việc trong các doanh nghiệp

3 Các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội yêu thích khoa học kỹ thuật, có sáng kiến cải tiến, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống

4 Cán bộ quản lý các cấp (kể cả quản lý doanh nghiệp) tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng trong thẩm quyền của mình

5 Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam [40, tr.1]

Trang 16

1.1.3 Đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN

Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực KH&CN là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực KH&CN, biểu hiện qua các mặt cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho công việc của nhân lực KH&CN, qua

đó mà tạo việc làm ổn định, nâng cao địa vị kinh tế và xã hội của họ Ở tầm vĩ mô, phát triển nhân lực KH&CN là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng được nhu cầu phát triển KT-XH trong mỗi giai đoạn phát triển cả về quy mô, cơ cấu số lượng và chất lượng

Bản chất của quá trình phát triển nguồn nhân lực KH&CN là việc tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng nhân lực KH&CN nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu về nhân lực KH&CN phục vụ sự nghiệp phát triển KT-XH của một quốc gia, địa phương hay của một vùng lãnh thổ Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực KH&CN luôn gắn bó với nhau và tác động qua lại với nhau Số lượng là tăng nguồn nhân lực; chất lượng bao gồm sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật và các phẩm chất cá nhân Phát triển nguồn nhân lực KH&CN đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH bao gồm tất cả các lĩnh vực như nâng cao chất lượng dân số, giáo dục, đào tạo, nâng cao sức khỏe, dạy nghề, tạo việc làm, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực KH&CN Do đó để phát triển nguồn nhân lực KH&CN, phải tiến hành đồng bộ các nội dung như đào tạo, dạy nghề, tái đào tạo, hỗ trợ vốn, công nghệ, tín dụng, tạo điều kiện cho nhân lực

Từ những phân tích trên, đào tạo phát triển nguồn nhân lực KH&CN chính là quá trình biến đổi nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm lực KH&CN;

là phát triển nhân cách và cấu trúc nhân cách; phát triển cả năng lực vật chất

về nghiên cứu, ứng dụng KH&CN và năng lực tinh thần, ngày càng nâng cao

cả về đạo đức, nghề nghiệp, hoàn thiện từng bước cao hơn cả về tinh thần và hành vi của mỗi con người trong phát triển KT-XH của mỗi quốc gia

Như vậy, phát triển nguồn nhân lực KH&CN bao gồm những nội dung

cơ bản là phát triển quy mô và cơ cấu hợp lý; đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH

Trang 17

1.2 Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng nhân lực KH&CN

Chất lượng nhân lực KH&CN chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội Thông qua chất lượng nhân lực KH&CN thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân cư hay mức độ văn minh của một xã hội Chất lượng nhân lực KH&CN bao hàm nhiều yếu tố và được đánh giá trên các tiêu trí: trí lực, thể lực, chỉ số HDI, phẩm chất đạo đức, nhân cách, truyền thống văn hóa

1.2.1 Năng lực tinh thần của nhân lực KH&CN (trí lực)

Trí lực hay năng lực tinh thần của nhân lực KH&CN là tiêu chí quan trọng nhất trong các tiêu chí đánh giá về chất lượng nhân lực KH&CN Trí lực của nhân lực KH&CN biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn

kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp Trình độ của nhân lực KH&CN được coi là quan trọng nhất hiện nay, đó là năng lực sáng tạo, khả năng áp dụng thành tựu KH&CN để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại, có khả năng tiếp thu và xử lý thông tin kịp thời Trí lực của nhân lực KH&CN còn thể hiện ở kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tức là phải có khả năng biến tri thức thành công nghệ và kỹ năng nghề nghiệp, biết nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo, ứng dụng và phát triển, đào tạo, bồi dưỡng và lựa chọn các giải pháp hợp lý

để phát triển KT-XH Trí lực của nhân lực KH&CN được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu cơ bản là:

- Trình độ học vấn: Là chỉ tiêu đầu tiên đánh giá trí lực của nhân lực

KH&CN, bởi lẽ nó thể hiện sự hiểu biết của nhân lực KH&CN về những kiến thức tự nhiên, xã hội Trình độ học vấn là một quá trình tham gia học tập, sinh hoạt, làm việc của con người, cá nhân trong các môi trường học tập khác nhau

và rõ nét nhất là để chỉ một trình độ nhất định của cá nhân với sự phát triển của xã hội thông qua nhận thức về mặt học tập Trình độ học vấn được cung cấp thông qua hệ thống GD&ĐT ở nhiều hình thức khác nhau, qua quá trình

tự học suốt đời của con người Trình độ học vấn là bao gồm “những hiểu biết nhờ học tập mà có” [37, tr.62]

Trang 18

- Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Là sự hiểu biết, là kiến thức, khả năng

thực hành về chuyên môn nào đó, như đảm đương một chức vụ nào đó trong quản lý, trong kinh doanh hoặc trong các hoạt động nghề nghiệp Trình độ chuyên môn có được nhờ đào tạo ở các trường học chuyên ngành trong hệ thống giáo dục quốc dân như: đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học

1.2.2 Năng lực thể chất của nhân lực KH&CN

Là nói đến tình trạng sức khỏe của nhân lực KH&CN, bao gồm nhiều yếu tố cả về thể lực lẫn tinh thần và đảm bảo được sự hài hòa giữa bên trong

và bên ngoài Năng lực bên trong là khả năng trí tuệ mạnh mẽ, sáng tạo tiềm

ẩn trong nhân lực KH&CN; năng lực bên ngoài là tình trạng sức khỏe của nhân lực KH&CN Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của cơ bắp trong công việc Thể lực còn là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực Sức khỏe và dinh dưỡng là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng dân số và nhân lực KH&CN Mối quan hệ giữa sức khỏe và phát triển

là mối quan hệ hai chiều, bản thân sự phát triển kinh tế có tác động cải thiện điều kiện sức khỏe và ngược lại, sức khỏe và dinh dưỡng được cải thiện nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội với trình độ ngày càng cao, đòi hỏi ngày càng lớn về thể lực, bởi nếu không

có thể lực và tinh thần tốt sẽ khó có thể chịu đựng áp lực căng thẳng của công việc, của nhịp độ cuộc sống, và cũng không thể tìm tòi, sáng tạo ra các tri thức mới và vật hóa nó thành sản phẩm có ích cho toàn xã hội

1.2.3 Chỉ số phát triển con người (HDI)

Hiện nay, Liên hợp quốc đã đưa ra chỉ số HDI nhằm đánh giá trình độ phát triển con người của các nước HDI là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường cũng như sự công bằng trong thụ hưởng các phúc lợi xã hội Chỉ số HDI được tính căn cứ vào ba chỉ tiêu: thu nhập bình quân trên đầu người (GDP/người); trình độ dân trí; tuổi thọ bình quân Việt Nam năm 2006 có chỉ số HDI xếp thứ 100/174 nước, trong khi GDP/đầu người xếp thứ 154/174 Qua đó, chỉ số HDI nói lên chất lượng cuộc sống, song chưa nói lên trình độ phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia

Trang 19

1.2.4 Phẩm chất đạo đức và trình độ văn hóa của nhân lực KH&CN

Chất lượng nhân lực KH&CN còn được đánh giá thể hiện qua những yếu

tố vô hình không thể định lượng được bằng những con số cụ thể như: phẩm chất đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc, nhưng nó lại là yếu tố rất quan trọng quy định bản tính của nhân lực KH&CN và đóng vai trò quyết định sự phát triển bền vững của một quốc gia Đây là yếu tố xã hội tác động trực tiếp đến sự hình thành tính cách và phẩm chất riêng của nhân lực KH&CN ở mỗi nước Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập, toàn cầu hóa về kinh tế, bên cạnh những yếu tố tích cực như: kích thích nhân lực KH&CN tham gia quá trình đào tạo và tự đào tạo để nghiên cứu và phát triển KH&CN, đẩy mạnh và đa dạng hóa các hoạt động tìm kiếm việc làm, tăng nhanh thu nhập từ việc làm cũng xuất hiện không ít các yếu tố tiêu cực làm tha hóa lối sống, đạo đức, nhân cách vốn rất tốt đẹp của mỗi dân tộc Do vậy, yếu tố đạo đức văn hóa truyền thống dân tộc ngày càng có vai trò quan trọng tạo nên những con người vừa có trình độ tay nghề cao, kỹ năng giỏi, vừa có tâm hồn trong sáng lành mạnh là những nội dung cơ bản nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN trong quá trình CNH-HĐH để phát triển KT-XH đất nước

1.3 Chức năng của nhân lực KH&CN

Xem xét chức năng về nghề nghiệp, thấy rằng nhân lực KH&CN có các chức năng: Nghiên cứu sáng tạo; giảng dạy; quản lý; khai thác, sử dụng

1.3.1 Chức năng nghiên cứu sáng tạo

Các nhà nghiên cứu thường có trình độ cao (ít nhất tốt nghiệp từ đại học trở lên) rất khác nhau về trình độ, chức danh, chuyên môn kỹ thuật Họ thường làm ở các tổ chức nghiên cứu KH&CN (Viện, Trung tâm, Labô, Liên hiệp KH&CN, ) Các nhà nghiên cứu ở đây bao gồm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

1.3.2 Chức năng giảng dạy

Nhân lực KH&CN ở đây chỉ đề cập đến những giảng viên thực hiện chức năng tham gia giáo dục và đào tạo những con người biết sử dụng KH&CN trong phát triển Hoạt động giáo dục và đào tạo KH&CN được chia

Trang 20

thành nhiều loại, với nhiều cấp bậc trình độ khác nhau, trong đó cơ bản nhất

là đào tạo ở bậc đại học gồm các hình thức đào tạo chính quy, không chính quy Bên cạnh đó cũng phải kể đến các hình thức bồi dưỡng nâng cao trình

độ về KH&CN

1.3.3 Chức năng quản lý

Nhân lực KH&CN thực hiện chức năng quản lý về hoạt động KH&CN như: tổ chức tuyển chọn, xét chọn, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hoạt động ứng dụng, công bố, tuyên truyền kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và các hoạt động khác; hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đổi mới công nghệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác áp dụng vào sản xuất, kinh doanh; chuyển giao công nghệ và đánh giá, định giá, giám định công nghệ, thẩm định công nghệ các dự án đầu tư và thẩm định nội dung KH&CN các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội

1.3.4 Chức năng khai thác, sử dụng

Nhân lực KH&CN phải biết công nghệ hoặc từng phần công nghệ để đưa các nhà máy vào hoạt động Họ tham gia vào quá trình công nghệ với tư cách là người tác nghiệp, thừa hành công việc được giao như vận hành máy móc, bảo trì, sửa chữa thiết bị Yêu cầu đối với nhân lực này là do công nghệ

đặt ra, sao cho họ có khả năng thực thi tại chỗ

1.4 Vai trò của nhân lực KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội

Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của con người và nhân tố con người trong sự nghiệp phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm, lấy mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người

Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế vì mục tiêu CNH-HĐH Nguồn nội lực mà Nghị quyết Trung ương nêu trên bao gồm: nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống lịch sử văn hóa Trong đó, năng lực của con

Trang 21

người Việt Nam với trí tuệ và truyền thống văn hóa dân tộc là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

Thực tiễn các nước phát triển cho thấy, các nguồn lực thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH (nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học và công nghệ ) giữa chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau trong quá trình phát triển, trong đó nhân lực được coi là năng lực nội sinh quan trọng chi phối quá trình phát triển của mỗi quốc gia Nhân lực KH&CN, với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám, có ưu thế là không bị cạn kiệt và nếu biết bồi dưỡng, khai thác, sử dụng hợp lý sẽ được tăng thêm rất nhiều, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn

và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp được với nguồn lực con người một cách hiệu quả

Ngày nay, sự cạnh tranh gay gắt diễn ra giữa các quốc gia để giành những lợi thế so sánh trong phát triển, thực chất là cuộc đua tranh về tri thức, KH&CN Sự phát triển mạnh mẽ đó đã làm biến đổi sâu sắc nền KT-XH của nhiều quốc gia, tạo ra ngày càng nhiều cơ hội cho các quốc gia chậm phát triển rút ngắn khoảng cách phát triển của mình thông qua con đường nhập khẩu và chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, để làm được việc đó đòi hỏi phải

có chính sách về KH&CN, chất lượng nhân lực KH&CN phải phù hợp mới đem lại hiệu quả cao Sự xuất hiện của kinh tế tri thức đã tạo ra một bước chuyển mới trong lịch sử phát triển KT-XH của nhân loại Bước chuyển từ nền kinh tế dựa trên lực lượng sản xuất mà vật chất đóng vai trò quan trọng nhất, sang nền kinh tế dựa trên lực lượng sản xuất mà nhân lực KH&CN (tri trức), thông tin đóng vai trò chủ đạo

Đối với Việt Nam, nguồn lực con người luôn được coi trọng, đặc biệt là nhân lực KH&CN Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển KT-XH Ngày nay, quá trình CNH-HĐH diễn ra trong bối cảnh cuộc cách mạng KH&CN đang phát triển mạnh mẽ, thế giới

Trang 22

đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, đòi hỏi nhân lực KH&CN nước ta cũng phải có bước chuyển biến mới, phát triển tương ứng trong xu thế hội nhập, đây là một yêu cầu cấp bách để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN

Đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN là những biến đổi về số lượng và chất lượng từ trình độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn Do đó, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực KH&CN bao gồm các yếu tố về điều kiện tự nhiên môi trường, kinh tế -

xã hội, hệ thống chính sách ở mỗi giai đoạn phát triển

1.5.1 Nhóm nhân tố về quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ tăng dân số

Quy mô dân số được hiểu khái quát là tổng số dân của một vùng, một quốc gia vào những thời điểm nhất định Quy mô dân số rất cần thiết trong nghiên cứu, phân tích đánh giá trình độ phát triển kinh tế cũng như hoạch định chiến lược phát triển ở phạm vi tỉnh, thành phố, vùng lãnh thổ Quy mô dân số lớn đứng thứ 13 trên thế giới, trong điều kiện nền kinh tế còn chậm phát triển như Việt Nam đang đặt ra những vấn đề kinh tế – xã hội hết sức gay gắt cần giải quyết, trước mắt cũng như lâu dài, đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nhân lực KH&CN nói riêng Các nhà dân số học cho rằng, một cơ cấu thích hợp đảm bảo cho dân số ổn định là:

+ Tỷ lệ trẻ em dưới tuổi lao động là: 26  28%

+ Tỷ lệ người trong tuổi lao động là: 60  64%

+ Tỷ lệ người già trên tuổi lao động là: 10 12%

Gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và phát triển nguồn nhân lực KH&CN Khi dân số tăng lên thì lực lượng lao động cũng tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng dân số Nguồn tài nguyên như đất đai, mặt nước thì lại có hạn nên số lao động trên một đơn vị diện tích đất đai ngày càng tăng lên, tổng sản phẩm tăng nhưng sản phẩm bình quân đầu người sẽ giảm nếu không có sự

Trang 23

phát triển nhanh hơn về kinh tế Khi dân số tăng nhanh sẽ làm cho chất lượng vốn con người giảm xuống hoặc ở mức thấp và hầu như không cải thiện được Điều này liên quan đến việc cung cấp không đầy đủ dinh dưỡng và chăm sóc

y tế cho trẻ em và cả người lao động, trình độ học vấn thấp và phần lớn không được đào tạo Năng suất lao động không cao là nguyên nhân trực tiếp làm cho tổng sản phẩm quốc dân tăng chậm Do đó, tăng nhanh dân số ở các nước nghèo là bất lợi cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội

Tăng trưởng dân số tác động trực tiếp tới số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, mức tăng dân số nhanh, làm giảm tốc độ tăng thu nhập GDP bình quân/đầu người Như vậy, dân số tăng nhanh khi trình độ kỹ thuật và công nghệ của nền kinh tế còn thấp gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vấn đề đầu tư cho nâng cao năng lực và chất lượng của những người đang trong độ tuổi lao động và có việc làm gặp khó khăn Bởi cơ

sở vật chất để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo còn có nhiều hạn chế và bất cập

Mặt khác, dân số tăng nhanh, sản xuất của xã hội cũng phải chuyển theo hướng đáp ứng yêu cầu của việc tăng dân số Nghĩa là, chi tiêu cho mục đích tiêu dùng sẽ lớn hơn so với chi tiêu cho phát triển, đặc biệt là phát triển nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN Do đó, tăng trưởng dân số phù hợp với mức tăng trưởng của sức sản xuất xã hội, trong đó phù hợp với tăng chất lượng của nhân lực KH&CN sẽ giúp cho kinh tế – xã hội phát triển ổn định Nói cách khác, phát triển dân số có kế hoạch sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN

1.5.2 Nhóm nhân tố về trình độ phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia đóng vai trò quyết định đến trình độ phát triển nhân lực KH&CN của nước đó

Chất lượng nhân lực KH&CN là trạng thái nhất định thể hiện mối quan

hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nhân lực KH&CN Tại một quốc gia có trình độ phát triển kinh tế cao, nguồn nhân lực cũng có chất lượng cao, kể cả trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức

Trang 24

khỏe, tuổi thọ Thực tế cho thấy, khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, đời sống chung của nhân dân ổn định ở mức cao sẽ có điều kiện thuận lợi và nâng cao chất lượng nhân lực Chất lượng nhân lực là động lực trực tiếp cho sự phát triển KT-XH Bởi sức khỏe, tuổi thọ, trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp phụ thuộc vào quá trình hiện đại hóa của nền kinh tế và chính sách xã hội của mỗi quốc gia

Xem xét chất lượng nhân lực nói chung, nhân lực KH&CN nói riêng trước hết phải xem xét chất lượng cuộc sống của dân cư nói chung Chỉ số GDP bình quân đầu người là chỉ số liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của nhân lực, đến mặt thể lực của nhân lực… Nó phụ thuộc vào quy mô và tốc độ phát triển GDP cũng như quy mô và tốc độ gia tăng dân

số Quan hệ giữa chỉ số này với nhân lực được cụ thể hóa trong các chỉ tiêu như: điều kiện sức khỏe, dinh dưỡng, chăm sóc y tế, chất lượng nhà ở, mức tiêu thụ các hàng hóa dịch vụ… Vì có phát triển kinh tế mới có điều kiện cải thiện cuộc sống con người, có điều kiện chăm sóc sức khỏe, có điều kiện để phát triển giáo dục và đào tạo Ở các nước có nền kinh tế phát triển, GDP bình quân/đầu người/năm và tuổi thọ thường cao

Trình độ phát triển kinh tế góp phần quan trọng vào việc nâng cao mức sống, cải thiện tình hình sức khỏe và dinh dưỡng của con người Tuy nhiên, không thể khẳng định điều ngược lại, một đất nước có trình độ dân trí cao là nước có nền kinh tế phát triển, vì trong thực tế có rất nhiều quốc gia có trình

độ văn hóa cao, nhưng phát triển kinh tế lại có phần hạn chế, ví dụ nước Nga Điều đó chứng tỏ rằng, một quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng nếu không có chính sách sử dụng và khai thác đúng đắn nguồn nhân lực đó thì cũng không phát triển được

Sự phát triển KT-XH bao giờ cũng kéo theo quá trình đô thị hóa, thường thì các nước công nghiệp, dân số sống ở thành thị chiếm tỷ lệ cao Tỷ lệ dân thành thị cao sẽ tạo điều kiện phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN, nâng cao ý thức

tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp cho lực lượng này Dân số thành thị

Trang 25

cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động, nâng cao tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP, tức là giảm lực lượng lao động nông nghiệp trong tổng lực lượng lao động xã hội Ở các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ dân số sống ở thành thị tương đối cao, năm 2005: 89% ở Anh, 86% ở Đức, 77% ở Nhật, 74% ở Pháp, 79% ở Hàn Quốc, 77% ở Đài Loan Với Việt Nam

do tỷ lệ đô thị hóa còn thấp, nên số dân thành thị mới chỉ chiếm khoảng gần 40%

1.5.3 Nhóm nhân tố về giáo dục và đào tạo giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN

Trình độ nhân lực KH&CN có học vấn cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những kinh nghiệm cũng như các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn Trình độ học vấn là cơ sở quan trọng để nâng cao trình độ và kỹ năng làm việc của nhân lực KH&CN; là nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN Thực tế cho thấy, ở phần lớn các quốc gia dân cư có trình độ học vấn cao, thì nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Tuy nhiên, cũng có những quốc gia dân cư có trình độ học vấn cao nhưng do chưa tận dụng hết được tiềm năng này nên tốc độ phát triển cũng như năng suất lao động của họ chưa cao, do cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng nhân lực chưa tốt

Ngày nay, khi KH&CN, tri thức đang trở thành lực lượng lao động trực tiếp, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng của kinh tế và phát triển bền vững, vai trò của nhân lực KH&CN càng trở nên quan trọng Trí tuệ và sự sáng tạo, yếu tố chủ yếu của chất lượng nhân lực KH&CN là kết quả trực tiếp của GD&ĐT, do đó GD&ĐT đóng vai trò quyết định tới chất lượng nhân lực KH&CN Nhận thức được tầm quan trọng của GD&ĐT, chính phủ các nước đều rất quan tâm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức đang là xu hướng có tính toàn cầu và cùng với quá trình toàn cầu hóa là quá trình tri thức hóa nền kinh tế thế giới

Thực tế cho thấy, quốc gia nào quan tâm đến GD&ĐT thì quốc gia đó có nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện cơ bản cho sự phát triển KT-XH

Trang 26

của đất nước Chúng ta biết rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực KH&CN không phải tự nhiên mà có được, muốn có phải thông qua quá trình GD&ĐT lâu dài và luôn đổi mới phù hợp với yêu cầu của tiến bộ KH&CN GD&ĐT giúp cho mỗi người lao động thực hiện và vận động, cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng, làm giảm quy mô gia đình

Để thúc đẩy sự nghiệp GD&ĐT phát triển, chính phủ các nước đã không ngừng tăng ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo Thông thường các nước đều dành cho GD&ĐT khoảng 18 – 23% từ ngân sách nhà nước Bên cạnh

đó, các quốc gia rất coi trọng việc huy động các vốn, cơ sở vật chất từ mọi nguồn cho GD&ĐT, đặc biệt là huy động nguồn vốn trong mọi tầng lớp nhân dân Bởi, đầu tư cho GD&ĐT là đầu tư cho phát triển, đầu tư mang lại lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với đầu tư vật chất

Ngày nay, khi tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì chất lượng nhân lực KH&CN trở thành tài nguyên, và do đó muốn phát triển và sử dụng nó một cách hiệu quả, không có con đường nào khác ngoài con đường học tập, đào tạo và tự đào tạo Chính vì thế mỗi quốc gia cần phải có một hệ thống GD&ĐT phù hợp để tạo điều kiện cho mọi người dân có thể học ở bất

cứ đâu và bất cứ lúc nào, coi trọng mọi cấp học, đặc biệt chú trọng tới các bậc đào tạo cao như cao đẳng, đại học Phát triển con người, trong đó có nhân lực KH&CN là nhiệm vụ trung tâm của xã hội, vì đó là yếu tố then chốt nhất tạo

ra giá trị cho nền kinh tế, ở đây GD&ĐT đóng vai trò quyết định Đối với nước ta, để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp thì việc cải cách GD&ĐT đang là một yêu cầu cấp bách

1.5.4 Nhóm nhân tố thuộc về chính sách

Hệ thống các chính sách xã hội đúng đắn vì mục tiêu của con người là động lực to lớn cho phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nguồn nhân lực trong quá trình phát triển KT-XH Phương hướng lớn của chính sách xã hội là phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt giữa tăng trưởng kinh tế với tiến

bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng các nhu

Trang 27

cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội

Có thể nói các chính sách của nhà nước có tác động quan trọng tới việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN, đặc biệt là chính sách phát triển KT-

XH như: chính sách GD&ĐT, chính sách sử dụng, tuyển dụng, chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội v.v Vì các chính sách này đã tạo ra môi trường pháp lý cho quá trình hình thành và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Các chính sách của nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH sẽ tạo điều kiện thúc đẩy nâng cao chất lượng nhân lực nói chung và nhân lực KH&CN nói riêng, ngược lại nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển cũng như hạn chế việc nâng cao chất lượng nhân lực Bên cạnh đó, các chính sách của quốc gia phải luôn thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn mới thích ứng được sự phát triển của quốc gia đó

Ở Việt Nam, hiện nay đã có nhiều chính sách tạo mở và thúc đẩy sự phát triển nhân lực như: vận dụng một cách linh hoạt và năng động thị trường lao động giúp cho người lao động phát huy được khả năng trí tuệ của bản thân để đóng góp cho xã hội; có chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần làm cho sản xuất phát triển một cách đa dạng và phong phú; có chính sách mở và thông thoáng để thu hút đầu tư nước ngoài, đồng thời thúc đẩy phát triển các loại hình và thành phần kinh tế trong nước để tạo mở việc làm tại chỗ Đặc biệt là chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho vay vốn hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN nhằm tạo cơ hội cho nhân lực KH&CN mở rộng và phát triển sản xuất thu hút thêm lao động, tăng thu nhập, từng bước góp phần phát triển KT-XH

Tuy nhiên, do trình độ phát triển KT-XH còn ở mức thấp nên việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN còn bị hạn chế, đòi hỏi nhà nước phải có những chính sách khả thi, phù hợp và hiệu quả hơn trong từng giai đoạn phát triển mới đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN phù hợp với sự phát triển KT-XH trong giai đoạn CNH-HĐH

Trang 28

Tóm lại, những tác động của các yếu tố trên tới chất lượng nhân lực

KH&CN là rất lớn dẫn đến những thay đổi căn bản và nhiều chiều của nguồn nhân lực KH&CN Các thay đổi đa dạng trên đang đặt ra những thách thức lớn cho mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia nhất là các quốc gia có nền kinh tế chậm phát triển Do đó, cần phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò của nhân lực, đặc biệt là nhân lực KH&CN trong điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới mới tránh được nguy cơ tụt hậu trên mọi phương diện

1.6 Kinh nghiệm về chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN của một số nước ASEAN

Trong nửa thế kỷ qua, tận dụng có hiệu quả những thành tựu vĩ đại của các làn sóng đổi mới công nghệ nảy sinh trong cuộc cách mạng KH&CN hiện đại, nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã có những bước tiến nhảy vọt

về lượng và chất Nhờ vậy, bước vào thế kỷ 21, vị thế của các nước này trên bản đồ kinh tế thế giới đã có nhiều cải thiện đáng kể Ngoài việc xác lập được một chính sách KH&CN quốc gia đúng đắn, với quyết tâm đầu tư cao vào công tác R&D, một trong những bí quyết giành thắng lợi của những nước có tốc độ phát triển kinh tế cao là tầm nhìn chiến lược trong đường lối và chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân lực KH&CN và trọng dụng nhân tài Việc nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm các nước trong lĩnh vực này có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam nói chung và Thanh Hoá nói riêng Trong luận văn này xin được giới thiệu các kinh nghiệm trong đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN của một số nước trong khu vực ASEAN, cụ thể là Singapore, Thailand, Indonesia và Philippines

1.6.1 Kinh nghiệm của Singapore

Singapore là một quốc gia có diện tích 685,4 km2, dân số hơn 4 triệu người Tỷ lệ dân biết chữ (từ 15 tuổi trở lên): 93,7%, tỷ lệ dân biết 2 ngôn ngữ trở lên: 56% Lực lượng lao động: 2.128.500 người Người có việc làm: 2.017.400 Tỷ lệ thất nghiệp: 4,4% Mặc dù là một quốc đảo nhỏ, Singapore

có một môi trường, một xã hội và những con người đặc biệt để xây dựng một

cơ sở vững chắc thu hút và nuôi dưỡng nhân tài, tạo điều kiện cho họ tiến

Trang 29

hành R&D, tạo ra những ý tưởng và tri thức mới có thể làm thay đổi hiểu biết

về thế giới, cũng như tạo ra các lợi ích kinh tế

- Định hướng KH&CN trong tương lai của Singapore

Một trong các động lực chủ chốt đối với Singapore là tìm cách bảo đảm

đủ nguồn nhân lực cần thiết hỗ trợ nền kinh tế tri thức Để hỗ trợ phát triển và thu hút tài năng R&D hàng đầu từ mọi nơi trên thế giới, Singapore đã tăng cường các học bổng, học bổng nghiên cứu sinh và các chương trình phát triển nguồn nhân lực khác Singapore đặt mục tiêu phát hiện, bồi dưỡng và xây dựng nguồn nhân lực trình độ thế giới, củng cố và gieo giống các lĩnh vực tăng trưởng có tính chiến lược, có khả năng cạnh tranh trên toàn cầu

- Chiến lược phát triển nguồn nhân lực

Hoạch định về nhân lực là chiến lược quan trọng nhất của tất cả các chức năng quản lý nguồn nhân lực Công tác hoạch định xác định các nguồn lực, số lượng và các loại nhân lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu công việc trong tương lai Các chiến lược được xác định trước để thu hút và giữ được những người tốt nhất Phát triển chiến lược và sử dụng năng lực của người đem lại lợi ích lớn nhất cho đất nước cũng được đưa vào kế hoạch

Ngoài việc thúc đẩy Singapore trở thành thủ phủ năng động để các nhân tài trong nước và quốc tế có thể gặp gỡ, trao đổi ý tưởng, hợp tác và tạo ra giá trị, Mạng Tiếp xúc Singapore cũng tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều cơ hội liên kết mạng có ý nghĩa và sáng tạo khác nhau cho các chuyên gia và các doanh nghiệp trên toàn thế giới Mạng có 10 văn phòng quốc tế ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ và Ôxtrâylia

Chính sách cải thiện việc làm, giáo dục và phát triển kỹ năng là cốt lõi của chiến luợc kinh tế của Singapore Ngày nay, tạo việc làm không nhằm vào số lượng mà nhằm vào chất lượng về kỹ năng trình độ chuyên môn cao và năng suất cao Phát triển hệ thống giáo dục chú trọng nhiều hơn vào KH&CN thể hiện qua sự phát triển mở rộng các khóa đào tạo và chương trình giảng dạy mới ở các trường đại học, bách khoa và các trường khác Cải thiện chất luợng giáo dục đào tạo lực lượng lao động là bằng chứng thành công của các chính sách giáo dục đào tạo

Trang 30

Về thu nhận các công nghệ mới trong chế tạo, đặc biệt chú trọng vào phát triển và nâng cao kỹ năng, sự phát triển của Công viên Khoa học ở miền Tây của Singapore, là nơi có nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, hầu hết các trường bách khoa và các cơ sở công nghiệp, là một nỗ lực lớn

- Chính sách giáo dục và đào tạo

Ở một đất nước không có tài nguyên, nền tảng để tăng trưởng là nguồn nhân lực, vốn và tăng năng suất Chính phủ Singapore đã tăng cường sự đóng góp của nguồn nhân lực vào tăng trưởng kinh tế thông qua giáo dục và chính sách chú trọng vào nhân lực nước ngoài Chính phủ đã phân bổ phần lớn nhất của ngân sách quốc gia cho giáo dục và quốc phòng Trong quá trình chuyển đổi từ các hoạt động sử dụng nhiều vốn và nhân lực sang nền kinh tế tri thức, giáo dục trở thành một vấn đề cấp bách

Nguyên Thủ tướng Lý Quang Diệu đã từng nhấn mạnh: "Phải tập trung

nỗ lực cho ngành giáo dục nhằm đào tạo một đội ngũ đông đảo các nhân tài

kỹ thuật, các nhà khoa học, nhằm đáp ứng đòi hỏi của thời đại vũ trụ, tên lửa

và điện lực" Chính sách nhân tài của Singapore thể hiện trên hai điểm chính:

1 Chú trọng đầu tư cho giáo dục-đào tạo, phát triển kỹ năng con người Singapo có mức đầu tư cho giáo dục đào tạo rất cao, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách quốc gia

2 Đẩy mạnh việc thu hút các chuyên gia giỏi của nước ngoài tới làm việc tại Singapore nhằm tranh thủ trí tuệ của đội ngũ này để nhanh chóng "bắt kịp" trình độ phát triển của các nước đi trước và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao ở trong nước

Chính phủ đầu tư mạnh để cải thiện chất lượng hệ thống trường học, thông qua tuyển dụng nhiều giáo viên và cải thiện cơ sở hạ tầng vật chất, CNTT và truyền thông Hai trường đại học: Đại học Quốc gia Singapore và Đại học Công nghệ Nanyang, có vai trò quan trọng trong hoạt động R&D của khu vực nhà nước, cùng kết hợp với các viện nghiên cứu Về đào tạo kỹ thuật

ở cấp đại học, có 5 trường bách khoa có chương trình cấp bằng diplom về nhiều ngành nghề, từ kỹ thuật đến kinh doanh và phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 31

Chính phủ luôn luôn nhận thức rõ mục tiêu của giáo dục Giáo dục bậc đại học được quản lý chặt chẽ để bảo đảm sự cân bằng cơ số các sinh viên tốt nghiệp, phù hợp với dự báo nhu cầu trên cơ sở GDP dự báo và tăng trưởng năng suất

Đặc biệt, Chính phủ Singapo chú trọng vào giáo dục khoa học và kỹ thuật Một ủy ban do Bộ trưởng Cấp cao, đứng đầu, luôn nhấn mạnh quan điểm này để tránh cho Singapore khỏi bị thiếu nhân lực kỹ thuật, như đã từng thấy ở các nước phát triển khác, và cũng để bảo đảm cung cấp nhân lực linh hoạt (nhân lực được đào tạo về kỹ thuật có thể dễ dàng chuyển đổi sang công việc phi kỹ thuật hơn là ngược lại)

- Chương trình & biện pháp

+ Để tiến tới có các cơ sở trình độ thế giới như Cơ sở đào tạo trên

Internet INSEAD và Trường Đại học Johns Hopkins, Khu Động lực Khoa học Science Hub rộng 176 ha, trị giá 5 tỷ đô la Singapore được thiết lập nhằm tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới công nghệ Với hoạt động R&D và các hãng công nghệ cao tập trung ở Khu Động lực Khoa học này, các doanh nghiệp sẽ

có điều kiện tốt hơn để khai thác các nguồn lực

+ Chương trình thực tập nội trú giúp sinh viên chưa tốt nghiệp hiểu biết

về khởi sự doanh nghiệp Sáng kiến HOTSpot 2004 mới nhất gắn kết sinh

viên NUS và NTU với hơn 600 hãng liên quan đến công nghệ Bằng cách tạo

cơ hội thực tập nội trú và thực tập trong ngành công nghiệp cho sinh viên, các doanh nghiệp HOTSpot có thể cung cấp cho sinh viên kinh nghiệm thực tiễn

và quan hệ trực tiếp với cộng đồng doanh nghiệp Ngược lại, các doanh nghiệp có thể khai thác ý tưởng mới và đổi mới của sinh viên để vận hành doanh nghiệp Đồng thời, HOTIntern có thể là phương thức cho doanh nghiệp HOTSpot nhận dạng và tuyển dụng tài năng kinh doanh “sốt dẻo” để phát triển trong tương lai

+ Năm 2004, Quỹ Học bổng Liên kết Singapore-MIT (SMA) của Chính

phủ Singapo tiếp tục tuyển ứng viên cho các chương trình học bổng đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ về các ngành kỹ thuật Mỗi suất học bổng thạc sĩ trị giá 1.500

Trang 32

đô la Singapore/tháng, học bổng tiến sĩ 2.100 đô la Singapo/tháng Người trúng tuyển sẽ làm đề tài nghiên cứu tại Đại học Quốc gia (NUS) hoặc Đại học Công nghệ Nam Yang (NTU), sau đó học tiếp tại Học viện Công nghệ Massachussett (MIT) ở Mỹ Đồng thời họ sẽ được thực tập tại các công ty nổi tiếng của Mỹ và Singapore Ngoài ra, người được học bổng còn được hỗ trợ nhà ở và việc làm tại trường đại học

+ Giải thưởng Khoa học và Công nghệ Quốc gia 2003 - Giải thưởng

Nhà khoa học Trẻ do Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Singapore tổ chức và A*STAR tài trợ Giải thưởng Nhà khoa học Trẻ được trao cho các nhà nghiên cứu trẻ, tuổi dưới 35, tham gia tích cực vào R&D ở Singapore, thể hiện tài năng tiềm tàng có thể trở thành các nhà nghiên cứu trình độ thế giới trong các lĩnh vực chuyên môn của mình Người được giải nhận được kỷ niệm chương, bằng khen và khoản tiền thưởng 12.500 đô la Singapore

- Thu hút nhân tài

Nhân lực lao động Singapore thuộc vào nhân lực lao động tốt nhất thế giới về năng suất, thái độ làm việc và trình độ kỹ thuật, nói tiếng Anh tốt, là những người tận tụy, chăm chỉ và rất quan tâm đến việc nâng cao trình độ và kiến thức của mình

Hàng năm, có khoảng 35.000 thanh niên tốt nghiệp từ các trường đại học được trang bị kỹ năng và tri thức cần thiết để phục vụ nền kinh tế tri thức và công nghệ cao của Singapore

Singapore tiếp tục nỗ lực thu hút nhân tài trong nước và trên thế giới trong lĩnh vực sinh y học Nhân tài là một trong các nguyên nhân chính làm cho Singapore đạt mục tiêu trở thành "Thủ phủ Sinh học của châu Á" Sự chú trọng của Singapore trong vài năm gần đây vào chính sách nguồn nhân lực đã mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp sinh y học của Singapore

- Xây dựng một tổ chức tài năng cho nghiên cứu

Singapore có khả năng trở thành một nền kinh tế lấy tri thức làm trung tâm, được định hướng bởi các hoạt động R&D nhằm đưa ra các sáng kiến và tạo ra các ngành mới, chứ không chỉ là góp nhặt những ý tưởng ở các nơi khác Để đạt được mục tiêu này, ba yêu cầu để phát triển nghiên cứu được đặt ra:

Trang 33

- Đề ra chiến lược R&D tập trung vào nguồn lực và nguồn tri thức cho phát triển kinh tế và an ninh của Singapore;

- Nghiên cứu đại học về nhân tài có học vấn cao;

- Các trung tâm tài năng phục vụ cho công tác nghiên cứu ở tầm cỡ thế giới và đào tạo sau đại học những ngành khoa học về cơ bản phù hợp với các lợi ích chiến lược dài hạn của Singapo

1.6.2 Kinh nghiệm của Thailand

Năm 1990, Thailand ước tính có tổng cộng 943.548 cán bộ KH&CN, hay khoảng 2,9% lực lượng lao động của quốc gia Trong đó có khoảng 36.700 nhà khoa học, 49.934 kỹ sư và 33.847 nhà nông học có bằng cử nhân trở lên Như vậy, năm 1990 Thailand có 15 nhà khoa học và kỹ sư trên 10.000 dân Năm 1992, sinh viên tốt nghiệp thuộc các ngành KH&CN chỉ chiếm 13% sinh viên tốt nghiệp của các trường đại học công, so với 56% ở Đài Loan Mặc dù trong những năm gần đây, tỷ lệ này có tăng lên, nhưng số học sinh tốt nghiệp phổ thông lựa chọn sự nghiệp trong KH&CN vẫn thấp hơn rất nhiều so với các nền kinh tế trong khu vực và còn xa mới đáp ứng được những yêu cầu của đất nước

Chính sách giáo dục và đào tạo

Để khắc phục sự thiếu hụt này, Kế hoạch Phát triển Giáo dục Quốc gia lần thứ 8 (1997-2001) đề xuất:

- Tăng số lượng giáo viên trong các lĩnh vực KH&CN đáp ứng yêu cầu thông qua nhiều biện pháp khác nhau như cấp học bổng cho các giáo viên KH&CN cũng như nhiều lợi ích xã hội cho các giáo viên

- Tăng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp trong các ngành KH&CN lên 40% tổng

số sinh viên tốt nghiệp vào năm 2001 Đồng thời nhấn mạnh vai trò của tư nhân trong đào tạo cán bộ KH&CN và đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức giáo dục nước ngoài

Để được hưởng những chính sách khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và đổi mới, các công ty phải đảm bảo một trong những yêu cầu sau:

Trang 34

- Dành không dưới 1-3% doanh thu hàng năm để chi cho NCPT hay thiết

kế trong 3 năm đầu;

- Việc tuyển dụng nhân lực KH&CN trình độ từ cử nhân trở lên trong lĩnh vực KH&CN hay các lĩnh vực liên quan đến công nghệ đảm bảo không dưới 1-5% tổng nhân lực trong 3 năm đầu tiên

Kế hoạch Phát triển KT-XH Quốc gia lần thứ 9 (2002-2006) đặt ra mục tiêu đầu tư quốc gia cho R&D đạt mức 0,4% GDP (so với 0,26% GDP (317 triệu USD) năm 2000), trong đó chi phí từ khu vực nhà nước chiếm 1,5% chi ngân sách của chính phủ Đồng thời nâng số lượng cán bộ nghiên cứu lên tối thiểu 3,5 người trên 1 vạn dân (năm 2000, Thailand có khoảng 14.000 cán bộ R&D tính theo đơn vị nhân lực toàn thời), cũng như nâng cao tỷ lệ đào tạo đại học thuộc các ngành KH&CN so với xã hội và nhân văn Các định hướng phát triển nhân lực KH&CN trong kế hoạch này nhằm nâng cao năng lực phát triển và ứng dụng tri thức KH&CN phù hợp với điều kiện của Thailand Thailand đã có những bước đi rất cụ thể để tạo những tiền đề cơ bản:

1 Xây dựng tư duy khoa học thông qua cải tổ hệ thống giáo dục và phát triển các quy trình học mới để xây dựng các khái niệm và tổ chức kiến thức trong KH&CN sao cho có thể thích nghi với những kiến thức mới và những thay đổi;

2 Tăng số lượng và chất lượng giáo viên các ngành KH&CN thông qua các ưu đãi khuyến khích các tài năng KH&CN theo đuổi nghề sư phạm, đồng thời đổi mới các phương pháp giảng dạy KH&CN;

3 Phát triển năng lực KH&CN của lực lượng lao động thông qua hỗ trợ các viện đào tạo trong nước tăng số lượng sinh viên trong các ngành KH&CN Khuyến khích các tài năng KH&CN của đất nước trở thành các chuyên gia hay giáo viên Tiếp tục các chương trình học bổng đào tạo đại học trong KH&CN

4 Hợp tác song phương và đa phương với các viện nghiên cứu, các tổ chức KH&CN hàng đầu trên thế giới đã được thiết lập Các hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN tập trung vào nghiên cứu cơ bản, R&D, ứng dụng và

Trang 35

chuyển giao công nghệ để phát triển sản phẩm mới và thương mại hóa các sản phẩm này, tạo ra sự đổi mới

Năm 2001, Thailand có khoảng 60 kỹ sư và nhà khoa học/10.000 dân

1.6.3 Kinh nghiệm của Indonesia

Bước vào thập kỷ 1980, các trường đại học của Indonesia hàng năm chỉ đào tạo được khoảng 5.400 sinh viên Đến năm 1983, Inđônêxia chỉ cấp bằng trên đại học (Thạc sỹ và Tiến sỹ) cho 160 người Hơn nữa, do các cơ quan nghiên cứu dân sự của Indonesia kém phát triển và các chương trình nghiên cứu phát triển đều do các cơ quan của chính phủ thực hiện Tuy nhiên, các cơ quan nghiên cứu của chính phủ phải đối mặt với các vấn đề về ngân sách, và

cụ thể là thiếu hụt nguồn nhân lực

Năm 1992, tổng số nhân lực làm việc tại các tổ chức KH&CN (viện nghiên cứu, trường đại học) của Indonesia là 638.881 người Trong đó, số cán

bộ nghiên cứu và phát triển (trực tiếp làm nghiên cứu) là 68.284 người, với 3.697 tiến sĩ và 48.528 thạc sĩ và cử nhân khoa học

Chính sách giáo dục và đào tạo

Từ năm 1984 đến năm 1990, Indonesia có 3 chương trình triển khai các chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN gồm:

1 Chương trình học bổng KH&CN nước ngoài;

2 Chương trình phát triển nhân lực KH&CN;

3 Chương trình KH&CN cho phát triển công nghiệp

Các chương trình tăng cường nhân lực KH&CN lớn này được xây dựng nhằm tạo ra nguồn nhân lực cần thiết để sử dụng KH&CN cho phát triển công nghiệp của đất nước

Chính phủ Indonesia đã xây dựng kế hoạch tăng số lượng kỹ sư trình độ đại học trong lĩnh vực khoa học và công nghệ lên thêm 12.000 người trong khoảng 1987-1995 Ngân hàng Thế giới (NHTG) đã ủng hộ kế hoạch này thông quan việc cung cấp cho chính phủ một khoản vay cho đào tạo ở nước ngoài, là một phần "Dự án Đào tạo KH&CN" của họ Khoản vay này đã được

sử dụng để đưa khoảng 1.350 cán bộ của các viện nghiên cứu của chính phủ

Trang 36

ra nước ngoài để tiếp thu các kỹ năng khoa học Họ được gửi đến các trường đại học và các viện nghiên cứu ở Nhật Bản (khoảng 300 sinh viên), Mỹ và các nước Châu Âu tiên tiến

1.6.4 Kinh nghiệm của Philippines

Năm 1999, Philippines ước tính có 497 nhà khoa học và kỹ sư trên 1

triệu dân, đặc biệt trong nông nghiệp không chỉ thiếu về số lượng mà còn cả trình độ Trong khi hệ thống giáo dục Philippines đào tạo một số lượng sinh viên lớn nhất so với các nước khác thì số tốt nghiệp trong lĩnh vực khoa học

và kỹ thuật lại thuộc số thấp nhất

Năm 2002, Philippines chỉ có 6.803 nhà khoa học và kỹ sư làm trong lĩnh vực R&D, giảm 39,3% so với mức của năm 1996 Sự chảy chất xám đã góp phần làm giảm số cán bộ KH&CN Do tri thức và công nghệ về cơ bản nằm trong nguồn nhân lực, nên những vấn đề này đánh thức nhu cầu cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực R&D của quốc gia

Chính sách giáo dục và đào tạo

Từ đầu thập kỷ 90, nhiều nghiên cứu và kiến nghị chính sách về nhân lực KH&CN ở Philippines đã cho thấy nhu cầu phải tạo ra được lực lượng cán bộ KH&CN hùng hậu để có thể trở thành một nước mới công nghiệp hóa

Điều này đã dẫn đến việc triển khai một chương trình học bổng quy mô lớn thuộc những lĩnh vực KH&CN ưu tiên liên quan đến các khu vực sản xuất, nghiên cứu triển khai và đào tạo Năm 2002, Luật Cộng hòa 7687 hay thường được gọi là Luật Học bổng KH&CN 2002 đã được thông qua Từ đó, hàng năm có khoảng 3.500 học bổng cho các khóa tú tài và công nghệ dành cho các học sinh

Bộ KH&CN, thông qua Viện Giáo dục Khoa học, chịu trách nhiệm triển khai Luật Cộng hòa 7687 cùng với một chương trình học bổng KH&CN dài hạn Luật được sự ủng hộ to lớn của các nhà lập pháp và được Tổng thống Philippin phê chuẩn tháng 3 năm 2002 Luật học bổng được cấp một khoản ngân sách hàng năm là 300 triệu peso

Trang 37

Chương trình học bổng này, dành cho các cấp cử nhân khoa học, kỹ sư

và kỹ thuật viên, sẽ được cấp cho các sinh viên nghèo tài năng, được xác định dựa trên thu nhập hàng năm của gia đình và các chỉ tiêu khác Hơn nữa, những người đăng ký nhất thiết phải nằm trong số 5% sinh viên tốt nghiệp đại học xuất sắc nhất; là công dân được sinh ra tại Philippin; sức khỏe tốt, đạo đức tốt, sống ở địa phương trong 4 năm cuối và qua được Kỳ thi Học bổng KH&CN Những người được nhận học bổng phải duy trì được kết quả học tập tốt trong suốt quá trình được nhận học bổng và sau khi học xong họ sẽ phải hoàn toàn phục vụ đất nước theo các lĩnh vực được đào tạo Ngay trong khóa đầu tiên 2002-2003, Chương trình đã cấp cho 345 sinh viên, trong đó 237 sinh viên thuộc chương trình cử nhân khoa học, và 108 theo chương trình công nghệ Năm 2004, Luật Cộng hòa 8248, "Tăng cường hơn nữa Chương trình KH&CN của Chính phủ" bổ sung ngân sách cho Chương trình học bổng KH&CN theo Luật 7687 Ngoài Luật Cộng hòa 7687, các học bổng khoa học khác sẽ được cung cấp cho các học sinh tài năng hàn lâm hay có thiên hướng toán học và khoa học

- Trong Kế hoạch phát triển KH&CN, các hoạt động sau đây sẽ được triển khai nhằm nâng cao trình độ nhân lực KH&CN trong nước:

+ Trang bị cho cán bộ những công nghệ mới thông qua các chương trình đào tạo;

+ Đẩy mạnh hợp tác giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp về đào tạo và phát triển kỹ năng;

+ Phát triển số lượng cán bộ R&D cũng như nhà khoa học trong những lĩnh vực quan trọng đối với đất nước;

- Khuyến khích và cung cấp học bổng và trợ cấp R&D để hỗ trợ những nhà nghiên cứu trẻ và tài năng;

+ Thưởng và ghi nhận những thành tựu và đóng góp xuất sắc của những nhà khoa học trong nước

+ Xây dựng và triển khai các hệ thống xác nhận và tiêu chuẩn chất lượng được sự công nhận của khu vực và quốc tế cho tri thức và các cán bộ KH&CN cũng như các trường và trung tâm đào tạo

Trang 38

Việc phát triển nguồn nhân lực KH&CN nhằm xây dựng năng lực KH&CN trong tương lai thông qua các chương trình trọng điểm trong đào tạo cơ sở và đại học Phát triển nguồn nhân lực KH&CN ưu tiên vào những lĩnh vực sau:

1 Các chương trình học bổng đại học KH&CN định hướng theo yêu cầu Học bổng đại học sẽ hướng vào các lĩnh vực mà nhu cầu đã được xác định rõ ràng hay những lĩnh vực KH&CN mới nổi lên

2 Đào tạo tài năng KH&CN ở đại học để kích thích các ngành công nghiệp công nghệ cao Các học bổng và tài trợ nghiên cứu ở bậc đại học sẽ nhằm xây dựng liên tục năng lực ở các cấp đào tạo cao hơn Hỗ trợ được tập trung cho phát triển các chương trình đào tạo trong các lĩnh vực chiến lược mới như vi điện tử và cơ điện tử

3 Tổ chức các cuộc thi quốc gia về KH&CN và toán học theo từng cấp học Các cuộc thi quốc gia về khoa học và toán học nhằm động viên sinh viên, giáo viên và học sinh phát huy thành tích [10, tr 9-16]

Kết luận: Các nước ASEAN kể trên, đều nhận thức được vai trò quan

trọng của KH&CN trong phát triển đất nước, đặc biệt là đội ngũ nhân lực KH&CN Vì vậy, tất cả các nước này đều rất quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ KH&CN hùng hậu, có đủ năng lực để tiếp thu những kiến thức tiên tiến của thế giới và giải quyết được những vấn đề đặt ra cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Nhìn chung, các nước ASEAN đều tập trung vào việc tăng cường lực lượng nhân lực KH&CN của mình thông qua một số chính sách đào tạo cơ bản như:

1 Chính sách cấp học bổng trong các ngành KH&CN từ cấp đại học trở lên cho các tài năng theo học tại các cơ sở đào tạo có uy tín ở các nước phát triển

2 Đào tạo tài năng KH&CN ở đại học để kích thích các ngành công nghiệp công nghệ cao

3 Chính sách khuyến khích học sinh theo học các ngành KH&CN cũng như đổi mới và tăng cường các chương trình giảng dạy KH&CN trong nhà trường

Trang 39

4 Chính sách kêu gọi các kiều dân là chuyên gia KH&CN trở về phục

vụ phát triển đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo nhân lực KH&CN

5 Tăng số lượng và chất lượng giáo viên các ngành KH&CN thông qua các ưu đãi khuyến khích các tài năng KH&CN theo đuổi nghề sư phạm, đồng thời đổi mới các phương pháp giảng dạy KH&CN

6 Hợp tác song phương và đa phương với các viện nghiên cứu, các tổ chức KH&CN hàng đầu trên thế giới Các hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN tập trung vào nghiên cứu cơ bản, R&D, ứng dụng và chuyển giao công nghệ để phát triển sản phẩm mới và thương mại hóa các sản phẩm này, tạo ra sự đổi mới

Trang 40

Chương 2: THỰC TRẠNG NHÂN LỰC KH&CN, ĐÀO TẠO NHÂN LỰC

KH&CN VÀ HỆ THỐNG CÁC CHÍNH SÁCH VỀ ĐÀO TẠO

NHÂN LỰC KH&CN CỦA TỈNH THANH HOÁ

2.1 Những đặc điểm ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực KH&CN tỉnh Thanh Hóa

2.1.1 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý:

Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560km Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía Đông là Vịnh Bắc Bộ Do đó, chịu ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ

- Khí hậu:

Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Ánh (2005) Vận dụng lý luận về tính chất hai mặt của lao động và sản xuất hàng hóa vào việc đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý luận về tính chất hai mặt của lao động và sản xuất hàng hóa vào việc đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh
2. Bộ KH&CN, Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia (2006): “Một số nét về phát triển KH&CN ở Thái Lan”, Tổng luận KH&CN, N.6/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nét về phát triển KH&CN ở Thái Lan
Tác giả: Bộ KH&CN, Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia
Năm: 2006
7. Vũ Cao Đàm (2005) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nxb khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
8. Vũ Cao Đàm (2008) Những đóng góp về triết lý quản lý của Viện Quản lý khoa học, Tạp chí Hoạt động Khoa học số 12.2008, trang 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đóng góp về triết lý quản lý của Viện Quản lý khoa học
9. Trần Xuân Định (1997) Phát triển nguồn nhân lực KH&CN. Bộ KH&CN và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực KH&CN
10. Tạ Bá Hưng, Phùng Minh Lai (2010) Phát triển nhân lực KH&CN ở các nước ASEAN. Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhân lực KH&CN ở các nước ASEAN
11. Đoàn Văn Khai (2006) Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
12. Đặng Ngọc Lựu (2008) Vấn đề nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Giang hiện nay. Luận văn thạc sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Giang hiện nay
13. Lê Chi Mai (2006) Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM
14. Vũ Phương Mai (2005) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay. Luận văn thạc sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay
18. Nghị định số 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN 19. OECD (2002) Khuyến nghị tiêu chuẩn thực tiễn cho điều tra nghiên cứu và phát triển. Tài liệu hướng dẫn FRASCATI, Nxb Lao Động, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về doanh nghiệp KH&CN" 19. OECD (2002) "Khuyến nghị tiêu chuẩn thực tiễn cho điều tra nghiên cứu và phát triển
Nhà XB: Nxb Lao Động
20. UBND Tỉnh Thanh Hoá về Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TW lần thứ 2 (khoá VIII) về phát triển KH&CN. Báo cáo số 68/BC-UBND ngày 25/12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TW lần thứ 2 (khoá VIII) về phát triển KH&CN
21. Lê Dung Phong (2009) Nguồn lực và động lực phát triển. Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực và động lực phát triển
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
22. Nguyễn Mạnh Quân (2009): “Nghiên cứu phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020”. Đề tài nghiên cứu cấp bộ 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Nguyễn Mạnh Quân
Năm: 2009
23. Nguyễn Mạnh Quân (2010) Định hướng Chiến lược phát triển KH&CN: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam. http://www.truyenthongkhoahoc.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng Chiến lược phát triển KH&CN: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam
24. Quốc hội nước CHXHCNVN (2000) Luật khoa học và công nghệ. Luật số 21/2000/QH10, ngày 9/6/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật khoa học và công nghệ
36. Sách KH&CN Việt Nam (2003) Khái niệm nhân lực KH&CN. Bộ KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm nhân lực KH&CN
38. Nguyễn Thanh (2006) Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
39. Tạ Doãn Trịnh (2009) Khoa học và công nghệ từ góc nhìn kinh tế. Tạp chí hoạt động KH&CN, số 597 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ từ góc nhìn kinh tế
3. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Quy mô dân số và lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.1. Quy mô dân số và lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh (Trang 43)
Bảng 2.2. Lực lượng lao động theo trình độ đào tạo giai đoạn 2006-2010 - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.2. Lực lượng lao động theo trình độ đào tạo giai đoạn 2006-2010 (Trang 45)
Bảng 2.3. Nhân lực KH&CN trong các tổ chức R&D - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.3. Nhân lực KH&CN trong các tổ chức R&D (Trang 47)
Bảng 2.4. Nhân lực KH&CN trong các tổ chức dịch vụ KH&CN - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.4. Nhân lực KH&CN trong các tổ chức dịch vụ KH&CN (Trang 48)
Bảng 2.5. Nhân lực KH&CN ở các đơn vị sự nghiệp cấp huyện có hoạt động KH&CN - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.5. Nhân lực KH&CN ở các đơn vị sự nghiệp cấp huyện có hoạt động KH&CN (Trang 49)
Bảng 2.6. Nhân lực KH&CN ở các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh có hoạt động KH&CN - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.6. Nhân lực KH&CN ở các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh có hoạt động KH&CN (Trang 50)
Bảng 2.7. Nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.7. Nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng (Trang 51)
Bảng 2.8. Nhân lực KH&CN ở một số doanh nghiệp trong tỉnh - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.8. Nhân lực KH&CN ở một số doanh nghiệp trong tỉnh (Trang 51)
Bảng 2.9.  Hiện trạng năng lực các trường ĐH-CĐ trên địa bàn tỉnh - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.9. Hiện trạng năng lực các trường ĐH-CĐ trên địa bàn tỉnh (Trang 56)
Bảng 2.10.  Hiện trạng năng lực đào tạo một số cơ sở đào tạo - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.10. Hiện trạng năng lực đào tạo một số cơ sở đào tạo (Trang 60)
Bảng 3.1. Kết quả dự báo nhu cầu lao động giai đoạn 2011- 2020 - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.1. Kết quả dự báo nhu cầu lao động giai đoạn 2011- 2020 (Trang 82)
Bảng 3.3. Nhu cầu lao động qua đào tạo giai đoạn 2011-2020 - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.3. Nhu cầu lao động qua đào tạo giai đoạn 2011-2020 (Trang 83)
Bảng 3.5. Nhu cầu nhân lực KH&CN phân theo ngành kinh tế đến năm 2020 - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.5. Nhu cầu nhân lực KH&CN phân theo ngành kinh tế đến năm 2020 (Trang 84)
Bảng 3.4. Nhu cầu lao động qua đào tạo, nhân lực KH&CN - Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.4. Nhu cầu lao động qua đào tạo, nhân lực KH&CN (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w